intTypePromotion=3

Cơ sở khoa học và tiêu chí xác định tộc người ở Việt Nam

Chia sẻ: ViSamurai2711 ViSamurai2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
3
lượt xem
0
download

Cơ sở khoa học và tiêu chí xác định tộc người ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Để thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, cần phải có cơ sở khoa học, tài liệu nghiên cứu một cách bài bản, chính xác thành phần tộc người, việc xác định tộc người hay thành phần tộc người, tối thiểu phải có các yếu tố: Tư liệu về các tộc người và tiêu chí xác định tộc người.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Cơ sở khoa học và tiêu chí xác định tộc người ở Việt Nam

  1. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH TỘC NGƯỜI Ở VIỆT NAM Khổng Diễn(1) V iệt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em, cùng sinh sống trên dải hình chữ S (từ Lũng Cú - Hà Gian đến Mũi Cà Mau). Các dân tộc anh em vốn có quan hệ tốt đẹp, có truyền thống đoàn kết, tương trợ, cùng có ý thức chung về một quốc gia thống nhất. Vấn đề đặt ra khi thực hiện công tác dân tộc là cần nắm vững đặc điểm của các tộc người để thực hiện chính sách của Đảng ta đề ra về quyền bình đẳng của các tộc người. Các tài liệu viết về tộc người ở nước ta đã có từ rất lâu nhưng để bàn về các tiêu chí xác định tộc người thì mới chỉ đặt ra ở những năm 60 của thế kỷ XX. Để làm được điều này, việc xác định thành phần dân tộc cần được coi trọng nhằm góp phần xây dựng những chủ trương, giải pháp để thực hiện có hiệu quả công tác dân tộc. Để thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, cần phải có cơ sở khoa học, tài liệu nghiên cứu một cách bài bản, chính xác thành phần tộc người, việc xác định tộc người hay thành phần tộc người, tối thiểu phải có các yếu tố: Tư liệu về các tộc người và tiêu chí xác định tộc người. Từ khóa: Cơ sở khoa học; tiêu chí xác định tộc người; thành phần tộc người; công tác dân tộc; chính sách dân tộc; tư liệu tộc người; dân tộc học; ngôn ngữ, văn hóa, ý thức tự giác tộc người. I. Tư liệu về các tộc người Dương Lịch, Hưng Hóa ký lược của Phạm Thận Dân tộc học Việt Nam, tuy là một ngành còn Duật, Cao Bằng ký lược của Phạm An Phú, Lịch khá non trẻ, nhưng các tư liệu về các dân tộc hay triều hiến chương loại chí của Lê Trắc, Sử học bị tộc người ở nước ta đã có từ khá sớm. Ta có thể tìm khảo của Phạm Xuân Bảng, Nhất thống dư địa chí thấy những tư liệu đó trong các sử sách của Trung của Lê Quang Định, Gia Định thành thông chí của Quốc, Việt Nam và một số nước phương Tây qua Trịnh Hoài Đức và một số tác phẩm khác của Quốc các bia ký, sử ký, dư địa chí, gia phả, tộc phả hoặc sử quán triều Nguyễn như Đại Nam nhất thống trí, các truyền thuyết, truyện kể dân gian1. Đồng Khánh dư địa chí v.v… Từ thế kỷ thứ IV trở đi, ở nước ta đã có các Về khu vực Trường Sơn - Tây Nguyên có các tập truyện, các cuốn sách viết về các vùng, các địa cuốn cho đến nay vẫn có nhiều tư liệu có giá trị phương khác nhau như Giao Chỉ ký, Giao Châu ký như Phủ Man tạp lục hay Vũ Man tạp lục của v.v..., nhưng nay đã bị thất truyền, chỉ còn lại trong Nguyễn Tấn, Mọi Kon Tum của Nguyễn Kinh Chi các thư tịch cổ. Những cuốn sách đến nay chúng ta và Nguyễn Đổng Chi. còn giữ được, trong đó chứa đựng nhiều tư liệu về Ở đầu thế kỷ XX có Nguyễn Văn Huyên viết dân tộc học, có lẽ ra đời ở thế kỷ XIV, XV. Đó là nhiều chuyên khảo dân tộc học về các tộc người cuốn Việt điện U linh, Lĩnh Nam chính quái của Lý nhưng phần lớn bằng tiếng Pháp. Tế Xuyên, thế kỷ XIV và của Nguyễn Dữ, Dư địa Các tác giả người châu Âu viết về các tộc người chí của Nguyễn Trãi. Sang thế kỷ XVI có Ô Châu ở nước ta là những nhà khoa học, các sỹ quan quân cận lục của Dương Văn An. đội, các quan cai trị, cố đạo, họ đi sâu vào từng tộc Từ thế kỷ XVII, XVIII trở đi ở nước ta có nhiều người, từng nhóm địa phương ở miền núi phía Bắc, cuốn sách chuyên khảo của nhiều tác giả viết về Trường Sơn - Tây Nguyên, người Chăm ở ven biển từng địa phương, từng nhóm dân cư, dân tộc (tộc miền Trung, chủ yếu là miêu tả cuộc sống của người người), như Vân đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục, dân, cho đến nay vẫn còn giá trị về nhiều mặt. Phủ biên tập lục của Lê Quý Đôn. Tiếp đó có hàng Dân tộc học Việt Nam theo quan điểm Macxít loạt tác phẩm viết dưới dạng tùy bút, bút ký và chí, thực chất được phát triển ở nửa sau thế kỷ XX nhưng trong đó chứa đựng nhiều tư liệu dân tộc học như: đã có cơ sở hình thành từ những năm 30 của thế Hoan Châu ký của Nguyễn Cảnh Thị, Vũ trung tùy kỷ này. Ngay từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương bút của Phạm Đình Hổ, Tang thương ngẫu lục của ra đời, Đảng đã rất quan tâm đến vấn đề dân tộc. Phạm Đình Hổ và Nguyễn An, Hưng Hóa xứ phong Trong nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thổ lục của Hoàng Bình Chính, Nghệ An ký của Bùi đầu tiên, tháng 3 năm 1935 đã chỉ rõ: “Trung ương, Khổng Diễn, Tổng quan về Dân tộc học Việt Nam trong một thế kỷ 1. các Xứ ủy và các Tỉnh ủy, nơi có dân tộc thiểu số qua, trong “Dân tộc học Việt Nam thế kỷ XX và những năm đầu thế phải cử ra một số người chuyên môn nghiên cứu và kỷ XXI”, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2003. chỉ đạo công tác vận động trong các dân tộc thiểu Ngày nhận bài: 12/1/2018; Ngày phản biện: 24/1/2018; Ngày duyệt đăng: 26/1/2018 Số 21 - Tháng 3 năm 2018 (1) Viện Dân tộc học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam; e-mail: kdien@sperigmail.org
  2. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ số”. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương tháng 11 thành phần các dân tộc thiểu số ở nước Việt Nam năm 1939, lại ra Nghị quyết: “Ban Chấp hành Trung dân chủ cộng hòa. ương cũng như Xứ ủy phải tổ chức ban chuyên môn Sau cuộc họp, các cán bộ của Phòng Nghiên cứu về vấn đề dân tộc thiểu số, phải cho người học chữ, Lịch sử và Văn học dân tộc sưu tầm các tài liệu viết học tiếng các dân tộc ấy để tuyên truyền vận động về các dân tộc (tộc người) đăng trên các sách báo từ họ, phải tìm đủ mọi cách tìm mối liên lạc và gây cơ trước đến nay (1955), làm việc với các Ban Dân tộc sở ở các dân tộc thiểu số”2. ở các địa phương có đồng bào dân tộc thiểu số sinh Về mặt Nhà nước, chỉ sau một năm kể từ ngày sống để nắm tình hình, đồng thời cử một số cán bộ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành được thắng đến các trường học sinh miền Nam tập kết ra Bắc lợi, ngày 9 tháng 9 năm 1946, Chính phủ nước Việt năm 1954, để thu thập số liệu và thành phần tộc Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Nghị định thành người ở các tỉnh miền Nam. lập Nha Dân tộc thiểu số, tiền thân của Ủy ban Dân Đến tháng 9 năm 1955, ở Ủy ban Dân tộc Trung tộc hiện nay. Cơ quan này có nhiệm vụ nghiên cứu ương đã thống kê được khoảng 120 tộc người. và giải quyết mọi vấn đề liên quan đến dân tộc thiểu Sau khi trình lên Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng, số trên toàn cõi Việt Nam3. Phó Thủ tướng yêu cầu: Nghiên cứu để giảm bớt Công tác nghiên cứu ở Ủy ban Dân tộc Trung số lượng dân tộc (tộc người) nhưng phải trình bày ương cũng như các Ban Dân tộc ở các địa phương sao cho bà con dân tộc đồng ý, phải viết một cuốn chủ yếu phục vụ cho công tác quản lý và chỉ đạo sách giới thiệu tình hình, đặc điểm và việc đồng bào thực tiễn, song với kết quả của các cuộc điều tra tham gia Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến thực tế ở các tộc người tại các vùng, miền khác chống Pháp. nhau cũng như qua các công trình nghiên cứu của Cũng trong thời gian ấy có hai nhà Khoa học hệ thống cơ quan công tác dân tộc đã xuất bản cho trẻ Liên Xô và Aruchiunov S.A và Mukhlinov A.I. thấy rất có giá trị nhiều mặt. sang Việt Nam tìm hiểu về các dân tộc nước ta để Việc xuất bản tờ “Tập san Dân tộc”, sau đổi làm luận án Phó tiến sỹ. Được sự cho phép của ông thành “Tạp chí Dân tộc” - Cơ quan ngôn luận của Trần Huy Liệu, Viện trưởng Viện Sử học, các ông: Ủy ban Dân tộc Trung ương trong những năm 50 - Nguyễn Hữu Thấu, Ngọc Anh, Mạc Đường (ở Ủy ban 60 của thế kỷ XX, ra mỗi tháng một số, hoạt động Dân tộc Trung ương) và ông Nguyễn Khắc Đạm (ở liên tục từ năm 1959 đến năm 1964 với 58 số, đã Bộ Giáo dục) đến làm việc với hai nhà khoa học thúc đẩy công tác nghiên cứu dân tộc ở nước ta. trẻ này5. Sau hai ngày trao đổi, thảo luận có tham Gần đây là các tạp chí thuộc hệ thống công tác dân khảo những công trình đã xuất bản ở trong, ngoài tộc cũng đã có những đóng góp cả về phương diện nước và các bản đồ tộc người đã công bố, hai bên lý luận và thực tiễn. đã thống nhất được bản Danh mục thành phần các Việc xác định danh mục các tộc người ở nước dân tộc (tộc người) thiểu số ở Việt Nam, gồm 63 ta cũng bắt đầu từ Ủy ban Dân tộc trong những dân tộc. Bản Danh mục này, sau đó được thể hiện năm 50 của thế kỷ XX. Năm 1955, Ủy ban Dân tộc trong cuốn sách “Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”6. Trung ương được Chính phủ giao nhiệm vụ nghiên II. Các tiêu chí xác định tộc người cứu, thống kê xem ở nước ta có bao nhiêu dân tộc Các tài liệu viết về tộc người ở nước ta đã có từ (tộc người) cũng như tình hình, đặc điểm của từng rất lâu nhưng để bàn về các tiêu chí xác định tộc dân tộc để Nhà nước xem xét, qui định số đại biểu người thì mới chỉ đặt ra ở những năm 60 của thế Quốc hội và tổ chức khu tự trị cho các dân tộc thiểu kỷ XX. Tháng 8 năm 1960 tại Hà Nội có một hội số. Tháng 8 năm 1955, ở Ủy ban Dân tộc Trung nghị khoa học bàn về vấn đề này. Ở Hội nghị này, ương có cuộc họp do ông Dương Công Hoạt (khi các nhà khoa học chưa thống nhất được các tiêu chí đó là Phó Chủ nhiệm Ủy ban) chủ trì4. Thành phần xác định tộc người ở nước ta, nhưng các phát biểu cuộc họp có các cán bộ ở Phòng Nghiên cứu Lịch trong Hội nghị đã được đăng tải trên các phương sử và Văn học dân tộc ở Ủy ban Dân tộc và ông tiện thông tin, chẳng hạn ý kiến của Vương Hoàng Nguyễn Khắc Đạm ở Ban Nghiên cứu Văn - Sử - Tuyên được đăng trên Tập san Đoàn kết dân tộc Địa Bộ Giáo dục. Cuộc họp được ông Dương Công Hoạt truyền đạt lại ý kiến của Phó Thủ tướng Chính 5. Hai nhà Khoa học Liên xô sau khi từ Việt Nam trở về nước đã viết phủ Phạm Văn Đồng: Ủy ban Dân tộc Trung ương một số công trình: phối hợp với các cơ quan khác thống kê, xác định - S.A.Aruchiunov, Ngôn ngữ Xá ở Tây Bắc Việt Nam, trong Thông báo Dân tộc học, Moscơva, 1962. 2. Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khóa X, Chính sách và pháp luật - A.I.Mukhlinov, Một chuyến đi tới Việt Nam dân chủ cộng hòa của Đảng, Nhà nước về dân tộc, NXB. Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, trong Tạp chí “Nhân chủng học và Khảo cổ học Xô Việt số 3.1962; 2000, tr.16, 21. Đặc tính dân tộc học các nhóm Xá ở Việt Nam, Dân tộc học Xô viết, 3. Ủy ban Dân tộc và Miền núi, Báo cáo 50 năm công tác dân tộc và 1962; Nguồn gốc và lịch sử các tộc người ở Việt Nam, Moscơva, miền núi, Hà Nội, 1996. 1977. 4. Mạc Đường, Trao đổi về tiêu chuẩn xác định thành phần dân tộc, 6. Lã Văn Lô- Nguyễn Hữu Thấu - Mai Văn Trí - Ngọc Anh - Mạc trong “Hội thảo bàn về tiêu chí xác định thành phần dân tộc (Hà Nội Như Đường, Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, NXB. Văn hóa, Hà ngày 02. 7.2012; Thành phố Hồ Chí Minh ngày 18/10/2002). Nội, 1959. Số 21 - Tháng 3 năm 2018 47
  3. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ (thuộc Ủy ban Dân tộc) số 4.1962 và số 36.1962 các nhà khoa học tiếp tục đi điều tra thực tế và tham của Mạc Đường trong Tập san Dân tộc số 35. 1962, gia các Hội thảo khoa học ở một số địa phương. của Lã Văn Lô trong Tập san Dân tộc số 36. 1962, Thực hiện Chỉ thị số 83-CĐ của Hội đồng Chính của Hoàng Thị Châu, Nguyễn Linh trong Tập san phủ về việc cùng phối hợp tiến hành nghiên cứu Dân tộc số 38.1963 v.v… xác định thành phần tộc người ở Việt Nam, ngày Chỉ từ khi Viện Dân tộc học thuộc Ủy ban khoa 22/12/1978 Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam và học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa Ủy ban Dân tộc Trung ương có tờ trình lên Thủ học xã hội Việt Nam) được thành lập (đã dẫn), Viện tướng Chính phủ Danh mục thành phần các dân tộc mới tập trung vào công tác xác định tộc người và ở Việt Nam (đại diện cho Ủy ban Khoa học xã hội danh mục thành phần các tộc người ở Việt Nam. Việt Nam là ông Phạm Huy Thông, Phó Chủ nhiệm Ủy ban ký, đại diện cho Ủy ban Dân tộc Trung Ở cuộc Hội thảo tháng 6 năm 1973 và Hội thảo ương là ông Đỗ Anh Châu, Phó Chủ nhiệm Ủy ban tháng 11.1973, có nhiều đại biểu ở các Viện nghiên ký). Ban Danh mục này có 54 dân tộc. cứu, trường Đại học và các cơ quan về công tác dân tộc trong cả nước tham gia. Mặc dù ở cả hai cuộc Ngày 02.3.1979, được sự ủy nhiệm của Chính Hội thảo này còn có nhiều ý kiến đưa ra thảo luận, phủ, ông Hoàng Trình- Tổng cục trưởng Tổng cục nhưng cuối cùng hai Hội thảo đã thống nhất được 3 Thống kê ký Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ ban tiêu chí xác định tộc người ở nước ta. Đó là: hành Danh mục các thành phần dân tộc ở Việt Nam gồm 54 dân tộc, dùng trong Tổng điều tra dân số và 1. Có chung một ngôn ngữ các tài liệu thống kê trong cả nước. 2. Có cùng một văn hóa Việc thống nhất ba tiêu chí trong xác định tộc 3. Có chung ý thức tự giác tộc người người và Danh mục 54 dân tộc được Nhà nước công Xuất phát từ ba tiêu chí này, các nhà khoa học nhận, giới Dân tộc học Việt Nam nhận được sự đánh đã trình ra bản Danh mục các thành phần tộc người giá tích cực của các nhà khoa học trên thế giới. ở Việt Nam, gồm 59 tộc người7. Theo Đặng Nghiêm Vạn, “trong một cuộc trình Với việc ra được bản Danh mục này, tuy còn bày tại Trung tâm Tư liệu và nghiên cứu về dân tộc nhiều vấn đề phải tiếp tục xem xét, nhưng nhìn và thế giới Hải đảo (CORASEMI) ở Pari năm 1982 chung được dư luận trong nước đánh giá cao. (của GS. Đặng Nghiêm Vạn - KD), những nhà khoa Giáo sư, Viện sỹ Nguyễn Khánh Toàn (Chủ học Pháp đã coi các tiêu chí đó là đúng đắn, đầy đủ, nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam) cho rằng: và Bản Danh mục các dân tộc ở Việt Nam được Việc lập danh mục không phải là công việc đơn xác lập một cách đáng tin cậy. J.Dournes, một học giản, không thể chỉ đi điều tra hình thức với một giả chuyên nghiên cứu về Việt Nam nói chung, Tây số câu hỏi “mẫu”. Đây là một công việc phức tạp. Nguyên nói riêng, đã cho thấy, đây là một thành Chúng ta cần nhận rõ đặc điểm của sự hình thành tựu khoa học hơn hẳn các bản Danh mục của nhiều dân tộc Việt Nam8. nước khác trong khu vực và trên thế giới”11. Ông Dương Công Hoạt (Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tuy vậy, ngay ở trong nước, sau một thời gian Dân tộc Trung ương) khẳng định: Những công trình Bản danh mục năm 1979 được công bố, cũng có nghiên cứu của chúng ta là đáp ứng phục vụ chính những ý kiến cho thấy có sự không hoàn nhất trí, sách dân tộc của Đảng. Các anh chị em chúng ta đã chẳng hạn Chu Thái Sơn, Phó Tổng biên tập Tạp và đang làm đúng như thế9. chí Dân tộc và Thời đại cho rằng: Chúng ta đã gộp những dân tộc nhỏ để thành dân tộc lớn. “Khuynh Giáo sư Vương Hoàng Tuyên (trưởng bộ môn hướng chi phối giới nghiên cứu Dân tộc học ở nửa Dân tộc học, Khoa Lịch sử trường Đại học Tổng sau thế kỷ trước là muốn làm giảm thiểu các cộng hợp Hà Nội) nhận xét: Với bản dự thảo danh mục đồng dân tộc ít người, không muốn kéo dài thêm các dân tộc lần này, những người làm công tác dân danh mục các thành phần dân tộc, nhất là những tộc ở miền Bắc nước ta đã có nhiều cống hiến đáng cộng đồng có dân số quá ít. Những đề xuất về qui kể trên lĩnh vực nghiên cứu về dân tộc học cũng như nạp, hợp nhất dân tộc thường được ủng hộ. Những ý về công tác dân tộc của Đảng10. kiến nhằm chia tách, phân biệt thường không được Sau hai cuộc Hội thảo khoa học ở Hà Nội 1973, quan tâm. Người ta nói nhiều đến quá trình xích 7. Viện Dân tộc học, Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía lại gần nhau giữa các dân tộc, chú ý đến tính thống Bắc), trong bản đồ các dân tộc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978. nhất, ít quan tâm đến tính đặc thù và sự đa dạng 8. Nguyễn Khánh Toàn, Một vài quan điểm cơ bản cần được quán trong văn hóa các cộng đồng tộc người12. triệt trong quá trình xây dựng danh mục các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam trong “Về vấn đề xác định thành phần các dân tộc Cao Thế Trình, cán bộ giảng dạy ở trường Đại thiểu số ở miền Bắc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1975. 11. Đặng Nghiêm Vạn, Lại bàn về công tác xác minh thành phần các 9. Dương Công Hoạt, Lời phát biểu… trong “Về vấn đề xác định dân tộc Việt Nam, trong Hội thảo “Bàn về tiêu chí xác định lại thành thành phần…(đã dẫn). phần một số dân tộc ở Việt Nam”, Hà Nội ngày 02. 7. 2002. 10. Vương Hoàng Tuyên, Việc lập danh mục các dân tộc là một thắng 12. Chu Thái Sơn, Tính đồng đại và tính lịch đại trong các tiêu chí lợi bước đầu trong công tác nghiên cứu dân tộc ở miền Bắc nước ta, xác minh dân tộc, trong Hội thảo “Bàn về tiêu chí xác định lại thành trong “Về vấn đề xác định thành phần… (đã dẫn). phần dân tộc ở Việt Nam, Hà Nội ngày 02.7.2002. 48 Số 21 - Tháng 3 năm 2018
  4. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ học Lâm Đồng nhận xét: “Các số liệu đã công bố tiêu chí xác định tộc người. Để thực hiện nhiệm không làm thỏa mãn giới khoa học và tất cả những vụ được giao, Viện Dân tộc học và Viện Ngôn ngữ ai quan tâm, nhất là đối với đồng bào thuộc các dân học, một mặt cử các đoàn đi thực tế các địa phương, tộc “bị biến mất” trong Danh mục các thành phần đồng thời tổ chức hai Hội thảo “Bàn về tiêu chí dân tộc Việt Nam do Tổng cục Thống kê công bố xác định tộc người giai đoạn 2000 - 2005 ở Hà Nội ngày 2.3.1979”. Tác giả nhấn mạnh: “Quan niệm ngày 02/7/2002 và ở thành phố Hồ Chí Minh ngày của chúng tôi, đương nhiên sẽ kéo dài thêm bản 18/10/2002. Trước khi cử các đoàn đi nghiên cứu Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam, so thực tế, Ban Chủ nhiệm dự án ở Ủy ban Dân tộc giai với bản Danh mục đã công bố. Điều đó thiết nghĩ đoạn 2010 - 2015, cũng tổ chức cuộc Hội thảo bàn không hề làm ảnh hưởng đến tiến độ công cuộc về tiêu chí xác định tộc người. Dưới đây là các tiêu công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước hôm nay; chí ở 3 cuộc hội thảo này, các nhà khoa học đã đưa trái lại nó sẽ góp phần thúc đẩy sự nghiệp xây dựng ra, ngoài 3 tiêu chí đã được thống nhất năm 1973. Tổ quốc, bởi điều đó vừa góp phần làm tăng thêm Đó là: 1. Lãnh thổ, 2. Cơ sở kinh tế, 3. Tên gọi ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của Bản Danh chung, 4. Nguồn gốc lịch sử, 5. Dòng dõi, 6. Đặc mục khi nó phản ánh sát, đúng thực tế sinh động của trưng nhân chủng, 7. Đặc thù tín ngưỡng, tôn giáo, bức tranh tộc người”13. 8. Tâm lý, 9. Nội tộc hôn. Theo chúng tôi, trong những năm từ thập niên Chúng tôi xin trao đổi về các tiêu chí đưa ra sau 60 đến 80 thế kỷ XX, chúng ta có tư tưởng làm năm 1973, như sau: ăn lớn, muốn xây dựng xã hội chủ nghĩa phải có 1. Lãnh thổ tộc người. Ở cái thuở ban đầu, những dân tộc lớn, đủ điều kiện để đầu tư xây dựng đúng là mỗi tộc người thường có khu vực cư trú xã hội, cũng như phong trào sáp nhập huyện, tỉnh riêng, nhưng qua quá trình phát triển, các tộc người trong cả nước sau năm 1975. Ví dụ, tại cuộc Hội thường di chuyển cư đến các vùng đất khác nhau, nghị bàn về thành phần dân tộc ở tỉnh Gia Lai - Kon kể cả những vùng đất đã có các tộc người khác sinh Tum do Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh này triệu sống, dẫn đến tình trạng cư trú xen kẽ hoặc xen cài tập tháng 8/1978, tại Plêicu. Thành phần tham dự giữa các tộc người. Ở nước ta, tình trạng này là phổ có các cán bộ Dân tộc học và Ngôn ngữ học ở Hà biến ở tất cả các vùng miền trong nước, không còn Nội và một số lãnh đạo phụ trách dân tộc ở khu vực tộc người nào trong khoảng thời gian 70 - 80 năm Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Theo chỉ đạo của trở lại đây, có lãnh thổ riêng. Vì thế ngay từ năm Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh này, tỉnh Gia Lai - 1973 (Hội thảo về xác định thành phần tộc người) Kon Tum thực chất chỉ có các dân tộc: Kinh, Gia các nhà khoa học nước ta đã rất sáng suốt, nhận ra Rai (nói tiếng Nam Đảo) và Ba Na (nói tiếng Môn - được thực tế này nên không đưa tiêu chí lãnh thổ Khơ me). Sau hai ngày bàn bạc, thảo luận Hội nghị vào để xác định thành phần tộc người. Nếu không chấp nhận thêm một số dân tộc nữa như Xơ Đăng, cũng sẽ khó khăn trong việc xử lý cái gọi là “quyền Hrê, còn Giẻ - Triêng thì phải nhập ba nhóm: Giẻ, của người bản địa” của các thế lực phản động dựa Triêng (T’riêng) và Ve thành một dân tộc, gọi là vào và lợi dụng tuyên ngôn của Liên hợp quốc để Giẻ - Triêng. chống phá Nhà nước ta. Ở một khía cạnh khác, các nhà khoa học có 2. Cơ sở kinh tế. Không thể nói mỗi tộc người ảnh hưởng từ tư tưởng chỉ đạo của Phó Thủ tướng có một cơ sở và đặc điểm kinh tế riêng. Điều này Chính phủ những năm 50 của thế kỷ XX (đã dẫn). đã được một số nhà khoa học Liên Xô trước đây Đồng thời ảnh hưởng tư tưởng hợp nhất dân tộc phân tích rõ. Đặc biệt là nhà dân tộc học - sinh thái (consolidation) của giới khoa học Xô Viết. (hay nhân học - sinh thái) Kozlov từ những năm Vì có những ý kiến khác nhau của các nhà khoa 70 của thế kỷ trước đã phân tích kỹ. Sau khi Liên học và một số địa phương (ở những nơi có vấn đề về Xô tan rã năm 1995, ông viết công trình về tính tộc thành phần tộc người) về Bản Danh mục tộc người người, các nhà dịch thuật của chúng ta dịch là “căn năm 1979, nên Chính phủ đã quyết định cho Viện tính tộc người”14. Lần này, ông cho rằng, vào năm Dân tộc học và Viện Ngôn ngữ học (thuộc Viện 1913, Stalin nêu ra định nghĩa dân tộc bằng cách Khoa học xã hội Việt Nam) điều tra, nghiên cứu xác ghép trong đó hai dấu hiệu của K.Kautski (tính cộng định lại thành phần dân tộc ở một số nhóm và địa đồng ngôn ngữ và lãnh thổ) với một dấu hiệu của phương giai đoạn 2000 - 2005. O.Bauer (tính cộng đồng tâm lý hoặc tính cách dân Năm 2009, Chính phủ giao cho Ủy ban Dân tộc tộc) và bổ sung thêm vào đấy tính cộng đồng đời thực hiện dự án xác định thành phần dân tộc ở Việt sống kinh tế mà vốn đặc trưng nói chung cho các Nam trong giai đoạn mới. cộng đồng nhà nước chứ không phải các cộng đồng dân tộc. Định nghĩa giáo điều như vậy thật chẳng có Xin trở lại các ý kiến sau năm 1973 bàn về các chút giá trị nào về mặt lý luận và thực tiễn. Cao Thế Trình, Tiêu chí xác định tộc người và việc vận dụng xây 13. 3. Tên gọi chung. Về tên gọi chung, gắn liền dựng danh mục thành phần dân tộc Việt Nam, trong Hội thảo “Bàn về tiêu chí xác định thành phần dân tộc ở Việt Nam, thành phố Hồ Kozlov V.I. Hệ vấn đề tính tộc người, trong “Căn tính tộc người”, 14. Chí Minh ngày 18/10/2002. Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998. Số 21 - Tháng 3 năm 2018 49
  5. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ với ý thức tự giác tộc người, là một trong 3 tiêu chí người. xác định tộc người mà các nhà khoa học ta đã thống 5. Cùng dòng dõi. Người viết nhiều về dòng nhất, thiết nghĩ không nên đặt nó riêng thành một dõi, coi đó là một tiêu chí để xác định tộc người là tiêu chí. Charles F.Keyes16. Suy cho cùng thì đó cũng là tiêu 4. Nguồn gốc lịch sử (hay xứ mệnh lịch sử). Ở chí về nguồn gốc lịch sử mà chúng tôi đã trình bày, nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, có mặt khác nó cũng liên quan đến huyết thống, chủng những tộc người hiện tại lại có nguồn gốc từ tộc tộc, mà từ lâu người ta đã cho rằng nó thuộc về sinh người khác. học, khoa học tự nhiên chứ không thuộc khoa học Ở cuộc Hội thảo Việt Nam học đầu tiên tổ xã hội, mặc dù tác giả có bổ sung. Dòng dõi không chức tại Hà Nội năm 2005, chính giáo sư Charles nhất thiết phải là một sự kiện có thật, không giống F.Keyes đã phản bác ý kiến muốn gộp người Thái ở như dòng họ trong gia phả, chỉ ra một ông bà tổ Thái Lan với người Thái ở Việt Nam, ở Lào thành chung ? một cộng đồng Thái trong vùng. Theo ông, hiện nay 6. Cùng đặc trưng nhân chủng. Như trên đã người Thái ở Thái Lan có những đặc điểm riêng trình bày, cộng đồng nhân chủng liên quan đến không thể cùng chung với đặc điểm của người Thái dòng máu, các đặc điểm về thể chất, thuộc về sinh ở Việt Nam và người Thái ở Lào v.v.. Không thể học trong khoa học tự nhiên, khác với tộc người, truy tìm nguồn gốc để khẳng định đặc tính chung thuộc khoa học xã hội, nhân văn. Trên thế giới, có cho các tộc người hiện tại. không nhiều về cộng đồng nhân chủng, nhưng lại Còn ở Việt Nam, nếu coi nguồn gốc lịch sử là một có hàng nghìn cộng đồng tộc người, do vậy không tiêu chí cho xác định tộc người, sẽ rất khó khăn cho thể lấy tiêu chí nhân chủng để áp đặt cho tiêu chí việc trả lời, “tộc người đó” là ai ? Chẳng hạn người tộc người. Thổ ở Nghệ An, Thanh Hóa, nếu truy về nguồn gốc 7. Đặc thù tín ngưỡng tôn giáo. Tín ngưỡng lịch sử thì họ đều từ người Kinh ở vùng Quỳnh Lưu, tôn giáo xét cho cùng cũng thuộc về phạm trù văn Diễn Châu tỉnh Nghệ An lên miền núi hỗn dung với hóa. Trong một tộc người, có thể mỗi dòng họ, người Mường, người Thái ở địa phương. Trường mỗi nhóm địa phương trong tộc người có những hợp người Sán Chay, gồm hai nhóm Cao Lan và qui định riêng về tín ngưỡng. Còn tôn giáo, nhất Sán Chỉ, theo các nhà khoa học thì họ có chung một là các tôn giáo hiện đại, có nhiều tộc người cùng nguồn gốc. Nguyễn Nam Tiến, trong một bài viết theo một tôn giáo như đạo Phật, Công giáo, Tin lành về quan hệ giữa hai nhóm Cao Lan và Sán Chỉ đăng hoặc Hồi giáo, nhưng ngược lại trong cùng một tộc trong Thông báo Dân tộc học 1973, sau đó đăng lại người, mỗi gia đình, mỗi nhóm địa phương hoặc ở trong “Về vấn đề xác định thành phần các dân tộc mỗi quốc gia lại theo những tôn giáo khác nhau. Về thiểu số ở miền Bắc Việt Nam” cho rằng: Người tín ngưỡng, tôn giáo, từ lâu các nhà khoa học đã loại Sán Chỉ ở xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương, tỉnh Bắc khỏi các tiêu chí tộc người. Thái lại cùng họ Nịnh với người Cao Lan ở huyện 8 và 9. Về tâm lý và nội tộc hôn. Chúng tôi Võ Nhai trong cùng tỉnh, hoặc dòng họ La ở xã Yên đã trình bày rõ trong các công trình hoặc bài viết Ninh, huyện Phú Lương, Bắc Thái, lại có một chi bàn về tộc người hoặc tiêu chí dùng trong xác định họ ở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang khai là thành phần tộc người17. người Cao Lan. Ở huyện Sơn Động, tỉnh Hà Bắc, chi họ Mễ ở xã Yên Định khai là Cao Lan, chi ở Lệ Vì vậy, ở nước ta hiện nay cũng không nên đưa Viễn khai là Sán Chỉ…15. hai vấn đề này trở thành tiêu chí trong xác định tộc người. Ở nước ta, từ sau năm 1979, và nhất là từ khi thực hiện chính sách Đổi mới, tình hình di cư của Cũng như trong đề tài xác định thành phần các các tộc người diễn ra ngày càng sôi động, sự cư trú dân tộc nước ta giai đoạn 2000-2005, chúng tôi cho xen ghép giữa các tộc người là phổ biến. Vì thế hôn rằng, ba tiêu chí mà các nhà khoa học Việt Nam đã nhân hỗn hợp giữa các tộc người không chỉ ở thế hệ thống nhất: tiêu chí ngôn ngữ, tiêu chí văn hóa, tiêu thứ nhất mà ngày càng phát triển ở các thế hệ sau chí ý thức tự giác tộc người, trước đây cũng như ở trong nhiều tộc người khác nhau. Có gia đình khai giai đoạn đó vẫn đúng và hiện nay vẫn còn nguyên dân tộc của con theo cha, có gia đình khai theo mẹ, giá trị. Có thể sau vài chục năm trong xã hội ta có nghĩa là theo bên nội hoặc bên ngoại. Với những nhiều thay đổi nhưng điều đó không ảnh hưởng đến trường hợp như vậy, việc truy tìm nguồn gốc tộc các tiêu chí xác định tộc người, vì các tiêu chí đó người ngày càng trở nên phức tạp. vẫn đảm bảo được tính khoa học, phù hợp với thực Dẫn ra một số trường hợp trên đây, người viết 16. CharlesF.Keyes, các bài viết trong Hộp tuyến tính dân tộc và muốn khẳng định một điều là không nên đưa nguồn quan hệ dân tộc ở Việt Nam và Đông Nam Á, Hà Nội, 2005. gốc lịch sử làm thành một tiêu chí để xác định tộc 17. Khổng Diễn, Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1995. 15. Nguyễn Nam Tiến, Lại bàn về mối quan hệ giữa hai nhóm Cao - “Một số vấn đề xác định lại thành phần dân tộc ở Việt Nam” trong Lan - Sán Chỉ trong “Về vấn đề xác định thành phần các dân tộc Hội thảo bàn về tiêu chí xác định lại thành phần một số dân tộc ở thiểu số ở miền Bắc Việt Nam” (đã dẫn). Việt Nam, Hà Nội 02.7.2002, thành phố Hồ Chí Minh 18.10.2002. 50 Số 21 - Tháng 3 năm 2018
  6. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc KHOA HỌC, GIÁO DỤC VÀ CÔNG NGHỆ tiễn đã và đang diễn ra trong xã hội các tộc người thiểu số ở miền Bắc Việt Nam, NXB. Khoa học Xã ở Việt Nam. hội, Hà Nội, 1975; Tài liệu tham khảo [10] Vương Hoàng Tuyên, Việc lập danh mục [1] Khổng Diễn, Tổng quan về Dân tộc học Việt các dân tộc là một thắng lợi bước đầu trong công Nam trong một thế kỷ qua, trong “Dân tộc học Việt tác nghiên cứu dân tộc ở miền Bắc nước ta, trong Nam thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI”, “Về vấn đề xác định thành phần… (đã dẫn); NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2003; [11] Đặng Nghiêm Vạn, Lại bàn về công tác xác [2] Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khóa X, minh thành phần các dân tộc Việt Nam, trong Hội Chính sách và pháp luật của Đảng, Nhà nước về thảo “Bàn về tiêu chí xác định lại thành phần một dân tộc, NXB. Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2000, số dân tộc ở Việt Nam”, Hà Nội ngày 02. 7. 2002; tr.16, 21; [12] S.I.Bruk, Cư dân thế giới (dân số học tộc [3] Ủy ban Dân tộc và Miền núi, Báo cáo 50 người), NXB. Khoa học, Moscơva, 1981; năm công tác dân tộc và miền núi, Hà Nội, 1996; [13] Chu Thái Sơn, Tính đồng đại và tính lịch [4] Mạc Đường, Trao đổi về tiêu chuẩn xác đại trong các tiêu chí xác minh dân tộc, trong Hội định thành phần dân tộc, trong Hội thảo bàn về tiêu thảo “Bàn về tiêu chí xác định lại thành phần dân chí xác định thành phần dân tộc (Hà Nội ngày 02. tộc ở Việt Nam, Hà Nội ngày 02.7.2002; 7.2012; thành phố Hồ Chí Minh ngày 18/10/2002); [14] Cao Thế Trình, Tiêu chí xác định tộc người [5] Hai nhà Khoa học Liên xô sau khi từ Việt và việc vận dụng xây dựng danh mục thành phần Nam trở về nước đã viết một số công trình: dân tộc Việt Nam, trong Hội thảo “Bàn về tiêu chí - S.A.Aruchiunov, Ngôn ngữ Xá ở Tây Bắc Việt xác định thành phần dân tộc ở Việt Nam, thành phố Nam, trong Thông báo Dân tộc học, Moscơva, 1962; Hồ Chí Minh ngày 18/10/2002; - A.I.Mukhlinov, Một chuyến đi tới Việt Nam [15] Kozlov V.I. Hệ vấn đề tính tộc người, trong dân chủ cộng hòa trong Tạp chí “Nhân chủng học “Căn tính tộc người”, Viện Thông tin Khoa học xã và Khảo cổ học Xô Việt số 3.1962; Đặc tính dân tộc hội, Hà Nội, 1998; học các nhóm Xá ở Việt Nam, Dân tộc học Xô viết, [16] Keyes Charles F. “Các dân tộc ở Châu Á” 1962; Nguồn gốc và lịch sử các tộc người ở Việt - Khoa học và chính trị trong việc phân loại tộc Nam, Moscơva, 1977; người ở Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam, trong [6] Lã Văn Lô, Nguyễn Hữu Thấu, Mai Văn Trí, “Hộp tuyển tính dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Ngọc Anh, Mạc Như Đường, Các dân tộc thiểu số ở Nam và Đông Nam Á”, Hà Nội, 2005; Việt Nam, NXB. Văn hóa, Hà Nội, 1959; [17] Nguyễn Nam Tiến, Lại bàn về mối quan hệ [7] E.P.Buxưghin, Trường Đại học Tổng hợp Hà giữa hai nhóm Cao Lan - Sán Chỉ trong “Về vấn đề Nội, Dân tộc học đại cương (Công Lý và Lê Thế xác định thành phần các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Thép dịch), NXB. Giáo dục, Hà Nội, 1961; Việt Nam” (đã dẫn); [8] Viện Dân tộc học, Các dân tộc ít người ở Việt [18] Tạ Đức, Nguồn gốc người Việt - người Nam (các tỉnh phía Bắc), trong bản đồ các dân tộc, Mường, NXB. Trí thức, Hà Nội 2013, tr, 814; NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978; [19] CharlesF.Keyes, các bài viết trong Hộp [9] Nguyễn Khánh Toàn, Một vài quan điểm cơ tuyến tính dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam và bản cần được quán triệt trong quá trình xây dựng Đông Nam Á, Hà Nội, 2005; danh mục các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam [20] Khổng Diễn, Dân số và dân số tộc người ở trong “Về vấn đề xác định thành phần các dân tộc Việt Nam, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1995. SCIENTIFIC ESTABLISHMENT AND CRITERIA TO IDENTIFY ETHNIC GROUPS IN VIETNAM Khong Dien Abstract: Vietnam is a multi-ethnic country with 54 ethnic groups living in the S-shape (from Lung Cu - Ha Giang to Mui Ca Mau). Ethnic groups have a good relationship, a tradition of solidarity, mutual assistance, and common sense of a unified nation. The problem when implementing ethnic work is to grasp the characteristics of ethnic groups to implement the policy of the Partyabout the equality of the ethnic groups. It should be studied in terms of the ethnic composition. Identification of ethnic groups or ethnic compositions, at least the following elements: Data on ethnic groups and criteria for ethnic identity. Keywords: Scientific establishment; criteria to identify ethnic; ethnic group; data on ethnic groups Số 21 - Tháng 3 năm 2018 51

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản