Cơ sở khoa học xây dựng tiêu chí nhân cách văn hóa sinh viên đại học sư phạm

Chia sẻ: Comam1902 Comam1902 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
5
lượt xem
0
download

Cơ sở khoa học xây dựng tiêu chí nhân cách văn hóa sinh viên đại học sư phạm

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết phân tích cơ sở lí luận và thực tiễn nhằm xác định khung tiêu chí nhân cách văn hóa sinh viên đại học sư phạm. Khung tiêu chí gồm 06 giá trị nhân cách và 23 tiêu chí, sẽ là cơ sở cho việc nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá nhân cách văn hóa của giáo viên.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Cơ sở khoa học xây dựng tiêu chí nhân cách văn hóa sinh viên đại học sư phạm

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE<br /> Social Science, 2018, Vol. 63, Iss. 2A, pp. 58-64<br /> This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn<br /> <br /> DOI: 10.18173/2354-1075.2018-0028<br /> <br /> CƠ SỞ KHOA HỌC XÂY DỰNG TIÊU CHÍ NHÂN CÁCH VĂN HÓA<br /> SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM<br /> Đào Thị Oanh và Vũ Thị Lê Thủy<br /> <br /> Viện Nghiên cứu Sư phạm, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội<br /> Tóm tắt. Bài viết phân tích cơ sở lí luận và thực tiễn nhằm xác định khung tiêu chí nhân<br /> cách văn hóa sinh viên đại học sư phạm. Khung tiêu chí gồm 06 giá trị nhân cách và 23<br /> tiêu chí, sẽ là cơ sở cho việc nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá nhân cách văn hóa<br /> của giáo viên. Các giá trị nhân cách cơ bản được đề xuất để giáo dục cho sinh viên sư phạm<br /> gồm: yêu thương; tin tưởng, tin cậy; công dân tích cực; tận tụy, tận tâm; hợp tác; sáng tạo.<br /> Từ khóa: Văn hóa, nhân cách văn hóa, sinh viên đại học sư phạm, nhân cách văn hóa sinh<br /> viên đại học sư phạm, giáo dục nhân cách văn hóa sinh viên đại học sư phạm.<br /> <br /> 1.<br /> <br /> Mở đầu<br /> <br /> Đảng, Nhà nước ta luôn luôn coi trọng vai trò của văn hóa trong sự phát triển đất nước. Nghị<br /> quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014) về xây dựng và phát triển<br /> văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước một lần nữa khẳng<br /> định quan điểm coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền<br /> vững đất nước. Trong việc giáo dục (GD) văn hóa cho thế hệ trẻ, vai trò của nhà trường, đặc biệt<br /> của giáo viên đã được khẳng định. Điều này tác động trực tiếp đến chương trình đào tạo giáo viên<br /> (ĐTGV) ở trường đại học sư phạm (ĐHSP) mà mục tiêu cao nhất luôn được đặt ra là: cung cấp<br /> cho xã hội lực lượng giáo viên tương lai có đủ phẩm chất và năng lực giáo dục thế hệ trẻ trong tư<br /> cách là một nhà văn hóa theo nghĩa rộng nhất.<br /> Thực tiễn GD nhà trường hiện nay ở nước ta còn tồn tại những biểu hiện tiêu cực: bạo lực<br /> học đường, sự buông lỏng trách nhiệm từ phía nhà quản lí hay từ phía giáo viên trong GD định<br /> hướng giá trị cho học sinh, ứng xử giữa giáo viên và học sinh chưa được như mong đợi. . . Nguyên<br /> nhân sâu xa của những hiện tượng phản cảm đó là do các trường ĐHSP chưa quan tâm đúng mức<br /> việc GD các giá trị đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên của mình. Cụ thể là, trong chương trình<br /> ĐTGV ở trường ĐHSP, mục tiêu GD giá trị đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên được đề cập đến<br /> ở nhóm năng lực giáo dục cần hình thành và rèn luyện cho sinh viên sư phạm (SVSP). Trong đó,<br /> có yêu cầu đưa ra đối với sinh viên là: Thể hiện tư cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, tác phong<br /> công nghiệp và thái độ thân thiện với học sinh, cha mẹ học sinh và cộng đồng địa phương. Song<br /> nội dung GD liên quan và phương thức tổ chức GD dường như mờ nhạt [5, 7, 8]. Trong khi đó, tại<br /> một số nước có nền GD phát triển trong khu vực, vấn đề này rất được đề cao và được thể hiện rõ<br /> Ngày nhận bài: 15/12/2017. Ngày sửa bài: 20/2/2018. Ngày nhận đăng: 25/2/2018<br /> Liên hệ: Đào Thị Oanh, e-mail: phanh1001@yahoo.com<br /> <br /> 58<br /> <br /> Cơ sở khoa học xây dựng tiêu chí nhân cách văn hóa sinh viên đại học sư phạm<br /> <br /> trong Chuẩn đầu ra cũng như trong chương trình ĐTGV: “Có đạo đức, giá trị và chuyên nghiệp”,<br /> “Trách nhiệm xã hội và trách nhiệm giải trình trong việc phát triển cộng đồng, quốc gia và toàn<br /> cầu” (Chuẩn đầu ra của Malaysia) hay “GD nhân cách và công dân”, “Kĩ năng giao tiếp dành cho<br /> giáo viên”, “Nghiên cứu đa văn hóa: Tôn trọng sự khác biệt” (môn học trong chương trình ĐTGV<br /> của Singapore). . . [1].<br /> Do vậy, nghiên cứu đề xuất tiêu chí nhân cách văn hóa với tư cách là những phẩm chất đạo<br /> đức nghề nghiệp cần giáo dục ở sinh viên ĐHSP rất có ý nghĩa, đóng góp cơ sở khoa học cho việc<br /> xây dựng chương trình đào tạo bồi dưỡng phát triển đội ngũ giáo viên sao cho sát hợp, chất lượng.<br /> <br /> 2.<br /> 2.1.<br /> <br /> Nội dung nghiên cứu<br /> Cơ sở lí luận: Một số khái niệm cơ bản<br /> <br /> Nâng việc GD nhân cách con người lên tầm văn hóa đã được nhiều tác giả đề cập đến như<br /> một cách tiếp cận phát triển bền vững con người, bởi văn hóa là những giá trị bền chặt, khó thay<br /> đổi [2, 3, 6]. Trong nghiên cứu này, GD nhân cách văn hóa sinh viên ĐHSP được hiểu trong phạm<br /> vi của GD những giá trị đạo đức nghề nghiệp tương lai của họ, giúp sinh viên có thể thực hiện<br /> nghề nghiệp tương lai đáp ứng yêu cầu xã hội . Điều này đồng nghĩa với việc GD giá trị đạo đức<br /> nghề nghiệp đạt trình độ chuẩn mực cho sinh viên ĐHSP với tư cách là các nhà giáo tương lai. Vì<br /> vậy cần làm rõ một số khái niệm liên quan.<br /> <br /> 2.1.1. Định nghĩa văn hóa<br /> Có nhiều định nghĩa về văn hóa, trong nghiên cứu này, văn hóa được hiểu là “toàn bộ giá<br /> trị vật chất và tinh thần đã được nhân loại sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử xã hội, thể hiện mối quan hệ phổ quát của con người đối với thế giới, mối quan hệ mà thông qua<br /> đó con người sáng tạo ra thế giới và sáng tạo ra chính bản thân mình [dẫn theo 2]. Văn hóa là cách<br /> mà trong đó mọi người hành động theo bản chất. Văn hóa gắn với con người và gắn với GD.<br /> <br /> 2.1.2. Định nghĩa nhân cách và nhân cách văn hóa<br /> Theo tiếp cận Hoạt động-Giá trị-Nhân cách, có thể định nghĩa nhân cách là tổ hợp các thái<br /> độ - thuộc tính riêng trong quan hệ ứng xử (hành vi nói năng, đi đứng, cư xử. . . ), trong hành động<br /> với bản thân, với người khác, với môi trường tự nhiên [3]. Từ đó, chúng tôi có thể đưa ra cách hiểu<br /> về nhân cách văn hóa như sau: Nhân cách văn hóa là hệ thống thái độ tương đối ổn định, bền vững<br /> của cá nhân, chứa đựng và phản ánh các giá trị văn hóa của nhân loại, dân tộc, gia đình và được<br /> biểu hiện trong mối quan hệ với bản thân, với công việc, với những người khác, với môi trường tự<br /> nhiên.<br /> <br /> 2.1.3. Định nghĩa nhân cách văn hóa sinh viên đại học sư phạm<br /> Sinh viên đại học sư phạm là nhóm người trưởng thành, phát triển đầy đủ về thể chất lẫn tâm<br /> lí cùng với các phẩm chất cá nhân tích cực. Họ đang học tập và rèn luyện trong các trường ĐHSP<br /> để trở thành giáo viên trong tương lai. Từ cách hiểu nêu trên về nhân cách văn hóa và sinh viên<br /> ĐHSP, chúng tôi có thể đưa ra định nghĩa “để làm việc” như sau về nhân cách văn hóa sinh viên<br /> ĐHSP: Nhân cách văn hóa sinh viên ĐHSP là hệ thống thái độ tương đối ổn định, bền vững của<br /> cá nhân, chứa đựng và phản ánh các giá trị đạo đức nghề dạy học, được biểu hiện trong mối quan<br /> hệ của sinh viên với bản thân, với nghề nghiệp tương lai, với những người khác, với môi trường<br /> tự nhiên. Và giáo dục nhân cách văn hóa sinh viên ĐHSP là quá trình tác động có mục đích, có<br /> kế hoạch từ phía nhà trường và xã hội nhằm hình thành phát triển ở sinh viên những giá trị chuẩn<br /> 59<br /> <br /> Đào Thị Oanh và Vũ Thị Lê Thủy<br /> <br /> mực đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp tương lai của họ trong tư cách là một người giáo viên, được thể<br /> hiện trong mối quan hệ với bản thân, với mọi người xung quanh, với công việc, với môi trường tự<br /> nhiên.<br /> <br /> 2.2.<br /> <br /> Cơ sở thực tiễn<br /> <br /> 2.2.1. Bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay và yêu cầu nhân cách văn hóa đối với đội ngũ giáo<br /> viên<br /> Những nghiên cứu trong lĩnh vực Xã hội học Tổ chức lao động gần đây cho thấy người lao<br /> động Việt Nam: thông minh; thích ứng cao; óc thực tiễn; mạo hiểm; khéo léo; cần cù; tự lập; song<br /> có những bất cập trong suy nghĩ, cách làm, quan hệ ứng xử, kỉ luật lao động, khả năng ngoại ngữ,<br /> hiểu biết về văn hóa thế giới. . . Và nguyên nhân được xác định có vai trò của giáo dục đào tạo [dẫn<br /> theo 2]. Trong xã hội, đội ngũ trí thức là một nguồn lực quan trọng đối với phát triển kinh tế đất<br /> nước đã thể hiện khả năng cập nhật, thích ứng nhanh với trình độ quốc tế, song vẫn còn những hạn<br /> chế trong tác phong làm việc. Kết quả nghiên cứu gần đây ở học viên và giảng viên một số trường<br /> lí luận chính trị-hành chính cho thấy họ nhận thức ở mức độ cao về các giá trị nghề nghiệp: kỉ luật;<br /> hiệu quả; khách quan; thích ứng, dám nghĩ dám làm; cầu thị, cầu tiến; trách nhiệm; kế hoạch; gọn<br /> gàng, lịch sự. . . Song, chính họ chưa thực sự hài lòng với bản thân ở “Tính kế hoạch”, “Tính kỉ<br /> luật”, “Tính khách quan” [5]. Giáo dục là một bộ phận của văn hóa, tác động GD có định hướng<br /> (đặc biệt giáo dục nhà trường) sẽ thúc đẩy sự hình thành, củng cố, phát triển các giá trị văn hóa một<br /> cách có hệ thống, phù hợp yêu cầu xã hội. Thông qua hoạt động GD, các giá trị văn hóa tốt đẹp<br /> được phát triển ở người học, giúp họ hoàn thiện bản thân, phát triển hài hòa các mặt “Trí”, “Đức”,<br /> “Thể”, “Mỹ”. Trong Dự thảo Đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông<br /> sau 2015, mục tiêu của Chương trình GD phổ thông mới được thiết kế theo hướng đẩy mạnh giáo<br /> dục toàn diện, chú trọng giáo dục đạo đức, kĩ năng sống, giáo dục pháp luật và giáo dục hướng<br /> nghiệp. . . cho thấy rõ, các giá trị văn hóa cần GD cho học sinh trong nhà trường vừa là nội dung,<br /> vừa là mục tiêu hướng đến, vừa là điều kiện để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của nước ta.<br /> Từ góc độ văn hóa, trong xã hội hiện nay giáo viên được xếp vào hàng ngũ trí thức, đóng<br /> vai trò quan trọng trong việc tập hợp và tổ chức lực lượng nghiên cứu, sáng tạo cũng như đào tạo<br /> đội ngũ kế cận. Đó là những người tham gia các hoạt động trí tuệ, gắn với duy trì, bảo vệ, phát<br /> huy, truyền bá văn hóa dân tộc, thu nhận những giá trị văn hóa mới của thế giới làm cho văn hóa<br /> bản địa trở nên phong phú và hiện đại. Hoạt động trí tuệ đòi hỏi sự sáng tạo, sự thích ứng với hoàn<br /> cảnh luôn thay đổi. Trong xã hội, ngoài chức năng của một nhà GD, nhà quản lí quá trình GD, nhà<br /> hoạt động xã hội, giáo viên còn có các chức năng cơ bản của một nhà trí thức: (1) Bảo vệ, duy<br /> trì, phát huy và phát triển văn hóa; (2) Phản biện xã hội; (3) Đào tạo đội ngũ trí thức kế cận, bồi<br /> dưỡng nhân tài; (4) Chức năng xã hội. Từ đó, có thể lẩy ra những nhiệm vụ cơ bản của giáo viên<br /> với tư cách là những trí thức: tham gia giải quyết những vấn đề phát triển kinh tế xã hội, góp phần<br /> hoàn thiện chủ trương, chính sách, luật pháp, an ninh; phát huy vai trò động lực của khoa học công nghệ và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào nghề nghiệp bản thân; tham gia tích cực<br /> vào quá trình đổi mới GD; duy trì, phát triển, bảo tồn văn hóa dân tộc; GD thế hệ trẻ về lòng yêu<br /> nước, lòng tự hào dân tộc; tạo ra những giá trị văn hóa mới. Để thực hiện nhiệm vụ nói trên, giáo<br /> viên cần có những phẩm chất nhân cách: tôn trọng tri thức, ham học hỏi; sáng tạo; cởi mở, thích<br /> ứng cao; hợp tác; kỉ luật .<br /> Về nhân cách giáo viên, một số nghiên cứu cho thấy, những giáo viên được học sinh nhớ<br /> lâu có các phẩm chất nhân cách: sự đồng cảm; lòng nhiệt thành; tính sáng tạo; sự cống hiến; tính<br /> kỉ luật. . . Phần lớn giáo viên tin rằng, nếu mình là người: thân thiện, cảm thông; cởi mở, khoáng<br /> 60<br /> <br /> Cơ sở khoa học xây dựng tiêu chí nhân cách văn hóa sinh viên đại học sư phạm<br /> <br /> đạt; giao tiếp tốt; lắng nghe; hài hước; tử tế thì sẽ được học sinh yêu quý, và học sinh sẽ học [5].<br /> Chương trình ĐTGV của một số nước trong khu vực có bao hàm các giá trị nhân cách cốt lõi cần<br /> GD ở SVSP gồm: hợp tác; tự tin, quyết đoán; công dân tích cực; tin tưởng vào học sinh; tận tâm,<br /> tận tụy với nghề (Singapore); hay: chính trực; hợp tác; tự lực, trách nhiệm; chất lượng; thương<br /> yêu con người; khiêm tốn; kính trọng; tình yêu đúng mức; công lí; tự do; can đảm; trong sáng;<br /> trung thực; cân bằng hài hòa lợi ích chung và riêng; biết ơn; chuyên cần (Malaysia). Năm 2016, Bộ<br /> trưởng Giáo dục Malaysia - Datuk Seri Naijib Razak - tuyên bố có ba giá trị quan trọng cần được<br /> bao hàm trong hệ thống GD quốc gia và các trường học là: “Yêu nước”; “Ôn hòa”; “Tôn trọng lẫn<br /> nhau” [4, 5].<br /> <br /> 2.2.2. Đặc điểm phát triển một số phẩm chất nhân cách ở sinh viên đại học sư phạm hiện<br /> nay<br /> Sinh viên ĐHSP có điểm khác căn bản so với sinh viên của các trường đại học khác ở nét<br /> đặc thù của nghề dạy học, thể hiện ở vai trò là tấm gương mẫu mực, là chuẩn mực trước học sinh<br /> bởi phương tiện nghề nghiệp của họ chính là toàn bộ nhân cách của họ. Điều này đặt ra cho họ<br /> những yêu cầu riêng trong rèn luyện các phẩm chất đạo đức nghề nghiệp ngay từ trong trường<br /> đại học. Những yêu cầu xã hội đối với nghề dạy học hiện nay khiến cho sinh viên ĐHSP là nhóm<br /> người được quan tâm nghiên cứu khá nhiều về mức độ phát triển các phẩm chất nhân cách khác<br /> nhau, chẳng hạn: (1) Mức độ phát triển tự ý thức được đa số sinh viên đại học sư phạm tự đánh giá<br /> ở mức trung bình và có liên quan đến trình độ học lực cũng như kế hoạch tương lai của họ. Những<br /> sinh viên có kết quả học tập cao thường chủ động, tích cực tự nhận thức; tự đánh giá; tự kiểm tra<br /> về hành động, thái độ cư xử, cử chỉ giao tiếp của bản thân để hướng tới tự hoàn thiện nhân cách<br /> nghề nghiệp. Sinh viên sư phạm rất quan tâm đến tốc độ phản ứng của bản thân – nằm trong năng<br /> lực định hướng tâm lí vào người khác và rất cần đối với nghề dạy học, song hiện còn kém so với<br /> mong đợi, vì thế họ cần được rèn luyện để trở nên tự tin, cởi mở hơn; (2) Xác định giá trị và phát<br /> triển định hướng giá trị ở SVSP có sự phân hóa do sự thay đổi sâu sắc về kinh tế, văn hóa, chính trị<br /> - xã hội ở nước ta và trên thế giới khiến cho một bộ phận có xu hướng đề cao các giá trị kinh tế, vật<br /> chất; các “giá trị mục đích mang tính cá nhân” (“Được thừa nhận”, “Sự thông thái”, “Hạnh phúc”)<br /> được đánh giá cao hơn các “giá trị phương tiện” (“Đức tin”, “Ngăn nắp”, “Trách nhiệm”. . . ). Tác<br /> động xã hội bên ngoài khiến cho mỗi cá nhân nhiều khi gặp mâu thuẫn giữa các giá trị được lựa<br /> chọn, do đó việc giúp họ xác định đúng đắn các giá trị nghề nghiệp là vô cùng cần thiết Đây là<br /> điều cần lưu ý trong xây dựng chương trình GD giá trị nhân cách cho SVSP [dẫn theo 3]; (3) Tự<br /> đánh giá bản thân chưa phù hợp. Phần lớn sinh viên chưa nhận thức rõ ràng điểm mạnh, điểm yếu<br /> của bản thân làm ảnh hưởng đến hiệu quả công việc. Bởi vậy, nếu sinh viên tự ý thức được mình<br /> đang thiếu gì, xã hội đang cần gì thì họ sẽ biết cách tự trang bị cho mình. Kĩ năng tự đánh giá sẽ<br /> được phát triển khi sinh viên được thực hành, trải nghiệm thực tiễn phổ thông, thường xuyên trao<br /> đổi học hỏi lẫn nhau, được tham gia vào các chương trình GD mang tính chuyên biệt nhằm rèn<br /> luyện kĩ năng này một cách có hệ thống [5, 8]; (4) Giao tiếp, truyền thông (nói, viết, trình bày,<br /> thuyết phục) là kĩ năng vô cùng quan trọng với SVSP bởi họ phải biết chịu trách nhiệm về cách<br /> họ tương tác với người khác và những kết quả có được từ cách thức giao tiếp của mình. Để giao<br /> tiếp trở thành một phẩm chất nghề nghiệp, sinh viên cần được rèn luyện từ trong trường sư phạm.<br /> Thực tế hiện nay cho thấy, sinh viên được trang bị kiến thức nghề nghiệp khá tốt nhưng khả năng<br /> giao tiếp, khả năng xây dựng hình ảnh cá nhân trong một môi trường làm việc chuyên nghiệp còn<br /> rất hạn chế, đặc biệt trong môi trường đa văn hóa [7]; (5) Hợp tác, làm việc nhóm chưa thực sự<br /> hiệu quả. Tính xã hội là bản chất của con người: muốn thành công, mỗi cá nhân không chỉ dựa vào<br /> bản thân mà rất cần sự hỗ trợ của cả các cá nhân khác. Hiện nay, một bộ phận SVSP còn thể hiện<br /> tính cá nhân khá cao, xem đó như là nét riêng của mình [dẫn theo 2, 3] khiến cho chất lượng công<br /> 61<br /> <br /> Đào Thị Oanh và Vũ Thị Lê Thủy<br /> <br /> việc và sự phát triển nghề nghiệp của họ kém hiệu quả. Dạy học là nghề có tính độc lập cao, song<br /> đồng thời đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ với đồng nghiệp và các lực lượng giáo dục khác. Nhưng, đa<br /> số SVSP tự đánh giá chưa tốt ở điểm này vì vậy, đây cũng là nhu cầu cấp thiết đối với đa số họ<br /> [8]; (6) Tổ chức công việc, quản lí sử dụng thời gian khoa học là rất quan trọng với SVSP vì giúp<br /> họ quản lí thời gian hiệu quả trong nghề nghiệp sau này khi trở thành giáo viên. Cuộc sống hiện<br /> đại đòi hỏi sự nhanh nhẹn, linh hoạt, chính xác, hiệu quả. . . Muốn thế, cá nhân phải biết phân bố,<br /> sử dụng thời gian hợp lí để tránh áp lực, đồng thời hình thành được “cảm giác chính xác về thời<br /> gian”. Hiện nay, đây là điều đang thiếu hụt ở phần lớn SVSP [2, 5].<br /> <br /> 2.2.3. Cơ sở pháp lí<br /> Ở Việt Nam, các văn bản của Nhà nước và của Ngành Giáo dục - Đào tạo đưa ra hàng loạt<br /> yêu cầu về phẩm chất đạo đức của giáo viên xuất phát từ tính chất của nghề dạy học. Dạy học là<br /> nghề có đối tượng lao động là con người đang trong quá trình phát triển, vì thế thái độ ứng xử<br /> của giáo viên trong các mối quan hệ: với học sinh, với đồng nghiệp, với bản thân, với nghề nghiệp<br /> được đặc biệt coi trọng. Theo Luật Giáo dục; Chuẩn Nghề nghiệp giáo viên; Điều lệ trường trung<br /> học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học, giáo viên phải là<br /> người: yêu thương; tôn trọng học sinh; công bằng với học sinh; bảo vệ lợi ích của học sinh; đoàn<br /> kết; giúp đỡ đồng nghiệp; thân thiện; hợp tác; dân chủ; không ngừng học tập, rèn luyện; tận tụy;<br /> cải tiến; gương mẫu; sáng tạo; nghiêm chỉnh chấp hành quy định pháp luật; khiêm tốn; lắng nghe;<br /> chấp nhận sự khác biệt; lối sống lành mạnh, văn minh; tác phong khoa học. Những yêu cầu đó sẽ<br /> được tham khảo khi đề xuất khung nhân cách văn hóa của sinh viên ĐHSP.<br /> <br /> 2.3.<br /> <br /> Khung tiêu chí nhân cách văn hóa sinh viên đại học sư phạm hiện nay<br /> <br /> Việc xác định khung tiêu chí nhân cách văn hóa sinh viên ĐHSP được dựa trên kết quả<br /> nghiên cứu các nguồn tư liệu nêu trên, trong đó đặc biệt nhấn mạnh tính chất nghề nghiệp tương<br /> lai của họ trong tư cách là một nhà giáo, một trí thức hiện đại. Gợi ý về các giá trị nhân cách của<br /> SVSP Singapore đã được tham khảo trong nghiên cứu này với tư cách là kinh nghiệm nước ngoài.<br /> Khung tiêu chí nhân cách văn hóa được xây dựng bao gồm 06 giá trị nhân cách và 23 tiêu chí tương<br /> ứng (phẩm chất đạo đức nghề nghiệp) như trong bảng dưới đây.<br /> TT<br /> <br /> 62<br /> <br /> Bảng 1. Khung tiêu chí nhân cách văn hóa của sinh viên ĐHSP<br /> <br /> Giá trị<br /> Nhân cách<br /> <br /> 1<br /> <br /> Yêu thương<br /> <br /> 2<br /> <br /> Tin tưởng,<br /> Tin cậy<br /> <br /> Tiêu chí<br /> <br /> (1) Yêu đất nước, yêu thiên nhiên Việt Nam (giữ gìn, bảo vệ di sản văn hóa của<br /> quê hương đất nước và thế giới; tôn trọng, bảo vệ sự sống, tài sản chung, môi<br /> trường xung quanh)<br /> (2) Đồng cảm, vị tha với trẻ (sự nhạy cảm, thấu hiểu nhu cầu của trẻ, gần gũi,<br /> nhân từ với trẻ, bảo vệ lợi ích của trẻ...)<br /> (3) Khoan dung, thân thiện với mọi người lớn xung quanh (cởi mở, thẳng thắn,<br /> hào hiệp, nhường nhịn, quan tâm chia sẻ)<br /> (4) Yêu quý, chăm sóc bản thân (rèn luyện sức thể chất, trau dồi cuộc sống tinh<br /> thần phong phú)<br /> (5) Tự trọng (tự tin; lễ phép, tôn trọng người khác)<br /> (6) Trung thực, khách quan, công bằng trong các mối quan hệ (thật thà, ngay<br /> thẳng, bảo vệ chính nghĩa, đấu tranh với cái sai)<br /> (7) Tự giác, tự chịu trách nhiệm (làm tròn trách nhiệm được giao, nhận trách<br /> nhiệm về mình, tôn trọng lời hứa/giữ chữ tín)<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản