HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN HỒNG SƠN

HỒNG SƠN

VÊN §Ò C¤NG B»NG X· HéI TRONG §IÒU KIÖN

KINH TÕ THÞ TR¦êNG §ÞNH H¦íNG X· HéI CHñ NGHÜA ë VIÖT NAM HIÖN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2015

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN HỒNG SƠN

VÊN §Ò C¤NG B»NG X· HéI TRONG §IÒU KIÖN

KINH TÕ THÞ TR¦êNG §ÞNH H¦íNG X· HéI CHñ NGHÜA ë VIÖT NAM HIÖN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

Mã số : 62 22 03 02

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS.Dương Xuân NgọcTS

Dương Xuân Ngọc

HÀ NỘI - 2015

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên c ứu của riêng

tôi. Các s ố li ệu, kết qu ả nêu trong lu ận án là trung th ực, có

nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU.............................................. 5

1.1. Những công trình nghiên cứu về kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩa ở Việt Nam ................................................................................... 5

1.2. Những công trình nghiên cứu về công bằng xã hội ...................................... 8

1.3. Những công trình nghiên cứu về thực hiện công bằng xã hội trong điều

kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ............ 15

1.4. Đánh giá chung các công trình nghiên cứu liên quan và định hướng

nghiên cứu của đề tài .................................................................................. 21

Chương 2: NH ỮNG VẤN ĐỀ LÝ LU ẬN CHUNG VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ

HỘI CHỦ NGHĨA ................................................................................... 24

2.1. Nhận diện kinh tế th ị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và công

bằng xã hội .................................................................................................. 24

2.2. Tính quy luật về việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ................................................. 44

2.3. Kinh nghiệm thực hiện công bằng xã hội trong một số mô hình kinh tế

thị trường trên thế giới ............................................................................... 62

Chương 3: THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ

THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM -

THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ......................................... 71

3.1. Thực tr ạng thực hi ện công bằng xã hội trong điều ki ện kinh tế th ị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ...................................... 71

3.2. Những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện công bằng xã hội trong điều

kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ............ 98

Chương 4: NH ỮNG GI ẢI PHÁP CH Ủ YẾU BẢO ĐẢM TH ỰC HI ỆN CÔNG

BẰNG XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH

HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ................... 115

4.1. Xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩa ................................................................................................... 115

4.2. Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước

trong thực hiện công bằng xã hội... . ........................................................ 115

4.3. Đổi mới, hoàn thi ện các chính sách kinh t ế, chính sách xã h ội theo

hướng giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích ........................................... 127

4.4. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu quả công tác phòng,

chống tham nhũng, lãng phí, các tệ nạn xã hội ........................................ 140

KẾT LUẬN .............................................................................................................. 148

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ .................. 150

TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 151

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Công bằng xã hội CBXH

Chủ nghĩa cộng sản CNCS

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH

Chủ nghĩa tư bản CNTB

Chủ nghĩa xã hội CNXH

Kinh tế thị trường KTTT

Nhà xuất bản NXB

Tăng trưởng kinh tế TTKT

Trang Tr

Xã hội chủ nghĩa XHCN

1

MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Công bằng xã hội (CBXH) là một hiện tượng, một quá trình xã h ội, vận

hành cùng với sự phát tri ển của lịch sử nhân loại. CBXH ph ản ánh mục tiêu,

khát vọng và là th ước đo những thành tựu của con ng ười trong quá trình đấu

tranh, xây dựng, cải tạo và phát triển xã hội.

Trong mỗi th ời kỳ lịch sử, với nh ững ch ế độ xã hội khác nhau, v ấn đề

CBXH được nhận thức và th ực hiện khác nhau, do v ậy, bên cạnh những giá

trị chung nhất định, khó có một quan niệm thống nhất về CBXH, nhất là trong

bối cảnh thế giới diễn biến đa dạng và phức tạp, với nhiều lợi ích và khuynh

hướng chính tr ị khác bi ệt, th ậm chí đối lập nhau nh ư hiện nay. Có th ể nói,

CBXH là một vấn đề không mới, nó được đặt ra khi con người biết liên kết để

gây dựng nên xã hội loài người cho đến ngày nay, song đây lại là vấn đề luôn

có tính thời sự, cần được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và phát triển. Hiện nay,

cùng với mục tiêu phát tri ển kinh t ế, hành trình c ủa nhân lo ại vẫn là hành

trình tìm ki ếm, tạo dựng nh ững giá tr ị CBXH, vì m ột th ế gi ới hòa bình và

thịnh vượng, vì mỗi cá nhân với những lợi ích chính đáng cần được thừa nhận

và bảo vệ.

Ở nước ta, CBXH là m ột trong n ăm thành t ố của mục tiêu chung mà

chúng ta phấn đấu trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH)“Dân

giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đại hội XI (2011) của Đảng

đã khẳng định: “Thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an

sinh xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển” [32, tr.227].

Trong những năm đổi mới vừa qua, cùng với sự phát triển kinh tế, vấn đề

CBXH luôn được đặt ra, gi ải quyết và đạt được những thành tựu quan tr ọng

góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh th ần của nhân dân, gi ữ vững ổn

định chính trị, xã hội; các cơ hội phát triển được mở rộng cho đông đảo nhân

dân; lợi ích t ăng tr ưởng ngày càng l ớn và được phân ph ối trên quy mô

2

rộng…Tuy nhiên, trong quá trình phát tri ển kinh t ế thị trường (KTTT), bên

cạnh mặt tích cực, còn không ít tiêu cực, ảnh hưởng nghiêm trọng tới CBXH:

sự phân hóa giàu, nghèo quá m ức giữa các tầng lớp dân cư và giữa các vùng;

tình tr ạng th ất nghi ệp, thi ếu vi ệc làm, tình tr ạng bất công trong phân b ổ tư

liệu sản xuất, phân bổ giá trị, bất công trong việc tạo cơ hội học tập, việc làm

cho người lao động…gia tăng, trở thành những vấn đề bức xúc, tác động tiêu

cực đến tính ch ất xã hội chủ nghĩa (XHCN) của sự phát tri ển, đe dọa đến sự

ổn định về chính trị - xã hội.

Trong điều ki ện KTTT định hướng XHCN, th ực hi ện CBXH luôn là

bài toán khó kh ăn đặt ra đối với quá trình phát tri ển, bởi lẽ để bi ến mục

tiêu đó thành hi ện th ực thì ph ải có hàng lo ạt nh ững điều ki ện khách quan

và ch ủ quan c ần thi ết, ph ải gi ải quyết nhi ều quan h ệ đa dạng và ph ức tạp

trên mọi lĩnh vực của đời sống xã h ội - đặc bi ệt là quan h ệ th ường không

dễ điều hòa gi ữa tăng trưởng kinh t ế (TTKT) và CBXH, gi ữa quy lu ật cạnh

tranh th ị trường cùng nh ững hệ quả tiêu c ực của nó với mục tiêu xây d ựng

xã hội lành m ạnh, ti ến bộ. Trong c ơ ch ế th ị tr ường, các vòng quay l ợi

nhuận luôn t ạo sự bất công, do đó khó có th ể xác l ập CBXH toàn di ện.

Thực tế cho th ấy, muốn thúc đẩy TTKT, trong nhi ều trường hợp, chúng ta

phải chấp nhận bất CBXH, nhưng tính ch ất và giới hạn của bất CBXH là gì

và đến đâu v.v.., là nh ững vấn đề rất mới. Ngay nh ững nước phát tri ển, đã

trải qua một quá trình l ịch sử lâu dài v ới bao s ự bất công xã h ội thì mới có

thể gi ải quy ết CBXH ở nh ững mức độ nh ất định và còn nhi ều khó kh ăn,

thử thách... Trong nh ững th ập kỷ gần đây, nhi ều nước trên th ế gi ới đã và

đang phải xem xét, điều chỉnh lại mô hình phát tri ển, kể cả những mô hình

đã có m ột th ời được xem là ưu vi ệt nổi tr ội nh ư mô hình B ắc Âu v ới nhà

nước phúc l ợi, mô hình châu Âu đại lục với thị trường xã hội. Xét theo n ội

hàm, vấn đề kinh tế cũng nằm trong l ĩnh vực xã hội, nhưng không ph ải lúc

nào giải quyết TTKT cũng đồng nghĩa với việc giải quyết vấn đề CBXH.

3

Vì vậy, hiểu như thế nào về CBXH trong nền KTTT định hướng XHCN;

làm thế nào để đảm bảo gắn kết giữa phát tri ển kinh tế và CBXH trong t ừng

bước và cả quá trình phát tri ển; vai trò của Nhà nước trong việc quản lý, điều

tiết nền KTTT nhằm thực hiện CBXH v.v.., là nh ững vấn đề quan trọng, cấp

bách cần được nhận thức và giải quyết hiện nay ở nước ta.

Từ những lý do trên, tác gi ả đã chọn đề tài: “Vấn đề công bằng xã hội

trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

hiện nay” làm Luận án tiến sĩ Triết học.

2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN ÁN

2.1. Mục đích của luận án

Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ nh ững vấn đề lý lu ận cơ bản về CBXH

trong điều ki ện KTTT định hướng XHCN, lu ận án phân tích th ực tr ạng và

giải pháp nh ằm th ực hi ện tốt CBXH trong điều ki ện KTTT định hướng

XHCN ở Việt Nam hiện nay.

2.2. Nhiệm vụ của luận án

- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về KTTT định hướng XHCN và CBXH.

- Khái quát những vấn đề có tính qui lu ật về thực hiện CBXH trong điều

kiện KTTT định hướng XHCN.

- Phân tích thực trạng và những vấn đề đặt đối với việc thực hiện CBXH

trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.

- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt CBXH trong điều

kiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.

3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu những vấn đề có tính qui luật và thực trạng việc thực

hiện CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận án nghiên c ứu vấn đề CBXH trong điều ki ện KTTT định hướng

XHCN ở Việt Nam thời kỳ đổi mới, tập trung từ Đại hội VIII (1996) đến nay.

4

4. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1. Cơ sở lý luận

Luận án vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về CBXH và CBXH trong điều

kiện KTTT định hướng XHCN;

Luận án kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa h ọc trong,

ngoài nước có liên quan.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Vận dụng tổng hợp những nguyên tắc, phương pháp luận của chủ nghĩa duy

vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp hệ thống, lôgic, lịch

sử, phân tích, tổng hợp và so sánh, v.v. để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra.

5. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

- Góp ph ần làm rõ tính quy lu ật của vi ệc th ực hi ện CBXH trong điều

kiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam.

- Khái quát kinh nghi ệm thực hiện CBXH trong m ột số mô hình KTTT

trên thế giới.

- Phân tích th ực trạng, những vấn đề đặt ra và đề xuất những giải pháp

chủ yếu nhằm thực hiện CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở

Việt Nam hiện nay.

6. Ý NGHĨA CỦA LUẬN ÁN

6.1. Ý nghĩa lý luận

Luận án có th ể dùng làm tài li ệu tham kh ảo cho vi ệc nghiên cứu, giảng

dạy, học tập trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận án làm c ơ sở cho công tác qu ản lý xã h ội, xây dựng và th ực hiện

các chính sách nh ằm đảm bảo CBXH trong điều ki ện KTTT định hướng

XHCN ở nước ta hiện nay.

7. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Ngoài ph ần mở đầu, kết lu ận và tài li ệu tham kh ảo, lu ận án g ồm 4

chương, 13 tiết.

5

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Thực hiện CBXH trong điều kiện KTTT và KTTT định hướng XHCN là

vấn đề thu hút s ự quan tâm c ủa nhi ều cơ quan, t ổ chức và cá nhân các nhà

khoa học trong và ngoài nước. Đến nay, đã có nhiều đề tài khoa học, sách, tạp

chí, kỷ yếu khoa h ọc và các bài vi ết đề cập tới vấn đề này. Các công trình

khoa học đã trình bày và phân tích các quan ni ệm về KTTT, KTTT định

hướng XHCN, về CBXH và mối quan hệ giữa TTKT và thực hiện CBXH; lý

thuyết và kinh nghi ệm th ực ti ễn th ực hi ện CBXH trong điều ki ện KTTT ở

một số nước,...với nhi ều góc độ ti ếp cận khác nhau nh ư Tri ết học, Kinh t ế

học, Chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Xã hội học, v.v..

1.1. NH ỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN C ỨU VỀ KINH T Ế TH Ị TR ƯỜNG

ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh t ế được xây dựng

trong quá trình đổi mới ở Việt Nam, đây là vấn đề có ý ngh ĩa về lý lu ận và

thực ti ễn cấp bách, do v ậy luôn thu hút được sự quan tâm nghiên c ứu của

đông đảo các nhà khoa học.

Trong cuốn sách “Một số vấn đề về kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩaở Việt Nam” do Vũ Đình Bách chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội (2004), các tác gi ả đã khái quát lý lu ận về KTTT và KTTT định hướng

XHCN ở Việt Nam, so sánh tính thống nhất và tính đặc thù giữa KTTT ở Việt

Nam và KTTT ở nhiều nước trên th ế giới; phân tích nh ững nhân tố và động

lực thúc đẩy sự phát triển của KTTT, từ đó đề xuất những quan điểm và giải

pháp chủ yếu để xây dựng nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam.

Trên cơ sở xác định bản chất, mục tiêu của KTTT, nhận diện và phát huy

sức mạnh tổng hợp của các ngu ồn lực xã hội nhằm phát tri ển KTTT luôn là

vấn đề đặc biệt có ý ngh ĩa, tác giả Lê Du Phong và Hoàng Vi ệt qua bài vi ết:

“Động lực trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định

6

hướng xã hội chủ nghĩa ở Vi ệt Nam”, đã phân tích các động lực của cơ ch ế

KTTT bao gồm: động lực kinh tế, động lực chính trị, tinh thần, đồng thời khẳng

định, việc phát huy tốt các động lực trên sẽ là điều kiện đảm bảo thành công quá

quá trình xây dựng KTTT định hướng XHCN ở nước ta [3, tr 254 - 272].

Ở ph ương di ện ti ếp cận khác, tác gi ả Nguyễn Văn Nam trong bài vi ết

“Đặc điểm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt

Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế” đã nghiên cứu sự vận

động của KTTT Vi ệt Nam trong b ối cảnh toàn cầu hóa và h ội nhập quốc tế,

trong đó, tác giả nhấn mạnh KTTT mà chúng ta xây dựng là nền kinh tế “mở”

dựa trên cơ sở sự kết hợp những nguyên tắc và quy luật của KTTT với những

nguyên tắc bản chất XHCN. Hội nhập kinh tế quốc tế không gây cản trở cho

sự kết hợp đó, ngược lại, còn mở ra nh ững cơ hội mới làm tăng tính kh ả thi

của phương án kết hợp giữa KTTT với CNXH. Sự kết hợp đó phải được thực

hiện trên các n ội dung: sở hữu, cơ ch ế vận hành, phân ph ối thu nh ập, đồng

thời phải xác định được lộ trình hội nhập phù hợp với các điều kiện kinh tế

của đất nước và đảm bảo các thông lệ, thỏa ước quốc tế [3, tr 51 - 67].

Trong đề tài khoa h ọc cấp nhà nước KX.01.01“Đặc trưng của nền kinh

tế th ị tr ường định hướng xã h ội ch ủ ngh ĩa ở Vi ệt Nam” (2005) do Vũ Đình

Bách làm ch ủ nhi ệm, các tác gi ả đã khái quát quá trình hình thành và phát

triển của KTTT trên th ế giới; các mô hình ch ủ yếu, đặc trưng và xu th ế phát

triển của KTTT hiện đại như: mô hình KTTT t ự do Hoa K ỳ, mô hình KTTT

có điều khiển Nhật Bản, mô hình KTTT xã hội Cộng hòa Liên bang Đức, mô

hình KTTT nhà n ước phúc lợi Thụy Điển, qua đó đánh giá nh ững thành tựu

và hạn chế của các mô hình tiêu biểu trên, đồng thời rút ra những bài học kinh

nghiệm đối với Việt Nam.

Nội dung trọng tâm của đề tài là các tác giả đã làm rõ bản chất và ý nghĩa

của nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam; đánh giá thực trạng, nguy cơ

và thách thức, đồng thời chỉ ra những điều kiện đảm bảo cho sự vận hành và

7

phát tri ển của nền KTTT ở Vi ệt Nam đó là: đổi mới sự lãnh đạo của Đảng

cộng sản; nâng cao vai trò qu ản lý của Nhà nước; cải tạo và xây dựng cơ cấu

trong nền KTTT và xây d ựng hạ tầng hiện đại, phát tri ển đồng bộ thể chế và

các thị trường riêng của KTTT.

Tiếp tục xây dựng và hoàn thi ện KTTT định hướng XHCH là nhi ệm vụ

cơ bản trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và

hội nhập quốc tế hiện nay ở nước ta, trong đó, trọng tâm chính là xây dựng và

hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN. Tác giả Ngô Quang Minh trong

bài viết:“Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa ở Vi ệt Nam” (T ạp chí Lý lu ận chính tr ị, số 5/2008) đã phân tích các

thành tố cơ bản của th ể ch ế KTTT đó là: các lu ật, quy tắc; các ch ủ th ể; hệ

thống thị trường và cơ chế thực thi, từ đó đề xuất giải pháp ch ủ yếu tiếp tục

hoàn thiện thể chế KTTT ở nước ta.

Cũng trên tinh th ần đó, trong cu ốn sách “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa” do Đinh Văn Ân ch ủ biên, Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội 2008, các tác giả đã phân tích thực tiễn xây dựng thể chế

KTTT định hướng XHCN ở Vi ệt Nam trong th ời kỳ đổi mới, ch ỉ ra nh ững

thành tựu, hạn chế và đề xuất các gi ải pháp nh ằm tiếp tục xây dựng và hoàn

thiện thể chế KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam trong thời gian tới.

Tác giả Nguyễn Tấn Dũng trong bài vi ết “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển

đổi mô hình t ăng trưởng”(Tạp chí Cộng sản, số 832 tháng 2/2012) đã nêu rõ

quan điểm xây dựng thể chế KTTT hi ện đại trong điều kiện toàn cầu hóa và

cạnh tranh gay gắt hiện nay; xác định những đặc trưng cơ bản của KTTT hiện

đại phải là cơ sở, chuẩn mực trong quá trình hoàn thi ện thể chế và th ực hiện

tái cơ cấu nền kinh tế ở nước ta hiện nay.

Tác gi ả Nguyễn Gia Th ơ trong bài vi ết “Mối quan h ệ gi ữa kinh t ế th ị

trường và định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã

8

hội ở nước ta” (Tạp chí Tri ết học, số 253, tháng 6/2012) đã tập trung phân

tích mối quan hệ biện chứng giữa KTTT và định hướng XHCN trong th ời kỳ

quá độ lên CNXH ở nước ta. Tác giả đã chỉ ra nội hàm của khái niệm “kinh tế

thị tr ường” và “ định hướng XHCN”, đồng th ời cho r ằng KTTT hoàn toàn

không mâu thuẫn với định hướng XHCN mà chúng có thể bổ sung nhau trong

quá trình phát tri ển; định hướng XHCN chế ngự các mặt tiêu cực của KTTT,

còn KTTT làm tăng năng suất lao động xã hội, góp phần xây dựng cơ sở vật

chất cho CNXH [130, tr.12 - 16].

1.2. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

Ở nước ngoài, có các công trình nghiên cứu khoa học về CBXH tiêu biểu

như sau:

Tác giả David Miller, giáo s ư Triết học tại Đại học Oxford - M ỹ, trong

cuốn “Principles of social juctice”, Harvard University press, 2001[161], cho

rằng, CBXH luôn là m ục tiêu và lý t ưởng của các chính ph ủ dân ch ủ trong

suốt thế kỷ XX. Thậm chí, ngay cả những người có tư tưởng đối lập nó cũng

không th ể ph ủ nh ận nh ững giá tr ị ti ềm năng và hi ệu qu ả của CBXH. Tuy

nhiên, tác gi ả cũng cho r ằng, ý ngh ĩa đích th ực của CBXH vẫn còn được ít

người biết đến. Các lý thuyết hiện đại về CBXH được xây dựng khá phong phú,

nhưng cũng đã không thành công trong vi ệc tiếp cận những giá trị cơ bản của

CBXH. Trong cuốn sách, David Miller đã đưa ra một lý thuyết mới về CBXH.

Ông cho rằng, CBXH là phạm trù lịch sử, nội dung và các nguyên tắc cơ bản của

nó phải được hiểu gắn với các điều kiện khác nhau của các cộng đồng xã hội

khác nhau. Xã hội hiện đại khá phức tạp, do vậy, các lý thuyết về CBXH cũng

phức tạp, đó là một điều hoàn toàn dễ hiểu. Tác gi ả đã đưa ra ba thành ph ần

chính trong hệ thống các nguyên tắc của CBXH cần phải được thực hiện và bảo

đảm, đó là: công lao, nhu cầu và sự bình đẳng của con người.

Trên cơ sở sử dụng các ph ương pháp nghiên c ứu tổng hợp, đặc bi ệt là

phương pháp nghiên c ứu th ực nghi ệm, tác gi ả đã ch ứng minh cho vai trò

9

trung tâm c ủa nh ững nguyên t ắc này trong nh ững nội dung ph ổ bi ến về

CBXH. Cuốn sách làm rõ những cơ sở, điều kiện, cũng như những khó khăn,

thách thức nhằm thực hiện những nguyên tắc của CBXH trong th ời đại ngày

nay, thời đại toàn cầu hóa với đặc trưng đa dạng về các khuynh hướng lợi ích

kinh tế, chính trị và văn hóa.

Các tác gi ả Matthew Clayton và Andrew Williams trong cu ốn “Social

justice”, Blackwell publishing Ltd (2004) [169], đã hệ thống các quan điểm

về công bằng và bình đẳng xã hội trong thời kỳ cận đại như Jonh Loke, David

Hium cho t ới thời hi ện đại như Jonh Rawls, Robert Nozick, Dworkin, G.A.

Cohen…, thông qua đó, cu ốn sách đã lu ận gi ải các quan điểm tiêu bi ểu về

CBXH như: phân phối công bằng về lợi ích và đảm bảo trách nhiệm giữa các

cá nhân, nhóm xã h ội; quyền sở hữu tài sản, tính lương thiện, bình đẳng giới.

Đây là những quan điểm của các nhà tri ết học cận đại như Jonh Loke, David

Hium. Đồng thời, các tác gi ả cũng làm rõ các quan điểm triết học hiện đại về

CBXH như Jonh Rawls, Robert Nozick, Dworkin, trong đó có nhấn mạnh tới

các vấn đề đáng quan tâm của xã hội hiện đại liên quan tới công bằng như sự

đói nghèo, sự tác động hai mặt của KTTT đối với CBXH; vấn đề nhân quyền,

những cơ hội và thách th ức nổi bật của thời đại ngày nay đối với thực hi ện

CBXH, v.v..Có th ể nói, đây là công trình nghiên c ứu công phu, là tài li ệu

tham khảo quý báu phục vụ công tác nghiên cứu và tìm kiếm những giải pháp

thực hiện công bằng, bình đẳng xã hội.

Các tác gi ả Ira C.Colby, Catherine N.Dulmus, Karen M.Sowers trong

cuốn sách “Social work and social policy: advancing the principles of

economic and social justice”, Hoboken:John Wiley & Son press (2013) [167],

đã nêu lên nh ững quan điểm khá độc đáo về công tác xã h ội và chính sách

phúc lợi xã h ội toàn cầu như một nội dung ch ủ yếu để thực thi CBXH hi ện

nay. Bên cạnh đó, các tác gi ả cũng đã nhấn mạnh vai trò c ủa Nhà nước, như

một công cụ quản lý và điều tiết chủ yếu, một chiếc “van” hiệu quả nhằm giải

10

quyết những mâu thuẫn, xung đột xã hội để thực thi công bằng và bình đẳng.

Cuốn sách cũng đề cập tới những thách thức cơ bản của xã hội châu Á trong

việc thực thi CBXH, đó là: sự cọ xát giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại

trong việc tìm kiếm những giải pháp thực thi CBXH trong nền KTTT; tính thiếu

đồng bộ trong thể chế chính tr ị, pháp lý và h ệ thống chính sách xã hội…Cuối

cùng các tác giả đã phân tích làm rõ những phương pháp cải cách chính sách xã

hội, đặc biệt là chính sách an sinh, phúc lợi xã hội; phương pháp phát huy vai trò

của nhà nước phúc lợi; phương pháp sử dụng có hi ệu quả các công c ụ truyền

thông mới nổi nhằm truyền bá và thực hiện CBXH v.v..

Ở trong n ước, xung quanh quan ni ệm về CBXH, các tác gi ả đã đưa ra

các cách tiếp cận và lý giải khác nhau, trong đó, trước tiên phải kể đến là các

bài viết trong Kỷ yếu hội thảo quốc tế "Công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội

và đoàn kết xã h ội (International Conference: social justice, social

responsibility and social solidarity), c ủa Vi ện Khoa h ọc Xã h ội Vi ệt Nam

(VASS), Hà Nội, năm 2007.

Tác gi ả Nguy ễn Gia Th ơ trong bài “V ấn đề công b ằng và bình đẳng

trong lịch sử triết học và chính tr ị học phương Tây”, đã phân tích các quan

niệm tiêu bi ểu về công bằng và bình đẳng xã hội trong lịch sử tư tưởng triết

học và chính tr ị phương Tây từ thời kỳ cổ đại cho tới nay, từ đó đưa ra k ết

luận quan tr ọng: Sự phát tri ển lịch sử nhân lo ại cho đến ngày nay là s ự phát

triển và điều ch ỉnh công b ằng và bình đẳng xã h ội, cách m ạng xã h ội là

phương thức tất yếu nhằm thay đổi và thi ết lập lại trật tự công bằng xã hội,

đây là xu h ướng khách quan đưa công b ằng, bình đẳng xã h ội từ kh ả năng

thành hiện thực.

Tác giả khẳng định, công bằng xã hội là một phạm trù thuộc lĩnh vực đạo

đức, chính tr ị - xã h ội, phản ánh sự tương ứng giữa vai trò c ủa các cá nhân

(nhóm xã hội) khác nhau trong đời sống xã hội, giữa cống hiến và hưởng thụ,

giữa tội lỗi và sự trừng phạt, giữa công lao và sự thừa nhận xã hội…Sự không

11

tương xứng trong các mối quan hệ trên được gọi là bất công. Tác giả cũng đã

so sánh khái ni ệm CBXH với khái ni ệm luôn đồng hành với nó là khái ni ệm

bình đẳng xã hội. Bình đẳng xã hội được hiểu là quy ền con ng ười, nhóm xã

hội trong m ột xã h ội nh ất định. Trong m ột xã h ội mà gi ới hạn quy ền con

người, nhóm xã h ội có s ự khác nhau đáng kể thì được coi là b ất bình đẳng

[143, tr.126], tuy nhiên, nh ững tiêu chí, gi ới hạn của sự bất bình đẳng xã hội

là gì?, tương quan giữa công bằng xã hội với bình đẳng xã hội như thế nào?,

tác giả chưa làm rõ.

Tác giả Nguyễn Tấn Hùng trong bài viết: “Công bằng xã hội: Mâu thuẫn

và phương pháp giải quyết”, đã khẳng định, bản chất của CBXH là sự tương

xứng (sự phù hợp) giữa một loạt các khía cạnh khác nhau trong quan h ệ giữa

cái mà cá nhân, nhóm xã h ội làm cho t ập thể, cho xã h ội hoặc cho cá nhân,

nhóm xã hội khác với cái mà họ được hưởng từ tập thể, xã hội hay từ cá nhân,

nhóm xã hội khác. Tác giả cũng chỉ ra rằng, thực chất của CBXH chính là sự

tương tác lợi ích giữa các cá nhân, nhóm và cộng đồng xã hội, do vậy để thực

hiện CBXH cần phải nhận diện và giải quyết các mâu thuẫn cơ bản như: mâu

thuẫn giữa cá nhân và xã hội, mâu thuẫn giữa chính sách kinh tế và chính sách

xã hội của nhà nước; mâu thu ẫn giữa lợi ích nhà đầu tư và lợi ích ng ười lao

động; mâu thuẫn trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo [143, tr.352 - 360].

Ở phương diện ti ếp cận khác, tác gi ả Đỗ Lan Hi ền với bài vi ết “Công

bằng xã hội theo quan điểm của Kitô giáo” ; tác gi ả Trần Duy Nhiên v ới bài

“Công bình theo quan điểm của Công giáo ”,“Lướt qua vấn đề công bằng xã

hội trong mấy tác ph ẩm của Nho giáo và trong t ư tưởng của Phật giáo, Lão

Tử, Trang T ử, Hàn Phi T ử” đã trình bày quan ni ệm về CBXH c ủa các tôn

giáo tiêu bi ểu như Kitô giáo, Ph ật giáo, Nho giáo, Lão giáo... trong đó nhấn

mạnh điểm chung c ủa các tôn giáo là lý gi ải về CBXH trên c ơ sở th ế gi ới

quan duy tâm, tìm cơ sở cho việc giải thoát con người khỏi những bất công xã

hội từ nh ững nguyên t ắc đạo đức, luân lý, t ừ sự khôi ph ục bản tính l ương

12

thiện và tình th ương của con ng ười chứ không ph ải dựa trên cơ sở khoa học

và hi ện th ực để gi ải quyết vấn đề. Tuy nhiên, các tác gi ả cũng kh ẳng định

khát vọng về một xã hội công bằng, bình đẳng, tự do trong quan niệm của các

tôn giáo là nh ững ý tưởng có tính đề xướng và thúc đẩy, đồng thời nó còn có

giá trị hiện sinh rõ rệt trong đời sống hiện nay [143, tr 247 - 257].

Trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh vi ệc thực

hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết học số 1/2008, tác

giả Lê Hữu Tầng nêu lên và phân tích hàng lo ạt những vấn đề lý luận và thực

tiễn cấp bách xoay quanh ch ủ đề CBXH. Tr ước hết, tác gi ả đã ch ỉ ra tính

thống nhất và tính khác bi ệt giữa CBXH và bình đẳng xã hội, trong đó, bình

đẳng xã hội là sự ngang bằng nhau giữa người với người về một phương diện

xã hội nào đấy, chẳng hạn như về kinh tế, chính tr ị, văn hóa. Trong khi đó,

CBXH chỉ là một dạng của bình đẳng xã hội, đó là sự bình đẳng trong phương

diện quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ theo nguyên t ắc cống hiến ngang

nhau thì hưởng thụ ngang nhau, ở đây, khái niệm CBXH và bình đẳng xã hội

đã được phân tích khá th ấu đáo trong sự so sánh tương tác của các khái niệm,

tạo cơ sở đi sâu, làm rõ hơn nội hàm của các khái niệm. Tác giả cho rằng, trong

khái ni ệm CBXH, cống hi ến và h ưởng th ụ ph ải được hi ểu theo ngh ĩa rộng:

chúng không ch ỉ bao g ồm những khía cạnh tích cực như chúng ta v ẫn quen

dùng, mà cả khía cạnh tiêu cực nữa như công, tội, thưởng, phạt [116, tr.39].

Khi bàn về vấn đề CBXH, trong nh ững năm gần đây, nhiều nhà nghiên

cứu đã đề cập tới vấn đề công bằng về cơ hội, thậm chí có tác gi ả còn đánh

giá rằng, trong tư duy phát triển hiện đại, công bằng về cơ hội phát triển là nội

dung bao trùm c ủa CBXH. Theo tác gi ả đó, trong tr ường hợp này, nội hàm

của khái niệm CBXH sẽ phải bao hàm sự công bằng trong việc phân phối các

cơ hội và điều kiện thực hi ện cơ hội, tuy nhiên, th ế nào là công b ằng trong

việc phân ph ối cơ hội và điều ki ện th ực hi ện cơ hội? Ví d ụ nh ư phân ph ối

công bằng về tư liệu sản xuất, phải chăng là sự chia đều theo nguyên tắc theo

13

đơn vị hành chính (chia đều cho 64 t ỉnh, thành ph ố trong ph ạm vi cả nước);

chia theo mật độ dân số (nơi nào có mật độ dân số cao hơn sẽ được phân phối

nhiều hơn); chia theo hi ệu qu ả sản xu ất kinh doanh (cao h ơn sẽ được phân

phối nhiều hơn); chia theo hiệu quả kinh tế - xã hội (nơi nào đạt hiệu quả kinh

tế - xã hội cao hơn sẽ được phân phối nhiều hơn). Trong 4 cách trên, cách nào

là công bằng? do bản thân khái niệm công bằng không được giải thích nên nội

hàm của khái niệm ở đây cũng không được giải thích.

Theo tác gi ả Lê Hữu Tầng, nên thay khái ni ệm công bằng về cơ hội (vì

không làm rõ được th ế nào là công b ằng trong tr ường hợp này) b ằng khái

niệm bình đẳng về cơ hội theo ngh ĩa bình đẳng trong ti ếp cận các c ơ hội.

Trong trường hợp đó, bình đẳng về cơ hội có vai trò gì trong vi ệc thực hiện

CBXH? Ở đây, khái ni ệm CBXH v ẫn được hi ểu theo ngh ĩa trình bày trên,

nghĩa là những ai có cống hiến ngang nhau thì đều hưởng thụ ngang nhau, đó

là th ước đo của CBXH. Nh ưng thước đo ấy chỉ chu ẩn xác khi nh ững người

cống hiến này đều xuất phát từ cùng một vạch tức là cùng một mặt bằng trong

việc tiếp cận các cơ hội, điều đó cũng có nghĩa là bình đẳng về cơ hội chính là

tiền đề để đảm bảo CBXH thực sự [116, tr.40].

Tác giả Nguyễn Minh Hoàn, trong cuốn sách “Công bằng xã hội trong tiến

bộ xã hội”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 đã đề cập đến hai khái niệm

CBXH và tiến bộ xã hội. Hai khái niệm này được tác giả khảo sát trong lịch sử

nhân loại từ thời kỳ cổ đại đến nay. Tác giả đã chỉ ra vị trí, vai trò của CBXH

trong tiến bộ xã hội và đi đến khái quát CBXH với tư cách là động lực của tiến

bộ xã hội và CBXH với tư cách là thước đo về mặt xã hội của tiến bộ xã hội.

Tác giả Bùi Đại Dũng, trong cuốn “Công bằng trong phân phối, cơ sở để

phát triển bền vững”, Nxb Chính tr ị quốc gia, Hà Nội, 2012, trên cơ sở phân

tích một số các quan điểm tiêu bi ểu về CBXH trong l ịch sử, đặc biệt là các

triết gia ph ương Tây hi ện đại nh ư Max Otto Lorenz, Corrado Gini, John

Rawls…, từ đó đi đến quan niệm, CBXH thường được sử dụng với phạm vi:

14

“Sự công bằng về lợi ích nhận được, trách nhiệm phải đóng góp và hình ph ạt

có thể áp dụng giữa các cá nhân trong xã h ội phù hợp với công lý và l ẽ phải,

đặc biệt là các mối quan hệ giữa giữa cống hiến và được đền bù; tội lỗi và bị

trừng phạt đối với mỗi cá nhân c ần được cân nh ắc trong mối liên hệ giữa lợi

ích cá nhân và lợi ích xã hội, giữa ngắn hạn và trung hạn v.v..[18, tr 35].

Ở đây, tác gi ả đã có s ự phân tích th ấu đáo vai trò, ý ngh ĩa của CBXH

trong việc đảm bảo không ch ỉ lợi ích c ủa các cá nhân, các nhóm xã h ội mà

còn là lợi ích chung của toàn xã hội trong sự phát triển trung và dài h ạn. Nói

cách khác CBXH luôn được nhìn nhận với tính cách là mục tiêu, động lực của

sự phát tri ển xã hội, bởi vì, theo tác gi ả, tiêu chí c ơ bản của công bằng là lợi

ích cá nhân ph ải phù hợp với lợi ích xã h ội trong dài hạn. Lợi ích cá nhân có

thể được đo bằng thu nh ập cá nhân, và l ợi ích xã h ội là tổng phúc lợi xã hội

trong dài hạn. Thể chế xã hội là những nhân tố chi phối quan hệ này, trong đó

quan trọng nhất là các công cụ như: thuế, trợ cấp, tôn vinh, trừng phạt…mà xã

hội cần xác định cụ thể và thực hiện nghiêm minh.

Như vậy, điểm mới trong quan niệm của tác giả về công bằng đó là công

bằng phát tri ển, là việc đảm bảo lợi ích tối ưu cho mọi cá nhân và cho c ả xã

hội trong dài hạn. Công bằng phát triển phải khuyến khích, tạo điều kiện cho

mọi tiềm năng được phát huy tối đa, đồng thời giúp ngăn chặn và loại bỏ các

nguy cơ thiệt hại, rủi ro cho xã h ội. Công bằng phát tri ển cung cấp cơ sở lý

luận cho việc trợ giúp và trợ cấp cho những người nghèo, tạo môi trường cạnh

tranh bình đẳng cho nhóm trung l ưu, và hạn chế tích tụ tài sản đối với những

nhóm cực giàu. Công bằng ở đây thống nhất và hoàn toàn không xung đột với

hiệu quả của sự phát tri ển. Công bằng phát tri ển là cơ sở để khẳng định tính

khoa học trong chủ trương của Đảng: “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển” [31, tr.101].

Có th ể nói thông qua cu ốn sách, tác gi ả đã đưa ra nh ững ph ương th ức

tiếp cận và nh ững nội dung mới xung quanh v ấn đề CBXH, từ sự đúc rút lý

15

thuyết và kinh nghiệm thực tiễn của các nước châu Âu hiện đại. Đây là những

gợi mở đáng trân trọng trong việc thực hiện CBXH ở nước ta hiện nay, trong

đó đáng chú ý là v ấn đề phân bổ nguồn lực xã hội và hạn chế bất công vì sự

phát tri ển hài hòa, b ền vững. Tuy nhiên, còn nhi ều vấn đề cần được làm rõ

hơn về nội hàm của khái ni ệm công bằng phát tri ển cũng như những tiêu chí

đánh giá hiệu quả của công bằng phát triển đối với mỗi cá nhân, nhóm xã h ội

và toàn xã hội v.v..

1.3. NH ỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN C ỨU VỀ TH ỰC HI ỆN CÔNG B ẰNG

XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH T Ế TH Ị TR ƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ H ỘI

CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

- Những công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận của việc thực hiện công bằng

xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Trong cu ốn “Hiện đại hóa xã h ội vì m ục tiêu công b ằng xã h ội ở Việt

Nam hi ện nay”, do Lương Vi ệt Hải ch ủ biên, Nxb Chính tr ị qu ốc gia, Hà

Nội, 2008, các tác gi ả đã nêu lên và lý gi ải hàng lo ạt những quan điểm mới

về th ực hi ện CBXH ở nước ta hi ện nay. Các tác gi ả cho r ằng, trong điều

kiện KTTT đang trong giai đoạn tạo dựng, ch ưa hoàn ch ỉnh, nhưng có th ể

đảm bảo thực hiện CBXH, và th ậm chí, trong điều kiện trình độ phát tri ển

của lực lượng sản xu ất còn h ạn ch ế nh ư hi ện nay, v ẫn có th ể và c ần thi ết

thực hiện CBXH. Đây là quan điểm hợp lý, vì CBXH là ước mơ, khát vọng

lâu đời của nhân dân lao động, nhân dân ta đã phải hy sinh x ương máu để

giành được độc lập tự do, để hướng tới xây d ựng một xã h ội công b ằng,

hạnh phúc. Không nh ất thi ết ph ải giàu có m ới th ực hi ện được công b ằng,

mà càng ch ưa giàu có, càng nghèo khó, càng ph ải thực hiện công b ằng nếu

muốn tạo động lực phát huy n ăng lực sáng t ạo của nhân dân, t ạo không khí

hòa thuận, dân chủ xã hội.

Khi bàn về sự bất công xã h ội trong điều kiện KTTT, các tác gi ả đã thể

hiện quan điểm mới, phù hợp, trái với quan điểm thông thường khi cho rằng,

KTTT tạo nên sự phân hóa giàu nghèo, còn s ự phân hóa giàu nghèo là bi ểu

16

hiện của sự không công bằng trong xã hội. Các tác giả khẳng định rằng, trong

lịch sử loài người, sự phân hóa giàu nghèo là m ột xu thế vốn có của đời sống

xã hội, sở dĩ xu thế đó là vốn có bởi vì con người sinh ra là khác nhau về năng

lực thể chất và tinh thần. Thêm vào đó sự khác nhau về cơ hội và điều kiện xã

hội cũng góp phần tạo nên sự khác biệt về thu nhập được tích tụ dần dần, dẫn

đến sự phân hóa giàu nghèo trong xã h ội. Ngay c ả trong c ơ ch ế tập trung,

quan liêu bao c ấp tr ước đây, ở các n ước XHCN, c ũng có s ự phân hóa giàu

nghèo nh ưng được che đậy dưới các hình th ức tinh vi và kín đáo. Khi l ực

lượng sản xu ất, khoa học kỹ thuật và công ngh ệ ngày càng phát tri ển, năng

suất lao động càng cao thì t ốc độ phân hóa giàu, nghèo càng l ớn. Các ch ế độ

xã hội, các quốc gia khác nhau, tùy theo điều kiện lịch sử cụ thể của mình mà

xử lý phân hóa giàu nghèo theo những cách thức riêng.

Không th ể nói rằng trong nền KTTT phân hóa giàu nghèo là bi ểu hi ện

của sự bất công, nó ch ỉ bất công khi s ự giàu có được tiến hành bằng những

thủ đoạn bất hợp pháp nh ư tham nh ũng, buôn lậu, làm hàng gi ả, đặc quyền,

đặc lợi, v.v., ngh ĩa là s ự giàu có đạt được bằng những th ủ đoạn và ph ương

thức bất chính. Phân hóa giàu nghèo cũng sẽ là bất công khi do cơ chế quản lý

xã hội có nhiều bất cập để những lợi thế nghề nghiệp, tình trạng độc quyền, sự

can thiệp của các cơ quan Nhà nước,…tạo cơ hội cho một bộ phận nào đó có

thu nhập cao hơn tỷ lệ đóng góp của họ, còn những bộ phận khác không có lợi

thế đó lại hưởng thụ thu nhập với tỷ lệ thấp hơn.

Thực hiện CBXH hiện nay ở nước ta là khắc phục tình trạng bất công phi

lý, phi pháp, khuy ến khích t ạo điều ki ện cho m ọi ng ười được làm ăn, phát

triển kinh tế, làm giàu hợp pháp, đây là điều kiện để thực hiện mục tiêu “kép”

là phát triển kinh tế và CBXH. Điều này phải được nhận thức và phổ cập rộng

rãi, tạo nên sự đồng thuận trong ý chí và hành động của toàn xã hội. Trên thực

tế sẽ không có CBXH, khi kinh tế - xã hội rơi vào tình trạng trì trệ, chậm phát

triển, khi người lao động không thực sự hăng hái, nhiệt tình tham gia vào các

quá trình sản xuất.

17

Cuốn sách “Những vấn đề lý luận cơ bản về công bằng xã hội trong điều

kiện nước ta hi ện nay” của Phạm Thị Ngọc Trầm (chủ biên), Nxb Khoa h ọc

xã hội, Hà N ội, 2009, nêu lên nh ững nguyên t ắc ph ương pháp lu ận cơ bản

trong nhận thức và thực hiện CBXH ở nước ta, đó là nguyên tắc khách quan,

nguyên tắc phát triển, nguyên tắc lịch sử - cụ thể, nguyên tắc toàn diện. Trên

cơ sở đó, các tác gi ả chỉ ra một số vấn đề cấp bách trong nh ận thức và gi ải

quyết CBXH ở nước ta đó là vấn đề công bằng và bình đẳng xã hội, vấn đề

phân phối đảm bảo CBXH trong điều kiện KTTT, vấn đề phát triển kinh tế và

thực hiện CBXH vì mục tiêu xã hội nhân văn.

Tác giả Đỗ Huy trong bài vi ết “Một số vấn đề cần quan tâm trong vi ệc

giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát tri ển văn hóa, th ực

hiện tiến bộ và công bằng xã hội” (Tạp chí Triết học số 12/2009) đã phân tích

6 vấn đề bức xúc trong việc giải quyết mối quan hệ giữa TTKT, phát triển văn

hóa, thực hiện CBXH ở nước ta hiện nay, đó là: phải quan tâm tới thực trạng

kinh tế, chính tr ị, xã hội và văn hóa của đất nước trong mối tương quan với

các nước khác; phải chú ý tới tư duy gắn với lợi ích; vấn đề gia tăng dân số và

các hệ lụy của nó; vấn đề giáo dục; vấn đề cơ chế thị trường. Theo tác giả, các

vấn đề này đặc biệt quan tr ọng cả về lý lu ận và th ực tiễn, gắn liền với mục

tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Đã có một số luận văn, luận án đề cập tới vấn đề CBXH trong điều kiện

KTTT thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay; vai trò của Nhà nước trong

việc th ực hi ện nhi ệm vụ này nh ư:“Thực hi ện công b ằng xã h ội trong điều

kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hi ện nay”,

luận văn Thạc sĩ Triết học của Trương Đình Khương, năm 2008; “Vai trò của

Nhà nước đối với việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị

trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay”, Luận án tiến sĩ Chính trị học

của Võ Th ị Hoa, n ăm 2010; “Vai trò c ủa Nhà n ước trong vi ệc th ực hi ện

CBXH ở Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế”, Luận án tiến sĩ Triết học của Vi

Thị Hương Lan, năm 2012.

18

Các tác giả đã nêu lên các khái ni ệm CBXH, bình đẳng xã hội; phân tích

cơ sở lý lu ận của vi ệc th ực hi ện CBXH trong điều ki ện KTTT định hướng

XHCN ở nước ta; vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện CBXH ở nước ta

hiện nay v.v.. Đây là những tư liệu tham khảo bổ ích đối với nội dung nghiên

cứu của chúng tôi. Tuy nhiên, do ti ếp cận và gi ải quyết vấn đề ở những góc

độ và m ức độ khác nhau, nên c ần có nh ững đánh giá sâu h ơn về vấn đề

nghiên cứu, đặc biệt là làm rõ sự tương tác giữa CBXH và KTTT định hướng

XHCN, nội dung này sẽ được làm rõ hơn trong luận án.

- Những công trình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp thực hiện công bằng

xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Cuốn sách “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt

Nam thời kỳ đổi mới - vấn đề và giải pháp” của Nguyễn Thị Nga (Chủ biên),

Nxb Lý luận chính trị, Hà nội 2007, các tác giả đã nêu lên những thành tựu cơ

bản về TTKT và CBXH ở nước ta th ời kỳ đổi mới đó là, TTKT cao và toàn

diện, tạo cơ sở vật chất giải quyết vấn đề CBXH; thực hiện tốt các chính sách

phúc lợi xã hội đối với người có công với nước; thực hiện tốt chiến lược xóa

đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật ch ất và tinh th ần của nhân dân; t ạo

nhiều cơ hội để mỗi người có thể tham gia làm kinh t ế theo điều kiện và kh ả

năng có thể của mình…, đồng thời, tác giả cũng đã đưa ra những cảnh báo về

xu hướng không đồng thuận, thiếu bền vững giữa TTKT và CBXH ở nước ta

hiện nay như: phân hóa thu nhập ngày càng gia tăng giữa các vùng miền; hiện

tượng tham nhũng, buôn lậu, làm ăn phi pháp, tệ nạn xã hội có xu hướng tăng

mạnh ảnh hưởng tiêu cực tới TTKT và CBXH.

Theo tác gi ả, để kết hợp thành công hai m ục tiêu TTKT và CBXH, c ần

phải chú tr ọng thực hiện các gi ải pháp cơ bản sau: gi ữ vững sự lãnh đạo của

Đảng, phát huy vai trò của các đoàn thể xã hội. Đây là điều kiện tiên quyết để

kết hợp ch ặt ch ẽ các m ục tiêu kinh t ế với các m ục tiêu xã h ội; th ực hi ện

CBXH ngay trong t ừng bước và t ừng chính sách phát tri ển; chú tr ọng phát

19

huy vai trò c ủa Nhà nước trong qu ản lý và điều tiết kinh tế - xã h ội vì mục

tiêu TTKT và CBXH; kết hợp và thực hiện tốt các chính sách xã hội; mở rộng

và phát huy dân ch ủ; nâng cao hi ệu quả công tác phòng ch ống tham nh ũng,

lãng phí, các tệ nạn xã hội; tiếp tục phát triển KTTT định hướng XHCN.

Cuốn “Tăng trưởng kinh tế và ti ến bộ,công bằng xã hội ở Việt Nam” do

Hoàng Đức Thân và Đinh Quang Ty chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2010, các tác giả đã đánh giá thực trạng gắn kết giữa TTKT và tiến bộ, CBXH ở

nước ta trên các phương diện: TTKT và thu nhập, việc làm; TTKT và xóa đói,

giảm nghèo; TKKT và nâng cao phúc l ợi xã hội; TTKT và giáo d ục, đào tạo,

chăm sóc sức khỏe. Bên cạnh đó, các tác gi ả cũng làm rõ th ực trạng bất bình

đẳng, phân tầng xã hội và sự chênh lệch giữa các vùng miền ở nước ta. Đặc biệt,

các tác gi ả đã đưa ra nh ững dự báo bối cảnh trong nước và qu ốc tế trong giai

đoạn 2011 - 2020, từ đó nêu lên nh ững nhóm giải pháp chủ yếu nhằm gắn kết

hợp lý giữa phát triển kinh tế và tiến bộ, CBXH ở nước ta trong giai đoạn 2011 -

2020. Đó là, những nhóm giải pháp phát triển kinh tế nhanh và bền vững, trong

đó nhấn mạnh việc chuyển đổi mô hình kinh tế theo chiều sâu, tái cơ cấu nền

kinh tế; đó là nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế, chính sách của Nhà nước nhằm

gắn kết hợp lý giữa TTKT và CBXH; cuối cùng là những nhóm giải pháp cụ thể

trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm thực hiện mục tiêu trên.

Tác giả Đỗ Huy trong bài viết “Công bằng xã hội ở Việt Nam: Nhận diện

và giải pháp thực hiện” (Tạp chí Triết học số 5/2008) đã đưa ra và phân tích bốn

thời kỳ thực hiện CBXH ở Việt Nam từ trước Cách mạng tháng Tám đến nay.

Trên cơ sở đó, tác giả khẳng định, hiện nay, CBXH ở nước ta còn nhiều vấn đề

phải giải quyết như hệ thống chuẩn mực xã hội, năng suất lao động, quyền lực,

nhất là quyền sở hữu. Tác gi ả đã đề xuất một số giải pháp ch ủ yếu thực hiện

CBXH đó là: xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; hiện đại hóa lực lượng

sản xuất; từng bước tập thể hóa, quốc doanh hóa trong quá trình thiết lập quan hệ

sản xuất mới; xây dựng hệ tư tưởng chính thống trên nền tảng chủ nghĩa Mác -

20

Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; thực hiện đoàn kết: dân tộc, quốc tế, con người;

tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Tác giả khẳng định, đây cũng là các giải pháp lâu dài để thực hiện mục tiêu dân

giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Như vậy, theo tác gi ả, để thực hiện CBXH ở Việt Nam hi ện nay, vấn đề

không chỉ là phân phối theo lao động gắn với cống hiến và hưởng thụ, mà là phải

phát triển xã hội toàn diện. Các giải pháp kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa phải

có sự kết dính như các mắt xích trong hệ thống lấy con người làm trung tâm.

Trong cu ốn “Hiện đại hóa xã h ội vì m ục tiêu công b ằng xã h ội ở Vi ệt

Nam hiện nay”, do Lương Việt Hải chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2008, các tác gi ả đã đã lý giải CBXH gắn với tiến trình hi ện đại hóa, trên cơ

sở đó, khái quát 3 nhóm gi ải pháp cơ bản nhằm đẩy nhanh tiến trình hiện đại

hóa xã hội vì mục tiêu CBXH ở nước ta hiện nay. Nhóm giải pháp thứ nhất là:

đẩy nhanh nh ịp độ phát tri ển toàn di ện KTTT định hướng XHCN. Đây là

nhóm giải pháp cấp bách và tất yếu nhằm tháo gỡ những vướng mắc đang cản

trở quá trình thực thi CBXH ở nước ta. Để thực hiện nhóm giải pháp này, phải

tiến hành đồng thời các biện pháp cụ thể trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Nhóm

giải pháp th ứ hai là: xây d ựng và th ực thi đầy đủ, hợp lý các chính sách xã

hội. Nhóm giải pháp này hướng tới mục tiêu vì một xã hội công bằng, bác ái

và tự do cho tất cả mọi người. Các chính sách xã hội phải được xây dựng trên

cơ sở quan điểm lịch sử cụ thể, quan điểm phát triển, toàn diện và công bằng.

Nhóm giải pháp thứ ba là: nâng cao vai trò của Nhà nước trong tiến trình hiện

đại hóa vì m ục tiêu CBXH. V ới bản chất của dân, do dân, vì dân, Nhà n ước

sử dụng chức năng điều tiết của mình để chủ động giải quyết các vấn đề xã

hội thực hiện CBXH. Nh ưng mức độ giải quyết các vấn đề xã hội không th ể

vượt quá kh ả năng cho phép mà trình độ phát tri ển kinh t ế đạt được. Nhà

nước điều chỉnh hợp lý sự phát triển các vùng, khu vực, phân phối công bằng

hơn các thành t ựu của sự phát tri ển kinh tế - xã h ội; Nhà nước áp dụng các

21

chính sách xã hội nhằm hạn chế sự phân hóa giàu nghèo, sự phân tầng xã hội,

tạo lập cho mọi người có cơ hội ngang nhau trong vi ệc hưởng thụ các thành

tựu văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, được phục vụ và tiếp cận các thông

tin, tri thức mới v.v..

1.4. ĐÁNH GIÁ CHUNG CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN C ỨU LIÊN QUAN

VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1.4.1. Đánh giá chung các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Một cách khách quan, liên quan đến đề tài, cho đến nay, có nhi ều công

trình nghiên c ứu đã công bố có giá tr ị tham kh ảo, tuy nhiên, còn nhi ều nội

dung cần được tiếp tục nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện:

- Trước hết, các công trình đã khắc họa những nét chung nhất về KTTT và

KTTT định hướng XHCN dưới nhiều góc độ, mức độ khác nhau; đề xuất những

quan điểm và gi ải pháp để tiếp tục xây dựng và phát tri ển KTTT định hướng

XHCN ở nước ta. Tuy nhiên, xung quanh vấn đề này, đến nay còn nhiều nhận

thức và cách hiểu khác nhau, nhiều nội dung quan trọng chưa được lý giải đầy

đủ, gây khó khăn, lúng túng cho chỉ đạo thực tiễn và sự thống nhất trong toàn xã

hội như: vai trò, ph ương thức vận động, tương tác và sự chi ph ối của các quy

luật KTTT đối với đời sống kinh tế - xã hội của đất nước; cơ cấu sở hữu và cơ

cấu thành phần kinh tế, vai trò của chủ đạo của kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể;

vai trò động lực của thành ph ần kinh tế tư nhân trong n ền KTTT; phân ph ối

trong nền KTTT v.v.. Hi ện nay, các quan điểm phát tri ển KTTT định hướng

XHCN vẫn chưa thật rõ ràng và nhất quán, nhất là việc cụ thể hóa thành các quy

phạm pháp luật, thành sự hiểu biết và tập quán của mọi người dân để vận dụng

vào thực tiễn còn nhiều hạn chế, chưa đầy đủ.

- Các công trình nghiên c ứu về CBXH đã bước đầu xây dựng cơ sở lý

luận về CBXH, ch ỉ ra vai trò c ủa CBXH trong s ự phát tri ển tiến bộ của xã

hội; đánh giá nh ững mâu thu ẫn ch ủ yếu trong vi ệc th ực hi ện CBXH. Tuy

nhiên, còn nhiều vấn đề đặt ra hiện nay, cần tiếp tục nghiên cứu:

22

+ Các công trình m ới ch ỉ nêu lên nh ững quan điểm tiêu bi ểu về CBXH

trong lịch sử, khái quát định nghĩa về CBXH; bước đầu phân biệt, so sánh khái

niệm CBXH với những khái niệm khác có liên quan như bình đẳng xã hội, tiến

bộ xã hội, nhưng những tính chất cơ bản của khái niệm CBXH chưa được làm rõ

như: tính khách quan, tính chất lịch sử, tính giai cấp, tính xã hội - nhân văn.

+ CBXH có n ội dung phong phú, trong đó ch ủ yếu tập trung ở hai nội

dung chính là công bằng trong phân phối và công bằng về cơ hội và điều kiện

phát triển. Các công trình nghiên cứu mới chỉ chủ yếu đề cập tới công bằng về

phân phối, còn công bằng và cơ hội và điều kiện phát triển chưa được nghiên

cứu toàn di ện và đầy đủ. Bên cạnh đó, CBXH không ph ải chỉ bó h ẹp ở nội

dung kinh tế, nó còn là công b ằng trong vi ệc tham gia và h ưởng thụ kết quả

hoạt động trong các l ĩnh vực xã hội, chính tr ị, văn hóa của đời sống xã hội.

Theo nghĩa đó, xét trong tổng thể, CBXH gắn với sự phát triển toàn diện của

con người và xã h ội và là k ết quả của sự phát tri ển đó, cho đến nay ch ưa có

công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề này.

- Vấn đề thực hiện CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở

nước ta đã được đề cập tương đối phong phú trong các công trình nghiên c ứu

khoa học, tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu mang tính hệ thống và toàn

diện. Xung quanh đánh giá thực trạng về CBXH, phần lớn các công trình mới

chỉ dừng lại ở đánh giá th ực tr ạng vi ệc gi ải quy ết quan h ệ gi ữa TTKT và

CBXH, bên cạnh đó, còn nhiều nội dung khác về thực trạng thực hiện CBXH

trong điều kiện KTTT ở nước ta chưa được làm rõ như: vấn đề công bằng trong

sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế; vấn đề công bằng trong phân bổ

nguồn lực, công bằng trong những diễn biến của phân tầng xã hội v.v..

Các công trình nghiên cứu về CBXH trong điều kiện KTTT ở nước ta mới

chỉ dừng lại ở việc đánh giá những thành tựu và hạn chế trong quá trình thực hiện

CBXH, tuy nhiên chưa có công trình nào đi sâu phân tích làm rõ những mâu thuẫn

cơ bản nảy sinh cần phải giải quyết nhằm phát triển KTTT và thực hiện CBXH ở

23

nước ta. Đây là nội dung có ý nghĩa quan trọng và tương đối phức tạp, liên quan

đến cả kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, cần phải nghiên cứu, làm rõ.

Do còn có những khoảng trống trong nghiên cứu về thực trạng thực hiện

CBXH ở nước ta, các công trình nghiên c ứu về gi ải pháp th ực hi ện CBXH

mặc dù t ương đối phong phú, nh ưng còn nhi ều nội dung quan tr ọng khác

chưa được đề cập, hoặc có đề cập nhưng chưa đầy đủ. Ví dụ như giải pháp

nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước trong

thực hi ện CBXH; gi ải pháp hoàn thi ện th ể ch ế KTTT nh ằm th ực hi ện

CBXH…, do vậy luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu, làm rõ hơn về vấn đề này.

1.4.2. Định hướng nghiên cứu của đề tài

Chính những khoảng trống trong nghiên cứu về vấn đề CBXH trong điều

kiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam đã gợi ý cho tác gi ả lựa chọn đề

tài: “Vấn đề công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” làm luận án ti ến sĩ Triết học. Đề tài

hướng tới những nội dung nghiên cứu cơ bản như sau:

- Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về CBXH trong điều

kiện KTTT định hướng XHCN. Trong đó, lu ận án xác định khái ni ệm và

nghiên cứu sâu hơn những tính ch ất cơ bản của CBXH nh ư tính lịch sử, tính

giai cấp, tính xã h ội. Lu ận án phân tích rõ h ơn nh ững nội dung c ơ bản của

CBXH như công bằng trong phân phối và công bằng về cơ hội, điều kiện phát

triển. Điểm mới và là một trong những nội dung trọng tâm của luận án là khái

quát những vấn đề có tính quy lu ật của việc thực hiện CBXH trong điều kiện

KTTT định hướng XHCN, từ đó làm cơ sở để nghiên cứu, đánh giá về thực

trạng và đề xuất nh ững gi ải pháp c ơ bản nhằm thực hi ện CBXH trong điều

kiện KTTT định hướng XHCN ở nước ta trong thời gian tới.

- Thứ hai, làm rõ th ực tr ạng và nh ững vấn đề đặt ra đối với vi ệc th ực

hiện CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.

- Thứ ba, đề xuất những giải pháp ch ủ yếu thực hiện CBXH trong điều

kiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam trong thời gian tới.

24

Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

2.1. NH ẬN DI ỆN KINH T Ế TH Ị TR ƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ H ỘI CH Ủ

NGHĨA VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

2.1.1. Quan ni ệm về kinh t ế th ị tr ường và kinh t ế th ị tr ường định

hướng xã hội chủ nghĩa

2.1.1.1. Quan niệm về kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa ở giai đoạn phát triển cao, trở thành

hình thái kinh tế phổ biến, chi phối nền sản xuất xã hội, trong đó toàn bộ các yếu

tố “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trường. Nói cách khác,

KTTT là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, mà ở đó, các loại thị trường chi phối

mạnh mẽ và quyết định việc sản xuất hàng hóa; quan hệ hàng - tiền và các quy

luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh v.v…là những quy luật kinh tế

cơ bản quy định quá trình vận động và phát triển của nền KTTT.

Kinh tế th ị trường là một trong nh ững sáng t ạo cơ bản của xã hội loài

người, vì nó là phương tiện để tổ chức những mối liên hệ của đời sống kinh tế

- xã hội một cách có hi ệu quả nhất. Ngày nay, không ai ph ủ nhận vai trò đặc

biệt quan trọng của KTTT đối với sự phát triển xã hội, không ai ph ủ nhận sự

tồn tại khách quan c ủa KTTT trong nhi ều chế độ xã hội khác nhau, Đảng ta

đã khẳng định: “Sản xuất hàng hóa không đối lập với CNXH, mà là thành tựu

phát triển của nền văn minh nhân lo ại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công

cuộc xây dựng CNXH và cả khi CNXH đã được xây dựng”[29, tr.97].

Kinh tế thị trường có những đặc trưng phổ biến như sau:

Thứ nhất, tôn tr ọng tính độc lập trong sản xuất, kinh doanh c ủa các ch ủ

thể kinh tế.

Trong điều kiện KTTT, người sản xuất được tự do sản xuất, có quyền lựa

chọn cơ cấu sản ph ẩm và tiêu th ụ sản ph ẩm làm sao cho có hi ệu qu ả nh ất.

25

Điều quan tr ọng là họ có quy ền sở hữu về tài sản và khai thác, s ử dụng các

nguồn lực sản xuất một cách hợp lý nhằm đẩy mạnh sản xuất, tạo ra nhiều sản

phẩm hàng hóa; họ sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai là do

họ quyết định một cách t ự giác, không có s ự áp đặt, ép bu ộc từ bên ngoài.

Trong KTTT, ng ười tiêu dùng có quy ền mua sản phẩm gì, số lượng, và ch ất

lượng như thế nào, theo giá c ả của thị trường và phù hợp với khả năng thanh

toán của mình.

Thừa nhận tính độc lập tự chủ của các ch ủ thể kinh tế có ý ngh ĩa quan

trọng, một mặt đề cao vai trò và quyền hạn của các chủ thể kinh tế, mặt khác,

đề cao trách nhi ệm của họ trong vi ệc tổ chức sản xuất kinh doanh, l ời ăn, lỗ

chịu. Đặc trưng đó nằm trong bản chất của KTTT.

Thứ hai, kinh tế thị trường chịu tác động của các quy lu ật kinh tế, hoạt

động sản xuất kinh doanh phải theo yêu cầu của thị trường.

Nói đến KTTT, tr ước hết phải nói đến quy luật cung - c ầu. Đây là quy

luật chi ph ối sự vận động, phát tri ển của KTTT. Theo quy lu ật này, thì vi ệc

sản xuất, kinh doanh phải xuất phát từ thị trường. Cầu về hàng hóa, dịch vụ có

xu hướng ngày càng phong phú, đa dạng với chất lượng ngày càng cao, càng

đòi hỏi người sản xuất kinh doanh ph ải không ngừng đổi mới, sáng tạo nhằm

tạo ra các s ản ph ẩm hàng hóa, d ịch vụ mới, ch ất lượng cao và giá c ả ngày

càng hạ. Các nhà sản xuất kinh doanh luôn phải đẩy mạnh phân công lao động

xã hội, không ng ừng đổi mới công ngh ệ và nâng cao trình độ của người lao

động, đồng thời hoàn thiện tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, qua đó, thúc

đẩy sản xuất phát triển. Quy luật giá trị cũng là quy luật chi phối sự vận động,

phát triển của KTTT. Theo quy lu ật này, vi ệc sản xuất và trao đổi hàng hóa

phải dựa trên giá tr ị hàng hóa, t ức là lao động xã hội cần thiết của người sản

xuất hàng hóa k ết tinh trong hàng hóa. Quy lu ật này đòi hỏi người sản xuất,

kinh doanh muốn thu được nhiều lợi nhuận phải nâng cao năng suất lao động

để làm cho giá trị cá biệt thấp hơn giá trị trung bình của xã hội. Như vậy, quy

luật giá tr ị cũng góp ph ần quan tr ọng thúc đẩy ng ười sản xu ất kinh doanh

26

thường xuyên đổi mới công ngh ệ, nâng cao n ăng lực quản lý nh ằm thúc đẩy

sản xuất phát triển. Quy luật cạnh tranh, vì mục đích lợi nhuận, những người

sản xuất kinh doanh không ng ừng cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Kết quả

là xã hội được lợi do cạnh tranh. Thông qua cạnh tranh trên thị trường để tìm

ra những sản phẩm tối ưu, cũng tức là tạo ra sự tiết kiệm cho xã hội. Dĩ nhiên,

cạnh tranh không tránh khỏi những tổn thất cục bộ, nhất thời cho nền kinh tế,

đặc biệt là sự cạnh tranh không lành mạnh, nhưng tác dụng tích cực của cạnh

tranh là chủ yếu và lâu dài.

Thứ ba, kinh tế thị trường tồn tại đa dạng các thành ph ần kinh tế, có sự

điều tiết của nhà nước ở những mức độ khác nhau.

Kinh tế thị trường ra đời trên cơ sở lực lượng sản xuất phát triển nên có

nhiều hình thức sở hữu và các thành ph ần kinh tế khác nhau nh ư: thành phần

kinh tế nhà n ước, kinh tế tư bản tư nhân, kinh t ế tập th ể, kinh t ế cá th ể…,

những thành phần kinh tế này vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với nhau, thực hiện

sự phân công lao động xã hội.

Trong nền KTTT, s ự qu ản lý c ủa nhà n ước nh ằm đảm bảo cho th ị

trường vận động một cách ổn định, hạn chế tính tự phát, tiêu c ực như: lãng

phí trong huy động và s ử dụng các ngu ồn lực tài nguyên, đất đai, sức lao

động, vốn, cơ sở vật chất và k ỹ thuật; suy thoái, kh ủng hoảng, xung đột xã

hội, bất công, th ất nghi ệp,…tất nhiên, hi ệu qu ả của vi ệc hạn ch ế trên tùy

thuộc vào điều ki ện chính tr ị - xã h ội của từng nước. Nhà n ước th ực hi ện

điều tiết vĩ mô nhằm vào sự quản lý tổng thể nền kinh tế để định hướng các

chủ th ể kinh t ế vận động theo h ướng đáp ứng nhu c ầu và l ợi ích c ủa toàn

bộ nền kinh t ế, có tính đến lợi ích c ủa các ch ủ thể kinh t ế. Sự điều ti ết vĩ

mô của Nhà n ước không ph ải bằng vi ệc áp đặt mệnh lệnh hành chính t ừ

trên xu ống hay t ừ bên ngoài đối với các ch ủ thể kinh t ế, mà ch ủ yếu thông

qua cơ ch ế kinh t ế, chính sách kinh t ế, hệ th ống pháp lu ật; kết hợp kế

hoạch và th ị tr ường để qu ản lý kinh t ế, trong đó th ị tr ường là c ơ sở, kế

hoạch nhằm định hướng phát triển.

27

Thứ tư, KTTT đòi hỏi sự đồng bộ các yếu tố thị trường.

Để đáp ứng yêu cầu sản xuất và tiêu dùng c ần có các th ị trường đồng bộ

bao gồm thị trường hàng hóa, thị trường đất đai, thị trường lao động, thị trường

vốn, thị trường khoa học - công nghệ,…KTTT đòi hòi các thị trường phải đảm

bảo tính thống nhất, thông suốt trong phạm vi cả nước, không bị chia cắt cục bộ,

địa phương, ngành; gắn thị trường trong nước với thị trường quốc tế.

Thứ năm, KTTT là một nền kinh tế mở

Đó là n ền kinh tế không ng ừng phát tri ển, tham gia vào quá trình phân

công lao động xã hội không chỉ trong nước mà còn qu ốc tế. KTTT càng phát

triển, càng đặt ra nhu c ầu và điều kiện hội nhập, khu vực hóa, toàn c ầu hóa

nền kinh t ế thế giới, đây vừa là c ơ hội, vừa là th ử thách to l ớn đối với mỗi

quốc gia, và từng doanh nghiệp.

Thứ sáu, KTTT mang bản chất hai mặt.

Một mặt, tạo ra nh ững điều ki ện để th ực hi ện CBXH, thúc đẩy cạnh

tranh, giải phóng các n ăng lực sản xuất..., mặt khác c ũng gây ra nh ững bất

công bằng trong xã h ội, đẩy nhanh tình tr ạng phân hóa giàu, nghèo, làm n ảy

sinh những tiêu cực, tệ nạn xã hội khó kiểm soát v.v..

2.1.1.2. Quan niệm về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trên cơ sở lý lu ận ch ủ ngh ĩa Mác - Lênin, vì m ột nước Vi ệt Nam dân

giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Đảng ta đã đề ra chủ trương,

đường lối xây dựng nền KTTT định hướng XHCN và đạt được những thành

tựu to lớn. KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ

theo các quy luật của KTTT, đồng thời đảm bảo định hướng XHCN, phù hợp

với từng giai đoạn phát tri ển của đất nước. Đó là nền KTTT hi ện đại và hội

nhập quốc tế, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN vì mục tiêu dân

giàu, nước mạnh, xã h ội công b ằng, dân ch ủ, văn minh. Nh ư vậy KTTT là

phương thức tổ chức kinh tế - xã hội vừa dựa trên những quy luật và nguyên

tắc chung c ủa KTTT, v ừa dựa trên nh ững nguyên t ắc và b ản ch ất XHCN.

28

KTTT định hướng XHCN có hai nhóm nhân t ố cơ bản cùng tồn tại, kết hợp

và bổ sung cho nhau. Đó là nhóm nhân tố của KTTT và nhóm nhân tố của xu

hướng mới đang vận động, phát tri ển theo định hướng XHCN. Trong đó,

nhóm thứ nhất đóng vai trò là “ động lực” thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển

nhanh, hiệu quả; nhóm th ứ hai đóng vai trò “h ướng dẫn”, “chế định” sự vận

động của nền KTTT theo nh ững mục tiêu đã xác định, bổ sung nh ững mặt

tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của KTTT, hoàn thiện mô hình CNXH.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, lịch sử phát triển của xã hội

loài người là quá trình di ễn ra sự thay thế nhau của các hình thái kinh t ế - xã

hội từ th ấp đến cao, t ừ xã h ội cộng sản nguyên th ủy tới các xã h ội nô l ệ,

phong ki ến, tư bản ch ủ ngh ĩa và nh ất định sẽ đi lên CNXH. CNXH là m ột

hình thái kinh t ế - xã h ội phát tri ển cao hơn chủ nghĩa tư bản, trên cơ sở kế

thừa những thành tựu của nhân lo ại đã sáng t ạo ra và đồng th ời kh ắc phục

được những mâu thuẫn, hạn chế của chủ nghĩa tư bản, trong đó, mâu thuẫn cơ

bản nhất là mâu thu ẫn giữa trình độ xã hội hóa cao c ủa nền sản xuất xã hội

với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, chính mâu

thuẫn này đã làm cho s ự phát tri ển của nền sản xu ất xã h ội bị gi ới hạn bởi

mục đích ch ật hẹp là đem lại lợi nhu ận tối đa cho các nhà t ư bản, đó là

nguyên nhân dẫn tới những xung đột xã hội ngày càng sâu sắc.

Định hướng XHCN đối với nền KTTT ở nước ta là m ột tất yếu khách

quan trong th ời kỳ quá độ nhằm cải biến mọi mặt đời sống kinh tế - xã h ội,

tạo dựng những tiền đề vật chất và tinh th ần cho CNXH. Ở một nước kinh tế

chưa phát tri ển, thực hiện nhiệm vụ xây dựng CNXH, bỏ qua ch ế độ TBCN,

đòi hỏi phải có một quá trình phát tri ển lâu dài. Riêng trong l ĩnh vực kinh tế,

không th ể có ngay n ền kinh t ế XHCN, mà c ần ph ải xây d ựng và phát tri ển

nền kinh t ế theo định hướng XHCN. Trong n ền kinh t ế này, cùng v ới vi ệc

phát tri ển lực lượng sản xu ất, đẩy mạnh tăng tr ưởng kinh t ế để từng bước

thoát ra khỏi tình trạng kém phát tri ển, trở thành một nước phát triển thì phải

29

từng bước tạo ra nh ững nhân t ố, giá tr ị XHCN trong quan h ệ sản xu ất, để

những yếu tố XHCN ngày càng l ớn, trở thành bộ phận chi phối, chỉ đạo định

hướng phát triển của cả nền kinh tế.

Kinh tế th ị tr ường định hướng XHCN là m ột hình th ức đặc thù c ủa

KTTT. Định hướng XHCN là tính ch ất của KTTT ở nước ta, ph ản ánh tính

định hướng chính tr ị của KTTT ở Việt Nam trong th ời đại ngày nay. Trong

nền kinh tế đó, các thế mạnh của “ thị trường” được sử dụng để tạo nên cơ sở

vật ch ất kỹ thu ật của CNXH, nâng cao đời sống nhân dân, còn tính “ định

hướng xã hội chủ nghĩa” được thể hiện trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất:

sở hữu, tổ chức quản lý và phân ph ối, nhằm mục đích cuối cùng là dân giàu,

nước mạnh, tiên ti ến hiện đại trong xã h ội; do dân làm ch ủ, nhân ái, có v ăn

hóa, có k ỷ cương, xóa b ỏ áp b ức bất công, t ạo điều kiện cho mọi người có

cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. KTTT định hướng XHCN, do vậy, mang

những đặc trưng cơ bản như sau:

Một là , mục đích của nền KTTT định hướng XHCN là phát tri ển lực

lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới XHCN,

thực hi ện mục tiêu “dân giàu, n ước mạnh, dân ch ủ, công b ằng, văn minh”.

Chính mục tiêu này quy định ph ương ti ện, động lực của KTTT định hướng

XHCN. Con đường đạt tới mục tiêu này là sử dụng KTTT, mở cửa, hội nhập,

đẩy mạnh CNH, HĐH để phát triển nhanh và bền vững.

Hai là, KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế đa dạng các hình thức sở

hữu, nh ưng sở hữu Nhà n ước là ch ủ đạo; nhi ều thành ph ần kinh t ế, nh ưng

kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể là nền tảng của nền kinh tế.

Ba là, nền kinh tế có sự quản lý của Nhà nước XHCN. Trong điều kiện

KTTT định hướng XHCN, tự do cạnh tranh là cơ chế chủ yếu vận hành kinh

tế, nhằm đảm bảo phân bổ hợp lý các nguồn lực và các lợi ích, kích thích phát

triển tiềm năng kinh doanh, t ăng hiệu quả và tăng năng suất lao động xã hội.

Tuy nhiên, điều đó không th ể ph ủ nh ận vai trò c ủa Nhà n ước XHCN trong

30

việc quản lý, hiệu chỉnh những sai lệch và thất bại của cơ chế thị trường. Nhà

nước XHCN tổ chức và qu ản lý nền KTTT thông qua pháp lu ật, chiến lược,

kế hoạch, chính sách, đồng thời sử dụng cơ chế thị trường để kích thích s ản

xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy tính tích c ực và hạn chế những mặt

tiêu cực, những khuyết tật của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân

lao động và toàn th ể nhân dân. Đảm bảo vửa phát tri ển kinh tế, phát tri ển xã

hội và bảo vệ môi trường.

Bốn là, tăng tr ưởng kinh t ế đi đôi với th ực hi ện ti ến bộ, CBXH, phát

triển văn hóa, y t ế, giáo dục và bảo vệ môi tr ường; giải quyết tốt các vấn đề

xã hội vì mục tiêu phát triển con người.

Kinh tế thị trường định hướng XHCN được xây dựng và hoàn thiện vì mục

tiêu xã hội nhân văn, càng đi sâu vào KTTT, phúc lợi xã hội càng được chăm lo

tốt hơn; mục tiêu giải quyết việc làm, phát triển giáo dục, văn hóa, chăm sóc sức

khỏe nhân dân càng được đề cao hơn; các nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực xã hội

được phát huy; xóa đói, giảm nghèo được đẩy mạnh. Thể chế KTTT định hướng

XHCN phải khuyến khích, tạo điều kiện để mọi người dân làm giàu chính đáng,

đồng thời giúp đỡ người khác thoát nghèo, mọi người cùng khá giả. KTTT định

hướng XHCN đảm bảo thực hiện các chính sách ưu đãi xã hội đối với những

người có công với nước; bảo đảm an toàn cho cuộc sống của mọi thành viên trong

cộng đồng, hỗ trợ những vùng, người bị thiên tai, hoặc gặp khó khăn cơ nhỡ.

Năm là, là n ền kinh tế thực hi ện đa dạng hóa các hình th ức phân ph ối:

phân phối theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế là chủ yếu; phân phối theo

mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân ph ối thông qua phúc lợi

xã hội, an sinh xã h ội. Cơ chế phân phối này vừa tạo động lực kích thích các

chủ thể kinh tế nâng cao hi ệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời

hạn ch ế những bất công xã h ội. Vi ệc phân bổ các ngu ồn lực vừa được ti ến

hành theo hướng vừa nâng cao hi ệu quả, vừa giúp thu h ẹp khoảng cách gi ữa

các địa phương. Phát triển kinh tế gắn với tiến bộ và CBXH trong t ừng bước

đi, từng chính sách phát triển.

31

2.1.2. Quan niệm về công bằng xã hội

2.1.2.1. Quan niệm ngoài mác xít về công bằng xã hội

Trong xã hội phương Đông truyền thống, CBXH được nhìn nhận chủ yếu

trên ph ương di ện đạo đức, văn hóa, tôn giáo, đây cũng là nét đặc thù trong

phương th ức tư duy và quan ni ệm giá tr ị của ng ười ph ương Đông. CBXH

chưa được hình thành một cách có hệ thống và độc lập, do vậy, chưa thực sự

trở thành công cụ lý luận để cải tạo chế độ xã hội đương thời.

Khổng Tử (551 – 479 TCN), M ặc Tử (480 – 420 TCN), nh ững nhà t ư

tưởng tiêu biểu của Trung Quốc cổ đại, quan niệm xã hội công bằng là xã hội

an bình thái hòa, v ới một nhà n ước lý tưởng, “vua sáng tôi hi ền”, không có

tranh giành, bóc l ột, vui vẻ, hòa thu ận, cùng yêu th ương nhau trên tinh th ần

“kiêm ái”. Tuy nhiên, do đứng trên lập trường của giai cấp thống trị, Khổng

Tử và M ặc Tử đều th ừa nh ận sự phân chia giai, t ầng xã h ội nh ư là một tất

yếu, trong đó, mỗi ng ười có nh ững bổn ph ận và quy ền lợi riêng, vi ệc th ực

hiện đúng bổn phận, trách nhi ệm và th ụ hưởng lợi ích tương xứng với vị trí

của giai tầng xã hội sẽ tạo nên một xã hội công bằng.

Ở các nước phương Tây, Platôn (427 - 347 TCN), nhà t ư tưởng kiệt xuất

Hy Lạp cho rằng, không thể có sự bình đẳng giữa các cá nhân trong xã hội, bởi

vì con người vốn sinh ra là khác nhau. Trong hai tác ph ẩm Nhà nước và Lu ật

lệ, ông cho r ằng “Sự bình đẳng giữa những người không bình đẳng là tệ xấu

của mọi nền dân chủ”[146, tr55]. Platôn cho rằng, công bằng không phải là sự

tương xứng trong quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ mà là sự phân định về

đẳng cấp, theo đó, công bằng là công bằng giữa những người ở trong cùng một

đẳng cấp chứ không phải giữa những người ở các đẳng cấp khác nhau.

Cùng quan ni ệm với Platôn, Arixt ốt (384 - 322 TCN), nhà tri ết học Hy

Lạp cổ đại cũng thừa nhận sự phân chia địa vị xã hội là lẽ tự nhiên; công bằng

là sự đối xử ngang nhau gi ữa những người có cùng địa vị xã hội. Điều đáng

lưu ý là, Arixtốt cho rằng, sự không công bằng giữa những người có địa vị và

32

đẳng cấp khác nhau c ũng chính là công b ằng, và nh ư vậy, cũng gi ống nh ư

Platôn, xuất phát từ lập trường của giai cấp chủ nô, quan điểm của Arixtốt về

CBXH vẫn thể hiện rõ tính đẳng cấp và ảo tưởng.

Trong xã h ội phong ki ến trung đại, dưới sự th ống tr ị của nhà th ờ Kitô

giáo, các nhà tư tưởng phương Tây không đưa ra một quan niệm đáng kể nào

về CBXH, khát vọng CBXH được thể hiện chủ yếu thông qua các cu ộc khởi

nghĩa, đấu tranh đơn lẻ, khoác áo tôn giáo, như nhận xét của Ăng ghen: “Điều

đó lý giải vì sao chế độ phong kiến lại có nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại địa

chủ, lãnh chúa để đòi CBXH” [66, tr243].

Bước vào thời kỳ cận đại, cùng với sự ra đời của CNTB, CBXH được khơi

dậy nhờ sự “phục hưng” những giá trị truyền thống tốt đẹp thời cổ đại, đồng thời

tạo ra những bước tiến mới trong nhận thức của nhân loại về CBXH.

J.J.Rút - xô (1772 - 1778), nhà tri ết học khai sáng v ĩ đại người Pháp, đã

tập trung phê phán quan h ệ đẳng cấp, bất bình đẳng trong xã h ội tư bản. Để

xóa bỏ được tình trạng đó, con người phải thiết lập “khế ước xã hội” nhằm cải

biến chính mình, lo ại bỏ tính xấu xa, đặc biệt là lòng tham và tính ích k ỷ thì

sẽ đạt được công bằng và bình đẳng. Ở đây, J.J.Rútxô đã chú ý đến sự CBXH

trong lĩnh vực kinh tế, nhưng giải pháp để thực hiện CBXH lại dựa trên quan

điểm duy tâm về xã hội, đó là những giải pháp dựa trên những thỏa thuận có

tính chủ quan của con ng ười mà không c ăn cứ vào nh ững điều kiện vật chất

khách quan của đời sống xã hội.

Các nhà ch ủ ngh ĩa xã h ội không t ưởng nh ư Xanh Xi Mông (1760 -

1825), S.Phuriê (1772 - 1837), R. Ôoen (1771 - 1858) c ũng đã thể hiện khát

vọng về một xã hội lý tưởng và công b ằng. Trong xã h ội đó, mọi người đều

được lao động và h ưởng th ụ nh ư nhau, không có đặc quy ền, đặc lợi. Tuy

nhiên, xã hội công bằng do các ông xây d ựng ngay từ đầu đã mang tính ch ất

không tưởng, đó là xã h ội theo ch ủ ngh ĩa bình quân, không ph ải được th ực

hiện bằng những cải tạo xã hội tích cực của những người lao động.

33

Ngày nay, những thăng trầm về kinh tế - xã hội đã giúp cho CNTB có được

những bài học kinh nghiệm trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội theo hướng

công bằng hơn, nhờ vậy, trong một chừng mực nhất định đã làm “dịu đi” những

mâu thuẫn gay gắt trong lòng xã hội tư bản. Chính giai cấp tư sản cũng ý thức

được rằng, những áp lực ngày càng tăng về CBXH nếu không được xoa dịu, có

thể làm tổn hại đến thể chế chính trị của nó. Tuy nhiên, với bản chất thống trị,

bóc lột, CNTB không th ể giải quyết triệt để vấn đề CBXH. Hi ện nay, CNTB

đang phải đối mặt với nhiều thử thách gay gắt về CBXH, nhất là khi vấn đề này

được xem xét trong điều kiện tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao. Trong

bối cảnh đó, xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng và lý thuyết về CBXH.

J.Rawls (1921 - 2002), giáo s ư triết học thu ộc Đại học Harvard - M ỹ,

trong tác ph ẩm “Lý thuy ết về công bằng” cho r ằng, xã h ội công bằng là xã

hội mà ở đó các thành viên được hưởng một cách bình đẳng nh ững quy ền

con ng ười, đó là nh ững quy ền tự do c ơ bản đã được hợp th ức hóa. Ông

thừa nhận sự bất công trong nh ững giới hạn nhất định về kinh t ế - xã hội và

cho rằng, nh ững bất công đó ph ải được tổ chức sao cho m ọi ng ười có th ể

chấp nhận được và chúng được gắn với những vị trí và ch ức năng được mở

ra cho t ất cả mọi người. Ông đã đưa ra nguyên t ắc “tối đa hóa cái t ối thiểu”

(nguyên t ắc maximin) cho nh ững ng ười bị thi ệt thòi, y ếu th ế trong xã h ội,

xem đó như là lý t ưởng xã h ội công b ằng và con đường ti ến lên xã h ội đó

bằng đạo đức.

Max Weber (1864 - 1920), nhà tri ết học Đức lý giải nguyên nhân của sự

bất bình đẳng xã hội là sự khác biệt về khả năng thị trường. Ông cho rằng đối

với những cá nhân khác nhau thì sự hiểu biết, kỹ năng nghề nghiệp, cũng như cơ

may, vận hội chiếm lĩnh thị trường là khác nhau, và chính s ự khác bi ệt đó tạo

nên những vị thế khác nhau của các cá nhân và tập đoàn người trong xã hội. Học

thuyết này có những đóng góp lớn trong nhận thức về cơ cấu xã hội và phân tầng

xã hội, tuy nhiên, chưa làm rõ được bản chất của sự bất công trong CNTB.

34

Nhìn lại lịch sử tư tưởng nhân loại từ thời kỳ cổ đại cho tới thời kỳ hiện

đại, chúng ta th ấy rằng, vấn đề CBXH luôn là v ấn đề “nóng” được quan tâm

nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. M ặc dù có nh ững thành công nh ất

định, nhưng do hạn chế bởi lập trường giai cấp cũng như yếu tố thời đại, các

nhà tư tưởng mới chỉ dừng lại ở việc khái quát dưới dạng lý tưởng về CBXH,

nhiều quan ni ệm còn mang tính ch ất phiến diện, chủ quan, ch ưa chỉ rõ được

vai trò, bản chất giai cấp của CBXH; chưa nêu lên được những phương thức,

điều kiện và lực lượng để thực hiện CBXH. Nhi ều tác gi ả đã gắn CBXH với

việc biện minh cho tình tr ạng đẳng cấp trong xã h ội ho ặc quá trình th ực thi

quyền lực của giai cấp thống trị v.v..

2.1.2.2. Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội

C.Mác, Ph. Ăngghen và V.I.Lênin là nh ững ng ười đấu tranh không m ệt

mỏi vì lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, vì sự công bằng và tiến bộ của xã hội loài

người, với bản chất khoa học và cách mạng, chủ nghĩa Mác - Lênin đã tạo ra

một bước ngoặt quan tr ọng trong sự phát tri ển tư tưởng nhân lo ại nói chung

và tư tưởng về CBXH nói riêng. Trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng,

kết hợp với việc kế thừa có ch ọn lọc những tư tưởng tiến bộ của các nhà lý

luận trước đó, vấn đề CBXH đã được quan ni ệm một cách đúng đắn về thực

chất, vai trò cũng như các giải pháp thực hiện nó trong đời sống xã hội.

Trước hết, chủ nghĩa Mác - Lênin coi CBXH là ph ạm trù có tính lịch sử,

CBXH không phải là hình ảnh của tôn giáo, của những lực lượng tự nhiên mà

chính là s ản ph ẩm của đời sống xã h ội, là quan h ệ giữa con ng ười với con

người hình thành trong quá trình ho ạt động sinh s ống. CBXH thay đổi tùy

theo những điều kiện lịch sử khác nhau.Vì th ế sẽ không có quan ni ệm đúng

đắn về CBXH nếu không gắn nó với lợi ích giai cấp, tầng lớp xã hội nhất định

cùng với những điều kiện vật chất sinh ra nó; đồng thời, với tính chất lịch sử

cụ thể, không th ể có quan ni ệm chung về CBXH cho m ọi thời đại, mọi dân

tộc, mọi giai cấp như một “chân lý vĩnh cửu” (chữ của Ăngghen).

35

Khi phân tích CNTB, C.Mác ch ỉ ra chế độ sở hữu tư nhân tư bản là cơ

sở khách quan của tình trạng bất công trong xã h ội, bởi vì chế độ sở hữu đó

đã quy định chế độ phân phối bất hợp lý trong CNTB, đó là phân phối không

dựa vào sức lao động mà căn cứ chủ yếu vào l ượng tài sản, vốn sở hữu. Và

kết quả của phương thức phân phối này là nhà t ư bản ngày càng giàu có trên

sự đau khổ và nghèo đói của những người công nhân và nhân dân lao động.

Theo Mác, d ưới dế độ XHCN, giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, khi tư

liệu sản xu ất được công h ữu hóa, công b ằng gắn li ền với nguyên t ắc phân

phối theo lao động. Tiêu chu ẩn chủ yếu quyết định phẩm giá, địa vị xã hội,

quyền hưởng dụng các phúc l ợi xã h ội của mỗi ng ười sẽ tương đương với

hoạt động có ích c ủa người đó cho xã h ội. Trong xã h ội, sau khi kh ấu trừ đi

những khoản cần thiết để duy trì s ản xuất, tái s ản xuất cũng như duy trì đời

sống cộng đồng, toàn b ộ sản ph ẩm xã h ội còn l ại sẽ được phân ph ối theo

nguyên tắc: mỗi người sản xuất sẽ được nhận trở lại từ xã hội một số lượng

sản ph ẩm tiêu dùng tr ị giá ngang v ới số lượng lao động mà ng ười đó cung

cấp cho xã hội.

Tuy nhiên, nguyên t ắc phân ph ối theo lao động cũng ch ỉ là công b ằng

trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, chứ chưa phải là công bằng thực

sự. Sự bất bình đẳng ở mức độ nhất định vẫn còn tồn tại, đó là thi ếu sót của

nguyên tắc phân phối theo lao động - một thiếu sót không thể tránh khỏi trong

giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa. Mác cho r ằng, công bằng thực

sự chỉ có th ể có được khi xã h ội bước vào giai đoạn phát tri ển cao, khi con

người không còn ph ụ thuộc vào sự phân công theo lao động; lao động không

đơn thu ần là ph ương tiện sinh s ống mà là nhu c ầu ho ạt động và phát tri ển.

Một xã h ội nh ư vậy có th ể có được dần dần trong t ương lai xa, đó là “giai

đoạn cao h ơn của xã h ội cộng sản”. Công b ằng xã h ội chính là m ột giá tr ị

định hướng và nó s ẽ được thực hiện từng bước trong quá trình phát tri ển để

tiến tới xã hội có sự công bằng và bình đẳng hoàn toàn.

36

2.1.2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội

Vượt lên nh ững nhà yêu n ước tiền bối và đồng thời đứng vững trên lập

trường Macxit, Hồ Chí Minh đã chỉ ra nguyên nhân sâu xa c ủa tình tr ạng bất

công và phi nhân tính trong xã hội thực dân đó là sự tồn tại của chế độ tư hữu “vì

một số ít ng ười đã chiếm làm tư hữu những tư liệu sản xuất của xã hội”[73, tr

203]. và dùng nó để chiếm đoạt lao động của người khác. Do vậy, để có cu ộc

sống hòa bình, hạnh phúc cho nhân dân, đòi hỏi phải giành độc lập tự do và xây

dựng xã hội mới XHCN. Người cho rằng, trong CNXH, CBXH là một đặc trưng

cơ bản, là mục tiêu và động lực của sự nghiệp xây dựng CNXH và xây d ựng

CNXH là phương thức và điều kiện tất yếu để thực hiện CBXH. “Chỉ có CNCS

mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn

gốc tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên qu ả đất, việc làm cho mọi

người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình và hạnh phúc” [72, tr 461].

Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, CBXH là việc giải quyết quan hệ phù

hợp gi ữa quy ền lợi và ngh ĩa vụ, gi ữa cống hi ến và h ưởng th ụ. Nguyên t ắc

phân ph ối th ực hi ện CBXH chính là nguyên t ắc phân ph ối theo lao động.

Người nh ấn mạnh: “Phân ph ối phải theo mức lao động. Lao động nhiều thì

phân ph ối nhi ều, lao động ít thì phân ph ối ít. Lao động khó thì được phân

phối nhiều, lao động dễ thì được phân ph ối ít” [76, tr185]. Nguyên t ắc phân

phối này là điều kiện để đảm bảo cho mọi người có thể phát huy mọi năng lực

cống hiến cho xã hội và trước tiên là cho bản thân và mỗi gia đình.

Đề cao CBXH, nh ưng Hồ Chí Minh c ũng luôn phê phán t ư tưởng cào

bằng, bình quân chủ nghĩa, theo Người, bình quân chủ nghĩa sẽ triệt tiêu động

lực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, trái với bản chất của CNXH: “Không

nên có tình tr ạng người giỏi, người kém, vi ệc khó, vi ệc dễ cũng công điểm

như nhau, đó là chủ nghĩa bình quân, phải tránh chủ nghĩa bình quân” [74, tr 66].

Một trong những đặc trưng nổi bật trong phong cách và ph ương pháp tư

duy Hồ Chí Minh là độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn gắn với tình hình l ịch sử

37

cụ thể của dân tộc. Ở Việt Nam, do hoàn cảnh đặc thù, phải trải qua các cuộc

chiến tranh kéo dài, trong công cu ộc kháng chi ến bảo vệ Tổ qu ốc, nhi ều

người có nh ững đóng góp to l ớn, thậm chí bằng sự hy sinh x ương máu của

mình. Vì vậy, các đối tượng này, theo Người cần phải có sự quan tâm đặc biệt

để họ có th ể ổn định cuộc sống và hòa nh ập cộng đồng. Trong tác ph ẩm “Di

chúc”, Người đã căn dặn, sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất

đất nước: “Đối với những người dũng cảm hy sinh một phần xương máu của

mình,…Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm cách lo cho họ có nơi ăn, chốn

ở yên ổn,…Đối với cha, mẹ, vợ con (của thương binh, liệt sĩ) mà thiếu sức lao

động và túng thi ếu, thì chính quyền địa phương phải giúp đỡ họ có công vi ệc

làm ăn thích hợp, quyết không để họ đói rét” [76, tr 503].

Hồ Chí Minh còn quan tâm tới các tập đoàn, lực lượng, các giai cấp xã hội,

gắn với những đặc điểm cụ thể, theo Người cũng phải được đối xử công bằng,

phải luôn có nh ững chính sách xã hội phù hợp để động viên, khuyến khích họ

tích cực tham gia vào sự nghiệp phát triển của đất nước: “Trong bao năm kháng

chiến chống thực dân Pháp, ti ến đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nh ất là

đồng bào nông dân đã luôn trung thành v ới Đảng, và Chính ph ủ, ra sức góp

người, góp của, vui lòng ch ịu đựng mọi khó kh ăn, gian kh ổ. Nay ta đã hoàn

thành thắng lợi, tôi có đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các hợp tác xã

nông nghiệp để cho đồng bào thêm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất” [76, tr 504].

Theo Hồ Chí Minh, CBXH đòi hỏi phải giảm dần sự cách bi ệt giữa các

vùng, miền trong ph ạm vi cả nước. Phải chú ý xem xét khi phân ph ối nguồn

lực đầu tư cho các vùng sâu, vùng xa, vùng c ăn cứ cách mạng, làm giảm bớt

sự mất cân đối giữa vùng phát tri ển và ch ậm phát tri ển, rút bớt khoảng cách

về mức sống và lối sống trong các tầng lớp nhân dân, làm cho mi ền núi từng

bước tiến kịp miền xuôi.

Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh v ề CBXH mang n ội dung toàn di ện,

phù hợp với tâm nguyện dân tộc và điều kiện thực tế của Việt Nam, vừa sâu

38

sắc trong cốt lõi khoa h ọc, vừa giản dị, hàm súc. CBXH g ắn bó hữu cơ với

nhiệm vụ giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH, vì mục tiêu giải phóng dân

tộc và giải phóng con người. CBXH trong tư tưởng Hồ Chí Minh mang giá trị

khoa học và nhân b ản sâu sắc, luôn có ý ngh ĩa lý luận và th ực tiễn, là cơ sở,

kim ch ỉ nam cho ho ạt động cách mạng của toàn Đảng và toàn dân ta trong

công cuộc xây dựng xã hội mới.

2.1.2.4. Khái niệm công bằng xã hội

Hiện nay, khái ni ệm CBXH được đề cập hết sức phong phú, d ưới nhiều

góc độ tiếp cận khác nhau.

Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, CBXH được định nghĩa dưới góc độ

ý thức đạo đức, ý th ức pháp quy ền, chỉ điều chính đáng, tương ứng với bản

chất con ng ười và quy ền con ng ười. Khác với khái ni ệm thiện và ác dùng để

đánh giá những hiện tượng riêng rẽ, khái niệm công bằng nêu ra sự tương quan

giữa một số hiện tượng theo quan điểm phân phối phúc và họa, lợi và hại giữa

người với người. Công bằng đòi hỏi sự tương xứng giữa vai trò c ủa cá nhân

(những giai cấp) với địa vị của họ; giữa hành vi với sự đền bù (lao động và thù

lao, công và tội, thưởng và phạt); giữa quyền lợi và nghĩa vụ [50, tr.580].

Nhiều công trình khoa h ọc nghiên cứu về CBXH dưới góc độ triết học,

kinh tế học, chính trị học, luật học, v.v..theo đó, các tác giả coi CBXH không

phải là s ự ngang nhau gi ữa ng ười với ng ười về mọi ph ương di ện mà là s ự

thống nh ất gi ữa ngh ĩa vụ và quy ền lợi của con ng ười theo nguyên t ắc th ực

hiện ngh ĩa vụ (c ống hi ến) ngang nhau thì s ẽ được hưởng quyền lợi (h ưởng

thụ) ngang nhau [105, tr 33].

Tác giả Vũ Anh Tu ấn cho rằng “CBXH là khái ni ệm chỉ sự tương xứng

giữa vai trò, vị thế của các thành viên xã hội (cá nhân, giai cấp, nhóm xã hội),

giữa cái mà họ tạo ra cho xã hội và cái mà họ nhận lại từ xã hội như cống hiến

và hưởng thụ, lao động và sự trả công, quyền và ngh ĩa vụ, vi phạm pháp luật

và trách nhiệm pháp lý v.v..” [136, tr 25].

39

Tác giả Dương Xuân Ngọc xem xét CBXH với tính cách là một phạm trù

xã hội phản ánh sự phát triển của con người và tiến bộ xã hội “CBXH là một

phạm trù xã hội dùng để chỉ trình độ phát triển về phương diện xã hội của con

người (cá nhân và c ộng đồng), được thực hiện và thể hiện trên tất cả các lĩnh

vực của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị và xã hội đến văn hóa, tinh thần,

mà tr ước hết là l ĩnh vực xã h ội. Nó ph ản ánh m ối quan h ệ về ngh ĩa vụ và

quyền lợi giữa xã hội và cá nhân, nhằm đảm bảo sự phát triển hài hòa của con

người, của xã hội phù hợp với xu thế tiến bộ xã hội” [86, tr 37].

Tác giả Lê Hữu Tầng đã xem xét CBXH trong tương quan với khái niệm

bình đẳng xã hội, cho rằng, CBXH là một dạng biểu hiện cụ thể của bình đẳng

xã hội và thực hiện CBXH chính là thực hiện một phần của bình đẳng xã hội,

là thực hiện bình đẳng trên một phương diện nhất định - phương diện quan hệ

giữa cống hiến và hưởng thụ [116, tr 39].

Dưới góc độ chính tr ị học, tác gi ả Võ Th ị Hoa cho r ằng, CBXH là m ột

phạm trù chính trị - xã hội phản ánh quan hệ giữa người với người, trong đó đảm

bảo sự tương xứng giữa phẩm chất và năng lực với cơ hội và điều kiện phát

triển, giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa cống hiến và hưởng thụ, v.v.. [44, tr29].

Khi đề cập đến vấn đề CBXH, một số tác giả hiện nay có nêu vấn đề công

bằng về cơ hội. Có quan điểm cho rằng công bằng về cơ hội là quyền của mọi

người được tiếp cận ngang nhau với một may mắn, thuận lợi nào đó để thực hiện

điều mình mong mu ốn. Theo cách hi ểu như vậy, công bằng về cơ hội ở đây

chính là bình đẳng về cơ hội, tức là bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội.

Từ những phân tích trên, c ăn cứ vào phương diện nghiên cứu, mục tiêu,

nhiệm vụ của luận án, tác gi ả cho rằng: CBXH là một phạm trù lịch sử, phản

ánh mối quan hệ giữa người với người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống

xã hội, trong đó bảo đảm sự tương xứng giữa phẩm chất và năng lực với cơ

hội và điều ki ện phát tri ển, gi ữa ngh ĩa vụ và quy ền lợi, gi ữa cống hi ến và

hưởng thụ, phù hợp với khả năng hiện thực của xã hội. CBXH th ể hiện khát

vọng của con người và là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội.

40

Với quan niệm trên, CBXH có những đặc trưng cơ bản sau:

- Công bằng xã hội là m ột phạm trù l ịch sử: CBXH là s ản phẩm của

đời sống xã hội, nó ph ản ánh quan h ệ giữa người với người xung quanh v ấn

đề lợi ích. Vấn đề phân phối lợi ích trong mỗi chế độ xã hội luôn gắn với một

phương th ức sản xu ất nh ất định, ph ụ thu ộc vào trình độ phát tri ển của lực

lượng sản xuất, của phân công lao động xã hội, và quan trọng nhất là tính chất

của các quan hệ sản xuất trong phương thức sản xuất đó. Hơn nữa, không chỉ

chịu sự tác động bởi điều kiện kinh tế, quan ni ệm về CBXH còn ch ịu sự chi

phối của các hình thái ý thức xã hội như ý thức chính trị, đạo đức, văn hóa của

xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Do vậy CBXH luôn có tính lịch

sử. Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, CBXH được nhìn nh ận và gi ải quyết

khác nhau. Đánh giá v ề vấn đề này, Ăngghen vi ết: “Công b ằng của nh ững

người Hy Lạp và La Mã là sự công bằng của chế độ nô lệ. Công bằng của giai

cấp tư sản năm 1789 là nh ững đòi hỏi phải xóa bỏ chế độ phong ki ến mà nó

coi là bất công” [67, tr 327].

Không th ể có m ột quan ni ệm, một chu ẩn mực “b ất di, b ất dịch” về

CBXH chung cho m ọi qu ốc gia, m ọi th ời đại, cũng nh ư không th ể áp đặt

những chuẩn mực về CBXH vượt quá những cơ sở, điều kiện khách quan của

lịch sử cho phép.

- Về bản ch ất, CBXH được hi ểu là s ự tương xứng gi ữa ph ẩm ch ất và

năng lực với cơ hội và điều kiện phát tri ển, giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa

cống hiến và hưởng thụ.phù hợp với khả năng hiện thực của xã hội.

- Về nội dung, CBXH có nội dung phong phú, tuy nhiên có th ể khái quát

ở hai nội dung chính, đó là công bằng về cơ hội, điều kiện phát triển và công

bằng trong phân phối

Với nội dung th ứ nh ất, CBXH là công b ằng về cơ hội, điều ki ện phát

triển, hiện nay, còn có nhi ều ý ki ến khác nhau xung quanh v ấn đề này. Theo

chúng tôi, công bằng về cơ hội, điều kiện phát triển chính là việc tạo cho mọi

41

người ti ếp cận phù h ợp các c ơ hội, điều ki ện phát tri ển, thông qua đó, phát

huy mọi năng lực của mình, cống hiến tích cực, có hiệu quả; đồng thời, hưởng

thụ một cách tương xứng với kết quả của sự cống hiến đó. Trên th ực tế, sự

phân biệt về công bằng trong phân ph ối và công bằng về cơ hội và điều kiện

phát triển chỉ có ý nghĩa tương đối. Việc đảm bảo công bằng về cơ hội và điều

kiện phát tri ển cũng chính là hình th ức phân ph ối, ch ủ yếu dưới dạng phân

phối gián ti ếp, phân phối lại từ các qu ỹ, các ngu ồn lực xã hội để tạo cho các

cá nhân, nhóm xã h ội có điều kiện phát huy tối đa vai trò của mình đóng góp

cho xã hội và được hưởng thụ công bằng. Công bằng cơ hội, điều kiện phát

triển ở đây được xác định như là tiền đề để đảm bảo CBXH thực sự.

Nội dung thứ hai của CBXH là công bằng trong phân phối. Trong xã hội,

các hình th ức phân ph ối khác nhau s ẽ quyết định tính ch ất và mức độ th ực

hiện CBXH khác nhau, điều này phụ thuộc vào bản chất kinh tế, chính trị - xã

hội cũng như điều kiện, năng lực thực tế của các nước trong các giai đoạn lịch

sử khác nhau. D ưới CNXH, nh ư Mác đã ch ỉ ra, phân ph ối theo lao động là

đặc trưng bản chất và là hình th ức thể hiện tất yếu về mặt kinh tế của chế độ

công hữu về tư liệu sản xuất. Nếu xóa bỏ phân phối theo lao động thì chế độ

công hữu về tư liệu sản xuất sẽ không được thực hiện, quyền bình đẳng của

người lao động đối với tư liệu sản xuất sẽ trở thành vô nghĩa, CBXH sẽ không

được thực hiện.

Công bằng xã hội mang tính toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị,

văn hóa, xã hội…trên cơ sở đảm bảo sự tương xứng giữa việc tạo ra và phân

phối các lợi ích xã h ội. Phương diện kinh tế của CBXH được xem xét là s ự

tương xứng giữa cống hiến của cá nhân, nhóm xã h ội vào quá trình s ản xuất

với sự hưởng thụ những kết quả sản xuất, đây là phương diện cơ bản nhất của

CBXH. Phương diện chính trị, pháp quyền của CBXH liên quan và quy định

đến vấn đề dân chủ, tự do cá nhân, quyền con người, sự lãnh đạo của Đảng và

sự điều hành c ủa Nhà n ước. Ph ương di ện văn hóa - xã h ội của CBXH liên

42

quan và quy định vấn đề đạo đức, phong tục tập quán, phân t ầng xã hội, an

sinh xã hội; vấn đề cơ hội trong vi ệc sáng tạo và th ụ hưởng những thành tựu

văn hóa, nghệ thuật v.v..

- Công bằng xã hội là giá tr ị định hướng cho việc giải quyết mối quan hệ

giữa người với người theo nguyên tắc: Cống hiến về vật chất và tinh thần tương

xứng cho phát triển xã hội thì được hưởng tương xứng những giá trị vật chất và

tinh thần do xã hội tạo ra phù hợp với khả năng hiện thực của xã hội; CBXH là

khát vọng lớn lao của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh

thần, do vậy, CBXH vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội.

Khái niệm CBXH không tách r ời với khái niệm bình đẳng xã hội, do đó

cần phải nghiên cứu hai khái niệm này trong mối quan hệ với nhau.

Bình đẳng (egalite trong ti ếng Pháp và equality trong ti ếng Anh) là khái

niệm chỉ sự bằng nhau, ngang nhau giữa cá nhân hay các nhóm xã hội về một

hay một số phương diện nhất định, chẳng hạn ngang bằng giữa cá nhân hay

các nhóm xã hội về địa vị xã hội, về quyền và nghĩa vụ công dân v.v..Còn khi

nói tới CBXH là nói tới sự ngang bằng nhau giữa người với người không phải

về một phương diện bất kỳ, mà ch ỉ về một phương diện hoàn toàn xác định:

phương diện giữa cống hiến và hưởng thụ theo nguyên t ắc cống hiến ngang

nhau thì hưởng thụ ngang nhau [116, tr39].

Căn cứ vào vi ệc xác định hai khái ni ệm ở trên, CBXH th ường gắn với

lĩnh vực kinh tế - xã hội của đời sống xã hội, nó thể hiện sự tương xứng giữa

cống hiến và hưởng thụ, còn bình đẳng xã hội thường gắn với nhiều lĩnh vực

hơn và đặc bi ệt là nh ững lĩnh vực liên quan đến chính tr ị - xã h ội. CBXH

thường được xem xét là m ột dạng cụ th ể của bình đẳng xã h ội. Th ực hi ện

CBXH là th ực hi ện một ph ần nội dung c ủa bình đẳng xã h ội, là b ước ti ến

trong quá trình thực hiện bình đẳng xã hội hoàn toàn.

Giữa CBXH và bình đẳng xã h ội có nh ững nội dung không hoàn toàn

tách biệt nhau, vì thế thường dẫn tới nhầm lẫn giữa hai khái niệm này. Nhiều

43

khi nói sự công bằng nhưng thực ra, đó không phải là sự công bằng mà là sự

bình đẳng và ngược lại, không ít sự bất công được đề cập đến lại không phải

là sự bất công mà ch ỉ là sự bất bình đẳng.Theo chúng tôi, công b ằng và bình

đẳng là hai khái ni ệm giao nhau. Bình đẳng có khía c ạnh công bằng (như sự

bình đẳng về quy ền và ngh ĩa vụ công dân; bình đẳng trong h ưởng th ụ ở

những người có lao động, đóng góp ngang nhau), nh ưng cũng có khía c ạnh

không công b ằng nh ư sự phân ph ối bình quân. Bình quân là bình đẳng ở

trình độ sơ khai theo ki ểu cào bằng, nhưng hoàn toàn không công b ằng, bởi

vì những người có những đóng góp, cống hiến khác nhau lại được phân phối

như nhau. Bình quân ph ủ nhận chất lượng, số lượng và hi ệu quả công vi ệc

dẫn tới trì trệ, khủng hoảng xã hội.

Trong công bằng vừa có bình đẳng, vừa có bất bình đẳng, cái mà xã h ội

thừa nh ận là công b ằng thì không nh ất thi ết ph ải là s ự bình đẳng và s ự bất

bình đẳng không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với bất công. Hiện nay, trong

thời kỳ đổi mới, sự chênh lệch về thu nhập, sự phân hóa giàu nghèo gi ữa các

nhóm dân cư là nh ững biểu hiện của bất bình đẳng về thu nh ập. So sánh v ới

thời kỳ bao cấp trước đây, sự bình đẳng được thực hiện theo nguyên tắc phân

phối bình quân, thì nay đã được thay thế bằng sự bất bình đẳng, hay sự phân

tầng về mức sống, thu nh ập, nh ưng theo chúng tôi, đó là s ự công b ằng lớn

hơn, có ý nghĩa hơn. Tuy nhiên, nếu như bất bình đẳng về thu nhập ngày càng

lớn, vi phạm nguyên tắc phù hợp tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ thì

sẽ dẫn tới bất công. Vi ệc xác định gi ới hạn bất bình đẳng đảm bảo CBXH

luôn là vấn đề khó khăn, phức tạp cả trong nhận thức cũng như thực tiễn.

Trên cơ sở lý lu ận về KTTT định hướng XHCN và CBXH, tác gi ả khái

quát quan niệm về công bằng xã hội trong điều kiện KTTT định hướng XHCN

như sau:

Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩa là công b ằng xã hội có mức độ, công bằng có th ừa nhận bất công

44

trong gi ới hạn; là công b ằng xã h ội được th ực hi ện tương xứng với tăng

trưởng kinh t ế và ti ến bộ xã h ội; là công b ằng xã h ội được th ực hi ện từng

bước, trong từng chính sách và trong su ốt quá trình phát tri ển; công bằng xã

hội là mục tiêu, động lực và là th ước đo đánh giá trình độ của nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

2.2. TÍNH QUI LUẬT VỀ VIỆC THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG

ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Nghiên cứu về CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN, còn có

nhiều ý kiến khác nhau, song b ước đầu, chúng tôi khái quát nh ững vấn đề có

tính qui luật, làm cơ sở đề khảo sát thực trạng việc thực hiện CBXH.

2.2.1. Công b ằng xã h ội trong điều ki ện kinh t ế th ị tr ường định

hướng xã hội chủ nghĩa là công bằng có mức độ, công bằng có thừa nhận

bất công trong giới hạn

Thực hiện CBXH là yêu c ầu khách quan, v ừa là mục tiêu, vừa là động

lực phát tri ển của nền KTTT định hướng XHCN. Tuy nhiên, c ần ph ải th ừa

nhận những bất công xã h ội trong gi ới hạn nhất định của quá trình th ực hiện

CBXH. Đây là vấn đề có tính ch ất quy luật của KTTT, đặc biệt trong thời kỳ

đầu, khi những tiền đề kinh tế - xã hội cho việc thực thi CBXH còn tương đối

hạn chế. Thực tiễn xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ ở nước ta cũng như

nhiều nước XHCN trước đây, xuất phát từ quan niệm giản đơn về thời kỳ quá

độ nên đã đồng nhất thời kỳ này với CNXH, cho rằng, phải thực hiện nguyên

tắc phân ph ối bình quân nh ằm đảm bảo công b ằng xã h ội hoàn toàn. Trên

thực tế, nguyên tắc phân ph ối bình quân đã tạo bất công xã h ội lớn trên di ện

rộng. Bên cạnh đó, xuất phát từ quan điểm cho rằng chế độ tư hữu là ngu ồn

gốc của mọi sự bất công xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã coi việc xóa bỏ ngay

lập tức mọi hình th ức tư hữu là nhi ệm vụ cách mạng chủ yếu nhằm thực thi

CBXH, do vậy, nhiều nguồn lực kinh tế - xã hội đã không được tham gia vào

quá trình xây d ựng và phát tri ển, kết quả là đời sống kinh t ế - xã h ội ngày

càng lâm vào khủng hoảng sâu sắc.

45

Trong th ời kỳ đổi mới, vi ệc th ực hi ện CBXH với nh ững nội dung mới

trong điều ki ện KTTT định hướng XHCN ở nước ta đã và đang tr ở thành

động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển kinh tế, cải thiện không ngừng đời sống

của nhân dân. Nhưng cùng với việc đời sống của nhân dân không ngừng được

cải thiện lại nảy sinh tình trạng bất công xã hội gia tăng. Đứng trước tình hình

đó, không ít ng ười tỏ ra bi quan, lo ng ại, th ậm chí đưa ra k ết lu ận về sự

“chệch hướng XHCN” ở nước ta. Tuy nhiên, tình trạng trên, trong những giới

hạn nhất định là hoàn toàn khách quan, n ằm trong quy lu ật của sự phát tri ển

của nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta. Vấn đề là cần có sự nhận thức

đúng đắn, từ đó có những giải pháp điều tiết phù hợp nhằm đạt được mục tiêu

phát triển đề ra.

Trong xã hội, nội dung ch ủ yếu quyết định CBXH là ch ế độ phân ph ối

lợi ích. Ở các xã hội khác nhau, phương thức phân phối lại khác nhau, do ch ế

độ sở hữu khác nhau v ề tư liệu sản xuất quy định. Lịch sử loài ng ười đã trải

qua hai lo ại hình quan h ệ sở hữu cơ bản về tư liệu sản xuất, đó là tư hữu và

công hữu. Trong chế độ tư hữu, không thể có một tỷ lệ phân phối ngang bằng

giữa một bên là nh ững ch ủ sở hữu tư li ệu sản xu ất với một bên là nh ững

người không có tư liệu sản xuất và chỉ dựa vào sức lao động của chính mình.

Điều này cũng có ngh ĩa, nếu vẫn còn sự khác bi ệt trong quan h ệ sở hữu đối

với tư liệu sản xuất thì vẫn còn tình tr ạng bất công và b ất bình đẳng xã hội.

Khi nghiên cứu nền sản xuất TBCN, Mác đã vạch rõ cơ sở khách quan của sự

bất công trong lĩnh vực kinh tế của CNTB, đó là chế độ sở hữu tư nhân tư bản

về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động. Chế độ sở hữu đó đã quyết định chế

độ phân ph ối trong CNTB, k ết qu ả là s ự giàu có, quy ền lực ngày càng t ập

trung vào tay giai c ấp tư sản, sự nghèo khó ngày càng t ập trung về phía giai

cấp công nhân và đa số những người lao động. Để xóa bỏ sự bất công này,

cần phải xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân TBCN, thiết lập chế độ sở hữu mới, đó

là ch ế độ công h ữu về tư li ệu sản xu ất. Trong ch ế độ công h ữu, tất cả mọi

46

người đều bình đẳng trong quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất và do vậy, cơ sở

của sự chiếm đoạt đã không còn. Nói cách khác, trong ch ế độ công hữu, phân

phối sản phẩm được thực hiện thông qua m ột thước đo giống nhau đó là lao

động. Tuy nhiên , ngay c ả trong ch ế độ công h ữu và th ực hi ện nguyên t ắc

phân phối theo lao động, sự bất bình đẳng trong phân ph ối về thu nh ập vẫn

thể hiện rõ, bởi vì, những chủ thể tham gia vào sự phân phối ấy lại khác nhau

về điều kiện, năng lực, người này thì gi ỏi hơn, người kia lại yếu hơn, người

này có điều kiện, xuất phát điểm tốt hơn, người kia thì ng ược lại, khó kh ăn

hơn v.v..Chính sự khác biệt đó dẫn tới tình trạng phân hóa giàu nghèo và đây

là một trong nh ững nguyên nhân c ủa bất công xã h ội. Trong tác ph ẩm “Phê

phán cương lĩnh Gôta”, khi phê phán quan điểm mơ hồ, ti ểu tư sản của

Látxan, về những giải pháp xây d ựng xã h ội mới trong đó đảm bảo CBXH

tuyệt đối giữa con người với nhau, C.Mác cho rằng, không thể thực hiện ngay

CBXH một cách tuyệt đối, bởi vì: “v ới một công việc ngang nhau, và do đó,

với một phần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội thì trên thực tế,

người này vẫn lĩnh nhiều hơn người kia, ng ười này vẫn giàu hơn người kia,

v.v…Muốn tránh tất cả những thiếu sót ấy thì quyền là phải không bình đẳng,

chứ không ph ải là bình đẳng”[69, tr35]. Trong giai đoạn đầu của chủ ngh ĩa

cộng sản, thực hiện phân phối theo lao động là một bước tiến lớn đối với việc

thực hiện CBXH, tuy nhiên, vẫn phải chấp nhận sự bất công nhất định. Đây là

điều không thể tránh khỏi vì điều kiện kinh tế - xã hội chưa thể cho phép thực

hiện CBXH đầy đủ. C.Mác viết: “Nhưng đó là thiếu sót không th ể tránh khỏi

trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, lúc đó vừa mới lọt lòng từ

xã hội tư bản chủ nghĩa mà ra, sau nh ững cơn đau đẻ kéo dài. Quy ền không

bao giờ có thể ở mức độ cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của

xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định” [69, tr.35-36]. C.Mác còn chỉ rõ rằng:

khi lực lượng sản xuất chưa phát triển đến trình độ cao, con ng ười chưa phát

triển toàn di ện, còn ph ụ thuộc vào phân công lao động xã h ội, thì ch ưa th ể

47

thực hiện đầy đủ nguyên tắc CBXH - với khẩu hiệu làm theo năng lực hưởng

theo nhu cầu. Đòi hỏi thực hiện CBXH ở mức độ quá cao so với trình độ phát

triển của kinh tế - xã hội là ảo tưởng, phi thực tế.

Trong điều kiện KTTT, những tác động tiêu cực của KTTT đối với CBXH

cũng khó tránh khỏi. KTTT vừa là phương thức để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,

thúc đẩy sự giàu có nh ưng đồng thời cũng là nguyên nhân đẩy nhanh sự phân

hóa giàu nghèo, làm gia tăng tình trạng thất nghiệp trong xã hội. Đây là một thực

tế khách quan, xuất phát từ sự tác động của các quy luật cạnh tranh và lợi nhuận

của nền KTTT. Bên cạnh đó, KTTT cũng luôn tạo ra tình trạng mâu thuẫn, mất

cân đối ngày càng lớn trong sự phát triển xã hội. Vì mục tiêu lợi nhuận, nên các

nguồn vốn, tài nguyên và nhân lực lớn, chất lượng cao thường được huy động

một cách tự phát và tối đa vào những khu vực, những ngành, lĩnh vực có nhiều

điều kiện thuận lợi để đạt được sự tăng trưởng lợi nhuận cao. Còn những vùng,

lĩnh vực không có nhiều điều kiện thuận lợi để tìm kiếm lợi nhuận lại ít được đầu

tư phát triển. Tình trạng đó dẫn tới sự phát triển giữa các vùng, nhất là nông thôn

và thành thị, miền núi và miền đồng bằng chênh lệch nhau ngày càng lớn tạo sự

mất cân đối ngày càng nghiêm tr ọng, gây khó kh ăn cho việc giải quyết những

vấn đề xã hội theo hướng công bằng.

Trong th ời kỳ quá độ lên CNXH, v ới xu ất phát điểm kinh t ế - xã h ội

thấp, chúng ta ph ải đẩy mạnh nền sản xu ất hàng hóa v ới nhi ều thành ph ần

kinh tế, do vậy phải thừa nhận nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại.

Đối tượng sở hữu cũng trở nên đa dạng trong điều kiện KTTT: sở hữu về tư

liệu sản xuất, sở hữu vốn, sở hữu sức lao động v.v.., quan hệ sở hữu đa dạng

tất yếu quy định quan hệ phân ph ối thu nh ập đa dạng. Có nh ững phân ph ối

thông qua lao động, có nh ững phân ph ối không thông qua lao động. Kết quả

là có ng ười thu nh ập cao, có ng ười thu nh ập thấp, có ng ười được hưởng thụ

một cách t ương xứng với nh ững đóng góp c ủa họ, và ng ược lại, có nh ững

người chưa được hưởng thụ một cách tương xứng; có nh ững người có nhi ều

48

điều ki ện để ti ếp cận và s ử dụng tốt nh ững cơ hội phát tri ển, ng ược lại có

người do gặp khó khăn, hạn chế về năng lực, khả năng tiếp cận và sử dụng cơ

hội phát tri ển bị hạn ch ế v.v... Rõ ràng là, không th ể kh ắc ph ục được ngay

mọi sự bất công xã hội, hoặc đòi hỏi thực hiện ngay lập tức một sự công bằng

tuyệt đối, hoàn hảo. Điều đó chỉ có th ể là kết quả của một quá trình lâu dài,

được thực hiện từng bước trên cơ sở phù hợp với trình độ phát tri ển của xã

hội, trước hết là lĩnh vực kinh tế. Nói cách khác, trong quá trình phát tri ển xã

hội, chúng ta bu ộc phải chấp nhận bất công xã h ội trong gi ới hạn nhất định,

nhưng chúng ta c ũng không th ể để chúng ngày càng gia t ăng phổ biến, làm

thay đổi bản chất của quan hệ kinh tế - xã h ội, hình thành ch ế độ xã hội bất

công. Một cách khách quan, những bất công xã hội trong điều kiện KTTT tồn

tại ở ba dạng chính, đó là bất công tự nhiên, bất công tạm thời và bất công phi

lý, phi pháp. Việc nghiên cứu, tổng kết thấu đáo các dạng bất công xã hội này

từ đó có nh ững giải pháp điều tiết phù hợp luôn được đặt ra cấp thiết đối với

chúng ta hiện nay.

Những bất công tự nhiên nảy sinh do cấu tạo khác nhau về thể chất, sinh

học của mỗi người. Trong xã hội luôn có nh ững người có thể chất tốt, có sức

khỏe, năng lực hoạt động tốt và do v ậy đạt được nhiều thành tựu trong cu ộc

sống. Ngược lại, cũng có nh ững người hạn chế về sức khỏe, thể chất, không

có hoặc đã mất khả năng lao động, do đó, không có ngu ồn thu nh ập ổn định

để đảm bảo cuộc sống. Họ là nh ững người già cả, người có khuy ết tật về tự

nhiên ho ặc gặp ph ải nh ững biến cố bất thường, rủi ro trong cu ộc sống. Các

đối tượng này ph ải ch ịu nhi ều thi ệt thòi nh ất trong xã h ội. Đây là lo ại bất

công tồn tại khách quan trong m ọi xã h ội, tuy nhiên, xu ất phát t ừ mục tiêu

phát triển xã hội nhân đạo, để khắc phục chúng, hướng lâu dài là thu h ẹp dần

dựa trên sự phát tri ển ngày càng cao c ủa xã hội; bù đắp những thiệt thòi do

bất công này gây ra, không để chúng trở thành những vấn đề “nóng” gây bức

xúc xã hội, ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển chung của xã hội.

49

Loại bất công tạm thời là loại bất công tồn tại khách quan và có gi ới hạn

cùng với quá trình phát tri ển của nền KTTT định hướng XHCN. Đó là b ất

công xã h ội do tình tr ạng phân hóa giàu - nghèo gi ữa các t ầng lớp dân c ư,

giữa các vùng mi ền tạo ra. Chúng ta bi ết rằng, phân hóa giàu nghèo v ừa có

mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực. Mặt tích cực của phân hóa giàu nghèo là

trong những giới hạn nhất định, tạo động lực thúc đẩy sự phát tri ển kinh tế -

xã hội, thúc đẩy cạnh tranh. Phân hóa giàu nghèo c ũng chính là h ệ qu ả của

việc thực hiện CBXH, trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc “ai cống hiến nhiều thì

hưởng nhi ều, ai c ống hi ến ít thì h ưởng ít, ai không c ống hi ến thì không

hưởng”. Tuy nhiên, v ề mặt xã hội, sự phân hóa giàu nghèo s ẽ tác động tiêu

cực đến sự phát triển xã hội, gây bất công xã hội, nhất là trong điều kiện làm

giàu không chính đáng, hoặc khoảng cách giàu, nghèo ngày càng doãng r ộng,

có th ể gây ra tình tr ạng xung đột lợi ích gi ữa các nhóm xã h ội, gây mất ổn

định xã hội. Xét về bản chất, mục tiêu XHCN mà chúng ta đang xây dựng, thì

chúng ta không muốn có sự phân hóa giàu nghèo, bởi vì, còn tồn tại phân hóa

giàu nghèo là còn tồn tại sự phân biệt đối xử, người đói, người no và bất công

xã hội. Song chúng ta ph ải ch ấp nh ận hi ện tượng này trong điều ki ện xây

dựng và phát tri ển nền KTTT ở mức độ cho phép. S ự phân hóa giàu nghèo

vừa là hệ quả, vừa là sự phản ánh hiện thực đất nước đang trong giai đoạn quá

độ lên CNXH, với tính chất “quá độ” về kinh tế, chính trị và xã hội đang tồn

tại và tác động rõ nét, đó là sự phát tri ển không đồng đều của lực lượng sản

xuất, tính chất chưa đồng bộ của hệ thống quan hệ sản xuất cũng như những hạn

chế, bất cập trong cơ chế, phương thức vận hành của hệ thống chính trị v.v..

Không ch ỉ di ễn ra s ự phân hóa giàu nghèo gi ữa các t ầng lớp dân c ư,

trong điều kiện KTTT, còn di ễn ra sự phân hóa gi ữa các ngành, lĩnh vực, các

vùng, miền trong ph ạm vi cả nước. Hiện nay, mặc dù ph ải chấp nhận ở một

mức nào đó sự phân hóa, chênh lệch giữa các giữa các vùng, miền, các ngành,

lĩnh vực, nhưng định hướng XHCN đối với sự phát phát tri ển của nền KTTT

50

buộc chúng ta không th ể phó mặc cho KTTT tác động, chi ph ối một cách t ự

phát mà ph ải chủ động điều tiết để chống tình tr ạng phân hóa quá m ức, làm

cho khoảng cách giàu - nghèo gi ảm xuống theo đà tăng trưởng kinh t ế ngày

càng cao, t ừ đó từng bước tạo nên sự phát tri ển hợp lý gi ữa các vùng, mi ền,

các tầng lớp, dân tộc. Dĩ nhiên, chúng ta không đặt mục tiêu hạn chế sự phát

triển nhanh của các khu v ực có nhi ều tiềm năng điều kiện, mà điều chủ yếu

là th ực hi ện sự phân ph ối ngu ồn lực một cách h ợp lý để các khu v ực ít có

điều ki ện thu ận lợi có được cơ hội phát tri ển tốt hơn, kh ắc ph ục tình tr ạng

tụt hậu, đảm bảo cho mọi khu vực, mọi người đều được hưởng thụ các thành

quả của sự phát triển chung.

Loại bất công phi lý, phi pháp đó là những bất công hoàn toàn đi ngược

lại lợi ích chung c ủa xã hội, tác động tiêu cực tới sự phát tri ển của đất nước,

phủ nhận những thành quả đạt được trong sự nghiệp xây dựng và phát triển xã

hội. Đây cũng là những bất công nảy sinh khó có thể tránh khỏi và khó có thể

giải quyết ngay được, nhất là trong điều kiện xuất phát điểm kinh tế - xã h ội

thấp, KTTT chưa phát tri ển đồng bộ, còn nhi ều yếu tố tự phát; đặc biệt là cơ

chế quản lý mới còn ch ưa hoàn thi ện, pháp lu ật chưa thực sự đồng bộ, xử lý

pháp luật chưa nghiêm minh v.v.., d ẫn tới tình trạng nhiều người đã lợi dụng

làm giàu phi pháp b ằng những hành vi l ừa đảo, buôn gian, bán l ậu, đầu cơ.

Một số người đã dựa vào quy ền lực để tổ ch ức mua bán quy ền lực. Sự lợi

dụng quyền lực ở đây không ch ỉ là nh ững người có ví trí xã h ội quan tr ọng,

chức vụ cao mà còn là b ất cứ cá nhân ho ặc tổ ch ức nào trong b ộ máy của

Đảng và Nhà n ước, từ trung ương tới cơ sở khi th ực hi ện ch ức năng được

giao đã tìm cách lợi dụng chức năng đó để tự cho phép làm trái luật pháp, quy

định của Nhà nước, và bằng cách đó, thu lợi bất chính cho b ản thân ho ặc tổ

chức mà họ được giao quy ền qu ản lý. Những bất công phi lý, phi pháp này

cần thiết phải được xóa bỏ càng sớm càng tốt, nhằm đảm bảo cho xã hội phát

triển lành mạnh, công bằng.

51

Phát triển là một quá trình v ận động bi ện ch ứng, là quá trình đấu tranh

giữa cái cũ và cái mới, cái tiến bộ và cái phản tiến bộ để dẫn tới sự ra đời của

cái mới, phù hợp với xu thế phát triển khách quan, tất yếu. Trong quá trình đó,

có nh ững cái cũ đã không còn phù h ợp, nhưng nó v ẫn còn hi ện di ện và tác

động lớn tới đời sống xã hội. Hiện nay, chúng ta đang đẩy mạnh công cuộc đổi

mới, nhưng những ảnh hưởng tiêu cực, những di chứng của cơ chế bao cấp vừa

bình quân, vừa đặc quyền, đặc lợi còn để lại nhi ều, không nh ững trong đời

sống vật chất mà còn c ả trong ý th ức của con ng ười. Bên cạnh những yếu tố

tiến bộ, tích cực nảy sinh, còn không ít nh ững yếu tố tự phát, độc quyền, lũng

đoạn, vô chính ph ủ; tâm lý hãnh ti ến, lối sống buông thả, chạy theo đồng tiền

một cách mù quáng c ủa một bộ phận dân cư. Chúng ta ph ải thừa nhận những

tồn tại và ch ủ động, tích cực đấu tranh, kh ắc ph ục. Có nh ư vậy CBXH mới

được thiết lập và bảo đảm, xã hội mới phát triển ổn định, bền vững.

2.2.2. Công b ằng xã h ội trong điều ki ện kinh t ế th ị tr ường định

hướng xã hội chủ nghĩa là thực hiện sự gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế

với tiến bộ, công bằng xã hội

Tăng trưởng kinh tế là khái ni ệm kinh tế học dùng để chỉ sự gia tăng về

số lượng, quy mô và t ốc độ phát triển của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất

định. Các ch ỉ tiêu th ường được sử dụng để đo mức TTKT là m ức tăng tổng

sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), GDP bình quân

đầu người và các ch ỉ tiêu kinh tế tổng hợp khác. TTKT là mục tiêu theo đuổi

của mọi quốc gia, mọi nền kinh tế trước yêu cầu tồn tại và phát triển.

Tiến bộ xã h ội là s ự vận động của xã hội từ trình độ th ấp đến trình độ

cao, từ lạc hậu đến văn minh, hiện đại. Tiến bộ xã hội trước hết phải xuất phát

từ con người, vì con ng ười và hướng tới sự tiến bộ của con người. Sự tiến bộ

xã hội còn thể hiện ở sự phát triển ngày càng cao hơn của cơ sở hạ tầng, kiến

trúc thượng tầng và ý thức xã hội.

Trong nền KTTT định hướng XHCN, TTKT, ti ến bộ và CBXH là m ột

chỉnh thể thống nhất hữu cơ, bởi vì, mục tiêu của KTTT định hướng XHCN là

52

phát triển kinh tế để đạt tới một xã hội giàu mạnh, công b ằng, dân ch ủ, văn

minh. Đây là n ền KTTT được xây d ựng và v ận hành theo h ướng nhân b ản

hóa bản chất các quan hệ kinh tế - xã hội; là quá trình phát triển xã hội trên cơ

sở một nền sản xuất tăng trưởng hiện đại gắn với việc đảm bảo các nguyên tắc

công bằng, bình đẳng, tạo điều kiện phát tri ển con ng ười toàn di ện, hài hòa

trên tất cả các mặt của đời sống xã hội.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, s ự phát tri ển lực lượng sản

xuất là yếu tố cơ bản quyết định sự phát tri ển tiến bộ của lịch sử và là tiêu

chuẩn để so sánh s ự phát tri ển về mặt kinh tế của hình thái kinh t ế - xã h ội

này so với hình thái kinh t ế - xã h ội khác. Tuy nhiên, s ẽ là siêu hình khi cho

đây là yếu tố cơ bản và duy nh ất quyết định sự phát tri ển lịch sử, là tiêu chí

duy nhất để so sánh, đánh giá tính chất của các chế độ xã hội khác nhau. Bản

chất của xã hội được thể hiện thông qua hệ thống các quan hệ xã hội, trong đó

quan hệ kinh tế giữ vai trò quy ết định. Quan hệ kinh tế được xây dựng dựa

trên cơ sở của lực lượng sản xuất, tuy nhiên, không ch ỉ chịu sự tác động duy

nhất của yếu tố lực lượng sản xuất, tức mặt vật chất, tự nhiên của quá trình

sản xuất vật chất, quan hệ sản xuất còn chịu sự tác động đa dạng của các hình

thái quan hệ xã hội khác, như quan hệ chính trị, văn hóa, xã hội v.v.. Ngay cả

xét trong ph ạm vi lực lượng sản xuất, “khi lực lượng sản xuất phát tri ển cao,

nhưng quan h ệ giữa người với người là quan h ệ bóc lột, bất công, b ất bình

đẳng thì lực lượng sản xuất mới chỉ dừng lại ở sự gia tăng và hoàn thi ện của

tư liệu sản xuất, chứ chưa phải là sự phát triển của con người với tính cách là

một bộ ph ận của lực lượng sản xu ất” [47, tr.95]. Bên c ạnh đó, con ng ười

không chỉ được thể hiện với tính cách là y ếu tố cấu thành của lực lượng sản

xuất, mà còn được thể hiện với tính cách là chủ thể của đạo đức, văn hóa, với

những nhu c ầu đảm bảo quyền dân ch ủ, tự do…do vậy, muốn phát tri ển xã

hội toàn di ện đòi hỏi không ch ỉ ở các yếu tố phát tri ển lực lượng sản xu ất,

tăng trưởng kinh tế mà còn ph ải xóa bỏ sự áp bức, bất công, xây dựng xã hội

53

tiến bộ, công bằng, văn minh, ở đó, mỗi người thực sự được làm chủ bản thân

mình và làm ch ủ xã hội, mỗi người luôn được tạo điều kiện khai thác t ối đa

mọi tiềm năng, sức mạnh của mình vì sự tiến bộ chung của xã hội.

Trong quan hệ giữa TTKT và ti ến bộ, CBXH, trước tiên, cần phải khẳng

định vai trò cơ bản của TTKT. TTKT làm tiền đề vật chất cần thiết cho việc đảm

bảo thực hiện tốt các chính sách xã hội, giảm bất bình đẳng xã hội. Không thể có

tiến bộ, CBXH trên c ơ sở một nền kinh tế trì tr ệ, suy thoái; khi kinh t ế tăng

trưởng sẽ làm cho mức thu nh ập tăng lên, tạo điều kiện cải thiện và nâng cao

chất lượng cuộc sống của nhân dân, gi ải quyết công ăn vi ệc làm, ch ống th ất

nghiệp, đói nghèo, thúc đẩy văn hóa, giáo dục phát triển. TTKT làm gia tăng cơ

hội và điều kiện phát triển cho người lao động, đặc biệt là những người nghèo,

những người gặp khó khăn tiếp cận các cơ hội phát triển sản xuất, kinh doanh và

hưởng thụ được từ thành quả của TTKT. Nhờ có TTKT cao, Nhà nước có sức

mạnh vật chất thực hiện tốt các chính sách xã hội, hình thành và triển khai các

chương trình hỗ trợ vật chất, tài chính cho các vùng, các địa phương khó khăn,

phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội cơ bản v.v..

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định mục tiêu của CNXH là làm

sao cho mọi người có cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc. Vì vậy, điều quan

trọng bậc nhất trong kế hoạch phát triển của đất nước là phải không ngừng tăng

gia sản xuất, phát triển kinh tế, tạo điều kiện để đảm bảo CBXH, cho ai cũng có

phần hạnh phúc. Người nhấn mạnh: “Phải ra sức phát triển sản xuất và thực hành

tiết kiệm, lại phải phân phối cho công bằng, hợp lý, từng bước cải thiện việc ăn,

mặc, ở, học, phục vụ sức khỏe và giải trí cho nhân dân” [76, tr 482]

Tuy nhiên, trong điều kiện KTTT, xuất phát từ nhu cầu cạnh tranh và lợi

nhuận, thường dễ xuất hiện xu hướng đề cao, th ậm chí tuyệt đối hóa TTKT.

Kết quả là quá trình tích t ụ và tập trung tư bản diễn ra mạnh, khối lượng của

cải vật chất tạo ra ngày càng l ớn, thị trường ngày càng m ở rộng, ngày càng

thu hút rộng rãi các ngu ồn lực tham gia vào phát tri ển kinh tế. Nhưng cũng

54

chính quá trình TTKT nhanh đó lại thường dẫn tới những hậu quả to lớn về xã

hội, đó là sự gia tăng của tình trạng bất công, bất bình đẳng xã hội, tình trạng

nghèo khổ kéo dài dẫn đến nguy cơ chia rẽ, xung đột, thậm chí đối kháng xã

hội gay gắt. Ngay cả sự TTKT cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, bởi vì, sản

xuất gia t ăng đòi hỏi ph ải có tiêu dùng thì m ới đảm bảo cho tái s ản xu ất,

nhưng đa số đối tượng tiêu dùng ch ủ yếu là ng ười lao động, là nh ững người

nghèo, nên hàng hóa t ạo ra không có điều kiện tiêu thụ. Từ đó, nảy sinh tình

trạng khủng hoảng thừa hàng hóa. Nhà t ư bản buộc phải lựa chọn giải pháp

tiêu hủy hàng hóa. Hàng hóa b ị tiêu h ủy trong điều ki ện ng ười lao động

không có để tiêu dùng, đây là một ngh ịch lý và là m ột trong nh ững nguyên

nhân gây khủng hoảng kinh tế - xã hội, bài học của các nước tư bản phát triển

theo mô hình KTTT tự do, ưu tiên cho tăng trưởng đã chứng minh điều đó.

Một xã hội tiến bộ, văn minh hiện đại thì đương nhiên phải là một xã hội

thịnh vượng, giàu có về kinh tế, dồi dào về của cải vật chất để có thể đem lại

cho con ng ười cuộc sống sung túc h ơn, đầy đủ hơn. Tăng trưởng, phát tri ển

kinh tế có vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển xã hội. Song suy đến

cùng, kinh tế chỉ là phương tiện, là điều kiện, chứ không phải là mục đích tự

thân của xã h ội. Sự phát tri ển th ực sự ph ải làm sao cho xã h ội ngày càng

nhiều tính nhân v ăn hơn, tức là ph ải tổ ch ức đời sống xã h ội, xây dựng các

quan hệ xã hội sao cho x ứng đáng với con ng ười. Một xã hội phát tri ển thực

sự phải làm sao cho lợi ích mỗi cá nhân và lợi ích chung của xã hội được phát

triển thuận chiều, hài hòa; phải bảo đảm cho từng bước tiến của TTKT là từng

bước thực hiện CBXH cho con ng ười và vì con ng ười với tư cách là m ỗi cá

nhân và mọi thành viên cộng đồng.

Trong quan h ệ với TTKT, CBXH được th ực hi ện sẽ tạo động lực thúc

đẩy TTKT và quan tr ọng hơn đảm bảo cho TTKT ổn định, bền vững. CBXH

được thực hiện sẽ thu hút r ộng rãi mọi người tham gia tích c ực vào các ho ạt

động kinh tế, đảm bảo môi tr ường cạnh tranh lành mạnh cho các thành ph ần

55

kinh tế, các ch ủ thể sản xuất kinh doanh, không để dẫn tới tình trạng “cá lớn

nuốt cá bé”; các l ực lượng kinh t ế không tri ệt tiêu nhau mà luôn có trách

nhiệm tạo điều kiện cho đối tác cạnh tranh cùng tồn tại và phát tri ển. CBXH

tạo điều kiện cho mọi thành viên xã hội tiếp cận một cách phù hợp với các cơ

hội phát tri ển, thông qua đó huy động tối đa các nguồn lực nhằm tạo ra ngày

càng nhiều của cải vật chất cho xã hội.

Công bằng xã h ội đảm bảo cho m ọi ng ười dân làm giàu chính đáng,

những ai có sức lao động, lao động sáng tạo, có kinh nghiệm và năng lực sản

xuất, kinh doanh gi ỏi sẽ vươn lên làm giàu. Chúng ta đã biết, trong xã hội ta

hiện nay, nhiều người đã trở thành “tỷ phú từ hai bàn tay trắng”. Sự xuất hiện

các tầng lớp gia đình và cá nhân ng ười giàu có đã chứng tỏ tiến bộ, CBXH

đang được thực hiện một cách khách quan qua cơ chế thị trường.

Tuy nhiên, CBXH ch ỉ có th ể tạo động lực tr ực ti ếp và quan tr ọng cho

TTKT trong điều kiện gắn bó hữu cơ với TTKT và dựa trên những tiền đề vật

chất do TTKT mang lại. Nếu quá đề cao CBXH, xem nhẹ TTKT sẽ dẫn đến chế

độ bình quân, làm gia tăng sức ỳ của xã hội, tạo tâm lý thụ động của người dân,

ỷ lại vào phân phối của Nhà nước, làm cạn kiệt các nguồn lực, giảm tính năng

động xã hội…, và cuối cùng làm giảm TTKT. Chúng ta có thể thấy điều này ở

các nước theo mô hình phúc lợi xã hội, ở Việt Nam và các nước XHCN trong

thời kỳ bao cấp trước đây. Xuất phát từ nhận thức, xã hội công bằng là ước mơ

của con người, vì thế xã hội càng nhanh đạt tới sự công bằng càng thể hiện tính

ưu việt của chế độ. Các chính sách th ực hiện CBXH được ưu tiên hơn so với

kinh tế, không dựa trên các tiền đề của TTKT, kết quả là động lực cho TTKT bị

triệt tiêu, kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng, trì trệ.

Trong giai đoạn hiện nay, quan hệ gắn kết giữa TTKT và tiến bộ, CBXH

ngày càng được thế giới nhận thức rõ hơn. Mối quan hệ này th ực ra đã nằm

trong nội hàm của phát triển bền vững, bởi vì, theo quan ni ệm mới, phát triển

bền vững gồm ba trụ cột quy định lẫn nhau, đó là phát triển kinh tế bền vững,

56

phát triển xã hội bền vững và bảo vệ môi trường. Qua đó, có thể thấy rằng nếu

chỉ TTKT không thôi s ẽ không đủ để có xã h ội bền vững, kết quả của mối

quan hệ này thể hiện chủ yếu ở chỗ thành tựu về TTKT có đi liền với tiến bộ,

CBXH hay không?.

Lý thuyết và thực tiễn đã chỉ ra, mô hình phát triển hợp lý chính là đảm bảo

gắn kết giữa TTKT và th ực hiện tiến bộ, CBXH. Đây cũng là quan điểm nhất

quán của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới của đất nước. Văn kiện Đại hội đại biểu

toàn quốc lần thứ VIII khẳng định: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến

bộ và CBXH ngay trong từng bước và toàn bộ quá trình phát triển” [29, tr.113].

Chúng ta không chờ kinh tế phát triển cao mới thực hiện CBXH, hy sinh CBXH

để TTKT một cách thu ần túy; mặt khác, cũng không th ể th ực hi ện tốt được

những hoạt động đảm bảo phúc lợi xã hội, giảm bớt sự phân hóa, bất bình đẳng

trong một nền kinh tế nghèo nàn, tăng trưởng thấp. Quan điểm này đòi hỏi khi

xây dựng các chính sách kinh tế phải tính đến mục tiêu phát triển xã hội, đồng

thời mỗi chính sách xã hội phải tạo điều kiện thúc đẩy TTKT. TTKT phải đảm

bảo tính ổn định, bền vững, tránh dẫn tới tình trạng tăng trưởng câm, tăng trưởng

mất gốc, tăng trưởng phi nhân tính, tăng trưởng về kinh tế nhưng văn hóa, đạo

đức suy đồi. Thực hiện tiến bộ, CBXH cũng phải luôn tính tới khả năng và điều

kiện thực tiễn, phải dựa trên những kết quả của TTKT, tránh tách rời, biệt lập

hoặc tuyệt đối hóa dẫn tới kìm hãm TTKT.

2.2.3. Công b ằng xã h ội được th ực hi ện trong t ừng bước, từng

chính sách và trong suốt quá trình phát triển của kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa

Kinh tế thị trường luôn tác động hai mặt, tích cực và tiêu cực đối với quá

trình th ực hi ện CBXH. M ặt tích c ực của KTTT là ở ch ỗ, thứ nh ất, nó góp

phần đảm bảo quyền tự chủ, sáng tạo, thúc đẩy cạnh tranh gi ữa các ch ủ thể

kinh tế. Cạnh tranh đòi hỏi người sản xuất, kinh doanh ph ải tìm được lợi thế

so sánh v ới các c ộng đồng khác để tồn tại và phát tri ển. Chính c ạnh tranh

57

trong nền KTTT s ẽ hình thành nên nh ững con ng ười năng động, sáng t ạo,

dám nghĩ, dám làm, dám ch ịu trách nhiệm và hưởng thụ thành quả của mình.

Đó là cơ sở của CBXH. Thứ hai, KTTT thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra

nguồn lực vật chất để thực hiện CBXH có hiệu quả. Thứ ba, KTTT phát triển

luôn đặt ra yêu c ầu và đồng th ời tạo cơ sở để hình thành các nhà n ước dân

chủ, đảm bảo các quyền và ngh ĩa vụ cơ bản của công dân. Đây là những tiền

đề chính tr ị - pháp lý quan tr ọng cho vi ệc thực hiện CBXH. Từ giữa những

năm 80 của thế kỷ XX cho đến nay, KTTT thế giới đã đạt tới trình độ hiện đại

hóa cao. KTTT hi ện đại gắn bó hữu cơ với các nhân tố chính trị, văn hóa, xã

hội; những biến động về chính tr ị, văn hóa, xã h ội…đều trực tiếp ảnh hưởng

đến sự phát tri ển kinh tế. Hiện nay, dân ch ủ, nhà nước pháp quyền và xã h ội

công dân là nh ững thành tố cơ bản và là s ự thể hiện sâu sắc tính ch ất và xu

hướng phát triển tiến bộ của nền KTTT hiện đại.

Tuy nhiên, bên c ạnh nh ững tác động tích c ực, KTTT cũng luôn t ạo ra

những hệ quả tiêu cực gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới CBXH. Chúng ta bi ết

rằng, KTTT tự nó, luôn có xu hướng vận động tự phát dưới sự tác động khách

quan của các quy luật thị trường. Không phải ngẫu nhiên, mà người ta thường

nói đến “bàn tay vô hình” trong c ơ ch ế th ị tr ường. Vì th ế, trong m ọi nền

KTTT đều khó tránh kh ỏi ở mức độ nào đó, sự nảy sinh nh ững hiện tượng,

những quá trình n ằm ngoài tầm kiểm soát của con ng ười, trong đó có th ể kể

đến nh ư nạn kh ủng ho ảng, th ất nghi ệp, phân hóa giàu nghèo, l ạm phát, b ất

công xã hội, ô nhiễm môi trường v.v..

Kinh tế th ị tr ường tạo ra nh ững hạn ch ế, tiêu c ực về kinh t ế - xã h ội,

nhưng trong quá trình phát tri ển, KTTT lại luôn đặt ra yêu c ầu và là ph ương

thức để giải quyết những hệ quả đó. Mục tiêu, cách th ức và mức độ điều tiết

KTTT như thế nào lại phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội cũng như quan

điểm, định hướng phát triển của mỗi nước, mà trực tiếp và quyết định là quan

điểm của đảng chính tr ị cầm quyền và c ủa chính ph ủ mỗi nước. Ở nước ta,

58

xuất phát từ việc nhận thức khách quan v ề tính ch ất hai mặt của KTTT, xu ất

phát từ mục tiêu, định hướng XHCN, trong t ừng bước cũng như toàn bộ quá

trình phát triển của KTTT phải gắn liền với việc giải quyết các vấn đề xã hội,

trong đó có nội dung tr ọng tâm là th ực hiện CBXH. Văn kiện Đại hội Đảng

lần thứ X đã nêu rõ: “Th ực hiện tiến bộ và CBXH ngay trong t ừng bước và

từng chính sách phát triển” [31, tr101]. Tiếp tục, trong Văn kiện Đại hội Đảng

lần th ứ XI, Đảng ta kh ẳng định: “Th ực hi ện ti ến bộ và CBXH trong t ừng

bước và từng chính sách phát tri ển là một chủ trương nhất quán của Đảng và

Nhà nước ta, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN” [32, tr43].

Việc thực hiện CBXH góp phần phát huy mặt tích cực và khắc phục mặt

hạn chế của KTTT, càng đi vào KTTT càng ph ải chú trọng thực hiện CBXH.

CBXH tạo động lực quan tr ọng và là nhân t ố đảm bảo cho KTTT phát tri ển

theo hướng tiến bộ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Dưới góc độ kinh t ế, đảm bảo các nguyên t ắc công b ằng sẽ góp ph ần

thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, điều hòa quan hệ lợi ích, điều tiết phân phối lại

thu nhập của các giai tầng trong xã hội một cách hợp lý, góp ph ần khắc phục

tình trạng mâu thu ẫn, khoảng cách gi ữa các vùng, mi ền, các ngành l ĩnh vực

trong đời sống kinh tế.

Dưới góc độ chính trị - xã hội, CBXH góp phần giữ vững ổn định chính

trị và đẩy mạnh dân chủ hóa xã hội. CBXH tạo điều kiện phát huy ý thức dân

chủ, tạo ra nh ững khả năng, những kênh để người dân ý th ức về lợi ích của

mình, tham gia ch ủ động, có hi ệu qu ả vào các công vi ệc chính tr ị, xã h ội.

CBXH khẳng định và tiếp tục tạo điều kiện phát huy vai trò của Nhà nước của

dân, do dân, vì dân. Nhà nước với hệ thống quyền lực của mình, với các công

cụ quản lý, quan tr ọng nh ất là pháp lu ật, điều tiết các ngu ồn lực, các ngu ồn

thu nhập…theo nguyên tắc CBXH. Nhà n ước kiên quyết trừng trị những đối

tượng, hành vi vi ph ạm pháp lu ật, gây bất công xã h ội, đồng thời bảo vệ và

thúc đẩy những yếu tố, những khuynh hướng CBXH nhiều hơn.

59

Công bằng xã hội khắc phục tình tr ạng phân hóa giàu nghèo, quan tâm

thực hi ện các chính sách an sinh xã h ội, phúc l ợi xã h ội; đảm bảo cho mọi

tầng lớp xã hội được hưởng các quyền lợi xã hội như giáo dục, chăm sóc sức

khỏe, đào tạo nghề nghiệp, giúp đỡ lúc hoạn nạn khó khăn; đảm bảo các chính

sách ưu tiên, ưu đãi xã hội đối với gia đình liệt sĩ, các bà m ẹ Việt Nam anh

hùng, th ương binh, ng ười có công, đồng bào các dân t ộc thi ểu số, ng ười

nghèo, vùng căn cứ cách mạng, người tàn tật, cơ nhỡ…CBXH bảo đảm cho

mọi thành viên xã h ội không ng ừng nâng cao m ức sống và t ự kh ẳng định

mình. CBXH tạo sự đồng thu ận gắn bó gi ữa người với người trên tinh th ần

tương thân, tương ái, sống có tình ngh ĩa, trách nhi ệm với nhau, hạn chế tình

trạng mâu thuẫn, xung đột, bạo lực, các tệ nạn xã hội.

Hiện nay, KTTT ở nước ta đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện,

bên cạnh những thành tựu đã đạt được, còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập về

thể chế, phương thức vận hành cũng như năng lực của các ch ủ thể tham gia.

Trình độ phát tri ển của KTTT ở nước ta còn tương đối thấp, cùng với xu th ế

TTKT nhanh, dẫn tới xuất hiện nhiều những hiện tượng tiêu cực, bất công xã

hội. Đây là một thực tế không th ể tránh kh ỏi, tuy nhiên, chúng ta không th ể

phó mặc cho KTTT tự điều tiết, chúng ta không đồng tình với quan điểm phát

triển KTTT tự do, ưu tiên cho TTKT, khi kinh tế phát triển cao mới thực hiện

CBXH. KTTT của chúng ta là KTTT định hướng XHCN, khác v ới các n ền

KTTT khác ở tính nhân b ản của nó, do v ậy, ngay trong t ừng bước đi của

KTTT, chúng ta ph ải ch ủ động điều ti ết để hướng KTTT phát tri ển lành

mạnh, vừa thúc đẩy kinh tế, vừa giải quyết những vấn đề xã hội. Mặc dù trong

điều kiện khó khăn, thậm chí càng khó khăn, càng phải thực hiện CBXH. Bởi

vì, khi kinh t ế - xã h ội còn g ặp nhi ều khó kh ăn, khuynh hướng tự phát c ủa

KTTT càng bộc lộ rõ, nếu để KTTT tự nó điều tiết sẽ làm cho kho ảng cách,

phân hóa giàu nghèo ngày càng l ớn; các vùng, mi ền, các ngành, nghề có điều

kiện thuận lợi sẽ tự động thu hút các ngu ồn lực phát triển và do đó có tốc độ

60

phát triển nhanh hơn, trong khi đó, những vùng, miền, ngành, nghề khác ít có

điều ki ện và ngu ồn lực phát tri ển sẽ ngày càng t ụt hậu. Cùng v ới nó, tình

trạng cạnh tranh không lành mạnh, độc quyền, nạn quan liêu, tham nh ũng, vi

phạm pháp lu ật sẽ ngày càng có khuynh h ướng gia tăng. Thực thi CBXH là

giải pháp căn bản khắc phục tình trạng này. Mỗi bước phát triển và hoàn thiện

của nền KTTT gắn với mỗi bước tiến trong quá trình th ực thi CBXH, đây là

quan hệ thống nhất, tương tác và thúc đẩy xuất phát từ những yêu cầu nội tại

của nền KTTT định hướng XHCN; CBXH không th ể tách rời KTTT nh ư là

sự tách rời với môi trường và điều kiện để thực thi chúng và ngược lại KTTT

không thể tách rời CBXH nh ư là xu h ướng tất yếu đảm bảo tính định hướng

XHCN trong quá trình phát triển.

Công bằng xã hội luôn là mục tiêu trọng yếu, thấm đượm tinh thần nhân

văn, mục tiêu đó phải được thực hiện thường xuyên, ngay từ đầu và trong suốt

quá trình phát triển. Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn, CBXH có những sắc thái

riêng phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ở mỗi giai

đoạn khác nhau s ẽ đặt ra những nhiệm vụ và hình th ức cụ thể khác nhau của

việc giải quyết CBXH, nhưng dù có sự khác biệt như thế nào đi chăng nữa thì

thực hiện CBXH cũng luôn là vấn đề vừa có tính cấp bách, vừa có tính lâu dài

trong suốt quá trình phát triển của nền KTTT định hướng XHCN.

Công bằng xã h ội liên quan ch ặt chẽ với các yếu tố tạo nên xã h ội như

kinh tế (sản xuất vật ch ất, các quan h ệ kinh t ế…), chính tr ị (dân ch ủ, bình

đẳng, lu ật pháp, s ự lãnh đạo của Đảng, sự qu ản lý điều hành c ủa Nhà

nước), văn hóa - xã h ội (vấn đề đạo đức, phong t ục tập quán, công ăn việc

làm, giáo d ục, đào tạo, sức kh ỏe, tu ổi th ọ…), do v ậy, CBXH ch ỉ th ực sự

đạt được khi nó đảm bảo tính toàn di ện trên các m ặt của đời sống xã h ội.

Ngay trong t ừng chính sách phát tri ển xã hội phải hướng tới việc thực hiện

CBXH; xây dựng hệ thống chính sách kinh t ế và chính sách xã h ội phải tiến

hành đồng thời và k ết hợp theo h ướng mỗi chính sách kinh t ế phải gắn với

61

mục tiêu xã h ội, tạo cơ sở th ực hi ện CBXH và m ỗi chính sách th ực thi

CBXH phải dựa trên c ơ sở tiền đề vật chất của quá trình TTKT và ph ải tạo

động lực cho TTKT. Tránh tình tr ạng thực hi ện chính sách phát tri ển kinh

tế nhưng lại ảnh hưởng xấu đến gi ải quyết các v ấn đề xã h ội, làm cho b ất

bình đẳng xã hội tăng lên, c ũng như triển khai các chính sách xã h ội lại làm

cản trở đến quá trình TTKT.

Tính thi ếu thống nhất, không đồng bộ trong vi ệc xây d ựng và th ực thi

các chính sách kinh t ế và chính sách xã h ội là nguyên nhân d ẫn tới nhi ều

hậu quả to lớn về xã hội, đẩy nhanh sự phân hóa v ề thu nhập và tài s ản, gia

tăng bất công xã h ội. Nh ư ở nước ta hi ện nay, ch ẳng hạn, chính sách thu

hồi đất công nghi ệp, khu đô thị, sân golf ph ục vụ quá trình đô thị hóa, công

nghiệp hóa, bên c ạnh những tác động tích c ực tới quá trình phát tri ển nông

thôn, đã tạo ra s ự bất cập lớn, dẫn đến nh ững xung đột tại nông thôn, đặc

biệt là đối với nông dân b ị thu hồi đất. Trong quá trình đổi mới cơ cấu của

nền kinh t ế, nhiều ngành, ngh ề mới được tạo ra đã tạo điều kiện cho ng ười

nông dân có c ơ hội tìm ki ếm vi ệc làm, nh ưng nh ững ng ười nông dân x ưa

nay sống gắn bó với đồng ruộng, trình độ nhận thức cũng như trình độ nghề

nghiệp còn nhi ều hạn chế, vì v ậy, họ khó có th ể trực tiếp tham gia vào các

ngành ngh ề mới. Do v ậy, đa số nông dân th ất nghi ệp, họ tràn ra thành ph ố

bán sức lao động rẻ mạt gây quá t ải cho thành ph ố cả về kinh t ế, xã hội và

môi tr ường. Bên c ạnh đó, ngay ở nông thôn, quá trình phân hóa thu nh ập,

giàu nghèo di ễn ra v ới tốc độ nhanh h ơn gi ữa nh ững ng ười có c ơ hội ti ếp

cận được với những ngành ngh ề phi nông nghi ệp và bi ến động giá đất với

những ng ười không có c ơ hội trên. V ấn đề khó kh ăn là làm th ế nào để

chuyển một bộ ph ận nông dân m ất đất thành th ị dân, tr ở thành ng ười lao

động trong các ngành ngh ề phi nông nghi ệp. Đây là v ấn đề quan tr ọng và

cấp bách, tuy nhiên, th ực tế thời gian qua, chúng ta ch ưa có các chính sách

và giải pháp thực sự hữu hiệu giải quyết bài toán khó kh ăn này.

62

Rõ ràng là, trong điều ki ện KTTT định hướng XHCN, mỗi chính sách

phát triển trong từng bước và cả quá trình đều ph ải chứa đựng nội dung của

CBXH. Chính sách phát tri ển, ngoài vi ệc đảm bảo tuân th ủ nghiêm ng ặt các

quy luật của KTTT như quy luật cung cầu, cạnh tranh, lợi nhuận,…phải luôn

hướng tới các nguyên tắc CBXH, coi đó như là yếu tố quan trọng cấu thành nội

dung và tiêu chí hiệu quả cho từng chính sách. Có như vậy, KTTT mới thực sự

song hành cùng với công bằng và tiến bộ xã hội, vừa đảm bảo được mục tiêu

phát triển kinh tế, vừa đảm bảo mục tiêu xã hội nhân văn.

2.3. KINH NGHI ỆM THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG M ỘT SỐ

MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TRÊN THẾ GIỚI

2.3.1. Kinh nghiệm thực hiện công bằng xã hội trong mô hình kinh tế

thị trường tự do

Mỹ là qu ốc gia tiêu bi ểu cho mô hình này v ới quan điểm chủ đạo là

tăng trưởng kinh tế đối lập với CBXH và t ăng trưởng kinh tế được thực hiện

bằng sự gia tăng bất bình đẳng trong thu nhập của người dân.

Quan điểm này xuất phát từ tư tưởng của nhà kinh t ế học cổ điển Anh

David Ricardo (1772 - 1823), ông cho r ằng, kinh tế phát triển phải được đảm

bảo bằng mức thu nh ập cao c ủa tầng lớp tư sản, do đó, ông luôn ch ống lại

việc điều tiết thu nhập theo hướng bất lợi cho giai cấp tư sản.

A.Lewis (1915 - 1991), nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng, bất bình đẳng

trong phân phối thu nhập sẽ tăng trong thời kỳ đầu và chỉ sau khi đã đạt được

sự phát triển cao thì mới giảm đi. Theo ông, bất bình đẳng là nguyên nhân thúc

đẩy sự phát triển kinh tế, vì thế, những cố gắng phân phối lại một cách vội vã

sẽ có nguy cơ bóp chết tăng trưởng kinh tế. Sự tăng lên nhất thời của bất bình

đẳng là cái giá phải trả tất yếu cho sự thành công của tăng trưởng kinh tế.

Xét về thực chất, các lý thuy ết trên đây đã luận chứng cho một mô hình

kinh tế chủ yếu đem lại lợi ích cho giai c ấp tư sản và gây thi ệt hại cho đa số

người lao động. Thực tiễn phát triển của các nước theo mô hình KTTT tự do,

63

điển hình là M ỹ đã chứng minh những nghịch lý cơ bản của quan điểm trên.

Nền kinh tế tăng trưởng cao, nhưng đa số dân cư nghèo, hàng hóa sản xuất ra

không tiêu thụ được dẫn đến sản xuất bị đình trệ, bế tắc, trong nền kinh tế đã

có những cuộc khủng hoảng thừa, hàng hóa ph ải tiêu hủy trong khi đời sống

của nhân dân ngày càng thi ếu thốn. Sự bất bình đẳng ngày càng t ăng gây ra

những phức tạp về xã hội, chính tr ị, thậm chí cả đạo đức. Mặc dù chính ph ủ

Mỹ đã có cố gắng thực hiện các chính sách phúc lợi và bảo đảm xã hội như đề

ra các chương trình phiếu thực phẩm, hỗ trợ người nghèo, trợ giúp y tế, nhà ở,

bảo hi ểm xã h ội, th ất nghi ệp,…nhưng đó ch ỉ là s ự điều ph ối một ph ần nhỏ

trong tổng giá tr ị lợi nhuận do xã h ội tạo ra, và nh ững người nghèo cũng chỉ

được hưởng một ph ần rất nh ỏ. Các k ết qu ả kh ảo sát mới nh ất của các nhà

kinh tế học tới từ các tr ường Đại học Clifornia, Đại học Oxford cho th ấy

khoảng cách giàu nghèo ở Mỹ đang “giãn rộng” hơn bao gi ờ hết. Chính ph ủ

Mỹ luôn n ỗ lực nh ằm khắc ph ục cu ộc kh ủng ho ảng kinh t ế góp ph ần ki ềm

chế tình tr ạng gia tăng phân hóa giàu nghèo, song t ừ năm 1980 kho ảng cách

luôn tăng đều. Hiện nay, 1% ng ười giàu nhất nước Mỹ đang nắm giữ khoảng

hơn 40% tổng tài sản quốc gia, cuộc đại suy thoái 2007 - 2009 khi ến 1% tầng

lớp người giàu có nh ất nước Mỹ mất đi 36% thu nh ập, trong khi 99% nh ững

người còn lại bị mất 11%. Tuy nhiên, cho đến nay, sau ba năm suy thoái, 1%

tầng lớp giàu có nh ất nước Mỹ đã nhanh chóng ph ục hồi, trong khi 99% còn

lại không có dấu hiệu phục hồi [155].

Bản chất của KTTT tự do là phó m ặc cho th ị trường tự điều tiết. KTTT

tự do đã thừa nhận bất công xã h ội không gi ới hạn, nhằm gia tăng tối đa lợi

ích của giới chủ tư bản và đẩy người lao động tới tình tr ạng đói nghèo, bần

cùng hóa, khoảng cách giàu, nghèo ngày càng gia t ăng. Có thể khái quát, vấn

đề có tính qui lu ật của mô hình kinh tế này là: lợi nhuận tối đa, công bằng tối

thiểu; kinh tế khủng hoảng; xã hội luôn ẩn chứa xung đột xã hội. Đây là điều

chính những nhà tư sản cũng nhận ra và th ực hiện việc chuyển sang mô hình

kinh tế thị trường xã hội.

64

Từ bài học kinh nghiệm xuất phát từ thực tiễn mô hình KTTT t ự do cho

thấy, CBXH chỉ có thể được thực hiện đầy đủ, toàn diện, tạo động lực thực sự

cho sự phát triển bền vững của nền KTTT khi nó hướng tới lợi ích thực sự của

đông đảo nhân dân; coi vi ệc đảm bảo và gia tăng lợi ích của nhân dân là định

hướng phát triển của chính nền KTTT. Nói cách khác, sự thống nhất giữa phát

triển KTTT và th ực hi ện CBXH ph ải là s ự thống nh ất từ bên trong, là m ục

đích tự thân, quy định bản chất, khuynh hướng phát triển của nền KTTT. Mặc

dù mô hình KTTT tự do thúc kinh t ế tăng trưởng, tuy nhiên, xuất phát từ bản

chất của thể chế, “pháp quyền tư sản”, dù có nh ững nỗ lực đáng kể, song mô

hình này không th ể khắc phục được những mâu thu ẫn, khủng hoảng vốn có.

Không phải cứ tăng trưởng kinh tế cao là t ự khắc có CBXH. B ởi vì khi c ủa

cải vật chất tập trung trong tay một số người, họ trở thành những người có thế

lực không ch ỉ về kinh t ế mà còn v ề chính tr ị. Nhà n ước tr ở thành công c ụ

phục vụ cho nhóm người giàu có. Sự nghèo khổ của dân chúng trở thành mối

nguy cơ đe dọa TTKT và sự ổn định xã hội, và do vậy, đây không phải là mô

hình phù hợp đối với việc thực hiện CBXH toàn diện và bền vững.

2.3.2. Kinh nghiệm thực hiện công bằng xã hội trong mô hình kinh tế

thị trường xã hội

Sau Đại chiến thế giới lần thứ hai, trước áp lực đấu tranh của quần chúng

nhân dân lao động, các chính ph ủ ở nhiều nước Tây Âu và B ắc Âu đã thực

hiện chủ trương chuyển từ nền KTTT tự do sang nền KTTT xã hội dựa trên lý

thuyết của J.M.Keynes, ngh ĩa là kết hợp sử dụng cơ chế thị trường với việc

thi hành một hệ thống chính sách phúc l ợi xã hội để đảm bảo sự đồng thuận

xã hội cho phát triển.

Điển hình mô hình phát tri ển này là Th ụy Điển và các n ước Bắc Âu.

Ngay từ năm 1932, P.A. Hasson, lãnh t ụ Đảng xã hội - dân ch ủ Th ụy Điển

(tức đảng cẩm quyền) đã đưa ra khái ni ệm “ngôi nhà cho t ất cả mọi người”

với nội dung cơ bản là bảo đảm an sinh xã h ội, điều này đạt được thông qua

65

việc phá bỏ mọi hàng rào ng ăn cách về xã hội và kinh t ế trong xã h ội. Ông

Gustav Moller - B ộ trưởng phụ trách các v ấn đề xã hội trong nhi ều năm và

được gọi là “kiến trúc sư của nhà nước phúc lợi Thụy Điển” đã đề xuất chính

sách mà từ đó, Thụy Điển luôn theo đuổi, đó là: các ch ương trình xã hội phải

là các quyền lợi chung, chứ không thể được coi là lòng từ thiện.

Khác v ới mô hình M ỹ và các n ước TBCN khác, ở Thụy Điển và các

nước Bắc Âu, nhà nước tham gia tích cực vào đời sống kinh tế - xã hội nhằm

tạo ra một xã hội thịnh vượng và một nhà nước phúc lợi toàn dân. Xu ất phát

từ chỗ coi CBXH là mục tiêu của mọi chính sách kinh t ế - xã hội, Thụy Điển

đã xây dựng một hệ thống phúc lợi chung và m ột hệ thống bảo hiểm xã hội

quy mô lớn. Nhà nước chủ động điều tiết thu nhập, thu hẹp khoảng cách thu

nhập gi ữa các t ầng lớp dân c ư thông qua thu ế và h ệ th ống bảo hi ểm. Vi ệc

kết hợp giữa KTTT với sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, với việc mở rộng

phúc lợi xã hội và lợi dụng triệt để các điều kiện quốc tế thuận lợi, đã tạo ra

hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội rất cao. Trong một thời gian ngắn (1938 -

1950), Th ụy Điển và các n ước Bắc Âu t ừ những nước nghèo nh ất châu Âu

đã trở thành một trong nh ững nước giàu có trên th ế giới, mức sống của toàn

dân khá cao và khá đồng đều, hệ thống bảo trợ xã hội thuộc loại tốt nhất trên

thế gi ới nh ư y t ế, giáo d ục, ch ăm sóc ng ười già y ếu đều rất thu ận ti ện và

không mất tiền.

Tuy nhiên, ở Th ụy Điển, chính sách thu ế khóa đóng vai trò đặc bi ệt

quan trọng, nguồn thu từ thuế là kinh phí để thực hiện các chương trình xã hội

của chính phủ và cân bằng múc thu nh ập của các tầng lớp dân cư. Vì vậy, để

các ho ạt động này đạt kết qu ả cần kinh phí r ất lớn và ngày càng bu ộc nhà

nước phải tăng thuế khóa, tập trung vào nh ững người có thu nh ập cao. Thu ế

quá cao, cùng v ới mức lương bình quân được cải thi ện và ngày càng t ăng,

phúc lợi xã hội lớn, dẫn đến số đông người dân dễ lạm dụng các tr ợ cấp xã

hội. Họ không tích cực làm việc, che giấu thu nhập, chống thuế và hoạt động

“kinh tế ngầm”; những người thất nghiệp không muốn tìm việc làm. Các ch ủ

66

tư bản tìm cách đầu tư ra nước ngoài để tránh thuế lũy tiến đánh vào thu nhập,

dẫn đến thất thu ngân sách ngày càng lớn, đó là nguy cơ đối với sự hoạt động

bình thường và hiệu quả của mô hình này. KTTT ở Thụy Điển đã có lúc lâm

vào suy thoái, và “nhà n ước xã hội” đã có nh ững biểu hi ện ki ệt sức, Chính

phủ Thụy Điển đã phải liên tục thực hiện việc cắt giảm các khoản phúc lợi xã

hội, để nhằm duy trì sự tồn tại của nền kinh tế.

Như vậy, mô hình KTTT xã h ội ở Th ụy Điển và các n ước Bắc Âu có

nhiều ưu điểm đối với vi ệc th ực hi ện CBXH, song, nó c ũng không đủ đảm

bảo CBXH b ền vững. Th ực ti ễn đã ch ứng minh rằng, khó có th ể có CBXH

đầy đủ một khi chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất giữ vai trò thống trị

trong xã h ội. CBXH ở đây chỉ là cái gi ới hạn để bất công b ằng không vượt

quá thành xung đột xã hội và cách mạng xã hội. Nói cách khác, trong mô hình

kinh tế này, công b ằng xã hội được thực thi tr ước tiên dựa trên nền tảng lợi

ích của giai cấp tư sản, ch ứ không hoàn toàn d ựa trên l ợi ích của đông đảo

quần chúng nhân dân. Do v ậy, những gi ải pháp xã h ội đã không được gi ải

quyết một cách triệt để; chưa tạo sự thống nhất, hài hòa giữa tăng trưởng kinh

tế và tiến bộ, CBXH. Những chính sách xã hội không đem lại lợi ích căn bản

và toàn di ện cho nhân dân và th ậm chí đã làm tri ệt tiêu động lực của tăng

trưởng. Xét về tổng thể, mô hình KTTT xã h ội cũng không phải là gi ải pháp

phù hợp cho phát triển kinh tế và thực hiện CBXH.

2.3.3. Kinh nghiệm thực hiện công bằng xã hội trong mô hình kinh tế

thị trường xã hội chủ nghĩa Trung Quốc

Tháng 12 n ăm 1978, Đảng cộng sản Trung Qu ốc đã kh ởi xướng công

cuộc cải cách, mở cửa với quan điểm xây dựng CNXH “đặc sắc Trung Quốc”.

Trung Qu ốc đặt tr ọng tâm phát tri ển kinh t ế, từ đó tạo cơ sở để th ực hi ện

CBXH, trong gần 35 năm cải cách vừa qua, Trung Quốc đã kiên trì, nhất quán

thực hi ện chủ trương xây dựng KTTT xã h ội ch ủ nghĩa, duy trì t ốc độ tăng

trưởng nhanh, từng bước thực hiện CBXH với mục tiêu đặt ra là “ưu tiên hiệu

quả, chiếu cố công bằng, tiến tới cùng giàu có ”. Công cuộc cải cách, mở cửa

67

của Trung Qu ốc đã đạt được những kết qu ả to l ớn, tốc độ TTKT cũng nh ư

mức thu nh ập bình quân đầu ng ười không ng ừng nâng cao, các ti ềm năng

kinh tế được giải phóng, trình độ, năng lực sản xuất của người dân ngày càng

được cải thiện. Về mặt xã hội, thông qua các chính sách phân ph ối thu nh ập,

chính sách thu ế và hệ thống phúc lợi, bảo hiểm xã hội, lợi ích của đông đảo

nhân dân ngày càng được bảo đảm. Bên cạnh đó, Trung Qu ốc tiến hành cải

cách thể chế chính trị theo bốn nguyên tắc và đạt hiệu quả cao, đó là: mở rộng

dân chủ XHCN, kiện toàn pháp chế XHCN, quản lý đất nước bằng pháp luật,

xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.

Tuy nhiên, bên c ạnh nh ững thành t ựu to l ớn đã đạt được, Trung Qu ốc

hiện nay đang phải đương đầu với những thử thách không nh ỏ. Do tập trung

cao độ cho tăng trưởng kinh tế, nên các vấn đề xã hội không được giải quyết

hiệu quả. Cùng v ới nh ững thành tựu vượt bậc về kinh tế thì tình tr ạng phân

tầng xã hội, hố ngăn cách về khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền ngày

càng đẩy xa thêm. Vì th ế, Hội nghị Trung ương 6, khóa XVI c ủa Đảng Cộng

sản Trung Qu ốc (10/2006) đã quyết định một số vấn đề quan tr ọng về “xây

dựng CNXH hài hòa”, th ể hiện rõ mục tiêu chuyển đổi mô hình phát tri ển xã

hội trong điều kiện KTTT, giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và xã hội, khắc

phục các mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và bất công xã hội tăng cao.

Đặc biệt là, Hội nghị đã nêu lên 6 nội dung xây dựng xã hội lấy dân sinh

làm trọng điểm: Phát triển giáo dục, xây dựng cường quốc nhân lực; thực hiện

chiến lược phát tri ển việc làm, thúc đẩy quá trình lập nghiệp; đi sâu cải cách

chế độ phân phối thu nhập, tăng thu nhập cho cư dân thành th ị và nông thôn;

xây dựng ch ế độ y t ế cơ bản, nâng cao s ức kh ỏe cộng đồng; hoàn thi ện hệ

thống quản lý xã hội; duy trì cục diện đoàn kết, ổn định xã hội. Nhằm đạt mục

tiêu xây dựng xã hội khá giả toàn diện, Trung Quốc đẩy nhanh sự nghiệp cải

cách toàn diện đời sống của nhân dân, chú trọng phát triển sự nghiệp giáo dục

đào tạo, đặc biệt là đào tạo nhân tài sáng t ạo mới. Giải quyết tốt chính sách

68

việc làm, hệ thống an sinh xã h ội bao phủ lên cư dân thành th ị và nông thôn

cơ bản được xây dựng, mọi người đều được hưởng sự bảo đảm mức sống cơ

bản. Cục diện phân phối thu nhập hợp lý được hình thành, người có thu nh ập

trung bình chiếm đa số, hiện tượng nghèo khổ tuyệt đối cơ bản không còn.

Có thể nói, xây dựng xã hội hài hòa theo quan điểm điều chỉnh lợi ích và

cải cách dân sinh là điểm cốt lõi trong mô hình phát tri ển của Trung Qu ốc.

Trong quá trình cải cách, Trung Quốc đã chú trọng vận dụng các quy luật của

KTTT vào phát triển xã hội; chấp nhận những bất công xã hội nhất định nhằm

đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế; huy động tối đa các nguồn lực cho phát tri ển,

đặc biệt là phát huy vai trò c ủa khu vực kinh tế tư nhân. Nhà nước từng bước

chuyển từ nhà nước quản trị sang nhà n ước dịch vụ công. Tuy nhiên, trong

quá trình phát tri ển, Trung Quốc do mục tiêu phát tri ển kinh tế nhanh chóng,

hướng tới gia tăng quyền lực và vị thế chính trị, cho nên đã không đảm bảo sự

cân đối, hài hòa trong tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công

bằng, tiến bộ xã hội. Hiện nay, Trung Quốc mặc dù đã đạt được những thành

tựu to lớn, nhưng cũng đang phải đối mặt với hàng lo ạt những khó khăn, thử

thách đặt ra về tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng, tiến bộ xã hội.

Thông qua kh ảo sát các lý thuy ết và th ực ti ễn th ực hi ện CBXH trong

điều kiện KTTT ở một số mô hình tiêu bi ểu, có th ể khái quát nh ững bài học

kinh nghiệm chủ yếu như sau:

Thứ nh ất, phát tri ển kinh t ế và th ực hi ện CBXH luôn là yêu c ầu quan

trọng đặt ra đối với tất cả các qu ốc gia, dân tộc trong các th ời kỳ khác nhau,

tuy nhiên, để thực hiện được mục tiêu này, cần phải lựa chọn và xây dựng mô

hình phù hợp. Muốn phát triển, phải đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế nhằm giải

phóng các năng lực sản xuất, tạo ra ngày càng nhi ều của cải vật chất cho xã

hội, tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần, chưa phải là điều kiện đủ

của một xã hội phồn vinh. Nếu tuyệt đối hóa tăng trưởng, phó mặc cho cơ chế

thị trường điều tiết, sẽ dẫn tới bất công, đói nghèo, xung đột và kh ủng hoảng

69

kinh tế - xã h ội, do vậy, các chính sách kinh t ế luôn ph ải được thực hiện gắn

với các chính sách xã h ội trong tất cả các giai đoạn phát tri ển của KTTT, có

như vậy mới tạo động lực thực sự, mới phát huy sức mạnh tổng hợp về kinh tế

và xã hội cho phát triển.

Tuy nhiên, nếu tuyệt đối hóa các chính sách phúc lợi xã hội sẽ tạo sự mất cân

đối giữa kinh tế và xã hội, làm triệt tiêu các động lực phát triển kinh tế, đặc biệt là

nguồn lực con người và kết quả là không chỉ kinh tế suy giảm mà bản thân các

chính sách phúc lợi xã hội cũng sẽ không phát huy vai trò đầy đủ, CBXH không

được bảo đảm thực sự. Trên thực tế sẽ không nên và không th ể th ực hiện các

chính sách bảo đảm xã hội tách rời với chính sách khuyến khích TTKT.

Thứ hai, nhà nước có vai trò to lớn trong việc quản lý, điều tiết nền KTTT

vì mục tiêu CBXH; nền KTTT càng phát tri ển hiện đại, vai trò của nhà nước

càng phải được khẳng định và phát huy. Nhà nước bảo đảm công bằng, khơi dậy

mọi tiềm năng sáng tạo của người lao động thông qua cơ chế và biện pháp quản

lý dân chủ; nhà nước lựa chọn những khâu phát triển đột phá, nhạy bén với cái

mới và xử lý linh ho ạt gắn với tầm nhìn chiến lược lâu dài. Trên th ực tế, nhà

nước thực hiện CBXH đến đâu, mức độ nào, có triệt để hay không, phụ thuộc và

được quyết định chủ yếu vào bản chất của nhà nước. Nhà nước với tính cách là

công cụ thực hiện và bảo đảm CBXH thực sự phải là nhà nước pháp quyền của

dân, do dân và vì dân. Đó là nhà nước đem lại quyền dân chủ cho mọi công dân,

bảo vệ và bảo đảm cho nhân dân th ực thi quyền làm chủ của mình. Nhà nước

không có lợi ích nào ngoài l ợi ích của nhân dân. Th ực hiện mục tiêu qu ản lý,

phát triển nền KTTT và thực hiện CBXH phải xuất phát từ mục đích tự thân, là

tôn chỉ hoạt động và thước đo hiệu quả của nhà nước đó.

Thứ ba, CBXH chỉ được thiết lập và bảo đảm khi gắn với chế độ xã hội tiến

bộ thực sự, qua đó, mọi chiến lược phát triển của quốc gia đều phải hướng tới con

người, vì lợi ích chân chính của con người. Con người luôn được xác định vừa là

mục tiêu, vừa là động lực của phát triển xã hội; tương quan lợi ích của mỗi cá

nhân, nhóm xã hội và toàn xã hội luôn được bảo đảm hài hòa, thống nhất.

70

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

CBXH là khát khao cháy bỏng, là nỗ lực vươn tới của con người, mỗi bước

tiến của nền văn minh, tiến bộ nhân loại đều gắn với những thành quả đạt được

của con người về CBXH. Tuy nhiên, CBXH lại luôn thể hiện tính đa dạng trong

nhận thức và thực thi, sự đa dạng đó là tất yếu bởi CBXH là phạm trù mang tính

lịch sử, tính giai cấp, gắn với truyền thống tư tưởng, văn hóa cũng như trình độ

phát triển của các quốc gia, khu vực, các thời đại lịch sử khác nhau.

Lý luận và th ực ti ễn đã ch ứng minh sự tác động, ảnh hưởng to lớn của

KTTT đối với việc thực hiện CBXH và sự tác động tích cực trở lại của CBXH

đối với quá trình vận động và phát tri ển của nền KTTT. Đã có nhiều mô hình

tiêu biểu, với những thành công, hạn chế và những bài học kinh nghiệm quý giá

được rút ra, tuy nhiên cho đến nay, thực hiện CBXH vẫn đang là một khó khăn,

thử thách to lớn đối với tất cả các quốc gia, dân tộc trong thời đại ngày nay.

Trong điều kiện KTTT định hướng XHCN, CBXH chịu sự tác động, chi

phối không ch ỉ bởi nh ững quy lu ật phổ bi ến của KTTT, mà còn b ởi nh ững

nguyên tắc, bản chất của CNXH, điều này quy định những vấn đề có tính quy

luật khách quan của việc thực hiện CBXH ở nước ta, đó là: CBXH trong điều

kiện KTTT định hướng XHCN là sự công bằng trên cơ sở thừa nhận bất công

bằng xã hội trong gi ới hạn; thực hiện CBXH là vi ệc giải quyết mối quan hệ

giữa TTKT với tiến bộ, CBXH; CBXH được thực hiện từng bước, trong từng

chính sách và trong su ốt quá trình phát tri ển. Chính tính quy lu ật khách quan

này đã phản ánh tính thống nhất và tính đặc thù trong việc thực hiện CBXH ở

nước ta, trên cơ sở đó xác định đúng đắn những mục tiêu, nhiệm vụ mà chúng

ta cần phải tiếp tục th ực hi ện; những cơ hội và điều kiện chúng ta c ần ph ải

tranh th ủ vận dụng và nh ững khó kh ăn, thách th ức chúng ta ph ải vượt qua

nhằm tiếp tục thực hiện CBXH, tiếp tục phát triển KTTT định hướng XHCN,

tạo sự tương tác thống nhất, ổn định và phát triển trên con đường đi tới xã hội

công bằng, dân chủ, tiến bộ và phồn vinh.

71

Chương 3

THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Ở VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

3.1. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

3.1.1. Những thành tựu đạt được

Về nhận thức

Bước vào th ời kỳ đổi mới, đứng tr ước nh ững khó kh ăn, kh ủng ho ảng

kinh tế - xã hội, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật,

nói rõ sự thật”, Đảng ta đã từng bước đổi mới tư duy, trong đó có nội dung

trọng tâm là phát triển KTTT định hướng XHCN và thực hiện CBXH.

Trong lĩnh vực phân phối nhằm thực hiện CBXH, nếu như Đại hội Đảng

toàn quốc lần thứ VI khẳng định cần thiết phải khắc phục tình trạng phân phối

bình quân, thực hiện phân phối theo lao động, thì đến Đại hội VII, đã có sự bổ

sung và phát tri ển mới, đó là: “phân ph ối theo ngu ồn vốn đóng góp vào s ản

xuất kinh doanh” [28, tr47]. Đây là nguyên tắc phân phối công bằng, phù hợp

với hoàn cảnh nước ta trong th ời kỳ quá độ lên CNXH, qua đó thu hút được

được nhi ều nguồn lực cho phát tri ển kinh tế - xã h ội. Đại hội Đảng lần th ứ

VIII bổ sung thêm hình th ức phân ph ối thông qua “phúc l ợi xã h ội” nh ằm

hướng tới hiệu quả xã hội, hạn chế sự phân hóa giàu nghèo và b ất bình đẳng

xã hội. Đại hội Đảng lần thứ XI ti ếp tục bổ sung nội dung mới về phân ph ối

nhằm thực hiện CBXH, đó là phân ph ối thông qua “hệ thống an sinh xã hội”.

Sự kết hợp giữa chính sách phúc l ợi xã h ội và an sinh xã h ội là hết sức cần

thiết nhằm bảo vệ sự an toàn cho cuộc sống của người dân, đối phó với những

rủi ro từ hoàn cảnh xã hội và hoàn cảnh tự nhiên, qua đó duy trì sự ổn định và

phát triển xã hội.

72

Như vậy, càng về sau, quan điểm của Đảng về phân ph ối càng được bổ

sung, phát triển phù hợp, điều này thể hiện tính linh ho ạt, sáng tạo trong việc

xử lý các tương quan lợi ích xã hội dựa trên nguyên tắc công bằng trong điều

kiện KTTT định hướng XHCN, v ừa phát huy vai trò c ủa mỗi cá nhân, v ừa

phát huy vai trò của cả cộng đồng xã hội. Đây là sự bổ sung quan trọng vào lý

luận chủ nghĩa Mác - Lênin v ề phân ph ối trong th ời kỳ quá độ lên CNXH ở

một nước nông nghiệp, chưa qua giai đoạn phát triển TBCN như ở nước ta.

Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến bộ, CBXH cũng được

được Đảng ta nh ận thức phù hợp. Văn kiện Đại hội Đảng toàn qu ốc lần thứ

VIII kh ẳng định: “T ăng tr ưởng kinh t ế ph ải gắn li ền với ti ến bộ và CBXH

ngay trong t ừng bước và trong su ốt quá trình phát tri ển [29, tr.113]. Đây là

mô hình đặc trưng thể hiện triết lý phát tri ển hoàn toàn phù h ợp ở Việt Nam,

với mô hình này, mỗi bước phát triển kinh tế phải gắn liền với việc giải quyết

những vấn đề xã hội; mỗi thành quả TTKT phải được tính toán hợp lý vừa tái

đầu tư cho phát tri ển kinh t ế, vừa đầu tư cho phát tri ển xã h ội, tạo sự phát

triển ổn định và bền vững.

Trong sự nghi ệp đổi mới, xây d ựng CNXH, đảng ta luôn kh ẳng định,

thực hiện CBXH là một trong những mục tiêu, động lực cơ bản. Do vậy, trong

các giai đoạn phát tri ển của đất nước, nhiệm vụ th ực hi ện CBXH luôn ph ải

được đặt ra, gi ải quyết vừa có ý ngh ĩa cấp thiết, vừa có ý ngh ĩa lâu dài. V ăn

kiện Đại hội X đã khẳng định: “Thực hiện tiến bộ và CBXH ngay trong t ừng

bước và từng chính sách phát triển” [31, tr101]. Đây là chủ trương nhất quán,

phản ánh tính quy lu ật phát tri ển của đất nước trong th ời kỳ quá độ và bản

chất tốt đẹp của xã hội ta.

Có thể nói, qua các kỳ Đại hội Đảng, với tinh thần cầu thị, thường xuyên

tổng kết th ực ti ễn và phát tri ển lý lu ận, vấn đề CBXH ngày càng được bổ

sung và phát tri ển phù hợp. Cho đến nay, có th ể khái quát quan điểm chung

về CBXH của Đảng ta như sau:

73

Thứ nhất, CBXH là bản chất, mục tiêu và động lực của CNXH.

Thứ hai, CBXH là s ự tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ của các

cá nhân, nhóm xã hội trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó, lĩnh vực

kinh tế đóng vai trò ch ủ đạo. CBXH được th ực hi ện trên c ơ sở đảm bảo

nguyên tắc phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế làm chủ yếu,

kết hợp với các hình th ức phân phối theo mức đóng góp vốn cùng các ngu ồn

lực khác và phân phối thông qua hệ thống phúc lợi xã hội, an sinh xã hội.

Thứ ba, trong điều ki ện KTTT định hướng XHCN, CBXH được th ực

hiện gắn liền với TTKT trong t ừng bước và cả quá trình phát tri ển. TTKT là

điều kiện để thực hiện CBXH và ngược lại, thực hiện CBXH là động lực thúc

đẩy TTKT.

Thứ tư, CBXH tạo cơ hội và điều kiện phát triển cho mọi người nhằm sử

dụng tốt năng lực của mình trong quá trình cống hiến và hưởng thụ.

Về thực tiễn

Quán triệt các quan điểm của Đảng vào th ực tiễn xây dựng KTTT định

hướng XHCN và th ực hiện CBXH, cho đến nay, nước ta đã đạt được những

thành tựu quan trọng:

- Một là, từng bước đảm bảo công b ằng trong sản xuất kinh doanh c ủa

các chủ thể kinh tế.

Trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà n ước đã có nhi ều cố

gắng trong vi ệc tạo cơ hội và điều kiện đảm bảo CBXH trong s ản xuất, kinh

doanh của các ch ủ thể kinh t ế, qua đó phát huy tính t ự chủ của các ch ủ th ể

kinh tế, khuyến khích làm giàu h ợp pháp, chống cạnh tranh không lành mạnh

và thu nhập bất hợp pháp…Trước tiên đó là hệ thống pháp luật và chính sách

của Nhà nước ngày càng được xây dựng và hoàn thiện tạo môi trường pháp lý

bình đẳng cho các thành ph ần kinh tế phát triển. Từ năm 1990 đến nay, Quốc

Hội đã thông qua nhiều đạo luật và luật quan trọng. Trước hết phải kể đến đó

là Luật Công ty và Lu ật Doanh nghiệp tư nhân (1990) được ban hành tạo cho

74

các ch ủ th ể có nh ững điều kiện để th ực hi ện các quy ền tự do lựa ch ọn lo ại

hình và quy mô kinh doanh; tự do lựa chọn thị trường; tự do hợp đồng và thuê

mướn nhân công, t ự do lựa chọn phương thức giải quyết các tranh ch ấp kinh

tế…Luật Dân s ự (1996) và Lu ật Th ương mại (1997) đã xác định nh ững

nguyên tắc, quy ph ạm khuyến khích c ạnh tranh trong khuôn kh ổ pháp lu ật,

chống cạnh tranh phi pháp, không phù h ợp với công bằng và ti ến bộ xã hội.

Bộ Luật đất đai (2004), Luật Doanh nghi ệp, Luật Đầu tư (2005), cũng đã tạo

cơ sở pháp lý khuy ến khích đầu tư, phát tri ển, bảo vệ lợi ích của các doanh

nghiệp cũng như của nhân dân.

Những năm gần đây, Quốc Hội đã thông qua hàng lo ạt các đạo luật mới

tiếp tục điều chỉnh theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất,

kinh doanh của các chủ thể kinh tế như: Luật Giá (6/2012), Bộ luật Lao động

(6/2012), Luật Hợp tác xã (11/2012); s ửa đổi, bổ sung một số điều của Luật

Thuế giá trị gia tăng (6/2013), sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thuế thu

nhập doanh nghiệp (6/2013) v.v..

Trong điều kiện môi tr ường pháp lý ngày càng thông thoáng, tính n ăng

động và ch ủ động xã hội của các ch ủ thể kinh tế được phát huy; m ọi người

dân có nhi ều cơ hội và điều kiện hơn trong vi ệc tìm ki ếm việc làm, gia t ăng

thu nhập, đầu tư, phát triển vì lợi ích của mình và của toàn xã hội.

Cùng với xây dựng và hoàn thi ện pháp lu ật, trong nh ững năm đổi mới

vừa qua, Nhà n ước cũng đã tích c ực xây dựng và th ực hi ện các chính sách

phát triển thị trường, tạo sự thống nhất hữu cơ giữa các lo ại thị trường, đó là

các thị trường hàng hóa, dịch vụ sức lao động, tư liệu sản xuất, vốn, khoa học

công nghệ, v.v..Trong các lo ại thị trường nêu trên, chúng ta đã quan tâm hơn

đến việc xây dựng chính sách để phát tri ển thị trường lao động nhằm tạo cơ

hội cho mọi ng ười có vi ệc làm, đảm bảo thu nh ập, ch ống đói nghèo và b ất

công xã h ội. Bên c ạnh đó, Nhà n ước còn quan tâm t ới vi ệc phát tri ển th ị

trường tiền tệ, khoa học công ngh ệ, thông tin, b ất động sản v.v,..đó là yếu tố

75

rất quan tr ọng để tăng năng su ất lao động xã h ội, nâng cao ch ất lượng sản

phẩm, sức cạnh tranh và thu được lợi nhuận cao. Đánh giá về thành tựu này,

Đảng ta kh ẳng định: “Hệ thống thị trường cơ bản (thị trường hàng hóa, d ịch

vụ, thị trường tài chính, th ị trường bất động sản, thị trường khoa học - công

nghệ, thị trường sức lao động) dần dần được hình thành, từng bước mở rộng,

phát triển thống nhất trong cả nước, liên kết khu vực và quốc tế” [31, tr20].

Trong điều kiện phát tri ển của nền KTTT định hướng XHCN, các thành

phần kinh tế được đối xử bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, ngày càng nỗ lực

vươn lên khẳng định vai trò, sức mạnh của mình. Kinh tế Nhà nước giữ vai trò

chủ đạo, kinh tế tập thể không ng ừng được củng cố và phát tri ển. Kinh tế nhà

nước cùng với kinh tế tập th ể tạo thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế

quốc dân. Điều đáng chú ý là thành phần kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định

vai trò là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Sự phát tri ển của

thành phần kinh tế tư nhân đã kéo theo một loạt những động thái tích cực thúc

đẩy sự phát triển của KTTT như: khuyến khích đầu tư tài chính, khai thác các

tiềm năng về vốn; tạo ra nhiều việc làm và những cơ hội mới; tăng thu nhập xã

hội, tạo nên thị trường sôi động và có sức cạnh tranh hơn... Năm 2005, khu vực

kinh tế tư nhân đóng góp vào c ơ cấu giá tr ị sản phẩm trong nước là 8, 51%,

năm 2010 con số này là 10, 7% và năm 2013 lên tới 10,93% [90, tr 69].

Cùng với sự vươn lên mạnh mẽ của thành phần kinh tế tư nhân, thành phần

kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng ngày càng khẳng định ưu thế phát triển.

Đóng góp vào cơ cấu giá trị sản phẩm trong nước của khu vực kinh tế đầu tư

nước ngoài ngày càng t ăng, năm 2005 là 15,16%; n ăm 2010 là 17,69%; n ăm

2013 là 19,55% [90, tr 69]. Hiện nay khu vực đầu tư nước ngoài đã tạo ra trên 2

triệu lao động trực tiếp và kho ảng 3 - 4 tri ệu lao động gián ti ếp, có tác động

mạnh đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH.

Chính vi ệc tạo cơ hội và điều ki ện tích c ực nh ằm đảm bảo cạnh tranh

bình đẳng giữa các thành ph ần kinh tế, các ch ủ thể kinh tế đã khai thông các

76

tiềm năng, ngu ồn lực phát tri ển, thúc đẩy toàn b ộ nền kinh t ế nước ta t ăng

trưởng nhanh và liên t ục nhi ều năm liền, quy mô n ền kinh t ế không ng ừng

được mở rộng. Tốc độ TTKT bình quân h ằng năm giai đoạn 1991 - 1995 đạt

8,2%, giai đoạn 1996 - 2000 đạt 7%, giai đoạn 2001 - 2005 đạt 7,51% và giai

đoạn 2006 - 2010 đạt 7% [65, tr.132]. Việt Nam thuộc nhóm có tốc độ TTKT

vào loại cao nhất trong khu vực. Năm 2011 tăng trưởng GDP đạt 6,24%. Năm

2012, mặc dù bị ảnh hưởng từ diễn biến phức tạp của kinh tế toàn cầu cùng

với chính sách th ắt chặt tài khoá và ti ền tệ trong nước để kiềm chế lạm phát

nên gặp nhiều khó kh ăn, tuy nhiên, v ới sự nỗ lực của cả hệ thống chính tr ị,

cộng đồng doanh nghi ệp và nhân dân c ả nước nên kinh t ế có nh ững chuyển

biến tích c ực và đúng hướng. Tăng tr ưởng kinh t ế ở mức hợp lý là 5,25%.

Năm 2013 tăng trưởng quý sau cao h ơn quý tr ước (quý I t ăng 4,76%, quý II

tăng 5%, quý III t ăng 5,54%, quý IV t ăng 6,04%), cả năm tăng 5,42%. Năm

2014, tốc độ TTKT đạt 5,98%, vượt mục tiêu, kế hoạch đặt ra. Sản xuất công

nghiệp, xây d ựng từng bước được ph ục hồi; khu v ực nông nghi ệp ti ếp tục

tăng trưởng ổn định; các ngành dịch vụ tăng trưởng khá [157].

- Hai là, phân phối các nguồn lực và phân phối thu nhập theo hướng đảm

bảo CBXH trong t ừng bước và c ả quá trình phát tri ển của nền KTTT định

hướng XHCN.

Việc thực hiện CBXH phụ thuộc khá lớn vào việc đầu tư, phân phối các

nguồn lực gi ải quy ết mối quan h ệ th ống nh ất gi ữa phát tri ển toàn b ộ nền

kinh tế và phát tri ển triển các vùng, mi ền, đảm bảo CBXH. Trên th ực tế đã

xuất hiện không ít nền kinh tế tăng trưởng cao nhưng kèm theo đó là khoảng

cách, chênh l ệch giữa các vùng, lãnh th ổ ngày càng l ớn. Sự phát tri ển phiến

diện này s ẽ tác động tiêu c ực tr ở lại tăng tr ưởng kinh t ế và t ạo nên s ự bất

bình đẳng lớn trong xã h ội. Trong th ời kỳ đổi mới, chúng ta đã lựa ch ọn

phương án thúc đẩy tăng trưởng toàn bộ nền kinh tế và khuyến khích đầu tư

phát tri ển vùng; t ạo lập nh ững khu v ực phát tri ển “đầu tàu”, đồng th ời tạo

77

điều kiện khuyến khích các vùng nghèo, khó kh ăn vươn lên. Đây là ph ương

án hết sức phù hợp vừa đáp ứng yêu cầu cạnh tranh của nền KTTT, vừa chủ

động điều ti ết vì nh ững mục tiêu hài hòa trong phát tri ển kinh t ế và gi ải

quyết những vấn đề xã hội.

Những chính sách của Nhà nước về đổi mới kinh tế, lựa chọn phương án

đầu tư đã làm thay đổi đáng kể cơ cấu vùng kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ

trọng của các trung tâm kinh t ế lớn nh ư: Thành ph ố Hồ Chí Minh, Bình

Dương, Vũng Tàu, Đồng Nai, Huế, Đà Nẵng, Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương,

Quảng Ninh…Bên cạnh đó, một số vùng nông thôn, vùng mi ền núi cũng đã

được quy ho ạch và xác định lại cơ cấu sản xuất, nên cơ cấu kinh tế đã được

thay đổi theo hướng khai thác th ế mạnh của từng vùng về đất đai, tài nguyên

thiên nhiên, lao động và vị trí địa lý một cách hợp lý hơn. Điển hình là các khu

vực trung du và miền núi phía Bắc, khu vực Tây Nguyên, những nơi được đánh

giá là giàu tài nguyên, khoáng sản, giàu tiềm năng thủy điện, du lịch v.v..

Chúng ta đã và đang đầu tư vào các chương trình và dự án lớn như Đường

Hồ Chí Minh, tr ồng 5 tri ệu ha rừng, Thủy điện Sơn La, Dự án lọc dầu Dung

Quất, nhà máy điện đạm Cà Mau, dự án lọc dầu Nghi Sơn…; các chương trình

thủy lợi, giao thông nông thôn, n ước sạch, kiên cố hóa tr ường học, y tế cộng

đồng và an toàn vệ sinh thực phẩm v.v..Trong các chương trình đó, có nhiều dự

án được tài trợ từ vốn đầu tư nước ngoài qua các tổ chức tài chính thế giới như

WB, ADB, IMF…Sự đầu tư đó đang và sẽ đem lại hiệu quả lớn, tạo điều kiện

cho các vùng khó kh ăn phát tri ển kinh tế - xã h ội, từng bước rút ng ắn chênh

lệch về đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân giữa các vùng.

Cùng với việc chú trọng phát triển các khu vực kinh tế trọng điểm, Đảng

và Nhà nước ta cũng luôn quan tâm phát tri ển kinh tế - xã h ội, xóa đói giảm

nghèo ở các vùng dân tộc và miền núi nhằm thu hẹp khoảng cách về mọi mặt

giữa mi ền núi và mi ền xuôi. Chính ph ủ đã phê duy ệt và ch ỉ đạo th ực hi ện

hàng lo ạt các chính sách, ch ương trình quan tr ọng nh ư Ch ương trình 135,

78

Chương trình 173, Ch ương trình 186, v.v.. để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho

các xã đặc bi ệt khó kh ăn ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa. N ăm 2005, Chính

phủ đã phê duyệt Chương trình phát tri ển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó

khăn, vùng đồng bào dân t ộc miền núi giai đoạn 2006 - 2010 (Ch ương trình

135 giai đoạn II) và đã đạt kết quả đáng ghi nhận. Trong gần 5 năm, tổng kinh

phí đầu tư cho 1848 xã đặc biệt khó khăn và 3.274 thôn bản đặc biệt khó khăn

là 14.024,7 tỷ đồng.[64, tr.154] Nh ờ nguồn vốn này, kết cấu hạ tầng, nhất là

hệ thống giao thông nông thôn, thu ỷ lợi nhỏ, đường điện, trường học, trạm y

tế, nước sinh hoạt,... được xây dựng, nông thôn mi ền núi, vùng đồng bào dân

tộc thiểu số đã mang diện mạo mới, khang trang. Bình quân m ỗi năm, các xã

thuộc chương trình 135 đã giảm 4 - 5% hộ nghèo trong giai đoạn 1999 - 2005

và giảm 2 - 3% h ộ nghèo trong giai đoạn 2006 - 2010, [15, tr.88] góp ph ần

quan trọng vào thành tựu giảm nghèo chung trong cả nước.

Về phân phối thu nhập, Nhà nước ta đã mạnh dạn bỏ kiểu phân phối bình

quân, cào b ằng, áp d ụng nguyên t ắc phân ph ối mới phù h ợp với điều ki ện

kinh tế - xã h ội ở nước ta. Nh ờ đó, nguồn lực vật chất và tinh th ần của con

người được phát huy, kh ơi dậy tính năng động, sáng tạo của mỗi người dân,

đóng góp nhân tài, vật lực cho phát triển kinh tế - xã hội.

Hiện nay, Chính ph ủ thường xuyên th ực hiện các ch ương trình cải cách

chế độ tiền lương, xây dựng các ngạch, bậc và thang lương hợp lý; điều chỉnh

mức lương tối thiểu của người lao động. Nhờ đó, thu nh ập của các tầng lớp

dân cư, nhất là cán bộ, viên chức, hưu trí được đảm bảo hơn, đáp ứng những

nhu cầu cơ bản và từng bước nâng cao của các đối tượng này. Các chính sách

thuế thu nh ập, th ực hi ện phân ph ối lại cho ng ười lao động và đảm bảo đời

sống tối thiểu cho nh ững người có công v ới cách mạng, những người không

có khả năng lao động hoặc hết khả năng lao động cũng luôn được quan tâm

thực hiện. Việc làm này, một mặt đảm bảo CBXH, mặt khác còn thể hiện đạo

lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta.

79

- Ba là, giải quyết các chính sách xã hội theo hướng gắn tăng trưởng kinh

tế với công bằng, tiến bộ xã hội; tạo cơ hội và điều kiện phát huy vai trò, năng

lực của người lao động.

Cùng với quá trình đổi mới kinh tế toàn diện, nhẳm đảm bảo mục tiêu gắn

TTKT với thực hiện CBXH trong từng bước và từng chính sách phát triển, tạo

cơ hội và điều kiện phát huy vai trò của người lao động, Đảng và Nhà nước ta

đã tích cực xây dựng và thực hiện các chính sách xã hội. Hệ thống chính sách

xã hội luôn được coi tr ọng cùng với chính sách phát tri ển kinh tế, giải quyết

việc làm, chống thất nghiệp, tạo điều kiện cho mọi người được làm việc trong

môi tr ường an toàn; b ảo đảm công b ằng trong phân ph ối ti ền lương và thu

nhập; bảo đảm phân tầng xã hội tích cực, không làm gia tăng quá đáng mức độ

chênh lệch về thu nhập giữa các vùng, các nhóm dân cư; tăng trưởng phải gắn

với xóa đói, giảm nghèo, mọi người, nhất là người nghèo, đều được hưởng lợi

từ thành quả của TTKT.

Hệ thống chính sách xã h ội ở nước ta được xây dựng trên nền tảng lấy

con người làm trung tâm, coi con ng ười là mục tiêu và động lực của sự phát

triển. Chính sách xã h ội luôn quan tâm t ạo cơ hội và điều kiện cho người lao

động vươn lên, vượt qua khó khăn để khẳng định năng lực của mình; đặc biệt

là quan tâm t ới nh ững cá nhân và gia đình ng ười có công v ới cách m ạng,

những người có hoàn c ảnh đặc biệt khăn đảm bảo cuộc sống, hòa nh ập cộng

đồng. Hiện nay, tỷ trọng đầu tư ngân sách Nhà nước cho chính sách xã hội đạt

trên 28%. Cùng v ới tăng cường đầu tư của Nhà nước, chúng ta đã huy động

mọi ngu ồn lực, nh ất là ngu ồn lực trong nhân dân t ừ các c ơ sở, địa ph ương

theo tinh th ần xã h ội hóa; đồng th ời th ực hi ện lồng ghép các ch ương trình

mục tiêu khác nh ằm sự dụng có hiệu quả nguồn lực cho thực hiện chính sách

xã hội. Nguồn lực huy động từ cộng đồng, cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức

kinh tế - xã h ội và sự hợp tác qu ốc tế chiếm khoảng 30% trong t ổng chi cho

lĩnh vực xã hội. Cho đến nay, nh ững thành tựu đạt được trong vi ệc thực thi

các chính sách xã hội là hết sức to lớn:

80

Về lao động - vi ệc làm: Các chính sách v ề lao động, việc làm của Nhà

nước đã chuyển biến theo hướng ngày càng phù h ợp hơn với nền KTTT định

hướng XHCN. Bộ luật Lao động được sửa đổi nhiều lần qua các n ăm (2002,

2006, 2007, 2012) đã tạo hành lang pháp lý cho việc hoàn thiện các tiêu chuẩn

lao động, thiết lập quan hệ lao động giữa các chủ thể, điều chỉnh các quan hệ xã

hội có liên quan đến lao động như hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập

thể, tiền lương, bảo hiểm. Theo Báo cáo của Chính phủ được trình bày tại kỳ

họp Quốc hội khóa XIII, trong vòng 3 năm, từ năm 2010 cho tới 2013 chúng ta

đã tạo việc làm cho khoảng 4,6 triệu người, trung bình năm khoảng 1,54 triệu

người, trong đó xuất khẩu lao động 253 nghìn ng ười. Tỷ lệ thất nghiệp ở khu

vực thành thị luôn ở mức dưới 4%, hiện khoảng 3,48% [151].

Chính sách ti ền lương từng bước được đổi mới theo nguyên t ắc th ị

trường. Mức lương tối thi ểu được điều ch ỉnh tăng dần, phù h ợp với điều

kiện kinh t ế - xã h ội của đất nước. Thu nh ập dân c ư được nâng lên. Điều

kiện lao động và quan h ệ lao động có b ước được cải thiện; tranh ch ấp lao

động và đình công gi ảm.

Chính sách gi ảm nghèo: Đảng và Nhà n ước ta luôn nh ất quán về chính

sách gi ảm nghèo b ền vững đi đôi với khuyến khích làm giàu h ợp pháp. Đã

đẩy mạnh việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Chính phủ và Chương

trình mục tiêu qu ốc gia gi ảm nghèo, trong đó chú tr ọng chính sách gi ảm

nghèo, khắc phục nguy cơ tái nghèo, nhất là đối với các huyện nghèo, xã biên

giới, xã, thôn, b ản đặc biệt khó kh ăn; thu hẹp chênh lệch về mức sống và an

sinh xã h ội so v ới cả nước. Tỷ lệ hộ nghèo c ả nước gi ảm bình quân 1,5 -

2%/năm; các huy ện, xã đặc bi ệt khó kh ăn có t ỷ lệ hộ nghèo gi ảm 4%/n ăm

theo chuẩn nghèo từng giai đoạn. Năm 1993 tỷ lệ hộ nghèo cả nước là 58,1%,

đến năm 2011 giảm còn 9,5%, năm 2013 còn 7,8%, năm 2014 còn 5,8 - 6%%

[33, tr110]. Thành t ựu gi ảm nghèo ở Vi ệt Nam đã được Liên h ợp qu ốc và

cộng đồng quốc tế đánh giá cao.

81

Chính sách ưu đãi người có công và hỗ trợ các đối tượng chính sách. Trên

98% gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung

bình của người dân nơi cư trú. Số người hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên tăng

từ 1,7 tri ệu cuối năm 2010 lên trên 2,5 tri ệu năm 2013. Mở rộng diện và tăng

mức hỗ trợ đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Cấp gạo cho học sinh dân tộc bán

trú và học sinh ở vùng đặc biệt khó khăn. Hỗ trợ chi phí học tập, sinh hoạt cho

trẻ em nghèo, trẻ em dân tộc thiểu số và ở vùng khó khăn. Thực hiện tốt công tác

cứu trợ đột xuất và khắc phục hậu quả thiên tai. Các chương trình nhà ở xã hội,

cụm tuyến dân cư ở Đồng bằng sông Cửu Long, nhà ở tránh lũ ở khu vực miền

Trung được tích cực thực hiện. Dư nợ tín dụng cho chính sách xã h ội đến hết

tháng 9 năm 2013 đạt 118,5 nghìn tỷ đồng, tăng 32,4% so với cuối năm 2010.

Chăm sóc sức khỏe của nhân dân có nhiều tiến bộ. Mạng lưới và cơ sở vật

chất kỹ thuật y tế tiếp tục phát triển. Chất lượng bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, khám

chữa bệnh được nâng lên. Y tế dự phòng được quan tâm, không để bùng phát dịch

bệnh lớn. Đã triển khai nhiều giải pháp giảm quá tải bệnh viện. Ưu tiên đầu tư cho

các bệnh viện quá tải cao, nh ất là tuyến trung ương và tuyến cuối. Nhiều công

trình bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện đã và đang hoàn thành đưa vào sử dụng.

Tăng cường quản lý, kiểm soát thuốc, giá thuốc và vệ sinh an toàn thực phẩm. Tỷ

lệ tham gia bảo hiểm y tế tăng từ 63% năm 2010 lên 71,2% năm 2013 [151].

Tốc độ tăng dân số được kiểm soát. Công tác ch ăm sóc ng ười cao tu ổi,

bảo vệ, chăm sóc và giáo d ục trẻ em, gia đình, bình đẳng giới, vì sự tiến bộ

của phụ nữ có tiến bộ.

Về nguyên nhân thành tựu:

- Nguyên nhân chủ quan:

Trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng ta luôn tích c ực đổi mới trong

tư duy lý luận về KTTT và thực hiện CBXH, trên tinh th ần tôn trọng quy luật

khách quan, bám sát nh ững yêu cầu, đòi hỏi của sự phát tri ển trong nước và

thế giới, hướng tới mục tiêu vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân

82

chủ, công b ằng, văn minh. Xác định kinh t ế là tr ọng tâm, kiên trì lãnh đạo

thực hiện các quyết sách kinh t ế phù hợp, đồng thời chú trọng giải quyết các

chính sách xã h ội, vừa thúc đẩy tăng tr ưởng kinh t ế, vừa th ực hi ện CBXH

trong từng bước và cả quá trình phát tri ển. Đường lối, chính sách pháp lu ật

của Đảng và Nhà n ước cơ bản là đúng đắn, hợp lòng dân đã động viên, khai

thác, phát huy m ạnh mẽ ngu ồn lực trong nhân dân, cùng v ới Nhà nước giải

quyết nh ững mục tiêu, nhi ệm vụ đặt ra. Đây là nguyên nhân c ơ bản, có ý

nghĩa quyết định đối với những thành công c ủa việc thực hi ện CBXH trong

điều kiện KTTT định hướng XHCN ở nước ta thời gian qua.

- Nguyên nhân khách quan:

Những năm qua, sự nghiệp đổi mới, công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa đất

nước đã đạt được những thành tựu cơ bản, tạo tiền đề quan trọng đảm bảo thực

hiện có hiệu quả CBXH ở nước ta. Nền KTTT định hướng XHCN đã từng bước

hình thành và phát triển; thể chế KTTT luôn được quan tâm xây dựng và từng

bước hoàn thi ện; các yếu tố th ị trường và các lo ại thị trường đang được hình

thành, phát triển. Kinh tế tăng trưởng, sức sản xuất được giải phóng, các nguồn

lực bên trong và bên ngoài được khai thác; sự nỗ lực của các doanh nghiệp thuộc

các thành phần kinh tế và các chủ thể khác ngày càng tăng. Cơ cấu kinh tế đã có

bước đầu chuyển dịch theo hướng công nghiệp hiện đại; cơ cấu lao động xã hội

đã chuyển dịch theo hướng tích cực; chất lượng nguồn nhân lực ngày càng gia

tăng,…đang tạo những cơ hội và điều kiện tích cực cho mọi người dân phát huy

tốt vai trò, năng lực cống hiến và hưởng thụ những thành quả lao động xã hội

trên cơ sở nguyên tắc công bằng và bình đẳng xã hội.

3.1.2. Những hạn chế

Về nhận thức

Trong th ời kỳ đổi mới, nh ận th ức của Đảng về th ực hi ện CBXH trong

điều kiện KTTT định hướng XHCN ngày càng rõ, phù h ợp với thực tế hơn,

tạo điều kiện đưa đến những thành tựu quan tr ọng trong th ực hiện CBXH ở

83

nước ta, tuy nhiên, hi ện nay, trước những biến động nhanh chóng, khó l ường

của thực tiễn trong nước và thế giới, còn bộc lộ nhiều hạn chế ảnh hướng lớn

tới hiệu quả thực hiện CBXH ở nước ta hiện nay, đó là:

Chưa hình thành được khung lý lu ận đầy đủ về KTTT định hướng

XHCN, nhất là về một số nội dung định hướng XHCN trong nền KTTT. Như

đã khẳng định, hiện nay, chúng ta đang trong th ời kỳ quá độ lên CNXH, s ự

tồn tại đa dạng các hình th ức sở hữu, quản lý và phân ph ối tất yếu sẽ dẫn tới

tình trạng bất công, bất bình đẳng xã hội, đây là một thực tế khách quan, tuy

nhiên giới hạn của bất công, bất bình đẳng xã hội như thế nào để có thể chấp

nhận được, và trên cơ sở đó, chủ động điều tiết, khắc phục có hi ệu quả đang

là vấn đề lớn đặt ra cần phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện về mặt lý luận.

Vai trò, v ị trí c ủa các ch ủ th ể kinh t ế trong điều ki ện KTTT định

hướng XHCN cũng chưa được xác định rõ, ch ưa có nh ững quy định cụ thể,

những ph ương th ức qu ản lý phù h ợp nh ằm phát huy vai trò ch ủ đạo của

thành ph ần kinh t ế nhà n ước, vai trò động lực của thành ph ần kinh t ế tư

nhân, và đặc bi ệt là ch ưa tạo cơ ch ế cạnh tranh lành m ạnh gi ữa các thành

phần kinh t ế, điều này dẫn tới những hạn chế, bất cập trong phân b ổ các lợi

ích, th ậm chí vi ph ạm các nguyên t ắc công b ằng, bình đẳng gi ữa các ch ủ

thể kinh tế trong nền KTTT.

Nhận thức về quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, CBXH cũng

chưa thật rõ ràng, c ụ thể. Đảng ta đã xác định mục tiêu chi ến lược gắn tăng

trưởng kinh tế với thực hiện CBXH trong từng bước và từng chính sách phát

triển, đây là chi ến lược phát tri ển hết sức phù hợp, tuy nhiên, làm th ế nào để

khuyến khích lao động làm giàu? TTKT nhanh lại vừa đảm bảo CBXH? Làm

sao để không vì bảo đảm CBXH mà triệt tiêu động lực TTKT? Đây vẫn đang

là nh ững câu h ỏi lớn đặt ra, ch ưa được gi ải đáp th ấu đáo, dẫn tới nh ững

phương hướng và giải pháp thực hiện còn nhiều khó khăn, lúng túng. Việc đổi

mới tư duy, nâng cao nh ận thức về gi ải quyết các v ấn đề xã h ội nhằm thực

84

hiện CBXH còn ch ậm, nhiều khi bị coi nh ẹ. Chưa nhận thức đầy đủ vai trò,

tầm quan trọng của việc giải quyết các vấn đề xã hội, của mô hình và phương

thức qu ản lý phát tri ển xã hội hài hòa v ới mô hình và ph ương thức quản lý

phát triển kinh tế.

Hiện nay, các phân tích, d ự báo về sự biến đổi trong cơ cấu xã h ội, sự

phân tầng xã hội trong điều kiện KTTT ở nước ta còn tương đối hạn chế. Nhất

là việc nhận thức nguyên nhân, th ực trạng và ph ương thức giải quyết những

tác động tiêu cực của KTTT đối với đời sống xã hội, gây bất công, bất bình

đẳng xã hội nghiêm trọng như: làm giàu phi pháp, tham nh ũng, lãng phí, các

tệ nạn xã hội v.v..

Về thực tiễn

Thực hi ện CBXH trong điều ki ện KTTT định hướng XHCN ở nước ta

hiện nay, còn những hạn chế, khó khăn chủ yếu như sau:

- Tình tr ạng phân bi ệt đối xử gi ữa các thành ph ần kinh t ế ch ưa được

khắc phục, dẫn tới bất công xã hội chưa được đẩy lùi.

Nhiều năm qua, m ặc dù chúng ta đã có nhi ều cố gắng trong vi ệc ban

hành và th ực thi các chính sách kinh t ế nhằm khuyến khích và t ạo điều kiện

cho mọi thành ph ần kinh tế, mọi tổ chức và cá nhân tham gia tích c ực, chủ

động trong các hoạt động kinh tế…, tuy nhiên, cho đến nay, những nỗ lực này

chưa đạt được kết qu ả nh ư mong đợi. Tình tr ạng phân bi ệt đối xử giữa các

thành ph ần kinh t ế vẫn còn t ồn tại, gây b ất công xã h ội ngày càng sâu s ắc.

Nhà nước chưa tạo lập được môi trường hợp tác, cạnh tranh bình đẳng thực sự

giữa các thành phần kinh tế, qua đó các tiềm năng kinh tế chưa được phát huy

một cách tương xứng. Trong Báo cáo t ổng kết một số vấn đề lý luận và th ực

tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016), Đảng ta đã khẳng định: “Quyền tự do

kinh doanh ch ưa được tôn trọng đầy đủ, môi tr ường kinh doanh ch ưa thật sự

bảo đảm cạnh tranh công b ằng, lành mạnh giữa các doanh nghi ệp thuộc mọi

thành phần kinh tế” [33, tr 73].

85

Điểm nổi bật, gây nhiều bức xúc trong xã hội hiện nay chính là sự ưu ái,

bao cấp của Nhà nước đối với các doanh nghi ệp nhà nước, từ đó dẫn tới tình

trạng độc quyền trong các ho ạt động sản xuất, kinh doanh c ủa hệ thống các

doanh nghiệp này. Trong thời gian qua những vụ tăng giá liên tục gây bức xúc

dư luận trong các lĩnh vực cung ứng điện, xăng dầu, dịch vụ viễn thông…, là

những minh ch ứng rõ nét cho tình tr ạng độc quyền, thao túng th ị trường của

không ít những doanh nghiệp nhà nước. Bản chất cốt lõi của nền KTTT là sự

bình đẳng giữa các thành ph ần, các khu v ực kinh t ế. Mu ốn vậy phải ch ống

độc quyền. Trong thông điệp đầu năm 2014, Th ủ tướng Chính ph ủ Nguyễn

Tấn Dũng đã nhấn mạnh quyết tâm xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp và những

cơ chế chính sách tạo sự bất bình đẳng trong kinh doanh. Mục tiêu là tạo môi

trường cạnh tranh bình đẳng, nâng cao hi ệu qu ả của khu v ực kinh t ế nhà

nước, thúc đẩy kinh tế tư nhân phát tri ển, góp phần ổn định và tái cơ cấu nền

kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, cho đến nay, tình tr ạng ưu đãi thái quá đối với các

doanh nghi ệp nhà n ước còn t ồn tại khá ph ổ bi ến trên nhi ều khía c ạnh, từ

chính sách cho đến thủ tục hành chính, tín d ụng, thuế…Hiện nay, khá nhi ều

các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước đang được sử dụng những nguồn lực to

lớn của đất nước như tài nguyên, đất đai, vốn đầu tư; được ưu đãi về tín dụng,

mặt bằng kinh doanh. Ví d ụ, các ngân hàng th ương mại qu ốc doanh được

ngân sách nhà nước và bảo hiểm xã hội gửi hàng trăm ngàn tỷ với lãi suất tiền

gửi không kỳ hạn trong th ời gian dài; các doanh nghi ệp được Chính phủ vay

hộ tiền để kinh doanh hay được bảo lãnh cho các khoản vay của mình, khi gặp

khó khăn thì được Nhà nước “cứu trợ”, “bơm thêm vốn”, v.v..Nhưng mặc dù

được ưu đãi, ho ạt động sản xu ất, kinh doanh c ủa bộ ph ận này v ẫn trì tr ệ,

không tương xứng với các ưu đãi được hưởng, ch ưa kh ẳng định được sức

mạnh đầu tầu của nền kinh tế. Không nh ững vậy, do chính c ơ chế ưu đãi và

chính sách qu ản lý, giám sát còn nhi ều bất cập đã nảy sinh nhi ều tiêu c ực

trong ho ạt động của các doanh nghi ệp nhà nước nh ư tham nh ũng, lãng phí,

thất thoát nghiêm trọng, ảnh hưởng nặng nề đến toàn bộ nền kinh tế.

86

Trong những năm gần đây, tình tr ạng dư nợ của các doanh nghi ệp nhà

nước có xu h ướng tăng cao. Theo báo cáo s ố 490/BC - CP c ủa Chính ph ủ,

năm 2013, tổng nợ của doanh nghiệp nhà nước là gần 1,7 triệu tỷ đồng. Trong

đó, nợ của doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là 1,5 triệu

tỷ đồng, tương đương 52,5% GDP. Bên cạnh đó, tình trạng làm ăn thua lỗ của

các doanh nghi ệp nhà n ước cũng ngày càng tr ầm tr ọng. Tính đến hết năm

2013, số lượng các tổng công ty, các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ là

20, với tổng tiền là 21.000 tỷ đồng. Trong đó điển hình là: Tổng công ty Hàng

hải Vinalines lỗ 6.958 tỷ đồng, kế đến là Tổng công ty Lắp máy Việt Nam lỗ

346 tỷ đồng, Tổng công ty truyền thông VTC 337 t ỷ đồng, Tổng công ty xây

dựng đường thủy lỗ 289 tỷ đồng...Điều đáng chú ý là, hi ện nay, nhi ều doanh

nghiệp Nhà n ước ho ạt động kém hi ệu qu ả, thua l ỗ tri ền miên, đáng lẽ ph ải

được gi ải thể thì v ẫn được Nhà nước bao cấp, “hà hơi tiếp sức”, kéo dài s ự

tồn tại. Chẳng những vốn được cung cấp với những điều kiện ưu đãi mà nhiều

khoản nợ xấu kh ổng lồ của doanh nghi ệp nhà n ước cũng được khoanh n ợ,

giãn nợ, thậm chí xóa nợ.

Không ch ỉ các doanh nghi ệp nhà n ước, hi ện nay, các doanh nghi ệp có

vốn đầu tư tr ực ti ếp nước ngoài (FDI) c ũng được hưởng nhi ều ưu đãi khi

tham gia đầu tư tại Việt Nam. Thực hiện chính sách ưu đãi đối với các doanh

nghiệp có v ốn đầu tư nước ngoài t ại Vi ệt Nam là ch ủ tr ương phù h ợp của

Đảng và Nhà nước ta nhằm khuyến khích đầu tư, phát triển tại Việt Nam, tuy

nhiên, vì ưu đãi một cách thái quá đã gây ra tình trạng bất công, phân biệt đối

xử, vi ph ạm nguyên tắc công bằng, bình đẳng giữa các ch ủ thể kinh tế trong

điều kiện KTTT ở nước ta. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài đã lợi dụng sự ưu ái của Nhà nước, có các hành vi trốn thuế, gian lận, làm

thất thu ngân sách của Nhà nước. Điển hình là các doanh nghiệp FDI như Coca -

Cola, Adidas, và gần đây là doanh nghi ệp Metro - một doanh nghi ệp quy mô

lớn, nhưng có tới 11 năm làm ăn thua lỗ và không n ộp ngân sách nhà n ước,

nhưng vẫn liên tục mở rộng sản xuất, chiếm lĩnh thị trường trên cả nước.

87

Ngược lại với các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài được ưu đãi, các doanh nghiệp tư nhân lại bị đối xử tương đối bất

công. Đường lối phát triển kinh tế tư nhân được Đảng ta kh ẳng định qua các

kỳ Đại hội, song Nhà nước vẫn chưa có những chính sách tạo thuận lợi đầy đủ

(về môi tr ường pháp lý, v ốn, đất đai, mặt bằng sản xu ất kinh doanh, th ị

trường…) giúp thành ph ần kinh tế này phát tri ển. Ở nước ta, khu vực kinh tế

tư nhân chi ếm số lượng đông đảo nh ất, đóng góp l ớn cho GDP h ằng năm,

nhưng lại là khu v ực chịu nhiều tổn thương nhất. Các doanh nghi ệp tư nhân

hầu như chưa có được các chính sách h ỗ trợ và các ch ương trình ưu đãi cần

thiết của Chính ph ủ. Nh ững chính sách kinh t ế và môi tr ường kinh doanh

không ổn định, dẫn tới nhiều doanh nghiệp tư nhân kinh doanh theo ki ểu “cơ

hội”, không thiết lập được chiến lược phát triển bền vững. Nếu như các doanh

nghiệp nhà n ước luôn nh ận được sự bảo lãnh c ủa Chính ph ủ đối với các

khoản vay ưu đãi, thì các doanh nghiệp tư nhân không có được điều này. Hầu

hết các doanh nghiệp tư nhân đều phải chấp nhận những khoản vốn vay với lãi

suất cao theo thị trường, vượt quá khả năng thanh toán. Bên cạnh đó, các doanh

nghiệp tư nhân còn gặp nhiều khó khăn khác như, chi phí sản xuất kinh doanh

tăng cao, thị trường tiêu thụ nhỏ hẹp, lượng hàng hóa tồn kho nhiều…Thậm chí

các doanh nghi ệp tư nhân còn ch ịu nhiều bất cập về chính sách của nhiều cơ

quan hành chính gây khó dễ, phiền hà cho doanh nghiệp v.v..

- Phân ph ối nguồn lực và phân ph ối thu nh ập cho ng ười lao động còn

nhiều bất cập, gây bất công xã hội

Hiện nay ở nước ta, vi ệc triển khai các chính sách phân ph ối nguồn lực

cho đầu tư, phát tri ển còn mang tính ch ất dàn trải dẫn tới tình tr ạng lãng phí,

kém hiệu quả, chưa thực sự đảm bảo công bằng trong việc tạo cơ hội và điều

kiện phát tri ển cho các doanh nghi ệp và đa số nhân dân. Nhi ều dự án đầu tư

với số vốn lớn hàng trăm, thậm chí hàng ngàn t ỷ đồng nhưng lại không được

tính toán một cách hợp lý dẫn tới hiệu quả sử dụng thấp. Hàng lo ạt các công

88

trình giao thông công cộng sử dụng ngân sách nhà nước không được giám sát,

quản lý ch ặt chẽ, thời gian thi công kéo dài, ch ất lượng công trình kém. C ơ

chế xin - cho trong phân ph ối nguồn lực vẫn tồn tại, dẫn tới thực tế là nhi ều

dự án đầu tư được thực hiện không phải xuất phát từ yêu cầu thực tế của địa

phương mà ch ủ yếu dựa trên các quan h ệ đối tác qua l ại, dẫn tới nảy sinh

tham nhũng, tiêu cực, ảnh hưởng lớn tới kết quả của các dự án.

Các nguồn lực về vốn, tài nguyên, đất đai của nhà nước bị lãng phí, th ất

thoát nghiêm tr ọng. Việc phân bổ và sử dụng các ngu ồn lực trong kh ối các

doanh nghiệp nhà nước thường được tập trung với khối lượng lớn nhưng hiệu

quả còn thấp. Nhiều doanh nghiệp đã sử dụng vốn đầu tư vào các ngành, nghề

không thu ộc lĩnh vực kinh doanh chính, d ẫn đến thua l ỗ. Trong khi đó rất

nhiều các doanh nghi ệp tư nhân cần vốn để đầu tư phát tri ển sản xu ất kinh

doanh thì lại không được phân bổ, dẫn tới thiếu vốn, sản xuất kinh doanh gặp

nhiều khó khăn, đình trệ.

Hiện nay, ở nước ta, tình tr ạng mất cân đối trong c ơ cấu đầu tư giữa

các vùng, mi ền, các ngành, l ĩnh vực kinh t ế - xã h ội đang tồn tại khá ph ổ

biến. Để thực hi ện CBXH, ngoài vi ệc chú tr ọng đầu tư phát tri ển đối với

các vùng kinh t ế trọng điểm, các ngành kinh t ế gi ữ vai trò động lực, cần

phải có sự đầu tư cho các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân t ộc thiểu

số, vùng c ăn cứ cách m ạng - n ơi đang gặp nhi ều khó kh ăn, nh ằm từng

bước kh ắc ph ục tình tr ạng “b ất công t ự nhiên” do điều ki ện tự nhiên và

lịch sử để lại, qua đó cải thi ện đời sống của ng ười dân, t ạo điều ki ện cho

người dân ti ếp cận công b ằng về cơ cơ hội và điều ki ện thu ận lợi trong

sản xuất kinh doanh và trong đời sống như vốn, tín d ụng, môi tr ường kinh

doanh và c ơ sở hạ tầng nh ư điện, đường sá, n ước sạch, tr ường học, tr ạm

xá v.v.. Tuy nhiên, hi ện nay, vi ệc phân b ổ nguồn lực đến các vùng kinh t ế

khó kh ăn, vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn r ất hạn ch ế, dẫn tới

khoảng cách, chênh l ệch vùng, mi ền ngày càng gia t ăng. Tình tr ạng thi ếu

89

việc làm và d ư thừa lao động ở khu v ực nông thôn, vùng mi ền núi, vùng

sâu, vùng xa đang ngày càng tr ở nên b ức xúc. M ặc dù Nhà n ước ta trong

những năm qua đã tri ển khai nhi ều dự án đầu tư, phát tri ển đến các khu

vực mi ền núi, vùng sâu, vùng xa, nh ưng hi ệu qu ả đầu tư th ấp, dàn tr ải,

chồng chéo, ch ưa đáp ứng được yêu cầu. Theo s ố liệu thống kê c ủa Bộ Kế

hoạch và Đầu tư, giai đoạn 2011 - 2015, t ổng vốn cho Ch ương trình 135

đạt 15.581 t ỷ đồng. T ừ năm 2013, bên c ạnh Chương trình 135, các địa bàn

đồng bào dân t ộc thi ểu số còn được nh ận thêm nhi ều hỗ tr ợ từ ch ương

trình nh ư 30a, Nông thôn m ới, hỗ trợ các xã d ọc tuyến biên gi ới,…nhưng

miền núi n ước ta hi ện nay v ẫn là vùng kinh t ế lạc hậu, ch ậm phát tri ển so

với cả nước. Ba vùng nghèo nh ất là Tây Nguyên, B ắc Trung B ộ và mi ền

núi phía B ắc, ng ười dân v ẫn th ường xuyên ph ải đối mặt với đói nghèo,

bệnh tật, thi ếu nước sinh ho ạt; tình tr ạng thoái hóa đất đai và tài nguyên

rừng đang ngày càng gia t ăng.

Trong lĩnh vực phân ph ối thu nh ập, nguyên tắc bảo đảm công bằng vẫn

chưa được th ực hi ện đầy đủ. Kinh t ế tăng tr ưởng, nh ưng lợi ích c ủa tăng

trưởng không được phân bổ một cách rộng rãi; số người có thu nh ập mới và

mức nâng cao thu nh ập của mỗi người dân ch ưa tương xứng. Qua nhi ều lần

cải cách, tiền lương tối thiểu tăng lên, nhưng vẫn chưa theo cơ chế thị trường.

Việc tăng lương cho ng ười lao động không đủ bù tr ượt giá tiêu dùng, nên

người lao động gặp nhiều khó khăn, nhất là nhóm có thu nhập thấp.

Nhìn chung ti ền lương trong m ọi khu v ực hi ện nay m ới ch ỉ đáp ứng

những nhu cầu tối thiểu ở mức độ nhất định cho bản thân người lao động như

ăn, mặc, ở, đi lại chữa bệnh và học tập. Tiền lương chưa đủ để tái sản xuất mở

rộng sức lao động; đặc biệt là chưa đủ để người lao động sống cuộc sống bình

thường, nhất là chăm sóc y tế khi họ nghỉ hưu. Nói cách khác, tiền lương hiện

nay chưa thực sự là giá c ả của sức lao động, chưa đảm bảo mức tương xứng

giữa lao động và hưởng thụ của người lao động.

90

Bên cạnh đó, chính sách ti ền lương ở nước ta còn mang n ặng tính bình

quân, do vậy, không khuyến khích nâng cao trình độ chuyên môn, tạo nên sự

bất bình đẳng khá lớn giữa các đối tượng, ngành, ngh ề và khu v ực. Đối với

khu vực hành chính, s ự nghi ệp, ti ền lương của công ch ức hành chính được

tính theo hệ số, ngạch bậc tương đối thấp, nhưng thu nhập ngoài lương lại rất

cao, phụ thuộc vào vị trí, ch ức danh, công vi ệc quản lý, vùng, mi ền, không

minh bạch, không có kh ả năng kiểm soát được. Hệ số lương thấp, nhưng thu

nhập ngoài lương cao là m ột thực tế phổ biến, đang làm cho chính sách ti ền

lương của nước ta bị bóp méo; thực chất đó là các dạng tham nhũng của công

chức khi có quy ền lực trong tay, không ch ỉ trong l ĩnh vực kinh t ế, mà còn

trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như hành chính, văn hóa, xã hội.

Đối với các doanh nghi ệp, chính sách ti ền lương và thu nh ập ch ưa có

sự thống nh ất, ch ưa tạo môi tr ường bình đẳng đối với các lo ại hình doanh

nghiệp. Nhà n ước vẫn kh ống ch ế mức ti ền lương tối thi ểu và quy định về

thang, bảng lương cứng đối với doanh nghi ệp nhà n ước, điều này vi ph ạm

nguyên tắc phân ph ối theo lao động và hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh,

không tạo động lực cho người lao động và khuyến khích c ạnh tranh.

Sự chênh lệch về thu nh ập trong từng doanh nghiệp và gi ữa các khu vực

doanh nghiệp đang có xu hướng gia tăng, nhất là chênh lệch thu nhập giữa lao

động quản lý và lao động trực tiếp sản xuất; giữa các doanh nghiệp có lợi thế độc

quyền và doanh nghiệp không có lợi thế độc quyền; giữa các doanh nghiệp trong

các ngành, lĩnh vực khác nhau như nông, lâm, thủy sản thường có thu nhập thấp

và những ngành khác như dầu khí, bưu điện, hàng không, có thu nhập cao v.v..

- Bất cập trong việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện công

bằng xã hội.

Trải qua gần 30 năm đổi mới, kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành

tích tăng trưởng đầy ấn tượng. Tuy nhiên, đang có những lo ng ại không ph ải

vô căn cứ về chất lượng và sự bền vững của những thành tích đó. Thời gian

91

qua, TTKT ch ủ yếu theo chi ều rộng, ch ưa đảm bảo tính h ợp lý và hi ệu quả

của việc sử dụng các yếu tố tăng trưởng. TTKT được thực hiện chủ yếu bằng

khai thác các ngu ồn lực tự nhiên và sức lao động giản đơn dẫn tới ngày càng

giảm dần động lực phát tri ển. Năng su ất, ch ất lượng và s ức cạnh tranh c ủa

nền kinh t ế còn th ấp. Sự sụt gi ảm về kinh t ế dẫn tới tình tr ạng khó kh ăn,

đình tr ệ của các doanh nghi ệp tăng lên. Ch ỉ riêng trong 2 n ăm (2011 -

2012) s ố doanh nghi ệp ngừng ho ạt động ho ặc phá s ản đã lên t ới 100.000,

bằng 50% t ổng số doanh nghi ệp rút kh ỏi th ị tr ường trong su ốt 20 n ăm

trước. Năm 2013, c ả nước có 60.737 doanh nghi ệp gi ải th ể, tăng kho ảng

12% so v ới năm 2012. N ăm 2014, s ố lượng doanh nghi ệp gi ải th ể ti ếp

tục tăng là 67.823 doanh nghi ệp [159].

Tăng trưởng kinh tế chưa bền vững và phải đối mặt với nhiều hạn chế về

chất lượng tăng trưởng sẽ tạo ra nhiều khó khăn đối với việc thực hiện CBXH

ở nước ta. Trước hết, chi phí, đầu tư giải quyết những vấn đề xã hội gặp nhiều

khó khăn, bởi vì một nguồn vốn, ngân sách lớn của Nhà nước, ngân sách của

các địa ph ương và các c ộng đồng doanh nghi ệp sẽ ph ải dành để tái c ơ cấu

kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng. Bên cạnh đó, tình trạng chất lượng tăng trưởng

thấp, thiếu bền vững sẽ làm gia t ăng những tác động tiêu cực của KTTT đối

với đời sống kinh tế - xã hội, ảnh hưởng lớn tới thực hiện CBXH.

Hiện nay, nh ững hạn ch ế, bất cập trong l ĩnh vực xã h ội cũng đang là

nguyên nhân gây c ản tr ở đối với vi ệc th ực hi ện mục tiêu g ắn kết TTKT và

CBXH ở nước ta, trong đó nổi bật là sự gia tăng của tình tr ạng th ất nghi ệp,

thiếu việc làm và sự phân hóa xã h ội. Thất nghiệp, thiếu việc làm xảy ra phổ

biến ở tất cả các vùng, ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội. Năm 2013, do tình hình

sản xuất, kinh doanh gặp nhiều khó khăn nên tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng gia

tăng, đặc biệt là khu vực thành thị. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi 15-24 trong

chín tháng là 5,97%, trong đó khu vực thành thị là 10,79%, tăng 1,27% so với

cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn là 4,49%, tăng 0,05%. Tỷ lệ thất nghiệp

92

của lao động từ 25 tu ổi trở lên trong chín tháng n ăm 2013 là 1,29%, trong đó

khu vực thành thị là 2,45%, khu vực nông thôn là 0,77% [158].

Chính sách việc làm hiện nay chủ yếu mới chú trọng đến đào tạo việc làm

theo chiều rộng, càng nhiều việc làm càng tốt mà chưa chú trọng đến chất lượng

việc làm. Việc làm ở trình độ lao động phổ thông, chưa qua đào tạo còn chiếm tỷ

lệ cao, nhất là khu vực nông thôn, miền núi, vì thế tính ổn định, bền vững trong

việc làm và hiệu quả tạo việc làm còn thấp. Đó là thách thức đối với người lao

động trong tiếp cận công bằng về cơ hội và điều kiện giải quyết việc làm và hòa

nhập xã hội.

Tình tr ạng phân hóa giàu - nghèo ở nước ta hi ện nay c ũng ngày càng

gia tăng. Nếu khoảng cách thu nh ập giữa nhóm có thu nh ập cao nh ất so với

nhóm thu nh ập th ấp nh ất năm 2002 là 8,1 l ần, thì đến năm 2012 t ăng lên

9,4 lần. Năm 2012, số người Việt Nam gia nh ập câu lạc bộ siêu giàu là 195

người với tổng tài s ản là 20 t ỷ USD; trong khi đó, vẫn có h ơn 17 tri ệu

người sống trong c ảnh đói, nghèo thi ếu th ốn tr ăm bề với thu nh ập bình

quân là 369.000 đồng/tháng [14, tr 24].

Cùng với sự phân hóa thu nh ập giữa các tầng lớp dân cư, ở nước ta hiện

nay, đang có sự chênh lệch khá lớn giữa vùng nông thôn và thành th ị, mi ền

núi và đồng bằng. Một số tỉnh, thành phố có lợi thế về điều kiện tự nhiên, cơ

sở hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực, vốn đầu tư, khoa học kỹ thuật và công

nghệ…, nên cơ hội phát triển nhiều hơn, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn

các khu vực khác. Ng ược lại, nhiều địa phương khác, đặc biệt là vùng nông

thôn và mi ền núi, do thi ếu những điều kiện cần thiết nên kh ả năng phát tri ển

bị hạn chế đáng kể và do v ậy, ngày càng tr ở nên nghèo h ơn và ít có c ơ hội

phát triển hòa nhập với cả nước.

Kết quả khảo sát của Tổng cục Thống kê cho th ấy có sự chênh lệch cao

giữa thành th ị và nông thôn v ề thu nh ập bình quân đầu ng ười/tháng: Năm

2006, 2008, 2010, 2014 c ủa khu v ực thành th ị so v ới khu v ực nông thôn

tương ứng qua các năm là: 2,1; 2,1; 2,0; 2,0 và 1,94 lần (xem bảng).

93

Bảng: Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá hiện hành

phân theo thành thị, nông thôn và phân theo vùng

Đơn vị tính: Nghìn đồng

Năm

2006

2008

2010

2012

Sơ bộ 2014

Cả nước

636

995

1387

2000

2640

Phân theo thành thị, nông thôn

Thành thị

1058

1605

2130

2989

3968

Nông thôn

506

762

1070

1579

2041

Phân theo vùng

Đồng bằng sông Hồng

666

1065

1580

2351

3278

Trung du và mi ền núi

442

657

905

1258

1613

phía Bắc

Bắc Trung Bộ và duyên

476

728

1018

1505

1982

hải miền Trung

Tây Nguyên

522

795

1088

1643

2008

Đông Nam Bộ

1146

1773

2304

3173

4124

Đồng bằng sông

628

940

1247

1797

2326

Cửu Long

(Nguồn: Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2015, tr 711)

Cùng với chênh l ệch thu nh ập giữa thành th ị và nông thôn, chênh l ệnh

giữa các vùng, mi ền ở nước ta cũng khá lớn. Năm 2014, vùng giàu nh ất Việt

Nam là Đông Nam Bộ với mức thu nhập bình quân đầu người/tháng đạt 4.124

nghìn đồng. Vùng nghèo nhất là vùng miền núi Tây Bắc với mức thu nhập chỉ

đạt 1.613 nghìn đồng. Khoảng cách chênh lệch giữa vùng giàu nhất và nghèo

nhất là 2,55 lần.

- Tham nhũng, lãng phí, các tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng.

Đối với nước ta, việc xây dựng cơ chế mới còn chưa hoàn thiện, đời sống

kinh tế - xã h ội còn th ấp, nên tham nh ũng, lãng phí có chi ều hướng gia tăng.

Hiện nay, tham nh ũng đã trở thành quốc nạn với quy mô ngày càng l ớn, tính

94

chất ngày càng phức tạp và thủ đoạn ngày càng tinh vi. Về mặt phạm vi, tham

nhũng, lãng phí được phát hi ện ở nhiều ngành, nhi ều lĩnh vực, từ những lĩnh

vực có nguy c ơ cao nh ư xây dựng, đầu tư cơ bản, quản lý đất đai, tài chính,

ngân hàng, đến cả nh ững ngành được coi là trong s ạch, nhân v ăn nh ư giáo

dục, y tế và cứu trợ nhân đạo v.v..Về mặt tài sản, nhiều vụ tham nhũng, lãng

phí lên đến con số hàng ch ục, hàng tr ăm tỷ đồng. Về đối tượng tham nhũng,

lãng phí ch ủ yếu nằm ở bộ phận cán bộ nhà nước, đảng viên có ch ức, quyền

trong các cơ quan Nhà nước, trong hệ thống công quyền, thậm chí có người ở

cương vị cao, vị trí đặc biệt.

Trong báo cáo tr ước Qu ốc hội tại kỳ họp th ứ VI, khóa XIII, ngày 21

tháng 10 năm 2013, Thủ tướng Chính ph ủ Nguyễn Tấn Dũng cho bi ết, trong

gần ba năm, qua thanh tra đã phát hi ện 319 vụ việc với 517 cá nhân có hành

vi liên quan đến tham nh ũng; ki ến nghị thu hồi 485,5 t ỷ đồng (đã thu được

139 tỷ đồng). Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, đặc biệt là với 10

vụ án “đại tham nhũng” bao gồm: vụ án tại Tổng công ty Hàng hải Việt Nam

(Vinalines); Công ty Cho thuê tài chính 2 (thu ộc Ngân hàng Nông nghi ệp và

phát tri ển nông thôn); Công ty d ệt kim Ph ương Đông và m ột chi nhánh

Agribank ở TPHCM; Sở quản lý kinh doanh vốn và ngoại tệ thuộc Agribank;

Công ty cổ phần chế biến thực phẩm Phương Nam và một số ngân hàng ở Sóc

Trăng, Hậu Giang, Bạc Liêu; Ngân hàng Phát tri ển Việt Nam chi nhánh Đắk

Nông; Ngân hàng TMCP Công th ương Việt Nam; Ngân hàng ACB liên quan

Nguyễn Đức Kiên (t ức “bầu” Kiên); Chi nhánh Nam Hà N ội của Ngân hàng

Agribank; Tập đoàn Vinashin [150].

Riêng 6 tháng đầu năm 2014, ngành Thanh tra đã phát hi ện vi ph ạm về

kinh tế 10.174 tỷ đồng; 1020 ha đất; kiến nghị thu hồi cho cho ngân sách Nhà

nước 4.857 tỷ đồng và 357,8 ha đất; xử lý vi phạm hành chính 1.547 tỷ đồng;

kiến nghị xử lý k ỷ lu ật hành chính 513 t ập th ể và 1006 cá nhân có hành vi

tham nhũng [154].

95

Tham nhũng là bất công phi lý, phi pháp, nh ững thiệt hại do tham nhũng

gây ra đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới tình hình kinh tế, chính trị và xã hội của

đất nước, tạo sự mất cân bằng trong quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ của

mọi thành viên xã h ội, tạo tâm lý b ất bình trong nhân dân, làm gi ảm uy tín

lãnh đạo của Đảng và hi ệu lực qu ản lý c ủa Nhà n ước. Đảng ta nh ận định:

“Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của

một bộ ph ận không nh ỏ cán b ộ, đảng viên là r ất nghiêm tr ọng. Nạn tham

nhũng kéo dài trong b ộ máy của Hệ th ống chính tr ị và trong nhi ều tổ ch ức

kinh tế là mối nguy cơ lớn, đe dọa sự sống còn của chế độ ta” [30, tr 76].

Hiện nay, tình tr ạng lãng phí trong s ử dụng kinh phí, tài s ản công c ũng

đang ở mức báo động. Trong khi ngân sách c ủa Nhà n ước còn r ất eo h ẹp,

phải chi r ất nhi ều kho ản mục cho công cu ộc phát tri ển đất nước thì t ại

nhiều cơ quan, bộ ngành lại lãng phí trong chi tiêu ngân sách c ủa Nhà nước

như mua ô tô công v ượt quá quy định, chi phí h ội họp, chi phí ti ếp khách

tốn kém, xây d ựng công s ở to, đẹp, mua s ắm trang thi ết bị vượt định mức,

tiêu chu ẩn, gây lãng phí nhi ều tỷ đồng. Bên c ạnh đó, lãng phí, tiêu c ực

trong đầu tư, xây d ựng cơ bản còn r ất lớn gây nhi ều bức xúc trong d ư luận

xã hội. Có nh ững công trình đầu tư xây dựng với số vốn lên đến hàng ngàn

tỷ như Bảo tàng Hà N ội, Công viên Hòa Bình nh ưng đến nay, hi ệu qu ả sử

dụng rất hạn ch ế. Ho ặc mới đây, dự án nhà máy liên h ợp gang thép V ạn

Lợi (Hà T ĩnh) đã bị đình ch ỉ, do Công ty C ổ ph ần gang thép Hà T ĩnh

không th ể duy trì d ự án sau 6 n ăm bỏ hoang. H ơn 750 t ỷ đồng các ngân

hàng Nhà n ước đầu tư cho dự án có nguy c ơ mất trắng. Các h ạng mục đầu

tư trị giá gần 1000 tỷ đồng giờ chỉ là đống sắt vụn…

Theo Báo cáo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư gửi Chính phủ, năm 2014,

đã có 923 d ự án xảy ra th ất thoát, lãng phí; 302 d ự án ph ải ngừng thực hiện;

115 dự án vi ph ạm quy định thủ tục đầu tư [154]. Đây là nh ững con số thực

sự đáng báo động về tình trạng lãng phí ở nước ta hiện nay. Lãng phí làm cho

96

ngân sách Nhà nước ngày càng bị thiếu hụt, làm giảm đáng kể vốn đầu tư cho

tăng tr ưởng kinh t ế cũng nh ư chi phí gi ải quy ết nhi ều vấn đề xã h ội, ảnh

hưởng lớn đến hiệu quả của quá trình thực hiện CBXH ở nước ta hiện nay.

Cùng với tham nhũng, lãng phí, tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại,

làm ăn phi pháp, tr ốn thuế…cũng vẫn đang diễn biến phức tạp, làm gia t ăng

bất công xã h ội. Trong n ăm 2014, c ơ quan H ải quan đã phát hi ện, bắt gi ữ

được 18.448 v ụ buôn lậu, trị giá hàng hóa vi ph ạm ước tính kho ảng 400 t ỷ

976 triệu đồng. Bên cạnh đó, ngành Tài chính qua thanh tra, ki ểm tra đối với

67.053 doanh nghiệp với số thuế tăng thu qua thanh tra, kiểm tra là 12.224,85

tỷ đồng, xử phạt 2.920,86 tỷ đồng, tăng 46,69% so với năm 2013 [156]. Riêng

trên địa bàn Hà Nội, trong sáu tháng đầu năm 2014, các lực lượng chức năng

của Hà N ội đã ki ểm tra g ần 13 nghìn v ụ buôn l ậu, hàng gi ả và gian l ận

thương mại, xử lý hơn 8.500 vụ, trong đó khởi tố hình sự 25 vụ. Số vụ xử lý

tăng 14,23% so v ới cùng k ỳ năm trước; số tiền thu v ề ngân sách nhà n ước

hơn 1.056 tỷ đồng [152].

Về nguyên nhân hạn chế

Có nhi ều nguyên nhân d ẫn tới hạn ch ế đối với vi ệc th ực hi ện CBXH

trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, nhưng chủ yếu

là những nguyên nhân sau đây:

- Nguyên nhân khách quan:

+ Qua gần 30 năm đổi mới, đến nay, nước ta vẫn đang trong giai đoạn

chuyển đổi có tính ch ất “quá độ” từ cơ ch ế kế hoạch hóa t ập trung bao c ấp

sang cơ chế thị trường định hướng XHCN. Trong bước chuyển này, cái cũ tuy

không còn có tính h ệ thống nhưng các yếu tố tàn dư vẫn rất lớn, đã và đang

trở thành nh ững rào cản cho sự phát tri ển, hệ thống mới tuy đã được xác lập

nhưng ch ưa đồng bộ và phát huy t ối đa hi ệu qu ả trên các l ĩnh vực của đời

sống xã hội. Đặc biệt, chúng ta đang thực hiện sự nghiệp đổi mới trong điều

kiện KTTT, hội nhập quốc tế, còn nhi ều điều mới mẻ, chưa có ti ền lệ trong

lịch sử, do vậy, những khó khăn, thử thách đặt ra hết sức to lớn và phức tạp.

97

+ Trình độ phát tri ển kinh tế - xã h ội ở nước ta hi ện nay còn t ương đối

thấp. Nước ta đã bước vào ng ưỡng cửa của quốc gia có m ức thu nh ập trung

bình, nhưng vẫn là ở mức trung bình th ấp. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế

vẫn đang là nguy cơ thường trực, nhất là trong b ối cảnh hội nhập, khi nh ững

nhu cầu về phát triển, tiến bộ xã hội đang trở thành nhu cầu cơ bản của toàn xã

hội. Chiến tranh đã lùi xa nhiều thập kỷ, nhưng những hậu quả của nó vẫn còn

nặng nề trên đất nước cũng nh ư mỗi gia đình đòi hỏi ph ải huy động nhi ều

nguồn lực cho những chính sách ưu đãi xã hội, an sinh xã hội. Do vậy việc thực

hiện mục tiêu vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa giải quyết công bằng, tiến

bộ xã hội đang là khó khăn, thách thức lớn đối với nước ta hiện nay.

+ Trước yêu cầu đổi mới, gia tăng tốc độ phát tri ển kinh tế và bảo đảm

CBXH, hệ th ống th ể ch ế KTTT ở nước ta hi ện nay còn không ít h ạn ch ế,

khiếm khuyết. Do vậy, những tác động, ảnh hưởng tiêu cực của KTTT đang hết

sức nghiêm trọng làm gia tăng tình trạng phân hóa giàu nghèo, tình tr ạng thất

nghiệp, thi ếu vi ệc làm và hàng lo ạt các tiêu c ực xã h ội nảy sinh nh ư: tham

nhũng, lãng phí, buôn l ậu, tr ốn thu ế, làm hàng gi ả v.v..Bên cạnh đó, nh ững

phong tục, tập quán lối sống cũ, lạc hậu như tư tưởng bình quân chủ nghĩa, tâm

lý sản xuất nhỏ cùng tâm lý thực dụng, sùng bái đồng tiền, coi trọng hưởng thụ

cá nhân…cũng đang gây cản trở không nhỏ tới thực hiện CBXH ở nước ta.

- Nguyên nhân chủ quan

+ Tư duy lý lu ận về CBXH trong điều ki ện KTTT còn h ạn ch ế, nhi ều

“khoảng trống” nằm trong tổng thể hạn chế chung của lý luận về chủ nghĩa xã

hội và con đường đi lên ch ủ nghĩa xã hội ở nước ta. Công tác nghiên c ứu lý

luận, tổng kết thực tiễn chưa ngang tầm với đòi hỏi của thực tiễn, còn nhi ều

lúng túng trong việc xử lý những vấn đề đặt ra do thiếu hụt khung lý thuyết và

các mô hình phát tri ển. Hàng lo ạt những vấn đề quan tr ọng và bức xúc hi ện

nay ch ưa được nh ận th ức và gi ải quyết th ấu đáo nh ư: vấn đề quan h ệ gi ữa

tăng tr ưởng kinh t ế và CBXH; v ấn đề đảm bảo phân ph ối công b ằng trong

điều kiện KTTT định hướng XHCN; vấn đề an sinh xã hội v.v..

98

+ Chủ trương, đường lối, chính sách v ĩ mô, pháp lu ật của Đảng và Nhà

nước còn nhiều bất cập. Việc nghiên cứu, xây dựng chiến lược, kế hoạch tổng

thể về phát triển KTTT định hướng XHCN và thực hiện CBXH còn nhiều hạn

chế, nhi ều nội dung ch ưa dựa trên nh ững nguyên t ắc của KTTT. Th ể ch ế,

chính sách, n ăng lực của bộ máy qu ản lý và đội ng ũ cán b ộ qu ản lý hành

chính nhà nước còn nhiều hạn chế. Công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện, công

tác thanh tra, giám sát chưa kiên quyết, hiệu quả chưa cao.

+ Nh ận th ức của các c ấp, ngành và c ủa toàn xã h ội về ý ngh ĩa, tầm

quan tr ọng của việc thực hiện CBXH ch ưa đầy đủ. Thực tế hiện nay, th ực

hiện các chính sách xã h ội đảm bảo CBXH còn ch ậm hơn so v ới chính

sách kinh t ế; ch ưa có nh ững gi ải pháp h ữu hi ệu nh ằm gi ải quy ết hài hòa

các quan h ệ lợi ích, kh ắc ph ục kho ảng cách mâu thu ẫn gi ữa các vùng,

miền, các ngành l ĩnh vực của đời sống xã h ội, cũng nh ư tạo cơ hội cho

người dân được hòa nh ập vào đời sống cộng đồng, hướng tới xã h ội phát

triển bền vững.

3.2. NH ỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VI ỆC TH ỰC HI ỆN CÔNG BẰNG

XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH T Ế TH Ị TR ƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ H ỘI

CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

3.2.1. Mâu thu ẫn giữa yêu cầu khách quan c ủa việc thực hi ện công

bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với

năng lực chủ quan, trong đó có năng lực lãnh đạo, quản lý của Đảng và

Nhà nước còn hạn chế

Để đáp ứng yêu cầu khách quan c ủa thực hiện CBXH trong n ền KTTT

định hướng XHCN, đòi hỏi phải có sự phát huy cao độ vai trò của nhân tố chủ

quan, của các ch ủ th ể, trong đó, sự lãnh đạo của Đảng và qu ản lý c ủa Nhà

nước là quan trọng nhất.

Đảng cộng sản Việt Nam là người khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi

mới. Đảng tăng cường chỉ đạo nghiên cứu lý lu ận và tổng kết thực tiễn xây

dựng mô hình KTTT định hướng XHCN. M ục tiêu lãnh đạo của Đảng là

99

hướng tới lợi ích của toàn dân, cho nên, Đảng ta luôn xác định, việc thực hiện

CBXH là mục tiêu c ơ bản, song hành trong t ừng bước và c ả quá trình phát

triển của nền KTTT.

Cùng với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều tiết của Nhà nước cũng

luôn cần thi ết và có ý ngh ĩa. Nhà nước quản lý KTTT và th ực hi ện CBXH

bằng pháp lu ật, quy ho ạch, kế hoạch và các công c ụ điều tiết trên cơ sở tôn

trọng các quy lu ật thị trường. Nhà nước tăng cường giám sát, ch ủ động điều

tiết, giảm thiểu các tác động tiêu cực của thị trường, không phó m ặc cho th ị

trường hoặc can thiệp làm lệch lạc các quan hệ thị trường. Ở những giai đoạn

khác nhau, hình th ức, mức độ, ph ạm vi điều ti ết của Nhà nước có th ể khác

nhau, nhưng dù là ở giai đoạn nào, hoàn c ảnh nào, Nhà n ước cũng luôn ph ải

đặt lợi ích của nhân dân lên cao, luôn chú trọng các mục tiêu phát triển kinh tế

gắn với mục tiêu phát triển xã hội.

Hiện nay ở nước ta, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, trong

lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà n ước còn bộc lộc nhiều mặt hạn chế. Có

thể khái quát trên một số nội dung cơ bản như sau:

Thứ nhất, năng lực nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, xây dựng đường

lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về KTTT định hướng XHCN và

CBXH còn hạn chế.

Qua gần 30 năm đổi mới, chúng ta đã thực hiện sự chuyển đổi căn bản từ

một nền kinh t ế theo c ơ ch ế kế ho ạch hóa t ập trung sang c ơ ch ế thị trường

định hướng XHCN, tuy nhiên, đến nay, lý lu ận về KTTT định hướng XHCN

vẫn ch ưa được làm rõ. Nh ận th ức về vấn đề này trong đảng viên và qu ần

chúng còn có sự khác nhau. Một khi chưa thống nhất trong nh ận thức thì vai

trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực của Nhà nước cũng sẽ hạn chế, gây cản trở

lớn tới quá trình tổ chức thực hiện.

Trong một thời gian dài, chúng ta th ường quá đề cao việc thúc đẩy tăng

trưởng kinh tế, dẫn đến coi nhẹ việc giải quyết vấn đề xã hội; chưa nhận thức

100

được rằng việc tiếp cận các vấn đề xã hội và đề ra chính sách xã hội, cùng với

chính sách kinh tế luôn là chỉnh thể thống nhất hữu cơ trong sự phát triển con

người, vì một xã hội giàu mạnh, tiến bộ và ph ồn vinh. Kết quả là tình tr ạng

phân hóa giàu, nghèo, b ất công, bất bình đẳng xã hội ngày càng có xu h ướng

gia tăng. Đánh giá nh ững tồn tại, hạn chế trong công tác nghiên c ứu lý lu ận,

tổng kết thực tiễn về phát tri ển kinh tế và th ực thi CBXH, Đảng ta đã khẳng

định: “Lý luận chưa giải đáp được một số vấn đề của thực tiễn đổi mới và xây

dựng CNXH ở nước ta, đặc biệt là trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tốc

độ tăng trưởng kinh tế và ch ất lượng phát tri ển; giữa tăng trưởng kinh tế và

thực hiện công bằng xã hội” [31, tr 69].

Hiện nay, vi ệc xây d ựng và ban hành các v ăn bản pháp lu ật của Nhà

nước liên quan đến thực hiện CBXH còn nhi ều bất cập, vừa chậm, vừa thiếu

đồng bộ so với yêu cầu thực tiễn. Một số luật còn khá nhi ều sơ hở, dễ bị lợi

dụng, gây nên s ự kém công b ằng giữa các bộ phận dân cư, ảnh hưởng nhất

định đến tiến độ và kết quả xây dựng, hoàn thi ện môi tr ường pháp lý t ạo sự

bình đẳng giữa các thành ph ần kinh tế, các ch ủ thể kinh doanh. Vi ệc sửa đổi

những điểm không hợp lý và b ổ sung điểm mới phù h ợp còn châm tr ễ, làm

cho việc xử lý những vấn đề mới nảy sinh trong hoạt động thực tiễn thiếu căn

cứ pháp lý, nh ất là trong x ử lý nh ững sai ph ạm trong KTTT nh ư buôn l ậu,

hàng giả, hàng kém ch ất lượng, chuyển nh ượng quyền sở hữu đất đai, tham

nhũng, lãng phí v.v., ảnh hưởng xấu đến CBXH.

Thứ hai, Năng lực lãnh đạo, quản lý của các cán bộ đảng, nhà nước còn

hạn chế.

Trình độ, năng lực của các cán bộ đảng, nhà nước luôn được xem là yếu

tố quyết định trong xây dựng và th ực thi đường lối, chiến lược, sách lược và

các nhi ệm vụ cơ bản phát tri ển đất nước. Trong nh ững năm qua, trình độ,

năng lực, phẩm chất đạo đức của cán bộ đảng và nhà nước ta ngày càng được

nâng cao, tuy nhiên, hiện nay, chất lượng đội ngũ cán bộ đảng và nhà nước còn

101

tương đối thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới. Nhiều

cán bộ thiếu kiến thức và kỹ năng quản lý, thiếu tính nhạy bén thị trường, trách

nhiệm thực thi công v ụ chưa cao. Quy trình làm vi ệc của cán bộ, công ch ức

quản lý nhà n ước còn thi ếu tính chuyên nghi ệp. Dấu ấn của cơ chế tập trung

quan liêu, bao cấp còn đậm nét trong điều hành và tổ chức công việc của các cơ

quan, thể hiện ở số lượng giấy tờ hành chính lớn, thẩm quyền và trách nhi ệm

giải quyết công vi ệc của từng cán bộ, công ch ức chưa rõ, đặc biệt khâu ph ối

hợp giữa các cơ quan qu ản lý Nhà n ước trong quá trình gi ải quyết công vi ệc

còn yếu. Vi ệc tri ển khai áp d ụng các gi ải pháp k ỹ thu ật, nh ất là công ngh ệ

thông tin vào hoạt động quản lý nhà nước còn chậm và hiệu quả thấp.

Thứ ba, ph ương th ức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà n ước trong vi ệc

thực hiện CBXH còn nhiều hạn chế.

Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng quan điểm, đường lối, định hướng chính

trị giúp cho Nhà n ước phát huy vai trò, hi ệu qu ả ho ạt động. Nhà n ước ch ỉ

thực sự vững mạnh khi được dẫn dắt bởi định hướng chính tr ị đúng đắn; sức

mạnh của Đảng, sức mạnh của Nhà nước do Đảng lãnh đạo luôn là m ột thể

thống nhất hữu cơ, không thể tách rời.

Tuy nhiên, là hai m ặt thống nh ất, nhưng Đảng và Nhà n ước có vai trò,

chức năng khác nhau. Đảng là cơ quan lãnh đạo, chứ không ph ải là cơ quan

quản lý Nhà n ước. Đảng lãnh đạo, nh ưng không bi ến thành Nhà n ước, tr ở

thành những trung tâm hành chính sự vụ, biến cán bộ thành những người nắm

quyền lực Nhà n ước. Vi ệc phân định rõ vai trò, ch ức năng ho ạt động của

Đảng và Nhà nước là điều kiện đảm bảo vai trò của Đảng, đồng thời phát huy

vai trò của Nhà nước trong quá trình hoạt động.

Ở nước ta hi ện nay, tình tr ạng không phân định rõ về chức năng, nhiệm

vụ của các cơ quan đảng và nhà nước còn khá phổ biến, đặc biệt ở các cơ sở,

địa phương. Điều này dẫn đến sự chồng chéo về nhiệm vụ và quyền hạn gây

nhiều lúng túng trong t ổ chức hoạt động, làm giảm vai trò lãnh đạo của đảng

102

và hiệu lực quản lý của nhà nước. Ở nhiều lúc, nhiều nơi, đảng đã buông lỏng

vai trò lãnh đạo, phó mặc cho chính quyền hoạt động; và ngược lại tình trạng

đảng lấn sân vai trò c ủa chính quyền, làm cho ho ạt động của chính quyền trở

nên thụ động, kém hiệu quả còn tồn tại khá phổ biến.

Chính những hạn chế trong phân định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn

giữa Đảng và Nhà nước đã dẫn tới tình trạng quan điểm, đường lối của Đảng

đúng đắn, nh ưng nhi ều khi không được th ực hi ện, th ậm chí th ực hi ện sai.

Trên thực tế, nhiều nơi đã xảy ra tình tr ạng vi ph ạm đường lối và chính sách

phát tri ển kinh t ế - xã h ội, gây nh ững hậu qu ả nghiêm tr ọng. Th ực hi ện

CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN là n ội dung lớn, cần được

quán tri ệt và ph ối hợp tích c ực gi ữa Đảng, chính quy ền và nhân dân. Đảng

cần đảm bảo tốt phương thức lãnh đạo, phát huy vai trò c ủa Nhà nước; Nhà

nước cần th ực hi ện ch ức năng qu ản lý hi ệu qu ả, đặt dưới sự lãnh đạo của

Đảng, đó là điều kiện quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện

CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở nước ta.

3.2.2. Mâu thuẫn giữa yêu cầu thực hiện công bằng xã hội ngày càng

đầy đủ, bền vững với khả năng đáp ứng của nền kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa còn giới hạn

Thực tế cho thấy, để thúc đẩy KTTT phát triển, tạo điều kiện giải quyết tốt

vấn đề tiến bộ, CBXH, đòi hỏi các yếu tố của thị trường phải hình thành đầy

đủ, các loại thị trường phải được phát triển đồng bộ với mức độ minh bạch cao

và có sự quản lý, giám sát tốt. Nói cách khác, khi KTTT phát triển hoàn thiện,

các quy lu ật cơ bản của KTTT mới được vận hành có hi ệu quả, đảm bảo tôn

trọng tính độc lập, tự chủ của các chủ thể kinh tế; sự phân bổ và sử dụng nguồn

lực mới có hiệu quả cao, tạo cơ hội và điều kiện để tiềm năng của các chủ thể

kinh doanh được phát huy. Khi KTTT phát tri ển hoàn thiện mới tạo điều kiện

giải quyết các vấn đề xã hội hiệu quả, CBXH mới được bảo đảm.

Tính ch ất hoàn thi ện của nền KTTT còn được th ể hi ện thông qua tính

thống nhất và tính tr ật tự của thị trường. Tính thống nhất của thị trường được

103

xác lập trên cơ sở đảm bảo các lo ại th ị trường giữa các vùng trong n ước là

một ch ỉnh th ể, không nên có tr ạng thái chia c ắt ho ặc khép kín. Trong quá

trình phát tri ển, tr ở ng ại lớn nh ất chính là s ự phân cách, bi ệt lập gi ữa các

ngành, địa phương. Các ngành và địa phương, thường xuất phát từ lợi ích cục

bộ của ngành và địa phương, sử dụng các biện pháp hành chính để độc quyền

kinh doanh, tận dụng nguyên vật li ệu tại địa phương để thỏa mãn riêng cho

nhu cầu của ngành, địa phương mình. Sự chia cắt và đóng cửa như vậy, sẽ tạo

tính cục bộ, cản trở sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế, vi phạm nguyên tắc

công bằng trong cơ hội và điều kiện phát tri ển của các ch ủ thể kinh tế. Tính

trật tự của KTTT đòi hỏi các ch ủ thể hoạt động ph ải dựa trên nh ững chuẩn

mực nhất định. Hệ thống thị trường được quy phạm hóa, hợp lý hóa trên cơ sở

hoàn thiện môi trường thể chế thị trường và đặc biệt là các chủ thể hoạt động

theo sự điều tiết vĩ mô của nhà nước và các quy t ắc chuẩn hóa. Ph ải hạn chế

và ng ăn ch ặn tình tr ạng độc quy ền trong s ản xu ất và kinh doanh, t ạo môi

trường thực sự thuận lợi và rộng mở cho mọi loại hình doanh nghiệp lớn, vừa

và nhỏ ở mọi thành phần kinh tế tham gia bình đẳng vào thị trường.

Ở nước ta, trong quá trình chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang

nền KTTT định hướng XHCN, các lo ại thị trường đang từng bước được hình

thành, do vậy, còn mang nhi ều yếu tố sơ khai, lại gặp không ít nh ững khiếm

khuyết của hệ th ống th ể ch ế kinh t ế và th ể ch ế hành chính, đã bị chia c ắt,

không ít tr ường hợp là độc quyền. Tính ch ất liên thông và đồng bộ giữa các

loại thị trường bị hạn chế. Trong quan h ệ thị trường, các giao d ịch còn kém

hiệu qu ả, nhi ều rủi ro, h ạn ch ế tính công b ằng, minh bạch; nhi ều khi do s ự

can thi ệp của cơ quan nhà n ước dẫn tới sự cản tr ở ho ặc làm bi ến dạng các

quan hệ thị trường. Tình hình đó đã buộc các chủ thể thiên về giao dịch ngắn

hạn, tìm ki ếm các cơ hội kinh doanh ng ắn hơn là có chi ến lược, phương án

kinh doanh, tranh thủ các cơ hội cho mục tiêu dài hạn. Có thể nêu ra tính hạn

chế, thiếu đồng bộ của một số loại thị trường chính ở nước ta như sau:

104

Nổi bật nhất và có nhiều vướng mắc nhất hiện nay là thị trường bất động

sản. Quyền sử dụng đất đai chưa được đặt trong quan h ệ thị trường, vẫn còn

được xử lý theo quan h ệ hành chính, không công khai, minh b ạch, còn nhi ều

phân biệt đối xử. Các giao d ịch bất động sản gặp nhiều khó kh ăn. Điều này

gây lên những bất công xã hội nghiêm trọng. Tình trạng bất bình, bức xúc của

người dân ngày càng t ăng, khối lượng các đơn thư khiếu kiện liên quan đến

vấn đề đất đai, bất động sản không ngừng gia tăng. Theo số liệu thống kê của

Bộ Tài nguyên và Môi tr ường, tại miền Bắc, năm 2011 có hơn 1.000 đơn thư

khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai, năm 2012 nh ận được gần 1.200 đơn

thư, 6 tháng đầu năm 2013 nhận được gần 600 đơn thư. Khu vực miền Trung

và Tây Nguyên, năm 2011 có trên 820 đơn thư gửi tới Bộ Tài nguyên và Môi

trường khiếu nại, tố cáo về đất đai; năm 2012 là trên 940 đơn thư và 6 tháng

đầu năm 2013 là 540 đơn thư.

Hiện nay, đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai chiếm 65-70%

tổng số đơn thư khiếu nại tố cáo trong cả nước; hầu hết các vụ việc khiếu nại,

tố cáo phức tạp, kéo dài đều liên quan đến đất đai.

Các chính sách đất đai, quy ho ạch, đầu tư phát tri ển còn dàn tr ải, ch ưa

khuyến khích việc kinh doanh bất động sản, thiếu tính hợp lý; việc xây dựng cơ sở

pháp lý cần thiết để điều chỉnh sự vận hành của thị trường bất động sản còn chậm,

gây cản trở đáng kể cho sự phát triển của thị trường bất động sản ở Việt Nam.

Thể chế vận hành của thị trường tài chính cũng chưa theo kịp những đòi

hỏi của đời sống kinh t ế, xã h ội. Thị trường tài chính nói chung, th ị trường

tiền tệ và th ị trường vốn nói riêng còn ở trình độ phát tri ển tương đối thấp.

Thị trường vốn chưa tạo thuận lợi và cơ hội bình đẳng cho người dân, đặc biệt

là các hộ gia đình, các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ cho dù có phương án

kinh doanh hi ệu qu ả, được ti ếp nh ận các ngu ồn vốn với điều ki ện tín d ụng

như nhau. Mối liên kết, tác động qua lại gi ữa các th ị trường trong hệ thống

còn thiếu chặt chẽ; hệ thống ngân hàng ti ềm ẩn nhiều rủi ro, tính minh b ạch

thông tin chưa thường xuyên được đảm bảo.

105

Thị trường lao động chưa tạo điều kiện thúc đẩy sự chuyển dịch lao động,

phân bố lại lao động, bảo đảm cho người lao động có nhiều cơ hội lựa chọn việc

làm và có thu nh ập thỏa đáng. Lao động chưa thực sự được coi là hàng hóa,

người lao động chưa được tự do ký kết hợp đồng lao động theo nguyện vọng của

mình. Người sử dụng lao động cũng chưa được đảm bảo quyền tự do lựa chọn,

tuyển chọn, sử dụng lao động và trả công xứng đáng cho người lao động theo cơ

chế thị trường.

Thị trường khoa h ọc và công ngh ệ chưa gắn với ho ạt động kinh doanh

của các doanh nghi ệp, nhất là chưa ứng dụng được công nghệ thích hợp, tiên

tiến vào thực tiễn sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Mặc dù Việt Nam

đã quan tâm xây d ựng các th ể chế khoa học và công ngh ệ nh ằm hỗ trợ các

doanh nghiệp nâng cao n ăng lực và trình độ công ngh ệ, song nh ững thể chế

đó chưa đầy đủ hoặc chưa đủ mạnh nên tác động đem lại còn rất hạn chế. Các

quy định về quy ền tác gi ả, bảo hộ sở hữu công nghi ệp, chuy ển giao công

nghệ…, vẫn ch ưa tạo điều ki ện cho vi ệc giao dịch về khoa học, công ngh ệ

tiến hành theo c ơ chế thị trường, không bị ràng bu ộc bởi các quy định hành

chính không cần thiết.

Ở nước ta hi ện nay, th ị tr ường ch ưa phát tri ển đồng bộ xét trên c ả

phương diện hệ thống các loại thị trường cũng như các yếu tố trong từng loại

thị trường. Nghiêm tr ọng hơn, có th ị trường bị bóp méo, ho ạt động “ngầm”,

mà Nhà nước chưa kiểm soát được. Đây là những nhân tố trực tiếp tạo sự xáo

trộn trong phát tri ển kinh tế - xã h ội, làm th ất thoát l ớn nguồn thu của Nhà

nước, tạo môi tr ường làm giàu phi pháp cho m ột số cá nhân, t ổ chức xã hội.

Tình trạng cạnh tranh không lành m ạnh, gian lận thương mại, làm hàng gi ả,

hàng nhái, kinh doanh hàng hóa mất vệ sinh, thiếu an toàn…còn khá phổ biến

và chậm được khắc phục đang ngày càng tr ở thành nh ững vấn đề nhức nhối,

gây bất công xã hội nghiêm trọng không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà cả các

lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

106

Về mặt thể chế thị trường, hệ thống pháp luật chưa được xây dựng đầy đủ,

đồng bộ, thiếu ổn định, chưa minh bạch, chưa tạo được hành lang pháp lý thật sự

thuận lợi, an toàn cho sự vận hành thông suốt và thống nhất của nền KTTT định

hướng XHCN; chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng một Nhà nước pháp quyền của

dân, do dân và vì dân. Một số quy định pháp luật còn chồng chéo, thậm chí trái

ngược nhau gây nhiều khó khăn cho việc thực hiện, tạo kẽ hở cho những hành vi

tham nhũng, vi phạm pháp luật…Vẫn còn nhiều thủ tục hành chính không hợp

lý, phức tạp, gây phiền hà cho người dân và cho doanh nghiệp.

3.2.3. Mâu thu ẫn gi ữa yêu c ầu về sự đồng thu ận trong th ực hi ện

công bằng xã hội với sự xung đột về lợi ích gi ữa lợi ích cá nhân, l ợi ích

nhóm và lợi ích xã hội

Xét về thực chất, CBXH là sự tương xứng trong tương quan lợi ích giữa

các thành viên xã hội trên các phạm vi chủ thể khác nhau, từ mỗi cá nhân đến

nhóm xã hội và toàn xã h ội. Xã hội càng công b ằng, sự gắn bó gi ữa các ch ủ

thể lợi ích càng lớn, và chính sự gắn bó thống nhất giữa các chủ thể lợi ích sẽ

tạo nên sự thống nhất, đồng thuận trong việc tiếp tục thực hiện CBXH, qua đó

xã hội sẽ ngày càng công bằng hơn.

Với mỗi cá nhân, CBXH s ẽ giúp họ luôn nhận thức đúng được khả năng

và mức độ cống hi ến của bản thân trong t ương quan v ới lợi ích chung c ủa

toàn xã h ội để th ực hi ện lợi ích riêng c ủa mình. CBXH động viên, khuy ến

khích, tạo cơ hội và điều kiện để cá nhân phát huy tài l ực, trí lực, vật lực cho

phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Càng có nhiều CBXH, càng thôi thúc

các nhà hoạt động kinh doanh bỏ vốn, thậm chí sẵn sàng chấp nhận rủi ro, đầu

tư tái sản xuất mở rộng. Xã hội càng công b ằng càng thôi thúc các nhà khoa

học mang hết tài năng sáng tạo tri th ức khoa học - kỹ thuật mới để phục vụ

cho xã hội. Xã hội càng công b ằng, càng tạo điều kiện giúp đỡ những người

gặp hoàn cảnh khó khăn có cơ hội và điều kiện vươn lên trong cuộc sống, hòa

nhập cộng đồng v.v..

107

Đối với các nhóm l ợi ích xã h ội, CBXH t ạo điều ki ện tăng cường hợp

tác, liên kết gi ữa các thành viên trong nhóm, t ừ đó tìm ra các ph ương th ức

phù hợp phát huy t ối đa vai trò, ý chí và s ức mạnh phục vụ cho nhu c ầu lợi

ích của mỗi thành viên cũng như sức mạnh chung của cả nhóm. CBXH duy trì

và bảo vệ lợi ích nhóm tích c ực với tư cách là l ợi ích chính đáng, hợp pháp,

không mâu thuẫn mà ngược lại, luôn hướng tới và hài hòa v ới lợi ích xã hội;

đồng thời CBXH chống lại lợi ích nhóm tiêu cực, là lợi ích cục bộ của những

đơn vị, địa phương, của những nhóm người xác định, xung đột, mâu thuẫn với

lợi ích chung của xã hội.

Ở phạm vi rộng nhất, bao quát nhất là lợi ích xã hội. Lợi ích xã hội là lợi

ích chung của cả cộng đồng, đảm bảo cho sự tồn tại và phát tri ển của xã hội

nói chung. Lợi ích xã hội không phải là cái trừu tượng mà nó tồn tại, biểu hiện

thông qua lợi ích của từng cá nhân, từng nhóm xã hội, từng giai cấp, tầng lớp

xã hội cụ thể. Mỗi cá nhân, nhóm xã h ội, mỗi giai c ấp, tầng lớp xã hội đều

tham gia t ạo dựng lợi ích chung c ủa xã h ội, đồng th ời th ực thi l ợi ích c ủa

mình với tư cách là những chủ thể xác định trong xã hội.

Ở Việt Nam, trong thời kỳ đổi mới, nhằm phát triển kinh tế và thực hiện

CBXH vì m ục tiêu, dân giàu, n ước mạnh, dân ch ủ công b ằng, văn minh,

chúng ta đã từng bước giải quyết quan hệ hợp lý giữa cá nhân và xã h ội, nhất

là hướng tới bảo vệ lợi ích cá nhân, không ngừng tạo điều kiện phát huy năng

lực sáng tạo cá nhân, rèn luy ện ý th ức đạo đức, trách nhi ệm cộng đồng, qua

đó thúc đẩy xã hội phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây,

dưới tác động mặt trái của KTTT, quan h ệ giữa cá nhân và xã h ội ở nước ta

đang bộc lộ hàng lo ạt những vấn đề bất cập, gây khó kh ăn đối với việc thực

hiện CBXH. KTTT ở nước ta đang trong quá trình hình thành, còn nhi ều yếu

tố sơ khai, tính t ự phát c ủa KTTT t ồn tại khá ph ổ bi ến, dẫn đến xu h ướng

tuyệt đối hóa TTKT, tất cả cho TTKT và l ợi nhuận. Trước sức ép về nhu cầu

vật chất, nhiều cá nhân lao vào kiếm tiền bằng mọi giá, mọi thủ đoạn, vi phạm

108

nghiêm trọng lợi ích chung của cộng đồng. KTTT hiện nay đang là mảnh đất

tốt cho sự nảy sinh và phát tri ển của chủ nghĩa cá nhân, nh ất là ch ủ nghĩa cá

nhân cực đoan ở một bộ phận không nh ỏ của xã hội. Bên cạnh đó, trình độ

quản lý của Nhà nước còn th ấp và có nhi ều sơ hở, luật pháp ch ưa được tuân

thủ một cách nghiêm minh, trình độ nhận thức về dân chủ của nhân dân chưa

cao…, cũng là nh ững điều kiện thuận lợi cho sự nảy sinh những hành vi tiêu

cực của cá nhân. Vì l ợi ích cá nhân ích k ỷ mà nhiều người có thể làm những

việc phi pháp, phi đạo đức, miễn là nh ững việc làm đó đem lại thu nh ập cao

cho họ. Vì mu ốn giải quyết được việc riêng cho mình m ột cách thu ận lợi và

nhanh chóng hơn người khác, nhi ều người thường dùng hình th ức hối lộ cho

người có ch ức, có quyền; còn ng ười có ch ức, có quyền có khuynh h ướng ưu

tiên giải quyết những công việc có lợi cho mình trước. Điều đó dẫn tới hệ quả

là, khi một thiểu số cá nhân được hưởng lợi lớn thì cộng đồng xã hội lại phải

gánh chịu những thiệt hại do những cá nhân đó gây ra.

Rõ ràng là, việc tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, không chỉ gây thiệt hại, bất

công xã hội trong lĩnh vực kinh tế, làm kinh t ế tăng trưởng thiếu bền vững,

mà nghiêm trọng hơn, đã phá vỡ mối liên kết giữa các thành viên xã h ội, làm

cho quan hệ xã hội lỏng lẻo, các giá tr ị xã hội, các chu ẩn mực đạo đức tinh

thần không được coi trọng, tác động xấu tới việc lành mạnh hóa các quan h ệ

xã hội, tạo lực cản tới quá trình xây dựng CNXH ở nước ta.

Ngoài những vấn đề trên, hi ện nay trong xã h ội còn tồn tại mâu thu ẫn,

xung đột giữa cá nhân và xã hội xét trong quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi;

giữa cống hi ến và h ưởng th ụ các l ợi ích xã h ội. Hi ện tượng nhi ều cá nhân

chưa được hưởng thành qu ả tương xứng với mức đóng góp cho xã h ội đang

gây bất công xã h ội sâu s ắc. Xung đột gi ữa nhà đầu tư và ng ười lao động,

giữa người lao động và cán bộ, cơ quan nhà nước thực thi công vụ… gia tăng,

mà thiệt thòi ph ần lớn đều thuộc về những người lao động. Những năm gần

đây, số lượng các cu ộc đình công của người lao động tăng lên. Theo s ố liệu

109

thống kê của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, từ năm 1992 đến hết năm

2012, cả nước xảy ra 4.992 vụ đình công. Nếu tính riêng trong 5 năm, từ năm

2008 đến năm 2012, cả nước xảy ra hơn 3000 vụ tranh chấp và đình công trên

địa bản 29 tỉnh, thành phố. Năm 2011, xảy ra nhiều vụ đình công nhất với hơn

1000 vụ. Hầu hết các cu ộc đình công đều phát sinh t ừ nh ững chủ đầu tư vi

phạm lợi ích c ủa ng ười lao động dưới nhi ều hình th ức khác nhau nh ư tr ả

lương thấp, phạt lương tùy ti ện, cắt xén ti ền thưởng, định mức lao động quá

cao, kéo dài thời gian lao động. Đặc biệt là thái độ không tôn trọng, xúc phạm

danh dự, nhân phẩm người lao động của chủ doanh nghiệp đã tạo nên sự phản

ứng ngày càng mạnh mẽ của người lao động.

Trong xã h ội ta hi ện nay, v ẫn còn t ồn tại một bộ ph ận không nh ỏ cá

nhân, tổ chức trốn tránh thực hiện nghĩa vụ xã hội. Hiện tượng trốn, lậu thuế

gây thiệt hại hàng tr ăm tỷ đổng mỗi năm của Nhà nước là minh ch ứng cho

điều đó. Bên cạnh đó, tình tr ạng tham nhũng với quy mô ngày càng l ớn, tính

chất ngày càng phức tạp trên mọi lĩnh vực xã hội cũng đang gây ra những tổn

hại nghiêm trọng cho xã hội, làm tha hóa cá nhân, kìm hãm s ự phát triển tiến

bộ của xã hội.

Liên quan đến nh ững hạn ch ế, tiêu c ực trên, m ột vấn đề gây b ức xúc

nhiều hiện nay ở nước ta là mâu thuẫn, xung đột giữa các nhóm lợi ích xã hội.

Theo tác gi ả Hồ Bá Thâm, xung đột nhóm lợi ích ph ổ biến hiện nay là gi ữa

“nhóm đầu cơ”, tức là nhóm l ợi dụng các kẽ hở luật pháp, ho ặc dựa vào các

thực lực kinh t ế, ch ức quy ền, sự tha hóa c ủa một bộ ph ận công ch ức Nhà

nước nhằm mưu lợi cho mình và “nhóm bị đầu cơ”, hay “nhóm thiệt hại”, tức

là những nhóm xã hội bị thiệt hại từ những hành vi tiêu cực đó [123, tr.45].

Sự cấu kết, lộng hành của các nhóm lợi ích tiêu cực ở nước ta hiện nay tồn tại

trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý

đất đai, khoáng sản, cho đến y tế, giáo dục v.v..Trong điều kiện thể chế KTTT

chưa phát triển đồng bộ, hệ thống pháp luật chưa đầy đủ, thiếu tính công khai,

110

minh bạch, các nhóm lợi ích tiêu cực ngày càng gia tăng. Biểu hiện chủ yếu của

nhóm lợi ích tiêu cực ở nước ta là tình trạng cấu kết của doanh nghiệp với những

người có quyền lực tạo thành mối quan hệ “ngầm” chi phối xã hội. Nhiều doanh

nghiệp không chú trọng định hướng phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao năng

suất, chất lượng và hiệu quả sản phẩm, mà chủ yếu quan tâm tới việc “chăm sóc”

các mối quan hệ với các quan chức nhà nước, tạo ra môi trường kinh doanh không

lành mạnh, thu lời bất chính. Bản chất mối quan hệ không bình thường giữa cán

bộ, đảng viên có ch ức, quyền với doanh nghiệp để trục lợi là một dạng “tham

nhũng” đặc biệt, làm cho lợi ích nhóm có thể chi phối cả nền kinh tế, thậm chí cả

chính trị. Mối quan hệ không bình thường của lợi ích nhóm tiêu cực tạo ra môi

trường kinh doanh thiếu lành mạnh, bóp méo các chính sách của Nhà nước, thay

vì ban hành chính sách để phục vụ lợi ích của đại bộ phận nhân dân, lại quay sang

chỉ để phục vụ một số ít doanh nghiệp, làm mất niềm tin của các nhà đầu tư chân

chính, xâm hại nghiêm trọng lợi ích của cộng đồng. Bên cạnh đó, lợi ích nhóm

tiêu cực còn góp phần làm suy giảm uy tín của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân,

gây bức xúc trong dư luận xã hội, tạo kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên

tạc, bôi nhọ, nói xấu, kích động nhân dân chống lại Đảng, Nhà nước. Trên thực tế,

có lúc, có nơi, các thế lực thù địch đã kích động được một bộ phận nhân dân gây

bạo loạn làm mất ổn định chính trị. Nếu Đảng, Nhà nước không kiên quyết xử lý

nghiêm minh, tiếp tục để lợi ích nhóm tiêu cực lộng hành sẽ tạo thuận lợi thêm

cho các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện những âm mưu phản động đe dọa sự

tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ.

3.2.4. Mâu thuẫn giữa yêu cầu thực hiện công bằng xã hội bền vững

với khuynh hướng phân tầng xã hội ngày càng gia tăng

Phân tầng xã hội là một hiện tượng xã hội khách quan, phổ biến ở mọi xã

hội. Dưới góc độ xã hội học, phân tầng xã hội có nguồn gốc từ sự tồn tại của

tình trạng bất bình đẳng mang tính c ơ cấu của tất cả các ch ế độ xã hội và sự

phân công lao động trong xã h ội. Bên c ạnh đó, sự khác nhau v ề mặt vị th ế

111

trong xã hội cũng dẫn tới sự phân tầng xã hội “Trong xã hội luôn chỉ có một

số rất ít những vị thế thuộc tầng lớp cao, có nhiều ưu thế về mặt quyền lực, lợi

ích kinh tế và uy tín xã h ội; còn lại đa số các vị thế khác thu ộc các tầng lớp

thấp hơn hoặc ở tầng đáy của xã hội, chính th ực tế khách quan này đã tạo ra

sự phân tầng xã hội” [127, tr.65].

Bức tranh khái quát v ề phân t ầng xã h ội ở Vi ệt Nam cho th ấy, phân

tầng xã hội có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực. Phân tầng xã hội tích cực phù

hợp với CBXH, tạo động lực thúc đẩy tính năng động xã hội, khả năng cạnh

tranh và v ươn lên c ủa con ng ười và xã h ội. Nh ững người có trình độ, năng

lực cao và điều ki ện tốt sẽ có nhi ều cơ hội phát tri ển và được hưởng th ụ

tương xứng với vị thế của họ, ngược lại những người có trình độ và năng lực

hạn chế, khả năng đóng góp cho xã h ội ít thì h ọ sẽ được xã hội đánh giá và

nhìn nh ận đúng mức với nh ững gì h ọ có và làm cho xã h ội. Nh ư Hồ Chí

Minh đã khẳng định “ Làm nhi ều hưởng nhiều, làm ít h ưởng ít, không làm

thì không hưởng” [75, tr.404].

Tuy nhiên, bên cạnh phân tầng xã hội tích cực, còn có phân tầng xã hội tiêu

cực, nghĩa là phân tầng xã hội không chủ yếu dựa trên sự khác biệt về năng lực,

trình độ, điều kiện thực tế và kh ả năng cống hiến thực tế của mỗi người, mỗi

nhóm xã hội cụ thể cho xã hội. Đây là dạng phân tầng xã hội “Dựa vào những

hành vi trái pháp luật, tham nhũng, lừa gạt, trộm cắp, buôn bán phi pháp để trở

nên giàu có, luồn lọt, xu nịnh, để có vị trí cao trong xã hội hoặc lười biếng, ỷ lại

để rơi vào sự nghèo khó, hèn kém” [114, tr.122]. Dạng phân tầng xã hội này diễn

ra mạnh, đặc biệt là trong điều kiện các thể chế KTTT chưa hoàn thiện, đồng bộ,

hệ thống pháp luật chưa thực sự đầy đủ, xử lý pháp luật chưa nghiêm minh và ý

thức tự giác về chính trị - xã hội của người dân chưa cao. Phân tầng xã hội tiêu

cực cản trở sự phát triển kinh tế và quá trình thực hiện CBXH.

Phân tầng xã hội tiêu cực thể hiện một cách tự phát, cực đoan, mà bi ểu

hiện rõ nh ất là sự phân hóa giàu nghèo, chênh l ệch về mức sống ngày càng

112

gia tăng. Sự gia t ăng kho ảng cách giàu nghèo đôi khi đến mức tương ph ản

thành hai cực trong xã hội đang trở thành vấn đề bức xúc cần phải giải quyết,

đó là s ự xu ất hi ện nh ững nhóm xã h ội vượt tr ội và nhóm xã h ội yếu th ế.

Những nhóm xã h ội vượt trội là nh ững người giàu có “ đột biến” với tài sản

lên tới vài tr ăm triệu đô la. H ọ là nh ững người giàu không ph ải do nguyên

nhân bất chấp pháp luật mà làm giàu từ bất động sản và nhiều nguồn lợi khác.

Sự giàu có của nhóm người này tạo khoảng cách, chênh lệch giàu nghèo càng

lớn và đây cũng là biểu hiện của sự phân hóa giàu nghèo không ch ủ yếu dựa

trên tài năng, sự cống hiến khác nhau của mỗi người cho xã hội.

Đối lập với nhóm giàu có v ượt trội là nh ững nhóm xã h ội yếu thế. Ở

những nhóm xã h ội này, kh ả năng ti ếp cận cơ hội, điều ki ện th ị tr ường

của họ rất hạn ch ế. Một bộ phận dân c ư khá đông, ch ủ yếu là ở các vùng

nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng dân t ộc mi ền núi v ẫn trong tình

trạng đói nghèo, thi ếu các điều ki ện phát tri ển kinh t ế. Họ hầu nh ư bị

tách bi ệt kh ỏi ti ến trình đổi mới và t ăng tr ưởng của đất nước. Ph ần lớn

những hộ nghèo là do đông con, thi ếu việc làm, thi ếu đất sản xu ất, thi ếu

điều ki ện ch ăm sóc y t ế; một số không có kinh nghi ệm ho ặc lười lao

động, sa vào các t ệ nạn xã h ội như rượu, chè, c ờ bạc…,thậm chí không ít

người do không bi ết cách làm ăn đã bị cơ ch ế th ị tr ường đào th ải và r ơi

vào tình tr ạng bần cùng hóa. Bên c ạnh đó, một số bất cập trong c ơ ch ế,

chính sách làm cho ng ười nghèo khó có kh ả năng ti ếp cận các d ịch vụ xã

hội và do v ậy, kho ảng cách v ề mức sống, phân hóa giàu, nghèo ngày

càng trở nên xa h ơn.

Trong xã h ội, bên c ạnh nh ững cá nhân, các nhóm xã h ội bi ết làm

giàu chân chính, h ợp pháp v ẫn còn t ồn tại không ít nh ững kẻ làm giàu

phi pháp, hành động bất ch ấp pháp lu ật và đạo đức, nh ư buôn gian, bán

lậu, lừa đảo, tham nh ũng, h ối lộ, cướp đoạt lao động của ng ười khác, l ợi

dụng để tr ục lợi riêng mà làm t ổn th ương lợi ích chung, ảnh hướng xấu

113

đến lợi ích lâu dài c ủa cộng đồng xã h ội. Đó là s ự giàu có không d ựa

trên s ức lao động, tài n ăng và s ự đóng góp, c ống hiến. Trong n ền KTTT,

bóc lột, bất công v ẫn tồn tại trong các quan h ệ lao động, trong mua bán

sức lao động, đây cũng là m ột kênh d ẫn tới làm giàu phi pháp. K ẽ hở

trong pháp lu ật, chính sách và nh ững yếu kém trong qu ản lý c ũng là

mảnh đất tốt cho s ự nảy nở làm giàu phi pháp và phân t ầng xã h ội tiêu

cực. Một bi ểu hi ện khác c ủa phân t ầng xã h ội tiêu c ực hi ện nay là vi ệc

làm giàu do l ợi dụng ch ức quy ền và nh ững thu ận lợi địa vị, ch ức quy ền

và nh ất là nh ững mối quan h ệ thân h ữu mà các nhà nghiên c ứu gọi là

“chủ ngh ĩa tư bản thân h ữu”. Đó là tr ường hợp một số quan ch ức trong

khu vực nhà n ước có m ối quan h ệ ch ặt ch ẽ theo ki ểu “hai bên cùng có

lợi” với nh ững ch ủ doanh nghi ệp trong khu v ực tư nhân mà xã h ội ph ải

trả giá quá đắt nh ư sự th ất thoát tài s ản, lãng phí, ô nhi ễm môi tr ường,

xói mòn đạo đức, kỷ cương pháp lu ật.

Trong nh ững năm tới, xu h ướng tiêu c ực này ti ếp tục bộc lộ rõ v ới

mức độ gia t ăng và bi ểu hi ện tinh vi, ph ức tạp do phát tri ển KTTT, trong

đó phát tri ển mạnh kinh t ế tư nhân, do hi ệu quả chưa cao của cải cách hành

chính, do thi ếu tính nghiêm minh c ủa pháp lu ật và do s ự tham gia c ầm

chừng trong đấu tranh phòng, ch ống tham nhũng và các t ệ nạn xã hội.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Thực hiện CBXH gắn với quá trình quá trình xây d ựng và phát tri ển nền

KTTT định hướng XHCN và là m ột trong nh ững nội dung tr ọng tâm của sự

nghiệp đổi mới ở nước ta. Đảng và Nhà nước ta, trên tinh th ần tôn trọng quy

luật khách quan, kiên trì m ục tiêu xây dựng xã hội giàu mạnh, dân chủ, công

bằng, văn minh đã từng bước đổi mới tư duy lý luận về CBXH và KTTT định

hướng XHCN, xây d ựng quan điểm, đường lối phát tri ển phù hợp, phát huy

sức mạnh của toàn dân, đạt được những thành tựu to lớn thúc đẩy TTKT, đảm

114

bảo CBXH trong s ản xuất kinh doanh c ủa các ch ủ thể kinh tế; điều tiết phân

phối các nguồn lực và phân phối thu nhập theo hướng CBXH v.v..; những giá

trị ưu vi ệt của CNXH ngày càng được kh ẳng định, ni ềm tin, s ự đoàn kết

thống nhất toàn xã hội ngày càng được nâng cao.

Tuy nhiên, cùng v ới những thành tựu đạt được, chúng ta đang phải đối

mặt với nhiều khó kh ăn thử thách to l ớn cần giải quyết. Tình trạng phân biệt

đối xử giữa các thành ph ần kinh tế, tình trạng bất cập trong việc gắn kết giữa

TTKT với thực hiện CBXH, đặc biệt là tệ tham nh ũng, lãng phí gia t ăng đã

gây nên những bất công xã hội sâu sắc, tác động tiêu cực tới tính chất XHCN

trong sự phát triển của đất nước. Hiện nay, trong quá trình phát tri ển của nền

KTTT định hướng XHCN và h ội nh ập qu ốc tế, bên c ạnh nh ững thu ận lợi,

hàng lo ạt nh ững mâu thu ẫn ph ức tạp đang đặt ra đối với quá trình th ực thi

CBXH nh ư: mâu thu ẫn gi ữa TTKT g ắn với CBXH và kh ả năng th ực hi ện;

mâu thuẫn giữa tính ch ất chưa đồng bộ của nền KTTT và th ực hiện CBXH;

mâu thuẫn giữa sự gia tăng xung đột lợi ích cá nhân, l ợi ích nhóm, lợi ích xã

hội và nhi ệm vụ thực hi ện CBXH; mâu thu ẫn giữa sự phân tầng xã h ội với

thực hiện mục tiêu CBXH. Những mâu thuẫn này luôn tồn tại khách quan, tác

động thường xuyên và tr ực ti ếp đến xã h ội, mu ốn vượt qua đòi hỏi ph ải có

những chiến lược, giải pháp phù hợp, đảm bảo vừa phát triển kinh tế vừa thực

hiện CBXH trong từng bước và cả quá trình phát triển của đất nước.

115

Chương 4

NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU BẢO ĐẢM THỰC HIỆN

CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

4.1. XÂY D ỰNG VÀ HOÀN THI ỆN TH Ể CH Ế KINH T Ế TH Ị TR ƯỜNG

ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Như đã phân tích, KTTT định hướng XHCN đã tạo ra những cơ sở kinh tế -

xã hội quan trọng nhằm thực hiện CBXH. Hiện nay, ở nước ta, KTTT đang trong

quá trình xây dựng và phát triển, còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục, trong đó

nổi bật là tính chất chưa đồng bộ trong thể chế, chính sách của KTTT cũng như

trong phương thức hoạt động của các loại thị trường; xu hướng cạnh tranh lành

mạnh giữa các chủ thể kinh tế chưa được đảm bảo; tình trạng không minh bạch,

có nhiều sân chơi, nhiều ưu đãi đang gây ra tình trạng mất CBXH nghiêm trọng

v.v..Do vậy, một trong nh ững nhi ệm vụ quan tr ọng hàng đầu nh ằm thúc đẩy

TTKT và thực hiện CBXH ở nước ta hi ện nay là ph ải đẩy nhanh nhịp độ phát

triển KTTT, hướng tới một nền KTTT đồng bộ và hiện đại, từng bước hội nhập

quốc tế. Để thực hiện mục tiêu đó, nhiệm vụ trọng tâm và cơ bản là phải xây dựng

và hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN. Hiểu một cách khái quát, thể chế

KTTT định hướng XHCN ở nước ta là hệ thống các quy tắc, cơ chế, cách thức xác

định của KTTT được vận hành bởi các chủ thể kinh tế khác nhau theo hướng vừa

đảm bảo phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường, vừa phát huy vai trò tích cực của

Nhà nước trong hỗ trợ và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hệ thống thể chế

KTTT định hướng XHCN phải khẳng định mục tiêu cao nhất của việc xây dựng

nền KTTT là đạt được một xã hội “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân

chủ, văn minh”, gắn TTKT với việc thực hiện CBXH ngay trong từng bước và cả

quá trình phát triển. Trong thời gian tới, để thực hiện được mục tiêu này, cần phải

triển khai đồng bộ các giải pháp chính sau:

116

Một là, từng bước xây dựng, hoàn thi ện th ể ch ế KTTT hi ện đại, nâng

cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Thể chế KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam ph ải đảm bảo cho các

quan h ệ sản xu ất được xác l ập và không ng ừng hoàn thi ện theo h ướng

ngày càng phù h ợp hơn với trình độ phát tri ển của lực lượng sản xu ất

trong từng th ời kỳ, phát huy t ối đa mọi ti ềm năng tăng tr ưởng, th ực hi ện

xóa bỏ hoàn toàn m ọi hình th ức phân bi ệt đối xử theo hình th ức sở hữu và

phương thức sản xuất của các lo ại hình doanh nghi ệp sản xuất kinh doanh.

Tuy nhiên, để đảm bảo hi ệu qu ả CBXH, c ần thi ết ph ải khẳng định và t ạo

điều ki ện cho kinh t ế nhà n ước gi ữ vai trò ch ủ đạo, là l ực lượng vật ch ất

quan tr ọng để Nhà n ước định hướng và điều ti ết kinh t ế, tạo môi tr ường

và điều kiện thúc đẩy các thành ph ần kinh t ế khác cùng phát tri ển; kinh t ế

nhà n ước và kinh t ế tập th ể ngày càng tr ở thành n ền tảng vững ch ắc của

nền kinh t ế quốc dân.

Trong điều ki ện KTTT định hướng XHCN, phát tri ển kinh t ế tư nhân

cũng phải được xác định là vấn đề chiến lược trong phát tri ển kinh t ế nhiều

thành ph ần định hướng XHCN ở nước ta. Th ể ch ế KTTT ph ải được xây

dựng và hoàn thi ện theo h ướng đảm bảo cho mọi chủ thể kinh tế, mọi công

dân và doanh nghi ệp đều có quy ền tự do, bình đẳng tham gia vào các ho ạt

động đầu tư, kinh doanh. Quy ền sở hữu tài s ản và quy ền tự do kinh doanh

là bất kh ả xâm ph ạm, được bảo đảm bằng pháp lu ật. Mọi ng ười đều bình

đẳng trong ti ếp cận các c ơ hội, ngu ồn lực, kể cả các ngu ồn thông tin th ị

trường. Để làm được điều đó, trong th ời gian t ới, cần đẩy nhanh quá trình

cải cách th ủ tục hành chính, rà soát để xóa bỏ các thủ tục hành chính không

phù hợp, tạo rào c ản đối với các doanh nghi ệp. Đơn giản hóa th ủ tục hành

chính, ki ện toàn b ộ máy, nâng cao n ăng lực th ực thi pháp lu ật, đồng th ời

tiếp tục nghiên c ứu, sửa đổi và b ổ sung các quy định pháp lý phù h ợp với

117

môi tr ường kinh doanh trong n ước và qu ốc tế; đảm bảo công b ằng, không

phân biệt đối xử, phát huy t ối đa năng lực sản xuất kinh doanh c ủa mọi chủ

thể sản xuất, kinh doanh. Ti ếp tục xóa b ỏ những rào c ản về vốn, thông tin,

tăng cường chính sách h ỗ trợ, ưu đãi đối với các doanh nghi ệp.

Đẩy nhanh ti ến trình cổ ph ần hóa doanh nghi ệp nhà nước, thu hẹp lĩnh

vực độc quyền của nhà n ước, xóa b ỏ độc quyền doanh nghi ệp. Hạn ch ế và

tiến tới xóa bỏ các hình thức hỗ trợ trái với quy định của pháp luật và các quy

tắc thương mại quốc tế.

Xây dựng và hoàn thi ện thể chế KTTT ph ải hướng tới đảm bảo TTKT

bền vững thông qua vi ệc chuy ển đổi mô hình kinh t ế theo chi ều sâu. Mô

hình kinh t ế cũ chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, công ngh ệ gia công

đã khi ến cho ch ất lượng và hi ệu quả TTKT th ấp. Để phát tri ển kinh t ế bền

vững trong dài h ạn, cần ph ải chuy ển đổi mô hình kinh t ế theo h ướng gia

tăng hi ệu qu ả sử dụng ngu ồn lực, thân thi ện với môi tr ường, sử dụng tốt

các đòn bẩy, luật lệ, khuyến khích sáng t ạo, tăng năng su ất lao động, nâng

cao năng lực cạnh tranh.

Để kinh tế tăng trưởng cao và có ch ất lượng, đòi hỏi phải gia tăng vốn

đầu tư cho phát triển và quan trọng hơn phải sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả;

tăng cường phát huy khả năng đầu tư của nhân dân và kinh tế tư nhân, thu hút

mạnh hơn vốn đầu tư nước ngoài, ngăn chặn tình trạng đầu tư không hiệu quả,

vốn đầu tư bị đục khoét…Đây là điều kiện cực kỳ quan tr ọng cho TTKT và

ngăn chặn tham nhũng, bất công xã hội.

Nhà nước cần chỉ đạo điều chỉnh, bổ sung các quy ho ạch, kế hoạch đầu

tư, gắn với các mục tiêu chi ến lược phát tri ển hài hòa, đồng bộ về kinh t ế -

xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo đảm tính liên ngành, liên vùng; phân

cấp, phân định rõ ràng trách nhi ệm, quyền hạn của từng bộ, ngành, gi ữa bộ

ngành với địa phương, nâng cao trách nhi ệm quản lý, điều hành của các cấp.

118

Hai là, đảm bảo tính đồng bộ, th ống nh ất trong th ể ch ế vận hành c ủa

KTTT cũng như trong sự phát triển của các loại thị trường.

Tính ch ất đồng bộ, th ống nh ất của hệ th ống th ể ch ế KTTT được th ể

hiện thông qua tính đồng bộ và hi ệu qu ả của pháp lu ật, chính sách và các

thông lệ tích cực của thị trường, đảm bảo ngày càng phát huy n ăng lực của

các chủ thể như Nhà nước, doanh nghi ệp và người dân. Không ch ỉ vậy, tính

đồng bộ, nh ất quán c ủa th ể ch ế KTTT còn th ể hi ện thông qua quá trình

thực thi, ph ối hợp của các ch ủ th ể KTTT, tính t ương thích v ới nh ững quy

tắc, chuẩn mực kinh t ế trong khu v ực và qu ốc tế. Trong giai đoạn hiện nay,

để phát huy tính đồng bộ, th ống nh ất của th ể ch ế KTTT định hướng

XHCN, cần phải chú trọng các giải pháp chính nh ư sau:

- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật, đặc biệt là pháp luật kinh tế,

các chính sách kinh tế vĩ mô về tài chính, tiền tệ, giá cả, các quy định về cạnh

tranh và ki ểm soát độc quy ền trong kinh doanh…, qua đó tạo cơ ch ế cạnh

tranh lành mạnh đảm bảo cho c ơ ch ế thị trường được vận hành thông su ốt

nhằm phát huy tối đa tính tích cực của cơ chế thị trường.

- Tăng cường vai trò c ủa Nhà nước trong trong ổn định kinh tế vĩ mô,

bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, Nhà nước chủ yếu sử dụng các biện

pháp kinh tế và sử dụng các nguồn lực kinh tế, giảm tối đa các can thiệp hành

chính vào nền KTTT.

- Hoàn thi ện cơ ch ế ki ểm tra, ki ểm soát th ị tr ường của Nhà n ước và

thực hiện tốt các cam k ết thương mại, xúc ti ến đầu tư, giải quyết các tranh

chấp kinh t ế phù h ợp với KTTT định hướng XHCN và các thông l ệ, cam

kết quốc tế.

Quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN còn

phải được tiến hành thông qua vi ệc phát huy vai trò c ủa các lo ại thị trường.

Trong thời gian tới, chúng ta cần phải thực hiện tốt các giải pháp sau:

119

- Phát tri ển mạnh th ị tr ường hàng hóa, d ịch vụ: Đẩy mạnh tự do hóa

thương mại và đầu tư; phát triển các phương thức giao dịch hiện đại, giảm bớt

rủi ro cho ng ười sản xuất và tiêu dùng. Xây d ựng các tiêu chu ẩn chất lượng

hàng hóa, vệ sinh an toàn th ực phẩm, môi tr ường. Tăng cường kiểm tra ch ất

lượng hàng hóa, dịch vụ, nhất là nh ững hàng hóa, d ịch vụ liên quan tr ực tiếp

đến sức kh ỏe của ng ười dân. X ử lý nghiêm nh ững vi ph ạm các giao d ịch

thương mại đảm bảo tối đa quyền lợi của người tiêu dùng.

- Phát tri ển th ị trường tài chính, ti ền tệ: Tăng cường tính độc lập, tự

chủ và m ở rộng ch ức năng, vai trò điều hành th ị trường ti ền tệ của Ngân

hàng Nhà n ước nh ư một ngân hàng trung ương hi ện đại. Đổi mới căn bản

cơ chế quản lý c ủa Nhà n ước đối với các ngân hàng th ương mại nhà n ước

và các t ổ ch ức tín d ụng khác. Ti ếp tục tái c ơ cấu, nâng cao n ăng lực của

các đơn vị này. X ử lý có hi ệu quả đối với các kho ản nợ xấu hiện có, ng ăn

chặn tối đa các kho ản nợ xấu phát sinh. Phát tri ển dịch vụ ngân hàng đi

đối với đổi mới ho ạt động thanh tra, giám sát và đa dạng hóa các công c ụ

dự báo, phòng ng ừa rủi ro để đảm bảo an toàn h ệ thống ngân hàng. Nâng

cao ch ất lượng ngu ồn nhân l ực và phát tri ển hạ tầng công ngh ệ ngân hàng

hiện đại.

Hoàn thi ện môi tr ường th ể ch ế cho ho ạt động của th ị tr ường ch ứng

khoán Việt Nam phát tri ển lành mạnh, làm cho th ị trường chứng khoán ngày

càng đóng vai trò quan tr ọng huy động vốn cho đầu tư và phát tri ển. Đưa các

giao dịch chứng khoán phi tập trung vào phạm vi quản lý, kiểm soát của Nhà

nước. Ch ống các giao d ịch phi pháp, các hành vi r ửa ti ền, nhi ễu lo ạn thi

trường. Nâng cao năng lực dự báo, có biện pháp phòng ngừa tình trạng rút vốn

hàng loạt, ảnh hưởng xấu đến kinh tế vĩ mô. Mở rộng từng bước quyền mua cổ

phiếu của nhà đầu tư nước ngoài và t ạo thuận lợi cho các doanh nghi ệp Việt

Nam giao dịch trên thị trường chứng khoán quốc tế.

120

Phát triển đa dạng và nâng cao ch ất lượng của các sản ph ẩm bảo hiểm.

Tạo điều ki ện cho các doanh nghi ệp bảo hiểm thuộc các thành ph ần kinh tế

trong nước, khuyến khích hợp tác và liên kết giữa các nhà đầu tư trong nước và

nước ngoài. Th ực hiện lộ trình mở cửa thị trường bảo hiểm theo cam kết hội

nhập kinh tế quốc tế. Quan tâm hơn nữa đến các dịch vụ bảo hiểm đối với con

người. Nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm.

- Chú trọng phát triển thị trường bất động sản:

Hiện nay, th ị tr ường bất động sản gặp nhi ều khó kh ăn, trong đó ch ủ

yếu liên quan đến vấn đề thể chế cũng như các giải pháp qu ản lý thị trường,

điều này đã làm cho th ị trường bất động sản trở thành một trong nh ững lĩnh

vực “nóng” nh ất của đời sống xã h ội, gây nhi ều bất công, t ạo nên nh ững

phản ứng mạnh mẽ của ng ười dân và nhi ều doanh nghi ệp. Cho đến nay,

vẫn ch ưa xác định rõ các c ơ ch ế chính th ức để đưa đất đai tr ở thành v ốn

phát tri ển, để quyền sử dụng đất đai tr ở thành hàng hóa. Quy ho ạch, qu ản

lý và s ử dụng đất còn nhi ều bất cập, vi ph ạm nguyên t ắc công b ằng xã hội.

Công tác ki ểm tra, giám sát ho ạt động của th ị trường bất động sản còn r ất

yếu kém.

Trong thời gian tới, giải pháp cơ bản nhằm phát triển thị trường bất động

sản phát tri ển lành m ạnh, đảm bảo nguyên t ắc công b ằng, cạnh tranh bình

đẳng cần phải chú tr ọng hoàn thi ện hệ thống pháp lu ật về bất động sản, làm

cho các quyền về đất đai và bất động sản phải được vận động theo cơ chế thị

trường. Hoàn thi ện chính sách thu ế liên quan đến kinh doanh b ất động sản,

khuyến khích đầu tư nâng cao giá tr ị của bất động sản, đồng thời ngăn chặn

những cơn sốt phát sinh do đầu cơ đất đai, bất động sản.

Đất đai là yếu tố quan trọng nhất đối với những người yếu thế, đặc biệt

là ng ười nghèo và doanh nghi ệp nh ỏ. Do qu ỹ đất nông nghi ệp ngày càng

giảm đi, nền cần nhận thức rõ sự gắn kết giữa tăng trưởng và CBXH để đưa

121

những khía cạnh này vào quá trình xây d ựng và th ực thi chính sách thu h ồi

đất nông nghi ệp, chính sách s ử dụng đất nông nghi ệp. Xét v ề tăng tr ưởng,

khi cung đất nông nghi ệp giảm đi, để bù lại cần tăng năng suất lao động của

sản xu ất nông nghi ệp và phi nông nghi ệp. Đây là v ấn đề cần được xem xét

kỹ lưỡng trong ho ạch định chính sách. Đối với doanh nghi ệp nh ỏ cũng cần

có những chính sách ưu đãi hoặc hỗ trợ có điều kiện để nhóm đối tượng này

có thể tiếp cận đất đai.

Đẩy mạnh việc giải quyết vấn đề nhà ở cho một số đối tượng chính sách

xã hội theo hướng Nhà nước tăng cường đầu tư xây dựng quỹ nhà ở xã hội để

cho thuê hoặc bán theo quy định của pháp luật. Giải quyết vấn đề nhà ở cho lao

động ở các khu công nghiệp, khu kinh tế v.v..

- Phát tri ển thị trường lao động: Đối với thị trường lao động, bên c ạnh

bảo vệ người lao động bằng chính sách ti ền lương, tiền công, c ần đồng thời

tăng hiệu lực của các chính sách an sinh xã h ội. Để đảm bảo công b ằng và

tiến bộ xã hội, cần đẩy nhanh quá trình chính th ức hóa th ị trường lao động

phi chính quy đã và đang tồn tại khá ph ổ biến ở nước ta. Gi ải pháp này c ần

được thực hi ện kết hợp với nhi ều gi ải pháp khác nh ư cải thiện môi tr ường

đầu tư và kinh doanh để giảm thiểu nh ững rào c ản gia nh ập thị trường đối

với các doanh nghi ệp, tăng cường đào tạo ngu ồn nhân l ực để đáp ứng nhu

cầu của thị trường.

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp luật, chính sách về tiền lương, tiền công,

sớm xây dựng Luật Tiền lương tối thiểu, Luật Việc làm. Th ể chế hóa ch ế độ

tiền lương tối thiểu đảm bảo công bằng xã hội.

Hoàn thiện khung pháp lu ật, chính sách về hệ thống giao dịch thị trường

nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động, kiểm soát, ngăn chặn các hành vi

lừa đảo và các hiện tượng khác. Tăng cường quản lý và giám sát của Nhà nước

với các ho ạt động trên thị trường lao động. Xử lý có hi ệu quả các tranh ch ấp,

bảo đảm lợi ích chính đáng của người lao động và người sử dụng lao động

122

4.2. NÂNG CAO VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG VÀ HI ỆU LỰC QUẢN

LÝ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI

Thực hiện CBXH là yêu cầu khách quan đối với sự phát triển KTTT định

hướng XHCN ở nước ta. Để bi ến yêu c ầu khách quan đó thành hi ện th ực,

nhiệm vụ hàng đầu là ph ải không ng ừng nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng

và hiệu lực quản lý của Nhà nước, tức là phát huy sức mạnh chủ thể, tạo nhân

tố và điều ki ện quyết định đảm bảo thành công m ục tiêu đề ra. Trong th ời

gian tới, cần thực hiện tốt các giải pháp cơ bản như sau:

Thứ nhất, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ và năng lực lãnh đạo của

Đảng; không ngừng tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về CBXH trong điều

kiện KTTT định hướng XHCN ở nước ta.

Bản lĩnh chính tr ị của Đảng là kh ả năng, ý chí kiên định của Đảng

trước mọi hoàn c ảnh, nh ất là lúc cách m ạng gặp khó kh ăn, th ử thách. B ản

lĩnh chính tr ị của Đảng th ể hi ện ở sự trung thành v ới ch ủ ngh ĩa Mác -

Lênin và t ư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu, lý t ưởng XHCN đã

được lựa ch ọn; bình t ĩnh, sáng su ốt tr ước nh ững bi ến động ph ức tạp của

tình hình th ế giới và tác động đa chiều của KTTT cùng v ới xu th ế hội nhập

quốc tế ngày càng ph ổ biến.

Ở Vi ệt Nam hi ện nay, th ực hi ện CBXH trong điều ki ện KTTT định

hướng XHCN v ẫn đang là v ấn đề mới mẻ, ph ức tạp, có th ời cơ, thu ận lợi,

nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức. Bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên

định sẽ giúp cho Đảng tận dụng thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó kh ăn, thách

thức đưa đất nước vững vàng đi lên vì mục tiêu phát triển đất nước giàu mạnh

đi đôi với thực hiện công bằng, tiến bộ xã hội.

Tăng cường năng lực lãnh đạo của Đảng, ngoài vi ệc giữ vững bản lĩnh

chính trị, Đảng phải không ngừng nâng cao trình độ trí tuệ ngang tầm đòi hỏi

của nhiệm vụ mới. Trước tiên và quan trọng nhất là Đảng phải nâng cao năng

lực hoạch định chủ trương, đường lối khoa học, đúng đắn. Chủ trương, đường

123

lối đó ph ải phản ánh đúng đắn quy lu ật phát tri ển của đời sống xã h ội, phù

hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân, được nhân dân đồng tình ủng

hộ; gắn với tình hình l ịch sử cụ thể của đất nước và xu th ế phát tri ển khách

quan của thời đại.

Nâng cao b ản lĩnh chính tr ị và phát huy n ăng lực trí tuệ của Đảng luôn

gắn li ền với quá trình h ọc tập lý lu ận ch ủ ngh ĩa Mác - Lênin và t ư tưởng

Hồ Chí Minh; m ỗi cán b ộ đảng viên không ng ừng nâng cao trình độ mọi

mặt, tích cực rèn luy ện thực tiễn, gắn bó với nhân dân; ti ếp thu có ch ọn lọc

kinh nghi ệm của các n ước; không ng ừng mở rộng dân ch ủ trong Đảng và

trong xã h ội.

Xung quanh vấn đề lý luận về KTTT định hướng XHCN và CBXH, hiện

nay, còn nhi ều quan điểm và nh ận thức khác nhau, đòi hỏi Đảng ta ph ải tiếp

tục tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận. Trong thời gian tới, hàng loạt những

vấn đề quan tr ọng, cấp bách v ề CBXH trong điều ki ện KTTT định hướng

XHCN cần được tiếp tục bổ sung, làm rõ nh ư: Lý luận về KTTT định hướng

XHCN trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay; vấn đề công bằng về

cơ hội và điều kiện phát tri ển; phân tầng xã hội và CBXH; t ương quan gi ữa

tăng trưởng kinh tế và công b ằng, tiến bộ xã hội; tính quy lu ật của việc thực

hiện CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN; CBXH và v ấn đề an

sinh xã h ội, phúc l ợi xã h ội v.v..T ất cả nh ững vấn đề này c ần ph ải được

nghiên cứu tường minh, tạo khung lý luận cơ bản để tiếp tục thực hiện CBXH

trên cơ sở đảm bảo thúc đẩy kinh tế phát triển ổn định, bền vững. Để làm tốt

vấn đề này, Đảng phải tiếp tục đổi mới tư duy lý lu ận, thực sự giải phóng tư

tưởng khỏi nh ững khuôn mẫu, nh ững quan ni ệm cũ đã hình thành trong c ơ

chế cũ mà đến nay không còn phù h ợp. Phát tri ển lý lu ận gắn với tổng kết

thực ti ễn, nhanh nh ạy nắm bắt nh ững vấn đề mới nảy sinh, bám sát các s ự

kiện đang vận động, dự báo được chiều hướng phát triển của tình hình; kh ắc

phục chủ nghĩa chủ quan duy ý chí, ch ủ nghĩa kinh nghiệm, khắc phục những

quan niệm giản đơn, giáo điều v.v..

124

Thứ hai, tiếp tục đổi mới phương th ức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà

nước trong việc thực hiện công bằng xã hội.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà n ước trong vi ệc xây

dựng, ban hành lu ật pháp, hoàn thi ện hệ th ống pháp lu ật và các chính sách

của Nhà nước nhằm phát triển KTTT và thực hiện CBXH.

Thực hiện nghiêm chỉnh quy chế về xây dựng và ra nghị quyết của Đảng,

nâng cao ch ất lượng các ngh ị quyết của Đảng về phát tri ển kinh tế - xã h ội

liên quan đến việc thực thi CBXH, t ạo điều kiện thuận lợi cho Nhà n ước thể

chế hóa các nghị quyết đó và đồng thời tổ chức thực hiện đạt kết quả cao.

Thực hiện nghiêm ch ỉnh quy ch ế về sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà

nước, Đảng không can thi ệp quá sâu vào công vi ệc qu ản lý, điều hành c ủa

Nhà nước, Đảng cũng không làm thay công vi ệc của Nhà n ước, Đảng lãnh

đạo Nhà nước nhằm phát huy vai trò lãnh đạo chính tr ị của Đảng, đồng thời

phát huy vai trò, ch ủ động, sáng t ạo của Nhà n ước đối với vi ệc th ực hi ện

CBXH trong điều kiện KTTT.

Đổi mới việc học tập, quán tri ệt nghị quyết của Đảng nói chung và ngh ị

quyết về những vấn đề liên quan tr ực tiếp đến CBXH nói riêng, g ắn việc học

tập, quán tri ệt ngh ị quyết với xây d ựng ch ương trình, hành động th ực hi ện

nghị quyết của tập thể và cá nhân cán b ộ, đảng viên, công ch ức trong các c ơ

quan Nhà nước.

Tiếp tục đổi mới phong cách, l ề lối làm vi ệc của Đảng trong lãnh đạo

Nhà nước thực hiện CBXH theo hướng phát huy dân chủ, đảm bảo kỷ cương,

thiết thực, sâu sát cơ sở, sâu sát nhân dân, làm việc có chương trình, kế hoạch,

có trọng tâm, trọng điểm, nói đi đôi với làm. Đổi mới cách ra nghị quyết, văn

kiện và báo cáo phải đảm bảo tính thiết thực, cụ thể, đổi mới và nâng cao chất

lượng các hội nghị nói chung và hội nghị liên quan tới CBXH nói riêng.

Đẩy mạnh th ực hi ện công cu ộc xây d ựng, ch ỉnh đốn Đảng, nâng cao

năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng; củng cố, nâng cao

125

chất lượng hoạt động của Ban cán sự đảng, phát huy mạnh mẽ vai trò của các

tổ ch ức này trong vi ệc tr ực ti ếp lãnh đạo của cơ quan, cán b ộ, công ch ức

nhằm thực hiện CBXH.

Thứ ba, xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý cho vi ệc thực hiện CBXH

trong điều kiện KTTT định hướng XHCN.

Với tính cách là công c ụ quản lý nhà nước chủ yếu nhất, trong điều kiện

KTTT, pháp luật, đặc biệt là pháp luật về kinh tế, có vai trò tạo cơ sở pháp lý

cho Nhà n ước th ực hi ện CBXH. Ch ỉ bằng pháp lu ật, Nhà n ước mới có th ể

thực hiện tốt CBXH ở tất cả các mặt, các quá trình v ận hành của nền kinh tế

theo cơ chế thị trường như công bằng trong sở hữu về tư liệu sản xuất, trong

quản lý và phân ph ối, trong quá trình điều tiết các ngu ồn lực cho phát tri ển

kinh tế - xã hội.

Trong giai đoạn hiện nay, các quy định pháp luật được xây dựng và hoàn

thiện cần thực hiện tốt những điểm sau:

- Xây dựng và hoàn thiện pháp luật cần quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ

trương của Đảng về phát triển kinh tế - xã h ội hiện nay, đó là: xây d ựng nền

KTTT định hướng XHCN, huy động mọi tiềm năng, nguồn lực trong và ngoài

nước cho phát tri ển kinh t ế; đảm bảo cho kinh t ế Nhà n ước gi ữ vai trò ch ủ

đạo, kinh tế Nhà nước và kinh t ế tập thể làm nền tảng của nền kinh tế quốc

dân; tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và CBXH trong từng bước và cả

quá trình phát triển.

- Nâng cao ch ất lượng ho ạt động xây d ựng và ban hành các v ăn bản

pháp lu ật. Các v ăn bản pháp lu ật được xây dựng phải có ch ất lượng tốt, có

tính kh ả thi, đồng th ời ph ản ánh được sự phát tri ển đa dạng, phong phú

trong các l ĩnh vực của đời sống xã h ội. Th ường xuyên coi tr ọng công tác

điều tra, kh ảo sát th ực tiễn phục vụ việc xây dựng và ban hành các v ăn bản

pháp lu ật. Phát huy dân ch ủ trong xây d ựng văn bản dự th ảo phát tri ển,

tăng cường trao đổi, tọa đàm, coi tr ọng ý ki ến của các c ơ quan, đơn vị có

126

liên quan, c ủa cán b ộ có chuyên môn, các nhà khoa h ọc và đặc bi ệt là t ổ

chức xin ý ki ến của nhân dân v ề các d ự th ảo văn bản pháp lu ật bằng các

hình thức, phương pháp thích h ợp.

- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong các cơ quan chuyên trách về

xây dựng pháp luật.

- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về xây dựng và ban hành luật. Đây là vấn đề

rất cần thiết đối với nước ta trong điều kiện hiện nay. Việc mở cửa, chủ động

và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện công

việc này, nh ất là vi ệc hợp tác, trao đổi, học tập kinh nghi ệm xây dựng pháp

luật với các nước phát triển và các nước có những điểm tương đồng với nước

ta. Tuy nhiên, tiến hành công việc này phải trên cơ sở đường lối đối ngoại của

Đảng và quy định của Nhà nước với những phương thức thích hợp.

Thứ tư, xây d ựng bộ máy Nhà n ước trong s ạch, vững mạnh; không

ngừng nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ,

công chức Nhà nước.

Thực tế đã ch ứng minh, m ột nhà n ước quan liêu, ho ạt động kém hi ệu

quả, cán bộ công chức phẩm chất và năng lực yếu kém không thể thúc đẩy sự

phát tri ển kinh tế và th ực hiện CBXH. Vì v ậy, xây dựng bộ máy Nhà n ước

trong sạch vững mạnh và hiệu quả là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Hiện nay, cơ

cấu tổ chức Nhà nước ta còn nhiều chỗ chưa hợp lý, nhiều tầng nấc, nhiều đầu

mối; lề lối làm việc chưa chuyên nghiệp, hiện đại. Các thủ tục hành chính còn

rườm rà, đội ngũ cán bộ công ch ức chưa đáp ứng được yêu cầu của một nền

hành chính văn minh, chuyên nghi ệp và hi ện đại. Hiện tượng quan liêu, c ửa

quyền, sách nhi ễu trong gi ải quyết công vi ệc hành chính v ẫn còn t ồn tại ở

nhiều nơi, nhi ều lúc, điều này đã làm suy gi ảm vai trò, s ức mạnh của Nhà

nước. Do đó Nhà nước cần phải tiếp tục đổi mới cơ cấu tổ chức bộ máy và

phương th ức ho ạt động theo h ướng tinh gi ản, gọn nh ẹ, phân định rõ ch ức

năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan; lo ại bỏ các th ủ tục hành chính

127

rườm rà không c ần thi ết, th ực hi ện nguyên t ắc công khai, minh b ạch trong

mọi khâu giải quyết thủ tục hành chính. Nhà n ước cần tích cực áp dụng công

nghệ thông tin vào qu ản lý hành chính, t ừng bước triển khai “chính ph ủ điện

tử” nhằm nâng cao hi ệu lực, hiệu quả điều hành của chính ph ủ và hệ thống

các cơ quan hành chính các cấp.

Nhà nước cần chú tr ọng đổi mới, nâng cao ch ất lượng đội ng ũ cán b ộ

công ch ức cả về năng lực và ph ẩm ch ất, đáp ứng yêu cầu th ực thi công v ụ

hiệu quả. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tăng cường công

tác thanh tra công v ụ, ng ăn ch ặn và x ử lý nghiêm nh ững hành vi tiêu c ực

tham nh ũng, hách d ịch của cán b ộ nhà n ước. Nhà n ước cần ph ải th ực hi ện

CBXH ngay trong công tác cán bộ, tăng cường cải cách chế độ tiền lương của

cán bộ công chức tạo điều kiện để họ yên tâm công tác, hoàn thành nhiệm vụ,

không sa vào các tiêu cực, tệ nạn đã được nêu trên, nhất là tham nhũng, nhằm

thực hiện CBXH.

4.3. ĐỔI MỚI VÀ HOÀN THI ỆN CÁC CHÍNH SÁCH KINH T Ế, CHÍNH

SÁCH XÃ HỘI THEO HƯỚNG GIẢI QUYẾT HÀI HÒA CÁC QUAN HỆ LỢI ÍCH

4.3.1. Xây dựng và hoàn thiện các chính sách kinh tế

* Chính sách sở hữu:

Kinh tế thị trường định hướng XHCN ph ải thừa nhận sự tồn tại đa dạng

hóa các hình th ức sở hữu, các thành ph ần kinh tế. Ở nước ta hiện nay, tồn tại

ba lo ại hình s ở hữu ch ủ yếu: toàn dân (nhà n ước), tập th ể và t ư nhân. M ỗi

thành phần kinh tế tồn tại dưới hình thức tổ chức kinh tế nhất định và có một

loại hình sở hữu đặc trưng, hoặc đan xen nhi ều loại hình sở hữu khác nhau,

song trong đó bao giờ cũng có một loại hình sở hữu thống trị, chi phối cơ bản

hệ thống kinh tế - xã hội.

Từ thực tiễn đổi mới ở nước ta, có th ể thấy việc đa dạng hóa các hình

thức sở hữu là khách quan, ph ản ánh quy lu ật phát tri ển không đồng đều

của lực lượng sản xuất, tuy nhiên, ở một phương diện khác, vi ệc thừa nhận

128

tính đa dạng của các hình th ức sở hữu chính là ph ương th ức bảo đảm

CBXH, tôn tr ọng và b ảo vệ lợi ích đa dạng của các ch ủ th ể khác nhau.

Chính điều này đã có tác d ụng to lớn giải phóng s ức sản xuất, khơi dậy mọi

tiềm năng phát tri ển. Song, đa dạng hóa các lo ại hình s ở hữu, các thành

phần kinh t ế phải trên c ơ sở đảm bảo ch ế độ sở hữu toàn dân (s ở hữu nhà

nước) và s ở hữu tập th ể gi ữ vai trò ch ủ đạo. Vai trò ch ủ đạo của sở hữu

Nhà nước và t ập th ể cho phép ph ản ánh đặc tr ưng căn bản của ch ế độ sở

hữu XHCN, t ạo điều ki ện gi ải quy ết hài hòa quan h ệ lợi ích th ống nh ất

giữa cá nhân, nhóm xã h ội và toàn xã h ội

Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể sẽ tạo điều kiện

huy động các ngu ồn lực tập trung cho phát tri ển vững mạnh của đất nước,

thúc đẩy tăng tr ưởng và đặc bi ệt là t ạo ti ền đề vật ch ất tr ực ti ếp gi ải quyết

CBXH một cách hi ệu qu ả nh ất. Tuy nhiên, vai trò ch ủ đạo của kinh t ế nhà

nước không mang ý ngh ĩa độc tôn, v ới ph ạm vi th ống trị tuyệt đối áp dụng

đối với tất cả các tư liệu sản xuất như trước đây, mà chỉ đối với một số tư liệu

sản xuất chủ yếu. Kinh tế nhà nước không phải dàn trải ở tất cả các mặt, các

lĩnh vực kinh tế, mà ngược lại, chỉ tập trung vào nh ững ngành, lĩnh vực có vị

trí quan tr ọng, có tính ch ất huyết mạch cho phép đảm bảo duy trì ho ạt động

hài hòa và hiệu quả cao của nền kinh tế. Trong khi đó, phải đảm bảo khu vực

kinh tế tư nhân được coi là b ộ phận hữu cơ của nền kinh tế, là khu v ực chủ

yếu giải quyết việc làm, tăng thu nh ập, tạo sức ép thúc đẩy cạnh tranh, tăng

chất lượng và hiệu quả đối với các khu vực kinh tế khác.

* Chính sách phân phối

Chính sách phân ph ối của một chế độ xã hội có vai trò quy ết định thành

tựu CBXH của chế độ xã hội đó. Kinh tế dù phát triển, có nhiều điều kiện vật

chất để thực hiện CBXH, nh ưng nếu chính sách phân ph ối không công b ằng

cũng không th ể có CBXH. Bên c ạnh đó, chính sách phân ph ối không công

bằng cũng sẽ tác động tiêu cực đến phát tri ển kinh tế, triệt tiêu các động lực

cho phát triển kinh tế.

129

Xây dựng và hoàn thi ện chính sách phân ph ối trong giai đoạn hi ện

nay cần thể hiện rõ ch ủ trương, quan điểm của Đảng ta là thúc đẩy KTTT

phát tri ển mạnh mẽ, đồng thời thực thi CBXH. Trong n ền KTTT, các y ếu

tố của sản xuất như vốn, tài s ản, sức lao động phải được trả giá đầy đủ và

công b ằng, song điều này c ũng làm n ảy sinh s ự bất bình đẳng về thu nh ập

và hưởng th ụ. Tình tr ạng này ch ủ yếu do s ự chênh l ệch về sở hữu tài s ản,

vốn, sức lao động, điều ki ện sống và làm vi ệc gi ữa các cá nhân, đơn vị

kinh t ế khác nhau, gi ữa các vùng, mi ền, lãnh th ổ khác nhau. Trong m ột

thời gian dài, chúng ta ph ải ch ấp nh ận sự chênh l ệch về thu nh ập gi ữa

những ng ười tham gia vào quá trình s ản xu ất vì có s ự khác nhau gi ữa họ

về năng su ất, ch ất lượng, hi ệu qu ả lao động và v ề quy mô c ủa các ngu ồn

lực mà h ọ đóng góp vào quá trình s ản xu ất. Đồng th ời, cần ph ải tạo ra

được quan h ệ đồng thu ận cơ bản về lợi ích xã h ội, bao g ồm: sự động

thuận lợi ích c ủa ng ười lao động với lợi ích c ủa ng ười qu ản lý doanh

nghiệp, lợi ích của Nhà nước và của xã h ội.

Bên cạnh việc đảm bảo nguyên t ắc thực hiện phân ph ối theo lao động

và hi ệu qu ả kinh t ế làm ch ủ yếu, cần chú tr ọng th ực hi ện phân ph ối theo

mức đóng góp v ề vốn và các ngu ồn lực khác vào s ản xu ất kinh doanh và

phân ph ối thông qua an sinh xã h ội, phúc l ợi xã h ội. Theo ngh ĩa đó, phân

phối trong n ền KTTT định hướng XHCN ở nước ta vừa khác c ơ bản so với

phân ph ối chỉ theo lao động và mang tính bình quân “cào b ằng” trong n ền

kinh tế kế hoạch hóa, t ập trung, quan liêu bao c ấp trước đây, vừa khác v ới

phân ph ối theo ki ểu tư bản ch ủ ngh ĩa. Sự khác bi ệt này th ể hi ện ở ch ỗ,

trong nền KTTT định hướng XHCN, lao động vẫn được coi là yếu tố quyết

định trong phân ph ối lần đầu. Đồng thời, các v ấn đề xã hội nảy sinh trong

quá trình phát tri ển nh ư đói nghèo, s ự chênh l ệch gi ữa các vùng, mi ền,

v.v.., được chủ động gi ải quyết thông qua quá trình tái phân ph ối, qua các

công cụ luật pháp, chính sách c ủa Nhà nước XHCN. TTKT và phát tri ển xã

130

hội, văn hóa, giáo d ục và đào tạo được th ực thi trong s ự gắn kết ch ặt ch ẽ

với nhau, nh ằm giải quyết tốt các v ấn đề xã h ội vì m ục tiêu phát tri ển con

người, đáp ứng yêu c ầu về tính nhân v ăn và xu th ế phát tri ển của đất nước

và của thời đại.

Đổi mới và hoàn thi ện lu ật pháp, c ơ ch ế, chính sách phân b ổ ngu ồn

lực theo h ướng vừa đảm bảo tuân th ủ các quy lu ật cơ bản của KTTT, v ừa

đảm bảo tính chi ến lược, kế hoạch phát tri ển nhằm đạt hiệu quả kinh tế - xã

hội cao. V ốn đầu tư của Nhà n ước cần tập trung cho phát tri ển kết cấu hạ

tầng kinh t ế - xã h ội, dịch vụ công quan tr ọng, một số ngành sản xuất thiết

yếu, then ch ốt, đóng vai trò ch ủ đạo mà l ĩnh vực tư nhân không th ể ho ặc

chưa th ể đảm đương được. Các chính sách phân ph ối cần ph ải chú ý quan

tâm đến các vùng, đối tượng khó kh ăn, thu h ẹp kho ảng cách v ề trình độ

phát tri ển giữa các vùng, các địa phương. Th ực hi ện chính sách phân ph ối

và phân ph ối lại trên c ơ sở bảo đảm hài hòa l ợi ích cá nhân, t ập th ể và xã

hội. Có th ực hiện được điều này chúng ta m ới gi ảm bớt những vấn đề nảy

sinh, nh ững mâu thu ẫn lợi ích trong quá trình phát tri ển kinh t ế - xã h ội,

góp phần đảm bảo CBXH.

* Chính sách đầu tư:

Đổi mới chính sách và cải thiện môi trường đầu tư, xóa bỏ các hình thức

phân biệt đối xử trong việc tiếp cận các cơ hội đầu tư để khai thác và sử dụng

có hi ệu qu ả các ngu ồn vốn từ các thành ph ần kinh tế trong nước và thu hút

vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp từ nước ngoài. Chính sách đầu tiên cần chú ý

tạo cơ hội và điều kiện nh ằm phát huy n ăng lực trước hết của mỗi cá nhân,

giúp cho mỗi cá nhân, có kh ả năng tiếp cận các ngu ồn vốn đầu tư đầu tư đa

dạng, sử dụng các nguồn vốn đầu tư một cách có hiệu quả trong quá trình sản

xuất, kinh doanh. C ần đảm bảo chính sách đầu tư ưu đãi và tr ợ giúp đối với

những cá nhân và gia đình khó khăn, những người có công, nh ững đối tượng

chính sách để họ có cơ hội làm ăn, khắc phục khó khăn, từng bước hòa nhập

131

với cộng đồng. Đối với các nhóm xã hội, các tập thể lao động, chính sách đầu

tư cần hướng tới thu hút các ngu ồn lực lao động đa dạng, tạo điều kiện phát

huy sức mạnh tập thể thông qua vi ệc hỗ trợ vốn, khoa h ọc công ngh ệ, kinh

nghiệm sản xu ất…Bên cạnh đó, chính sách đầu tư cần chú ý đến đặc điểm

từng ngành, t ừng vùng, l ĩnh vực, tránh đầu tư tràn lan, manh mún, gây t ốn

kém, lãng phí ti ền của của Nhà nước, tạo kẽ hở cho các t ệ nạn tham nh ũng,

lãng phí phát triển.

Cần dành m ức đầu tư cho các vùng kinh t ế động lực nh ằm tạo ra

những “đầu tàu” tăng trưởng để kéo toàn b ộ “đoàn tàu” kinh t ế đi lên. Song

không th ể không chú ý đầu tư thích đáng cho các vùng khác, nh ất là vùng

sâu, vùng xa, vùng cao, vùng đồng bào dân t ộc thiểu số, vùng c ăn cứ cách

mạng và kháng chi ến cũ, nh ằm gi ảm bớt kho ảng cách phát tri ển gi ữa các

vùng này, t ừng bước khắc phục tình tr ạng “bất công t ự nhiên” và b ất công

do lịch sử để lại, để giữ vững ổn định, đảm bảo cho s ự phát tri ển bền vững

của đất nước.

Cần chú ý, vi ệc sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách c ủa nhà n ước cần

phải tập trung ch ủ yếu xây d ựng kết cấu hạ tầng kinh t ế, xã h ội, phát tri ển

văn hóa, giáo d ục, khoa h ọc, y t ế và tr ợ giúp các vùng khó kh ăn. Vốn tín

dụng ưu đãi của Nhà n ước cần ưu tiên cho vi ệc xây d ựng các c ơ sở thu ộc

kết cấu hạ tầng có thu h ồi vốn và h ỗ tr ợ đầu tư một số dự án quan tr ọng

thiết yếu của nền kinh t ế. Đầu tư cho doanh nghi ệp nhà n ước ph ải hướng

vào vi ệc nâng cao n ăng lực sản xu ất, đổi mới thi ết bị, hi ện đại hóa công

nghiệp, nâng cao ch ất lượng sản ph ẩm. Vốn của các khu v ực dân doanh

được khuy ến khích đầu tư vào các l ĩnh vực nh ằm tạo vi ệc làm cho ng ười

lao động và xuất khẩu. Có nh ư vậy hiệu quả đầu tư mới được đảm bảo, mới

thực hi ện được mục tiêu “kép” đó là v ừa thúc đẩy phát tri ển kinh t ế, vừa

giải quyết tốt vấn đề CBXH.

Trong giai đoạn hiện nay, Nhà n ước cần quan tâm đầu tư cho vi ệc đẩy

mạnh công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa nông nghi ệp, xây d ựng nông thôn m ới,

132

cải thiện môi tr ường sinh thái. Chính sách đầu tư cần được hoàn thi ện theo

hướng mở rộng sản xuất lương thực ở những vùng có nhi ều điều kiện thuận

lợi, tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý, xây d ựng và phát

triển các th ị trấn, th ị tứ để thúc đẩy và h ỗ trợ nông thôn, nh ất là mi ền núi

phát tri ển; phát tri ển mạng lưới y t ế, giáo d ục ở xã, b ản, phổi cập giáo d ục

tiểu học, xóa mù ch ữ, từng bước nâng cao trình độ văn hóa của người dân.

* Chính sách tài chính - tiền tệ.

Hệ thống tài chính - tiền tệ là xương sống của nền kinh tế quốc dân. Mục

tiêu của chính sách tài chính - tiền tệ là thúc đẩy sản xuất phát triển, huy động

và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, gia tăng tích lũy để tạo vốn cho đầu tư,

phát triển, tích lũy để tái sản xuất mở rộng và nâng cao đời sống vật chất, tinh

thần của nhân dân. Vì vậy, Nhà nước cần sử dụng ngân sách như một công cụ

tài chính quan tr ọng để điều ch ỉnh kinh t ế vĩ mô nh ằm khuyến khích phát

triển kinh tế, điều tiết thu nhập, hướng dẫn tiêu dùng, kiềm chế lạm phát. Xây

dựng đồng bộ thể chế tài chính phù h ợp với cơ chế thị trường, xóa bỏ hoàn

toàn chính sách tài chính theo ch ế độ cấp phát, giao n ộp. Hoàn thi ện chính

sách tài chính theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sản xuất

kinh doanh, tính toán thu - chi và ki ểm soát chặt chẽ bội chi ngân sách trong

mức cho phép đảm bảo sự phát triển của nền kinh tế.

Hoàn chỉnh chính sách thu ế, nộp ngân sách theo ph ương châm hiện đại,

vừa gọn nhẹ, vừa khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội, tăng thu ngân sách

nhà nước, đảm bảo phân bổ cho các ngành, vùng lãnh thổ phát triển kinh tế và

đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Cần phân cấp ngân sách một cách

hợp lý, theo nguyên t ắc dân ch ủ, công khai, công b ằng. Đảm bảo ngân sách

cho tiêu dùng thường xuyên nhưng phải hợp lý và tiết kiệm; ưu tiên ngân sách

cho đào tạo ngu ồn nhân l ực, nâng cao dân trí, ti ếp thu công ngh ẹ hi ện đại,

chăm sóc kh ỏe, đảm bảo quốc phòng, an ninh; gi ải quyết các v ấn đề xã hội

bức xúc nhằm thực hiện tốt CBXH.

133

4.3.2. Đổi mới và hoàn thiện các chính sách xã hội

* Chính sách về lao động và việc làm

Chính sách lao động và vi ệc làm là h ệ th ống quan điểm, ch ủ tr ương,

phương hướng, bi ện pháp nh ằm tạo vi ệc làm và b ảo đảm việc làm cho các

công dân có khả năng lao động và có nhu cầu việc làm.

Chính sách lao động và vi ệc làm liên quan đến thỏa mãn nhu cầu cơ bản

của con người, thông qua đó, con người có việc làm, có được thu nhập, bảo đảm

đời sống. Chính vì thế chính sách lao động và việc làm là một trong những chính

sách cơ bản của mỗi quốc gia. Thông qua tạo thêm việc làm và bảo đảm việc

làm cho người dân, chính sách việc làm có mục tiêu xã hội là nâng cao phúc lợi

cho người dân, th ực hiện CBXH, tạo cơ hội và điều kiện cho ng ười dân hòa

nhập xã hội, giảm dần mâu thuẫn, phân hóa và sự tách biệt xã hội.

Trong giai đoạn hiện nay, chính sách lao động và việc làm cần thiết phải

hướng tới tạo việc làm bền vững với thu nhập đảm bảo cuộc sống cho người

lao động và gi ảm thất nghiệp. Có chính sách và chi ến lược tạo cầu lao động,

đảm bảo tốc độ tăng trưởng việc làm cao hơn tốc độ tăng lực lượng lao động.

Nhà nước cần tiếp tục tạo thuận lợi cho thu hút đầu tư trong nước và đầu tư

nước ngoài; thúc đẩy quá trình đô thị hóa, tích t ụ ru ộng đất gắn với chuyển

dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, đặc biệt trong nông nghi ệp và nông

thôn, giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp. Có chính sách khuyến khích người

lao động tự tạo ra việc làm và khuyến khích các doanh nghi ệp phát triển các

ngành nghề sử dụng nhiều lao động. Coi tr ọng giải quyết việc làm cho nông

dân, nhất là ở những nơi đất nông nghi ệp bị thu hồi phục vụ cho đô thị hóa,

xây dựng các khu công nghi ệp và phát tri ển các ngành ngh ề đa dạng nh ằm

tích cực giải quyết việc làm cho nông dân.

Xây dựng chi ến lược và t ăng đầu tư mở rộng th ị tr ường xu ất kh ẩu lao

động sang các khu v ực, các nước phù hợp với lao động Việt Nam. Ti ếp tục

thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và sử dụng hiệu quả các

134

quỹ qu ốc gia h ỗ tr ợ việc làm để nh ững ng ười th ất nghi ệp, ng ười thi ếu vi ệc

làm có cơ hội có việc làm, ổn định cuộc sống.

Chính sách lao động và việc làm phải được xây dựng và hoàn thi ện theo

hướng tiếp tục hoàn thi ện thể chế thị trường lao động, đảm bảo hài hòa gi ữa

lợi ích c ủa ng ười lao động và ng ười sử dụng lao động. Xây d ựng và hoàn

thiện chính sách bảo hiểm và trợ cấp thất nghiệp.

* Chính sách tiền lương và phụ cấp

Chính sách tiền lương ở nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế, chưa trả đủ

giá trị sức lao động, làm cho đời sống của những người làm công ăn lương

còn gặp nhiều khó kh ăn. Chính sách ti ền lương và ch ế độ phụ cấp chưa bảo

đảm sự công bằng, mang nặng tính chất bình quân, không khuyến khích nâng

cao trình độ chuyên môn c ủa người lao động, tạo nên sự bất bình đẳng giữa

các đối tượng, ngành ngh ề và khu v ực và do v ậy là một trong những nguyên

nhân chính gây mâu thu ẫn, xung đột về lợi ích giữa cá nhân, nhóm xã h ội và

cả cộng đồng xã hội. Chính sách tiền lương phông phù hợp không những làm

phương hại đến các ch ức năng vốn có c ủa nó mà còn t ạo ngu ồn gốc cho

những tiêu c ực, bất công xã h ội, làm xói mòn ni ềm tin c ủa ng ười dân. Có

nhiều nguyên nhân d ẫn đến nh ững hạn ch ế này, trong đó nguyên nhân ch ủ

yếu là quan điểm tiền lương chưa đúng với nguyên tắc của nền KTTT, ch ưa

thực sự coi tiền lương là giá cả của sức lao động, nên chưa trả đúng với giá trị

của nó. Bên c ạnh đó, sự can thi ệp của Nhà nước vào ti ền lương cũng ch ưa

phù hợp với quy luật của nền KTTT, chưa bảo đảm tiền lương vận động tự do

theo quan hệ cung - cầu sức lao động; việc quy định tiền lương tối thiểu mang

nặng tính duy ý chí; vi ệc quy định tiền lương theo công vi ệc đã làm nảy sinh

những tiêu cực trong chính sách tiền lương.

Trong th ời gian t ới, cải cách chính sách ti ền lương là nhi ệm vụ vô

cùng quan tr ọng nhằm tạo điều kiện thúc đẩy xã hội phát tri ển, đặc biệt là

thực thi CBXH. C ải cách chính sách ti ền lương ph ải đảm bảo cho ti ền

135

lương th ực sự trở thành giá c ả sức lao động, ti ền lương ph ải bảo đảm chi

trả cho những tư liệu sinh ho ạt cần thiết cho người lao động và gia đình của

họ. Bằng ti ền lương, ng ười lao động mua được những hàng hóa tiêu dùng

cá nhân cho b ản thân h ọ và gia đình, có đủ điều kiện tích lũy bảo đảm cuộc

sống bình th ường khi hết tuổi lao động, nhất là chăm sóc y tế tuổi già.

Tích cực điều chỉnh sự tác động của Nhà nước vào chính sách tiền lương

theo hướng phù hợp với điều kiện của KTTT và sớm xây dựng luật tiền lương

đối với người lao động. Nhà nước cần thiết phải xây dựng môi trường pháp lý

bảo đảm điều ki ện cho s ự vận động tự do của cung - c ầu và giá c ả sức lao

động trong nền kinh tế.

Tập trung cải cách chính sách tiền lương đối với khu vực công chức hành

chính; đổi mới cơ ch ế tài chính và c ải cách ti ền lương đối với khu v ực sự

nghiệp và doanh nghi ệp. Đảm bảo nguyên tắc công bằng, khuyến khích làm

việc hiệu quả cao “trả lương cao cho công chức hành chính có năng lực, trình

độ và trách nhi ệm cao”; đồng th ời xây d ựng cơ ch ế qu ản lý để công ch ức

hành chính t ận tâm v ới công vi ệc. Đối với các khu v ực doanh nghi ệp, Nhà

nước có cơ ch ế, chính sách phù h ợp để khu vực này ch ủ động thu, chi, xây

dựng hệ thống thang, bảng lương tương ứng, tự chịu trách nhiệm tạo nguồn và

chi trả tiền lương cho ng ười lao động. Điều quan tr ọng là Nhà n ước cần xóa

bỏ tư tưởng hành chính tập trung và bao cấp trong cơ chế quản lý, hoạt động,

tổ chức và tài chính hi ện hành, tạo môi trường thật sự công bằng, bình đẳng,

tự do cho các doanh nghi ệp ho ạt động. Đồng th ời, Nhà n ước cần thiết ph ải

tăng cường ch ức năng giám sát, ki ểm tra, hướng dẫn th ực hi ện và x ử lý vi

phạm về chính sách tiền lương.

* Chính sách xóa đói, giảm nghèo

Thực hi ện chính sách thúc TTKT g ắn với gi ảm nghèo b ền vững. Xác

định các chu ẩn nghèo trên c ơ sở nhu c ầu mức sống tối thi ểu của người lao

động; đưa mục tiêu gi ảm nghèo và n ội dung gi ảm nghèo vào nội dung chi ến

136

lược phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước, của từng vùng và từng địa

phương, vào chi ến lược phát tri ển nông nghi ệp và nông thôn; xây d ựng và

thực hiện chương trình phát tri ển cộng đồng và phát tri ển nông thôn mới gắn

với mục tiêu giảm nghèo.

Tạo điều kiện cho người nghèo nâng cao năng thị trường, năng lực và điều

kiện tiếp cận các cơ hội phát triển; đa dạng hóa sinh kế thông qua các ch ương

trình giáo dục, đào tạo và dạy nghề. Đặc biệt là tạo cơ hội cho người nghèo tiếp

cận thuận lợi và với chi phí thấp, ưu đãi đối với các dịch vụ xã hội cơ bản, an

sinh xã hội và phúc lợi xã hội; hỗ trợ người nghèo từng bước tiếp cận với dịch vụ

xã hội chất lượng cao. Giảm nguy cơ rủi ro cho ng ười nghèo, nhất là rủi ro do

thiên tai, biến đổi khí hậu, do cơ chế thị trường cũng như những bất trắc của

cuộc sống (ốm đau, bệnh tật, tai nạn…).

Tập trung ngu ồn lực gi ảm nghèo cho các vùng có t ỷ lệ hộ nghèo cao,

nhất là vùng núi phía B ắc, Tây Nguyên, vùng có đông đồng bào dân t ộc

thiểu số…, thông qua ch ương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và b ền vững ở

các vùng này nh ằm thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, các t ầng lớp dân cư,

các dân tộc.

* Chính sách an sinh xã hội

Chính sách an sinh xã h ội có vai trò c ơ bản trong vi ệc tạo cơ hội và

điều kiện cho ng ười dân được tiếp cận công b ằng các ngu ồn lực phát tri ển

và các d ịch vụ xã h ội, góp ph ần kh ắc ph ục phân hóa xã h ội, bảo đảm

CBXH. Chính sách an sinh xã h ội chính là s ự bảo đảm thu nh ập và các

điều ki ện thi ết yếu cho cá nhân, gia đình và c ộng đồng tr ước nh ững bi ến

động về kinh t ế, xã h ội và t ự nhiên, làm cho h ọ bị gi ảm ho ặc mất kh ả

năng lao động, ho ặc mất vi ệc làm, ốm đau, bệnh tật…Chính sách an sinh

xã hội thể hiện sâu s ắc những giá tr ị nhân v ăn, ti ến bộ trong s ự phát tri ển

của xã h ội ta hiện nay.

137

Trong th ời gian t ới, chính sách an sinh xã h ội ph ải được th ực hi ện

đồng bộ với các chính sách xã h ội khác, phù h ợp với điều kiện KTTT, phù

hợp với nguyên t ắc đảm bảo quy ền lợi và ngh ĩa vụ xã h ội đối với mỗi cá

nhân, cộng đồng và toàn xã h ội trong vi ệc phòng ng ừa rủi ro đối với từng

cá nhân và c ộng đồng xã h ội. Nói cách khác, Nhà n ước, doanh nghi ệp và

cá nhân đều phải xác định rõ trách nhi ệm của mình trong h ệ thống an sinh

xã hội; hệ th ống an sinh xã h ội ph ải được xây d ựng trên c ơ sở thúc đẩy

cạnh tranh công b ằng trên th ị trường lao động và trách nhi ệm chia s ẻ rủi

ro xã h ội.

Thực ch ất, nhìn d ưới góc độ kinh t ế, chính sách an sinh xã h ội là một

khâu của hệ thống tái phân ph ối, tạo cơ hội và điều kiện cho nh ững cá nhân

và cộng đồng gặp rủi ro v ươn lên trong cu ộc sống. Tuy nhiên, h ệ th ống

chính sách an sinh xã h ội phải được xây d ựng gắn với điều ki ện, tình hình

lịch sử cụ thể của đất nước, phát huy t ối đa sức mạnh của cộng đồng; tăng

cường trách nhi ệm của Nhà nước; khuyến khích s ự gắn bó, đoàn kết, tương

trợ, bù đắp giữa các cá nhân, các nhóm xã h ội và toàn xã h ội. Theo đó, hệ

thống an sinh xã h ội vừa bảo đảm nhu cầu tối thiểu thông qua vi ệc tái phân

phối phù h ợp các ngu ồn lực, vừa từng bước nâng cao ý ngh ĩa, hi ệu quả an

sinh xã hội đối với người tham gia.

* Chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công

Chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công th ực chất là đường lối,

chủ trương của Đảng và Nhà n ước trong vi ệc th ực hi ện ch ế độ đãi ng ộ với

những người có công với đất nước nhằm mục đích ghi nhận công lao, sự đóng

góp, hy sinh cao c ả của họ; đồng thời đền đáp, bù đắp phần nào về đời sống

vật chất và tinh thần đối với người có công và gia đình họ. Chính sách ưu đãi

cho nhóm đối tượng này không chỉ đơn thuần thể hiện tinh thần nhân văn, mà

còn là giải pháp thực thi CBXH, góp phần vào việc ổn định chính trị - xã hội

của đất nước. Chính sách đối với người có công là chính sách đặc biệt quan

trọng, luôn được Đảng, Nhà n ước và toàn dân quan tâm v ới tất cả trách

138

nhiệm, lương tâm của mình. Trong th ời kỳ mới, thực hiện chính sách ưu đãi

đối với người có công, cần chú trọng:

- Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, cơ chế luật pháp đối với người

có công nh ằm tiếp tục cải thiện đời sống vật chất và tinh th ần của người có

công, nhất là ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ địa cách mạng.

- Đối với những người có những cống hiến sức lực, tuổi trẻ, thậm chí hy

sinh tính mạng cho độc lập tự do, cho sự bình yên của đất nước, họ có thể bị

tổn thương về sức khỏe, bệnh tật, do đó cuộc sống của họ nói riêng, gia đình

họ nói chung t ương đối khó kh ăn, đặc biệt trong điều kiện KTTT. Chính vì

vậy, Chính phủ cần thông qua các chính sách ưu đãi tích cực nhằm hỗ trợ tài

chính, hỗ tr ợ vi ệc làm, ch ăm sóc s ức kh ỏe, giáo d ục và đào tạo, ch ỗ ở…,

nhằm giúp ch ọ duy trì cu ộc sống ổn định, từng bước nâng cao đời sống vật

chất, tinh thần.

- Tích cực đổi mới công tác qu ản lý, công tác thanh tra, ki ểm tra, chống

các hiện tượng tiêu cực trong việc thực hiện chế độ, chính sách đối với người

có công. Thường xuyên chỉ đạo các địa phương làm tốt công tác thương binh,

liệt sĩ; đẩy mạnh phong trào đền ơn đáp nghĩa, huy động mọi nguồn lực, đẩy

mạnh các chương trình chăm sóc người có công.

- Đẩy mạnh hơn nữa ho ạt động của hệ th ống chính tr ị trong vi ệc th ực

hiện chính sách với người có công; làm tốt công tác phối hợp giữa các ngành,

các cấp, các đoàn thể chính trị - xã hội, tăng cường công tác tuyên truyền trên

các phương tiện thông tin đại chúng và nh ận thức đúng đắn về bản chất của

chính sách ưu đãi người có công.

- Duy trì và phát triển các phong trào đền ơn đáp nghĩa, các chương trình

xã hội khác hướng vào vi ệc tạo cơ hội cho ng ười có công phát tri ển kinh tế,

nhất là ch ương trình gi ảm nghèo, tạo vi ệc làm, phát tri ển kinh t ế - v ăn hóa

vùng đặc biệt khó khăn và căn cứ cách mạng trước đây.

139

* Chính sách y tế

Xây dựng và hoàn thi ện chính sách y t ế theo yêu c ầu phát tri ển hệ

thống y t ế công b ằng và hi ệu qu ả, mọi ng ười dân được ch ăm sóc và b ảo

vệ sức kh ỏe. Chính sách y t ế được xây d ựng và hoàn thi ện cần đáp ứng

yêu cầu xây d ựng và phát tri ển mô hình y t ế đan xen gi ữa y t ế công và y

tế tư nhân, trong đó y t ế công gi ữ vai trò ch ủ đạo. Ti ếp tục hoàn thi ện

chính sách đầu tư nh ằm tăng đầu tư, nâng c ấp các c ơ sở y t ế, y t ế dự

phòng. Xây d ựng và hoàn thi ện các chính sách tr ợ cấp và b ảo hi ểm y t ế

cho ng ười hưởng chính sách xã h ội và ng ười nghèo trong khám, ch ữa

bệnh. Hoàn thi ện các chính sách phát tri ển, các d ịch vụ y tế công ngh ệ cao

và ngoài công l ập. Hoàn thi ện các chính sách b ảo hi ểm y t ế, đảm bảo

CBXH trong l ĩnh vực này.

* Chính sách giáo dục đào tạo

Chính sách giáo d ục - đào tạo cần được xây d ựng và hoàn thi ện theo

hướng điều tiết, tạo cơ hội học tập ngày càng tốt hơn ở mọi cấp học và trình

độ đào tạo cho mọi tầng lớp nhân dân; đặc biệt chú ý tạo cơ hội học tập ở đại

học, cao đẳng cho con em nông dân, các gia đình chính sách, đồng bào dân

tộc thiểu số và các vùng còn nhi ều khó khăn. Hoàn thiện chính sách giáo d ục

đào tạo đáp ứng yêu cầu giảm sự cách biệt về cơ hội học tập giữa các tầng lớp

dân cư, về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và cán b ộ quản lý giáo d ục giữa

các vùng, miền.

Tăng ngân sách nhà n ước cho giáo d ục và đào tạo; huy động nguồn lực

từ các tổ chức kinh tế - xã hội, các đơn vị sử dụng nhân lực sau đào tạo, phân

bổ tài chính cho các c ơ sở giáo d ục dựa trên nhu c ầu th ực và k ết qu ả ho ạt

động của từng cơ sở nhằm tạo sự cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích các cơ

sở phấn đấu nâng cao ch ất lượng và hi ệu quả giáo dục; nâng cao tính t ự chủ

của các cơ sở giáo dục, đảm bảo tính minh b ạch và trách nhi ệm đối với Nhà

nước, người học và xã hội.

140

4.4. PHÁT HUY DÂN CH Ủ XÃ H ỘI CH Ủ NGH ĨA, NÂNG CAO HI ỆU QU Ả

CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, CÁC TỆ NẠN XÃ HỘI

4.4.1. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa

Trong điều ki ện KTTT định hướng XHCN, phát huy dân ch ủ và th ực

thi CBXH có quan h ệ gắn bó h ữu cơ. Xã h ội càng dân ch ủ càng t ạo ra

những kh ả năng, nh ững kênh để ng ười dân ý th ức về vai trò, trách nhi ệm

của mình, tham gia ch ủ động, có hi ệu quả vào các ho ạt động kinh t ế, chính

trị, xã hội. Có dân ch ủ thì lợi ích c ủa các nhóm dân c ư, các c ộng đồng mới

được đưa ra bàn b ạc, cọ xát với toàn xã h ội, nhờ đó mà phát hi ện ra nh ững

lệch lạc trong vi ệc điều ph ối lợi ích, t ừ đó có nh ững bi ện pháp điều ch ỉnh

kịp thời. Dân ch ủ khắc phục phân t ầng xã h ội tiêu c ực, đảm bảo phân t ầng

xã hội tích c ực thông qua vi ệc tạo cơ ch ế và điều ki ện phát huy tính tích

cực, sáng t ạo của ng ười lao động, làm cho m ọi ng ười đều có th ể bộc lộ

những ti ềm năng vốn có, ch ủ động trong s ản xu ất, kinh doanh, làm giàu

cho mình và góp ph ần làm giàu cho xã h ội. Dân chủ tạo cơ hội và điều kiện

cho nh ững ng ười khó kh ăn, yếu th ế vươn lên, v ượt qua khó kh ăn, từng

bước hòa nhập cộng đồng.

Như vậy, CBXH là một nội dung, một tiêu chí của dân chủ. Xã hội độc tài

tập trung quyền lực cho một người, một nhóm người, do vậy tình trạng phân hóa

giàu nghèo, xung đột lợi ích xã hội ngày càng sâu sắc; xã hội XHCN mà chúng

ta phấn đấu xây dựng là chế độ xã hội do nhân dân làm chủ, nghĩa là nhân dân là

chủ thể xây dựng chế độ xã hội mới với tất cả lợi ích, trách nhiệm, quyền hạn và

nghĩa vụ đối với quốc gia, dân tộc, đó là nền dân chủ cho đa số, là nền dân chủ

thống nhất với bản chất ưu việt của chế độ xã hội XHCN.

Việt Nam xây d ựng xã h ội mới từ một nước phong ki ến, thu ộc địa, vì

vậy truyền thống dân ch ủ ở nước ta hết sức hạn chế. Hơn nữa, một thời gian

dài chúng ta th ực hiện cơ chế tập trung, quan liêu, bao c ấp, nên nh ững cách

làm độc đoán, chuyên quyền, thiếu dân chủ tiếp tục được duy trì. Đây là một

141

trong những nguyên nhân làm giảm sức cạnh tranh lành mạnh trong phát triển

kinh tế, tạo nên những bất công phi lý trong các quan hệ xã hội. Trong thời kỳ

đổi mới, phát tri ển KTTT định hướng XHCN, th ể ch ế dân ch ủ đã và đang

từng bước được xây d ựng, song ch ưa đồng bộ và hoàn thi ện. Để đảm bảo

quyền dân ch ủ, phát huy đầy đủ vai trò c ủa các tầng lớp nhân dân lao động,

qua đó tạo điều kiện thực thi CBXH ở nước ta hi ện nay, cần phải đẩy mạnh

việc xây dựng và hoàn thi ện thể chế dân ch ủ XHCN và phát huy quy ền làm

chủ của nhân dân.

Mở rộng và phát huy dân ch ủ trong kinh t ế là n ội dung và điều ki ện

quan tr ọng nh ất nh ằm kh ắc ph ục tình tr ạng phân t ầng xã h ội, qua đó góp

phần phát tri ển KTTT và th ực hi ện CBXH. Dân ch ủ kinh t ế, cái c ốt lõi là

bảo đảm lợi ích kinh t ế của ng ười lao động được th ực hi ện. Tr ước tiên,

những lợi ích đó phải được thể chế hóa trong các quy ền công dân: s ở hữu,

quản lý, phân ph ối làm cho ng ười lao động làm ch ủ thực sự về tư liệu sản

xuất, tạo động lực thúc đẩy phát tri ển sản xu ất, kinh doanh. Nhà n ước,

thông qua pháp lu ật, hệ thống chính sách kinh t ế - xã h ội và các công c ụ

quản lý điều tiết xã hội khác, ph ải hướng tới xóa b ỏ mọi rào cản phát tri ển

kinh tế, bãi b ỏ độc quy ền cũng nh ư cơ ch ế xin, cho - m ột trong nh ững

nguyên nhân ch ủ yếu của sự gia t ăng phân t ầng xã h ội tiêu c ực hi ện nay.

Dân ch ủ về kinh t ế đòi hỏi không ng ừng giải phóng s ức sản xuất, phát huy

tính tự giác, sáng t ạo của người dân trong các quá trình ho ạt động kinh t ế;

khuyến khích và t ạo cơ ch ế phù h ợp để cho m ọi ng ười được làm giàu

chính đáng; mặt khác, ph ải tr ừng tr ị nghiêm minh nh ững kẻ làm giàu b ất

chính, trái pháp lu ật.

Mở rộng, phát huy dân ch ủ trong kinh t ế ph ải đi li ền với dân ch ủ về

chính tr ị, xã h ội để mọi tầng lớp nhân dân nh ận th ức được trách nhi ệm xã

hội và tham gia vào các ho ạt động chính tr ị, xã h ội với phương châm “dân

biết, dân bàn, dân làm, dân ki ểm tra”. C ần coi tr ọng sự phát tri ển hài hòa,

142

đồng bộ giữa dân ch ủ ở cấp trung ương với việc thực hiện dân ch ủ ở cơ sở,

trong đó, dân ch ủ ở cơ sở có tính ch ất quy ết định. Phát huy vai trò giám

sát, ph ản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn th ể chính tr ị - xã h ội;

xây dựng và đẩy mạnh hoạt động của các mô hình t ự quản trong cộng đồng

dân cư ở cơ sở; bám sát th ực ti ễn để góp ph ần kh ắc ph ục tập trung quan

liêu; tăng cường kiểm tra, giám sát c ủa tập thể đối với cá nhân, c ủa tổ chức

đối với cán bộ, đảng viên; có quy ch ế bảo đảm phát huy t ự do tư tưởng, tôn

trọng ý ki ến của nhau. C ần tăng cường và c ải tiến các ho ạt động mang tính

dân chủ cao như chất vấn tại Quốc hội và Hội đồng nhân dân, đối thoại trực

tiếp với nhân dân qua truy ền hình và Internet, thi ết lập các đường dây nóng

liên lạc với ng ười dân, đổi mới các cu ộc ti ếp xúc v ới cử tri…Th ực tế cho

thấy, nơi nào phát huy t ốt dân ch ủ cơ sở sẽ hạn chế được những hiện tượng

tiêu cực, nh ững bi ểu hi ện sai trái, vi ph ạm kỷ cương, phép n ước, nh ững

biểu hiện suy thoái đạo đức, lối sống của một số cán bộ có ch ức, có quy ền,

các hiện tượng quan liêu, tham nh ũng…

Phát huy dân chủ hiện nay phải đi liền với hoàn thiện hệ thống pháp luật,

tăng cường pháp ch ế XHCN, đảm bảo trật tự, kỷ cương xã hội. Những tiêu

cực trong nền KTTT ở nước ta vừa qua làm cho b ất công xã h ội tăng lên có

nguyên nhân từ hệ thống pháp lu ật chưa hoàn thi ện, thiếu đồng bộ, chưa tạo

đầy đủ khuôn kh ổ pháp lý c ần thiết. Ở nước ta, tình tr ạng luật vừa thừa, vừa

thiếu, chồng chéo, chế ước làm mất hiệu quả của nhau còn tồn tại. Luật pháp

ban hành nhiều nhưng việc thực hiện lại thiếu hiệu quả, một số văn bản pháp

luật thiếu tính cụ thể, tính tường minh còn th ấp hoặc chưa phù hợp với cuộc

sống…Trong thời gian tới, phải khẩn trương cải cách và xây d ựng hệ thống

pháp luật theo hướng đồng bộ, đặc biệt là pháp lu ật về kinh tế nhằm điều tiết

kinh tế - xã hội phát triển lành mạnh, hạn chế những bất công, bất bình đẳng,

những tiêu cực nảy sinh trong nền KTTT. Tăng cường kỷ cương, phép nước,

trên cơ sở đó phát huy vai trò ch ủ động tích cực của mọi tầng lớp nhân dân

143

tham gia vào quản lý kinh tế - xã hội, tham gia kiểm soát lực lượng lao động,

sản xuất và phân phối sản phẩm…có như vậy, mục tiêu phát triển kinh tế gắn

với thực hiện CBXH mới được bảo đảm.

4.4.2. Nâng cao hi ệu qu ả công tác phòng, ch ống tham nh ũng, lãng

phí, các tệ nạn xã hội

Trong nh ững năm qua, Đảng và Nhà n ước ta luôn th ể hi ện rõ quy ết

tâm ng ăn ch ặn, đẩy lùi tình tr ạng tham nh ũng, lãng phí nh ư: Ngh ị quy ết

Trung ương 6 (l ần 2) khóa VIII; Ngh ị quy ết Trung ương 4 (Khóa XI) v ề

một số vấn đề cấp bách v ề xây d ựng đảng hi ện nay đã kh ẳng định vi ệc

chống tham nh ũng, lãng phí là nhi ệm vụ đặc bi ệt quan tr ọng, có tính th ời

sự cấp thi ết; Ch ủ tịch nước phê chu ẩn Công ước của Liên h ợp qu ốc về

chống tham nh ũng. Trên c ơ sở đó, đến nay, công cu ộc đấu tranh phòng,

chống tham nhũng, lãng phí ở nước ta có s ự chuyển biến tích cực, bước đầu

đã xử lý được một số vụ án tham nh ũng lớn; các c ấp uỷ Đảng, chính quyền,

các ngành, đoàn th ể đã quan tâm lãnh đạo thực hiện công tác này. K ết quả

này góp ph ần bước đầu củng cố niềm tin c ủa nhân dân, nâng cao uy tín và

vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Tuy vậy, cu ộc đấu tranh, phòng, ch ống tham nh ũng, lãng phí v ẫn còn

nhiều hạn chế, giữa quyết tâm chính tr ị với việc tổ chức triển khai th ực hiện

còn khoảng cách lớn; công tác tuyên truy ền, giáo dục về phòng, ch ống tham

nhũng, lãng phí ch ưa sâu rộng; một số cơ chế, chính sách, quy định về quản

lý kinh tế - xã hội và công tác phòng ch ống tham nhũng, lãng phí chậm được

bổ sung, sửa đổi, dẫn đến hiệu quả thấp trong tổ chức thực hiện. Công tác t ự

kiểm tra phát hi ện vẫn là khâu y ếu, việc xử lý có nhi ều khó kh ăn; các hành

vi tham nhũng ngày càng tinh vi, ph ức tạp hơn. Một số vụ án tham nhũng xử

lý chậm, kéo dài, gây tâm lý hoài nghi trong nhân dân v ề tính nghiêm minh

của pháp luật.

144

Trong những năm tới, việc đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng,

lãng phí, các t ệ nạn xã hội ti ếp tục phải được xác định là nhi ệm vụ có tính

chiến lược trong phát tri ển kinh t ế và th ực hi ện CBXH ở nước ta. Để th ực

hiện được điều này cần phải triển khai đồng bộ các giải pháp sau:

Thứ nh ất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng,

chống tham nhũng, lãng phí, các tệ nạn xã hội trong tình hình mới.

Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng xác định phải quyết tâm tạo sự

chuyển biến quan tr ọng, cơ bản, rõ nét, v ững chắc trong vi ệc đẩy lùi tệ nạn

tham nhũng, lãng phí, các t ệ nạn xã hội. Vì vậy, phải tạo được sự “vào cuộc”

của cả hệ thống chính trị và của toàn dân, trong đó sự lãnh đạo trực tiếp, toàn

diện của Đảng đóng vai trò quy ết định. Đảng ta xác định phòng, ch ống tham

nhũng, lãng phí, các tệ nạn xã hội là một trọng tâm công tác lớn của công tác

xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước; phải được tiến hành thường xuyên, liên

tục bằng nhiều hình thức, biện pháp cụ thể, phù hợp.

Các cấp ủy đảng và ng ười đứng đầu cơ quan, đơn vị cần xác định rõ

những vấn đề, lĩnh vực trọng tâm, tr ọng điểm để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo

cho sát th ực. Ph ải lựa ch ọn, bố trí nh ững cán b ộ, đảng viên có ph ẩm ch ất,

năng lực, có bản lĩnh làm công tác phòng, ch ống tham nhũng, lãng phí. Tăng

cường công tác ki ểm tra, giám sát, đôn đốc, đưa công tác phòng, ch ống tham

nhũng, lãng phí vào n ội dung ch ương trình công tác và đưa kết quả công tác

này là một tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của mỗi cơ quan,

tổ chức, đơn vị và cá nhân.

Thực hiện tự phê bình và phê bình thường xuyên trong Đảng để kịp thời phát

hiện, uốn nắn, ngăn chặn những biểu hiện sai phạm của cán bộ, đảng viên. Đồng

thời, tạo điều kiện để các tổ chức trong cơ quan, đơn vị và chính quyền, nhân dân

địa phương nơi cư trú thực hiện tốt vai trò giám sát cán bộ, đảng viên về phẩm

chất đạo đức, lối sống. Kiên quyết phê phán, xử lý nghiêm minh những cán bộ,

145

đảng viên thoái hóa, biến chất, hoặc có biểu hiện dung túng, bao che các vụ việc

tham nhũng, lãng phí, theo đúng quy định hiện hành của pháp luật.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế quản lý, giám sát theo h ương dân chủ, công

khai minh bạch.

Trong quản lý phải công khai, minh b ạch về cơ chế, chính sách, các d ự

án đầu tư, xây dựng cơ bản, mua sắm từ ngân sách Nhà nước, huy động đóng

góp của nhân dân, qu ản lý và sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng s ản, tài sản

công, cổ phần hóa doanh nghi ệp nhà nước, công tác t ổ chức, cán bộ,… Tiếp

tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoàn thiện quy định kiểm soát thu nhập, minh

bạch tài sản, xử lý tài sản tham nhũng, đưa ra các giải pháp kiên quyết, mạnh

mẽ và cứng rắn hơn.

Hoàn thiện quy trình xác định trách nhiệm của người đứng đầu khi để cơ

quan, đơn vị xảy ra tham nh ũng, lãng phí. X ử lý đúng pháp lu ật, kịp th ời,

công khai cán b ộ, đảng viên tham nh ũng. Có cơ chế khuyến khích và b ảo vệ

những ng ười đấu tranh ch ống tham nh ũng, lãng phí; k ỷ lu ật nghiêm nh ững

người bao che, ng ăn cản việc chống tham nh ũng, lãng phí, ho ặc lợi dụng sự

việc để vu khống, làm hại người khác, gây mất đoàn kết nội bộ.

Thứ ba, nâng cao ph ẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng cho đội ngũ

cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Giáo dục phẩm chất “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô t ư” phải được

đặt lên hàng đầu; giáo dục kết hợp giữa “đức” và “tài”, trong đó “đức” đóng

vai trò quan trọng, là cơ sở, nền gốc của mỗi người, đặc biệt là người cán bộ.

Việc giáo dục phải được thực hiện bằng nhiều hình thức, biện pháp đồng bộ,

gắn liền với việc tuyên truy ền chống chủ nghĩa cá nhân, b ởi vì ch ủ nghĩa cá

nhân chính là nguyên nhân trực tiếp làm nảy sinh tham nhũng, lãng phí, các tệ

nạn xã hội, làm cản trở sự kết hợp lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, là nguyên

nhân của mọi bất công, bất bình đẳng xã hội.

146

Thứ tư, kiện toàn các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Các cơ quan b ảo vệ như công an, vi ện kiểm soát, tòa án, thanh tra nhà

nước cần kiện toàn. Kiên quy ết xử phạt nghiêm minh đối với những cán bộ,

nhân viên tham nhũng hoặc bao che cho các đối tượng tham nhũng ở mọi cấp,

mọi nơi, mọi cương vị làm cho bộ máy thật sự trong sạch, vững mạnh.

Cùng với đấu tranh ch ống tham nh ũng, lãng phí, c ần tiếp tục đẩy mạnh

và đấu tranh một cách hiệu quả bài trừ các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm,

bạo lực xã hội…trên các địa bàn dân cư. Sự nảy nở nhiều tệ nạn xã hội ở nước

ta trong th ời gian qua đã hủy hoại một phần lực lượng lao động xã hội, tiêu

phí của cải vật chất, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự và an toàn xã

hội, do vậy cần được kiên quyết đấu tranh đẩy lùi.

Thứ năm, phát huy vai trò tích c ực của nhân dân trong đấu tranh phòng,

chống tham nhũng, lãng phí, các tệ nạn xã hội.

Bác Hồ đã từng dạy rằng, làm việc gì cũng phải có quần chúng nhân dân

tham gia. Trong đấu tranh ch ống tham nh ũng, lãng phí, n ếu không dựa vào

nhân dân thì khó có th ể phát hiện và đấu tranh kịp thời với những cá nhân, tổ

chức tham nh ũng, lãng phí. Th ực tế, những năm qua, đa số các vụ việc tham

nhũng được xử lý đều do người dân phát hiện ra. Sự đồng tình và ủng hộ của

nhân dân chính là s ức mạnh và nhân t ố quan tr ọng để ngăn chặn và đẩy lùi

tham nhũng, lãng phí, các tệ nạn xã hội. Để khơi dậy và phát huy tính tích cực

của nhân dân, ngoài việc cần phải thực thi pháp luật nghiêm minh, kiên quyết

trừng tr ị nh ững hành vi vi ph ạm pháp lu ật, ch ống lại nhân dân, ngoài vi ệc

nâng cao n ăng lực, ph ẩm chất đạo đức của đội ng ũ cán b ộ đảng, nhà n ước,

cần ph ải tích cực tuyên truy ền, giáo d ục, bồi dưỡng, nâng cao trình độ văn

hóa dân chủ trong nhân dân, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia tích c ực, có

hiệu qu ả vào các công vi ệc chính tr ị, xã hội, “biết và hưởng quyền dân ch ủ

của mình” như Bác Hồ đã từng dạy chúng ta.

147

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

Thực hiện CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN là vấn đề có

tính chiến lược trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nhằm

không ng ừng nâng cao đời sống vật ch ất tinh th ần cho nhân dân, ti ếp tục

khẳng định những giá tr ị ưu việt của CNXH. Th ực hiện CBXH ph ải gắn với

quá trình xây d ựng và phát tri ển KTTT, gắn với vi ệc gi ải quyết những mâu

thuẫn cơ bản trong quá trình th ực thi, đặc biệt là mâu thu ẫn giữa tăng trưởng

kinh tế và CBXH, mâu thu ẫn giữa sự gia tăng của phân tầng xã hội với quá

trình th ực hi ện CBXH v.v..CBXH ph ải được th ực hi ện th ường xuyên, liên

tục, lâu dài g ắn với những giải pháp mang tính t ổng thể, đồng bộ như nâng

cao vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý Nhà nước; xây dựng và hoàn

thiện thể chế KTTT định hướng XHCN; đổi mới và hoàn thiện các chính sách

kinh tế và chính sách xã h ội; phát huy dân ch ủ xã hội, nâng cao hi ệu quả của

công tác phòng, ch ống tham nh ũng, lãng phí, các t ệ nạn xã hội. Nh ững gi ải

pháp này vừa mang tính định hướng, vừa mang tính cụ thể nhằm phát huy vai

trò của nhân tố chủ quan và điều kiện khách quan, tạo sức mạnh tổng hợp để

thực hiện có hiệu quả CBXH trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta.

148

KẾT LUẬN

Trong lịch sử, có nhiều quan niệm khác nhau về CBXH. Sự khác nhau đó

phản ánh sự khác nhau về lợi ích của các giai cấp khác nhau trong xã hội. Tuy

nhiên, qua mỗi thời kỳ đều ghi dấu quan tr ọng trong hành trình tìm ki ếm và

thực thi CBXH; CBXH đã thực sự tr ở thành động lực của tiến bộ xã hội, là

thước đo những thành tựu đạt được của con người trong quá trình phát triển.

Đối với nước ta, CBXH là khát vọng của toàn dân và là yêu cầu cấp bách

của công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN. Quan hệ giữa CBXH

và KTTT định hướng XHCN là quan h ệ gắn bó h ữu cơ. Sự thành công c ủa

nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta không chỉ biểu hiện ở mức độ TTKT

mà còn là nh ững thành tựu đạt được trong quá trình th ực hiện CBXH. Th ực

tiễn khách quan của quá trình xây dựng KTTT định hướng XHCN và th ực thi

CBXH đã từng bước làm bộc lộ những nội dung cơ bản mang tính quy luật của

nó, đòi hỏi phải được nhận thức đúng đắn, nhằm phát hi ện những mâu thu ẫn

và tìm kiếm những giải pháp phù hợp để tiếp tục thúc đẩy quá trình thực hiện

CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở nước ta.

Từ những mô hình lý luận và bài học thực tiễn ở một số nước, căn cứ vào

tình hình lịch sử cụ thể, bám sát yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

theo mục tiêu XHCN, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng đổi mới tư duy lý

luận, xây dựng đường lối chiến lược phù hợp đảm bảo gắn tăng trưởng kinh tế

với CBXH; th ực hi ện CBXH trong t ừng bước và từng chính sách phát tri ển

v.v.., đây là những quan điểm chiến lược phù hợp, tạo tiền đề thúc đẩy kinh tế -

xã hội với những bước phát triển nhanh và bền vững. Sau gần 30 năm đổi mới,

nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta đã phát tri ển mạnh mẽ và phát huy

tác dụng to lớn, nâng cao đời sống vật chất và tinh th ần của nhân. CBXH đạt

được nhiều thành tựu quan tr ọng trên các l ĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy

nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta đang còn ph ải đương

đầu với hàng lo ạt nh ững khó kh ăn th ử thách: tình tr ạng phân hóa giàu -

149

nghèo, khoảng cách chênh lệch giữa các vùng, miền ngày càng lớn; tình trạng

thất nghi ệp, thi ếu việc làm đang tr ở thành v ấn đề hết sức nan gi ải trong xã

hội; tham nhũng, lãng phí, vi ph ạm dân chủ đang xảy ra nhiều nơi ảnh hưởng

nghiêm trọng tới CBXH. Hi ện nay, tư duy lý lu ận về CBXH trong điều kiện

KTTT còn tương đối hạn chế. Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn

chưa ngang tầm với đòi hỏi của thực tiễn, còn nhi ều lúng túng trong vi ệc xử

lý những vấn đề đặt ra do thiếu hụt khung lý thuyết và các mô hình phát triển.

Các chính sách vĩ mô của Nhà nước còn chứa đựng nhiều bất cập, tồn tại, đòi

hỏi phải tiếp tục hoàn thiện nhằm hướng vào khai thác, h ội tụ mọi nguồn lực

của đất nước, phát triển kinh tế và thực hiện CBXH.

Lý luận và th ực tiễn đã chỉ ra, thực hiện CBXH là v ấn đề lớn, phức tạp,

đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ, toàn diện. Các giải pháp ph ải được

thực hiện trên cơ sở tuân thủ những quy luật khách quan của KTTT, có tham

khảo và vận dụng sáng tạo kinh nghi ệm của các mô hình phát tri ển tiêu bi ểu

trên thế giới, đồng thời phải đảm bảo tính định hướng XHCN trong quá trình

phát triển. Giải pháp có tính đột phá hi ện nay là xây d ựng và hoàn thi ện thể

chế KTTT định hướng XHCN t ạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao

sức cạnh tranh c ủa nền kinh t ế, tạo điều ki ện vật ch ất, kinh t ế th ực hi ện

CBXH. Để kết hợp th ống nhất gi ữa mục tiêu phát tri ển KTTT và th ực hiện

CBXH, điều ki ện tiên quy ết đó là đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng, phát

huy vai trò “bàn tay hữu hình” của Nhà nước cùng với việc xây dựng và hoàn

thiện các chính sách kinh t ế, chính sách xã h ội; phát huy hi ệu qu ả công tác

phòng, chống tham nhũng, lãng phí, các tệ nạn xã hội là những vấn đề cốt lõi

hiện nay. Những giải pháp này có tính định hướng nhằm tìm kiếm những tiền

đề khách quan c ũng như phát huy nhân t ố chủ quan trong vi ệc tạo dựng một

xã hội công bằng, bình đẳng, ở đó, con người được phát huy quy ền làm ch ủ,

luôn sáng tạo, luôn cống hiến cao nhất năng lực của mình vì sự phát triển tiến

bộ của xã hội và lợi ích của mỗi thành viên.

150

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC

ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

1. Nguyễn Hồng Sơn (2009), “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

và vấn đề công bằng xã hội ở nước ta hi ện nay”, Tạp chí Kinh t ế và

phát triển, (2).

2. Nguyễn Hồng Sơn (2011), “Góp ph ần tìm hi ểu tư tưởng Hồ Chí Minh v ề

dân chủ”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 166 (II).

3. Nguyễn Hồng Sơn (2014), “Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và t ư

tưởng Hồ Chí Minh v ề công bằng xã hội”, Tạp chí Lý lu ận chính tr ị

và truyền thông, (2).

4. Nguy ễn Hồng Sơn (2014), “Những nhân t ố tác động tới vi ệc th ực hi ện

công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ ngh ĩa ở nước ta hi ện nay” , Tạp chí Lý lu ận chính tr ị và truy ền

thông, (11).

5. Nguyễn Hồng Sơn (2015), “Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã

hội trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Lý luận chính trị, (3).

6. Võ Th ị Hoa - Nguy ễn Hồng Sơn (2015), “Quan hệ giữa phát tri ển kinh tế

thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện công bằng xã hội

ở Việt Nam”, Tạp chí Triết học, (3).

7. Nguyễn Hồng Sơn (2015), “Nhận thức về việc thực hiện công bằng xã hội

trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt

Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, (4).

8. Nguy ễn Hồng Sơn (2015) “Xây d ựng và hoàn thi ện th ể ch ế kinh t ế th ị

trường định hướng xã h ội ch ủ ngh ĩa tạo điều ki ện thúc đẩy tăng

trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội ở nước ta hi ện nay”, Tạp

chí Lý luận chính trị và truyền thông, (10).

151

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đinh Văn Ân (2008), Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

2. Lê Xuân Bá (2005) “V ề xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩa ở Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị, (2).

3. Vũ Đình Bách (Ch ủ biên) (2004), Một số vấn đề về kinh tế thị trường

định hướng XHCN ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội.

4. “Báo cáo phát tri ển thế giới 2006 - Công b ằng và phát tri ển” (2005),

NXB Văn hóa và thông tin, Hà Nội.

5. Hoàng Chí B ảo (2010), Luận cứ và giải pháp phát triển xã hội và quản

lý phát triển xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới, NXB Chính tr ị quốc gia,

Hà Nội.

6. Ban tuyên giáo Trung ương (2013), Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội

nghị lần thứ VIII của Ban ch ấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt

Nam Khóa XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

7. Nguy ễn Đức Bình (Chủ biên) (2003), Về chủ nghĩa xã hội và con đường

đi lên chủ nghĩa xã hôi ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

8. Chu V ăn Cấp (2006) “Bàn thêm về kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩa”, Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng lý luận, (2).

9. Bin Clint ơn (1997) Giữa hy vọng và lịch sử, NXB Chính tr ị quốc gia,

Hà Nội.

10. Tr ần Văn Ch ử (2005) “T ư duy c ủa Đảng ta v ề quan h ệ gi ữa tăng

trưởng kinh t ế với ti ến bộ và công b ằng xã h ội” Tạp chí Lý lu ận

chính trị, (2).

11. Nguy ễn Cúc (2004) “Hai m ươi năm đổi mới và sự hình thành th ể chế

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”, Tạp chí lý

luận chính trị, (10).

152

12. Đoàn Viết Cương (2005), Tiến tới thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc

sức khỏe nhân dân - vấn đề và giải pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

13. Mai Ng ọc Cường (2012) “V ề xây dựng và hoàn thi ện hệ thống an sinh

xã hội ở nước ta những năm tới”, Tạp chí Kinh tế phát triển, (178).

14. Mai Ng ọc Cường (2013) “Một số vấn đề xã hội nhằm giải quyết mối quan

hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ở nước

ta, thực trạng và khuyến nghị” Tạp chí Kinh tế Phát triển, (196).

15. Mai Ng ọc Cường (2013) “Một số vấn đề cơ bản về chính sách xã hội ở

Việt Nam hiện nay”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

16. Di ễn đàn kinh tế, tài chính Vi ệt - Pháp, (2004) “Vì một sự tăng trưởng

và một xã hội công bằng”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

17. Ph ạm Tất Dong, (2000), “Tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã

hội - một nội dung của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”,

Tạp chí Quốc phòng toàn dân.

18. Bùi Đại Dũng (2012), Công bằng trong phân ph ối, cơ sở để phát tri ển

bền vững, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

19. Nguy ễn Tấn Dũng (2012 ), Hoàn thi ện th ể ch ế kinh t ế thị tr ường định

hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô

hình tăng trưởng, Tạp chí Cộng sản, (832).

20. Nguy ễn Tiến Dũng (2012) “Kinh t ế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa, sự tiếp nối của công cuộc đổi mới”, Tạp chí Cộng sản điện tử.

21. Nguy ễn Hữu Dũng (2012) “Phát tri ển kinh tế thị trường định hướng xã

hội chủ nghĩa và thực hiện chính sách an sinh xã hội ở nước ta”, Tạp chí

Cộng sản điện tử.

22. Lê Cao Đoàn (2001) Triết lý phát tri ển: quan h ệ công nghi ệp – nông

nghiệp, thành thị - nông thôn trong quá trình công nghi ệp hóa, hiện đại

hóa ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội.

153

23. Ph ạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hòa (2010), Vấn đề dân

sinh và xã hội hài hòa, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

24. Ph ạm Văn Đức và các c ộng sự (2010) Trách nhiệm xã hội trong điều

kiện kinh tế thị trường, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

25. Đảng Lao động Vi ệt Nam (1960), Văn kiện Đại hội Đảng lần th ứ III,

Ban Chấp hành Trung ương Đảng xuất bản, Hà Nội.

26. Đảng cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội Đảng VI, NXB Sự

thật, Hà nội.

27. Đảng cộng sản Vi ệt Nam (1994) Văn ki ện Hội ngh ị toàn qu ốc gi ữa

nhiệm kỳ, khóa VII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

28. Đảng cộng sản Vi ệt Nam (1992), Văn ki ện Đại hội Đảng VII, NXB

Chính trị quốc gia, Hà nội.

29. Đảng cộng sản Vi ệt Nam, ( 1996), Văn ki ện đại hội Đảng VIII, NXB

Chính trị quốc gia, Hà nội.

30. Đảng Cộng sản Vi ệt Nam, (2001 ), Văn ki ện Đại hội Đảng IX , NXB

Chính trị quốc gia, Hà nội.

31. Đảng Cộng sản Vi ệt Nam, (2006 ), Văn ki ện Đại hội Đảng X, NXB

Chính trị quốc gia, Hà nội.

32. Đảng Cộng sản Vi ệt Nam, (2011 ), Văn ki ện Đại hội Đảng XI, NXB

Chính trị quốc gia, Hà nội.

33. Đảng Cộng sản Vi ệt Nam, (2015) Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý

luận và th ực ti ễn qua 30 n ăm đổi mới (1986 - 2015), NXB Chính tr ị

quốc gia, Hà Nội.

34. Nguy ễn Tài Đông (2010) “M ột số vấn đề xã h ội và dân sinh ở Vi ệt

Nam từ đổi mới đến nay”, Tạp chí Triết học, (4).

35. Nguy ễn Ngọc Hà – Ph ạm Quốc Thới (2012) “Th ực hiện công bằng xã

hội – nội dung cơ bản của định hướng xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh

tế thị trường ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học xã hội, (2).

154

36. Lương Đình Hải (2008), Hiện đại hóa xã hội vì mục tiêu công bằng xã

hội ở Việt Nam hiện nay, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

37. Tr ần Hậu (2012), “V ề quan điểm tiến bộ và công b ằng xã hội ở nước

ta”, Tạp chí Triết học, (2).

38. Tr ần Kim Hào – Nguy ễn Thị Nguyệt (2012) “Nâng cao ho ạt động của

các doanh nghi ệp nhà nước nhằm duy trì tăng trưởng kinh tế”, Tạp chí

Kinh tế phát triển, (175).

39. Hiến pháp n ước Cộng hoà xã h ội ch ủ ngh ĩa Vi ệt Nam n ăm 1992 ,

(1992) NXB Sự thật.

40. Nguy ễn Đình Hoà, (2002), “V ề vai trò c ủa Nhà nước đối với việc thực

hiện công bằng xã hội trong ti ến trình công nghi ệp hoá, hi ện đại hoá”,

Tạp chí Triết học.

41. Hoàng Ng ọc Hòa (2007) “Các mô hình, th ể ch ế kinh t ế thị trường và

nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” Tạp

chí Cộng sản, (2).

42. Minh Hoài, (2000), “T ăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm ở nước

ta hiện nay”, Tạp chí Con số và sự kiện.

43. Tô Đức Hạnh (2009) “Bàn về mô hình kinh tế thị trường trong thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” , Tạp chí Kinh tế phát triển, (2).

44. Võ Th ị Hoa (2011), Nhà nước với vi ệc th ực hi ện công b ằng xã h ội

trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước

ta hiện nay, Luận án ti ến sĩ Chính tr ị học, Học viện Chính tr ị quốc gia

Hồ Chí Minh, Hà Nội.

45. Bùi Th ị Hoàn (2011), “Phát triển kinh tế thị trường và vấn đề hạn chế làm

giàu không chính đáng ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học, (8) (243).

46. Nguy ễn Minh Hoàn (2003), “Th ực hi ện công b ằng xã h ội trong điều

kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

hiện nay”, Tạp chí Triết học, (6) (145).

155

47. Nguyễn Minh Hoàn (2009), “ Công bằng xã h ội trong ti ến bộ xã h ội”

NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

48. Nguyễn Minh Hoàn (2009), “S ự khác bi ệt trong quan ni ệm của C.Mác

và J.Rawls về công bằng xã hội” Tạp chí Triết học, (10).

49. Nguyễn Th ị Mai Hồng, (2000), Phân hoá giàu nghèo trong quá trình

chuyển sang kinh t ế th ị tr ường ởt nước ta-Th ực tr ạng xu h ướng bi ến

động và gi ải pháp, Lu ận án ti ến sĩ Triết học, Học viện Chính tr ị quốc

gia Hồ Chí Minh, Hà nội.

50. Hội đồng qu ốc gia ch ỉ đạo biên so ạn Từ điển Bách khoa Vi ệt Nam

(1995), Từ điển Bách khoa Vi ệt Nam, Trung tâm T ừ điển Bách khoa

Việt Nam, Hà Nội.

51. Mai Xuân Hợi (2009) “Nh ững nhân t ố quyết định tính định hướng xã

hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí

Kinh tế phát triển, (2).

52. Nguy ễn Tấn Hùng, Lê H ữu Ái (2008) “Th ực hiện công bằng xã hội ở

Việt Nam hi ện nay, mâu thu ẫn và ph ương pháp gi ải quy ết”, Tạp chí

Triết học, (4).

53. Đỗ Huy (2008) “Công b ằng xã h ội ở Vi ệt Nam: Nh ận di ện và gi ải

pháp” Tạp chí Triết học, (5).

54. Đỗ Huy (2009), “M ột số vấn đề quan tâm trong vi ệc gi ải quy ết mối

quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ

và công bằng xã hội”, Tạp chí Triết học, (12) (223).

55. Nguyễn Quỳnh Huy (2005),“Thành tựu về tiến bộ và công bằng xã hội

của Việt Nam trong những năm gần đây”, Tạp chí Giáo dục lý luận.

56. Nguyễn Văn Huyên (1998), "V ề một mô hình phát tri ển đảm bảo sự

tiến bộ xã hội", Tạp chí Triết học.

57. Nguyễn Hải Hữu (2006), “Phát tri ển hệ thống an sinh x ã hội phù hợp

với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”, Tạp

chí Cộng sản.

156

58. Nguy ễn Đình Kháng (2000 ), “Vai trò qu ản lý của Nhà nước trong nền

kinh tế thị trường định hướng xã h ội chủ ngh ĩa”, Tạp chí qu ốc phòng

toàn dân.

59. Ph ạm Thanh Khiết, (2000) “Kinh tế thị trường ở nước ta và nh ững vấn

đề cần giải quyết”, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, (6).

60. Nguy ễn Hữu Khi ển, (2011) “Nhóm lợi ích và v ấn đề ch ống tham

nhũng” Tạp chí Triết học, Số 3.

61. Tr ương Đình Khương (2008), Thực hi ện công bằng xã h ội trong điều

kiện kinh t ế th ị tr ường định hướng xã hội ch ủ ngh ĩa ở Vi ệt Nam hi ện

nay, lu ận văn th ạc sĩ Tri ết học, Học vi ện Chính tr ị qu ốc gia H ồ Chí

Minh, Hà Nội.

62. Vi Th ị Hương Lan (2012) Vai trò của Nhà n ước trong vi ệc thực hi ện

CBXH ở Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế”, Luận án tiến sĩ Triết học,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

63. Lê B ộ Lĩnh (chủ biên), (1998), Tăng trưởng kinh tế và Công bằng xã hội ở

một số nước Châu Á và Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

64. Lê Qu ốc Lý (ch ủ biên), (2012) Chính sách xóa đói, giảm nghèo, th ực

trạng và giải pháp NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

65. Lê Qu ốc Lý (Ch ủ biên), (2013), “ Những vấn đề đặt ra trong quá trình

phát tri ển kinh t ế Vi ệt Nam giai đoạn 2011 - 2020”, NXB Chính tr ị

quốc gia, Hà Nội.

66. C.Mác - Ăngghen toàn tập, (1995), Tập 3, NXB Sự thật, Hà Nội.

67. C.Mác - Ăngghen (1995) toàn tập, tập 4, NXB Sự thật, Hà Nội.

68. C.Mác - Ăngghen (1995), (toàn tập, tập 18, NXB Sự thật, Hà Nội.

69. C.Mác - Ăngghen (1995), toàn tập, tập 19, NXB Sự thật, Hà Nội.

70. C.Mác - Ăngghen (1980), toàn tập, tập 1, NXB Sự thật, Hà Nội.

71. C.Mác - Ăngghen ( 1995), toàn tập, tập 22, NXB Sự thật, Hà Nội.

157

72. Hồ Chí Minh (2000), toàn tập, tập 1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

73. Hồ chí minh (2000), toàn tập, tập 7, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

74. Hồ chí minh (2000), toàn tập, tập 10, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

75. Hồ chí minh (2000), toàn tập, tập 11, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

76. Hồ chí minh (2000), toàn tập, tập 12, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

77. Hồ Chí Minh về cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã

hội, (1976), NXB Sự thật, Hà Nội.

78. Ngô Quang Minh (2008) “Ti ếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường

định hướng XHCN ở Việt Nam” Tạp chí Lý luận chính trị, (5).

79. Vũ Viết Mỹ (2004), “K ết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công

bằng xã hội trong sự nghiệp công nghi ệp hóa hi ện đại hóa đất nước”,

Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng, lý luận, (10).

80. Nguy ễn Thu Nghĩa (2010) “Vai trò của việc xây dựng nền văn hóa tiên

tiến đậm đà bản sắc dân t ộc với sự phát tri ển kinh t ế th ị tr ường định

hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” Tạp chí Triết học, (11).

81. Ph ạm Xuân Nam (ch ủ biên), (2001), Quản lý sự phát tri ển xã hội trên

nguyên tắc tiến bộ và công bằng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

82. Ph ạm Xuân Nam (chủ biên), (2002), Triết lý phát triển ở Việt Nam, mấy

vấn đề cốt yếu, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

83. Ph ạm Xuân Nam (2008), “Công b ằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Triết học, (2) (201).

84. Nguy ễn Thị Nga (2005), “Công bằng xã hội ở nước ta hiện nay - một số

thành tựu và vấn đề đặt ra”, Tạp chí Lý luận chính trị.

85. Nguy ễn Thị Nga (Ch ủ biên) (2007), Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế

và công bằng xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới - vấn đề và giải pháp,

NXB lý luận chính trị, Hà nội.

86. Dương Xuân Ng ọc, Nguyễn Văn Nhớn (2002), "Vai trò c ủa Nhà nước

trong việc thực hiện công bằng xã hội", Tạp chí Triết học.

158

87. Dương Xuân Ngọc (Chủ biên) (2012) Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và

đổi mới chính trị ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

88. Tr ần Văn Ngọc (2004), “Vấn đề phân phối kết quả sản xuất trong nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 7.

89. Tr ần Nhâm (2004) Tư duy lý luận với sự nghiệp đổi mới, NXB Chính trị

quốc gia, Hà Nội.

90. Niên giám thống kê, NXB Thống kê, 2014

91. Lê H ữu Nghĩa, Lê Ngọc Hùng (2012) Cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội

trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

92. Nguy ễn Quốc Phẩm (2005), “Kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và

công bằng xã hội”, Tạp chí Cộng sản.

93. Tr ần Văn Phòng (2006), “M ột số giải pháp nh ằm kết hợp tăng trưởng

kinh tế với công b ằng xã h ội ở nước ta hi ện nay”, Tạp chí Khoa h ọc

chính trị.

94. Vũ Văn Phúc (2004), “Tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển văn hóa xã

hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân.

95. Vũ Văn Phúc (2012), (ch ủ biên) Đổi mới mô hình t ăng trưởng, cơ cấu

lại nền kinh tế, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

96. Đỗ Thanh Phương (2000), “Quá trình nh ận thức kinh tế nhà nước trong

cơ cấu kinh tế nhiều thành ph ần ở nước ta”, Tạp chí Sinh ho ạt lý lu ận,

số 6.

97. Đỗ Nguyên Phương (2006), Tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến

bộ và công b ằng xã h ội, Trong “Việt Nam - 20 n ăm đổi mới”, NXB

Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

98. Ph ạm Ngọc Quang (2004) “Định hướng và giữ vững định hướng xã hội

chủ nghĩa trong phát tri ển kinh tế thị trường – một số vấn đề phương

pháp luận”, Tạp chí Thông tin công tác lý luận, (6).

159

99. Ph ạm Ngọc Quang (2009), “Vai trò c ủa Nhà nước trong nền kinh tế thị

trường định hướng xã h ội ch ủ ngh ĩa ở Vi ệt Nam hi ện nay”, Tạp chí

Cộng sản, (8).

100. Lương Xuân Qu ỳ (2002), Xây dựng quan h ệ sản xu ất định hướng xã

hội chủ nghĩa và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội ở Việt Nam, NXB

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

101. Lương Xuân Qu ỳ (2005), Quản lý nhà n ước trong n ền kinh t ế th ị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Đề tài khoa h ọc cấp

Nhà nước KX 0109.

102. Lương Xuân Quỳ - Đỗ Đức Bình (2010) Thể chế kinh tế của nhà nước

trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam,

NXB Chính trị quốc gia.

103. Nguyễn Duy Quý (2001), Tiến tới một Asean hòa bình, ổn định và phát

triển bền vững, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

104. Kỷ yếu hội th ảo (2004) “Vấn đề phân ph ối và phân hóa giàu nghèo

trong điều ki ện phát tri ển kinh t ế th ị tr ường định hướng xã h ội ch ủ

nghĩa ở nước ta”, NXB Lao động – xã hội.

105. Lương Sơn (1991) “Công bằng xã hội trong kinh tế thị trường”, Tạp chí

Cộng sản (11).

106. Hồ Tấn Sáng (2010) “Vai trò của nhân tố lãnh đạo, quản lý trong quá

trình xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa ở Việt Nam” Tạp chí Triết học, (6).

107. Nguyễn Hồng Sơn (2009) “Kinh t ế th ị trường định hướng xã h ội ch ủ

nghĩa và vấn đề công bằng xã hội ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Kinh tế

và phát triển, (2).

108. Nguyễn Hồng Sơn (2009) “Góp ph ần tìm hi ểu tư tưởng Hồ Chí Minh

về dân chủ”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, (166) (II).

160

109. Nguyễn Hồng Sơn (2014) “Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư

tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội”, Tạp chí Lý lu ận chính trị và

truyền thông, (2).

110. Nguyễn Hồng Sơn (2014) “Những nhân tố tác động tới việc thực hiện

công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ ngh ĩa ở nước ta hi ện nay ”, Tạp chí Lý lu ận chính tr ị và truy ền

thông, (11).

111. Nguyễn Hồng Sơn (2015) “Th ực hi ện tư tưởng Hồ Chí Minh v ề công

bằng xã hội trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Lý luận chính trị, (3).

112. Nguyễn Hồng Sơn (2015) “Nhận thức về việc thực hiện công bằng xã

hội trong điều ki ện kinh t ế th ị trường định hướng xã hội ch ủ nghĩa ở

Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, (4).

113. Lưu Văn Sùng (2012) Định hướng xã hội ch ủ nghĩa - Ti ến tới xã hội

nhân đạo hoàn bị, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

114. Nguyễn Đình Tấn (2005), Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội, NXB Lý

luận chính trị, Hà Nội.

115. Lê Hữu Tầng (1997), Về động lực của sự phát tri ển kinh t ế - xã h ội,

NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

116. Lê Hữu Tầng (2008) “M ột số vấn đề lý lu ận và th ực tiễn xung quanh

việc thực hi ện công bằng xã h ội ở Việt Nam hi ện nay”, Tạp chí Tri ết

học, (1) (200).

117. Hoàng Đức Thân (2011) “Gi ải quy ết các v ấn đề xã h ội nảy sinh

trong chi ến lược phát tri ển bền vững ở Vi ệt Nam” Tạp chí Kinh t ế

phát triển, (173).

118. Trần Thành (2006) “Vai trò c ủa nhà nước trong việc kết hợp giữa tăng

trưởng kinh tế và th ực hiện công bằng xã hội ở nước ta hi ện nay” Tạp

chí Triết học, (2).

161

119. Hà Huy Thành (Ch ủ biên) (2000), Những tác động tiêu cực của cơ chế

kinh tế thị trường ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

120. Hà Huy Thành – Nguy ễn Ngọc Khánh (2009), Phát triển bền vững từ

quan niệm đến hành động, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

121. Ngô Quang Thành, (2000), “Các định tố của bất bình đẳng về thu nhập

và chi ến lược tăng tr ưởng kinh t ế trong công b ằng xã h ội cho Vi ệt

Nam”, Tạp chí nghiên cứu kinh tế.

122. Ngô Quang Thành (2001), “Vai trò ch ủ đạo của kinh t ế nhà n ước với

mục tiêu t ăng trưởng kinh t ế gắn li ền với công b ằng xã hội”, Tạp chí

Khoa học Chính trị, (5).

123. Hồ Bá Thâm (2011), Bàn về mâu thuẫn xung đột lợi ích hiện nay, NXB

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

124. Trần Phúc Thăng (2003), Quan điểm duy vật lịch sử với việc nhận thức

thời đại ngày nay, Thông tin những vấn đề triết học và đời sống.

125. Nguyễn Xuân Th ắng (Ch ủ biên) (2003), Một số xu h ướng phát tri ển

chủ yếu hiện nay của nền kinh tế thế giới, NXB Khoa học xã hội.

126. Hoàng Đức Thân - Đinh Quang Ty, ch ủ biên (2010) Tăng tr ưởng

kinh tế và tiến bộ, công bằng xã h ội ở Việt Nam, NXB Chính tr ị quốc

gia, Hà Nội.

127. Lê Văn Toàn (2012), Phân tầng xã h ội ở Vi ệt Nam trong quá trình

chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, NXB Chính

trị quốc gia, Hà Nội.

128. Trần Nguyễn Tuyên (2010), Gắn kết tăng trưởng kinh tế và công bằng,

tiến bộ xã hội, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

129. Lưu Đạt Thuy ết (2004) “Gi ải quy ết một số vấn đề xã h ội trong quá

trình phát tri ển nền kinh t ế th ị trường định hướng xã h ội ch ủ ngh ĩa ở

nước ta”, Tạp chí Lý luận chính trị, (11).

162

130. Nguyễn Gia Th ơ (2012), “M ối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định

hướng xã h ội ch ủ ngh ĩa trong th ời kỳ quá độ lên ch ủ ngh ĩa xã h ội ở

nước ta”, Tạp chí Triết học, (6) (253).

131. Phạm Thị Ngọc Trầm (Chủ biên) (2009), Những vấn đề lý luận cơ bản

về công b ằng xã h ội trong điều ki ện hi ện nay ở nước ta,, NXB Khoa

học xã hội, Hà Nội.

132. Nguyễn Ng ọc Trân (2003), Một số vấn đề kinh t ế toàn c ầu hi ện nay ,

NXB Thế giới, Hà Nội.

133. Nguyễn Phú Tr ọng (2007), “Kinh t ế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa, quan niệm và giải pháp phát triển”, Tạp chí Cộng sản, (1).

134. Nguyễn Phú Trọng (chủ biên) (2008), Đổi mới và phát triển ở Việt Nam,

một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

135. Nguyễn Phú Trọng (chủ biên) (2011), Về các mối quan hệ lớn cần được

giả quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta,

NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

136. Vũ Anh Tu ấn, (2001), Vai trò của pháp lu ật trong vi ệc đảm bảo công

bằng xã h ội ở nước ta hi ện nay, Luận án ti ến sỹ Lu ật học, Học vi ện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

137. Đào Thế Tuấn (2012) “Bàn về giá trị công bằng và tương trợ trong nội

dung định hướng xã hội chủ nghĩa” Tạp chí Cộng sản điện tử.

138. Trần Nguy ễn Tuyên (2012), Gắn kết tăng tr ưởng kinh t ế và ti ến bộ,

công bằng xã hội, NXB Chính trị quốc gia.

139. Trần Xuân Trường (chủ biên) (2000), Một số vấn đề định hướng xã hội

chủ nghĩa ở nước ta, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

140. Đỗ Tư - Tr ịnh Quốc Tuấn - Nguyễn Đức Bách (1996), Lược khảo lịch

sử tư tưởng xã h ội ch ủ ngh ĩa và c ộng sản ch ủ ngh ĩa, NXB Chính tr ị

quốc gia, Hà Nội.

163

141. Đinh Quang Ty (2004) “Bước đầu tìm hiểu những vấn đề có tính quy luật

trong phát triển kinh tế thị trường” Tạp chí Thông tin công tác lý luận, (6).

142. Tô Huy Rứa và các đồng sự Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lý lu ận

của Đảng 1986 - 2005, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội (2005).

143. Viện Khoa h ọc xã h ội Vi ệt Nam (2007), Công bằng xã h ội, trách

nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội, kỷ yếu hội thảo quốc tế.

144. Lưu Th ị Hồng Vi ệt (2005) “C ơ ch ế th ị tr ường trong n ền kinh t ế th ị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta: những khuyết tật và biện

pháp khắc phục” Tạp chí Báo chí và tuyên truyền, (4).

145. Phạm Thị Ngọc Trầm (chủ biên) (2009), Những vấn đề lý luận cơ bản

về công bằng xã hội trong điều kiện nước ta hi ện nay, NXB Khoa h ọc

xã hội, Hà Nội.

146. V.P.Vônghin (1979) Lược khảo các tư tưởng xã hội chủ nghĩa”, NXB

Sự thật, Hà Nội.

147. Nguyễn Hữu Vượng (2004), Về tiến bộ xã hộ trong kinh t ế thị trường,

NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

148. Đức Vượng (2003) “Ch ủ ngh ĩa xã h ội và kinh t ế th ị tr ường, kinh

nghiệm của Trung Qu ốc và kinh nghi ệm của Việt Nam” Tạp chí Cộng

sản, (34).

149. Ngô Đình Xây (2011)“Phát triển nhanh và bền vững trong chiến lược phát

triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết học, (4).

150. Báo Công an nhân dân Thành ph ố Hồ Chí Minh điện tử, ngày

22.10.1013.

151. Báo điện tử Chính ph ủ. http://baodientu.chinhphu.vn/Cac-bai-phat-

bieu-cua-Thu-tuong/Bao-cao-cua-Chinh-phu-do-Thu-tuong-Nguyen-

Tan-Dung-trinh-bay-tai-phien-khai-mac-Ky-hop-thu-6-QH-khoa-

XIII/183595.vgp

164

152. Báo Nhân dân Điện tử ngày 24/8/2015

153. Báo Lao động điện tử “Chênh lệch thu nh ập tại Việt Nam đang tăng”.

http://laodong.com.vn/kinh-doanh/chenh-lech-thu-nhap-tai-viet-nam-

dang-tang-71455.bld

154. Báo Xã luận điện tử ngày 29/5/2015

155. Báo Sống mới - Kinh t ế Online. http://songmoi.vn/kinh-te-quoc-te/my-

can-moc-moi-ve-bat-binh-dang-giau-ngheo

156. Cổng thông tin điện tử Bộ tài chính ngày 25/6/1015

157. Cổng thông tin điện tử Chính ph ủ nước Cộng hòa XHCN Vi ệt Nam

http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungtinhhinhth

uchien?categoryId=100002607&articleId=10051323

158. Cổng thông tin điện tử Chính ph ủ nước Cộng hòa XHCN Vi ệt Nam

http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungtinhhinhth

uchien?categoryId=100002927&articleId=10052683.

159 Cổng thông tin điện tử Chính ph ủ nước Cộng hòa XHCN Vi ệt Nam

http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungtinhhinht

huchien?categoryId=100003029&articleId=10053823

Tiếng Anh

160 Clark, M.Islam, S Ira C.Colby, Catherine N.Dulmus, Karen M.Sowers

(2004)“Economic Growth and Social Welfare; Oprerationalizing

Normative Social Choice Theory”, Victoria University, Australia.

161 David Miller, (2001)“Principles of social juctice” , Harvard University

press.

162 David Shriberg, Samuel Y.Song, Antoinetle Halsell, Kisha M. Radliff

(2013) “School psychology and sosial juctice: Conceptual foundations

and tools for pratice”, Lodon, New York: Routledge

163 Esner, Wolfram, Lee, Friderics (2011 ) “Studies in economic reform

165

and social justice: Evaluting economic research in a contested

discipline: rakings, pluralsm, and the future of heterodiox economics”,

Malden: Wiley - Balckwell.

164 Fillip Taylor (2004) “Social Inequality in Vietnam and the Challenges

to Reform” Institute of Southeast Asian Studies Singapore.

165 Frideric S.Lee (2012) “Social Provisioning, Ebeddedness and

Modelling the economy: Study in economic reform and social justice” ,

Wiley - Blackwell press.

166 Hayter, Susan (2011) “The role collective bargaining in the global

economy: Negotiating for social justice”, Cheltenham: Edword Egar:

Iternational Labour Office.

“Social 167 Ira C.Colby, Catherine N.Dulmus, Karen M.Sowers (2013)

work and social policy: advancing the principles of economic and

social justice”, Hoboken:John Wiley & Son press.

168 Lindert, P.H. (2004) “Growing Public Social Spending and Economic

Growth since the eighteeth century”, Cambridge University Press.

169 Matthew Clayton and Andrew Williams (2004) “Social justice” ,

Blackwell publishing Ltd.