HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN HỒNG SƠN
HỒNG SƠN
VÊN §Ò C¤NG B»NG X· HéI TRONG §IÒU KIÖN
KINH TÕ THÞ TR¦êNG §ÞNH H¦íNG X· HéI CHñ NGHÜA ë VIÖT NAM HIÖN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2015
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN HỒNG SƠN
VÊN §Ò C¤NG B»NG X· HéI TRONG §IÒU KIÖN
KINH TÕ THÞ TR¦êNG §ÞNH H¦íNG X· HéI CHñ NGHÜA ë VIÖT NAM HIÖN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
Mã số : 62 22 03 02
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS.Dương Xuân NgọcTS
Dương Xuân Ngọc
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên c ứu của riêng
tôi. Các s ố li ệu, kết qu ả nêu trong lu ận án là trung th ực, có
nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU.............................................. 5
1.1. Những công trình nghiên cứu về kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam ................................................................................... 5
1.2. Những công trình nghiên cứu về công bằng xã hội ...................................... 8
1.3. Những công trình nghiên cứu về thực hiện công bằng xã hội trong điều
kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ............ 15
1.4. Đánh giá chung các công trình nghiên cứu liên quan và định hướng
nghiên cứu của đề tài .................................................................................. 21
Chương 2: NH ỮNG VẤN ĐỀ LÝ LU ẬN CHUNG VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI
TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA ................................................................................... 24
2.1. Nhận diện kinh tế th ị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và công
bằng xã hội .................................................................................................. 24
2.2. Tính quy luật về việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ................................................. 44
2.3. Kinh nghiệm thực hiện công bằng xã hội trong một số mô hình kinh tế
thị trường trên thế giới ............................................................................... 62
Chương 3: THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM -
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ......................................... 71
3.1. Thực tr ạng thực hi ện công bằng xã hội trong điều ki ện kinh tế th ị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ...................................... 71
3.2. Những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện công bằng xã hội trong điều
kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ............ 98
Chương 4: NH ỮNG GI ẢI PHÁP CH Ủ YẾU BẢO ĐẢM TH ỰC HI ỆN CÔNG
BẰNG XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH
HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ................... 115
4.1. Xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ................................................................................................... 115
4.2. Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước
trong thực hiện công bằng xã hội... . ........................................................ 115
4.3. Đổi mới, hoàn thi ện các chính sách kinh t ế, chính sách xã h ội theo
hướng giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích ........................................... 127
4.4. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu quả công tác phòng,
chống tham nhũng, lãng phí, các tệ nạn xã hội ........................................ 140
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 148
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ .................. 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 151
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Công bằng xã hội CBXH
Chủ nghĩa cộng sản CNCS
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH
Chủ nghĩa tư bản CNTB
Chủ nghĩa xã hội CNXH
Kinh tế thị trường KTTT
Nhà xuất bản NXB
Tăng trưởng kinh tế TTKT
Trang Tr
Xã hội chủ nghĩa XHCN
1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Công bằng xã hội (CBXH) là một hiện tượng, một quá trình xã h ội, vận
hành cùng với sự phát tri ển của lịch sử nhân loại. CBXH ph ản ánh mục tiêu,
khát vọng và là th ước đo những thành tựu của con ng ười trong quá trình đấu
tranh, xây dựng, cải tạo và phát triển xã hội.
Trong mỗi th ời kỳ lịch sử, với nh ững ch ế độ xã hội khác nhau, v ấn đề
CBXH được nhận thức và th ực hiện khác nhau, do v ậy, bên cạnh những giá
trị chung nhất định, khó có một quan niệm thống nhất về CBXH, nhất là trong
bối cảnh thế giới diễn biến đa dạng và phức tạp, với nhiều lợi ích và khuynh
hướng chính tr ị khác bi ệt, th ậm chí đối lập nhau nh ư hiện nay. Có th ể nói,
CBXH là một vấn đề không mới, nó được đặt ra khi con người biết liên kết để
gây dựng nên xã hội loài người cho đến ngày nay, song đây lại là vấn đề luôn
có tính thời sự, cần được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và phát triển. Hiện nay,
cùng với mục tiêu phát tri ển kinh t ế, hành trình c ủa nhân lo ại vẫn là hành
trình tìm ki ếm, tạo dựng nh ững giá tr ị CBXH, vì m ột th ế gi ới hòa bình và
thịnh vượng, vì mỗi cá nhân với những lợi ích chính đáng cần được thừa nhận
và bảo vệ.
Ở nước ta, CBXH là m ột trong n ăm thành t ố của mục tiêu chung mà
chúng ta phấn đấu trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH)“Dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đại hội XI (2011) của Đảng
đã khẳng định: “Thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an
sinh xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển” [32, tr.227].
Trong những năm đổi mới vừa qua, cùng với sự phát triển kinh tế, vấn đề
CBXH luôn được đặt ra, gi ải quyết và đạt được những thành tựu quan tr ọng
góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh th ần của nhân dân, gi ữ vững ổn
định chính trị, xã hội; các cơ hội phát triển được mở rộng cho đông đảo nhân
dân; lợi ích t ăng tr ưởng ngày càng l ớn và được phân ph ối trên quy mô
2
rộng…Tuy nhiên, trong quá trình phát tri ển kinh t ế thị trường (KTTT), bên
cạnh mặt tích cực, còn không ít tiêu cực, ảnh hưởng nghiêm trọng tới CBXH:
sự phân hóa giàu, nghèo quá m ức giữa các tầng lớp dân cư và giữa các vùng;
tình tr ạng th ất nghi ệp, thi ếu vi ệc làm, tình tr ạng bất công trong phân b ổ tư
liệu sản xuất, phân bổ giá trị, bất công trong việc tạo cơ hội học tập, việc làm
cho người lao động…gia tăng, trở thành những vấn đề bức xúc, tác động tiêu
cực đến tính ch ất xã hội chủ nghĩa (XHCN) của sự phát tri ển, đe dọa đến sự
ổn định về chính trị - xã hội.
Trong điều ki ện KTTT định hướng XHCN, th ực hi ện CBXH luôn là
bài toán khó kh ăn đặt ra đối với quá trình phát tri ển, bởi lẽ để bi ến mục
tiêu đó thành hi ện th ực thì ph ải có hàng lo ạt nh ững điều ki ện khách quan
và ch ủ quan c ần thi ết, ph ải gi ải quyết nhi ều quan h ệ đa dạng và ph ức tạp
trên mọi lĩnh vực của đời sống xã h ội - đặc bi ệt là quan h ệ th ường không
dễ điều hòa gi ữa tăng trưởng kinh t ế (TTKT) và CBXH, gi ữa quy lu ật cạnh
tranh th ị trường cùng nh ững hệ quả tiêu c ực của nó với mục tiêu xây d ựng
xã hội lành m ạnh, ti ến bộ. Trong c ơ ch ế th ị tr ường, các vòng quay l ợi
nhuận luôn t ạo sự bất công, do đó khó có th ể xác l ập CBXH toàn di ện.
Thực tế cho th ấy, muốn thúc đẩy TTKT, trong nhi ều trường hợp, chúng ta
phải chấp nhận bất CBXH, nhưng tính ch ất và giới hạn của bất CBXH là gì
và đến đâu v.v.., là nh ững vấn đề rất mới. Ngay nh ững nước phát tri ển, đã
trải qua một quá trình l ịch sử lâu dài v ới bao s ự bất công xã h ội thì mới có
thể gi ải quy ết CBXH ở nh ững mức độ nh ất định và còn nhi ều khó kh ăn,
thử thách... Trong nh ững th ập kỷ gần đây, nhi ều nước trên th ế gi ới đã và
đang phải xem xét, điều chỉnh lại mô hình phát tri ển, kể cả những mô hình
đã có m ột th ời được xem là ưu vi ệt nổi tr ội nh ư mô hình B ắc Âu v ới nhà
nước phúc l ợi, mô hình châu Âu đại lục với thị trường xã hội. Xét theo n ội
hàm, vấn đề kinh tế cũng nằm trong l ĩnh vực xã hội, nhưng không ph ải lúc
nào giải quyết TTKT cũng đồng nghĩa với việc giải quyết vấn đề CBXH.
3
Vì vậy, hiểu như thế nào về CBXH trong nền KTTT định hướng XHCN;
làm thế nào để đảm bảo gắn kết giữa phát tri ển kinh tế và CBXH trong t ừng
bước và cả quá trình phát tri ển; vai trò của Nhà nước trong việc quản lý, điều
tiết nền KTTT nhằm thực hiện CBXH v.v.., là nh ững vấn đề quan trọng, cấp
bách cần được nhận thức và giải quyết hiện nay ở nước ta.
Từ những lý do trên, tác gi ả đã chọn đề tài: “Vấn đề công bằng xã hội
trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
hiện nay” làm Luận án tiến sĩ Triết học.
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN ÁN
2.1. Mục đích của luận án
Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ nh ững vấn đề lý lu ận cơ bản về CBXH
trong điều ki ện KTTT định hướng XHCN, lu ận án phân tích th ực tr ạng và
giải pháp nh ằm th ực hi ện tốt CBXH trong điều ki ện KTTT định hướng
XHCN ở Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ của luận án
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về KTTT định hướng XHCN và CBXH.
- Khái quát những vấn đề có tính qui lu ật về thực hiện CBXH trong điều
kiện KTTT định hướng XHCN.
- Phân tích thực trạng và những vấn đề đặt đối với việc thực hiện CBXH
trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt CBXH trong điều
kiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu những vấn đề có tính qui luật và thực trạng việc thực
hiện CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên c ứu vấn đề CBXH trong điều ki ện KTTT định hướng
XHCN ở Việt Nam thời kỳ đổi mới, tập trung từ Đại hội VIII (1996) đến nay.
4
4. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về CBXH và CBXH trong điều
kiện KTTT định hướng XHCN;
Luận án kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa h ọc trong,
ngoài nước có liên quan.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng tổng hợp những nguyên tắc, phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp hệ thống, lôgic, lịch
sử, phân tích, tổng hợp và so sánh, v.v. để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra.
5. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Góp ph ần làm rõ tính quy lu ật của vi ệc th ực hi ện CBXH trong điều
kiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam.
- Khái quát kinh nghi ệm thực hiện CBXH trong m ột số mô hình KTTT
trên thế giới.
- Phân tích th ực trạng, những vấn đề đặt ra và đề xuất những giải pháp
chủ yếu nhằm thực hiện CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở
Việt Nam hiện nay.
6. Ý NGHĨA CỦA LUẬN ÁN
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận án có th ể dùng làm tài li ệu tham kh ảo cho vi ệc nghiên cứu, giảng
dạy, học tập trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận án làm c ơ sở cho công tác qu ản lý xã h ội, xây dựng và th ực hiện
các chính sách nh ằm đảm bảo CBXH trong điều ki ện KTTT định hướng
XHCN ở nước ta hiện nay.
7. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Ngoài ph ần mở đầu, kết lu ận và tài li ệu tham kh ảo, lu ận án g ồm 4
chương, 13 tiết.
5
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Thực hiện CBXH trong điều kiện KTTT và KTTT định hướng XHCN là
vấn đề thu hút s ự quan tâm c ủa nhi ều cơ quan, t ổ chức và cá nhân các nhà
khoa học trong và ngoài nước. Đến nay, đã có nhiều đề tài khoa học, sách, tạp
chí, kỷ yếu khoa h ọc và các bài vi ết đề cập tới vấn đề này. Các công trình
khoa học đã trình bày và phân tích các quan ni ệm về KTTT, KTTT định
hướng XHCN, về CBXH và mối quan hệ giữa TTKT và thực hiện CBXH; lý
thuyết và kinh nghi ệm th ực ti ễn th ực hi ện CBXH trong điều ki ện KTTT ở
một số nước,...với nhi ều góc độ ti ếp cận khác nhau nh ư Tri ết học, Kinh t ế
học, Chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Xã hội học, v.v..
1.1. NH ỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN C ỨU VỀ KINH T Ế TH Ị TR ƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh t ế được xây dựng
trong quá trình đổi mới ở Việt Nam, đây là vấn đề có ý ngh ĩa về lý lu ận và
thực ti ễn cấp bách, do v ậy luôn thu hút được sự quan tâm nghiên c ứu của
đông đảo các nhà khoa học.
Trong cuốn sách “Một số vấn đề về kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩaở Việt Nam” do Vũ Đình Bách chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội (2004), các tác gi ả đã khái quát lý lu ận về KTTT và KTTT định hướng
XHCN ở Việt Nam, so sánh tính thống nhất và tính đặc thù giữa KTTT ở Việt
Nam và KTTT ở nhiều nước trên th ế giới; phân tích nh ững nhân tố và động
lực thúc đẩy sự phát triển của KTTT, từ đó đề xuất những quan điểm và giải
pháp chủ yếu để xây dựng nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam.
Trên cơ sở xác định bản chất, mục tiêu của KTTT, nhận diện và phát huy
sức mạnh tổng hợp của các ngu ồn lực xã hội nhằm phát tri ển KTTT luôn là
vấn đề đặc biệt có ý ngh ĩa, tác giả Lê Du Phong và Hoàng Vi ệt qua bài vi ết:
“Động lực trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định
6
hướng xã hội chủ nghĩa ở Vi ệt Nam”, đã phân tích các động lực của cơ ch ế
KTTT bao gồm: động lực kinh tế, động lực chính trị, tinh thần, đồng thời khẳng
định, việc phát huy tốt các động lực trên sẽ là điều kiện đảm bảo thành công quá
quá trình xây dựng KTTT định hướng XHCN ở nước ta [3, tr 254 - 272].
Ở ph ương di ện ti ếp cận khác, tác gi ả Nguyễn Văn Nam trong bài vi ết
“Đặc điểm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt
Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế” đã nghiên cứu sự vận
động của KTTT Vi ệt Nam trong b ối cảnh toàn cầu hóa và h ội nhập quốc tế,
trong đó, tác giả nhấn mạnh KTTT mà chúng ta xây dựng là nền kinh tế “mở”
dựa trên cơ sở sự kết hợp những nguyên tắc và quy luật của KTTT với những
nguyên tắc bản chất XHCN. Hội nhập kinh tế quốc tế không gây cản trở cho
sự kết hợp đó, ngược lại, còn mở ra nh ững cơ hội mới làm tăng tính kh ả thi
của phương án kết hợp giữa KTTT với CNXH. Sự kết hợp đó phải được thực
hiện trên các n ội dung: sở hữu, cơ ch ế vận hành, phân ph ối thu nh ập, đồng
thời phải xác định được lộ trình hội nhập phù hợp với các điều kiện kinh tế
của đất nước và đảm bảo các thông lệ, thỏa ước quốc tế [3, tr 51 - 67].
Trong đề tài khoa h ọc cấp nhà nước KX.01.01“Đặc trưng của nền kinh
tế th ị tr ường định hướng xã h ội ch ủ ngh ĩa ở Vi ệt Nam” (2005) do Vũ Đình
Bách làm ch ủ nhi ệm, các tác gi ả đã khái quát quá trình hình thành và phát
triển của KTTT trên th ế giới; các mô hình ch ủ yếu, đặc trưng và xu th ế phát
triển của KTTT hiện đại như: mô hình KTTT t ự do Hoa K ỳ, mô hình KTTT
có điều khiển Nhật Bản, mô hình KTTT xã hội Cộng hòa Liên bang Đức, mô
hình KTTT nhà n ước phúc lợi Thụy Điển, qua đó đánh giá nh ững thành tựu
và hạn chế của các mô hình tiêu biểu trên, đồng thời rút ra những bài học kinh
nghiệm đối với Việt Nam.
Nội dung trọng tâm của đề tài là các tác giả đã làm rõ bản chất và ý nghĩa
của nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam; đánh giá thực trạng, nguy cơ
và thách thức, đồng thời chỉ ra những điều kiện đảm bảo cho sự vận hành và
7
phát tri ển của nền KTTT ở Vi ệt Nam đó là: đổi mới sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản; nâng cao vai trò qu ản lý của Nhà nước; cải tạo và xây dựng cơ cấu
trong nền KTTT và xây d ựng hạ tầng hiện đại, phát tri ển đồng bộ thể chế và
các thị trường riêng của KTTT.
Tiếp tục xây dựng và hoàn thi ện KTTT định hướng XHCH là nhi ệm vụ
cơ bản trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và
hội nhập quốc tế hiện nay ở nước ta, trong đó, trọng tâm chính là xây dựng và
hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN. Tác giả Ngô Quang Minh trong
bài viết:“Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Vi ệt Nam” (T ạp chí Lý lu ận chính tr ị, số 5/2008) đã phân tích các
thành tố cơ bản của th ể ch ế KTTT đó là: các lu ật, quy tắc; các ch ủ th ể; hệ
thống thị trường và cơ chế thực thi, từ đó đề xuất giải pháp ch ủ yếu tiếp tục
hoàn thiện thể chế KTTT ở nước ta.
Cũng trên tinh th ần đó, trong cu ốn sách “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa” do Đinh Văn Ân ch ủ biên, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội 2008, các tác giả đã phân tích thực tiễn xây dựng thể chế
KTTT định hướng XHCN ở Vi ệt Nam trong th ời kỳ đổi mới, ch ỉ ra nh ững
thành tựu, hạn chế và đề xuất các gi ải pháp nh ằm tiếp tục xây dựng và hoàn
thiện thể chế KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam trong thời gian tới.
Tác giả Nguyễn Tấn Dũng trong bài vi ết “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển
đổi mô hình t ăng trưởng”(Tạp chí Cộng sản, số 832 tháng 2/2012) đã nêu rõ
quan điểm xây dựng thể chế KTTT hi ện đại trong điều kiện toàn cầu hóa và
cạnh tranh gay gắt hiện nay; xác định những đặc trưng cơ bản của KTTT hiện
đại phải là cơ sở, chuẩn mực trong quá trình hoàn thi ện thể chế và th ực hiện
tái cơ cấu nền kinh tế ở nước ta hiện nay.
Tác gi ả Nguyễn Gia Th ơ trong bài vi ết “Mối quan h ệ gi ữa kinh t ế th ị
trường và định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
8
hội ở nước ta” (Tạp chí Tri ết học, số 253, tháng 6/2012) đã tập trung phân
tích mối quan hệ biện chứng giữa KTTT và định hướng XHCN trong th ời kỳ
quá độ lên CNXH ở nước ta. Tác giả đã chỉ ra nội hàm của khái niệm “kinh tế
thị tr ường” và “ định hướng XHCN”, đồng th ời cho r ằng KTTT hoàn toàn
không mâu thuẫn với định hướng XHCN mà chúng có thể bổ sung nhau trong
quá trình phát tri ển; định hướng XHCN chế ngự các mặt tiêu cực của KTTT,
còn KTTT làm tăng năng suất lao động xã hội, góp phần xây dựng cơ sở vật
chất cho CNXH [130, tr.12 - 16].
1.2. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI
Ở nước ngoài, có các công trình nghiên cứu khoa học về CBXH tiêu biểu
như sau:
Tác giả David Miller, giáo s ư Triết học tại Đại học Oxford - M ỹ, trong
cuốn “Principles of social juctice”, Harvard University press, 2001[161], cho
rằng, CBXH luôn là m ục tiêu và lý t ưởng của các chính ph ủ dân ch ủ trong
suốt thế kỷ XX. Thậm chí, ngay cả những người có tư tưởng đối lập nó cũng
không th ể ph ủ nh ận nh ững giá tr ị ti ềm năng và hi ệu qu ả của CBXH. Tuy
nhiên, tác gi ả cũng cho r ằng, ý ngh ĩa đích th ực của CBXH vẫn còn được ít
người biết đến. Các lý thuyết hiện đại về CBXH được xây dựng khá phong phú,
nhưng cũng đã không thành công trong vi ệc tiếp cận những giá trị cơ bản của
CBXH. Trong cuốn sách, David Miller đã đưa ra một lý thuyết mới về CBXH.
Ông cho rằng, CBXH là phạm trù lịch sử, nội dung và các nguyên tắc cơ bản của
nó phải được hiểu gắn với các điều kiện khác nhau của các cộng đồng xã hội
khác nhau. Xã hội hiện đại khá phức tạp, do vậy, các lý thuyết về CBXH cũng
phức tạp, đó là một điều hoàn toàn dễ hiểu. Tác gi ả đã đưa ra ba thành ph ần
chính trong hệ thống các nguyên tắc của CBXH cần phải được thực hiện và bảo
đảm, đó là: công lao, nhu cầu và sự bình đẳng của con người.
Trên cơ sở sử dụng các ph ương pháp nghiên c ứu tổng hợp, đặc bi ệt là
phương pháp nghiên c ứu th ực nghi ệm, tác gi ả đã ch ứng minh cho vai trò
9
trung tâm c ủa nh ững nguyên t ắc này trong nh ững nội dung ph ổ bi ến về
CBXH. Cuốn sách làm rõ những cơ sở, điều kiện, cũng như những khó khăn,
thách thức nhằm thực hiện những nguyên tắc của CBXH trong th ời đại ngày
nay, thời đại toàn cầu hóa với đặc trưng đa dạng về các khuynh hướng lợi ích
kinh tế, chính trị và văn hóa.
Các tác gi ả Matthew Clayton và Andrew Williams trong cu ốn “Social
justice”, Blackwell publishing Ltd (2004) [169], đã hệ thống các quan điểm
về công bằng và bình đẳng xã hội trong thời kỳ cận đại như Jonh Loke, David
Hium cho t ới thời hi ện đại như Jonh Rawls, Robert Nozick, Dworkin, G.A.
Cohen…, thông qua đó, cu ốn sách đã lu ận gi ải các quan điểm tiêu bi ểu về
CBXH như: phân phối công bằng về lợi ích và đảm bảo trách nhiệm giữa các
cá nhân, nhóm xã h ội; quyền sở hữu tài sản, tính lương thiện, bình đẳng giới.
Đây là những quan điểm của các nhà tri ết học cận đại như Jonh Loke, David
Hium. Đồng thời, các tác gi ả cũng làm rõ các quan điểm triết học hiện đại về
CBXH như Jonh Rawls, Robert Nozick, Dworkin, trong đó có nhấn mạnh tới
các vấn đề đáng quan tâm của xã hội hiện đại liên quan tới công bằng như sự
đói nghèo, sự tác động hai mặt của KTTT đối với CBXH; vấn đề nhân quyền,
những cơ hội và thách th ức nổi bật của thời đại ngày nay đối với thực hi ện
CBXH, v.v..Có th ể nói, đây là công trình nghiên c ứu công phu, là tài li ệu
tham khảo quý báu phục vụ công tác nghiên cứu và tìm kiếm những giải pháp
thực hiện công bằng, bình đẳng xã hội.
Các tác gi ả Ira C.Colby, Catherine N.Dulmus, Karen M.Sowers trong
cuốn sách “Social work and social policy: advancing the principles of
economic and social justice”, Hoboken:John Wiley & Son press (2013) [167],
đã nêu lên nh ững quan điểm khá độc đáo về công tác xã h ội và chính sách
phúc lợi xã h ội toàn cầu như một nội dung ch ủ yếu để thực thi CBXH hi ện
nay. Bên cạnh đó, các tác gi ả cũng đã nhấn mạnh vai trò c ủa Nhà nước, như
một công cụ quản lý và điều tiết chủ yếu, một chiếc “van” hiệu quả nhằm giải
10
quyết những mâu thuẫn, xung đột xã hội để thực thi công bằng và bình đẳng.
Cuốn sách cũng đề cập tới những thách thức cơ bản của xã hội châu Á trong
việc thực thi CBXH, đó là: sự cọ xát giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại
trong việc tìm kiếm những giải pháp thực thi CBXH trong nền KTTT; tính thiếu
đồng bộ trong thể chế chính tr ị, pháp lý và h ệ thống chính sách xã hội…Cuối
cùng các tác giả đã phân tích làm rõ những phương pháp cải cách chính sách xã
hội, đặc biệt là chính sách an sinh, phúc lợi xã hội; phương pháp phát huy vai trò
của nhà nước phúc lợi; phương pháp sử dụng có hi ệu quả các công c ụ truyền
thông mới nổi nhằm truyền bá và thực hiện CBXH v.v..
Ở trong n ước, xung quanh quan ni ệm về CBXH, các tác gi ả đã đưa ra
các cách tiếp cận và lý giải khác nhau, trong đó, trước tiên phải kể đến là các
bài viết trong Kỷ yếu hội thảo quốc tế "Công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội
và đoàn kết xã h ội (International Conference: social justice, social
responsibility and social solidarity), c ủa Vi ện Khoa h ọc Xã h ội Vi ệt Nam
(VASS), Hà Nội, năm 2007.
Tác gi ả Nguy ễn Gia Th ơ trong bài “V ấn đề công b ằng và bình đẳng
trong lịch sử triết học và chính tr ị học phương Tây”, đã phân tích các quan
niệm tiêu bi ểu về công bằng và bình đẳng xã hội trong lịch sử tư tưởng triết
học và chính tr ị phương Tây từ thời kỳ cổ đại cho tới nay, từ đó đưa ra k ết
luận quan tr ọng: Sự phát tri ển lịch sử nhân lo ại cho đến ngày nay là s ự phát
triển và điều ch ỉnh công b ằng và bình đẳng xã h ội, cách m ạng xã h ội là
phương thức tất yếu nhằm thay đổi và thi ết lập lại trật tự công bằng xã hội,
đây là xu h ướng khách quan đưa công b ằng, bình đẳng xã h ội từ kh ả năng
thành hiện thực.
Tác giả khẳng định, công bằng xã hội là một phạm trù thuộc lĩnh vực đạo
đức, chính tr ị - xã h ội, phản ánh sự tương ứng giữa vai trò c ủa các cá nhân
(nhóm xã hội) khác nhau trong đời sống xã hội, giữa cống hiến và hưởng thụ,
giữa tội lỗi và sự trừng phạt, giữa công lao và sự thừa nhận xã hội…Sự không
11
tương xứng trong các mối quan hệ trên được gọi là bất công. Tác giả cũng đã
so sánh khái ni ệm CBXH với khái ni ệm luôn đồng hành với nó là khái ni ệm
bình đẳng xã hội. Bình đẳng xã hội được hiểu là quy ền con ng ười, nhóm xã
hội trong m ột xã h ội nh ất định. Trong m ột xã h ội mà gi ới hạn quy ền con
người, nhóm xã h ội có s ự khác nhau đáng kể thì được coi là b ất bình đẳng
[143, tr.126], tuy nhiên, nh ững tiêu chí, gi ới hạn của sự bất bình đẳng xã hội
là gì?, tương quan giữa công bằng xã hội với bình đẳng xã hội như thế nào?,
tác giả chưa làm rõ.
Tác giả Nguyễn Tấn Hùng trong bài viết: “Công bằng xã hội: Mâu thuẫn
và phương pháp giải quyết”, đã khẳng định, bản chất của CBXH là sự tương
xứng (sự phù hợp) giữa một loạt các khía cạnh khác nhau trong quan h ệ giữa
cái mà cá nhân, nhóm xã h ội làm cho t ập thể, cho xã h ội hoặc cho cá nhân,
nhóm xã hội khác với cái mà họ được hưởng từ tập thể, xã hội hay từ cá nhân,
nhóm xã hội khác. Tác giả cũng chỉ ra rằng, thực chất của CBXH chính là sự
tương tác lợi ích giữa các cá nhân, nhóm và cộng đồng xã hội, do vậy để thực
hiện CBXH cần phải nhận diện và giải quyết các mâu thuẫn cơ bản như: mâu
thuẫn giữa cá nhân và xã hội, mâu thuẫn giữa chính sách kinh tế và chính sách
xã hội của nhà nước; mâu thu ẫn giữa lợi ích nhà đầu tư và lợi ích ng ười lao
động; mâu thuẫn trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo [143, tr.352 - 360].
Ở phương diện ti ếp cận khác, tác gi ả Đỗ Lan Hi ền với bài vi ết “Công
bằng xã hội theo quan điểm của Kitô giáo” ; tác gi ả Trần Duy Nhiên v ới bài
“Công bình theo quan điểm của Công giáo ”,“Lướt qua vấn đề công bằng xã
hội trong mấy tác ph ẩm của Nho giáo và trong t ư tưởng của Phật giáo, Lão
Tử, Trang T ử, Hàn Phi T ử” đã trình bày quan ni ệm về CBXH c ủa các tôn
giáo tiêu bi ểu như Kitô giáo, Ph ật giáo, Nho giáo, Lão giáo... trong đó nhấn
mạnh điểm chung c ủa các tôn giáo là lý gi ải về CBXH trên c ơ sở th ế gi ới
quan duy tâm, tìm cơ sở cho việc giải thoát con người khỏi những bất công xã
hội từ nh ững nguyên t ắc đạo đức, luân lý, t ừ sự khôi ph ục bản tính l ương
12
thiện và tình th ương của con ng ười chứ không ph ải dựa trên cơ sở khoa học
và hi ện th ực để gi ải quyết vấn đề. Tuy nhiên, các tác gi ả cũng kh ẳng định
khát vọng về một xã hội công bằng, bình đẳng, tự do trong quan niệm của các
tôn giáo là nh ững ý tưởng có tính đề xướng và thúc đẩy, đồng thời nó còn có
giá trị hiện sinh rõ rệt trong đời sống hiện nay [143, tr 247 - 257].
Trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh vi ệc thực
hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết học số 1/2008, tác
giả Lê Hữu Tầng nêu lên và phân tích hàng lo ạt những vấn đề lý luận và thực
tiễn cấp bách xoay quanh ch ủ đề CBXH. Tr ước hết, tác gi ả đã ch ỉ ra tính
thống nhất và tính khác bi ệt giữa CBXH và bình đẳng xã hội, trong đó, bình
đẳng xã hội là sự ngang bằng nhau giữa người với người về một phương diện
xã hội nào đấy, chẳng hạn như về kinh tế, chính tr ị, văn hóa. Trong khi đó,
CBXH chỉ là một dạng của bình đẳng xã hội, đó là sự bình đẳng trong phương
diện quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ theo nguyên t ắc cống hiến ngang
nhau thì hưởng thụ ngang nhau, ở đây, khái niệm CBXH và bình đẳng xã hội
đã được phân tích khá th ấu đáo trong sự so sánh tương tác của các khái niệm,
tạo cơ sở đi sâu, làm rõ hơn nội hàm của các khái niệm. Tác giả cho rằng, trong
khái ni ệm CBXH, cống hi ến và h ưởng th ụ ph ải được hi ểu theo ngh ĩa rộng:
chúng không ch ỉ bao g ồm những khía cạnh tích cực như chúng ta v ẫn quen
dùng, mà cả khía cạnh tiêu cực nữa như công, tội, thưởng, phạt [116, tr.39].
Khi bàn về vấn đề CBXH, trong nh ững năm gần đây, nhiều nhà nghiên
cứu đã đề cập tới vấn đề công bằng về cơ hội, thậm chí có tác gi ả còn đánh
giá rằng, trong tư duy phát triển hiện đại, công bằng về cơ hội phát triển là nội
dung bao trùm c ủa CBXH. Theo tác gi ả đó, trong tr ường hợp này, nội hàm
của khái niệm CBXH sẽ phải bao hàm sự công bằng trong việc phân phối các
cơ hội và điều kiện thực hi ện cơ hội, tuy nhiên, th ế nào là công b ằng trong
việc phân ph ối cơ hội và điều ki ện th ực hi ện cơ hội? Ví d ụ nh ư phân ph ối
công bằng về tư liệu sản xuất, phải chăng là sự chia đều theo nguyên tắc theo
13
đơn vị hành chính (chia đều cho 64 t ỉnh, thành ph ố trong ph ạm vi cả nước);
chia theo mật độ dân số (nơi nào có mật độ dân số cao hơn sẽ được phân phối
nhiều hơn); chia theo hi ệu qu ả sản xu ất kinh doanh (cao h ơn sẽ được phân
phối nhiều hơn); chia theo hiệu quả kinh tế - xã hội (nơi nào đạt hiệu quả kinh
tế - xã hội cao hơn sẽ được phân phối nhiều hơn). Trong 4 cách trên, cách nào
là công bằng? do bản thân khái niệm công bằng không được giải thích nên nội
hàm của khái niệm ở đây cũng không được giải thích.
Theo tác gi ả Lê Hữu Tầng, nên thay khái ni ệm công bằng về cơ hội (vì
không làm rõ được th ế nào là công b ằng trong tr ường hợp này) b ằng khái
niệm bình đẳng về cơ hội theo ngh ĩa bình đẳng trong ti ếp cận các c ơ hội.
Trong trường hợp đó, bình đẳng về cơ hội có vai trò gì trong vi ệc thực hiện
CBXH? Ở đây, khái ni ệm CBXH v ẫn được hi ểu theo ngh ĩa trình bày trên,
nghĩa là những ai có cống hiến ngang nhau thì đều hưởng thụ ngang nhau, đó
là th ước đo của CBXH. Nh ưng thước đo ấy chỉ chu ẩn xác khi nh ững người
cống hiến này đều xuất phát từ cùng một vạch tức là cùng một mặt bằng trong
việc tiếp cận các cơ hội, điều đó cũng có nghĩa là bình đẳng về cơ hội chính là
tiền đề để đảm bảo CBXH thực sự [116, tr.40].
Tác giả Nguyễn Minh Hoàn, trong cuốn sách “Công bằng xã hội trong tiến
bộ xã hội”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 đã đề cập đến hai khái niệm
CBXH và tiến bộ xã hội. Hai khái niệm này được tác giả khảo sát trong lịch sử
nhân loại từ thời kỳ cổ đại đến nay. Tác giả đã chỉ ra vị trí, vai trò của CBXH
trong tiến bộ xã hội và đi đến khái quát CBXH với tư cách là động lực của tiến
bộ xã hội và CBXH với tư cách là thước đo về mặt xã hội của tiến bộ xã hội.
Tác giả Bùi Đại Dũng, trong cuốn “Công bằng trong phân phối, cơ sở để
phát triển bền vững”, Nxb Chính tr ị quốc gia, Hà Nội, 2012, trên cơ sở phân
tích một số các quan điểm tiêu bi ểu về CBXH trong l ịch sử, đặc biệt là các
triết gia ph ương Tây hi ện đại nh ư Max Otto Lorenz, Corrado Gini, John
Rawls…, từ đó đi đến quan niệm, CBXH thường được sử dụng với phạm vi:
14
“Sự công bằng về lợi ích nhận được, trách nhiệm phải đóng góp và hình ph ạt
có thể áp dụng giữa các cá nhân trong xã h ội phù hợp với công lý và l ẽ phải,
đặc biệt là các mối quan hệ giữa giữa cống hiến và được đền bù; tội lỗi và bị
trừng phạt đối với mỗi cá nhân c ần được cân nh ắc trong mối liên hệ giữa lợi
ích cá nhân và lợi ích xã hội, giữa ngắn hạn và trung hạn v.v..[18, tr 35].
Ở đây, tác gi ả đã có s ự phân tích th ấu đáo vai trò, ý ngh ĩa của CBXH
trong việc đảm bảo không ch ỉ lợi ích c ủa các cá nhân, các nhóm xã h ội mà
còn là lợi ích chung của toàn xã hội trong sự phát triển trung và dài h ạn. Nói
cách khác CBXH luôn được nhìn nhận với tính cách là mục tiêu, động lực của
sự phát tri ển xã hội, bởi vì, theo tác gi ả, tiêu chí c ơ bản của công bằng là lợi
ích cá nhân ph ải phù hợp với lợi ích xã h ội trong dài hạn. Lợi ích cá nhân có
thể được đo bằng thu nh ập cá nhân, và l ợi ích xã h ội là tổng phúc lợi xã hội
trong dài hạn. Thể chế xã hội là những nhân tố chi phối quan hệ này, trong đó
quan trọng nhất là các công cụ như: thuế, trợ cấp, tôn vinh, trừng phạt…mà xã
hội cần xác định cụ thể và thực hiện nghiêm minh.
Như vậy, điểm mới trong quan niệm của tác giả về công bằng đó là công
bằng phát tri ển, là việc đảm bảo lợi ích tối ưu cho mọi cá nhân và cho c ả xã
hội trong dài hạn. Công bằng phát triển phải khuyến khích, tạo điều kiện cho
mọi tiềm năng được phát huy tối đa, đồng thời giúp ngăn chặn và loại bỏ các
nguy cơ thiệt hại, rủi ro cho xã h ội. Công bằng phát tri ển cung cấp cơ sở lý
luận cho việc trợ giúp và trợ cấp cho những người nghèo, tạo môi trường cạnh
tranh bình đẳng cho nhóm trung l ưu, và hạn chế tích tụ tài sản đối với những
nhóm cực giàu. Công bằng ở đây thống nhất và hoàn toàn không xung đột với
hiệu quả của sự phát tri ển. Công bằng phát tri ển là cơ sở để khẳng định tính
khoa học trong chủ trương của Đảng: “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển” [31, tr.101].
Có th ể nói thông qua cu ốn sách, tác gi ả đã đưa ra nh ững ph ương th ức
tiếp cận và nh ững nội dung mới xung quanh v ấn đề CBXH, từ sự đúc rút lý
15
thuyết và kinh nghiệm thực tiễn của các nước châu Âu hiện đại. Đây là những
gợi mở đáng trân trọng trong việc thực hiện CBXH ở nước ta hiện nay, trong
đó đáng chú ý là v ấn đề phân bổ nguồn lực xã hội và hạn chế bất công vì sự
phát tri ển hài hòa, b ền vững. Tuy nhiên, còn nhi ều vấn đề cần được làm rõ
hơn về nội hàm của khái ni ệm công bằng phát tri ển cũng như những tiêu chí
đánh giá hiệu quả của công bằng phát triển đối với mỗi cá nhân, nhóm xã h ội
và toàn xã hội v.v..
1.3. NH ỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN C ỨU VỀ TH ỰC HI ỆN CÔNG B ẰNG
XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH T Ế TH Ị TR ƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ H ỘI
CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
- Những công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận của việc thực hiện công bằng
xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Trong cu ốn “Hiện đại hóa xã h ội vì m ục tiêu công b ằng xã h ội ở Việt
Nam hi ện nay”, do Lương Vi ệt Hải ch ủ biên, Nxb Chính tr ị qu ốc gia, Hà
Nội, 2008, các tác gi ả đã nêu lên và lý gi ải hàng lo ạt những quan điểm mới
về th ực hi ện CBXH ở nước ta hi ện nay. Các tác gi ả cho r ằng, trong điều
kiện KTTT đang trong giai đoạn tạo dựng, ch ưa hoàn ch ỉnh, nhưng có th ể
đảm bảo thực hiện CBXH, và th ậm chí, trong điều kiện trình độ phát tri ển
của lực lượng sản xu ất còn h ạn ch ế nh ư hi ện nay, v ẫn có th ể và c ần thi ết
thực hiện CBXH. Đây là quan điểm hợp lý, vì CBXH là ước mơ, khát vọng
lâu đời của nhân dân lao động, nhân dân ta đã phải hy sinh x ương máu để
giành được độc lập tự do, để hướng tới xây d ựng một xã h ội công b ằng,
hạnh phúc. Không nh ất thi ết ph ải giàu có m ới th ực hi ện được công b ằng,
mà càng ch ưa giàu có, càng nghèo khó, càng ph ải thực hiện công b ằng nếu
muốn tạo động lực phát huy n ăng lực sáng t ạo của nhân dân, t ạo không khí
hòa thuận, dân chủ xã hội.
Khi bàn về sự bất công xã h ội trong điều kiện KTTT, các tác gi ả đã thể
hiện quan điểm mới, phù hợp, trái với quan điểm thông thường khi cho rằng,
KTTT tạo nên sự phân hóa giàu nghèo, còn s ự phân hóa giàu nghèo là bi ểu
16
hiện của sự không công bằng trong xã hội. Các tác giả khẳng định rằng, trong
lịch sử loài người, sự phân hóa giàu nghèo là m ột xu thế vốn có của đời sống
xã hội, sở dĩ xu thế đó là vốn có bởi vì con người sinh ra là khác nhau về năng
lực thể chất và tinh thần. Thêm vào đó sự khác nhau về cơ hội và điều kiện xã
hội cũng góp phần tạo nên sự khác biệt về thu nhập được tích tụ dần dần, dẫn
đến sự phân hóa giàu nghèo trong xã h ội. Ngay c ả trong c ơ ch ế tập trung,
quan liêu bao c ấp tr ước đây, ở các n ước XHCN, c ũng có s ự phân hóa giàu
nghèo nh ưng được che đậy dưới các hình th ức tinh vi và kín đáo. Khi l ực
lượng sản xu ất, khoa học kỹ thuật và công ngh ệ ngày càng phát tri ển, năng
suất lao động càng cao thì t ốc độ phân hóa giàu, nghèo càng l ớn. Các ch ế độ
xã hội, các quốc gia khác nhau, tùy theo điều kiện lịch sử cụ thể của mình mà
xử lý phân hóa giàu nghèo theo những cách thức riêng.
Không th ể nói rằng trong nền KTTT phân hóa giàu nghèo là bi ểu hi ện
của sự bất công, nó ch ỉ bất công khi s ự giàu có được tiến hành bằng những
thủ đoạn bất hợp pháp nh ư tham nh ũng, buôn lậu, làm hàng gi ả, đặc quyền,
đặc lợi, v.v., ngh ĩa là s ự giàu có đạt được bằng những th ủ đoạn và ph ương
thức bất chính. Phân hóa giàu nghèo cũng sẽ là bất công khi do cơ chế quản lý
xã hội có nhiều bất cập để những lợi thế nghề nghiệp, tình trạng độc quyền, sự
can thiệp của các cơ quan Nhà nước,…tạo cơ hội cho một bộ phận nào đó có
thu nhập cao hơn tỷ lệ đóng góp của họ, còn những bộ phận khác không có lợi
thế đó lại hưởng thụ thu nhập với tỷ lệ thấp hơn.
Thực hiện CBXH hiện nay ở nước ta là khắc phục tình trạng bất công phi
lý, phi pháp, khuy ến khích t ạo điều ki ện cho m ọi ng ười được làm ăn, phát
triển kinh tế, làm giàu hợp pháp, đây là điều kiện để thực hiện mục tiêu “kép”
là phát triển kinh tế và CBXH. Điều này phải được nhận thức và phổ cập rộng
rãi, tạo nên sự đồng thuận trong ý chí và hành động của toàn xã hội. Trên thực
tế sẽ không có CBXH, khi kinh tế - xã hội rơi vào tình trạng trì trệ, chậm phát
triển, khi người lao động không thực sự hăng hái, nhiệt tình tham gia vào các
quá trình sản xuất.
17
Cuốn sách “Những vấn đề lý luận cơ bản về công bằng xã hội trong điều
kiện nước ta hi ện nay” của Phạm Thị Ngọc Trầm (chủ biên), Nxb Khoa h ọc
xã hội, Hà N ội, 2009, nêu lên nh ững nguyên t ắc ph ương pháp lu ận cơ bản
trong nhận thức và thực hiện CBXH ở nước ta, đó là nguyên tắc khách quan,
nguyên tắc phát triển, nguyên tắc lịch sử - cụ thể, nguyên tắc toàn diện. Trên
cơ sở đó, các tác gi ả chỉ ra một số vấn đề cấp bách trong nh ận thức và gi ải
quyết CBXH ở nước ta đó là vấn đề công bằng và bình đẳng xã hội, vấn đề
phân phối đảm bảo CBXH trong điều kiện KTTT, vấn đề phát triển kinh tế và
thực hiện CBXH vì mục tiêu xã hội nhân văn.
Tác giả Đỗ Huy trong bài vi ết “Một số vấn đề cần quan tâm trong vi ệc
giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát tri ển văn hóa, th ực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội” (Tạp chí Triết học số 12/2009) đã phân tích
6 vấn đề bức xúc trong việc giải quyết mối quan hệ giữa TTKT, phát triển văn
hóa, thực hiện CBXH ở nước ta hiện nay, đó là: phải quan tâm tới thực trạng
kinh tế, chính tr ị, xã hội và văn hóa của đất nước trong mối tương quan với
các nước khác; phải chú ý tới tư duy gắn với lợi ích; vấn đề gia tăng dân số và
các hệ lụy của nó; vấn đề giáo dục; vấn đề cơ chế thị trường. Theo tác giả, các
vấn đề này đặc biệt quan tr ọng cả về lý lu ận và th ực tiễn, gắn liền với mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Đã có một số luận văn, luận án đề cập tới vấn đề CBXH trong điều kiện
KTTT thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay; vai trò của Nhà nước trong
việc th ực hi ện nhi ệm vụ này nh ư:“Thực hi ện công b ằng xã h ội trong điều
kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hi ện nay”,
luận văn Thạc sĩ Triết học của Trương Đình Khương, năm 2008; “Vai trò của
Nhà nước đối với việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay”, Luận án tiến sĩ Chính trị học
của Võ Th ị Hoa, n ăm 2010; “Vai trò c ủa Nhà n ước trong vi ệc th ực hi ện
CBXH ở Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế”, Luận án tiến sĩ Triết học của Vi
Thị Hương Lan, năm 2012.
18
Các tác giả đã nêu lên các khái ni ệm CBXH, bình đẳng xã hội; phân tích
cơ sở lý lu ận của vi ệc th ực hi ện CBXH trong điều ki ện KTTT định hướng
XHCN ở nước ta; vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện CBXH ở nước ta
hiện nay v.v.. Đây là những tư liệu tham khảo bổ ích đối với nội dung nghiên
cứu của chúng tôi. Tuy nhiên, do ti ếp cận và gi ải quyết vấn đề ở những góc
độ và m ức độ khác nhau, nên c ần có nh ững đánh giá sâu h ơn về vấn đề
nghiên cứu, đặc biệt là làm rõ sự tương tác giữa CBXH và KTTT định hướng
XHCN, nội dung này sẽ được làm rõ hơn trong luận án.
- Những công trình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp thực hiện công bằng
xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Cuốn sách “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt
Nam thời kỳ đổi mới - vấn đề và giải pháp” của Nguyễn Thị Nga (Chủ biên),
Nxb Lý luận chính trị, Hà nội 2007, các tác giả đã nêu lên những thành tựu cơ
bản về TTKT và CBXH ở nước ta th ời kỳ đổi mới đó là, TTKT cao và toàn
diện, tạo cơ sở vật chất giải quyết vấn đề CBXH; thực hiện tốt các chính sách
phúc lợi xã hội đối với người có công với nước; thực hiện tốt chiến lược xóa
đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật ch ất và tinh th ần của nhân dân; t ạo
nhiều cơ hội để mỗi người có thể tham gia làm kinh t ế theo điều kiện và kh ả
năng có thể của mình…, đồng thời, tác giả cũng đã đưa ra những cảnh báo về
xu hướng không đồng thuận, thiếu bền vững giữa TTKT và CBXH ở nước ta
hiện nay như: phân hóa thu nhập ngày càng gia tăng giữa các vùng miền; hiện
tượng tham nhũng, buôn lậu, làm ăn phi pháp, tệ nạn xã hội có xu hướng tăng
mạnh ảnh hưởng tiêu cực tới TTKT và CBXH.
Theo tác gi ả, để kết hợp thành công hai m ục tiêu TTKT và CBXH, c ần
phải chú tr ọng thực hiện các gi ải pháp cơ bản sau: gi ữ vững sự lãnh đạo của
Đảng, phát huy vai trò của các đoàn thể xã hội. Đây là điều kiện tiên quyết để
kết hợp ch ặt ch ẽ các m ục tiêu kinh t ế với các m ục tiêu xã h ội; th ực hi ện
CBXH ngay trong t ừng bước và t ừng chính sách phát tri ển; chú tr ọng phát
19
huy vai trò c ủa Nhà nước trong qu ản lý và điều tiết kinh tế - xã h ội vì mục
tiêu TTKT và CBXH; kết hợp và thực hiện tốt các chính sách xã hội; mở rộng
và phát huy dân ch ủ; nâng cao hi ệu quả công tác phòng ch ống tham nh ũng,
lãng phí, các tệ nạn xã hội; tiếp tục phát triển KTTT định hướng XHCN.
Cuốn “Tăng trưởng kinh tế và ti ến bộ,công bằng xã hội ở Việt Nam” do
Hoàng Đức Thân và Đinh Quang Ty chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2010, các tác giả đã đánh giá thực trạng gắn kết giữa TTKT và tiến bộ, CBXH ở
nước ta trên các phương diện: TTKT và thu nhập, việc làm; TTKT và xóa đói,
giảm nghèo; TKKT và nâng cao phúc l ợi xã hội; TTKT và giáo d ục, đào tạo,
chăm sóc sức khỏe. Bên cạnh đó, các tác gi ả cũng làm rõ th ực trạng bất bình
đẳng, phân tầng xã hội và sự chênh lệch giữa các vùng miền ở nước ta. Đặc biệt,
các tác gi ả đã đưa ra nh ững dự báo bối cảnh trong nước và qu ốc tế trong giai
đoạn 2011 - 2020, từ đó nêu lên nh ững nhóm giải pháp chủ yếu nhằm gắn kết
hợp lý giữa phát triển kinh tế và tiến bộ, CBXH ở nước ta trong giai đoạn 2011 -
2020. Đó là, những nhóm giải pháp phát triển kinh tế nhanh và bền vững, trong
đó nhấn mạnh việc chuyển đổi mô hình kinh tế theo chiều sâu, tái cơ cấu nền
kinh tế; đó là nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế, chính sách của Nhà nước nhằm
gắn kết hợp lý giữa TTKT và CBXH; cuối cùng là những nhóm giải pháp cụ thể
trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm thực hiện mục tiêu trên.
Tác giả Đỗ Huy trong bài viết “Công bằng xã hội ở Việt Nam: Nhận diện
và giải pháp thực hiện” (Tạp chí Triết học số 5/2008) đã đưa ra và phân tích bốn
thời kỳ thực hiện CBXH ở Việt Nam từ trước Cách mạng tháng Tám đến nay.
Trên cơ sở đó, tác giả khẳng định, hiện nay, CBXH ở nước ta còn nhiều vấn đề
phải giải quyết như hệ thống chuẩn mực xã hội, năng suất lao động, quyền lực,
nhất là quyền sở hữu. Tác gi ả đã đề xuất một số giải pháp ch ủ yếu thực hiện
CBXH đó là: xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; hiện đại hóa lực lượng
sản xuất; từng bước tập thể hóa, quốc doanh hóa trong quá trình thiết lập quan hệ
sản xuất mới; xây dựng hệ tư tưởng chính thống trên nền tảng chủ nghĩa Mác -
20
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; thực hiện đoàn kết: dân tộc, quốc tế, con người;
tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Tác giả khẳng định, đây cũng là các giải pháp lâu dài để thực hiện mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Như vậy, theo tác gi ả, để thực hiện CBXH ở Việt Nam hi ện nay, vấn đề
không chỉ là phân phối theo lao động gắn với cống hiến và hưởng thụ, mà là phải
phát triển xã hội toàn diện. Các giải pháp kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa phải
có sự kết dính như các mắt xích trong hệ thống lấy con người làm trung tâm.
Trong cu ốn “Hiện đại hóa xã h ội vì m ục tiêu công b ằng xã h ội ở Vi ệt
Nam hiện nay”, do Lương Việt Hải chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2008, các tác gi ả đã đã lý giải CBXH gắn với tiến trình hi ện đại hóa, trên cơ
sở đó, khái quát 3 nhóm gi ải pháp cơ bản nhằm đẩy nhanh tiến trình hiện đại
hóa xã hội vì mục tiêu CBXH ở nước ta hiện nay. Nhóm giải pháp thứ nhất là:
đẩy nhanh nh ịp độ phát tri ển toàn di ện KTTT định hướng XHCN. Đây là
nhóm giải pháp cấp bách và tất yếu nhằm tháo gỡ những vướng mắc đang cản
trở quá trình thực thi CBXH ở nước ta. Để thực hiện nhóm giải pháp này, phải
tiến hành đồng thời các biện pháp cụ thể trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Nhóm
giải pháp th ứ hai là: xây d ựng và th ực thi đầy đủ, hợp lý các chính sách xã
hội. Nhóm giải pháp này hướng tới mục tiêu vì một xã hội công bằng, bác ái
và tự do cho tất cả mọi người. Các chính sách xã hội phải được xây dựng trên
cơ sở quan điểm lịch sử cụ thể, quan điểm phát triển, toàn diện và công bằng.
Nhóm giải pháp thứ ba là: nâng cao vai trò của Nhà nước trong tiến trình hiện
đại hóa vì m ục tiêu CBXH. V ới bản chất của dân, do dân, vì dân, Nhà n ước
sử dụng chức năng điều tiết của mình để chủ động giải quyết các vấn đề xã
hội thực hiện CBXH. Nh ưng mức độ giải quyết các vấn đề xã hội không th ể
vượt quá kh ả năng cho phép mà trình độ phát tri ển kinh t ế đạt được. Nhà
nước điều chỉnh hợp lý sự phát triển các vùng, khu vực, phân phối công bằng
hơn các thành t ựu của sự phát tri ển kinh tế - xã h ội; Nhà nước áp dụng các
21
chính sách xã hội nhằm hạn chế sự phân hóa giàu nghèo, sự phân tầng xã hội,
tạo lập cho mọi người có cơ hội ngang nhau trong vi ệc hưởng thụ các thành
tựu văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, được phục vụ và tiếp cận các thông
tin, tri thức mới v.v..
1.4. ĐÁNH GIÁ CHUNG CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN C ỨU LIÊN QUAN
VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.4.1. Đánh giá chung các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Một cách khách quan, liên quan đến đề tài, cho đến nay, có nhi ều công
trình nghiên c ứu đã công bố có giá tr ị tham kh ảo, tuy nhiên, còn nhi ều nội
dung cần được tiếp tục nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện:
- Trước hết, các công trình đã khắc họa những nét chung nhất về KTTT và
KTTT định hướng XHCN dưới nhiều góc độ, mức độ khác nhau; đề xuất những
quan điểm và gi ải pháp để tiếp tục xây dựng và phát tri ển KTTT định hướng
XHCN ở nước ta. Tuy nhiên, xung quanh vấn đề này, đến nay còn nhiều nhận
thức và cách hiểu khác nhau, nhiều nội dung quan trọng chưa được lý giải đầy
đủ, gây khó khăn, lúng túng cho chỉ đạo thực tiễn và sự thống nhất trong toàn xã
hội như: vai trò, ph ương thức vận động, tương tác và sự chi ph ối của các quy
luật KTTT đối với đời sống kinh tế - xã hội của đất nước; cơ cấu sở hữu và cơ
cấu thành phần kinh tế, vai trò của chủ đạo của kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể;
vai trò động lực của thành ph ần kinh tế tư nhân trong n ền KTTT; phân ph ối
trong nền KTTT v.v.. Hi ện nay, các quan điểm phát tri ển KTTT định hướng
XHCN vẫn chưa thật rõ ràng và nhất quán, nhất là việc cụ thể hóa thành các quy
phạm pháp luật, thành sự hiểu biết và tập quán của mọi người dân để vận dụng
vào thực tiễn còn nhiều hạn chế, chưa đầy đủ.
- Các công trình nghiên c ứu về CBXH đã bước đầu xây dựng cơ sở lý
luận về CBXH, ch ỉ ra vai trò c ủa CBXH trong s ự phát tri ển tiến bộ của xã
hội; đánh giá nh ững mâu thu ẫn ch ủ yếu trong vi ệc th ực hi ện CBXH. Tuy
nhiên, còn nhiều vấn đề đặt ra hiện nay, cần tiếp tục nghiên cứu:
22
+ Các công trình m ới ch ỉ nêu lên nh ững quan điểm tiêu bi ểu về CBXH
trong lịch sử, khái quát định nghĩa về CBXH; bước đầu phân biệt, so sánh khái
niệm CBXH với những khái niệm khác có liên quan như bình đẳng xã hội, tiến
bộ xã hội, nhưng những tính chất cơ bản của khái niệm CBXH chưa được làm rõ
như: tính khách quan, tính chất lịch sử, tính giai cấp, tính xã hội - nhân văn.
+ CBXH có n ội dung phong phú, trong đó ch ủ yếu tập trung ở hai nội
dung chính là công bằng trong phân phối và công bằng về cơ hội và điều kiện
phát triển. Các công trình nghiên cứu mới chỉ chủ yếu đề cập tới công bằng về
phân phối, còn công bằng và cơ hội và điều kiện phát triển chưa được nghiên
cứu toàn di ện và đầy đủ. Bên cạnh đó, CBXH không ph ải chỉ bó h ẹp ở nội
dung kinh tế, nó còn là công b ằng trong vi ệc tham gia và h ưởng thụ kết quả
hoạt động trong các l ĩnh vực xã hội, chính tr ị, văn hóa của đời sống xã hội.
Theo nghĩa đó, xét trong tổng thể, CBXH gắn với sự phát triển toàn diện của
con người và xã h ội và là k ết quả của sự phát tri ển đó, cho đến nay ch ưa có
công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề này.
- Vấn đề thực hiện CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở
nước ta đã được đề cập tương đối phong phú trong các công trình nghiên c ứu
khoa học, tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu mang tính hệ thống và toàn
diện. Xung quanh đánh giá thực trạng về CBXH, phần lớn các công trình mới
chỉ dừng lại ở đánh giá th ực tr ạng vi ệc gi ải quy ết quan h ệ gi ữa TTKT và
CBXH, bên cạnh đó, còn nhiều nội dung khác về thực trạng thực hiện CBXH
trong điều kiện KTTT ở nước ta chưa được làm rõ như: vấn đề công bằng trong
sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế; vấn đề công bằng trong phân bổ
nguồn lực, công bằng trong những diễn biến của phân tầng xã hội v.v..
Các công trình nghiên cứu về CBXH trong điều kiện KTTT ở nước ta mới
chỉ dừng lại ở việc đánh giá những thành tựu và hạn chế trong quá trình thực hiện
CBXH, tuy nhiên chưa có công trình nào đi sâu phân tích làm rõ những mâu thuẫn
cơ bản nảy sinh cần phải giải quyết nhằm phát triển KTTT và thực hiện CBXH ở
23
nước ta. Đây là nội dung có ý nghĩa quan trọng và tương đối phức tạp, liên quan
đến cả kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, cần phải nghiên cứu, làm rõ.
Do còn có những khoảng trống trong nghiên cứu về thực trạng thực hiện
CBXH ở nước ta, các công trình nghiên c ứu về gi ải pháp th ực hi ện CBXH
mặc dù t ương đối phong phú, nh ưng còn nhi ều nội dung quan tr ọng khác
chưa được đề cập, hoặc có đề cập nhưng chưa đầy đủ. Ví dụ như giải pháp
nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước trong
thực hi ện CBXH; gi ải pháp hoàn thi ện th ể ch ế KTTT nh ằm th ực hi ện
CBXH…, do vậy luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu, làm rõ hơn về vấn đề này.
1.4.2. Định hướng nghiên cứu của đề tài
Chính những khoảng trống trong nghiên cứu về vấn đề CBXH trong điều
kiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam đã gợi ý cho tác gi ả lựa chọn đề
tài: “Vấn đề công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” làm luận án ti ến sĩ Triết học. Đề tài
hướng tới những nội dung nghiên cứu cơ bản như sau:
- Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về CBXH trong điều
kiện KTTT định hướng XHCN. Trong đó, lu ận án xác định khái ni ệm và
nghiên cứu sâu hơn những tính ch ất cơ bản của CBXH nh ư tính lịch sử, tính
giai cấp, tính xã h ội. Lu ận án phân tích rõ h ơn nh ững nội dung c ơ bản của
CBXH như công bằng trong phân phối và công bằng về cơ hội, điều kiện phát
triển. Điểm mới và là một trong những nội dung trọng tâm của luận án là khái
quát những vấn đề có tính quy lu ật của việc thực hiện CBXH trong điều kiện
KTTT định hướng XHCN, từ đó làm cơ sở để nghiên cứu, đánh giá về thực
trạng và đề xuất nh ững gi ải pháp c ơ bản nhằm thực hi ện CBXH trong điều
kiện KTTT định hướng XHCN ở nước ta trong thời gian tới.
- Thứ hai, làm rõ th ực tr ạng và nh ững vấn đề đặt ra đối với vi ệc th ực
hiện CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.
- Thứ ba, đề xuất những giải pháp ch ủ yếu thực hiện CBXH trong điều
kiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam trong thời gian tới.
24
Chương 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI
TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
2.1. NH ẬN DI ỆN KINH T Ế TH Ị TR ƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ H ỘI CH Ủ
NGHĨA VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI
2.1.1. Quan ni ệm về kinh t ế th ị tr ường và kinh t ế th ị tr ường định
hướng xã hội chủ nghĩa
2.1.1.1. Quan niệm về kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa ở giai đoạn phát triển cao, trở thành
hình thái kinh tế phổ biến, chi phối nền sản xuất xã hội, trong đó toàn bộ các yếu
tố “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trường. Nói cách khác,
KTTT là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, mà ở đó, các loại thị trường chi phối
mạnh mẽ và quyết định việc sản xuất hàng hóa; quan hệ hàng - tiền và các quy
luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh v.v…là những quy luật kinh tế
cơ bản quy định quá trình vận động và phát triển của nền KTTT.
Kinh tế th ị trường là một trong nh ững sáng t ạo cơ bản của xã hội loài
người, vì nó là phương tiện để tổ chức những mối liên hệ của đời sống kinh tế
- xã hội một cách có hi ệu quả nhất. Ngày nay, không ai ph ủ nhận vai trò đặc
biệt quan trọng của KTTT đối với sự phát triển xã hội, không ai ph ủ nhận sự
tồn tại khách quan c ủa KTTT trong nhi ều chế độ xã hội khác nhau, Đảng ta
đã khẳng định: “Sản xuất hàng hóa không đối lập với CNXH, mà là thành tựu
phát triển của nền văn minh nhân lo ại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công
cuộc xây dựng CNXH và cả khi CNXH đã được xây dựng”[29, tr.97].
Kinh tế thị trường có những đặc trưng phổ biến như sau:
Thứ nhất, tôn tr ọng tính độc lập trong sản xuất, kinh doanh c ủa các ch ủ
thể kinh tế.
Trong điều kiện KTTT, người sản xuất được tự do sản xuất, có quyền lựa
chọn cơ cấu sản ph ẩm và tiêu th ụ sản ph ẩm làm sao cho có hi ệu qu ả nh ất.
25
Điều quan tr ọng là họ có quy ền sở hữu về tài sản và khai thác, s ử dụng các
nguồn lực sản xuất một cách hợp lý nhằm đẩy mạnh sản xuất, tạo ra nhiều sản
phẩm hàng hóa; họ sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai là do
họ quyết định một cách t ự giác, không có s ự áp đặt, ép bu ộc từ bên ngoài.
Trong KTTT, ng ười tiêu dùng có quy ền mua sản phẩm gì, số lượng, và ch ất
lượng như thế nào, theo giá c ả của thị trường và phù hợp với khả năng thanh
toán của mình.
Thừa nhận tính độc lập tự chủ của các ch ủ thể kinh tế có ý ngh ĩa quan
trọng, một mặt đề cao vai trò và quyền hạn của các chủ thể kinh tế, mặt khác,
đề cao trách nhi ệm của họ trong vi ệc tổ chức sản xuất kinh doanh, l ời ăn, lỗ
chịu. Đặc trưng đó nằm trong bản chất của KTTT.
Thứ hai, kinh tế thị trường chịu tác động của các quy lu ật kinh tế, hoạt
động sản xuất kinh doanh phải theo yêu cầu của thị trường.
Nói đến KTTT, tr ước hết phải nói đến quy luật cung - c ầu. Đây là quy
luật chi ph ối sự vận động, phát tri ển của KTTT. Theo quy lu ật này, thì vi ệc
sản xuất, kinh doanh phải xuất phát từ thị trường. Cầu về hàng hóa, dịch vụ có
xu hướng ngày càng phong phú, đa dạng với chất lượng ngày càng cao, càng
đòi hỏi người sản xuất kinh doanh ph ải không ngừng đổi mới, sáng tạo nhằm
tạo ra các s ản ph ẩm hàng hóa, d ịch vụ mới, ch ất lượng cao và giá c ả ngày
càng hạ. Các nhà sản xuất kinh doanh luôn phải đẩy mạnh phân công lao động
xã hội, không ng ừng đổi mới công ngh ệ và nâng cao trình độ của người lao
động, đồng thời hoàn thiện tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, qua đó, thúc
đẩy sản xuất phát triển. Quy luật giá trị cũng là quy luật chi phối sự vận động,
phát triển của KTTT. Theo quy lu ật này, vi ệc sản xuất và trao đổi hàng hóa
phải dựa trên giá tr ị hàng hóa, t ức là lao động xã hội cần thiết của người sản
xuất hàng hóa k ết tinh trong hàng hóa. Quy lu ật này đòi hỏi người sản xuất,
kinh doanh muốn thu được nhiều lợi nhuận phải nâng cao năng suất lao động
để làm cho giá trị cá biệt thấp hơn giá trị trung bình của xã hội. Như vậy, quy
luật giá tr ị cũng góp ph ần quan tr ọng thúc đẩy ng ười sản xu ất kinh doanh
26
thường xuyên đổi mới công ngh ệ, nâng cao n ăng lực quản lý nh ằm thúc đẩy
sản xuất phát triển. Quy luật cạnh tranh, vì mục đích lợi nhuận, những người
sản xuất kinh doanh không ng ừng cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Kết quả
là xã hội được lợi do cạnh tranh. Thông qua cạnh tranh trên thị trường để tìm
ra những sản phẩm tối ưu, cũng tức là tạo ra sự tiết kiệm cho xã hội. Dĩ nhiên,
cạnh tranh không tránh khỏi những tổn thất cục bộ, nhất thời cho nền kinh tế,
đặc biệt là sự cạnh tranh không lành mạnh, nhưng tác dụng tích cực của cạnh
tranh là chủ yếu và lâu dài.
Thứ ba, kinh tế thị trường tồn tại đa dạng các thành ph ần kinh tế, có sự
điều tiết của nhà nước ở những mức độ khác nhau.
Kinh tế thị trường ra đời trên cơ sở lực lượng sản xuất phát triển nên có
nhiều hình thức sở hữu và các thành ph ần kinh tế khác nhau nh ư: thành phần
kinh tế nhà n ước, kinh tế tư bản tư nhân, kinh t ế tập th ể, kinh t ế cá th ể…,
những thành phần kinh tế này vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với nhau, thực hiện
sự phân công lao động xã hội.
Trong nền KTTT, s ự qu ản lý c ủa nhà n ước nh ằm đảm bảo cho th ị
trường vận động một cách ổn định, hạn chế tính tự phát, tiêu c ực như: lãng
phí trong huy động và s ử dụng các ngu ồn lực tài nguyên, đất đai, sức lao
động, vốn, cơ sở vật chất và k ỹ thuật; suy thoái, kh ủng hoảng, xung đột xã
hội, bất công, th ất nghi ệp,…tất nhiên, hi ệu qu ả của vi ệc hạn ch ế trên tùy
thuộc vào điều ki ện chính tr ị - xã h ội của từng nước. Nhà n ước th ực hi ện
điều tiết vĩ mô nhằm vào sự quản lý tổng thể nền kinh tế để định hướng các
chủ th ể kinh t ế vận động theo h ướng đáp ứng nhu c ầu và l ợi ích c ủa toàn
bộ nền kinh t ế, có tính đến lợi ích c ủa các ch ủ thể kinh t ế. Sự điều ti ết vĩ
mô của Nhà n ước không ph ải bằng vi ệc áp đặt mệnh lệnh hành chính t ừ
trên xu ống hay t ừ bên ngoài đối với các ch ủ thể kinh t ế, mà ch ủ yếu thông
qua cơ ch ế kinh t ế, chính sách kinh t ế, hệ th ống pháp lu ật; kết hợp kế
hoạch và th ị tr ường để qu ản lý kinh t ế, trong đó th ị tr ường là c ơ sở, kế
hoạch nhằm định hướng phát triển.
27
Thứ tư, KTTT đòi hỏi sự đồng bộ các yếu tố thị trường.
Để đáp ứng yêu cầu sản xuất và tiêu dùng c ần có các th ị trường đồng bộ
bao gồm thị trường hàng hóa, thị trường đất đai, thị trường lao động, thị trường
vốn, thị trường khoa học - công nghệ,…KTTT đòi hòi các thị trường phải đảm
bảo tính thống nhất, thông suốt trong phạm vi cả nước, không bị chia cắt cục bộ,
địa phương, ngành; gắn thị trường trong nước với thị trường quốc tế.
Thứ năm, KTTT là một nền kinh tế mở
Đó là n ền kinh tế không ng ừng phát tri ển, tham gia vào quá trình phân
công lao động xã hội không chỉ trong nước mà còn qu ốc tế. KTTT càng phát
triển, càng đặt ra nhu c ầu và điều kiện hội nhập, khu vực hóa, toàn c ầu hóa
nền kinh t ế thế giới, đây vừa là c ơ hội, vừa là th ử thách to l ớn đối với mỗi
quốc gia, và từng doanh nghiệp.
Thứ sáu, KTTT mang bản chất hai mặt.
Một mặt, tạo ra nh ững điều ki ện để th ực hi ện CBXH, thúc đẩy cạnh
tranh, giải phóng các n ăng lực sản xuất..., mặt khác c ũng gây ra nh ững bất
công bằng trong xã h ội, đẩy nhanh tình tr ạng phân hóa giàu, nghèo, làm n ảy
sinh những tiêu cực, tệ nạn xã hội khó kiểm soát v.v..
2.1.1.2. Quan niệm về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trên cơ sở lý lu ận ch ủ ngh ĩa Mác - Lênin, vì m ột nước Vi ệt Nam dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Đảng ta đã đề ra chủ trương,
đường lối xây dựng nền KTTT định hướng XHCN và đạt được những thành
tựu to lớn. KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ
theo các quy luật của KTTT, đồng thời đảm bảo định hướng XHCN, phù hợp
với từng giai đoạn phát tri ển của đất nước. Đó là nền KTTT hi ện đại và hội
nhập quốc tế, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã h ội công b ằng, dân ch ủ, văn minh. Nh ư vậy KTTT là
phương thức tổ chức kinh tế - xã hội vừa dựa trên những quy luật và nguyên
tắc chung c ủa KTTT, v ừa dựa trên nh ững nguyên t ắc và b ản ch ất XHCN.
28
KTTT định hướng XHCN có hai nhóm nhân t ố cơ bản cùng tồn tại, kết hợp
và bổ sung cho nhau. Đó là nhóm nhân tố của KTTT và nhóm nhân tố của xu
hướng mới đang vận động, phát tri ển theo định hướng XHCN. Trong đó,
nhóm thứ nhất đóng vai trò là “ động lực” thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển
nhanh, hiệu quả; nhóm th ứ hai đóng vai trò “h ướng dẫn”, “chế định” sự vận
động của nền KTTT theo nh ững mục tiêu đã xác định, bổ sung nh ững mặt
tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của KTTT, hoàn thiện mô hình CNXH.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, lịch sử phát triển của xã hội
loài người là quá trình di ễn ra sự thay thế nhau của các hình thái kinh t ế - xã
hội từ th ấp đến cao, t ừ xã h ội cộng sản nguyên th ủy tới các xã h ội nô l ệ,
phong ki ến, tư bản ch ủ ngh ĩa và nh ất định sẽ đi lên CNXH. CNXH là m ột
hình thái kinh t ế - xã h ội phát tri ển cao hơn chủ nghĩa tư bản, trên cơ sở kế
thừa những thành tựu của nhân lo ại đã sáng t ạo ra và đồng th ời kh ắc phục
được những mâu thuẫn, hạn chế của chủ nghĩa tư bản, trong đó, mâu thuẫn cơ
bản nhất là mâu thu ẫn giữa trình độ xã hội hóa cao c ủa nền sản xuất xã hội
với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, chính mâu
thuẫn này đã làm cho s ự phát tri ển của nền sản xu ất xã h ội bị gi ới hạn bởi
mục đích ch ật hẹp là đem lại lợi nhu ận tối đa cho các nhà t ư bản, đó là
nguyên nhân dẫn tới những xung đột xã hội ngày càng sâu sắc.
Định hướng XHCN đối với nền KTTT ở nước ta là m ột tất yếu khách
quan trong th ời kỳ quá độ nhằm cải biến mọi mặt đời sống kinh tế - xã h ội,
tạo dựng những tiền đề vật chất và tinh th ần cho CNXH. Ở một nước kinh tế
chưa phát tri ển, thực hiện nhiệm vụ xây dựng CNXH, bỏ qua ch ế độ TBCN,
đòi hỏi phải có một quá trình phát tri ển lâu dài. Riêng trong l ĩnh vực kinh tế,
không th ể có ngay n ền kinh t ế XHCN, mà c ần ph ải xây d ựng và phát tri ển
nền kinh t ế theo định hướng XHCN. Trong n ền kinh t ế này, cùng v ới vi ệc
phát tri ển lực lượng sản xu ất, đẩy mạnh tăng tr ưởng kinh t ế để từng bước
thoát ra khỏi tình trạng kém phát tri ển, trở thành một nước phát triển thì phải
29
từng bước tạo ra nh ững nhân t ố, giá tr ị XHCN trong quan h ệ sản xu ất, để
những yếu tố XHCN ngày càng l ớn, trở thành bộ phận chi phối, chỉ đạo định
hướng phát triển của cả nền kinh tế.
Kinh tế th ị tr ường định hướng XHCN là m ột hình th ức đặc thù c ủa
KTTT. Định hướng XHCN là tính ch ất của KTTT ở nước ta, ph ản ánh tính
định hướng chính tr ị của KTTT ở Việt Nam trong th ời đại ngày nay. Trong
nền kinh tế đó, các thế mạnh của “ thị trường” được sử dụng để tạo nên cơ sở
vật ch ất kỹ thu ật của CNXH, nâng cao đời sống nhân dân, còn tính “ định
hướng xã hội chủ nghĩa” được thể hiện trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất:
sở hữu, tổ chức quản lý và phân ph ối, nhằm mục đích cuối cùng là dân giàu,
nước mạnh, tiên ti ến hiện đại trong xã h ội; do dân làm ch ủ, nhân ái, có v ăn
hóa, có k ỷ cương, xóa b ỏ áp b ức bất công, t ạo điều kiện cho mọi người có
cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. KTTT định hướng XHCN, do vậy, mang
những đặc trưng cơ bản như sau:
Một là , mục đích của nền KTTT định hướng XHCN là phát tri ển lực
lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới XHCN,
thực hi ện mục tiêu “dân giàu, n ước mạnh, dân ch ủ, công b ằng, văn minh”.
Chính mục tiêu này quy định ph ương ti ện, động lực của KTTT định hướng
XHCN. Con đường đạt tới mục tiêu này là sử dụng KTTT, mở cửa, hội nhập,
đẩy mạnh CNH, HĐH để phát triển nhanh và bền vững.
Hai là, KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế đa dạng các hình thức sở
hữu, nh ưng sở hữu Nhà n ước là ch ủ đạo; nhi ều thành ph ần kinh t ế, nh ưng
kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể là nền tảng của nền kinh tế.
Ba là, nền kinh tế có sự quản lý của Nhà nước XHCN. Trong điều kiện
KTTT định hướng XHCN, tự do cạnh tranh là cơ chế chủ yếu vận hành kinh
tế, nhằm đảm bảo phân bổ hợp lý các nguồn lực và các lợi ích, kích thích phát
triển tiềm năng kinh doanh, t ăng hiệu quả và tăng năng suất lao động xã hội.
Tuy nhiên, điều đó không th ể ph ủ nh ận vai trò c ủa Nhà n ước XHCN trong
30
việc quản lý, hiệu chỉnh những sai lệch và thất bại của cơ chế thị trường. Nhà
nước XHCN tổ chức và qu ản lý nền KTTT thông qua pháp lu ật, chiến lược,
kế hoạch, chính sách, đồng thời sử dụng cơ chế thị trường để kích thích s ản
xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy tính tích c ực và hạn chế những mặt
tiêu cực, những khuyết tật của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân
lao động và toàn th ể nhân dân. Đảm bảo vửa phát tri ển kinh tế, phát tri ển xã
hội và bảo vệ môi trường.
Bốn là, tăng tr ưởng kinh t ế đi đôi với th ực hi ện ti ến bộ, CBXH, phát
triển văn hóa, y t ế, giáo dục và bảo vệ môi tr ường; giải quyết tốt các vấn đề
xã hội vì mục tiêu phát triển con người.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN được xây dựng và hoàn thiện vì mục
tiêu xã hội nhân văn, càng đi sâu vào KTTT, phúc lợi xã hội càng được chăm lo
tốt hơn; mục tiêu giải quyết việc làm, phát triển giáo dục, văn hóa, chăm sóc sức
khỏe nhân dân càng được đề cao hơn; các nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực xã hội
được phát huy; xóa đói, giảm nghèo được đẩy mạnh. Thể chế KTTT định hướng
XHCN phải khuyến khích, tạo điều kiện để mọi người dân làm giàu chính đáng,
đồng thời giúp đỡ người khác thoát nghèo, mọi người cùng khá giả. KTTT định
hướng XHCN đảm bảo thực hiện các chính sách ưu đãi xã hội đối với những
người có công với nước; bảo đảm an toàn cho cuộc sống của mọi thành viên trong
cộng đồng, hỗ trợ những vùng, người bị thiên tai, hoặc gặp khó khăn cơ nhỡ.
Năm là, là n ền kinh tế thực hi ện đa dạng hóa các hình th ức phân ph ối:
phân phối theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế là chủ yếu; phân phối theo
mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân ph ối thông qua phúc lợi
xã hội, an sinh xã h ội. Cơ chế phân phối này vừa tạo động lực kích thích các
chủ thể kinh tế nâng cao hi ệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời
hạn ch ế những bất công xã h ội. Vi ệc phân bổ các ngu ồn lực vừa được ti ến
hành theo hướng vừa nâng cao hi ệu quả, vừa giúp thu h ẹp khoảng cách gi ữa
các địa phương. Phát triển kinh tế gắn với tiến bộ và CBXH trong t ừng bước
đi, từng chính sách phát triển.
31
2.1.2. Quan niệm về công bằng xã hội
2.1.2.1. Quan niệm ngoài mác xít về công bằng xã hội
Trong xã hội phương Đông truyền thống, CBXH được nhìn nhận chủ yếu
trên ph ương di ện đạo đức, văn hóa, tôn giáo, đây cũng là nét đặc thù trong
phương th ức tư duy và quan ni ệm giá tr ị của ng ười ph ương Đông. CBXH
chưa được hình thành một cách có hệ thống và độc lập, do vậy, chưa thực sự
trở thành công cụ lý luận để cải tạo chế độ xã hội đương thời.
Khổng Tử (551 – 479 TCN), M ặc Tử (480 – 420 TCN), nh ững nhà t ư
tưởng tiêu biểu của Trung Quốc cổ đại, quan niệm xã hội công bằng là xã hội
an bình thái hòa, v ới một nhà n ước lý tưởng, “vua sáng tôi hi ền”, không có
tranh giành, bóc l ột, vui vẻ, hòa thu ận, cùng yêu th ương nhau trên tinh th ần
“kiêm ái”. Tuy nhiên, do đứng trên lập trường của giai cấp thống trị, Khổng
Tử và M ặc Tử đều th ừa nh ận sự phân chia giai, t ầng xã h ội nh ư là một tất
yếu, trong đó, mỗi ng ười có nh ững bổn ph ận và quy ền lợi riêng, vi ệc th ực
hiện đúng bổn phận, trách nhi ệm và th ụ hưởng lợi ích tương xứng với vị trí
của giai tầng xã hội sẽ tạo nên một xã hội công bằng.
Ở các nước phương Tây, Platôn (427 - 347 TCN), nhà t ư tưởng kiệt xuất
Hy Lạp cho rằng, không thể có sự bình đẳng giữa các cá nhân trong xã hội, bởi
vì con người vốn sinh ra là khác nhau. Trong hai tác ph ẩm Nhà nước và Lu ật
lệ, ông cho r ằng “Sự bình đẳng giữa những người không bình đẳng là tệ xấu
của mọi nền dân chủ”[146, tr55]. Platôn cho rằng, công bằng không phải là sự
tương xứng trong quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ mà là sự phân định về
đẳng cấp, theo đó, công bằng là công bằng giữa những người ở trong cùng một
đẳng cấp chứ không phải giữa những người ở các đẳng cấp khác nhau.
Cùng quan ni ệm với Platôn, Arixt ốt (384 - 322 TCN), nhà tri ết học Hy
Lạp cổ đại cũng thừa nhận sự phân chia địa vị xã hội là lẽ tự nhiên; công bằng
là sự đối xử ngang nhau gi ữa những người có cùng địa vị xã hội. Điều đáng
lưu ý là, Arixtốt cho rằng, sự không công bằng giữa những người có địa vị và
32
đẳng cấp khác nhau c ũng chính là công b ằng, và nh ư vậy, cũng gi ống nh ư
Platôn, xuất phát từ lập trường của giai cấp chủ nô, quan điểm của Arixtốt về
CBXH vẫn thể hiện rõ tính đẳng cấp và ảo tưởng.
Trong xã h ội phong ki ến trung đại, dưới sự th ống tr ị của nhà th ờ Kitô
giáo, các nhà tư tưởng phương Tây không đưa ra một quan niệm đáng kể nào
về CBXH, khát vọng CBXH được thể hiện chủ yếu thông qua các cu ộc khởi
nghĩa, đấu tranh đơn lẻ, khoác áo tôn giáo, như nhận xét của Ăng ghen: “Điều
đó lý giải vì sao chế độ phong kiến lại có nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại địa
chủ, lãnh chúa để đòi CBXH” [66, tr243].
Bước vào thời kỳ cận đại, cùng với sự ra đời của CNTB, CBXH được khơi
dậy nhờ sự “phục hưng” những giá trị truyền thống tốt đẹp thời cổ đại, đồng thời
tạo ra những bước tiến mới trong nhận thức của nhân loại về CBXH.
J.J.Rút - xô (1772 - 1778), nhà tri ết học khai sáng v ĩ đại người Pháp, đã
tập trung phê phán quan h ệ đẳng cấp, bất bình đẳng trong xã h ội tư bản. Để
xóa bỏ được tình trạng đó, con người phải thiết lập “khế ước xã hội” nhằm cải
biến chính mình, lo ại bỏ tính xấu xa, đặc biệt là lòng tham và tính ích k ỷ thì
sẽ đạt được công bằng và bình đẳng. Ở đây, J.J.Rútxô đã chú ý đến sự CBXH
trong lĩnh vực kinh tế, nhưng giải pháp để thực hiện CBXH lại dựa trên quan
điểm duy tâm về xã hội, đó là những giải pháp dựa trên những thỏa thuận có
tính chủ quan của con ng ười mà không c ăn cứ vào nh ững điều kiện vật chất
khách quan của đời sống xã hội.
Các nhà ch ủ ngh ĩa xã h ội không t ưởng nh ư Xanh Xi Mông (1760 -
1825), S.Phuriê (1772 - 1837), R. Ôoen (1771 - 1858) c ũng đã thể hiện khát
vọng về một xã hội lý tưởng và công b ằng. Trong xã h ội đó, mọi người đều
được lao động và h ưởng th ụ nh ư nhau, không có đặc quy ền, đặc lợi. Tuy
nhiên, xã hội công bằng do các ông xây d ựng ngay từ đầu đã mang tính ch ất
không tưởng, đó là xã h ội theo ch ủ ngh ĩa bình quân, không ph ải được th ực
hiện bằng những cải tạo xã hội tích cực của những người lao động.
33
Ngày nay, những thăng trầm về kinh tế - xã hội đã giúp cho CNTB có được
những bài học kinh nghiệm trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội theo hướng
công bằng hơn, nhờ vậy, trong một chừng mực nhất định đã làm “dịu đi” những
mâu thuẫn gay gắt trong lòng xã hội tư bản. Chính giai cấp tư sản cũng ý thức
được rằng, những áp lực ngày càng tăng về CBXH nếu không được xoa dịu, có
thể làm tổn hại đến thể chế chính trị của nó. Tuy nhiên, với bản chất thống trị,
bóc lột, CNTB không th ể giải quyết triệt để vấn đề CBXH. Hi ện nay, CNTB
đang phải đối mặt với nhiều thử thách gay gắt về CBXH, nhất là khi vấn đề này
được xem xét trong điều kiện tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao. Trong
bối cảnh đó, xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng và lý thuyết về CBXH.
J.Rawls (1921 - 2002), giáo s ư triết học thu ộc Đại học Harvard - M ỹ,
trong tác ph ẩm “Lý thuy ết về công bằng” cho r ằng, xã h ội công bằng là xã
hội mà ở đó các thành viên được hưởng một cách bình đẳng nh ững quy ền
con ng ười, đó là nh ững quy ền tự do c ơ bản đã được hợp th ức hóa. Ông
thừa nhận sự bất công trong nh ững giới hạn nhất định về kinh t ế - xã hội và
cho rằng, nh ững bất công đó ph ải được tổ chức sao cho m ọi ng ười có th ể
chấp nhận được và chúng được gắn với những vị trí và ch ức năng được mở
ra cho t ất cả mọi người. Ông đã đưa ra nguyên t ắc “tối đa hóa cái t ối thiểu”
(nguyên t ắc maximin) cho nh ững ng ười bị thi ệt thòi, y ếu th ế trong xã h ội,
xem đó như là lý t ưởng xã h ội công b ằng và con đường ti ến lên xã h ội đó
bằng đạo đức.
Max Weber (1864 - 1920), nhà tri ết học Đức lý giải nguyên nhân của sự
bất bình đẳng xã hội là sự khác biệt về khả năng thị trường. Ông cho rằng đối
với những cá nhân khác nhau thì sự hiểu biết, kỹ năng nghề nghiệp, cũng như cơ
may, vận hội chiếm lĩnh thị trường là khác nhau, và chính s ự khác bi ệt đó tạo
nên những vị thế khác nhau của các cá nhân và tập đoàn người trong xã hội. Học
thuyết này có những đóng góp lớn trong nhận thức về cơ cấu xã hội và phân tầng
xã hội, tuy nhiên, chưa làm rõ được bản chất của sự bất công trong CNTB.
34
Nhìn lại lịch sử tư tưởng nhân loại từ thời kỳ cổ đại cho tới thời kỳ hiện
đại, chúng ta th ấy rằng, vấn đề CBXH luôn là v ấn đề “nóng” được quan tâm
nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. M ặc dù có nh ững thành công nh ất
định, nhưng do hạn chế bởi lập trường giai cấp cũng như yếu tố thời đại, các
nhà tư tưởng mới chỉ dừng lại ở việc khái quát dưới dạng lý tưởng về CBXH,
nhiều quan ni ệm còn mang tính ch ất phiến diện, chủ quan, ch ưa chỉ rõ được
vai trò, bản chất giai cấp của CBXH; chưa nêu lên được những phương thức,
điều kiện và lực lượng để thực hiện CBXH. Nhi ều tác gi ả đã gắn CBXH với
việc biện minh cho tình tr ạng đẳng cấp trong xã h ội ho ặc quá trình th ực thi
quyền lực của giai cấp thống trị v.v..
2.1.2.2. Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội
C.Mác, Ph. Ăngghen và V.I.Lênin là nh ững ng ười đấu tranh không m ệt
mỏi vì lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, vì sự công bằng và tiến bộ của xã hội loài
người, với bản chất khoa học và cách mạng, chủ nghĩa Mác - Lênin đã tạo ra
một bước ngoặt quan tr ọng trong sự phát tri ển tư tưởng nhân lo ại nói chung
và tư tưởng về CBXH nói riêng. Trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng,
kết hợp với việc kế thừa có ch ọn lọc những tư tưởng tiến bộ của các nhà lý
luận trước đó, vấn đề CBXH đã được quan ni ệm một cách đúng đắn về thực
chất, vai trò cũng như các giải pháp thực hiện nó trong đời sống xã hội.
Trước hết, chủ nghĩa Mác - Lênin coi CBXH là ph ạm trù có tính lịch sử,
CBXH không phải là hình ảnh của tôn giáo, của những lực lượng tự nhiên mà
chính là s ản ph ẩm của đời sống xã h ội, là quan h ệ giữa con ng ười với con
người hình thành trong quá trình ho ạt động sinh s ống. CBXH thay đổi tùy
theo những điều kiện lịch sử khác nhau.Vì th ế sẽ không có quan ni ệm đúng
đắn về CBXH nếu không gắn nó với lợi ích giai cấp, tầng lớp xã hội nhất định
cùng với những điều kiện vật chất sinh ra nó; đồng thời, với tính chất lịch sử
cụ thể, không th ể có quan ni ệm chung về CBXH cho m ọi thời đại, mọi dân
tộc, mọi giai cấp như một “chân lý vĩnh cửu” (chữ của Ăngghen).
35
Khi phân tích CNTB, C.Mác ch ỉ ra chế độ sở hữu tư nhân tư bản là cơ
sở khách quan của tình trạng bất công trong xã h ội, bởi vì chế độ sở hữu đó
đã quy định chế độ phân phối bất hợp lý trong CNTB, đó là phân phối không
dựa vào sức lao động mà căn cứ chủ yếu vào l ượng tài sản, vốn sở hữu. Và
kết quả của phương thức phân phối này là nhà t ư bản ngày càng giàu có trên
sự đau khổ và nghèo đói của những người công nhân và nhân dân lao động.
Theo Mác, d ưới dế độ XHCN, giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, khi tư
liệu sản xu ất được công h ữu hóa, công b ằng gắn li ền với nguyên t ắc phân
phối theo lao động. Tiêu chu ẩn chủ yếu quyết định phẩm giá, địa vị xã hội,
quyền hưởng dụng các phúc l ợi xã h ội của mỗi ng ười sẽ tương đương với
hoạt động có ích c ủa người đó cho xã h ội. Trong xã h ội, sau khi kh ấu trừ đi
những khoản cần thiết để duy trì s ản xuất, tái s ản xuất cũng như duy trì đời
sống cộng đồng, toàn b ộ sản ph ẩm xã h ội còn l ại sẽ được phân ph ối theo
nguyên tắc: mỗi người sản xuất sẽ được nhận trở lại từ xã hội một số lượng
sản ph ẩm tiêu dùng tr ị giá ngang v ới số lượng lao động mà ng ười đó cung
cấp cho xã hội.
Tuy nhiên, nguyên t ắc phân ph ối theo lao động cũng ch ỉ là công b ằng
trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, chứ chưa phải là công bằng thực
sự. Sự bất bình đẳng ở mức độ nhất định vẫn còn tồn tại, đó là thi ếu sót của
nguyên tắc phân phối theo lao động - một thiếu sót không thể tránh khỏi trong
giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa. Mác cho r ằng, công bằng thực
sự chỉ có th ể có được khi xã h ội bước vào giai đoạn phát tri ển cao, khi con
người không còn ph ụ thuộc vào sự phân công theo lao động; lao động không
đơn thu ần là ph ương tiện sinh s ống mà là nhu c ầu ho ạt động và phát tri ển.
Một xã h ội nh ư vậy có th ể có được dần dần trong t ương lai xa, đó là “giai
đoạn cao h ơn của xã h ội cộng sản”. Công b ằng xã h ội chính là m ột giá tr ị
định hướng và nó s ẽ được thực hiện từng bước trong quá trình phát tri ển để
tiến tới xã hội có sự công bằng và bình đẳng hoàn toàn.
36
2.1.2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội
Vượt lên nh ững nhà yêu n ước tiền bối và đồng thời đứng vững trên lập
trường Macxit, Hồ Chí Minh đã chỉ ra nguyên nhân sâu xa c ủa tình tr ạng bất
công và phi nhân tính trong xã hội thực dân đó là sự tồn tại của chế độ tư hữu “vì
một số ít ng ười đã chiếm làm tư hữu những tư liệu sản xuất của xã hội”[73, tr
203]. và dùng nó để chiếm đoạt lao động của người khác. Do vậy, để có cu ộc
sống hòa bình, hạnh phúc cho nhân dân, đòi hỏi phải giành độc lập tự do và xây
dựng xã hội mới XHCN. Người cho rằng, trong CNXH, CBXH là một đặc trưng
cơ bản, là mục tiêu và động lực của sự nghiệp xây dựng CNXH và xây d ựng
CNXH là phương thức và điều kiện tất yếu để thực hiện CBXH. “Chỉ có CNCS
mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn
gốc tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên qu ả đất, việc làm cho mọi
người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình và hạnh phúc” [72, tr 461].
Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, CBXH là việc giải quyết quan hệ phù
hợp gi ữa quy ền lợi và ngh ĩa vụ, gi ữa cống hi ến và h ưởng th ụ. Nguyên t ắc
phân ph ối th ực hi ện CBXH chính là nguyên t ắc phân ph ối theo lao động.
Người nh ấn mạnh: “Phân ph ối phải theo mức lao động. Lao động nhiều thì
phân ph ối nhi ều, lao động ít thì phân ph ối ít. Lao động khó thì được phân
phối nhiều, lao động dễ thì được phân ph ối ít” [76, tr185]. Nguyên t ắc phân
phối này là điều kiện để đảm bảo cho mọi người có thể phát huy mọi năng lực
cống hiến cho xã hội và trước tiên là cho bản thân và mỗi gia đình.
Đề cao CBXH, nh ưng Hồ Chí Minh c ũng luôn phê phán t ư tưởng cào
bằng, bình quân chủ nghĩa, theo Người, bình quân chủ nghĩa sẽ triệt tiêu động
lực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, trái với bản chất của CNXH: “Không
nên có tình tr ạng người giỏi, người kém, vi ệc khó, vi ệc dễ cũng công điểm
như nhau, đó là chủ nghĩa bình quân, phải tránh chủ nghĩa bình quân” [74, tr 66].
Một trong những đặc trưng nổi bật trong phong cách và ph ương pháp tư
duy Hồ Chí Minh là độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn gắn với tình hình l ịch sử
37
cụ thể của dân tộc. Ở Việt Nam, do hoàn cảnh đặc thù, phải trải qua các cuộc
chiến tranh kéo dài, trong công cu ộc kháng chi ến bảo vệ Tổ qu ốc, nhi ều
người có nh ững đóng góp to l ớn, thậm chí bằng sự hy sinh x ương máu của
mình. Vì vậy, các đối tượng này, theo Người cần phải có sự quan tâm đặc biệt
để họ có th ể ổn định cuộc sống và hòa nh ập cộng đồng. Trong tác ph ẩm “Di
chúc”, Người đã căn dặn, sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất
đất nước: “Đối với những người dũng cảm hy sinh một phần xương máu của
mình,…Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm cách lo cho họ có nơi ăn, chốn
ở yên ổn,…Đối với cha, mẹ, vợ con (của thương binh, liệt sĩ) mà thiếu sức lao
động và túng thi ếu, thì chính quyền địa phương phải giúp đỡ họ có công vi ệc
làm ăn thích hợp, quyết không để họ đói rét” [76, tr 503].
Hồ Chí Minh còn quan tâm tới các tập đoàn, lực lượng, các giai cấp xã hội,
gắn với những đặc điểm cụ thể, theo Người cũng phải được đối xử công bằng,
phải luôn có nh ững chính sách xã hội phù hợp để động viên, khuyến khích họ
tích cực tham gia vào sự nghiệp phát triển của đất nước: “Trong bao năm kháng
chiến chống thực dân Pháp, ti ến đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nh ất là
đồng bào nông dân đã luôn trung thành v ới Đảng, và Chính ph ủ, ra sức góp
người, góp của, vui lòng ch ịu đựng mọi khó kh ăn, gian kh ổ. Nay ta đã hoàn
thành thắng lợi, tôi có đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các hợp tác xã
nông nghiệp để cho đồng bào thêm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất” [76, tr 504].
Theo Hồ Chí Minh, CBXH đòi hỏi phải giảm dần sự cách bi ệt giữa các
vùng, miền trong ph ạm vi cả nước. Phải chú ý xem xét khi phân ph ối nguồn
lực đầu tư cho các vùng sâu, vùng xa, vùng c ăn cứ cách mạng, làm giảm bớt
sự mất cân đối giữa vùng phát tri ển và ch ậm phát tri ển, rút bớt khoảng cách
về mức sống và lối sống trong các tầng lớp nhân dân, làm cho mi ền núi từng
bước tiến kịp miền xuôi.
Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh v ề CBXH mang n ội dung toàn di ện,
phù hợp với tâm nguyện dân tộc và điều kiện thực tế của Việt Nam, vừa sâu
38
sắc trong cốt lõi khoa h ọc, vừa giản dị, hàm súc. CBXH g ắn bó hữu cơ với
nhiệm vụ giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH, vì mục tiêu giải phóng dân
tộc và giải phóng con người. CBXH trong tư tưởng Hồ Chí Minh mang giá trị
khoa học và nhân b ản sâu sắc, luôn có ý ngh ĩa lý luận và th ực tiễn, là cơ sở,
kim ch ỉ nam cho ho ạt động cách mạng của toàn Đảng và toàn dân ta trong
công cuộc xây dựng xã hội mới.
2.1.2.4. Khái niệm công bằng xã hội
Hiện nay, khái ni ệm CBXH được đề cập hết sức phong phú, d ưới nhiều
góc độ tiếp cận khác nhau.
Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, CBXH được định nghĩa dưới góc độ
ý thức đạo đức, ý th ức pháp quy ền, chỉ điều chính đáng, tương ứng với bản
chất con ng ười và quy ền con ng ười. Khác với khái ni ệm thiện và ác dùng để
đánh giá những hiện tượng riêng rẽ, khái niệm công bằng nêu ra sự tương quan
giữa một số hiện tượng theo quan điểm phân phối phúc và họa, lợi và hại giữa
người với người. Công bằng đòi hỏi sự tương xứng giữa vai trò c ủa cá nhân
(những giai cấp) với địa vị của họ; giữa hành vi với sự đền bù (lao động và thù
lao, công và tội, thưởng và phạt); giữa quyền lợi và nghĩa vụ [50, tr.580].
Nhiều công trình khoa h ọc nghiên cứu về CBXH dưới góc độ triết học,
kinh tế học, chính trị học, luật học, v.v..theo đó, các tác giả coi CBXH không
phải là s ự ngang nhau gi ữa ng ười với ng ười về mọi ph ương di ện mà là s ự
thống nh ất gi ữa ngh ĩa vụ và quy ền lợi của con ng ười theo nguyên t ắc th ực
hiện ngh ĩa vụ (c ống hi ến) ngang nhau thì s ẽ được hưởng quyền lợi (h ưởng
thụ) ngang nhau [105, tr 33].
Tác giả Vũ Anh Tu ấn cho rằng “CBXH là khái ni ệm chỉ sự tương xứng
giữa vai trò, vị thế của các thành viên xã hội (cá nhân, giai cấp, nhóm xã hội),
giữa cái mà họ tạo ra cho xã hội và cái mà họ nhận lại từ xã hội như cống hiến
và hưởng thụ, lao động và sự trả công, quyền và ngh ĩa vụ, vi phạm pháp luật
và trách nhiệm pháp lý v.v..” [136, tr 25].
39
Tác giả Dương Xuân Ngọc xem xét CBXH với tính cách là một phạm trù
xã hội phản ánh sự phát triển của con người và tiến bộ xã hội “CBXH là một
phạm trù xã hội dùng để chỉ trình độ phát triển về phương diện xã hội của con
người (cá nhân và c ộng đồng), được thực hiện và thể hiện trên tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị và xã hội đến văn hóa, tinh thần,
mà tr ước hết là l ĩnh vực xã h ội. Nó ph ản ánh m ối quan h ệ về ngh ĩa vụ và
quyền lợi giữa xã hội và cá nhân, nhằm đảm bảo sự phát triển hài hòa của con
người, của xã hội phù hợp với xu thế tiến bộ xã hội” [86, tr 37].
Tác giả Lê Hữu Tầng đã xem xét CBXH trong tương quan với khái niệm
bình đẳng xã hội, cho rằng, CBXH là một dạng biểu hiện cụ thể của bình đẳng
xã hội và thực hiện CBXH chính là thực hiện một phần của bình đẳng xã hội,
là thực hiện bình đẳng trên một phương diện nhất định - phương diện quan hệ
giữa cống hiến và hưởng thụ [116, tr 39].
Dưới góc độ chính tr ị học, tác gi ả Võ Th ị Hoa cho r ằng, CBXH là m ột
phạm trù chính trị - xã hội phản ánh quan hệ giữa người với người, trong đó đảm
bảo sự tương xứng giữa phẩm chất và năng lực với cơ hội và điều kiện phát
triển, giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa cống hiến và hưởng thụ, v.v.. [44, tr29].
Khi đề cập đến vấn đề CBXH, một số tác giả hiện nay có nêu vấn đề công
bằng về cơ hội. Có quan điểm cho rằng công bằng về cơ hội là quyền của mọi
người được tiếp cận ngang nhau với một may mắn, thuận lợi nào đó để thực hiện
điều mình mong mu ốn. Theo cách hi ểu như vậy, công bằng về cơ hội ở đây
chính là bình đẳng về cơ hội, tức là bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội.
Từ những phân tích trên, c ăn cứ vào phương diện nghiên cứu, mục tiêu,
nhiệm vụ của luận án, tác gi ả cho rằng: CBXH là một phạm trù lịch sử, phản
ánh mối quan hệ giữa người với người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội, trong đó bảo đảm sự tương xứng giữa phẩm chất và năng lực với cơ
hội và điều ki ện phát tri ển, gi ữa ngh ĩa vụ và quy ền lợi, gi ữa cống hi ến và
hưởng thụ, phù hợp với khả năng hiện thực của xã hội. CBXH th ể hiện khát
vọng của con người và là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội.
40
Với quan niệm trên, CBXH có những đặc trưng cơ bản sau:
- Công bằng xã hội là m ột phạm trù l ịch sử: CBXH là s ản phẩm của
đời sống xã hội, nó ph ản ánh quan h ệ giữa người với người xung quanh v ấn
đề lợi ích. Vấn đề phân phối lợi ích trong mỗi chế độ xã hội luôn gắn với một
phương th ức sản xu ất nh ất định, ph ụ thu ộc vào trình độ phát tri ển của lực
lượng sản xuất, của phân công lao động xã hội, và quan trọng nhất là tính chất
của các quan hệ sản xuất trong phương thức sản xuất đó. Hơn nữa, không chỉ
chịu sự tác động bởi điều kiện kinh tế, quan ni ệm về CBXH còn ch ịu sự chi
phối của các hình thái ý thức xã hội như ý thức chính trị, đạo đức, văn hóa của
xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Do vậy CBXH luôn có tính lịch
sử. Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, CBXH được nhìn nh ận và gi ải quyết
khác nhau. Đánh giá v ề vấn đề này, Ăngghen vi ết: “Công b ằng của nh ững
người Hy Lạp và La Mã là sự công bằng của chế độ nô lệ. Công bằng của giai
cấp tư sản năm 1789 là nh ững đòi hỏi phải xóa bỏ chế độ phong ki ến mà nó
coi là bất công” [67, tr 327].
Không th ể có m ột quan ni ệm, một chu ẩn mực “b ất di, b ất dịch” về
CBXH chung cho m ọi qu ốc gia, m ọi th ời đại, cũng nh ư không th ể áp đặt
những chuẩn mực về CBXH vượt quá những cơ sở, điều kiện khách quan của
lịch sử cho phép.
- Về bản ch ất, CBXH được hi ểu là s ự tương xứng gi ữa ph ẩm ch ất và
năng lực với cơ hội và điều kiện phát tri ển, giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa
cống hiến và hưởng thụ.phù hợp với khả năng hiện thực của xã hội.
- Về nội dung, CBXH có nội dung phong phú, tuy nhiên có th ể khái quát
ở hai nội dung chính, đó là công bằng về cơ hội, điều kiện phát triển và công
bằng trong phân phối
Với nội dung th ứ nh ất, CBXH là công b ằng về cơ hội, điều ki ện phát
triển, hiện nay, còn có nhi ều ý ki ến khác nhau xung quanh v ấn đề này. Theo
chúng tôi, công bằng về cơ hội, điều kiện phát triển chính là việc tạo cho mọi
41
người ti ếp cận phù h ợp các c ơ hội, điều ki ện phát tri ển, thông qua đó, phát
huy mọi năng lực của mình, cống hiến tích cực, có hiệu quả; đồng thời, hưởng
thụ một cách tương xứng với kết quả của sự cống hiến đó. Trên th ực tế, sự
phân biệt về công bằng trong phân ph ối và công bằng về cơ hội và điều kiện
phát triển chỉ có ý nghĩa tương đối. Việc đảm bảo công bằng về cơ hội và điều
kiện phát tri ển cũng chính là hình th ức phân ph ối, ch ủ yếu dưới dạng phân
phối gián ti ếp, phân phối lại từ các qu ỹ, các ngu ồn lực xã hội để tạo cho các
cá nhân, nhóm xã h ội có điều kiện phát huy tối đa vai trò của mình đóng góp
cho xã hội và được hưởng thụ công bằng. Công bằng cơ hội, điều kiện phát
triển ở đây được xác định như là tiền đề để đảm bảo CBXH thực sự.
Nội dung thứ hai của CBXH là công bằng trong phân phối. Trong xã hội,
các hình th ức phân ph ối khác nhau s ẽ quyết định tính ch ất và mức độ th ực
hiện CBXH khác nhau, điều này phụ thuộc vào bản chất kinh tế, chính trị - xã
hội cũng như điều kiện, năng lực thực tế của các nước trong các giai đoạn lịch
sử khác nhau. D ưới CNXH, nh ư Mác đã ch ỉ ra, phân ph ối theo lao động là
đặc trưng bản chất và là hình th ức thể hiện tất yếu về mặt kinh tế của chế độ
công hữu về tư liệu sản xuất. Nếu xóa bỏ phân phối theo lao động thì chế độ
công hữu về tư liệu sản xuất sẽ không được thực hiện, quyền bình đẳng của
người lao động đối với tư liệu sản xuất sẽ trở thành vô nghĩa, CBXH sẽ không
được thực hiện.
Công bằng xã hội mang tính toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội…trên cơ sở đảm bảo sự tương xứng giữa việc tạo ra và phân
phối các lợi ích xã h ội. Phương diện kinh tế của CBXH được xem xét là s ự
tương xứng giữa cống hiến của cá nhân, nhóm xã h ội vào quá trình s ản xuất
với sự hưởng thụ những kết quả sản xuất, đây là phương diện cơ bản nhất của
CBXH. Phương diện chính trị, pháp quyền của CBXH liên quan và quy định
đến vấn đề dân chủ, tự do cá nhân, quyền con người, sự lãnh đạo của Đảng và
sự điều hành c ủa Nhà n ước. Ph ương di ện văn hóa - xã h ội của CBXH liên
42
quan và quy định vấn đề đạo đức, phong tục tập quán, phân t ầng xã hội, an
sinh xã hội; vấn đề cơ hội trong vi ệc sáng tạo và th ụ hưởng những thành tựu
văn hóa, nghệ thuật v.v..
- Công bằng xã hội là giá tr ị định hướng cho việc giải quyết mối quan hệ
giữa người với người theo nguyên tắc: Cống hiến về vật chất và tinh thần tương
xứng cho phát triển xã hội thì được hưởng tương xứng những giá trị vật chất và
tinh thần do xã hội tạo ra phù hợp với khả năng hiện thực của xã hội; CBXH là
khát vọng lớn lao của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh
thần, do vậy, CBXH vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội.
Khái niệm CBXH không tách r ời với khái niệm bình đẳng xã hội, do đó
cần phải nghiên cứu hai khái niệm này trong mối quan hệ với nhau.
Bình đẳng (egalite trong ti ếng Pháp và equality trong ti ếng Anh) là khái
niệm chỉ sự bằng nhau, ngang nhau giữa cá nhân hay các nhóm xã hội về một
hay một số phương diện nhất định, chẳng hạn ngang bằng giữa cá nhân hay
các nhóm xã hội về địa vị xã hội, về quyền và nghĩa vụ công dân v.v..Còn khi
nói tới CBXH là nói tới sự ngang bằng nhau giữa người với người không phải
về một phương diện bất kỳ, mà ch ỉ về một phương diện hoàn toàn xác định:
phương diện giữa cống hiến và hưởng thụ theo nguyên t ắc cống hiến ngang
nhau thì hưởng thụ ngang nhau [116, tr39].
Căn cứ vào vi ệc xác định hai khái ni ệm ở trên, CBXH th ường gắn với
lĩnh vực kinh tế - xã hội của đời sống xã hội, nó thể hiện sự tương xứng giữa
cống hiến và hưởng thụ, còn bình đẳng xã hội thường gắn với nhiều lĩnh vực
hơn và đặc bi ệt là nh ững lĩnh vực liên quan đến chính tr ị - xã h ội. CBXH
thường được xem xét là m ột dạng cụ th ể của bình đẳng xã h ội. Th ực hi ện
CBXH là th ực hi ện một ph ần nội dung c ủa bình đẳng xã h ội, là b ước ti ến
trong quá trình thực hiện bình đẳng xã hội hoàn toàn.
Giữa CBXH và bình đẳng xã h ội có nh ững nội dung không hoàn toàn
tách biệt nhau, vì thế thường dẫn tới nhầm lẫn giữa hai khái niệm này. Nhiều
43
khi nói sự công bằng nhưng thực ra, đó không phải là sự công bằng mà là sự
bình đẳng và ngược lại, không ít sự bất công được đề cập đến lại không phải
là sự bất công mà ch ỉ là sự bất bình đẳng.Theo chúng tôi, công b ằng và bình
đẳng là hai khái ni ệm giao nhau. Bình đẳng có khía c ạnh công bằng (như sự
bình đẳng về quy ền và ngh ĩa vụ công dân; bình đẳng trong h ưởng th ụ ở
những người có lao động, đóng góp ngang nhau), nh ưng cũng có khía c ạnh
không công b ằng nh ư sự phân ph ối bình quân. Bình quân là bình đẳng ở
trình độ sơ khai theo ki ểu cào bằng, nhưng hoàn toàn không công b ằng, bởi
vì những người có những đóng góp, cống hiến khác nhau lại được phân phối
như nhau. Bình quân ph ủ nhận chất lượng, số lượng và hi ệu quả công vi ệc
dẫn tới trì trệ, khủng hoảng xã hội.
Trong công bằng vừa có bình đẳng, vừa có bất bình đẳng, cái mà xã h ội
thừa nh ận là công b ằng thì không nh ất thi ết ph ải là s ự bình đẳng và s ự bất
bình đẳng không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với bất công. Hiện nay, trong
thời kỳ đổi mới, sự chênh lệch về thu nhập, sự phân hóa giàu nghèo gi ữa các
nhóm dân cư là nh ững biểu hiện của bất bình đẳng về thu nh ập. So sánh v ới
thời kỳ bao cấp trước đây, sự bình đẳng được thực hiện theo nguyên tắc phân
phối bình quân, thì nay đã được thay thế bằng sự bất bình đẳng, hay sự phân
tầng về mức sống, thu nh ập, nh ưng theo chúng tôi, đó là s ự công b ằng lớn
hơn, có ý nghĩa hơn. Tuy nhiên, nếu như bất bình đẳng về thu nhập ngày càng
lớn, vi phạm nguyên tắc phù hợp tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ thì
sẽ dẫn tới bất công. Vi ệc xác định gi ới hạn bất bình đẳng đảm bảo CBXH
luôn là vấn đề khó khăn, phức tạp cả trong nhận thức cũng như thực tiễn.
Trên cơ sở lý lu ận về KTTT định hướng XHCN và CBXH, tác gi ả khái
quát quan niệm về công bằng xã hội trong điều kiện KTTT định hướng XHCN
như sau:
Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa là công b ằng xã hội có mức độ, công bằng có th ừa nhận bất công
44
trong gi ới hạn; là công b ằng xã h ội được th ực hi ện tương xứng với tăng
trưởng kinh t ế và ti ến bộ xã h ội; là công b ằng xã h ội được th ực hi ện từng
bước, trong từng chính sách và trong su ốt quá trình phát tri ển; công bằng xã
hội là mục tiêu, động lực và là th ước đo đánh giá trình độ của nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
2.2. TÍNH QUI LUẬT VỀ VIỆC THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG
ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Nghiên cứu về CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN, còn có
nhiều ý kiến khác nhau, song b ước đầu, chúng tôi khái quát nh ững vấn đề có
tính qui luật, làm cơ sở đề khảo sát thực trạng việc thực hiện CBXH.
2.2.1. Công b ằng xã h ội trong điều ki ện kinh t ế th ị tr ường định
hướng xã hội chủ nghĩa là công bằng có mức độ, công bằng có thừa nhận
bất công trong giới hạn
Thực hiện CBXH là yêu c ầu khách quan, v ừa là mục tiêu, vừa là động
lực phát tri ển của nền KTTT định hướng XHCN. Tuy nhiên, c ần ph ải th ừa
nhận những bất công xã h ội trong gi ới hạn nhất định của quá trình th ực hiện
CBXH. Đây là vấn đề có tính ch ất quy luật của KTTT, đặc biệt trong thời kỳ
đầu, khi những tiền đề kinh tế - xã hội cho việc thực thi CBXH còn tương đối
hạn chế. Thực tiễn xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ ở nước ta cũng như
nhiều nước XHCN trước đây, xuất phát từ quan niệm giản đơn về thời kỳ quá
độ nên đã đồng nhất thời kỳ này với CNXH, cho rằng, phải thực hiện nguyên
tắc phân ph ối bình quân nh ằm đảm bảo công b ằng xã h ội hoàn toàn. Trên
thực tế, nguyên tắc phân ph ối bình quân đã tạo bất công xã h ội lớn trên di ện
rộng. Bên cạnh đó, xuất phát từ quan điểm cho rằng chế độ tư hữu là ngu ồn
gốc của mọi sự bất công xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã coi việc xóa bỏ ngay
lập tức mọi hình th ức tư hữu là nhi ệm vụ cách mạng chủ yếu nhằm thực thi
CBXH, do vậy, nhiều nguồn lực kinh tế - xã hội đã không được tham gia vào
quá trình xây d ựng và phát tri ển, kết quả là đời sống kinh t ế - xã h ội ngày
càng lâm vào khủng hoảng sâu sắc.
45
Trong th ời kỳ đổi mới, vi ệc th ực hi ện CBXH với nh ững nội dung mới
trong điều ki ện KTTT định hướng XHCN ở nước ta đã và đang tr ở thành
động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển kinh tế, cải thiện không ngừng đời sống
của nhân dân. Nhưng cùng với việc đời sống của nhân dân không ngừng được
cải thiện lại nảy sinh tình trạng bất công xã hội gia tăng. Đứng trước tình hình
đó, không ít ng ười tỏ ra bi quan, lo ng ại, th ậm chí đưa ra k ết lu ận về sự
“chệch hướng XHCN” ở nước ta. Tuy nhiên, tình trạng trên, trong những giới
hạn nhất định là hoàn toàn khách quan, n ằm trong quy lu ật của sự phát tri ển
của nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta. Vấn đề là cần có sự nhận thức
đúng đắn, từ đó có những giải pháp điều tiết phù hợp nhằm đạt được mục tiêu
phát triển đề ra.
Trong xã hội, nội dung ch ủ yếu quyết định CBXH là ch ế độ phân ph ối
lợi ích. Ở các xã hội khác nhau, phương thức phân phối lại khác nhau, do ch ế
độ sở hữu khác nhau v ề tư liệu sản xuất quy định. Lịch sử loài ng ười đã trải
qua hai lo ại hình quan h ệ sở hữu cơ bản về tư liệu sản xuất, đó là tư hữu và
công hữu. Trong chế độ tư hữu, không thể có một tỷ lệ phân phối ngang bằng
giữa một bên là nh ững ch ủ sở hữu tư li ệu sản xu ất với một bên là nh ững
người không có tư liệu sản xuất và chỉ dựa vào sức lao động của chính mình.
Điều này cũng có ngh ĩa, nếu vẫn còn sự khác bi ệt trong quan h ệ sở hữu đối
với tư liệu sản xuất thì vẫn còn tình tr ạng bất công và b ất bình đẳng xã hội.
Khi nghiên cứu nền sản xuất TBCN, Mác đã vạch rõ cơ sở khách quan của sự
bất công trong lĩnh vực kinh tế của CNTB, đó là chế độ sở hữu tư nhân tư bản
về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động. Chế độ sở hữu đó đã quyết định chế
độ phân ph ối trong CNTB, k ết qu ả là s ự giàu có, quy ền lực ngày càng t ập
trung vào tay giai c ấp tư sản, sự nghèo khó ngày càng t ập trung về phía giai
cấp công nhân và đa số những người lao động. Để xóa bỏ sự bất công này,
cần phải xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân TBCN, thiết lập chế độ sở hữu mới, đó
là ch ế độ công h ữu về tư li ệu sản xu ất. Trong ch ế độ công h ữu, tất cả mọi
46
người đều bình đẳng trong quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất và do vậy, cơ sở
của sự chiếm đoạt đã không còn. Nói cách khác, trong ch ế độ công hữu, phân
phối sản phẩm được thực hiện thông qua m ột thước đo giống nhau đó là lao
động. Tuy nhiên , ngay c ả trong ch ế độ công h ữu và th ực hi ện nguyên t ắc
phân phối theo lao động, sự bất bình đẳng trong phân ph ối về thu nh ập vẫn
thể hiện rõ, bởi vì, những chủ thể tham gia vào sự phân phối ấy lại khác nhau
về điều kiện, năng lực, người này thì gi ỏi hơn, người kia lại yếu hơn, người
này có điều kiện, xuất phát điểm tốt hơn, người kia thì ng ược lại, khó kh ăn
hơn v.v..Chính sự khác biệt đó dẫn tới tình trạng phân hóa giàu nghèo và đây
là một trong nh ững nguyên nhân c ủa bất công xã h ội. Trong tác ph ẩm “Phê
phán cương lĩnh Gôta”, khi phê phán quan điểm mơ hồ, ti ểu tư sản của
Látxan, về những giải pháp xây d ựng xã h ội mới trong đó đảm bảo CBXH
tuyệt đối giữa con người với nhau, C.Mác cho rằng, không thể thực hiện ngay
CBXH một cách tuyệt đối, bởi vì: “v ới một công việc ngang nhau, và do đó,
với một phần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội thì trên thực tế,
người này vẫn lĩnh nhiều hơn người kia, ng ười này vẫn giàu hơn người kia,
v.v…Muốn tránh tất cả những thiếu sót ấy thì quyền là phải không bình đẳng,
chứ không ph ải là bình đẳng”[69, tr35]. Trong giai đoạn đầu của chủ ngh ĩa
cộng sản, thực hiện phân phối theo lao động là một bước tiến lớn đối với việc
thực hiện CBXH, tuy nhiên, vẫn phải chấp nhận sự bất công nhất định. Đây là
điều không thể tránh khỏi vì điều kiện kinh tế - xã hội chưa thể cho phép thực
hiện CBXH đầy đủ. C.Mác viết: “Nhưng đó là thiếu sót không th ể tránh khỏi
trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, lúc đó vừa mới lọt lòng từ
xã hội tư bản chủ nghĩa mà ra, sau nh ững cơn đau đẻ kéo dài. Quy ền không
bao giờ có thể ở mức độ cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của
xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định” [69, tr.35-36]. C.Mác còn chỉ rõ rằng:
khi lực lượng sản xuất chưa phát triển đến trình độ cao, con ng ười chưa phát
triển toàn di ện, còn ph ụ thuộc vào phân công lao động xã h ội, thì ch ưa th ể
47
thực hiện đầy đủ nguyên tắc CBXH - với khẩu hiệu làm theo năng lực hưởng
theo nhu cầu. Đòi hỏi thực hiện CBXH ở mức độ quá cao so với trình độ phát
triển của kinh tế - xã hội là ảo tưởng, phi thực tế.
Trong điều kiện KTTT, những tác động tiêu cực của KTTT đối với CBXH
cũng khó tránh khỏi. KTTT vừa là phương thức để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
thúc đẩy sự giàu có nh ưng đồng thời cũng là nguyên nhân đẩy nhanh sự phân
hóa giàu nghèo, làm gia tăng tình trạng thất nghiệp trong xã hội. Đây là một thực
tế khách quan, xuất phát từ sự tác động của các quy luật cạnh tranh và lợi nhuận
của nền KTTT. Bên cạnh đó, KTTT cũng luôn tạo ra tình trạng mâu thuẫn, mất
cân đối ngày càng lớn trong sự phát triển xã hội. Vì mục tiêu lợi nhuận, nên các
nguồn vốn, tài nguyên và nhân lực lớn, chất lượng cao thường được huy động
một cách tự phát và tối đa vào những khu vực, những ngành, lĩnh vực có nhiều
điều kiện thuận lợi để đạt được sự tăng trưởng lợi nhuận cao. Còn những vùng,
lĩnh vực không có nhiều điều kiện thuận lợi để tìm kiếm lợi nhuận lại ít được đầu
tư phát triển. Tình trạng đó dẫn tới sự phát triển giữa các vùng, nhất là nông thôn
và thành thị, miền núi và miền đồng bằng chênh lệch nhau ngày càng lớn tạo sự
mất cân đối ngày càng nghiêm tr ọng, gây khó kh ăn cho việc giải quyết những
vấn đề xã hội theo hướng công bằng.
Trong th ời kỳ quá độ lên CNXH, v ới xu ất phát điểm kinh t ế - xã h ội
thấp, chúng ta ph ải đẩy mạnh nền sản xu ất hàng hóa v ới nhi ều thành ph ần
kinh tế, do vậy phải thừa nhận nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại.
Đối tượng sở hữu cũng trở nên đa dạng trong điều kiện KTTT: sở hữu về tư
liệu sản xuất, sở hữu vốn, sở hữu sức lao động v.v.., quan hệ sở hữu đa dạng
tất yếu quy định quan hệ phân ph ối thu nh ập đa dạng. Có nh ững phân ph ối
thông qua lao động, có nh ững phân ph ối không thông qua lao động. Kết quả
là có ng ười thu nh ập cao, có ng ười thu nh ập thấp, có ng ười được hưởng thụ
một cách t ương xứng với nh ững đóng góp c ủa họ, và ng ược lại, có nh ững
người chưa được hưởng thụ một cách tương xứng; có nh ững người có nhi ều
48
điều ki ện để ti ếp cận và s ử dụng tốt nh ững cơ hội phát tri ển, ng ược lại có
người do gặp khó khăn, hạn chế về năng lực, khả năng tiếp cận và sử dụng cơ
hội phát tri ển bị hạn ch ế v.v... Rõ ràng là, không th ể kh ắc ph ục được ngay
mọi sự bất công xã hội, hoặc đòi hỏi thực hiện ngay lập tức một sự công bằng
tuyệt đối, hoàn hảo. Điều đó chỉ có th ể là kết quả của một quá trình lâu dài,
được thực hiện từng bước trên cơ sở phù hợp với trình độ phát tri ển của xã
hội, trước hết là lĩnh vực kinh tế. Nói cách khác, trong quá trình phát tri ển xã
hội, chúng ta bu ộc phải chấp nhận bất công xã h ội trong gi ới hạn nhất định,
nhưng chúng ta c ũng không th ể để chúng ngày càng gia t ăng phổ biến, làm
thay đổi bản chất của quan hệ kinh tế - xã h ội, hình thành ch ế độ xã hội bất
công. Một cách khách quan, những bất công xã hội trong điều kiện KTTT tồn
tại ở ba dạng chính, đó là bất công tự nhiên, bất công tạm thời và bất công phi
lý, phi pháp. Việc nghiên cứu, tổng kết thấu đáo các dạng bất công xã hội này
từ đó có nh ững giải pháp điều tiết phù hợp luôn được đặt ra cấp thiết đối với
chúng ta hiện nay.
Những bất công tự nhiên nảy sinh do cấu tạo khác nhau về thể chất, sinh
học của mỗi người. Trong xã hội luôn có nh ững người có thể chất tốt, có sức
khỏe, năng lực hoạt động tốt và do v ậy đạt được nhiều thành tựu trong cu ộc
sống. Ngược lại, cũng có nh ững người hạn chế về sức khỏe, thể chất, không
có hoặc đã mất khả năng lao động, do đó, không có ngu ồn thu nh ập ổn định
để đảm bảo cuộc sống. Họ là nh ững người già cả, người có khuy ết tật về tự
nhiên ho ặc gặp ph ải nh ững biến cố bất thường, rủi ro trong cu ộc sống. Các
đối tượng này ph ải ch ịu nhi ều thi ệt thòi nh ất trong xã h ội. Đây là lo ại bất
công tồn tại khách quan trong m ọi xã h ội, tuy nhiên, xu ất phát t ừ mục tiêu
phát triển xã hội nhân đạo, để khắc phục chúng, hướng lâu dài là thu h ẹp dần
dựa trên sự phát tri ển ngày càng cao c ủa xã hội; bù đắp những thiệt thòi do
bất công này gây ra, không để chúng trở thành những vấn đề “nóng” gây bức
xúc xã hội, ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển chung của xã hội.
49
Loại bất công tạm thời là loại bất công tồn tại khách quan và có gi ới hạn
cùng với quá trình phát tri ển của nền KTTT định hướng XHCN. Đó là b ất
công xã h ội do tình tr ạng phân hóa giàu - nghèo gi ữa các t ầng lớp dân c ư,
giữa các vùng mi ền tạo ra. Chúng ta bi ết rằng, phân hóa giàu nghèo v ừa có
mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực. Mặt tích cực của phân hóa giàu nghèo là
trong những giới hạn nhất định, tạo động lực thúc đẩy sự phát tri ển kinh tế -
xã hội, thúc đẩy cạnh tranh. Phân hóa giàu nghèo c ũng chính là h ệ qu ả của
việc thực hiện CBXH, trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc “ai cống hiến nhiều thì
hưởng nhi ều, ai c ống hi ến ít thì h ưởng ít, ai không c ống hi ến thì không
hưởng”. Tuy nhiên, v ề mặt xã hội, sự phân hóa giàu nghèo s ẽ tác động tiêu
cực đến sự phát triển xã hội, gây bất công xã hội, nhất là trong điều kiện làm
giàu không chính đáng, hoặc khoảng cách giàu, nghèo ngày càng doãng r ộng,
có th ể gây ra tình tr ạng xung đột lợi ích gi ữa các nhóm xã h ội, gây mất ổn
định xã hội. Xét về bản chất, mục tiêu XHCN mà chúng ta đang xây dựng, thì
chúng ta không muốn có sự phân hóa giàu nghèo, bởi vì, còn tồn tại phân hóa
giàu nghèo là còn tồn tại sự phân biệt đối xử, người đói, người no và bất công
xã hội. Song chúng ta ph ải ch ấp nh ận hi ện tượng này trong điều ki ện xây
dựng và phát tri ển nền KTTT ở mức độ cho phép. S ự phân hóa giàu nghèo
vừa là hệ quả, vừa là sự phản ánh hiện thực đất nước đang trong giai đoạn quá
độ lên CNXH, với tính chất “quá độ” về kinh tế, chính trị và xã hội đang tồn
tại và tác động rõ nét, đó là sự phát tri ển không đồng đều của lực lượng sản
xuất, tính chất chưa đồng bộ của hệ thống quan hệ sản xuất cũng như những hạn
chế, bất cập trong cơ chế, phương thức vận hành của hệ thống chính trị v.v..
Không ch ỉ di ễn ra s ự phân hóa giàu nghèo gi ữa các t ầng lớp dân c ư,
trong điều kiện KTTT, còn di ễn ra sự phân hóa gi ữa các ngành, lĩnh vực, các
vùng, miền trong ph ạm vi cả nước. Hiện nay, mặc dù ph ải chấp nhận ở một
mức nào đó sự phân hóa, chênh lệch giữa các giữa các vùng, miền, các ngành,
lĩnh vực, nhưng định hướng XHCN đối với sự phát phát tri ển của nền KTTT
50
buộc chúng ta không th ể phó mặc cho KTTT tác động, chi ph ối một cách t ự
phát mà ph ải chủ động điều tiết để chống tình tr ạng phân hóa quá m ức, làm
cho khoảng cách giàu - nghèo gi ảm xuống theo đà tăng trưởng kinh t ế ngày
càng cao, t ừ đó từng bước tạo nên sự phát tri ển hợp lý gi ữa các vùng, mi ền,
các tầng lớp, dân tộc. Dĩ nhiên, chúng ta không đặt mục tiêu hạn chế sự phát
triển nhanh của các khu v ực có nhi ều tiềm năng điều kiện, mà điều chủ yếu
là th ực hi ện sự phân ph ối ngu ồn lực một cách h ợp lý để các khu v ực ít có
điều ki ện thu ận lợi có được cơ hội phát tri ển tốt hơn, kh ắc ph ục tình tr ạng
tụt hậu, đảm bảo cho mọi khu vực, mọi người đều được hưởng thụ các thành
quả của sự phát triển chung.
Loại bất công phi lý, phi pháp đó là những bất công hoàn toàn đi ngược
lại lợi ích chung c ủa xã hội, tác động tiêu cực tới sự phát tri ển của đất nước,
phủ nhận những thành quả đạt được trong sự nghiệp xây dựng và phát triển xã
hội. Đây cũng là những bất công nảy sinh khó có thể tránh khỏi và khó có thể
giải quyết ngay được, nhất là trong điều kiện xuất phát điểm kinh tế - xã h ội
thấp, KTTT chưa phát tri ển đồng bộ, còn nhi ều yếu tố tự phát; đặc biệt là cơ
chế quản lý mới còn ch ưa hoàn thi ện, pháp lu ật chưa thực sự đồng bộ, xử lý
pháp luật chưa nghiêm minh v.v.., d ẫn tới tình trạng nhiều người đã lợi dụng
làm giàu phi pháp b ằng những hành vi l ừa đảo, buôn gian, bán l ậu, đầu cơ.
Một số người đã dựa vào quy ền lực để tổ ch ức mua bán quy ền lực. Sự lợi
dụng quyền lực ở đây không ch ỉ là nh ững người có ví trí xã h ội quan tr ọng,
chức vụ cao mà còn là b ất cứ cá nhân ho ặc tổ ch ức nào trong b ộ máy của
Đảng và Nhà n ước, từ trung ương tới cơ sở khi th ực hi ện ch ức năng được
giao đã tìm cách lợi dụng chức năng đó để tự cho phép làm trái luật pháp, quy
định của Nhà nước, và bằng cách đó, thu lợi bất chính cho b ản thân ho ặc tổ
chức mà họ được giao quy ền qu ản lý. Những bất công phi lý, phi pháp này
cần thiết phải được xóa bỏ càng sớm càng tốt, nhằm đảm bảo cho xã hội phát
triển lành mạnh, công bằng.
51
Phát triển là một quá trình v ận động bi ện ch ứng, là quá trình đấu tranh
giữa cái cũ và cái mới, cái tiến bộ và cái phản tiến bộ để dẫn tới sự ra đời của
cái mới, phù hợp với xu thế phát triển khách quan, tất yếu. Trong quá trình đó,
có nh ững cái cũ đã không còn phù h ợp, nhưng nó v ẫn còn hi ện di ện và tác
động lớn tới đời sống xã hội. Hiện nay, chúng ta đang đẩy mạnh công cuộc đổi
mới, nhưng những ảnh hưởng tiêu cực, những di chứng của cơ chế bao cấp vừa
bình quân, vừa đặc quyền, đặc lợi còn để lại nhi ều, không nh ững trong đời
sống vật chất mà còn c ả trong ý th ức của con ng ười. Bên cạnh những yếu tố
tiến bộ, tích cực nảy sinh, còn không ít nh ững yếu tố tự phát, độc quyền, lũng
đoạn, vô chính ph ủ; tâm lý hãnh ti ến, lối sống buông thả, chạy theo đồng tiền
một cách mù quáng c ủa một bộ phận dân cư. Chúng ta ph ải thừa nhận những
tồn tại và ch ủ động, tích cực đấu tranh, kh ắc ph ục. Có nh ư vậy CBXH mới
được thiết lập và bảo đảm, xã hội mới phát triển ổn định, bền vững.
2.2.2. Công b ằng xã h ội trong điều ki ện kinh t ế th ị tr ường định
hướng xã hội chủ nghĩa là thực hiện sự gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế
với tiến bộ, công bằng xã hội
Tăng trưởng kinh tế là khái ni ệm kinh tế học dùng để chỉ sự gia tăng về
số lượng, quy mô và t ốc độ phát triển của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất
định. Các ch ỉ tiêu th ường được sử dụng để đo mức TTKT là m ức tăng tổng
sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), GDP bình quân
đầu người và các ch ỉ tiêu kinh tế tổng hợp khác. TTKT là mục tiêu theo đuổi
của mọi quốc gia, mọi nền kinh tế trước yêu cầu tồn tại và phát triển.
Tiến bộ xã h ội là s ự vận động của xã hội từ trình độ th ấp đến trình độ
cao, từ lạc hậu đến văn minh, hiện đại. Tiến bộ xã hội trước hết phải xuất phát
từ con người, vì con ng ười và hướng tới sự tiến bộ của con người. Sự tiến bộ
xã hội còn thể hiện ở sự phát triển ngày càng cao hơn của cơ sở hạ tầng, kiến
trúc thượng tầng và ý thức xã hội.
Trong nền KTTT định hướng XHCN, TTKT, ti ến bộ và CBXH là m ột
chỉnh thể thống nhất hữu cơ, bởi vì, mục tiêu của KTTT định hướng XHCN là
52
phát triển kinh tế để đạt tới một xã hội giàu mạnh, công b ằng, dân ch ủ, văn
minh. Đây là n ền KTTT được xây d ựng và v ận hành theo h ướng nhân b ản
hóa bản chất các quan hệ kinh tế - xã hội; là quá trình phát triển xã hội trên cơ
sở một nền sản xuất tăng trưởng hiện đại gắn với việc đảm bảo các nguyên tắc
công bằng, bình đẳng, tạo điều kiện phát tri ển con ng ười toàn di ện, hài hòa
trên tất cả các mặt của đời sống xã hội.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, s ự phát tri ển lực lượng sản
xuất là yếu tố cơ bản quyết định sự phát tri ển tiến bộ của lịch sử và là tiêu
chuẩn để so sánh s ự phát tri ển về mặt kinh tế của hình thái kinh t ế - xã h ội
này so với hình thái kinh t ế - xã h ội khác. Tuy nhiên, s ẽ là siêu hình khi cho
đây là yếu tố cơ bản và duy nh ất quyết định sự phát tri ển lịch sử, là tiêu chí
duy nhất để so sánh, đánh giá tính chất của các chế độ xã hội khác nhau. Bản
chất của xã hội được thể hiện thông qua hệ thống các quan hệ xã hội, trong đó
quan hệ kinh tế giữ vai trò quy ết định. Quan hệ kinh tế được xây dựng dựa
trên cơ sở của lực lượng sản xuất, tuy nhiên, không ch ỉ chịu sự tác động duy
nhất của yếu tố lực lượng sản xuất, tức mặt vật chất, tự nhiên của quá trình
sản xuất vật chất, quan hệ sản xuất còn chịu sự tác động đa dạng của các hình
thái quan hệ xã hội khác, như quan hệ chính trị, văn hóa, xã hội v.v.. Ngay cả
xét trong ph ạm vi lực lượng sản xuất, “khi lực lượng sản xuất phát tri ển cao,
nhưng quan h ệ giữa người với người là quan h ệ bóc lột, bất công, b ất bình
đẳng thì lực lượng sản xuất mới chỉ dừng lại ở sự gia tăng và hoàn thi ện của
tư liệu sản xuất, chứ chưa phải là sự phát triển của con người với tính cách là
một bộ ph ận của lực lượng sản xu ất” [47, tr.95]. Bên c ạnh đó, con ng ười
không chỉ được thể hiện với tính cách là y ếu tố cấu thành của lực lượng sản
xuất, mà còn được thể hiện với tính cách là chủ thể của đạo đức, văn hóa, với
những nhu c ầu đảm bảo quyền dân ch ủ, tự do…do vậy, muốn phát tri ển xã
hội toàn di ện đòi hỏi không ch ỉ ở các yếu tố phát tri ển lực lượng sản xu ất,
tăng trưởng kinh tế mà còn ph ải xóa bỏ sự áp bức, bất công, xây dựng xã hội
53
tiến bộ, công bằng, văn minh, ở đó, mỗi người thực sự được làm chủ bản thân
mình và làm ch ủ xã hội, mỗi người luôn được tạo điều kiện khai thác t ối đa
mọi tiềm năng, sức mạnh của mình vì sự tiến bộ chung của xã hội.
Trong quan hệ giữa TTKT và ti ến bộ, CBXH, trước tiên, cần phải khẳng
định vai trò cơ bản của TTKT. TTKT làm tiền đề vật chất cần thiết cho việc đảm
bảo thực hiện tốt các chính sách xã hội, giảm bất bình đẳng xã hội. Không thể có
tiến bộ, CBXH trên c ơ sở một nền kinh tế trì tr ệ, suy thoái; khi kinh t ế tăng
trưởng sẽ làm cho mức thu nh ập tăng lên, tạo điều kiện cải thiện và nâng cao
chất lượng cuộc sống của nhân dân, gi ải quyết công ăn vi ệc làm, ch ống th ất
nghiệp, đói nghèo, thúc đẩy văn hóa, giáo dục phát triển. TTKT làm gia tăng cơ
hội và điều kiện phát triển cho người lao động, đặc biệt là những người nghèo,
những người gặp khó khăn tiếp cận các cơ hội phát triển sản xuất, kinh doanh và
hưởng thụ được từ thành quả của TTKT. Nhờ có TTKT cao, Nhà nước có sức
mạnh vật chất thực hiện tốt các chính sách xã hội, hình thành và triển khai các
chương trình hỗ trợ vật chất, tài chính cho các vùng, các địa phương khó khăn,
phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội cơ bản v.v..
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định mục tiêu của CNXH là làm
sao cho mọi người có cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc. Vì vậy, điều quan
trọng bậc nhất trong kế hoạch phát triển của đất nước là phải không ngừng tăng
gia sản xuất, phát triển kinh tế, tạo điều kiện để đảm bảo CBXH, cho ai cũng có
phần hạnh phúc. Người nhấn mạnh: “Phải ra sức phát triển sản xuất và thực hành
tiết kiệm, lại phải phân phối cho công bằng, hợp lý, từng bước cải thiện việc ăn,
mặc, ở, học, phục vụ sức khỏe và giải trí cho nhân dân” [76, tr 482]
Tuy nhiên, trong điều kiện KTTT, xuất phát từ nhu cầu cạnh tranh và lợi
nhuận, thường dễ xuất hiện xu hướng đề cao, th ậm chí tuyệt đối hóa TTKT.
Kết quả là quá trình tích t ụ và tập trung tư bản diễn ra mạnh, khối lượng của
cải vật chất tạo ra ngày càng l ớn, thị trường ngày càng m ở rộng, ngày càng
thu hút rộng rãi các ngu ồn lực tham gia vào phát tri ển kinh tế. Nhưng cũng
54
chính quá trình TTKT nhanh đó lại thường dẫn tới những hậu quả to lớn về xã
hội, đó là sự gia tăng của tình trạng bất công, bất bình đẳng xã hội, tình trạng
nghèo khổ kéo dài dẫn đến nguy cơ chia rẽ, xung đột, thậm chí đối kháng xã
hội gay gắt. Ngay cả sự TTKT cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, bởi vì, sản
xuất gia t ăng đòi hỏi ph ải có tiêu dùng thì m ới đảm bảo cho tái s ản xu ất,
nhưng đa số đối tượng tiêu dùng ch ủ yếu là ng ười lao động, là nh ững người
nghèo, nên hàng hóa t ạo ra không có điều kiện tiêu thụ. Từ đó, nảy sinh tình
trạng khủng hoảng thừa hàng hóa. Nhà t ư bản buộc phải lựa chọn giải pháp
tiêu hủy hàng hóa. Hàng hóa b ị tiêu h ủy trong điều ki ện ng ười lao động
không có để tiêu dùng, đây là một ngh ịch lý và là m ột trong nh ững nguyên
nhân gây khủng hoảng kinh tế - xã hội, bài học của các nước tư bản phát triển
theo mô hình KTTT tự do, ưu tiên cho tăng trưởng đã chứng minh điều đó.
Một xã hội tiến bộ, văn minh hiện đại thì đương nhiên phải là một xã hội
thịnh vượng, giàu có về kinh tế, dồi dào về của cải vật chất để có thể đem lại
cho con ng ười cuộc sống sung túc h ơn, đầy đủ hơn. Tăng trưởng, phát tri ển
kinh tế có vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển xã hội. Song suy đến
cùng, kinh tế chỉ là phương tiện, là điều kiện, chứ không phải là mục đích tự
thân của xã h ội. Sự phát tri ển th ực sự ph ải làm sao cho xã h ội ngày càng
nhiều tính nhân v ăn hơn, tức là ph ải tổ ch ức đời sống xã h ội, xây dựng các
quan hệ xã hội sao cho x ứng đáng với con ng ười. Một xã hội phát tri ển thực
sự phải làm sao cho lợi ích mỗi cá nhân và lợi ích chung của xã hội được phát
triển thuận chiều, hài hòa; phải bảo đảm cho từng bước tiến của TTKT là từng
bước thực hiện CBXH cho con ng ười và vì con ng ười với tư cách là m ỗi cá
nhân và mọi thành viên cộng đồng.
Trong quan h ệ với TTKT, CBXH được th ực hi ện sẽ tạo động lực thúc
đẩy TTKT và quan tr ọng hơn đảm bảo cho TTKT ổn định, bền vững. CBXH
được thực hiện sẽ thu hút r ộng rãi mọi người tham gia tích c ực vào các ho ạt
động kinh tế, đảm bảo môi tr ường cạnh tranh lành mạnh cho các thành ph ần
55
kinh tế, các ch ủ thể sản xuất kinh doanh, không để dẫn tới tình trạng “cá lớn
nuốt cá bé”; các l ực lượng kinh t ế không tri ệt tiêu nhau mà luôn có trách
nhiệm tạo điều kiện cho đối tác cạnh tranh cùng tồn tại và phát tri ển. CBXH
tạo điều kiện cho mọi thành viên xã hội tiếp cận một cách phù hợp với các cơ
hội phát tri ển, thông qua đó huy động tối đa các nguồn lực nhằm tạo ra ngày
càng nhiều của cải vật chất cho xã hội.
Công bằng xã h ội đảm bảo cho m ọi ng ười dân làm giàu chính đáng,
những ai có sức lao động, lao động sáng tạo, có kinh nghiệm và năng lực sản
xuất, kinh doanh gi ỏi sẽ vươn lên làm giàu. Chúng ta đã biết, trong xã hội ta
hiện nay, nhiều người đã trở thành “tỷ phú từ hai bàn tay trắng”. Sự xuất hiện
các tầng lớp gia đình và cá nhân ng ười giàu có đã chứng tỏ tiến bộ, CBXH
đang được thực hiện một cách khách quan qua cơ chế thị trường.
Tuy nhiên, CBXH ch ỉ có th ể tạo động lực tr ực ti ếp và quan tr ọng cho
TTKT trong điều kiện gắn bó hữu cơ với TTKT và dựa trên những tiền đề vật
chất do TTKT mang lại. Nếu quá đề cao CBXH, xem nhẹ TTKT sẽ dẫn đến chế
độ bình quân, làm gia tăng sức ỳ của xã hội, tạo tâm lý thụ động của người dân,
ỷ lại vào phân phối của Nhà nước, làm cạn kiệt các nguồn lực, giảm tính năng
động xã hội…, và cuối cùng làm giảm TTKT. Chúng ta có thể thấy điều này ở
các nước theo mô hình phúc lợi xã hội, ở Việt Nam và các nước XHCN trong
thời kỳ bao cấp trước đây. Xuất phát từ nhận thức, xã hội công bằng là ước mơ
của con người, vì thế xã hội càng nhanh đạt tới sự công bằng càng thể hiện tính
ưu việt của chế độ. Các chính sách th ực hiện CBXH được ưu tiên hơn so với
kinh tế, không dựa trên các tiền đề của TTKT, kết quả là động lực cho TTKT bị
triệt tiêu, kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng, trì trệ.
Trong giai đoạn hiện nay, quan hệ gắn kết giữa TTKT và tiến bộ, CBXH
ngày càng được thế giới nhận thức rõ hơn. Mối quan hệ này th ực ra đã nằm
trong nội hàm của phát triển bền vững, bởi vì, theo quan ni ệm mới, phát triển
bền vững gồm ba trụ cột quy định lẫn nhau, đó là phát triển kinh tế bền vững,
56
phát triển xã hội bền vững và bảo vệ môi trường. Qua đó, có thể thấy rằng nếu
chỉ TTKT không thôi s ẽ không đủ để có xã h ội bền vững, kết quả của mối
quan hệ này thể hiện chủ yếu ở chỗ thành tựu về TTKT có đi liền với tiến bộ,
CBXH hay không?.
Lý thuyết và thực tiễn đã chỉ ra, mô hình phát triển hợp lý chính là đảm bảo
gắn kết giữa TTKT và th ực hiện tiến bộ, CBXH. Đây cũng là quan điểm nhất
quán của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới của đất nước. Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VIII khẳng định: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến
bộ và CBXH ngay trong từng bước và toàn bộ quá trình phát triển” [29, tr.113].
Chúng ta không chờ kinh tế phát triển cao mới thực hiện CBXH, hy sinh CBXH
để TTKT một cách thu ần túy; mặt khác, cũng không th ể th ực hi ện tốt được
những hoạt động đảm bảo phúc lợi xã hội, giảm bớt sự phân hóa, bất bình đẳng
trong một nền kinh tế nghèo nàn, tăng trưởng thấp. Quan điểm này đòi hỏi khi
xây dựng các chính sách kinh tế phải tính đến mục tiêu phát triển xã hội, đồng
thời mỗi chính sách xã hội phải tạo điều kiện thúc đẩy TTKT. TTKT phải đảm
bảo tính ổn định, bền vững, tránh dẫn tới tình trạng tăng trưởng câm, tăng trưởng
mất gốc, tăng trưởng phi nhân tính, tăng trưởng về kinh tế nhưng văn hóa, đạo
đức suy đồi. Thực hiện tiến bộ, CBXH cũng phải luôn tính tới khả năng và điều
kiện thực tiễn, phải dựa trên những kết quả của TTKT, tránh tách rời, biệt lập
hoặc tuyệt đối hóa dẫn tới kìm hãm TTKT.
2.2.3. Công b ằng xã h ội được th ực hi ện trong t ừng bước, từng
chính sách và trong suốt quá trình phát triển của kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa
Kinh tế thị trường luôn tác động hai mặt, tích cực và tiêu cực đối với quá
trình th ực hi ện CBXH. M ặt tích c ực của KTTT là ở ch ỗ, thứ nh ất, nó góp
phần đảm bảo quyền tự chủ, sáng tạo, thúc đẩy cạnh tranh gi ữa các ch ủ thể
kinh tế. Cạnh tranh đòi hỏi người sản xuất, kinh doanh ph ải tìm được lợi thế
so sánh v ới các c ộng đồng khác để tồn tại và phát tri ển. Chính c ạnh tranh
57
trong nền KTTT s ẽ hình thành nên nh ững con ng ười năng động, sáng t ạo,
dám nghĩ, dám làm, dám ch ịu trách nhiệm và hưởng thụ thành quả của mình.
Đó là cơ sở của CBXH. Thứ hai, KTTT thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra
nguồn lực vật chất để thực hiện CBXH có hiệu quả. Thứ ba, KTTT phát triển
luôn đặt ra yêu c ầu và đồng th ời tạo cơ sở để hình thành các nhà n ước dân
chủ, đảm bảo các quyền và ngh ĩa vụ cơ bản của công dân. Đây là những tiền
đề chính tr ị - pháp lý quan tr ọng cho vi ệc thực hiện CBXH. Từ giữa những
năm 80 của thế kỷ XX cho đến nay, KTTT thế giới đã đạt tới trình độ hiện đại
hóa cao. KTTT hi ện đại gắn bó hữu cơ với các nhân tố chính trị, văn hóa, xã
hội; những biến động về chính tr ị, văn hóa, xã h ội…đều trực tiếp ảnh hưởng
đến sự phát tri ển kinh tế. Hiện nay, dân ch ủ, nhà nước pháp quyền và xã h ội
công dân là nh ững thành tố cơ bản và là s ự thể hiện sâu sắc tính ch ất và xu
hướng phát triển tiến bộ của nền KTTT hiện đại.
Tuy nhiên, bên c ạnh nh ững tác động tích c ực, KTTT cũng luôn t ạo ra
những hệ quả tiêu cực gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới CBXH. Chúng ta bi ết
rằng, KTTT tự nó, luôn có xu hướng vận động tự phát dưới sự tác động khách
quan của các quy luật thị trường. Không phải ngẫu nhiên, mà người ta thường
nói đến “bàn tay vô hình” trong c ơ ch ế th ị tr ường. Vì th ế, trong m ọi nền
KTTT đều khó tránh kh ỏi ở mức độ nào đó, sự nảy sinh nh ững hiện tượng,
những quá trình n ằm ngoài tầm kiểm soát của con ng ười, trong đó có th ể kể
đến nh ư nạn kh ủng ho ảng, th ất nghi ệp, phân hóa giàu nghèo, l ạm phát, b ất
công xã hội, ô nhiễm môi trường v.v..
Kinh tế th ị tr ường tạo ra nh ững hạn ch ế, tiêu c ực về kinh t ế - xã h ội,
nhưng trong quá trình phát tri ển, KTTT lại luôn đặt ra yêu c ầu và là ph ương
thức để giải quyết những hệ quả đó. Mục tiêu, cách th ức và mức độ điều tiết
KTTT như thế nào lại phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội cũng như quan
điểm, định hướng phát triển của mỗi nước, mà trực tiếp và quyết định là quan
điểm của đảng chính tr ị cầm quyền và c ủa chính ph ủ mỗi nước. Ở nước ta,
58
xuất phát từ việc nhận thức khách quan v ề tính ch ất hai mặt của KTTT, xu ất
phát từ mục tiêu, định hướng XHCN, trong t ừng bước cũng như toàn bộ quá
trình phát triển của KTTT phải gắn liền với việc giải quyết các vấn đề xã hội,
trong đó có nội dung tr ọng tâm là th ực hiện CBXH. Văn kiện Đại hội Đảng
lần thứ X đã nêu rõ: “Th ực hiện tiến bộ và CBXH ngay trong t ừng bước và
từng chính sách phát triển” [31, tr101]. Tiếp tục, trong Văn kiện Đại hội Đảng
lần th ứ XI, Đảng ta kh ẳng định: “Th ực hi ện ti ến bộ và CBXH trong t ừng
bước và từng chính sách phát tri ển là một chủ trương nhất quán của Đảng và
Nhà nước ta, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN” [32, tr43].
Việc thực hiện CBXH góp phần phát huy mặt tích cực và khắc phục mặt
hạn chế của KTTT, càng đi vào KTTT càng ph ải chú trọng thực hiện CBXH.
CBXH tạo động lực quan tr ọng và là nhân t ố đảm bảo cho KTTT phát tri ển
theo hướng tiến bộ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Dưới góc độ kinh t ế, đảm bảo các nguyên t ắc công b ằng sẽ góp ph ần
thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, điều hòa quan hệ lợi ích, điều tiết phân phối lại
thu nhập của các giai tầng trong xã hội một cách hợp lý, góp ph ần khắc phục
tình trạng mâu thu ẫn, khoảng cách gi ữa các vùng, mi ền, các ngành l ĩnh vực
trong đời sống kinh tế.
Dưới góc độ chính trị - xã hội, CBXH góp phần giữ vững ổn định chính
trị và đẩy mạnh dân chủ hóa xã hội. CBXH tạo điều kiện phát huy ý thức dân
chủ, tạo ra nh ững khả năng, những kênh để người dân ý th ức về lợi ích của
mình, tham gia ch ủ động, có hi ệu qu ả vào các công vi ệc chính tr ị, xã h ội.
CBXH khẳng định và tiếp tục tạo điều kiện phát huy vai trò của Nhà nước của
dân, do dân, vì dân. Nhà nước với hệ thống quyền lực của mình, với các công
cụ quản lý, quan tr ọng nh ất là pháp lu ật, điều tiết các ngu ồn lực, các ngu ồn
thu nhập…theo nguyên tắc CBXH. Nhà n ước kiên quyết trừng trị những đối
tượng, hành vi vi ph ạm pháp lu ật, gây bất công xã h ội, đồng thời bảo vệ và
thúc đẩy những yếu tố, những khuynh hướng CBXH nhiều hơn.
59
Công bằng xã hội khắc phục tình tr ạng phân hóa giàu nghèo, quan tâm
thực hi ện các chính sách an sinh xã h ội, phúc l ợi xã h ội; đảm bảo cho mọi
tầng lớp xã hội được hưởng các quyền lợi xã hội như giáo dục, chăm sóc sức
khỏe, đào tạo nghề nghiệp, giúp đỡ lúc hoạn nạn khó khăn; đảm bảo các chính
sách ưu tiên, ưu đãi xã hội đối với gia đình liệt sĩ, các bà m ẹ Việt Nam anh
hùng, th ương binh, ng ười có công, đồng bào các dân t ộc thi ểu số, ng ười
nghèo, vùng căn cứ cách mạng, người tàn tật, cơ nhỡ…CBXH bảo đảm cho
mọi thành viên xã h ội không ng ừng nâng cao m ức sống và t ự kh ẳng định
mình. CBXH tạo sự đồng thu ận gắn bó gi ữa người với người trên tinh th ần
tương thân, tương ái, sống có tình ngh ĩa, trách nhi ệm với nhau, hạn chế tình
trạng mâu thuẫn, xung đột, bạo lực, các tệ nạn xã hội.
Hiện nay, KTTT ở nước ta đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện,
bên cạnh những thành tựu đã đạt được, còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập về
thể chế, phương thức vận hành cũng như năng lực của các ch ủ thể tham gia.
Trình độ phát tri ển của KTTT ở nước ta còn tương đối thấp, cùng với xu th ế
TTKT nhanh, dẫn tới xuất hiện nhiều những hiện tượng tiêu cực, bất công xã
hội. Đây là một thực tế không th ể tránh kh ỏi, tuy nhiên, chúng ta không th ể
phó mặc cho KTTT tự điều tiết, chúng ta không đồng tình với quan điểm phát
triển KTTT tự do, ưu tiên cho TTKT, khi kinh tế phát triển cao mới thực hiện
CBXH. KTTT của chúng ta là KTTT định hướng XHCN, khác v ới các n ền
KTTT khác ở tính nhân b ản của nó, do v ậy, ngay trong t ừng bước đi của
KTTT, chúng ta ph ải ch ủ động điều ti ết để hướng KTTT phát tri ển lành
mạnh, vừa thúc đẩy kinh tế, vừa giải quyết những vấn đề xã hội. Mặc dù trong
điều kiện khó khăn, thậm chí càng khó khăn, càng phải thực hiện CBXH. Bởi
vì, khi kinh t ế - xã h ội còn g ặp nhi ều khó kh ăn, khuynh hướng tự phát c ủa
KTTT càng bộc lộ rõ, nếu để KTTT tự nó điều tiết sẽ làm cho kho ảng cách,
phân hóa giàu nghèo ngày càng l ớn; các vùng, mi ền, các ngành, nghề có điều
kiện thuận lợi sẽ tự động thu hút các ngu ồn lực phát triển và do đó có tốc độ
60
phát triển nhanh hơn, trong khi đó, những vùng, miền, ngành, nghề khác ít có
điều ki ện và ngu ồn lực phát tri ển sẽ ngày càng t ụt hậu. Cùng v ới nó, tình
trạng cạnh tranh không lành mạnh, độc quyền, nạn quan liêu, tham nh ũng, vi
phạm pháp lu ật sẽ ngày càng có khuynh h ướng gia tăng. Thực thi CBXH là
giải pháp căn bản khắc phục tình trạng này. Mỗi bước phát triển và hoàn thiện
của nền KTTT gắn với mỗi bước tiến trong quá trình th ực thi CBXH, đây là
quan hệ thống nhất, tương tác và thúc đẩy xuất phát từ những yêu cầu nội tại
của nền KTTT định hướng XHCN; CBXH không th ể tách rời KTTT nh ư là
sự tách rời với môi trường và điều kiện để thực thi chúng và ngược lại KTTT
không thể tách rời CBXH nh ư là xu h ướng tất yếu đảm bảo tính định hướng
XHCN trong quá trình phát triển.
Công bằng xã hội luôn là mục tiêu trọng yếu, thấm đượm tinh thần nhân
văn, mục tiêu đó phải được thực hiện thường xuyên, ngay từ đầu và trong suốt
quá trình phát triển. Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn, CBXH có những sắc thái
riêng phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ở mỗi giai
đoạn khác nhau s ẽ đặt ra những nhiệm vụ và hình th ức cụ thể khác nhau của
việc giải quyết CBXH, nhưng dù có sự khác biệt như thế nào đi chăng nữa thì
thực hiện CBXH cũng luôn là vấn đề vừa có tính cấp bách, vừa có tính lâu dài
trong suốt quá trình phát triển của nền KTTT định hướng XHCN.
Công bằng xã h ội liên quan ch ặt chẽ với các yếu tố tạo nên xã h ội như
kinh tế (sản xuất vật ch ất, các quan h ệ kinh t ế…), chính tr ị (dân ch ủ, bình
đẳng, lu ật pháp, s ự lãnh đạo của Đảng, sự qu ản lý điều hành c ủa Nhà
nước), văn hóa - xã h ội (vấn đề đạo đức, phong t ục tập quán, công ăn việc
làm, giáo d ục, đào tạo, sức kh ỏe, tu ổi th ọ…), do v ậy, CBXH ch ỉ th ực sự
đạt được khi nó đảm bảo tính toàn di ện trên các m ặt của đời sống xã h ội.
Ngay trong t ừng chính sách phát tri ển xã hội phải hướng tới việc thực hiện
CBXH; xây dựng hệ thống chính sách kinh t ế và chính sách xã h ội phải tiến
hành đồng thời và k ết hợp theo h ướng mỗi chính sách kinh t ế phải gắn với
61
mục tiêu xã h ội, tạo cơ sở th ực hi ện CBXH và m ỗi chính sách th ực thi
CBXH phải dựa trên c ơ sở tiền đề vật chất của quá trình TTKT và ph ải tạo
động lực cho TTKT. Tránh tình tr ạng thực hi ện chính sách phát tri ển kinh
tế nhưng lại ảnh hưởng xấu đến gi ải quyết các v ấn đề xã h ội, làm cho b ất
bình đẳng xã hội tăng lên, c ũng như triển khai các chính sách xã h ội lại làm
cản trở đến quá trình TTKT.
Tính thi ếu thống nhất, không đồng bộ trong vi ệc xây d ựng và th ực thi
các chính sách kinh t ế và chính sách xã h ội là nguyên nhân d ẫn tới nhi ều
hậu quả to lớn về xã hội, đẩy nhanh sự phân hóa v ề thu nhập và tài s ản, gia
tăng bất công xã h ội. Nh ư ở nước ta hi ện nay, ch ẳng hạn, chính sách thu
hồi đất công nghi ệp, khu đô thị, sân golf ph ục vụ quá trình đô thị hóa, công
nghiệp hóa, bên c ạnh những tác động tích c ực tới quá trình phát tri ển nông
thôn, đã tạo ra s ự bất cập lớn, dẫn đến nh ững xung đột tại nông thôn, đặc
biệt là đối với nông dân b ị thu hồi đất. Trong quá trình đổi mới cơ cấu của
nền kinh t ế, nhiều ngành, ngh ề mới được tạo ra đã tạo điều kiện cho ng ười
nông dân có c ơ hội tìm ki ếm vi ệc làm, nh ưng nh ững ng ười nông dân x ưa
nay sống gắn bó với đồng ruộng, trình độ nhận thức cũng như trình độ nghề
nghiệp còn nhi ều hạn chế, vì v ậy, họ khó có th ể trực tiếp tham gia vào các
ngành ngh ề mới. Do v ậy, đa số nông dân th ất nghi ệp, họ tràn ra thành ph ố
bán sức lao động rẻ mạt gây quá t ải cho thành ph ố cả về kinh t ế, xã hội và
môi tr ường. Bên c ạnh đó, ngay ở nông thôn, quá trình phân hóa thu nh ập,
giàu nghèo di ễn ra v ới tốc độ nhanh h ơn gi ữa nh ững ng ười có c ơ hội ti ếp
cận được với những ngành ngh ề phi nông nghi ệp và bi ến động giá đất với
những ng ười không có c ơ hội trên. V ấn đề khó kh ăn là làm th ế nào để
chuyển một bộ ph ận nông dân m ất đất thành th ị dân, tr ở thành ng ười lao
động trong các ngành ngh ề phi nông nghi ệp. Đây là v ấn đề quan tr ọng và
cấp bách, tuy nhiên, th ực tế thời gian qua, chúng ta ch ưa có các chính sách
và giải pháp thực sự hữu hiệu giải quyết bài toán khó kh ăn này.
62
Rõ ràng là, trong điều ki ện KTTT định hướng XHCN, mỗi chính sách
phát triển trong từng bước và cả quá trình đều ph ải chứa đựng nội dung của
CBXH. Chính sách phát tri ển, ngoài vi ệc đảm bảo tuân th ủ nghiêm ng ặt các
quy luật của KTTT như quy luật cung cầu, cạnh tranh, lợi nhuận,…phải luôn
hướng tới các nguyên tắc CBXH, coi đó như là yếu tố quan trọng cấu thành nội
dung và tiêu chí hiệu quả cho từng chính sách. Có như vậy, KTTT mới thực sự
song hành cùng với công bằng và tiến bộ xã hội, vừa đảm bảo được mục tiêu
phát triển kinh tế, vừa đảm bảo mục tiêu xã hội nhân văn.
2.3. KINH NGHI ỆM THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG M ỘT SỐ
MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TRÊN THẾ GIỚI
2.3.1. Kinh nghiệm thực hiện công bằng xã hội trong mô hình kinh tế
thị trường tự do
Mỹ là qu ốc gia tiêu bi ểu cho mô hình này v ới quan điểm chủ đạo là
tăng trưởng kinh tế đối lập với CBXH và t ăng trưởng kinh tế được thực hiện
bằng sự gia tăng bất bình đẳng trong thu nhập của người dân.
Quan điểm này xuất phát từ tư tưởng của nhà kinh t ế học cổ điển Anh
David Ricardo (1772 - 1823), ông cho r ằng, kinh tế phát triển phải được đảm
bảo bằng mức thu nh ập cao c ủa tầng lớp tư sản, do đó, ông luôn ch ống lại
việc điều tiết thu nhập theo hướng bất lợi cho giai cấp tư sản.
A.Lewis (1915 - 1991), nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng, bất bình đẳng
trong phân phối thu nhập sẽ tăng trong thời kỳ đầu và chỉ sau khi đã đạt được
sự phát triển cao thì mới giảm đi. Theo ông, bất bình đẳng là nguyên nhân thúc
đẩy sự phát triển kinh tế, vì thế, những cố gắng phân phối lại một cách vội vã
sẽ có nguy cơ bóp chết tăng trưởng kinh tế. Sự tăng lên nhất thời của bất bình
đẳng là cái giá phải trả tất yếu cho sự thành công của tăng trưởng kinh tế.
Xét về thực chất, các lý thuy ết trên đây đã luận chứng cho một mô hình
kinh tế chủ yếu đem lại lợi ích cho giai c ấp tư sản và gây thi ệt hại cho đa số
người lao động. Thực tiễn phát triển của các nước theo mô hình KTTT tự do,
63
điển hình là M ỹ đã chứng minh những nghịch lý cơ bản của quan điểm trên.
Nền kinh tế tăng trưởng cao, nhưng đa số dân cư nghèo, hàng hóa sản xuất ra
không tiêu thụ được dẫn đến sản xuất bị đình trệ, bế tắc, trong nền kinh tế đã
có những cuộc khủng hoảng thừa, hàng hóa ph ải tiêu hủy trong khi đời sống
của nhân dân ngày càng thi ếu thốn. Sự bất bình đẳng ngày càng t ăng gây ra
những phức tạp về xã hội, chính tr ị, thậm chí cả đạo đức. Mặc dù chính ph ủ
Mỹ đã có cố gắng thực hiện các chính sách phúc lợi và bảo đảm xã hội như đề
ra các chương trình phiếu thực phẩm, hỗ trợ người nghèo, trợ giúp y tế, nhà ở,
bảo hi ểm xã h ội, th ất nghi ệp,…nhưng đó ch ỉ là s ự điều ph ối một ph ần nhỏ
trong tổng giá tr ị lợi nhuận do xã h ội tạo ra, và nh ững người nghèo cũng chỉ
được hưởng một ph ần rất nh ỏ. Các k ết qu ả kh ảo sát mới nh ất của các nhà
kinh tế học tới từ các tr ường Đại học Clifornia, Đại học Oxford cho th ấy
khoảng cách giàu nghèo ở Mỹ đang “giãn rộng” hơn bao gi ờ hết. Chính ph ủ
Mỹ luôn n ỗ lực nh ằm khắc ph ục cu ộc kh ủng ho ảng kinh t ế góp ph ần ki ềm
chế tình tr ạng gia tăng phân hóa giàu nghèo, song t ừ năm 1980 kho ảng cách
luôn tăng đều. Hiện nay, 1% ng ười giàu nhất nước Mỹ đang nắm giữ khoảng
hơn 40% tổng tài sản quốc gia, cuộc đại suy thoái 2007 - 2009 khi ến 1% tầng
lớp người giàu có nh ất nước Mỹ mất đi 36% thu nh ập, trong khi 99% nh ững
người còn lại bị mất 11%. Tuy nhiên, cho đến nay, sau ba năm suy thoái, 1%
tầng lớp giàu có nh ất nước Mỹ đã nhanh chóng ph ục hồi, trong khi 99% còn
lại không có dấu hiệu phục hồi [155].
Bản chất của KTTT tự do là phó m ặc cho th ị trường tự điều tiết. KTTT
tự do đã thừa nhận bất công xã h ội không gi ới hạn, nhằm gia tăng tối đa lợi
ích của giới chủ tư bản và đẩy người lao động tới tình tr ạng đói nghèo, bần
cùng hóa, khoảng cách giàu, nghèo ngày càng gia t ăng. Có thể khái quát, vấn
đề có tính qui lu ật của mô hình kinh tế này là: lợi nhuận tối đa, công bằng tối
thiểu; kinh tế khủng hoảng; xã hội luôn ẩn chứa xung đột xã hội. Đây là điều
chính những nhà tư sản cũng nhận ra và th ực hiện việc chuyển sang mô hình
kinh tế thị trường xã hội.
64
Từ bài học kinh nghiệm xuất phát từ thực tiễn mô hình KTTT t ự do cho
thấy, CBXH chỉ có thể được thực hiện đầy đủ, toàn diện, tạo động lực thực sự
cho sự phát triển bền vững của nền KTTT khi nó hướng tới lợi ích thực sự của
đông đảo nhân dân; coi vi ệc đảm bảo và gia tăng lợi ích của nhân dân là định
hướng phát triển của chính nền KTTT. Nói cách khác, sự thống nhất giữa phát
triển KTTT và th ực hi ện CBXH ph ải là s ự thống nh ất từ bên trong, là m ục
đích tự thân, quy định bản chất, khuynh hướng phát triển của nền KTTT. Mặc
dù mô hình KTTT tự do thúc kinh t ế tăng trưởng, tuy nhiên, xuất phát từ bản
chất của thể chế, “pháp quyền tư sản”, dù có nh ững nỗ lực đáng kể, song mô
hình này không th ể khắc phục được những mâu thu ẫn, khủng hoảng vốn có.
Không phải cứ tăng trưởng kinh tế cao là t ự khắc có CBXH. B ởi vì khi c ủa
cải vật chất tập trung trong tay một số người, họ trở thành những người có thế
lực không ch ỉ về kinh t ế mà còn v ề chính tr ị. Nhà n ước tr ở thành công c ụ
phục vụ cho nhóm người giàu có. Sự nghèo khổ của dân chúng trở thành mối
nguy cơ đe dọa TTKT và sự ổn định xã hội, và do vậy, đây không phải là mô
hình phù hợp đối với việc thực hiện CBXH toàn diện và bền vững.
2.3.2. Kinh nghiệm thực hiện công bằng xã hội trong mô hình kinh tế
thị trường xã hội
Sau Đại chiến thế giới lần thứ hai, trước áp lực đấu tranh của quần chúng
nhân dân lao động, các chính ph ủ ở nhiều nước Tây Âu và B ắc Âu đã thực
hiện chủ trương chuyển từ nền KTTT tự do sang nền KTTT xã hội dựa trên lý
thuyết của J.M.Keynes, ngh ĩa là kết hợp sử dụng cơ chế thị trường với việc
thi hành một hệ thống chính sách phúc l ợi xã hội để đảm bảo sự đồng thuận
xã hội cho phát triển.
Điển hình mô hình phát tri ển này là Th ụy Điển và các n ước Bắc Âu.
Ngay từ năm 1932, P.A. Hasson, lãnh t ụ Đảng xã hội - dân ch ủ Th ụy Điển
(tức đảng cẩm quyền) đã đưa ra khái ni ệm “ngôi nhà cho t ất cả mọi người”
với nội dung cơ bản là bảo đảm an sinh xã h ội, điều này đạt được thông qua
65
việc phá bỏ mọi hàng rào ng ăn cách về xã hội và kinh t ế trong xã h ội. Ông
Gustav Moller - B ộ trưởng phụ trách các v ấn đề xã hội trong nhi ều năm và
được gọi là “kiến trúc sư của nhà nước phúc lợi Thụy Điển” đã đề xuất chính
sách mà từ đó, Thụy Điển luôn theo đuổi, đó là: các ch ương trình xã hội phải
là các quyền lợi chung, chứ không thể được coi là lòng từ thiện.
Khác v ới mô hình M ỹ và các n ước TBCN khác, ở Thụy Điển và các
nước Bắc Âu, nhà nước tham gia tích cực vào đời sống kinh tế - xã hội nhằm
tạo ra một xã hội thịnh vượng và một nhà nước phúc lợi toàn dân. Xu ất phát
từ chỗ coi CBXH là mục tiêu của mọi chính sách kinh t ế - xã hội, Thụy Điển
đã xây dựng một hệ thống phúc lợi chung và m ột hệ thống bảo hiểm xã hội
quy mô lớn. Nhà nước chủ động điều tiết thu nhập, thu hẹp khoảng cách thu
nhập gi ữa các t ầng lớp dân c ư thông qua thu ế và h ệ th ống bảo hi ểm. Vi ệc
kết hợp giữa KTTT với sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, với việc mở rộng
phúc lợi xã hội và lợi dụng triệt để các điều kiện quốc tế thuận lợi, đã tạo ra
hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội rất cao. Trong một thời gian ngắn (1938 -
1950), Th ụy Điển và các n ước Bắc Âu t ừ những nước nghèo nh ất châu Âu
đã trở thành một trong nh ững nước giàu có trên th ế giới, mức sống của toàn
dân khá cao và khá đồng đều, hệ thống bảo trợ xã hội thuộc loại tốt nhất trên
thế gi ới nh ư y t ế, giáo d ục, ch ăm sóc ng ười già y ếu đều rất thu ận ti ện và
không mất tiền.
Tuy nhiên, ở Th ụy Điển, chính sách thu ế khóa đóng vai trò đặc bi ệt
quan trọng, nguồn thu từ thuế là kinh phí để thực hiện các chương trình xã hội
của chính phủ và cân bằng múc thu nh ập của các tầng lớp dân cư. Vì vậy, để
các ho ạt động này đạt kết qu ả cần kinh phí r ất lớn và ngày càng bu ộc nhà
nước phải tăng thuế khóa, tập trung vào nh ững người có thu nh ập cao. Thu ế
quá cao, cùng v ới mức lương bình quân được cải thi ện và ngày càng t ăng,
phúc lợi xã hội lớn, dẫn đến số đông người dân dễ lạm dụng các tr ợ cấp xã
hội. Họ không tích cực làm việc, che giấu thu nhập, chống thuế và hoạt động
“kinh tế ngầm”; những người thất nghiệp không muốn tìm việc làm. Các ch ủ
66
tư bản tìm cách đầu tư ra nước ngoài để tránh thuế lũy tiến đánh vào thu nhập,
dẫn đến thất thu ngân sách ngày càng lớn, đó là nguy cơ đối với sự hoạt động
bình thường và hiệu quả của mô hình này. KTTT ở Thụy Điển đã có lúc lâm
vào suy thoái, và “nhà n ước xã hội” đã có nh ững biểu hi ện ki ệt sức, Chính
phủ Thụy Điển đã phải liên tục thực hiện việc cắt giảm các khoản phúc lợi xã
hội, để nhằm duy trì sự tồn tại của nền kinh tế.
Như vậy, mô hình KTTT xã h ội ở Th ụy Điển và các n ước Bắc Âu có
nhiều ưu điểm đối với vi ệc th ực hi ện CBXH, song, nó c ũng không đủ đảm
bảo CBXH b ền vững. Th ực ti ễn đã ch ứng minh rằng, khó có th ể có CBXH
đầy đủ một khi chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất giữ vai trò thống trị
trong xã h ội. CBXH ở đây chỉ là cái gi ới hạn để bất công b ằng không vượt
quá thành xung đột xã hội và cách mạng xã hội. Nói cách khác, trong mô hình
kinh tế này, công b ằng xã hội được thực thi tr ước tiên dựa trên nền tảng lợi
ích của giai cấp tư sản, ch ứ không hoàn toàn d ựa trên l ợi ích của đông đảo
quần chúng nhân dân. Do v ậy, những gi ải pháp xã h ội đã không được gi ải
quyết một cách triệt để; chưa tạo sự thống nhất, hài hòa giữa tăng trưởng kinh
tế và tiến bộ, CBXH. Những chính sách xã hội không đem lại lợi ích căn bản
và toàn di ện cho nhân dân và th ậm chí đã làm tri ệt tiêu động lực của tăng
trưởng. Xét về tổng thể, mô hình KTTT xã h ội cũng không phải là gi ải pháp
phù hợp cho phát triển kinh tế và thực hiện CBXH.
2.3.3. Kinh nghiệm thực hiện công bằng xã hội trong mô hình kinh tế
thị trường xã hội chủ nghĩa Trung Quốc
Tháng 12 n ăm 1978, Đảng cộng sản Trung Qu ốc đã kh ởi xướng công
cuộc cải cách, mở cửa với quan điểm xây dựng CNXH “đặc sắc Trung Quốc”.
Trung Qu ốc đặt tr ọng tâm phát tri ển kinh t ế, từ đó tạo cơ sở để th ực hi ện
CBXH, trong gần 35 năm cải cách vừa qua, Trung Quốc đã kiên trì, nhất quán
thực hi ện chủ trương xây dựng KTTT xã h ội ch ủ nghĩa, duy trì t ốc độ tăng
trưởng nhanh, từng bước thực hiện CBXH với mục tiêu đặt ra là “ưu tiên hiệu
quả, chiếu cố công bằng, tiến tới cùng giàu có ”. Công cuộc cải cách, mở cửa
67
của Trung Qu ốc đã đạt được những kết qu ả to l ớn, tốc độ TTKT cũng nh ư
mức thu nh ập bình quân đầu ng ười không ng ừng nâng cao, các ti ềm năng
kinh tế được giải phóng, trình độ, năng lực sản xuất của người dân ngày càng
được cải thiện. Về mặt xã hội, thông qua các chính sách phân ph ối thu nh ập,
chính sách thu ế và hệ thống phúc lợi, bảo hiểm xã hội, lợi ích của đông đảo
nhân dân ngày càng được bảo đảm. Bên cạnh đó, Trung Qu ốc tiến hành cải
cách thể chế chính trị theo bốn nguyên tắc và đạt hiệu quả cao, đó là: mở rộng
dân chủ XHCN, kiện toàn pháp chế XHCN, quản lý đất nước bằng pháp luật,
xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.
Tuy nhiên, bên c ạnh nh ững thành t ựu to l ớn đã đạt được, Trung Qu ốc
hiện nay đang phải đương đầu với những thử thách không nh ỏ. Do tập trung
cao độ cho tăng trưởng kinh tế, nên các vấn đề xã hội không được giải quyết
hiệu quả. Cùng v ới nh ững thành tựu vượt bậc về kinh tế thì tình tr ạng phân
tầng xã hội, hố ngăn cách về khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền ngày
càng đẩy xa thêm. Vì th ế, Hội nghị Trung ương 6, khóa XVI c ủa Đảng Cộng
sản Trung Qu ốc (10/2006) đã quyết định một số vấn đề quan tr ọng về “xây
dựng CNXH hài hòa”, th ể hiện rõ mục tiêu chuyển đổi mô hình phát tri ển xã
hội trong điều kiện KTTT, giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và xã hội, khắc
phục các mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và bất công xã hội tăng cao.
Đặc biệt là, Hội nghị đã nêu lên 6 nội dung xây dựng xã hội lấy dân sinh
làm trọng điểm: Phát triển giáo dục, xây dựng cường quốc nhân lực; thực hiện
chiến lược phát tri ển việc làm, thúc đẩy quá trình lập nghiệp; đi sâu cải cách
chế độ phân phối thu nhập, tăng thu nhập cho cư dân thành th ị và nông thôn;
xây dựng ch ế độ y t ế cơ bản, nâng cao s ức kh ỏe cộng đồng; hoàn thi ện hệ
thống quản lý xã hội; duy trì cục diện đoàn kết, ổn định xã hội. Nhằm đạt mục
tiêu xây dựng xã hội khá giả toàn diện, Trung Quốc đẩy nhanh sự nghiệp cải
cách toàn diện đời sống của nhân dân, chú trọng phát triển sự nghiệp giáo dục
đào tạo, đặc biệt là đào tạo nhân tài sáng t ạo mới. Giải quyết tốt chính sách
68
việc làm, hệ thống an sinh xã h ội bao phủ lên cư dân thành th ị và nông thôn
cơ bản được xây dựng, mọi người đều được hưởng sự bảo đảm mức sống cơ
bản. Cục diện phân phối thu nhập hợp lý được hình thành, người có thu nh ập
trung bình chiếm đa số, hiện tượng nghèo khổ tuyệt đối cơ bản không còn.
Có thể nói, xây dựng xã hội hài hòa theo quan điểm điều chỉnh lợi ích và
cải cách dân sinh là điểm cốt lõi trong mô hình phát tri ển của Trung Qu ốc.
Trong quá trình cải cách, Trung Quốc đã chú trọng vận dụng các quy luật của
KTTT vào phát triển xã hội; chấp nhận những bất công xã hội nhất định nhằm
đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế; huy động tối đa các nguồn lực cho phát tri ển,
đặc biệt là phát huy vai trò c ủa khu vực kinh tế tư nhân. Nhà nước từng bước
chuyển từ nhà nước quản trị sang nhà n ước dịch vụ công. Tuy nhiên, trong
quá trình phát tri ển, Trung Quốc do mục tiêu phát tri ển kinh tế nhanh chóng,
hướng tới gia tăng quyền lực và vị thế chính trị, cho nên đã không đảm bảo sự
cân đối, hài hòa trong tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công
bằng, tiến bộ xã hội. Hiện nay, Trung Quốc mặc dù đã đạt được những thành
tựu to lớn, nhưng cũng đang phải đối mặt với hàng lo ạt những khó khăn, thử
thách đặt ra về tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng, tiến bộ xã hội.
Thông qua kh ảo sát các lý thuy ết và th ực ti ễn th ực hi ện CBXH trong
điều kiện KTTT ở một số mô hình tiêu bi ểu, có th ể khái quát nh ững bài học
kinh nghiệm chủ yếu như sau:
Thứ nh ất, phát tri ển kinh t ế và th ực hi ện CBXH luôn là yêu c ầu quan
trọng đặt ra đối với tất cả các qu ốc gia, dân tộc trong các th ời kỳ khác nhau,
tuy nhiên, để thực hiện được mục tiêu này, cần phải lựa chọn và xây dựng mô
hình phù hợp. Muốn phát triển, phải đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế nhằm giải
phóng các năng lực sản xuất, tạo ra ngày càng nhi ều của cải vật chất cho xã
hội, tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần, chưa phải là điều kiện đủ
của một xã hội phồn vinh. Nếu tuyệt đối hóa tăng trưởng, phó mặc cho cơ chế
thị trường điều tiết, sẽ dẫn tới bất công, đói nghèo, xung đột và kh ủng hoảng
69
kinh tế - xã h ội, do vậy, các chính sách kinh t ế luôn ph ải được thực hiện gắn
với các chính sách xã h ội trong tất cả các giai đoạn phát tri ển của KTTT, có
như vậy mới tạo động lực thực sự, mới phát huy sức mạnh tổng hợp về kinh tế
và xã hội cho phát triển.
Tuy nhiên, nếu tuyệt đối hóa các chính sách phúc lợi xã hội sẽ tạo sự mất cân
đối giữa kinh tế và xã hội, làm triệt tiêu các động lực phát triển kinh tế, đặc biệt là
nguồn lực con người và kết quả là không chỉ kinh tế suy giảm mà bản thân các
chính sách phúc lợi xã hội cũng sẽ không phát huy vai trò đầy đủ, CBXH không
được bảo đảm thực sự. Trên thực tế sẽ không nên và không th ể th ực hiện các
chính sách bảo đảm xã hội tách rời với chính sách khuyến khích TTKT.
Thứ hai, nhà nước có vai trò to lớn trong việc quản lý, điều tiết nền KTTT
vì mục tiêu CBXH; nền KTTT càng phát tri ển hiện đại, vai trò của nhà nước
càng phải được khẳng định và phát huy. Nhà nước bảo đảm công bằng, khơi dậy
mọi tiềm năng sáng tạo của người lao động thông qua cơ chế và biện pháp quản
lý dân chủ; nhà nước lựa chọn những khâu phát triển đột phá, nhạy bén với cái
mới và xử lý linh ho ạt gắn với tầm nhìn chiến lược lâu dài. Trên th ực tế, nhà
nước thực hiện CBXH đến đâu, mức độ nào, có triệt để hay không, phụ thuộc và
được quyết định chủ yếu vào bản chất của nhà nước. Nhà nước với tính cách là
công cụ thực hiện và bảo đảm CBXH thực sự phải là nhà nước pháp quyền của
dân, do dân và vì dân. Đó là nhà nước đem lại quyền dân chủ cho mọi công dân,
bảo vệ và bảo đảm cho nhân dân th ực thi quyền làm chủ của mình. Nhà nước
không có lợi ích nào ngoài l ợi ích của nhân dân. Th ực hiện mục tiêu qu ản lý,
phát triển nền KTTT và thực hiện CBXH phải xuất phát từ mục đích tự thân, là
tôn chỉ hoạt động và thước đo hiệu quả của nhà nước đó.
Thứ ba, CBXH chỉ được thiết lập và bảo đảm khi gắn với chế độ xã hội tiến
bộ thực sự, qua đó, mọi chiến lược phát triển của quốc gia đều phải hướng tới con
người, vì lợi ích chân chính của con người. Con người luôn được xác định vừa là
mục tiêu, vừa là động lực của phát triển xã hội; tương quan lợi ích của mỗi cá
nhân, nhóm xã hội và toàn xã hội luôn được bảo đảm hài hòa, thống nhất.
70
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
CBXH là khát khao cháy bỏng, là nỗ lực vươn tới của con người, mỗi bước
tiến của nền văn minh, tiến bộ nhân loại đều gắn với những thành quả đạt được
của con người về CBXH. Tuy nhiên, CBXH lại luôn thể hiện tính đa dạng trong
nhận thức và thực thi, sự đa dạng đó là tất yếu bởi CBXH là phạm trù mang tính
lịch sử, tính giai cấp, gắn với truyền thống tư tưởng, văn hóa cũng như trình độ
phát triển của các quốc gia, khu vực, các thời đại lịch sử khác nhau.
Lý luận và th ực ti ễn đã ch ứng minh sự tác động, ảnh hưởng to lớn của
KTTT đối với việc thực hiện CBXH và sự tác động tích cực trở lại của CBXH
đối với quá trình vận động và phát tri ển của nền KTTT. Đã có nhiều mô hình
tiêu biểu, với những thành công, hạn chế và những bài học kinh nghiệm quý giá
được rút ra, tuy nhiên cho đến nay, thực hiện CBXH vẫn đang là một khó khăn,
thử thách to lớn đối với tất cả các quốc gia, dân tộc trong thời đại ngày nay.
Trong điều kiện KTTT định hướng XHCN, CBXH chịu sự tác động, chi
phối không ch ỉ bởi nh ững quy lu ật phổ bi ến của KTTT, mà còn b ởi nh ững
nguyên tắc, bản chất của CNXH, điều này quy định những vấn đề có tính quy
luật khách quan của việc thực hiện CBXH ở nước ta, đó là: CBXH trong điều
kiện KTTT định hướng XHCN là sự công bằng trên cơ sở thừa nhận bất công
bằng xã hội trong gi ới hạn; thực hiện CBXH là vi ệc giải quyết mối quan hệ
giữa TTKT với tiến bộ, CBXH; CBXH được thực hiện từng bước, trong từng
chính sách và trong su ốt quá trình phát tri ển. Chính tính quy lu ật khách quan
này đã phản ánh tính thống nhất và tính đặc thù trong việc thực hiện CBXH ở
nước ta, trên cơ sở đó xác định đúng đắn những mục tiêu, nhiệm vụ mà chúng
ta cần phải tiếp tục th ực hi ện; những cơ hội và điều kiện chúng ta c ần ph ải
tranh th ủ vận dụng và nh ững khó kh ăn, thách th ức chúng ta ph ải vượt qua
nhằm tiếp tục thực hiện CBXH, tiếp tục phát triển KTTT định hướng XHCN,
tạo sự tương tác thống nhất, ổn định và phát triển trên con đường đi tới xã hội
công bằng, dân chủ, tiến bộ và phồn vinh.
71
Chương 3
THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Ở VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
3.1. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
3.1.1. Những thành tựu đạt được
Về nhận thức
Bước vào th ời kỳ đổi mới, đứng tr ước nh ững khó kh ăn, kh ủng ho ảng
kinh tế - xã hội, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật,
nói rõ sự thật”, Đảng ta đã từng bước đổi mới tư duy, trong đó có nội dung
trọng tâm là phát triển KTTT định hướng XHCN và thực hiện CBXH.
Trong lĩnh vực phân phối nhằm thực hiện CBXH, nếu như Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VI khẳng định cần thiết phải khắc phục tình trạng phân phối
bình quân, thực hiện phân phối theo lao động, thì đến Đại hội VII, đã có sự bổ
sung và phát tri ển mới, đó là: “phân ph ối theo ngu ồn vốn đóng góp vào s ản
xuất kinh doanh” [28, tr47]. Đây là nguyên tắc phân phối công bằng, phù hợp
với hoàn cảnh nước ta trong th ời kỳ quá độ lên CNXH, qua đó thu hút được
được nhi ều nguồn lực cho phát tri ển kinh tế - xã h ội. Đại hội Đảng lần th ứ
VIII bổ sung thêm hình th ức phân ph ối thông qua “phúc l ợi xã h ội” nh ằm
hướng tới hiệu quả xã hội, hạn chế sự phân hóa giàu nghèo và b ất bình đẳng
xã hội. Đại hội Đảng lần thứ XI ti ếp tục bổ sung nội dung mới về phân ph ối
nhằm thực hiện CBXH, đó là phân ph ối thông qua “hệ thống an sinh xã hội”.
Sự kết hợp giữa chính sách phúc l ợi xã h ội và an sinh xã h ội là hết sức cần
thiết nhằm bảo vệ sự an toàn cho cuộc sống của người dân, đối phó với những
rủi ro từ hoàn cảnh xã hội và hoàn cảnh tự nhiên, qua đó duy trì sự ổn định và
phát triển xã hội.
72
Như vậy, càng về sau, quan điểm của Đảng về phân ph ối càng được bổ
sung, phát triển phù hợp, điều này thể hiện tính linh ho ạt, sáng tạo trong việc
xử lý các tương quan lợi ích xã hội dựa trên nguyên tắc công bằng trong điều
kiện KTTT định hướng XHCN, v ừa phát huy vai trò c ủa mỗi cá nhân, v ừa
phát huy vai trò của cả cộng đồng xã hội. Đây là sự bổ sung quan trọng vào lý
luận chủ nghĩa Mác - Lênin v ề phân ph ối trong th ời kỳ quá độ lên CNXH ở
một nước nông nghiệp, chưa qua giai đoạn phát triển TBCN như ở nước ta.
Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến bộ, CBXH cũng được
được Đảng ta nh ận thức phù hợp. Văn kiện Đại hội Đảng toàn qu ốc lần thứ
VIII kh ẳng định: “T ăng tr ưởng kinh t ế ph ải gắn li ền với ti ến bộ và CBXH
ngay trong t ừng bước và trong su ốt quá trình phát tri ển [29, tr.113]. Đây là
mô hình đặc trưng thể hiện triết lý phát tri ển hoàn toàn phù h ợp ở Việt Nam,
với mô hình này, mỗi bước phát triển kinh tế phải gắn liền với việc giải quyết
những vấn đề xã hội; mỗi thành quả TTKT phải được tính toán hợp lý vừa tái
đầu tư cho phát tri ển kinh t ế, vừa đầu tư cho phát tri ển xã h ội, tạo sự phát
triển ổn định và bền vững.
Trong sự nghi ệp đổi mới, xây d ựng CNXH, đảng ta luôn kh ẳng định,
thực hiện CBXH là một trong những mục tiêu, động lực cơ bản. Do vậy, trong
các giai đoạn phát tri ển của đất nước, nhiệm vụ th ực hi ện CBXH luôn ph ải
được đặt ra, gi ải quyết vừa có ý ngh ĩa cấp thiết, vừa có ý ngh ĩa lâu dài. V ăn
kiện Đại hội X đã khẳng định: “Thực hiện tiến bộ và CBXH ngay trong t ừng
bước và từng chính sách phát triển” [31, tr101]. Đây là chủ trương nhất quán,
phản ánh tính quy lu ật phát tri ển của đất nước trong th ời kỳ quá độ và bản
chất tốt đẹp của xã hội ta.
Có thể nói, qua các kỳ Đại hội Đảng, với tinh thần cầu thị, thường xuyên
tổng kết th ực ti ễn và phát tri ển lý lu ận, vấn đề CBXH ngày càng được bổ
sung và phát tri ển phù hợp. Cho đến nay, có th ể khái quát quan điểm chung
về CBXH của Đảng ta như sau:
73
Thứ nhất, CBXH là bản chất, mục tiêu và động lực của CNXH.
Thứ hai, CBXH là s ự tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ của các
cá nhân, nhóm xã hội trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó, lĩnh vực
kinh tế đóng vai trò ch ủ đạo. CBXH được th ực hi ện trên c ơ sở đảm bảo
nguyên tắc phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế làm chủ yếu,
kết hợp với các hình th ức phân phối theo mức đóng góp vốn cùng các ngu ồn
lực khác và phân phối thông qua hệ thống phúc lợi xã hội, an sinh xã hội.
Thứ ba, trong điều ki ện KTTT định hướng XHCN, CBXH được th ực
hiện gắn liền với TTKT trong t ừng bước và cả quá trình phát tri ển. TTKT là
điều kiện để thực hiện CBXH và ngược lại, thực hiện CBXH là động lực thúc
đẩy TTKT.
Thứ tư, CBXH tạo cơ hội và điều kiện phát triển cho mọi người nhằm sử
dụng tốt năng lực của mình trong quá trình cống hiến và hưởng thụ.
Về thực tiễn
Quán triệt các quan điểm của Đảng vào th ực tiễn xây dựng KTTT định
hướng XHCN và th ực hiện CBXH, cho đến nay, nước ta đã đạt được những
thành tựu quan trọng:
- Một là, từng bước đảm bảo công b ằng trong sản xuất kinh doanh c ủa
các chủ thể kinh tế.
Trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà n ước đã có nhi ều cố
gắng trong vi ệc tạo cơ hội và điều kiện đảm bảo CBXH trong s ản xuất, kinh
doanh của các ch ủ thể kinh t ế, qua đó phát huy tính t ự chủ của các ch ủ th ể
kinh tế, khuyến khích làm giàu h ợp pháp, chống cạnh tranh không lành mạnh
và thu nhập bất hợp pháp…Trước tiên đó là hệ thống pháp luật và chính sách
của Nhà nước ngày càng được xây dựng và hoàn thiện tạo môi trường pháp lý
bình đẳng cho các thành ph ần kinh tế phát triển. Từ năm 1990 đến nay, Quốc
Hội đã thông qua nhiều đạo luật và luật quan trọng. Trước hết phải kể đến đó
là Luật Công ty và Lu ật Doanh nghiệp tư nhân (1990) được ban hành tạo cho
74
các ch ủ th ể có nh ững điều kiện để th ực hi ện các quy ền tự do lựa ch ọn lo ại
hình và quy mô kinh doanh; tự do lựa chọn thị trường; tự do hợp đồng và thuê
mướn nhân công, t ự do lựa chọn phương thức giải quyết các tranh ch ấp kinh
tế…Luật Dân s ự (1996) và Lu ật Th ương mại (1997) đã xác định nh ững
nguyên tắc, quy ph ạm khuyến khích c ạnh tranh trong khuôn kh ổ pháp lu ật,
chống cạnh tranh phi pháp, không phù h ợp với công bằng và ti ến bộ xã hội.
Bộ Luật đất đai (2004), Luật Doanh nghi ệp, Luật Đầu tư (2005), cũng đã tạo
cơ sở pháp lý khuy ến khích đầu tư, phát tri ển, bảo vệ lợi ích của các doanh
nghiệp cũng như của nhân dân.
Những năm gần đây, Quốc Hội đã thông qua hàng lo ạt các đạo luật mới
tiếp tục điều chỉnh theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất,
kinh doanh của các chủ thể kinh tế như: Luật Giá (6/2012), Bộ luật Lao động
(6/2012), Luật Hợp tác xã (11/2012); s ửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Thuế giá trị gia tăng (6/2013), sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thuế thu
nhập doanh nghiệp (6/2013) v.v..
Trong điều kiện môi tr ường pháp lý ngày càng thông thoáng, tính n ăng
động và ch ủ động xã hội của các ch ủ thể kinh tế được phát huy; m ọi người
dân có nhi ều cơ hội và điều kiện hơn trong vi ệc tìm ki ếm việc làm, gia t ăng
thu nhập, đầu tư, phát triển vì lợi ích của mình và của toàn xã hội.
Cùng với xây dựng và hoàn thi ện pháp lu ật, trong nh ững năm đổi mới
vừa qua, Nhà n ước cũng đã tích c ực xây dựng và th ực hi ện các chính sách
phát triển thị trường, tạo sự thống nhất hữu cơ giữa các lo ại thị trường, đó là
các thị trường hàng hóa, dịch vụ sức lao động, tư liệu sản xuất, vốn, khoa học
công nghệ, v.v..Trong các lo ại thị trường nêu trên, chúng ta đã quan tâm hơn
đến việc xây dựng chính sách để phát tri ển thị trường lao động nhằm tạo cơ
hội cho mọi ng ười có vi ệc làm, đảm bảo thu nh ập, ch ống đói nghèo và b ất
công xã h ội. Bên c ạnh đó, Nhà n ước còn quan tâm t ới vi ệc phát tri ển th ị
trường tiền tệ, khoa học công ngh ệ, thông tin, b ất động sản v.v,..đó là yếu tố
75
rất quan tr ọng để tăng năng su ất lao động xã h ội, nâng cao ch ất lượng sản
phẩm, sức cạnh tranh và thu được lợi nhuận cao. Đánh giá về thành tựu này,
Đảng ta kh ẳng định: “Hệ thống thị trường cơ bản (thị trường hàng hóa, d ịch
vụ, thị trường tài chính, th ị trường bất động sản, thị trường khoa học - công
nghệ, thị trường sức lao động) dần dần được hình thành, từng bước mở rộng,
phát triển thống nhất trong cả nước, liên kết khu vực và quốc tế” [31, tr20].
Trong điều kiện phát tri ển của nền KTTT định hướng XHCN, các thành
phần kinh tế được đối xử bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, ngày càng nỗ lực
vươn lên khẳng định vai trò, sức mạnh của mình. Kinh tế Nhà nước giữ vai trò
chủ đạo, kinh tế tập thể không ng ừng được củng cố và phát tri ển. Kinh tế nhà
nước cùng với kinh tế tập th ể tạo thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế
quốc dân. Điều đáng chú ý là thành phần kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định
vai trò là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Sự phát tri ển của
thành phần kinh tế tư nhân đã kéo theo một loạt những động thái tích cực thúc
đẩy sự phát triển của KTTT như: khuyến khích đầu tư tài chính, khai thác các
tiềm năng về vốn; tạo ra nhiều việc làm và những cơ hội mới; tăng thu nhập xã
hội, tạo nên thị trường sôi động và có sức cạnh tranh hơn... Năm 2005, khu vực
kinh tế tư nhân đóng góp vào c ơ cấu giá tr ị sản phẩm trong nước là 8, 51%,
năm 2010 con số này là 10, 7% và năm 2013 lên tới 10,93% [90, tr 69].
Cùng với sự vươn lên mạnh mẽ của thành phần kinh tế tư nhân, thành phần
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng ngày càng khẳng định ưu thế phát triển.
Đóng góp vào cơ cấu giá trị sản phẩm trong nước của khu vực kinh tế đầu tư
nước ngoài ngày càng t ăng, năm 2005 là 15,16%; n ăm 2010 là 17,69%; n ăm
2013 là 19,55% [90, tr 69]. Hiện nay khu vực đầu tư nước ngoài đã tạo ra trên 2
triệu lao động trực tiếp và kho ảng 3 - 4 tri ệu lao động gián ti ếp, có tác động
mạnh đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH.
Chính vi ệc tạo cơ hội và điều ki ện tích c ực nh ằm đảm bảo cạnh tranh
bình đẳng giữa các thành ph ần kinh tế, các ch ủ thể kinh tế đã khai thông các
76
tiềm năng, ngu ồn lực phát tri ển, thúc đẩy toàn b ộ nền kinh t ế nước ta t ăng
trưởng nhanh và liên t ục nhi ều năm liền, quy mô n ền kinh t ế không ng ừng
được mở rộng. Tốc độ TTKT bình quân h ằng năm giai đoạn 1991 - 1995 đạt
8,2%, giai đoạn 1996 - 2000 đạt 7%, giai đoạn 2001 - 2005 đạt 7,51% và giai
đoạn 2006 - 2010 đạt 7% [65, tr.132]. Việt Nam thuộc nhóm có tốc độ TTKT
vào loại cao nhất trong khu vực. Năm 2011 tăng trưởng GDP đạt 6,24%. Năm
2012, mặc dù bị ảnh hưởng từ diễn biến phức tạp của kinh tế toàn cầu cùng
với chính sách th ắt chặt tài khoá và ti ền tệ trong nước để kiềm chế lạm phát
nên gặp nhiều khó kh ăn, tuy nhiên, v ới sự nỗ lực của cả hệ thống chính tr ị,
cộng đồng doanh nghi ệp và nhân dân c ả nước nên kinh t ế có nh ững chuyển
biến tích c ực và đúng hướng. Tăng tr ưởng kinh t ế ở mức hợp lý là 5,25%.
Năm 2013 tăng trưởng quý sau cao h ơn quý tr ước (quý I t ăng 4,76%, quý II
tăng 5%, quý III t ăng 5,54%, quý IV t ăng 6,04%), cả năm tăng 5,42%. Năm
2014, tốc độ TTKT đạt 5,98%, vượt mục tiêu, kế hoạch đặt ra. Sản xuất công
nghiệp, xây d ựng từng bước được ph ục hồi; khu v ực nông nghi ệp ti ếp tục
tăng trưởng ổn định; các ngành dịch vụ tăng trưởng khá [157].
- Hai là, phân phối các nguồn lực và phân phối thu nhập theo hướng đảm
bảo CBXH trong t ừng bước và c ả quá trình phát tri ển của nền KTTT định
hướng XHCN.
Việc thực hiện CBXH phụ thuộc khá lớn vào việc đầu tư, phân phối các
nguồn lực gi ải quy ết mối quan h ệ th ống nh ất gi ữa phát tri ển toàn b ộ nền
kinh tế và phát tri ển triển các vùng, mi ền, đảm bảo CBXH. Trên th ực tế đã
xuất hiện không ít nền kinh tế tăng trưởng cao nhưng kèm theo đó là khoảng
cách, chênh l ệch giữa các vùng, lãnh th ổ ngày càng l ớn. Sự phát tri ển phiến
diện này s ẽ tác động tiêu c ực tr ở lại tăng tr ưởng kinh t ế và t ạo nên s ự bất
bình đẳng lớn trong xã h ội. Trong th ời kỳ đổi mới, chúng ta đã lựa ch ọn
phương án thúc đẩy tăng trưởng toàn bộ nền kinh tế và khuyến khích đầu tư
phát tri ển vùng; t ạo lập nh ững khu v ực phát tri ển “đầu tàu”, đồng th ời tạo
77
điều kiện khuyến khích các vùng nghèo, khó kh ăn vươn lên. Đây là ph ương
án hết sức phù hợp vừa đáp ứng yêu cầu cạnh tranh của nền KTTT, vừa chủ
động điều ti ết vì nh ững mục tiêu hài hòa trong phát tri ển kinh t ế và gi ải
quyết những vấn đề xã hội.
Những chính sách của Nhà nước về đổi mới kinh tế, lựa chọn phương án
đầu tư đã làm thay đổi đáng kể cơ cấu vùng kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ
trọng của các trung tâm kinh t ế lớn nh ư: Thành ph ố Hồ Chí Minh, Bình
Dương, Vũng Tàu, Đồng Nai, Huế, Đà Nẵng, Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương,
Quảng Ninh…Bên cạnh đó, một số vùng nông thôn, vùng mi ền núi cũng đã
được quy ho ạch và xác định lại cơ cấu sản xuất, nên cơ cấu kinh tế đã được
thay đổi theo hướng khai thác th ế mạnh của từng vùng về đất đai, tài nguyên
thiên nhiên, lao động và vị trí địa lý một cách hợp lý hơn. Điển hình là các khu
vực trung du và miền núi phía Bắc, khu vực Tây Nguyên, những nơi được đánh
giá là giàu tài nguyên, khoáng sản, giàu tiềm năng thủy điện, du lịch v.v..
Chúng ta đã và đang đầu tư vào các chương trình và dự án lớn như Đường
Hồ Chí Minh, tr ồng 5 tri ệu ha rừng, Thủy điện Sơn La, Dự án lọc dầu Dung
Quất, nhà máy điện đạm Cà Mau, dự án lọc dầu Nghi Sơn…; các chương trình
thủy lợi, giao thông nông thôn, n ước sạch, kiên cố hóa tr ường học, y tế cộng
đồng và an toàn vệ sinh thực phẩm v.v..Trong các chương trình đó, có nhiều dự
án được tài trợ từ vốn đầu tư nước ngoài qua các tổ chức tài chính thế giới như
WB, ADB, IMF…Sự đầu tư đó đang và sẽ đem lại hiệu quả lớn, tạo điều kiện
cho các vùng khó kh ăn phát tri ển kinh tế - xã h ội, từng bước rút ng ắn chênh
lệch về đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân giữa các vùng.
Cùng với việc chú trọng phát triển các khu vực kinh tế trọng điểm, Đảng
và Nhà nước ta cũng luôn quan tâm phát tri ển kinh tế - xã h ội, xóa đói giảm
nghèo ở các vùng dân tộc và miền núi nhằm thu hẹp khoảng cách về mọi mặt
giữa mi ền núi và mi ền xuôi. Chính ph ủ đã phê duy ệt và ch ỉ đạo th ực hi ện
hàng lo ạt các chính sách, ch ương trình quan tr ọng nh ư Ch ương trình 135,
78
Chương trình 173, Ch ương trình 186, v.v.. để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho
các xã đặc bi ệt khó kh ăn ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa. N ăm 2005, Chính
phủ đã phê duyệt Chương trình phát tri ển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó
khăn, vùng đồng bào dân t ộc miền núi giai đoạn 2006 - 2010 (Ch ương trình
135 giai đoạn II) và đã đạt kết quả đáng ghi nhận. Trong gần 5 năm, tổng kinh
phí đầu tư cho 1848 xã đặc biệt khó khăn và 3.274 thôn bản đặc biệt khó khăn
là 14.024,7 tỷ đồng.[64, tr.154] Nh ờ nguồn vốn này, kết cấu hạ tầng, nhất là
hệ thống giao thông nông thôn, thu ỷ lợi nhỏ, đường điện, trường học, trạm y
tế, nước sinh hoạt,... được xây dựng, nông thôn mi ền núi, vùng đồng bào dân
tộc thiểu số đã mang diện mạo mới, khang trang. Bình quân m ỗi năm, các xã
thuộc chương trình 135 đã giảm 4 - 5% hộ nghèo trong giai đoạn 1999 - 2005
và giảm 2 - 3% h ộ nghèo trong giai đoạn 2006 - 2010, [15, tr.88] góp ph ần
quan trọng vào thành tựu giảm nghèo chung trong cả nước.
Về phân phối thu nhập, Nhà nước ta đã mạnh dạn bỏ kiểu phân phối bình
quân, cào b ằng, áp d ụng nguyên t ắc phân ph ối mới phù h ợp với điều ki ện
kinh tế - xã h ội ở nước ta. Nh ờ đó, nguồn lực vật chất và tinh th ần của con
người được phát huy, kh ơi dậy tính năng động, sáng tạo của mỗi người dân,
đóng góp nhân tài, vật lực cho phát triển kinh tế - xã hội.
Hiện nay, Chính ph ủ thường xuyên th ực hiện các ch ương trình cải cách
chế độ tiền lương, xây dựng các ngạch, bậc và thang lương hợp lý; điều chỉnh
mức lương tối thiểu của người lao động. Nhờ đó, thu nh ập của các tầng lớp
dân cư, nhất là cán bộ, viên chức, hưu trí được đảm bảo hơn, đáp ứng những
nhu cầu cơ bản và từng bước nâng cao của các đối tượng này. Các chính sách
thuế thu nh ập, th ực hi ện phân ph ối lại cho ng ười lao động và đảm bảo đời
sống tối thiểu cho nh ững người có công v ới cách mạng, những người không
có khả năng lao động hoặc hết khả năng lao động cũng luôn được quan tâm
thực hiện. Việc làm này, một mặt đảm bảo CBXH, mặt khác còn thể hiện đạo
lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta.
79
- Ba là, giải quyết các chính sách xã hội theo hướng gắn tăng trưởng kinh
tế với công bằng, tiến bộ xã hội; tạo cơ hội và điều kiện phát huy vai trò, năng
lực của người lao động.
Cùng với quá trình đổi mới kinh tế toàn diện, nhẳm đảm bảo mục tiêu gắn
TTKT với thực hiện CBXH trong từng bước và từng chính sách phát triển, tạo
cơ hội và điều kiện phát huy vai trò của người lao động, Đảng và Nhà nước ta
đã tích cực xây dựng và thực hiện các chính sách xã hội. Hệ thống chính sách
xã hội luôn được coi tr ọng cùng với chính sách phát tri ển kinh tế, giải quyết
việc làm, chống thất nghiệp, tạo điều kiện cho mọi người được làm việc trong
môi tr ường an toàn; b ảo đảm công b ằng trong phân ph ối ti ền lương và thu
nhập; bảo đảm phân tầng xã hội tích cực, không làm gia tăng quá đáng mức độ
chênh lệch về thu nhập giữa các vùng, các nhóm dân cư; tăng trưởng phải gắn
với xóa đói, giảm nghèo, mọi người, nhất là người nghèo, đều được hưởng lợi
từ thành quả của TTKT.
Hệ thống chính sách xã h ội ở nước ta được xây dựng trên nền tảng lấy
con người làm trung tâm, coi con ng ười là mục tiêu và động lực của sự phát
triển. Chính sách xã h ội luôn quan tâm t ạo cơ hội và điều kiện cho người lao
động vươn lên, vượt qua khó khăn để khẳng định năng lực của mình; đặc biệt
là quan tâm t ới nh ững cá nhân và gia đình ng ười có công v ới cách m ạng,
những người có hoàn c ảnh đặc biệt khăn đảm bảo cuộc sống, hòa nh ập cộng
đồng. Hiện nay, tỷ trọng đầu tư ngân sách Nhà nước cho chính sách xã hội đạt
trên 28%. Cùng v ới tăng cường đầu tư của Nhà nước, chúng ta đã huy động
mọi ngu ồn lực, nh ất là ngu ồn lực trong nhân dân t ừ các c ơ sở, địa ph ương
theo tinh th ần xã h ội hóa; đồng th ời th ực hi ện lồng ghép các ch ương trình
mục tiêu khác nh ằm sự dụng có hiệu quả nguồn lực cho thực hiện chính sách
xã hội. Nguồn lực huy động từ cộng đồng, cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức
kinh tế - xã h ội và sự hợp tác qu ốc tế chiếm khoảng 30% trong t ổng chi cho
lĩnh vực xã hội. Cho đến nay, nh ững thành tựu đạt được trong vi ệc thực thi
các chính sách xã hội là hết sức to lớn:
80
Về lao động - vi ệc làm: Các chính sách v ề lao động, việc làm của Nhà
nước đã chuyển biến theo hướng ngày càng phù h ợp hơn với nền KTTT định
hướng XHCN. Bộ luật Lao động được sửa đổi nhiều lần qua các n ăm (2002,
2006, 2007, 2012) đã tạo hành lang pháp lý cho việc hoàn thiện các tiêu chuẩn
lao động, thiết lập quan hệ lao động giữa các chủ thể, điều chỉnh các quan hệ xã
hội có liên quan đến lao động như hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập
thể, tiền lương, bảo hiểm. Theo Báo cáo của Chính phủ được trình bày tại kỳ
họp Quốc hội khóa XIII, trong vòng 3 năm, từ năm 2010 cho tới 2013 chúng ta
đã tạo việc làm cho khoảng 4,6 triệu người, trung bình năm khoảng 1,54 triệu
người, trong đó xuất khẩu lao động 253 nghìn ng ười. Tỷ lệ thất nghiệp ở khu
vực thành thị luôn ở mức dưới 4%, hiện khoảng 3,48% [151].
Chính sách ti ền lương từng bước được đổi mới theo nguyên t ắc th ị
trường. Mức lương tối thi ểu được điều ch ỉnh tăng dần, phù h ợp với điều
kiện kinh t ế - xã h ội của đất nước. Thu nh ập dân c ư được nâng lên. Điều
kiện lao động và quan h ệ lao động có b ước được cải thiện; tranh ch ấp lao
động và đình công gi ảm.
Chính sách gi ảm nghèo: Đảng và Nhà n ước ta luôn nh ất quán về chính
sách gi ảm nghèo b ền vững đi đôi với khuyến khích làm giàu h ợp pháp. Đã
đẩy mạnh việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Chính phủ và Chương
trình mục tiêu qu ốc gia gi ảm nghèo, trong đó chú tr ọng chính sách gi ảm
nghèo, khắc phục nguy cơ tái nghèo, nhất là đối với các huyện nghèo, xã biên
giới, xã, thôn, b ản đặc biệt khó kh ăn; thu hẹp chênh lệch về mức sống và an
sinh xã h ội so v ới cả nước. Tỷ lệ hộ nghèo c ả nước gi ảm bình quân 1,5 -
2%/năm; các huy ện, xã đặc bi ệt khó kh ăn có t ỷ lệ hộ nghèo gi ảm 4%/n ăm
theo chuẩn nghèo từng giai đoạn. Năm 1993 tỷ lệ hộ nghèo cả nước là 58,1%,
đến năm 2011 giảm còn 9,5%, năm 2013 còn 7,8%, năm 2014 còn 5,8 - 6%%
[33, tr110]. Thành t ựu gi ảm nghèo ở Vi ệt Nam đã được Liên h ợp qu ốc và
cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
81
Chính sách ưu đãi người có công và hỗ trợ các đối tượng chính sách. Trên
98% gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung
bình của người dân nơi cư trú. Số người hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên tăng
từ 1,7 tri ệu cuối năm 2010 lên trên 2,5 tri ệu năm 2013. Mở rộng diện và tăng
mức hỗ trợ đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Cấp gạo cho học sinh dân tộc bán
trú và học sinh ở vùng đặc biệt khó khăn. Hỗ trợ chi phí học tập, sinh hoạt cho
trẻ em nghèo, trẻ em dân tộc thiểu số và ở vùng khó khăn. Thực hiện tốt công tác
cứu trợ đột xuất và khắc phục hậu quả thiên tai. Các chương trình nhà ở xã hội,
cụm tuyến dân cư ở Đồng bằng sông Cửu Long, nhà ở tránh lũ ở khu vực miền
Trung được tích cực thực hiện. Dư nợ tín dụng cho chính sách xã h ội đến hết
tháng 9 năm 2013 đạt 118,5 nghìn tỷ đồng, tăng 32,4% so với cuối năm 2010.
Chăm sóc sức khỏe của nhân dân có nhiều tiến bộ. Mạng lưới và cơ sở vật
chất kỹ thuật y tế tiếp tục phát triển. Chất lượng bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, khám
chữa bệnh được nâng lên. Y tế dự phòng được quan tâm, không để bùng phát dịch
bệnh lớn. Đã triển khai nhiều giải pháp giảm quá tải bệnh viện. Ưu tiên đầu tư cho
các bệnh viện quá tải cao, nh ất là tuyến trung ương và tuyến cuối. Nhiều công
trình bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện đã và đang hoàn thành đưa vào sử dụng.
Tăng cường quản lý, kiểm soát thuốc, giá thuốc và vệ sinh an toàn thực phẩm. Tỷ
lệ tham gia bảo hiểm y tế tăng từ 63% năm 2010 lên 71,2% năm 2013 [151].
Tốc độ tăng dân số được kiểm soát. Công tác ch ăm sóc ng ười cao tu ổi,
bảo vệ, chăm sóc và giáo d ục trẻ em, gia đình, bình đẳng giới, vì sự tiến bộ
của phụ nữ có tiến bộ.
Về nguyên nhân thành tựu:
- Nguyên nhân chủ quan:
Trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng ta luôn tích c ực đổi mới trong
tư duy lý luận về KTTT và thực hiện CBXH, trên tinh th ần tôn trọng quy luật
khách quan, bám sát nh ững yêu cầu, đòi hỏi của sự phát tri ển trong nước và
thế giới, hướng tới mục tiêu vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân
82
chủ, công b ằng, văn minh. Xác định kinh t ế là tr ọng tâm, kiên trì lãnh đạo
thực hiện các quyết sách kinh t ế phù hợp, đồng thời chú trọng giải quyết các
chính sách xã h ội, vừa thúc đẩy tăng tr ưởng kinh t ế, vừa th ực hi ện CBXH
trong từng bước và cả quá trình phát tri ển. Đường lối, chính sách pháp lu ật
của Đảng và Nhà n ước cơ bản là đúng đắn, hợp lòng dân đã động viên, khai
thác, phát huy m ạnh mẽ ngu ồn lực trong nhân dân, cùng v ới Nhà nước giải
quyết nh ững mục tiêu, nhi ệm vụ đặt ra. Đây là nguyên nhân c ơ bản, có ý
nghĩa quyết định đối với những thành công c ủa việc thực hi ện CBXH trong
điều kiện KTTT định hướng XHCN ở nước ta thời gian qua.
- Nguyên nhân khách quan:
Những năm qua, sự nghiệp đổi mới, công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa đất
nước đã đạt được những thành tựu cơ bản, tạo tiền đề quan trọng đảm bảo thực
hiện có hiệu quả CBXH ở nước ta. Nền KTTT định hướng XHCN đã từng bước
hình thành và phát triển; thể chế KTTT luôn được quan tâm xây dựng và từng
bước hoàn thi ện; các yếu tố th ị trường và các lo ại thị trường đang được hình
thành, phát triển. Kinh tế tăng trưởng, sức sản xuất được giải phóng, các nguồn
lực bên trong và bên ngoài được khai thác; sự nỗ lực của các doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế và các chủ thể khác ngày càng tăng. Cơ cấu kinh tế đã có
bước đầu chuyển dịch theo hướng công nghiệp hiện đại; cơ cấu lao động xã hội
đã chuyển dịch theo hướng tích cực; chất lượng nguồn nhân lực ngày càng gia
tăng,…đang tạo những cơ hội và điều kiện tích cực cho mọi người dân phát huy
tốt vai trò, năng lực cống hiến và hưởng thụ những thành quả lao động xã hội
trên cơ sở nguyên tắc công bằng và bình đẳng xã hội.
3.1.2. Những hạn chế
Về nhận thức
Trong th ời kỳ đổi mới, nh ận th ức của Đảng về th ực hi ện CBXH trong
điều kiện KTTT định hướng XHCN ngày càng rõ, phù h ợp với thực tế hơn,
tạo điều kiện đưa đến những thành tựu quan tr ọng trong th ực hiện CBXH ở
83
nước ta, tuy nhiên, hi ện nay, trước những biến động nhanh chóng, khó l ường
của thực tiễn trong nước và thế giới, còn bộc lộ nhiều hạn chế ảnh hướng lớn
tới hiệu quả thực hiện CBXH ở nước ta hiện nay, đó là:
Chưa hình thành được khung lý lu ận đầy đủ về KTTT định hướng
XHCN, nhất là về một số nội dung định hướng XHCN trong nền KTTT. Như
đã khẳng định, hiện nay, chúng ta đang trong th ời kỳ quá độ lên CNXH, s ự
tồn tại đa dạng các hình th ức sở hữu, quản lý và phân ph ối tất yếu sẽ dẫn tới
tình trạng bất công, bất bình đẳng xã hội, đây là một thực tế khách quan, tuy
nhiên giới hạn của bất công, bất bình đẳng xã hội như thế nào để có thể chấp
nhận được, và trên cơ sở đó, chủ động điều tiết, khắc phục có hi ệu quả đang
là vấn đề lớn đặt ra cần phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện về mặt lý luận.
Vai trò, v ị trí c ủa các ch ủ th ể kinh t ế trong điều ki ện KTTT định
hướng XHCN cũng chưa được xác định rõ, ch ưa có nh ững quy định cụ thể,
những ph ương th ức qu ản lý phù h ợp nh ằm phát huy vai trò ch ủ đạo của
thành ph ần kinh t ế nhà n ước, vai trò động lực của thành ph ần kinh t ế tư
nhân, và đặc bi ệt là ch ưa tạo cơ ch ế cạnh tranh lành m ạnh gi ữa các thành
phần kinh t ế, điều này dẫn tới những hạn chế, bất cập trong phân b ổ các lợi
ích, th ậm chí vi ph ạm các nguyên t ắc công b ằng, bình đẳng gi ữa các ch ủ
thể kinh tế trong nền KTTT.
Nhận thức về quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, CBXH cũng
chưa thật rõ ràng, c ụ thể. Đảng ta đã xác định mục tiêu chi ến lược gắn tăng
trưởng kinh tế với thực hiện CBXH trong từng bước và từng chính sách phát
triển, đây là chi ến lược phát tri ển hết sức phù hợp, tuy nhiên, làm th ế nào để
khuyến khích lao động làm giàu? TTKT nhanh lại vừa đảm bảo CBXH? Làm
sao để không vì bảo đảm CBXH mà triệt tiêu động lực TTKT? Đây vẫn đang
là nh ững câu h ỏi lớn đặt ra, ch ưa được gi ải đáp th ấu đáo, dẫn tới nh ững
phương hướng và giải pháp thực hiện còn nhiều khó khăn, lúng túng. Việc đổi
mới tư duy, nâng cao nh ận thức về gi ải quyết các v ấn đề xã h ội nhằm thực
84
hiện CBXH còn ch ậm, nhiều khi bị coi nh ẹ. Chưa nhận thức đầy đủ vai trò,
tầm quan trọng của việc giải quyết các vấn đề xã hội, của mô hình và phương
thức qu ản lý phát tri ển xã hội hài hòa v ới mô hình và ph ương thức quản lý
phát triển kinh tế.
Hiện nay, các phân tích, d ự báo về sự biến đổi trong cơ cấu xã h ội, sự
phân tầng xã hội trong điều kiện KTTT ở nước ta còn tương đối hạn chế. Nhất
là việc nhận thức nguyên nhân, th ực trạng và ph ương thức giải quyết những
tác động tiêu cực của KTTT đối với đời sống xã hội, gây bất công, bất bình
đẳng xã hội nghiêm trọng như: làm giàu phi pháp, tham nh ũng, lãng phí, các
tệ nạn xã hội v.v..
Về thực tiễn
Thực hi ện CBXH trong điều ki ện KTTT định hướng XHCN ở nước ta
hiện nay, còn những hạn chế, khó khăn chủ yếu như sau:
- Tình tr ạng phân bi ệt đối xử gi ữa các thành ph ần kinh t ế ch ưa được
khắc phục, dẫn tới bất công xã hội chưa được đẩy lùi.
Nhiều năm qua, m ặc dù chúng ta đã có nhi ều cố gắng trong vi ệc ban
hành và th ực thi các chính sách kinh t ế nhằm khuyến khích và t ạo điều kiện
cho mọi thành ph ần kinh tế, mọi tổ chức và cá nhân tham gia tích c ực, chủ
động trong các hoạt động kinh tế…, tuy nhiên, cho đến nay, những nỗ lực này
chưa đạt được kết qu ả nh ư mong đợi. Tình tr ạng phân bi ệt đối xử giữa các
thành ph ần kinh t ế vẫn còn t ồn tại, gây b ất công xã h ội ngày càng sâu s ắc.
Nhà nước chưa tạo lập được môi trường hợp tác, cạnh tranh bình đẳng thực sự
giữa các thành phần kinh tế, qua đó các tiềm năng kinh tế chưa được phát huy
một cách tương xứng. Trong Báo cáo t ổng kết một số vấn đề lý luận và th ực
tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016), Đảng ta đã khẳng định: “Quyền tự do
kinh doanh ch ưa được tôn trọng đầy đủ, môi tr ường kinh doanh ch ưa thật sự
bảo đảm cạnh tranh công b ằng, lành mạnh giữa các doanh nghi ệp thuộc mọi
thành phần kinh tế” [33, tr 73].
85
Điểm nổi bật, gây nhiều bức xúc trong xã hội hiện nay chính là sự ưu ái,
bao cấp của Nhà nước đối với các doanh nghi ệp nhà nước, từ đó dẫn tới tình
trạng độc quyền trong các ho ạt động sản xuất, kinh doanh c ủa hệ thống các
doanh nghiệp này. Trong thời gian qua những vụ tăng giá liên tục gây bức xúc
dư luận trong các lĩnh vực cung ứng điện, xăng dầu, dịch vụ viễn thông…, là
những minh ch ứng rõ nét cho tình tr ạng độc quyền, thao túng th ị trường của
không ít những doanh nghiệp nhà nước. Bản chất cốt lõi của nền KTTT là sự
bình đẳng giữa các thành ph ần, các khu v ực kinh t ế. Mu ốn vậy phải ch ống
độc quyền. Trong thông điệp đầu năm 2014, Th ủ tướng Chính ph ủ Nguyễn
Tấn Dũng đã nhấn mạnh quyết tâm xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp và những
cơ chế chính sách tạo sự bất bình đẳng trong kinh doanh. Mục tiêu là tạo môi
trường cạnh tranh bình đẳng, nâng cao hi ệu qu ả của khu v ực kinh t ế nhà
nước, thúc đẩy kinh tế tư nhân phát tri ển, góp phần ổn định và tái cơ cấu nền
kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, cho đến nay, tình tr ạng ưu đãi thái quá đối với các
doanh nghi ệp nhà n ước còn t ồn tại khá ph ổ bi ến trên nhi ều khía c ạnh, từ
chính sách cho đến thủ tục hành chính, tín d ụng, thuế…Hiện nay, khá nhi ều
các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước đang được sử dụng những nguồn lực to
lớn của đất nước như tài nguyên, đất đai, vốn đầu tư; được ưu đãi về tín dụng,
mặt bằng kinh doanh. Ví d ụ, các ngân hàng th ương mại qu ốc doanh được
ngân sách nhà nước và bảo hiểm xã hội gửi hàng trăm ngàn tỷ với lãi suất tiền
gửi không kỳ hạn trong th ời gian dài; các doanh nghi ệp được Chính phủ vay
hộ tiền để kinh doanh hay được bảo lãnh cho các khoản vay của mình, khi gặp
khó khăn thì được Nhà nước “cứu trợ”, “bơm thêm vốn”, v.v..Nhưng mặc dù
được ưu đãi, ho ạt động sản xu ất, kinh doanh c ủa bộ ph ận này v ẫn trì tr ệ,
không tương xứng với các ưu đãi được hưởng, ch ưa kh ẳng định được sức
mạnh đầu tầu của nền kinh tế. Không nh ững vậy, do chính c ơ chế ưu đãi và
chính sách qu ản lý, giám sát còn nhi ều bất cập đã nảy sinh nhi ều tiêu c ực
trong ho ạt động của các doanh nghi ệp nhà nước nh ư tham nh ũng, lãng phí,
thất thoát nghiêm trọng, ảnh hưởng nặng nề đến toàn bộ nền kinh tế.
86
Trong những năm gần đây, tình tr ạng dư nợ của các doanh nghi ệp nhà
nước có xu h ướng tăng cao. Theo báo cáo s ố 490/BC - CP c ủa Chính ph ủ,
năm 2013, tổng nợ của doanh nghiệp nhà nước là gần 1,7 triệu tỷ đồng. Trong
đó, nợ của doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là 1,5 triệu
tỷ đồng, tương đương 52,5% GDP. Bên cạnh đó, tình trạng làm ăn thua lỗ của
các doanh nghi ệp nhà n ước cũng ngày càng tr ầm tr ọng. Tính đến hết năm
2013, số lượng các tổng công ty, các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ là
20, với tổng tiền là 21.000 tỷ đồng. Trong đó điển hình là: Tổng công ty Hàng
hải Vinalines lỗ 6.958 tỷ đồng, kế đến là Tổng công ty Lắp máy Việt Nam lỗ
346 tỷ đồng, Tổng công ty truyền thông VTC 337 t ỷ đồng, Tổng công ty xây
dựng đường thủy lỗ 289 tỷ đồng...Điều đáng chú ý là, hi ện nay, nhi ều doanh
nghiệp Nhà n ước ho ạt động kém hi ệu qu ả, thua l ỗ tri ền miên, đáng lẽ ph ải
được gi ải thể thì v ẫn được Nhà nước bao cấp, “hà hơi tiếp sức”, kéo dài s ự
tồn tại. Chẳng những vốn được cung cấp với những điều kiện ưu đãi mà nhiều
khoản nợ xấu kh ổng lồ của doanh nghi ệp nhà n ước cũng được khoanh n ợ,
giãn nợ, thậm chí xóa nợ.
Không ch ỉ các doanh nghi ệp nhà n ước, hi ện nay, các doanh nghi ệp có
vốn đầu tư tr ực ti ếp nước ngoài (FDI) c ũng được hưởng nhi ều ưu đãi khi
tham gia đầu tư tại Việt Nam. Thực hiện chính sách ưu đãi đối với các doanh
nghiệp có v ốn đầu tư nước ngoài t ại Vi ệt Nam là ch ủ tr ương phù h ợp của
Đảng và Nhà nước ta nhằm khuyến khích đầu tư, phát triển tại Việt Nam, tuy
nhiên, vì ưu đãi một cách thái quá đã gây ra tình trạng bất công, phân biệt đối
xử, vi ph ạm nguyên tắc công bằng, bình đẳng giữa các ch ủ thể kinh tế trong
điều kiện KTTT ở nước ta. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài đã lợi dụng sự ưu ái của Nhà nước, có các hành vi trốn thuế, gian lận, làm
thất thu ngân sách của Nhà nước. Điển hình là các doanh nghiệp FDI như Coca -
Cola, Adidas, và gần đây là doanh nghi ệp Metro - một doanh nghi ệp quy mô
lớn, nhưng có tới 11 năm làm ăn thua lỗ và không n ộp ngân sách nhà n ước,
nhưng vẫn liên tục mở rộng sản xuất, chiếm lĩnh thị trường trên cả nước.
87
Ngược lại với các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài được ưu đãi, các doanh nghiệp tư nhân lại bị đối xử tương đối bất
công. Đường lối phát triển kinh tế tư nhân được Đảng ta kh ẳng định qua các
kỳ Đại hội, song Nhà nước vẫn chưa có những chính sách tạo thuận lợi đầy đủ
(về môi tr ường pháp lý, v ốn, đất đai, mặt bằng sản xu ất kinh doanh, th ị
trường…) giúp thành ph ần kinh tế này phát tri ển. Ở nước ta, khu vực kinh tế
tư nhân chi ếm số lượng đông đảo nh ất, đóng góp l ớn cho GDP h ằng năm,
nhưng lại là khu v ực chịu nhiều tổn thương nhất. Các doanh nghi ệp tư nhân
hầu như chưa có được các chính sách h ỗ trợ và các ch ương trình ưu đãi cần
thiết của Chính ph ủ. Nh ững chính sách kinh t ế và môi tr ường kinh doanh
không ổn định, dẫn tới nhiều doanh nghiệp tư nhân kinh doanh theo ki ểu “cơ
hội”, không thiết lập được chiến lược phát triển bền vững. Nếu như các doanh
nghiệp nhà n ước luôn nh ận được sự bảo lãnh c ủa Chính ph ủ đối với các
khoản vay ưu đãi, thì các doanh nghiệp tư nhân không có được điều này. Hầu
hết các doanh nghiệp tư nhân đều phải chấp nhận những khoản vốn vay với lãi
suất cao theo thị trường, vượt quá khả năng thanh toán. Bên cạnh đó, các doanh
nghiệp tư nhân còn gặp nhiều khó khăn khác như, chi phí sản xuất kinh doanh
tăng cao, thị trường tiêu thụ nhỏ hẹp, lượng hàng hóa tồn kho nhiều…Thậm chí
các doanh nghi ệp tư nhân còn ch ịu nhiều bất cập về chính sách của nhiều cơ
quan hành chính gây khó dễ, phiền hà cho doanh nghiệp v.v..
- Phân ph ối nguồn lực và phân ph ối thu nh ập cho ng ười lao động còn
nhiều bất cập, gây bất công xã hội
Hiện nay ở nước ta, vi ệc triển khai các chính sách phân ph ối nguồn lực
cho đầu tư, phát tri ển còn mang tính ch ất dàn trải dẫn tới tình tr ạng lãng phí,
kém hiệu quả, chưa thực sự đảm bảo công bằng trong việc tạo cơ hội và điều
kiện phát tri ển cho các doanh nghi ệp và đa số nhân dân. Nhi ều dự án đầu tư
với số vốn lớn hàng trăm, thậm chí hàng ngàn t ỷ đồng nhưng lại không được
tính toán một cách hợp lý dẫn tới hiệu quả sử dụng thấp. Hàng lo ạt các công
88
trình giao thông công cộng sử dụng ngân sách nhà nước không được giám sát,
quản lý ch ặt chẽ, thời gian thi công kéo dài, ch ất lượng công trình kém. C ơ
chế xin - cho trong phân ph ối nguồn lực vẫn tồn tại, dẫn tới thực tế là nhi ều
dự án đầu tư được thực hiện không phải xuất phát từ yêu cầu thực tế của địa
phương mà ch ủ yếu dựa trên các quan h ệ đối tác qua l ại, dẫn tới nảy sinh
tham nhũng, tiêu cực, ảnh hưởng lớn tới kết quả của các dự án.
Các nguồn lực về vốn, tài nguyên, đất đai của nhà nước bị lãng phí, th ất
thoát nghiêm tr ọng. Việc phân bổ và sử dụng các ngu ồn lực trong kh ối các
doanh nghiệp nhà nước thường được tập trung với khối lượng lớn nhưng hiệu
quả còn thấp. Nhiều doanh nghiệp đã sử dụng vốn đầu tư vào các ngành, nghề
không thu ộc lĩnh vực kinh doanh chính, d ẫn đến thua l ỗ. Trong khi đó rất
nhiều các doanh nghi ệp tư nhân cần vốn để đầu tư phát tri ển sản xu ất kinh
doanh thì lại không được phân bổ, dẫn tới thiếu vốn, sản xuất kinh doanh gặp
nhiều khó khăn, đình trệ.
Hiện nay, ở nước ta, tình tr ạng mất cân đối trong c ơ cấu đầu tư giữa
các vùng, mi ền, các ngành, l ĩnh vực kinh t ế - xã h ội đang tồn tại khá ph ổ
biến. Để thực hi ện CBXH, ngoài vi ệc chú tr ọng đầu tư phát tri ển đối với
các vùng kinh t ế trọng điểm, các ngành kinh t ế gi ữ vai trò động lực, cần
phải có sự đầu tư cho các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân t ộc thiểu
số, vùng c ăn cứ cách m ạng - n ơi đang gặp nhi ều khó kh ăn, nh ằm từng
bước kh ắc ph ục tình tr ạng “b ất công t ự nhiên” do điều ki ện tự nhiên và
lịch sử để lại, qua đó cải thi ện đời sống của ng ười dân, t ạo điều ki ện cho
người dân ti ếp cận công b ằng về cơ cơ hội và điều ki ện thu ận lợi trong
sản xuất kinh doanh và trong đời sống như vốn, tín d ụng, môi tr ường kinh
doanh và c ơ sở hạ tầng nh ư điện, đường sá, n ước sạch, tr ường học, tr ạm
xá v.v.. Tuy nhiên, hi ện nay, vi ệc phân b ổ nguồn lực đến các vùng kinh t ế
khó kh ăn, vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn r ất hạn ch ế, dẫn tới
khoảng cách, chênh l ệch vùng, mi ền ngày càng gia t ăng. Tình tr ạng thi ếu
89
việc làm và d ư thừa lao động ở khu v ực nông thôn, vùng mi ền núi, vùng
sâu, vùng xa đang ngày càng tr ở nên b ức xúc. M ặc dù Nhà n ước ta trong
những năm qua đã tri ển khai nhi ều dự án đầu tư, phát tri ển đến các khu
vực mi ền núi, vùng sâu, vùng xa, nh ưng hi ệu qu ả đầu tư th ấp, dàn tr ải,
chồng chéo, ch ưa đáp ứng được yêu cầu. Theo s ố liệu thống kê c ủa Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, giai đoạn 2011 - 2015, t ổng vốn cho Ch ương trình 135
đạt 15.581 t ỷ đồng. T ừ năm 2013, bên c ạnh Chương trình 135, các địa bàn
đồng bào dân t ộc thi ểu số còn được nh ận thêm nhi ều hỗ tr ợ từ ch ương
trình nh ư 30a, Nông thôn m ới, hỗ trợ các xã d ọc tuyến biên gi ới,…nhưng
miền núi n ước ta hi ện nay v ẫn là vùng kinh t ế lạc hậu, ch ậm phát tri ển so
với cả nước. Ba vùng nghèo nh ất là Tây Nguyên, B ắc Trung B ộ và mi ền
núi phía B ắc, ng ười dân v ẫn th ường xuyên ph ải đối mặt với đói nghèo,
bệnh tật, thi ếu nước sinh ho ạt; tình tr ạng thoái hóa đất đai và tài nguyên
rừng đang ngày càng gia t ăng.
Trong lĩnh vực phân ph ối thu nh ập, nguyên tắc bảo đảm công bằng vẫn
chưa được th ực hi ện đầy đủ. Kinh t ế tăng tr ưởng, nh ưng lợi ích c ủa tăng
trưởng không được phân bổ một cách rộng rãi; số người có thu nh ập mới và
mức nâng cao thu nh ập của mỗi người dân ch ưa tương xứng. Qua nhi ều lần
cải cách, tiền lương tối thiểu tăng lên, nhưng vẫn chưa theo cơ chế thị trường.
Việc tăng lương cho ng ười lao động không đủ bù tr ượt giá tiêu dùng, nên
người lao động gặp nhiều khó khăn, nhất là nhóm có thu nhập thấp.
Nhìn chung ti ền lương trong m ọi khu v ực hi ện nay m ới ch ỉ đáp ứng
những nhu cầu tối thiểu ở mức độ nhất định cho bản thân người lao động như
ăn, mặc, ở, đi lại chữa bệnh và học tập. Tiền lương chưa đủ để tái sản xuất mở
rộng sức lao động; đặc biệt là chưa đủ để người lao động sống cuộc sống bình
thường, nhất là chăm sóc y tế khi họ nghỉ hưu. Nói cách khác, tiền lương hiện
nay chưa thực sự là giá c ả của sức lao động, chưa đảm bảo mức tương xứng
giữa lao động và hưởng thụ của người lao động.
90
Bên cạnh đó, chính sách ti ền lương ở nước ta còn mang n ặng tính bình
quân, do vậy, không khuyến khích nâng cao trình độ chuyên môn, tạo nên sự
bất bình đẳng khá lớn giữa các đối tượng, ngành, ngh ề và khu v ực. Đối với
khu vực hành chính, s ự nghi ệp, ti ền lương của công ch ức hành chính được
tính theo hệ số, ngạch bậc tương đối thấp, nhưng thu nhập ngoài lương lại rất
cao, phụ thuộc vào vị trí, ch ức danh, công vi ệc quản lý, vùng, mi ền, không
minh bạch, không có kh ả năng kiểm soát được. Hệ số lương thấp, nhưng thu
nhập ngoài lương cao là m ột thực tế phổ biến, đang làm cho chính sách ti ền
lương của nước ta bị bóp méo; thực chất đó là các dạng tham nhũng của công
chức khi có quy ền lực trong tay, không ch ỉ trong l ĩnh vực kinh t ế, mà còn
trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như hành chính, văn hóa, xã hội.
Đối với các doanh nghi ệp, chính sách ti ền lương và thu nh ập ch ưa có
sự thống nh ất, ch ưa tạo môi tr ường bình đẳng đối với các lo ại hình doanh
nghiệp. Nhà n ước vẫn kh ống ch ế mức ti ền lương tối thi ểu và quy định về
thang, bảng lương cứng đối với doanh nghi ệp nhà n ước, điều này vi ph ạm
nguyên tắc phân ph ối theo lao động và hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh,
không tạo động lực cho người lao động và khuyến khích c ạnh tranh.
Sự chênh lệch về thu nh ập trong từng doanh nghiệp và gi ữa các khu vực
doanh nghiệp đang có xu hướng gia tăng, nhất là chênh lệch thu nhập giữa lao
động quản lý và lao động trực tiếp sản xuất; giữa các doanh nghiệp có lợi thế độc
quyền và doanh nghiệp không có lợi thế độc quyền; giữa các doanh nghiệp trong
các ngành, lĩnh vực khác nhau như nông, lâm, thủy sản thường có thu nhập thấp
và những ngành khác như dầu khí, bưu điện, hàng không, có thu nhập cao v.v..
- Bất cập trong việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện công
bằng xã hội.
Trải qua gần 30 năm đổi mới, kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành
tích tăng trưởng đầy ấn tượng. Tuy nhiên, đang có những lo ng ại không ph ải
vô căn cứ về chất lượng và sự bền vững của những thành tích đó. Thời gian
91
qua, TTKT ch ủ yếu theo chi ều rộng, ch ưa đảm bảo tính h ợp lý và hi ệu quả
của việc sử dụng các yếu tố tăng trưởng. TTKT được thực hiện chủ yếu bằng
khai thác các ngu ồn lực tự nhiên và sức lao động giản đơn dẫn tới ngày càng
giảm dần động lực phát tri ển. Năng su ất, ch ất lượng và s ức cạnh tranh c ủa
nền kinh t ế còn th ấp. Sự sụt gi ảm về kinh t ế dẫn tới tình tr ạng khó kh ăn,
đình tr ệ của các doanh nghi ệp tăng lên. Ch ỉ riêng trong 2 n ăm (2011 -
2012) s ố doanh nghi ệp ngừng ho ạt động ho ặc phá s ản đã lên t ới 100.000,
bằng 50% t ổng số doanh nghi ệp rút kh ỏi th ị tr ường trong su ốt 20 n ăm
trước. Năm 2013, c ả nước có 60.737 doanh nghi ệp gi ải th ể, tăng kho ảng
12% so v ới năm 2012. N ăm 2014, s ố lượng doanh nghi ệp gi ải th ể ti ếp
tục tăng là 67.823 doanh nghi ệp [159].
Tăng trưởng kinh tế chưa bền vững và phải đối mặt với nhiều hạn chế về
chất lượng tăng trưởng sẽ tạo ra nhiều khó khăn đối với việc thực hiện CBXH
ở nước ta. Trước hết, chi phí, đầu tư giải quyết những vấn đề xã hội gặp nhiều
khó khăn, bởi vì một nguồn vốn, ngân sách lớn của Nhà nước, ngân sách của
các địa ph ương và các c ộng đồng doanh nghi ệp sẽ ph ải dành để tái c ơ cấu
kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng. Bên cạnh đó, tình trạng chất lượng tăng trưởng
thấp, thiếu bền vững sẽ làm gia t ăng những tác động tiêu cực của KTTT đối
với đời sống kinh tế - xã hội, ảnh hưởng lớn tới thực hiện CBXH.
Hiện nay, nh ững hạn ch ế, bất cập trong l ĩnh vực xã h ội cũng đang là
nguyên nhân gây c ản tr ở đối với vi ệc th ực hi ện mục tiêu g ắn kết TTKT và
CBXH ở nước ta, trong đó nổi bật là sự gia tăng của tình tr ạng th ất nghi ệp,
thiếu việc làm và sự phân hóa xã h ội. Thất nghiệp, thiếu việc làm xảy ra phổ
biến ở tất cả các vùng, ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội. Năm 2013, do tình hình
sản xuất, kinh doanh gặp nhiều khó khăn nên tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng gia
tăng, đặc biệt là khu vực thành thị. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi 15-24 trong
chín tháng là 5,97%, trong đó khu vực thành thị là 10,79%, tăng 1,27% so với
cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn là 4,49%, tăng 0,05%. Tỷ lệ thất nghiệp
92
của lao động từ 25 tu ổi trở lên trong chín tháng n ăm 2013 là 1,29%, trong đó
khu vực thành thị là 2,45%, khu vực nông thôn là 0,77% [158].
Chính sách việc làm hiện nay chủ yếu mới chú trọng đến đào tạo việc làm
theo chiều rộng, càng nhiều việc làm càng tốt mà chưa chú trọng đến chất lượng
việc làm. Việc làm ở trình độ lao động phổ thông, chưa qua đào tạo còn chiếm tỷ
lệ cao, nhất là khu vực nông thôn, miền núi, vì thế tính ổn định, bền vững trong
việc làm và hiệu quả tạo việc làm còn thấp. Đó là thách thức đối với người lao
động trong tiếp cận công bằng về cơ hội và điều kiện giải quyết việc làm và hòa
nhập xã hội.
Tình tr ạng phân hóa giàu - nghèo ở nước ta hi ện nay c ũng ngày càng
gia tăng. Nếu khoảng cách thu nh ập giữa nhóm có thu nh ập cao nh ất so với
nhóm thu nh ập th ấp nh ất năm 2002 là 8,1 l ần, thì đến năm 2012 t ăng lên
9,4 lần. Năm 2012, số người Việt Nam gia nh ập câu lạc bộ siêu giàu là 195
người với tổng tài s ản là 20 t ỷ USD; trong khi đó, vẫn có h ơn 17 tri ệu
người sống trong c ảnh đói, nghèo thi ếu th ốn tr ăm bề với thu nh ập bình
quân là 369.000 đồng/tháng [14, tr 24].
Cùng với sự phân hóa thu nh ập giữa các tầng lớp dân cư, ở nước ta hiện
nay, đang có sự chênh lệch khá lớn giữa vùng nông thôn và thành th ị, mi ền
núi và đồng bằng. Một số tỉnh, thành phố có lợi thế về điều kiện tự nhiên, cơ
sở hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực, vốn đầu tư, khoa học kỹ thuật và công
nghệ…, nên cơ hội phát triển nhiều hơn, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn
các khu vực khác. Ng ược lại, nhiều địa phương khác, đặc biệt là vùng nông
thôn và mi ền núi, do thi ếu những điều kiện cần thiết nên kh ả năng phát tri ển
bị hạn chế đáng kể và do v ậy, ngày càng tr ở nên nghèo h ơn và ít có c ơ hội
phát triển hòa nhập với cả nước.
Kết quả khảo sát của Tổng cục Thống kê cho th ấy có sự chênh lệch cao
giữa thành th ị và nông thôn v ề thu nh ập bình quân đầu ng ười/tháng: Năm
2006, 2008, 2010, 2014 c ủa khu v ực thành th ị so v ới khu v ực nông thôn
tương ứng qua các năm là: 2,1; 2,1; 2,0; 2,0 và 1,94 lần (xem bảng).
93
Bảng: Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá hiện hành
phân theo thành thị, nông thôn và phân theo vùng
Đơn vị tính: Nghìn đồng
Năm
2006
2008
2010
2012
Sơ bộ 2014
Cả nước
636
995
1387
2000
2640
Phân theo thành thị, nông thôn
Thành thị
1058
1605
2130
2989
3968
Nông thôn
506
762
1070
1579
2041
Phân theo vùng
Đồng bằng sông Hồng
666
1065
1580
2351
3278
Trung du và mi ền núi
442
657
905
1258
1613
phía Bắc
Bắc Trung Bộ và duyên
476
728
1018
1505
1982
hải miền Trung
Tây Nguyên
522
795
1088
1643
2008
Đông Nam Bộ
1146
1773
2304
3173
4124
Đồng bằng sông
628
940
1247
1797
2326
Cửu Long
(Nguồn: Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2015, tr 711)
Cùng với chênh l ệch thu nh ập giữa thành th ị và nông thôn, chênh l ệnh
giữa các vùng, mi ền ở nước ta cũng khá lớn. Năm 2014, vùng giàu nh ất Việt
Nam là Đông Nam Bộ với mức thu nhập bình quân đầu người/tháng đạt 4.124
nghìn đồng. Vùng nghèo nhất là vùng miền núi Tây Bắc với mức thu nhập chỉ
đạt 1.613 nghìn đồng. Khoảng cách chênh lệch giữa vùng giàu nhất và nghèo
nhất là 2,55 lần.
- Tham nhũng, lãng phí, các tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng.
Đối với nước ta, việc xây dựng cơ chế mới còn chưa hoàn thiện, đời sống
kinh tế - xã h ội còn th ấp, nên tham nh ũng, lãng phí có chi ều hướng gia tăng.
Hiện nay, tham nh ũng đã trở thành quốc nạn với quy mô ngày càng l ớn, tính
94
chất ngày càng phức tạp và thủ đoạn ngày càng tinh vi. Về mặt phạm vi, tham
nhũng, lãng phí được phát hi ện ở nhiều ngành, nhi ều lĩnh vực, từ những lĩnh
vực có nguy c ơ cao nh ư xây dựng, đầu tư cơ bản, quản lý đất đai, tài chính,
ngân hàng, đến cả nh ững ngành được coi là trong s ạch, nhân v ăn nh ư giáo
dục, y tế và cứu trợ nhân đạo v.v..Về mặt tài sản, nhiều vụ tham nhũng, lãng
phí lên đến con số hàng ch ục, hàng tr ăm tỷ đồng. Về đối tượng tham nhũng,
lãng phí ch ủ yếu nằm ở bộ phận cán bộ nhà nước, đảng viên có ch ức, quyền
trong các cơ quan Nhà nước, trong hệ thống công quyền, thậm chí có người ở
cương vị cao, vị trí đặc biệt.
Trong báo cáo tr ước Qu ốc hội tại kỳ họp th ứ VI, khóa XIII, ngày 21
tháng 10 năm 2013, Thủ tướng Chính ph ủ Nguyễn Tấn Dũng cho bi ết, trong
gần ba năm, qua thanh tra đã phát hi ện 319 vụ việc với 517 cá nhân có hành
vi liên quan đến tham nh ũng; ki ến nghị thu hồi 485,5 t ỷ đồng (đã thu được
139 tỷ đồng). Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, đặc biệt là với 10
vụ án “đại tham nhũng” bao gồm: vụ án tại Tổng công ty Hàng hải Việt Nam
(Vinalines); Công ty Cho thuê tài chính 2 (thu ộc Ngân hàng Nông nghi ệp và
phát tri ển nông thôn); Công ty d ệt kim Ph ương Đông và m ột chi nhánh
Agribank ở TPHCM; Sở quản lý kinh doanh vốn và ngoại tệ thuộc Agribank;
Công ty cổ phần chế biến thực phẩm Phương Nam và một số ngân hàng ở Sóc
Trăng, Hậu Giang, Bạc Liêu; Ngân hàng Phát tri ển Việt Nam chi nhánh Đắk
Nông; Ngân hàng TMCP Công th ương Việt Nam; Ngân hàng ACB liên quan
Nguyễn Đức Kiên (t ức “bầu” Kiên); Chi nhánh Nam Hà N ội của Ngân hàng
Agribank; Tập đoàn Vinashin [150].
Riêng 6 tháng đầu năm 2014, ngành Thanh tra đã phát hi ện vi ph ạm về
kinh tế 10.174 tỷ đồng; 1020 ha đất; kiến nghị thu hồi cho cho ngân sách Nhà
nước 4.857 tỷ đồng và 357,8 ha đất; xử lý vi phạm hành chính 1.547 tỷ đồng;
kiến nghị xử lý k ỷ lu ật hành chính 513 t ập th ể và 1006 cá nhân có hành vi
tham nhũng [154].
95
Tham nhũng là bất công phi lý, phi pháp, nh ững thiệt hại do tham nhũng
gây ra đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới tình hình kinh tế, chính trị và xã hội của
đất nước, tạo sự mất cân bằng trong quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ của
mọi thành viên xã h ội, tạo tâm lý b ất bình trong nhân dân, làm gi ảm uy tín
lãnh đạo của Đảng và hi ệu lực qu ản lý c ủa Nhà n ước. Đảng ta nh ận định:
“Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của
một bộ ph ận không nh ỏ cán b ộ, đảng viên là r ất nghiêm tr ọng. Nạn tham
nhũng kéo dài trong b ộ máy của Hệ th ống chính tr ị và trong nhi ều tổ ch ức
kinh tế là mối nguy cơ lớn, đe dọa sự sống còn của chế độ ta” [30, tr 76].
Hiện nay, tình tr ạng lãng phí trong s ử dụng kinh phí, tài s ản công c ũng
đang ở mức báo động. Trong khi ngân sách c ủa Nhà n ước còn r ất eo h ẹp,
phải chi r ất nhi ều kho ản mục cho công cu ộc phát tri ển đất nước thì t ại
nhiều cơ quan, bộ ngành lại lãng phí trong chi tiêu ngân sách c ủa Nhà nước
như mua ô tô công v ượt quá quy định, chi phí h ội họp, chi phí ti ếp khách
tốn kém, xây d ựng công s ở to, đẹp, mua s ắm trang thi ết bị vượt định mức,
tiêu chu ẩn, gây lãng phí nhi ều tỷ đồng. Bên c ạnh đó, lãng phí, tiêu c ực
trong đầu tư, xây d ựng cơ bản còn r ất lớn gây nhi ều bức xúc trong d ư luận
xã hội. Có nh ững công trình đầu tư xây dựng với số vốn lên đến hàng ngàn
tỷ như Bảo tàng Hà N ội, Công viên Hòa Bình nh ưng đến nay, hi ệu qu ả sử
dụng rất hạn ch ế. Ho ặc mới đây, dự án nhà máy liên h ợp gang thép V ạn
Lợi (Hà T ĩnh) đã bị đình ch ỉ, do Công ty C ổ ph ần gang thép Hà T ĩnh
không th ể duy trì d ự án sau 6 n ăm bỏ hoang. H ơn 750 t ỷ đồng các ngân
hàng Nhà n ước đầu tư cho dự án có nguy c ơ mất trắng. Các h ạng mục đầu
tư trị giá gần 1000 tỷ đồng giờ chỉ là đống sắt vụn…
Theo Báo cáo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư gửi Chính phủ, năm 2014,
đã có 923 d ự án xảy ra th ất thoát, lãng phí; 302 d ự án ph ải ngừng thực hiện;
115 dự án vi ph ạm quy định thủ tục đầu tư [154]. Đây là nh ững con số thực
sự đáng báo động về tình trạng lãng phí ở nước ta hiện nay. Lãng phí làm cho
96
ngân sách Nhà nước ngày càng bị thiếu hụt, làm giảm đáng kể vốn đầu tư cho
tăng tr ưởng kinh t ế cũng nh ư chi phí gi ải quy ết nhi ều vấn đề xã h ội, ảnh
hưởng lớn đến hiệu quả của quá trình thực hiện CBXH ở nước ta hiện nay.
Cùng với tham nhũng, lãng phí, tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại,
làm ăn phi pháp, tr ốn thuế…cũng vẫn đang diễn biến phức tạp, làm gia t ăng
bất công xã h ội. Trong n ăm 2014, c ơ quan H ải quan đã phát hi ện, bắt gi ữ
được 18.448 v ụ buôn lậu, trị giá hàng hóa vi ph ạm ước tính kho ảng 400 t ỷ
976 triệu đồng. Bên cạnh đó, ngành Tài chính qua thanh tra, ki ểm tra đối với
67.053 doanh nghiệp với số thuế tăng thu qua thanh tra, kiểm tra là 12.224,85
tỷ đồng, xử phạt 2.920,86 tỷ đồng, tăng 46,69% so với năm 2013 [156]. Riêng
trên địa bàn Hà Nội, trong sáu tháng đầu năm 2014, các lực lượng chức năng
của Hà N ội đã ki ểm tra g ần 13 nghìn v ụ buôn l ậu, hàng gi ả và gian l ận
thương mại, xử lý hơn 8.500 vụ, trong đó khởi tố hình sự 25 vụ. Số vụ xử lý
tăng 14,23% so v ới cùng k ỳ năm trước; số tiền thu v ề ngân sách nhà n ước
hơn 1.056 tỷ đồng [152].
Về nguyên nhân hạn chế
Có nhi ều nguyên nhân d ẫn tới hạn ch ế đối với vi ệc th ực hi ện CBXH
trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, nhưng chủ yếu
là những nguyên nhân sau đây:
- Nguyên nhân khách quan:
+ Qua gần 30 năm đổi mới, đến nay, nước ta vẫn đang trong giai đoạn
chuyển đổi có tính ch ất “quá độ” từ cơ ch ế kế hoạch hóa t ập trung bao c ấp
sang cơ chế thị trường định hướng XHCN. Trong bước chuyển này, cái cũ tuy
không còn có tính h ệ thống nhưng các yếu tố tàn dư vẫn rất lớn, đã và đang
trở thành nh ững rào cản cho sự phát tri ển, hệ thống mới tuy đã được xác lập
nhưng ch ưa đồng bộ và phát huy t ối đa hi ệu qu ả trên các l ĩnh vực của đời
sống xã hội. Đặc biệt, chúng ta đang thực hiện sự nghiệp đổi mới trong điều
kiện KTTT, hội nhập quốc tế, còn nhi ều điều mới mẻ, chưa có ti ền lệ trong
lịch sử, do vậy, những khó khăn, thử thách đặt ra hết sức to lớn và phức tạp.
97
+ Trình độ phát tri ển kinh tế - xã h ội ở nước ta hi ện nay còn t ương đối
thấp. Nước ta đã bước vào ng ưỡng cửa của quốc gia có m ức thu nh ập trung
bình, nhưng vẫn là ở mức trung bình th ấp. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế
vẫn đang là nguy cơ thường trực, nhất là trong b ối cảnh hội nhập, khi nh ững
nhu cầu về phát triển, tiến bộ xã hội đang trở thành nhu cầu cơ bản của toàn xã
hội. Chiến tranh đã lùi xa nhiều thập kỷ, nhưng những hậu quả của nó vẫn còn
nặng nề trên đất nước cũng nh ư mỗi gia đình đòi hỏi ph ải huy động nhi ều
nguồn lực cho những chính sách ưu đãi xã hội, an sinh xã hội. Do vậy việc thực
hiện mục tiêu vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa giải quyết công bằng, tiến
bộ xã hội đang là khó khăn, thách thức lớn đối với nước ta hiện nay.
+ Trước yêu cầu đổi mới, gia tăng tốc độ phát tri ển kinh tế và bảo đảm
CBXH, hệ th ống th ể ch ế KTTT ở nước ta hi ện nay còn không ít h ạn ch ế,
khiếm khuyết. Do vậy, những tác động, ảnh hưởng tiêu cực của KTTT đang hết
sức nghiêm trọng làm gia tăng tình trạng phân hóa giàu nghèo, tình tr ạng thất
nghiệp, thi ếu vi ệc làm và hàng lo ạt các tiêu c ực xã h ội nảy sinh nh ư: tham
nhũng, lãng phí, buôn l ậu, tr ốn thu ế, làm hàng gi ả v.v..Bên cạnh đó, nh ững
phong tục, tập quán lối sống cũ, lạc hậu như tư tưởng bình quân chủ nghĩa, tâm
lý sản xuất nhỏ cùng tâm lý thực dụng, sùng bái đồng tiền, coi trọng hưởng thụ
cá nhân…cũng đang gây cản trở không nhỏ tới thực hiện CBXH ở nước ta.
- Nguyên nhân chủ quan
+ Tư duy lý lu ận về CBXH trong điều ki ện KTTT còn h ạn ch ế, nhi ều
“khoảng trống” nằm trong tổng thể hạn chế chung của lý luận về chủ nghĩa xã
hội và con đường đi lên ch ủ nghĩa xã hội ở nước ta. Công tác nghiên c ứu lý
luận, tổng kết thực tiễn chưa ngang tầm với đòi hỏi của thực tiễn, còn nhi ều
lúng túng trong việc xử lý những vấn đề đặt ra do thiếu hụt khung lý thuyết và
các mô hình phát tri ển. Hàng lo ạt những vấn đề quan tr ọng và bức xúc hi ện
nay ch ưa được nh ận th ức và gi ải quyết th ấu đáo nh ư: vấn đề quan h ệ gi ữa
tăng tr ưởng kinh t ế và CBXH; v ấn đề đảm bảo phân ph ối công b ằng trong
điều kiện KTTT định hướng XHCN; vấn đề an sinh xã hội v.v..
98
+ Chủ trương, đường lối, chính sách v ĩ mô, pháp lu ật của Đảng và Nhà
nước còn nhiều bất cập. Việc nghiên cứu, xây dựng chiến lược, kế hoạch tổng
thể về phát triển KTTT định hướng XHCN và thực hiện CBXH còn nhiều hạn
chế, nhi ều nội dung ch ưa dựa trên nh ững nguyên t ắc của KTTT. Th ể ch ế,
chính sách, n ăng lực của bộ máy qu ản lý và đội ng ũ cán b ộ qu ản lý hành
chính nhà nước còn nhiều hạn chế. Công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện, công
tác thanh tra, giám sát chưa kiên quyết, hiệu quả chưa cao.
+ Nh ận th ức của các c ấp, ngành và c ủa toàn xã h ội về ý ngh ĩa, tầm
quan tr ọng của việc thực hiện CBXH ch ưa đầy đủ. Thực tế hiện nay, th ực
hiện các chính sách xã h ội đảm bảo CBXH còn ch ậm hơn so v ới chính
sách kinh t ế; ch ưa có nh ững gi ải pháp h ữu hi ệu nh ằm gi ải quy ết hài hòa
các quan h ệ lợi ích, kh ắc ph ục kho ảng cách mâu thu ẫn gi ữa các vùng,
miền, các ngành l ĩnh vực của đời sống xã h ội, cũng nh ư tạo cơ hội cho
người dân được hòa nh ập vào đời sống cộng đồng, hướng tới xã h ội phát
triển bền vững.
3.2. NH ỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VI ỆC TH ỰC HI ỆN CÔNG BẰNG
XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH T Ế TH Ị TR ƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ H ỘI
CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
3.2.1. Mâu thu ẫn giữa yêu cầu khách quan c ủa việc thực hi ện công
bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với
năng lực chủ quan, trong đó có năng lực lãnh đạo, quản lý của Đảng và
Nhà nước còn hạn chế
Để đáp ứng yêu cầu khách quan c ủa thực hiện CBXH trong n ền KTTT
định hướng XHCN, đòi hỏi phải có sự phát huy cao độ vai trò của nhân tố chủ
quan, của các ch ủ th ể, trong đó, sự lãnh đạo của Đảng và qu ản lý c ủa Nhà
nước là quan trọng nhất.
Đảng cộng sản Việt Nam là người khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi
mới. Đảng tăng cường chỉ đạo nghiên cứu lý lu ận và tổng kết thực tiễn xây
dựng mô hình KTTT định hướng XHCN. M ục tiêu lãnh đạo của Đảng là
99
hướng tới lợi ích của toàn dân, cho nên, Đảng ta luôn xác định, việc thực hiện
CBXH là mục tiêu c ơ bản, song hành trong t ừng bước và c ả quá trình phát
triển của nền KTTT.
Cùng với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều tiết của Nhà nước cũng
luôn cần thi ết và có ý ngh ĩa. Nhà nước quản lý KTTT và th ực hi ện CBXH
bằng pháp lu ật, quy ho ạch, kế hoạch và các công c ụ điều tiết trên cơ sở tôn
trọng các quy lu ật thị trường. Nhà nước tăng cường giám sát, ch ủ động điều
tiết, giảm thiểu các tác động tiêu cực của thị trường, không phó m ặc cho th ị
trường hoặc can thiệp làm lệch lạc các quan hệ thị trường. Ở những giai đoạn
khác nhau, hình th ức, mức độ, ph ạm vi điều ti ết của Nhà nước có th ể khác
nhau, nhưng dù là ở giai đoạn nào, hoàn c ảnh nào, Nhà n ước cũng luôn ph ải
đặt lợi ích của nhân dân lên cao, luôn chú trọng các mục tiêu phát triển kinh tế
gắn với mục tiêu phát triển xã hội.
Hiện nay ở nước ta, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, trong
lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà n ước còn bộc lộc nhiều mặt hạn chế. Có
thể khái quát trên một số nội dung cơ bản như sau:
Thứ nhất, năng lực nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, xây dựng đường
lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về KTTT định hướng XHCN và
CBXH còn hạn chế.
Qua gần 30 năm đổi mới, chúng ta đã thực hiện sự chuyển đổi căn bản từ
một nền kinh t ế theo c ơ ch ế kế ho ạch hóa t ập trung sang c ơ ch ế thị trường
định hướng XHCN, tuy nhiên, đến nay, lý lu ận về KTTT định hướng XHCN
vẫn ch ưa được làm rõ. Nh ận th ức về vấn đề này trong đảng viên và qu ần
chúng còn có sự khác nhau. Một khi chưa thống nhất trong nh ận thức thì vai
trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực của Nhà nước cũng sẽ hạn chế, gây cản trở
lớn tới quá trình tổ chức thực hiện.
Trong một thời gian dài, chúng ta th ường quá đề cao việc thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, dẫn đến coi nhẹ việc giải quyết vấn đề xã hội; chưa nhận thức
100
được rằng việc tiếp cận các vấn đề xã hội và đề ra chính sách xã hội, cùng với
chính sách kinh tế luôn là chỉnh thể thống nhất hữu cơ trong sự phát triển con
người, vì một xã hội giàu mạnh, tiến bộ và ph ồn vinh. Kết quả là tình tr ạng
phân hóa giàu, nghèo, b ất công, bất bình đẳng xã hội ngày càng có xu h ướng
gia tăng. Đánh giá nh ững tồn tại, hạn chế trong công tác nghiên c ứu lý lu ận,
tổng kết thực tiễn về phát tri ển kinh tế và th ực thi CBXH, Đảng ta đã khẳng
định: “Lý luận chưa giải đáp được một số vấn đề của thực tiễn đổi mới và xây
dựng CNXH ở nước ta, đặc biệt là trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tốc
độ tăng trưởng kinh tế và ch ất lượng phát tri ển; giữa tăng trưởng kinh tế và
thực hiện công bằng xã hội” [31, tr 69].
Hiện nay, vi ệc xây d ựng và ban hành các v ăn bản pháp lu ật của Nhà
nước liên quan đến thực hiện CBXH còn nhi ều bất cập, vừa chậm, vừa thiếu
đồng bộ so với yêu cầu thực tiễn. Một số luật còn khá nhi ều sơ hở, dễ bị lợi
dụng, gây nên s ự kém công b ằng giữa các bộ phận dân cư, ảnh hưởng nhất
định đến tiến độ và kết quả xây dựng, hoàn thi ện môi tr ường pháp lý t ạo sự
bình đẳng giữa các thành ph ần kinh tế, các ch ủ thể kinh doanh. Vi ệc sửa đổi
những điểm không hợp lý và b ổ sung điểm mới phù h ợp còn châm tr ễ, làm
cho việc xử lý những vấn đề mới nảy sinh trong hoạt động thực tiễn thiếu căn
cứ pháp lý, nh ất là trong x ử lý nh ững sai ph ạm trong KTTT nh ư buôn l ậu,
hàng giả, hàng kém ch ất lượng, chuyển nh ượng quyền sở hữu đất đai, tham
nhũng, lãng phí v.v., ảnh hưởng xấu đến CBXH.
Thứ hai, Năng lực lãnh đạo, quản lý của các cán bộ đảng, nhà nước còn
hạn chế.
Trình độ, năng lực của các cán bộ đảng, nhà nước luôn được xem là yếu
tố quyết định trong xây dựng và th ực thi đường lối, chiến lược, sách lược và
các nhi ệm vụ cơ bản phát tri ển đất nước. Trong nh ững năm qua, trình độ,
năng lực, phẩm chất đạo đức của cán bộ đảng và nhà nước ta ngày càng được
nâng cao, tuy nhiên, hiện nay, chất lượng đội ngũ cán bộ đảng và nhà nước còn
101
tương đối thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới. Nhiều
cán bộ thiếu kiến thức và kỹ năng quản lý, thiếu tính nhạy bén thị trường, trách
nhiệm thực thi công v ụ chưa cao. Quy trình làm vi ệc của cán bộ, công ch ức
quản lý nhà n ước còn thi ếu tính chuyên nghi ệp. Dấu ấn của cơ chế tập trung
quan liêu, bao cấp còn đậm nét trong điều hành và tổ chức công việc của các cơ
quan, thể hiện ở số lượng giấy tờ hành chính lớn, thẩm quyền và trách nhi ệm
giải quyết công vi ệc của từng cán bộ, công ch ức chưa rõ, đặc biệt khâu ph ối
hợp giữa các cơ quan qu ản lý Nhà n ước trong quá trình gi ải quyết công vi ệc
còn yếu. Vi ệc tri ển khai áp d ụng các gi ải pháp k ỹ thu ật, nh ất là công ngh ệ
thông tin vào hoạt động quản lý nhà nước còn chậm và hiệu quả thấp.
Thứ ba, ph ương th ức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà n ước trong vi ệc
thực hiện CBXH còn nhiều hạn chế.
Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng quan điểm, đường lối, định hướng chính
trị giúp cho Nhà n ước phát huy vai trò, hi ệu qu ả ho ạt động. Nhà n ước ch ỉ
thực sự vững mạnh khi được dẫn dắt bởi định hướng chính tr ị đúng đắn; sức
mạnh của Đảng, sức mạnh của Nhà nước do Đảng lãnh đạo luôn là m ột thể
thống nhất hữu cơ, không thể tách rời.
Tuy nhiên, là hai m ặt thống nh ất, nhưng Đảng và Nhà n ước có vai trò,
chức năng khác nhau. Đảng là cơ quan lãnh đạo, chứ không ph ải là cơ quan
quản lý Nhà n ước. Đảng lãnh đạo, nh ưng không bi ến thành Nhà n ước, tr ở
thành những trung tâm hành chính sự vụ, biến cán bộ thành những người nắm
quyền lực Nhà n ước. Vi ệc phân định rõ vai trò, ch ức năng ho ạt động của
Đảng và Nhà nước là điều kiện đảm bảo vai trò của Đảng, đồng thời phát huy
vai trò của Nhà nước trong quá trình hoạt động.
Ở nước ta hi ện nay, tình tr ạng không phân định rõ về chức năng, nhiệm
vụ của các cơ quan đảng và nhà nước còn khá phổ biến, đặc biệt ở các cơ sở,
địa phương. Điều này dẫn đến sự chồng chéo về nhiệm vụ và quyền hạn gây
nhiều lúng túng trong t ổ chức hoạt động, làm giảm vai trò lãnh đạo của đảng
102
và hiệu lực quản lý của nhà nước. Ở nhiều lúc, nhiều nơi, đảng đã buông lỏng
vai trò lãnh đạo, phó mặc cho chính quyền hoạt động; và ngược lại tình trạng
đảng lấn sân vai trò c ủa chính quyền, làm cho ho ạt động của chính quyền trở
nên thụ động, kém hiệu quả còn tồn tại khá phổ biến.
Chính những hạn chế trong phân định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
giữa Đảng và Nhà nước đã dẫn tới tình trạng quan điểm, đường lối của Đảng
đúng đắn, nh ưng nhi ều khi không được th ực hi ện, th ậm chí th ực hi ện sai.
Trên thực tế, nhiều nơi đã xảy ra tình tr ạng vi ph ạm đường lối và chính sách
phát tri ển kinh t ế - xã h ội, gây nh ững hậu qu ả nghiêm tr ọng. Th ực hi ện
CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN là n ội dung lớn, cần được
quán tri ệt và ph ối hợp tích c ực gi ữa Đảng, chính quy ền và nhân dân. Đảng
cần đảm bảo tốt phương thức lãnh đạo, phát huy vai trò c ủa Nhà nước; Nhà
nước cần th ực hi ện ch ức năng qu ản lý hi ệu qu ả, đặt dưới sự lãnh đạo của
Đảng, đó là điều kiện quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện
CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở nước ta.
3.2.2. Mâu thuẫn giữa yêu cầu thực hiện công bằng xã hội ngày càng
đầy đủ, bền vững với khả năng đáp ứng của nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa còn giới hạn
Thực tế cho thấy, để thúc đẩy KTTT phát triển, tạo điều kiện giải quyết tốt
vấn đề tiến bộ, CBXH, đòi hỏi các yếu tố của thị trường phải hình thành đầy
đủ, các loại thị trường phải được phát triển đồng bộ với mức độ minh bạch cao
và có sự quản lý, giám sát tốt. Nói cách khác, khi KTTT phát triển hoàn thiện,
các quy lu ật cơ bản của KTTT mới được vận hành có hi ệu quả, đảm bảo tôn
trọng tính độc lập, tự chủ của các chủ thể kinh tế; sự phân bổ và sử dụng nguồn
lực mới có hiệu quả cao, tạo cơ hội và điều kiện để tiềm năng của các chủ thể
kinh doanh được phát huy. Khi KTTT phát tri ển hoàn thiện mới tạo điều kiện
giải quyết các vấn đề xã hội hiệu quả, CBXH mới được bảo đảm.
Tính ch ất hoàn thi ện của nền KTTT còn được th ể hi ện thông qua tính
thống nhất và tính tr ật tự của thị trường. Tính thống nhất của thị trường được
103
xác lập trên cơ sở đảm bảo các lo ại th ị trường giữa các vùng trong n ước là
một ch ỉnh th ể, không nên có tr ạng thái chia c ắt ho ặc khép kín. Trong quá
trình phát tri ển, tr ở ng ại lớn nh ất chính là s ự phân cách, bi ệt lập gi ữa các
ngành, địa phương. Các ngành và địa phương, thường xuất phát từ lợi ích cục
bộ của ngành và địa phương, sử dụng các biện pháp hành chính để độc quyền
kinh doanh, tận dụng nguyên vật li ệu tại địa phương để thỏa mãn riêng cho
nhu cầu của ngành, địa phương mình. Sự chia cắt và đóng cửa như vậy, sẽ tạo
tính cục bộ, cản trở sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế, vi phạm nguyên tắc
công bằng trong cơ hội và điều kiện phát tri ển của các ch ủ thể kinh tế. Tính
trật tự của KTTT đòi hỏi các ch ủ thể hoạt động ph ải dựa trên nh ững chuẩn
mực nhất định. Hệ thống thị trường được quy phạm hóa, hợp lý hóa trên cơ sở
hoàn thiện môi trường thể chế thị trường và đặc biệt là các chủ thể hoạt động
theo sự điều tiết vĩ mô của nhà nước và các quy t ắc chuẩn hóa. Ph ải hạn chế
và ng ăn ch ặn tình tr ạng độc quy ền trong s ản xu ất và kinh doanh, t ạo môi
trường thực sự thuận lợi và rộng mở cho mọi loại hình doanh nghiệp lớn, vừa
và nhỏ ở mọi thành phần kinh tế tham gia bình đẳng vào thị trường.
Ở nước ta, trong quá trình chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang
nền KTTT định hướng XHCN, các lo ại thị trường đang từng bước được hình
thành, do vậy, còn mang nhi ều yếu tố sơ khai, lại gặp không ít nh ững khiếm
khuyết của hệ th ống th ể ch ế kinh t ế và th ể ch ế hành chính, đã bị chia c ắt,
không ít tr ường hợp là độc quyền. Tính ch ất liên thông và đồng bộ giữa các
loại thị trường bị hạn chế. Trong quan h ệ thị trường, các giao d ịch còn kém
hiệu qu ả, nhi ều rủi ro, h ạn ch ế tính công b ằng, minh bạch; nhi ều khi do s ự
can thi ệp của cơ quan nhà n ước dẫn tới sự cản tr ở ho ặc làm bi ến dạng các
quan hệ thị trường. Tình hình đó đã buộc các chủ thể thiên về giao dịch ngắn
hạn, tìm ki ếm các cơ hội kinh doanh ng ắn hơn là có chi ến lược, phương án
kinh doanh, tranh thủ các cơ hội cho mục tiêu dài hạn. Có thể nêu ra tính hạn
chế, thiếu đồng bộ của một số loại thị trường chính ở nước ta như sau:
104
Nổi bật nhất và có nhiều vướng mắc nhất hiện nay là thị trường bất động
sản. Quyền sử dụng đất đai chưa được đặt trong quan h ệ thị trường, vẫn còn
được xử lý theo quan h ệ hành chính, không công khai, minh b ạch, còn nhi ều
phân biệt đối xử. Các giao d ịch bất động sản gặp nhiều khó kh ăn. Điều này
gây lên những bất công xã hội nghiêm trọng. Tình trạng bất bình, bức xúc của
người dân ngày càng t ăng, khối lượng các đơn thư khiếu kiện liên quan đến
vấn đề đất đai, bất động sản không ngừng gia tăng. Theo số liệu thống kê của
Bộ Tài nguyên và Môi tr ường, tại miền Bắc, năm 2011 có hơn 1.000 đơn thư
khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai, năm 2012 nh ận được gần 1.200 đơn
thư, 6 tháng đầu năm 2013 nhận được gần 600 đơn thư. Khu vực miền Trung
và Tây Nguyên, năm 2011 có trên 820 đơn thư gửi tới Bộ Tài nguyên và Môi
trường khiếu nại, tố cáo về đất đai; năm 2012 là trên 940 đơn thư và 6 tháng
đầu năm 2013 là 540 đơn thư.
Hiện nay, đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai chiếm 65-70%
tổng số đơn thư khiếu nại tố cáo trong cả nước; hầu hết các vụ việc khiếu nại,
tố cáo phức tạp, kéo dài đều liên quan đến đất đai.
Các chính sách đất đai, quy ho ạch, đầu tư phát tri ển còn dàn tr ải, ch ưa
khuyến khích việc kinh doanh bất động sản, thiếu tính hợp lý; việc xây dựng cơ sở
pháp lý cần thiết để điều chỉnh sự vận hành của thị trường bất động sản còn chậm,
gây cản trở đáng kể cho sự phát triển của thị trường bất động sản ở Việt Nam.
Thể chế vận hành của thị trường tài chính cũng chưa theo kịp những đòi
hỏi của đời sống kinh t ế, xã h ội. Thị trường tài chính nói chung, th ị trường
tiền tệ và th ị trường vốn nói riêng còn ở trình độ phát tri ển tương đối thấp.
Thị trường vốn chưa tạo thuận lợi và cơ hội bình đẳng cho người dân, đặc biệt
là các hộ gia đình, các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ cho dù có phương án
kinh doanh hi ệu qu ả, được ti ếp nh ận các ngu ồn vốn với điều ki ện tín d ụng
như nhau. Mối liên kết, tác động qua lại gi ữa các th ị trường trong hệ thống
còn thiếu chặt chẽ; hệ thống ngân hàng ti ềm ẩn nhiều rủi ro, tính minh b ạch
thông tin chưa thường xuyên được đảm bảo.
105
Thị trường lao động chưa tạo điều kiện thúc đẩy sự chuyển dịch lao động,
phân bố lại lao động, bảo đảm cho người lao động có nhiều cơ hội lựa chọn việc
làm và có thu nh ập thỏa đáng. Lao động chưa thực sự được coi là hàng hóa,
người lao động chưa được tự do ký kết hợp đồng lao động theo nguyện vọng của
mình. Người sử dụng lao động cũng chưa được đảm bảo quyền tự do lựa chọn,
tuyển chọn, sử dụng lao động và trả công xứng đáng cho người lao động theo cơ
chế thị trường.
Thị trường khoa h ọc và công ngh ệ chưa gắn với ho ạt động kinh doanh
của các doanh nghi ệp, nhất là chưa ứng dụng được công nghệ thích hợp, tiên
tiến vào thực tiễn sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Mặc dù Việt Nam
đã quan tâm xây d ựng các th ể chế khoa học và công ngh ệ nh ằm hỗ trợ các
doanh nghiệp nâng cao n ăng lực và trình độ công ngh ệ, song nh ững thể chế
đó chưa đầy đủ hoặc chưa đủ mạnh nên tác động đem lại còn rất hạn chế. Các
quy định về quy ền tác gi ả, bảo hộ sở hữu công nghi ệp, chuy ển giao công
nghệ…, vẫn ch ưa tạo điều ki ện cho vi ệc giao dịch về khoa học, công ngh ệ
tiến hành theo c ơ chế thị trường, không bị ràng bu ộc bởi các quy định hành
chính không cần thiết.
Ở nước ta hi ện nay, th ị tr ường ch ưa phát tri ển đồng bộ xét trên c ả
phương diện hệ thống các loại thị trường cũng như các yếu tố trong từng loại
thị trường. Nghiêm tr ọng hơn, có th ị trường bị bóp méo, ho ạt động “ngầm”,
mà Nhà nước chưa kiểm soát được. Đây là những nhân tố trực tiếp tạo sự xáo
trộn trong phát tri ển kinh tế - xã h ội, làm th ất thoát l ớn nguồn thu của Nhà
nước, tạo môi tr ường làm giàu phi pháp cho m ột số cá nhân, t ổ chức xã hội.
Tình trạng cạnh tranh không lành m ạnh, gian lận thương mại, làm hàng gi ả,
hàng nhái, kinh doanh hàng hóa mất vệ sinh, thiếu an toàn…còn khá phổ biến
và chậm được khắc phục đang ngày càng tr ở thành nh ững vấn đề nhức nhối,
gây bất công xã hội nghiêm trọng không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà cả các
lĩnh vực khác của đời sống xã hội.
106
Về mặt thể chế thị trường, hệ thống pháp luật chưa được xây dựng đầy đủ,
đồng bộ, thiếu ổn định, chưa minh bạch, chưa tạo được hành lang pháp lý thật sự
thuận lợi, an toàn cho sự vận hành thông suốt và thống nhất của nền KTTT định
hướng XHCN; chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng một Nhà nước pháp quyền của
dân, do dân và vì dân. Một số quy định pháp luật còn chồng chéo, thậm chí trái
ngược nhau gây nhiều khó khăn cho việc thực hiện, tạo kẽ hở cho những hành vi
tham nhũng, vi phạm pháp luật…Vẫn còn nhiều thủ tục hành chính không hợp
lý, phức tạp, gây phiền hà cho người dân và cho doanh nghiệp.
3.2.3. Mâu thu ẫn gi ữa yêu c ầu về sự đồng thu ận trong th ực hi ện
công bằng xã hội với sự xung đột về lợi ích gi ữa lợi ích cá nhân, l ợi ích
nhóm và lợi ích xã hội
Xét về thực chất, CBXH là sự tương xứng trong tương quan lợi ích giữa
các thành viên xã hội trên các phạm vi chủ thể khác nhau, từ mỗi cá nhân đến
nhóm xã hội và toàn xã h ội. Xã hội càng công b ằng, sự gắn bó gi ữa các ch ủ
thể lợi ích càng lớn, và chính sự gắn bó thống nhất giữa các chủ thể lợi ích sẽ
tạo nên sự thống nhất, đồng thuận trong việc tiếp tục thực hiện CBXH, qua đó
xã hội sẽ ngày càng công bằng hơn.
Với mỗi cá nhân, CBXH s ẽ giúp họ luôn nhận thức đúng được khả năng
và mức độ cống hi ến của bản thân trong t ương quan v ới lợi ích chung c ủa
toàn xã h ội để th ực hi ện lợi ích riêng c ủa mình. CBXH động viên, khuy ến
khích, tạo cơ hội và điều kiện để cá nhân phát huy tài l ực, trí lực, vật lực cho
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Càng có nhiều CBXH, càng thôi thúc
các nhà hoạt động kinh doanh bỏ vốn, thậm chí sẵn sàng chấp nhận rủi ro, đầu
tư tái sản xuất mở rộng. Xã hội càng công b ằng càng thôi thúc các nhà khoa
học mang hết tài năng sáng tạo tri th ức khoa học - kỹ thuật mới để phục vụ
cho xã hội. Xã hội càng công b ằng, càng tạo điều kiện giúp đỡ những người
gặp hoàn cảnh khó khăn có cơ hội và điều kiện vươn lên trong cuộc sống, hòa
nhập cộng đồng v.v..
107
Đối với các nhóm l ợi ích xã h ội, CBXH t ạo điều ki ện tăng cường hợp
tác, liên kết gi ữa các thành viên trong nhóm, t ừ đó tìm ra các ph ương th ức
phù hợp phát huy t ối đa vai trò, ý chí và s ức mạnh phục vụ cho nhu c ầu lợi
ích của mỗi thành viên cũng như sức mạnh chung của cả nhóm. CBXH duy trì
và bảo vệ lợi ích nhóm tích c ực với tư cách là l ợi ích chính đáng, hợp pháp,
không mâu thuẫn mà ngược lại, luôn hướng tới và hài hòa v ới lợi ích xã hội;
đồng thời CBXH chống lại lợi ích nhóm tiêu cực, là lợi ích cục bộ của những
đơn vị, địa phương, của những nhóm người xác định, xung đột, mâu thuẫn với
lợi ích chung của xã hội.
Ở phạm vi rộng nhất, bao quát nhất là lợi ích xã hội. Lợi ích xã hội là lợi
ích chung của cả cộng đồng, đảm bảo cho sự tồn tại và phát tri ển của xã hội
nói chung. Lợi ích xã hội không phải là cái trừu tượng mà nó tồn tại, biểu hiện
thông qua lợi ích của từng cá nhân, từng nhóm xã hội, từng giai cấp, tầng lớp
xã hội cụ thể. Mỗi cá nhân, nhóm xã h ội, mỗi giai c ấp, tầng lớp xã hội đều
tham gia t ạo dựng lợi ích chung c ủa xã h ội, đồng th ời th ực thi l ợi ích c ủa
mình với tư cách là những chủ thể xác định trong xã hội.
Ở Việt Nam, trong thời kỳ đổi mới, nhằm phát triển kinh tế và thực hiện
CBXH vì m ục tiêu, dân giàu, n ước mạnh, dân ch ủ công b ằng, văn minh,
chúng ta đã từng bước giải quyết quan hệ hợp lý giữa cá nhân và xã h ội, nhất
là hướng tới bảo vệ lợi ích cá nhân, không ngừng tạo điều kiện phát huy năng
lực sáng tạo cá nhân, rèn luy ện ý th ức đạo đức, trách nhi ệm cộng đồng, qua
đó thúc đẩy xã hội phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây,
dưới tác động mặt trái của KTTT, quan h ệ giữa cá nhân và xã h ội ở nước ta
đang bộc lộ hàng lo ạt những vấn đề bất cập, gây khó kh ăn đối với việc thực
hiện CBXH. KTTT ở nước ta đang trong quá trình hình thành, còn nhi ều yếu
tố sơ khai, tính t ự phát c ủa KTTT t ồn tại khá ph ổ bi ến, dẫn đến xu h ướng
tuyệt đối hóa TTKT, tất cả cho TTKT và l ợi nhuận. Trước sức ép về nhu cầu
vật chất, nhiều cá nhân lao vào kiếm tiền bằng mọi giá, mọi thủ đoạn, vi phạm
108
nghiêm trọng lợi ích chung của cộng đồng. KTTT hiện nay đang là mảnh đất
tốt cho sự nảy sinh và phát tri ển của chủ nghĩa cá nhân, nh ất là ch ủ nghĩa cá
nhân cực đoan ở một bộ phận không nh ỏ của xã hội. Bên cạnh đó, trình độ
quản lý của Nhà nước còn th ấp và có nhi ều sơ hở, luật pháp ch ưa được tuân
thủ một cách nghiêm minh, trình độ nhận thức về dân chủ của nhân dân chưa
cao…, cũng là nh ững điều kiện thuận lợi cho sự nảy sinh những hành vi tiêu
cực của cá nhân. Vì l ợi ích cá nhân ích k ỷ mà nhiều người có thể làm những
việc phi pháp, phi đạo đức, miễn là nh ững việc làm đó đem lại thu nh ập cao
cho họ. Vì mu ốn giải quyết được việc riêng cho mình m ột cách thu ận lợi và
nhanh chóng hơn người khác, nhi ều người thường dùng hình th ức hối lộ cho
người có ch ức, có quyền; còn ng ười có ch ức, có quyền có khuynh h ướng ưu
tiên giải quyết những công việc có lợi cho mình trước. Điều đó dẫn tới hệ quả
là, khi một thiểu số cá nhân được hưởng lợi lớn thì cộng đồng xã hội lại phải
gánh chịu những thiệt hại do những cá nhân đó gây ra.
Rõ ràng là, việc tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, không chỉ gây thiệt hại, bất
công xã hội trong lĩnh vực kinh tế, làm kinh t ế tăng trưởng thiếu bền vững,
mà nghiêm trọng hơn, đã phá vỡ mối liên kết giữa các thành viên xã h ội, làm
cho quan hệ xã hội lỏng lẻo, các giá tr ị xã hội, các chu ẩn mực đạo đức tinh
thần không được coi trọng, tác động xấu tới việc lành mạnh hóa các quan h ệ
xã hội, tạo lực cản tới quá trình xây dựng CNXH ở nước ta.
Ngoài những vấn đề trên, hi ện nay trong xã h ội còn tồn tại mâu thu ẫn,
xung đột giữa cá nhân và xã hội xét trong quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi;
giữa cống hi ến và h ưởng th ụ các l ợi ích xã h ội. Hi ện tượng nhi ều cá nhân
chưa được hưởng thành qu ả tương xứng với mức đóng góp cho xã h ội đang
gây bất công xã h ội sâu s ắc. Xung đột gi ữa nhà đầu tư và ng ười lao động,
giữa người lao động và cán bộ, cơ quan nhà nước thực thi công vụ… gia tăng,
mà thiệt thòi ph ần lớn đều thuộc về những người lao động. Những năm gần
đây, số lượng các cu ộc đình công của người lao động tăng lên. Theo s ố liệu
109
thống kê của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, từ năm 1992 đến hết năm
2012, cả nước xảy ra 4.992 vụ đình công. Nếu tính riêng trong 5 năm, từ năm
2008 đến năm 2012, cả nước xảy ra hơn 3000 vụ tranh chấp và đình công trên
địa bản 29 tỉnh, thành phố. Năm 2011, xảy ra nhiều vụ đình công nhất với hơn
1000 vụ. Hầu hết các cu ộc đình công đều phát sinh t ừ nh ững chủ đầu tư vi
phạm lợi ích c ủa ng ười lao động dưới nhi ều hình th ức khác nhau nh ư tr ả
lương thấp, phạt lương tùy ti ện, cắt xén ti ền thưởng, định mức lao động quá
cao, kéo dài thời gian lao động. Đặc biệt là thái độ không tôn trọng, xúc phạm
danh dự, nhân phẩm người lao động của chủ doanh nghiệp đã tạo nên sự phản
ứng ngày càng mạnh mẽ của người lao động.
Trong xã h ội ta hi ện nay, v ẫn còn t ồn tại một bộ ph ận không nh ỏ cá
nhân, tổ chức trốn tránh thực hiện nghĩa vụ xã hội. Hiện tượng trốn, lậu thuế
gây thiệt hại hàng tr ăm tỷ đổng mỗi năm của Nhà nước là minh ch ứng cho
điều đó. Bên cạnh đó, tình tr ạng tham nhũng với quy mô ngày càng l ớn, tính
chất ngày càng phức tạp trên mọi lĩnh vực xã hội cũng đang gây ra những tổn
hại nghiêm trọng cho xã hội, làm tha hóa cá nhân, kìm hãm s ự phát triển tiến
bộ của xã hội.
Liên quan đến nh ững hạn ch ế, tiêu c ực trên, m ột vấn đề gây b ức xúc
nhiều hiện nay ở nước ta là mâu thuẫn, xung đột giữa các nhóm lợi ích xã hội.
Theo tác gi ả Hồ Bá Thâm, xung đột nhóm lợi ích ph ổ biến hiện nay là gi ữa
“nhóm đầu cơ”, tức là nhóm l ợi dụng các kẽ hở luật pháp, ho ặc dựa vào các
thực lực kinh t ế, ch ức quy ền, sự tha hóa c ủa một bộ ph ận công ch ức Nhà
nước nhằm mưu lợi cho mình và “nhóm bị đầu cơ”, hay “nhóm thiệt hại”, tức
là những nhóm xã hội bị thiệt hại từ những hành vi tiêu cực đó [123, tr.45].
Sự cấu kết, lộng hành của các nhóm lợi ích tiêu cực ở nước ta hiện nay tồn tại
trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý
đất đai, khoáng sản, cho đến y tế, giáo dục v.v..Trong điều kiện thể chế KTTT
chưa phát triển đồng bộ, hệ thống pháp luật chưa đầy đủ, thiếu tính công khai,
110
minh bạch, các nhóm lợi ích tiêu cực ngày càng gia tăng. Biểu hiện chủ yếu của
nhóm lợi ích tiêu cực ở nước ta là tình trạng cấu kết của doanh nghiệp với những
người có quyền lực tạo thành mối quan hệ “ngầm” chi phối xã hội. Nhiều doanh
nghiệp không chú trọng định hướng phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao năng
suất, chất lượng và hiệu quả sản phẩm, mà chủ yếu quan tâm tới việc “chăm sóc”
các mối quan hệ với các quan chức nhà nước, tạo ra môi trường kinh doanh không
lành mạnh, thu lời bất chính. Bản chất mối quan hệ không bình thường giữa cán
bộ, đảng viên có ch ức, quyền với doanh nghiệp để trục lợi là một dạng “tham
nhũng” đặc biệt, làm cho lợi ích nhóm có thể chi phối cả nền kinh tế, thậm chí cả
chính trị. Mối quan hệ không bình thường của lợi ích nhóm tiêu cực tạo ra môi
trường kinh doanh thiếu lành mạnh, bóp méo các chính sách của Nhà nước, thay
vì ban hành chính sách để phục vụ lợi ích của đại bộ phận nhân dân, lại quay sang
chỉ để phục vụ một số ít doanh nghiệp, làm mất niềm tin của các nhà đầu tư chân
chính, xâm hại nghiêm trọng lợi ích của cộng đồng. Bên cạnh đó, lợi ích nhóm
tiêu cực còn góp phần làm suy giảm uy tín của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân,
gây bức xúc trong dư luận xã hội, tạo kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên
tạc, bôi nhọ, nói xấu, kích động nhân dân chống lại Đảng, Nhà nước. Trên thực tế,
có lúc, có nơi, các thế lực thù địch đã kích động được một bộ phận nhân dân gây
bạo loạn làm mất ổn định chính trị. Nếu Đảng, Nhà nước không kiên quyết xử lý
nghiêm minh, tiếp tục để lợi ích nhóm tiêu cực lộng hành sẽ tạo thuận lợi thêm
cho các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện những âm mưu phản động đe dọa sự
tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ.
3.2.4. Mâu thuẫn giữa yêu cầu thực hiện công bằng xã hội bền vững
với khuynh hướng phân tầng xã hội ngày càng gia tăng
Phân tầng xã hội là một hiện tượng xã hội khách quan, phổ biến ở mọi xã
hội. Dưới góc độ xã hội học, phân tầng xã hội có nguồn gốc từ sự tồn tại của
tình trạng bất bình đẳng mang tính c ơ cấu của tất cả các ch ế độ xã hội và sự
phân công lao động trong xã h ội. Bên c ạnh đó, sự khác nhau v ề mặt vị th ế
111
trong xã hội cũng dẫn tới sự phân tầng xã hội “Trong xã hội luôn chỉ có một
số rất ít những vị thế thuộc tầng lớp cao, có nhiều ưu thế về mặt quyền lực, lợi
ích kinh tế và uy tín xã h ội; còn lại đa số các vị thế khác thu ộc các tầng lớp
thấp hơn hoặc ở tầng đáy của xã hội, chính th ực tế khách quan này đã tạo ra
sự phân tầng xã hội” [127, tr.65].
Bức tranh khái quát v ề phân t ầng xã h ội ở Vi ệt Nam cho th ấy, phân
tầng xã hội có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực. Phân tầng xã hội tích cực phù
hợp với CBXH, tạo động lực thúc đẩy tính năng động xã hội, khả năng cạnh
tranh và v ươn lên c ủa con ng ười và xã h ội. Nh ững người có trình độ, năng
lực cao và điều ki ện tốt sẽ có nhi ều cơ hội phát tri ển và được hưởng th ụ
tương xứng với vị thế của họ, ngược lại những người có trình độ và năng lực
hạn chế, khả năng đóng góp cho xã h ội ít thì h ọ sẽ được xã hội đánh giá và
nhìn nh ận đúng mức với nh ững gì h ọ có và làm cho xã h ội. Nh ư Hồ Chí
Minh đã khẳng định “ Làm nhi ều hưởng nhiều, làm ít h ưởng ít, không làm
thì không hưởng” [75, tr.404].
Tuy nhiên, bên cạnh phân tầng xã hội tích cực, còn có phân tầng xã hội tiêu
cực, nghĩa là phân tầng xã hội không chủ yếu dựa trên sự khác biệt về năng lực,
trình độ, điều kiện thực tế và kh ả năng cống hiến thực tế của mỗi người, mỗi
nhóm xã hội cụ thể cho xã hội. Đây là dạng phân tầng xã hội “Dựa vào những
hành vi trái pháp luật, tham nhũng, lừa gạt, trộm cắp, buôn bán phi pháp để trở
nên giàu có, luồn lọt, xu nịnh, để có vị trí cao trong xã hội hoặc lười biếng, ỷ lại
để rơi vào sự nghèo khó, hèn kém” [114, tr.122]. Dạng phân tầng xã hội này diễn
ra mạnh, đặc biệt là trong điều kiện các thể chế KTTT chưa hoàn thiện, đồng bộ,
hệ thống pháp luật chưa thực sự đầy đủ, xử lý pháp luật chưa nghiêm minh và ý
thức tự giác về chính trị - xã hội của người dân chưa cao. Phân tầng xã hội tiêu
cực cản trở sự phát triển kinh tế và quá trình thực hiện CBXH.
Phân tầng xã hội tiêu cực thể hiện một cách tự phát, cực đoan, mà bi ểu
hiện rõ nh ất là sự phân hóa giàu nghèo, chênh l ệch về mức sống ngày càng
112
gia tăng. Sự gia t ăng kho ảng cách giàu nghèo đôi khi đến mức tương ph ản
thành hai cực trong xã hội đang trở thành vấn đề bức xúc cần phải giải quyết,
đó là s ự xu ất hi ện nh ững nhóm xã h ội vượt tr ội và nhóm xã h ội yếu th ế.
Những nhóm xã h ội vượt trội là nh ững người giàu có “ đột biến” với tài sản
lên tới vài tr ăm triệu đô la. H ọ là nh ững người giàu không ph ải do nguyên
nhân bất chấp pháp luật mà làm giàu từ bất động sản và nhiều nguồn lợi khác.
Sự giàu có của nhóm người này tạo khoảng cách, chênh lệch giàu nghèo càng
lớn và đây cũng là biểu hiện của sự phân hóa giàu nghèo không ch ủ yếu dựa
trên tài năng, sự cống hiến khác nhau của mỗi người cho xã hội.
Đối lập với nhóm giàu có v ượt trội là nh ững nhóm xã h ội yếu thế. Ở
những nhóm xã h ội này, kh ả năng ti ếp cận cơ hội, điều ki ện th ị tr ường
của họ rất hạn ch ế. Một bộ phận dân c ư khá đông, ch ủ yếu là ở các vùng
nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng dân t ộc mi ền núi v ẫn trong tình
trạng đói nghèo, thi ếu các điều ki ện phát tri ển kinh t ế. Họ hầu nh ư bị
tách bi ệt kh ỏi ti ến trình đổi mới và t ăng tr ưởng của đất nước. Ph ần lớn
những hộ nghèo là do đông con, thi ếu việc làm, thi ếu đất sản xu ất, thi ếu
điều ki ện ch ăm sóc y t ế; một số không có kinh nghi ệm ho ặc lười lao
động, sa vào các t ệ nạn xã h ội như rượu, chè, c ờ bạc…,thậm chí không ít
người do không bi ết cách làm ăn đã bị cơ ch ế th ị tr ường đào th ải và r ơi
vào tình tr ạng bần cùng hóa. Bên c ạnh đó, một số bất cập trong c ơ ch ế,
chính sách làm cho ng ười nghèo khó có kh ả năng ti ếp cận các d ịch vụ xã
hội và do v ậy, kho ảng cách v ề mức sống, phân hóa giàu, nghèo ngày
càng trở nên xa h ơn.
Trong xã h ội, bên c ạnh nh ững cá nhân, các nhóm xã h ội bi ết làm
giàu chân chính, h ợp pháp v ẫn còn t ồn tại không ít nh ững kẻ làm giàu
phi pháp, hành động bất ch ấp pháp lu ật và đạo đức, nh ư buôn gian, bán
lậu, lừa đảo, tham nh ũng, h ối lộ, cướp đoạt lao động của ng ười khác, l ợi
dụng để tr ục lợi riêng mà làm t ổn th ương lợi ích chung, ảnh hướng xấu
113
đến lợi ích lâu dài c ủa cộng đồng xã h ội. Đó là s ự giàu có không d ựa
trên s ức lao động, tài n ăng và s ự đóng góp, c ống hiến. Trong n ền KTTT,
bóc lột, bất công v ẫn tồn tại trong các quan h ệ lao động, trong mua bán
sức lao động, đây cũng là m ột kênh d ẫn tới làm giàu phi pháp. K ẽ hở
trong pháp lu ật, chính sách và nh ững yếu kém trong qu ản lý c ũng là
mảnh đất tốt cho s ự nảy nở làm giàu phi pháp và phân t ầng xã h ội tiêu
cực. Một bi ểu hi ện khác c ủa phân t ầng xã h ội tiêu c ực hi ện nay là vi ệc
làm giàu do l ợi dụng ch ức quy ền và nh ững thu ận lợi địa vị, ch ức quy ền
và nh ất là nh ững mối quan h ệ thân h ữu mà các nhà nghiên c ứu gọi là
“chủ ngh ĩa tư bản thân h ữu”. Đó là tr ường hợp một số quan ch ức trong
khu vực nhà n ước có m ối quan h ệ ch ặt ch ẽ theo ki ểu “hai bên cùng có
lợi” với nh ững ch ủ doanh nghi ệp trong khu v ực tư nhân mà xã h ội ph ải
trả giá quá đắt nh ư sự th ất thoát tài s ản, lãng phí, ô nhi ễm môi tr ường,
xói mòn đạo đức, kỷ cương pháp lu ật.
Trong nh ững năm tới, xu h ướng tiêu c ực này ti ếp tục bộc lộ rõ v ới
mức độ gia t ăng và bi ểu hi ện tinh vi, ph ức tạp do phát tri ển KTTT, trong
đó phát tri ển mạnh kinh t ế tư nhân, do hi ệu quả chưa cao của cải cách hành
chính, do thi ếu tính nghiêm minh c ủa pháp lu ật và do s ự tham gia c ầm
chừng trong đấu tranh phòng, ch ống tham nhũng và các t ệ nạn xã hội.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Thực hiện CBXH gắn với quá trình quá trình xây d ựng và phát tri ển nền
KTTT định hướng XHCN và là m ột trong nh ững nội dung tr ọng tâm của sự
nghiệp đổi mới ở nước ta. Đảng và Nhà nước ta, trên tinh th ần tôn trọng quy
luật khách quan, kiên trì m ục tiêu xây dựng xã hội giàu mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh đã từng bước đổi mới tư duy lý luận về CBXH và KTTT định
hướng XHCN, xây d ựng quan điểm, đường lối phát tri ển phù hợp, phát huy
sức mạnh của toàn dân, đạt được những thành tựu to lớn thúc đẩy TTKT, đảm
114
bảo CBXH trong s ản xuất kinh doanh c ủa các ch ủ thể kinh tế; điều tiết phân
phối các nguồn lực và phân phối thu nhập theo hướng CBXH v.v..; những giá
trị ưu vi ệt của CNXH ngày càng được kh ẳng định, ni ềm tin, s ự đoàn kết
thống nhất toàn xã hội ngày càng được nâng cao.
Tuy nhiên, cùng v ới những thành tựu đạt được, chúng ta đang phải đối
mặt với nhiều khó kh ăn thử thách to l ớn cần giải quyết. Tình trạng phân biệt
đối xử giữa các thành ph ần kinh tế, tình trạng bất cập trong việc gắn kết giữa
TTKT với thực hiện CBXH, đặc biệt là tệ tham nh ũng, lãng phí gia t ăng đã
gây nên những bất công xã hội sâu sắc, tác động tiêu cực tới tính chất XHCN
trong sự phát triển của đất nước. Hiện nay, trong quá trình phát tri ển của nền
KTTT định hướng XHCN và h ội nh ập qu ốc tế, bên c ạnh nh ững thu ận lợi,
hàng lo ạt nh ững mâu thu ẫn ph ức tạp đang đặt ra đối với quá trình th ực thi
CBXH nh ư: mâu thu ẫn gi ữa TTKT g ắn với CBXH và kh ả năng th ực hi ện;
mâu thuẫn giữa tính ch ất chưa đồng bộ của nền KTTT và th ực hiện CBXH;
mâu thuẫn giữa sự gia tăng xung đột lợi ích cá nhân, l ợi ích nhóm, lợi ích xã
hội và nhi ệm vụ thực hi ện CBXH; mâu thu ẫn giữa sự phân tầng xã h ội với
thực hiện mục tiêu CBXH. Những mâu thuẫn này luôn tồn tại khách quan, tác
động thường xuyên và tr ực ti ếp đến xã h ội, mu ốn vượt qua đòi hỏi ph ải có
những chiến lược, giải pháp phù hợp, đảm bảo vừa phát triển kinh tế vừa thực
hiện CBXH trong từng bước và cả quá trình phát triển của đất nước.
115
Chương 4
NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU BẢO ĐẢM THỰC HIỆN
CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
4.1. XÂY D ỰNG VÀ HOÀN THI ỆN TH Ể CH Ế KINH T Ế TH Ị TR ƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Như đã phân tích, KTTT định hướng XHCN đã tạo ra những cơ sở kinh tế -
xã hội quan trọng nhằm thực hiện CBXH. Hiện nay, ở nước ta, KTTT đang trong
quá trình xây dựng và phát triển, còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục, trong đó
nổi bật là tính chất chưa đồng bộ trong thể chế, chính sách của KTTT cũng như
trong phương thức hoạt động của các loại thị trường; xu hướng cạnh tranh lành
mạnh giữa các chủ thể kinh tế chưa được đảm bảo; tình trạng không minh bạch,
có nhiều sân chơi, nhiều ưu đãi đang gây ra tình trạng mất CBXH nghiêm trọng
v.v..Do vậy, một trong nh ững nhi ệm vụ quan tr ọng hàng đầu nh ằm thúc đẩy
TTKT và thực hiện CBXH ở nước ta hi ện nay là ph ải đẩy nhanh nhịp độ phát
triển KTTT, hướng tới một nền KTTT đồng bộ và hiện đại, từng bước hội nhập
quốc tế. Để thực hiện mục tiêu đó, nhiệm vụ trọng tâm và cơ bản là phải xây dựng
và hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN. Hiểu một cách khái quát, thể chế
KTTT định hướng XHCN ở nước ta là hệ thống các quy tắc, cơ chế, cách thức xác
định của KTTT được vận hành bởi các chủ thể kinh tế khác nhau theo hướng vừa
đảm bảo phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường, vừa phát huy vai trò tích cực của
Nhà nước trong hỗ trợ và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hệ thống thể chế
KTTT định hướng XHCN phải khẳng định mục tiêu cao nhất của việc xây dựng
nền KTTT là đạt được một xã hội “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh”, gắn TTKT với việc thực hiện CBXH ngay trong từng bước và cả
quá trình phát triển. Trong thời gian tới, để thực hiện được mục tiêu này, cần phải
triển khai đồng bộ các giải pháp chính sau:
116
Một là, từng bước xây dựng, hoàn thi ện th ể ch ế KTTT hi ện đại, nâng
cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Thể chế KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam ph ải đảm bảo cho các
quan h ệ sản xu ất được xác l ập và không ng ừng hoàn thi ện theo h ướng
ngày càng phù h ợp hơn với trình độ phát tri ển của lực lượng sản xu ất
trong từng th ời kỳ, phát huy t ối đa mọi ti ềm năng tăng tr ưởng, th ực hi ện
xóa bỏ hoàn toàn m ọi hình th ức phân bi ệt đối xử theo hình th ức sở hữu và
phương thức sản xuất của các lo ại hình doanh nghi ệp sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, để đảm bảo hi ệu qu ả CBXH, c ần thi ết ph ải khẳng định và t ạo
điều ki ện cho kinh t ế nhà n ước gi ữ vai trò ch ủ đạo, là l ực lượng vật ch ất
quan tr ọng để Nhà n ước định hướng và điều ti ết kinh t ế, tạo môi tr ường
và điều kiện thúc đẩy các thành ph ần kinh t ế khác cùng phát tri ển; kinh t ế
nhà n ước và kinh t ế tập th ể ngày càng tr ở thành n ền tảng vững ch ắc của
nền kinh t ế quốc dân.
Trong điều ki ện KTTT định hướng XHCN, phát tri ển kinh t ế tư nhân
cũng phải được xác định là vấn đề chiến lược trong phát tri ển kinh t ế nhiều
thành ph ần định hướng XHCN ở nước ta. Th ể ch ế KTTT ph ải được xây
dựng và hoàn thi ện theo h ướng đảm bảo cho mọi chủ thể kinh tế, mọi công
dân và doanh nghi ệp đều có quy ền tự do, bình đẳng tham gia vào các ho ạt
động đầu tư, kinh doanh. Quy ền sở hữu tài s ản và quy ền tự do kinh doanh
là bất kh ả xâm ph ạm, được bảo đảm bằng pháp lu ật. Mọi ng ười đều bình
đẳng trong ti ếp cận các c ơ hội, ngu ồn lực, kể cả các ngu ồn thông tin th ị
trường. Để làm được điều đó, trong th ời gian t ới, cần đẩy nhanh quá trình
cải cách th ủ tục hành chính, rà soát để xóa bỏ các thủ tục hành chính không
phù hợp, tạo rào c ản đối với các doanh nghi ệp. Đơn giản hóa th ủ tục hành
chính, ki ện toàn b ộ máy, nâng cao n ăng lực th ực thi pháp lu ật, đồng th ời
tiếp tục nghiên c ứu, sửa đổi và b ổ sung các quy định pháp lý phù h ợp với
117
môi tr ường kinh doanh trong n ước và qu ốc tế; đảm bảo công b ằng, không
phân biệt đối xử, phát huy t ối đa năng lực sản xuất kinh doanh c ủa mọi chủ
thể sản xuất, kinh doanh. Ti ếp tục xóa b ỏ những rào c ản về vốn, thông tin,
tăng cường chính sách h ỗ trợ, ưu đãi đối với các doanh nghi ệp.
Đẩy nhanh ti ến trình cổ ph ần hóa doanh nghi ệp nhà nước, thu hẹp lĩnh
vực độc quyền của nhà n ước, xóa b ỏ độc quyền doanh nghi ệp. Hạn ch ế và
tiến tới xóa bỏ các hình thức hỗ trợ trái với quy định của pháp luật và các quy
tắc thương mại quốc tế.
Xây dựng và hoàn thi ện thể chế KTTT ph ải hướng tới đảm bảo TTKT
bền vững thông qua vi ệc chuy ển đổi mô hình kinh t ế theo chi ều sâu. Mô
hình kinh t ế cũ chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, công ngh ệ gia công
đã khi ến cho ch ất lượng và hi ệu quả TTKT th ấp. Để phát tri ển kinh t ế bền
vững trong dài h ạn, cần ph ải chuy ển đổi mô hình kinh t ế theo h ướng gia
tăng hi ệu qu ả sử dụng ngu ồn lực, thân thi ện với môi tr ường, sử dụng tốt
các đòn bẩy, luật lệ, khuyến khích sáng t ạo, tăng năng su ất lao động, nâng
cao năng lực cạnh tranh.
Để kinh tế tăng trưởng cao và có ch ất lượng, đòi hỏi phải gia tăng vốn
đầu tư cho phát triển và quan trọng hơn phải sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả;
tăng cường phát huy khả năng đầu tư của nhân dân và kinh tế tư nhân, thu hút
mạnh hơn vốn đầu tư nước ngoài, ngăn chặn tình trạng đầu tư không hiệu quả,
vốn đầu tư bị đục khoét…Đây là điều kiện cực kỳ quan tr ọng cho TTKT và
ngăn chặn tham nhũng, bất công xã hội.
Nhà nước cần chỉ đạo điều chỉnh, bổ sung các quy ho ạch, kế hoạch đầu
tư, gắn với các mục tiêu chi ến lược phát tri ển hài hòa, đồng bộ về kinh t ế -
xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo đảm tính liên ngành, liên vùng; phân
cấp, phân định rõ ràng trách nhi ệm, quyền hạn của từng bộ, ngành, gi ữa bộ
ngành với địa phương, nâng cao trách nhi ệm quản lý, điều hành của các cấp.
118
Hai là, đảm bảo tính đồng bộ, th ống nh ất trong th ể ch ế vận hành c ủa
KTTT cũng như trong sự phát triển của các loại thị trường.
Tính ch ất đồng bộ, th ống nh ất của hệ th ống th ể ch ế KTTT được th ể
hiện thông qua tính đồng bộ và hi ệu qu ả của pháp lu ật, chính sách và các
thông lệ tích cực của thị trường, đảm bảo ngày càng phát huy n ăng lực của
các chủ thể như Nhà nước, doanh nghi ệp và người dân. Không ch ỉ vậy, tính
đồng bộ, nh ất quán c ủa th ể ch ế KTTT còn th ể hi ện thông qua quá trình
thực thi, ph ối hợp của các ch ủ th ể KTTT, tính t ương thích v ới nh ững quy
tắc, chuẩn mực kinh t ế trong khu v ực và qu ốc tế. Trong giai đoạn hiện nay,
để phát huy tính đồng bộ, th ống nh ất của th ể ch ế KTTT định hướng
XHCN, cần phải chú trọng các giải pháp chính nh ư sau:
- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật, đặc biệt là pháp luật kinh tế,
các chính sách kinh tế vĩ mô về tài chính, tiền tệ, giá cả, các quy định về cạnh
tranh và ki ểm soát độc quy ền trong kinh doanh…, qua đó tạo cơ ch ế cạnh
tranh lành mạnh đảm bảo cho c ơ ch ế thị trường được vận hành thông su ốt
nhằm phát huy tối đa tính tích cực của cơ chế thị trường.
- Tăng cường vai trò c ủa Nhà nước trong trong ổn định kinh tế vĩ mô,
bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, Nhà nước chủ yếu sử dụng các biện
pháp kinh tế và sử dụng các nguồn lực kinh tế, giảm tối đa các can thiệp hành
chính vào nền KTTT.
- Hoàn thi ện cơ ch ế ki ểm tra, ki ểm soát th ị tr ường của Nhà n ước và
thực hiện tốt các cam k ết thương mại, xúc ti ến đầu tư, giải quyết các tranh
chấp kinh t ế phù h ợp với KTTT định hướng XHCN và các thông l ệ, cam
kết quốc tế.
Quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN còn
phải được tiến hành thông qua vi ệc phát huy vai trò c ủa các lo ại thị trường.
Trong thời gian tới, chúng ta cần phải thực hiện tốt các giải pháp sau:
119
- Phát tri ển mạnh th ị tr ường hàng hóa, d ịch vụ: Đẩy mạnh tự do hóa
thương mại và đầu tư; phát triển các phương thức giao dịch hiện đại, giảm bớt
rủi ro cho ng ười sản xuất và tiêu dùng. Xây d ựng các tiêu chu ẩn chất lượng
hàng hóa, vệ sinh an toàn th ực phẩm, môi tr ường. Tăng cường kiểm tra ch ất
lượng hàng hóa, dịch vụ, nhất là nh ững hàng hóa, d ịch vụ liên quan tr ực tiếp
đến sức kh ỏe của ng ười dân. X ử lý nghiêm nh ững vi ph ạm các giao d ịch
thương mại đảm bảo tối đa quyền lợi của người tiêu dùng.
- Phát tri ển th ị trường tài chính, ti ền tệ: Tăng cường tính độc lập, tự
chủ và m ở rộng ch ức năng, vai trò điều hành th ị trường ti ền tệ của Ngân
hàng Nhà n ước nh ư một ngân hàng trung ương hi ện đại. Đổi mới căn bản
cơ chế quản lý c ủa Nhà n ước đối với các ngân hàng th ương mại nhà n ước
và các t ổ ch ức tín d ụng khác. Ti ếp tục tái c ơ cấu, nâng cao n ăng lực của
các đơn vị này. X ử lý có hi ệu quả đối với các kho ản nợ xấu hiện có, ng ăn
chặn tối đa các kho ản nợ xấu phát sinh. Phát tri ển dịch vụ ngân hàng đi
đối với đổi mới ho ạt động thanh tra, giám sát và đa dạng hóa các công c ụ
dự báo, phòng ng ừa rủi ro để đảm bảo an toàn h ệ thống ngân hàng. Nâng
cao ch ất lượng ngu ồn nhân l ực và phát tri ển hạ tầng công ngh ệ ngân hàng
hiện đại.
Hoàn thi ện môi tr ường th ể ch ế cho ho ạt động của th ị tr ường ch ứng
khoán Việt Nam phát tri ển lành mạnh, làm cho th ị trường chứng khoán ngày
càng đóng vai trò quan tr ọng huy động vốn cho đầu tư và phát tri ển. Đưa các
giao dịch chứng khoán phi tập trung vào phạm vi quản lý, kiểm soát của Nhà
nước. Ch ống các giao d ịch phi pháp, các hành vi r ửa ti ền, nhi ễu lo ạn thi
trường. Nâng cao năng lực dự báo, có biện pháp phòng ngừa tình trạng rút vốn
hàng loạt, ảnh hưởng xấu đến kinh tế vĩ mô. Mở rộng từng bước quyền mua cổ
phiếu của nhà đầu tư nước ngoài và t ạo thuận lợi cho các doanh nghi ệp Việt
Nam giao dịch trên thị trường chứng khoán quốc tế.
120
Phát triển đa dạng và nâng cao ch ất lượng của các sản ph ẩm bảo hiểm.
Tạo điều ki ện cho các doanh nghi ệp bảo hiểm thuộc các thành ph ần kinh tế
trong nước, khuyến khích hợp tác và liên kết giữa các nhà đầu tư trong nước và
nước ngoài. Th ực hiện lộ trình mở cửa thị trường bảo hiểm theo cam kết hội
nhập kinh tế quốc tế. Quan tâm hơn nữa đến các dịch vụ bảo hiểm đối với con
người. Nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm.
- Chú trọng phát triển thị trường bất động sản:
Hiện nay, th ị tr ường bất động sản gặp nhi ều khó kh ăn, trong đó ch ủ
yếu liên quan đến vấn đề thể chế cũng như các giải pháp qu ản lý thị trường,
điều này đã làm cho th ị trường bất động sản trở thành một trong nh ững lĩnh
vực “nóng” nh ất của đời sống xã h ội, gây nhi ều bất công, t ạo nên nh ững
phản ứng mạnh mẽ của ng ười dân và nhi ều doanh nghi ệp. Cho đến nay,
vẫn ch ưa xác định rõ các c ơ ch ế chính th ức để đưa đất đai tr ở thành v ốn
phát tri ển, để quyền sử dụng đất đai tr ở thành hàng hóa. Quy ho ạch, qu ản
lý và s ử dụng đất còn nhi ều bất cập, vi ph ạm nguyên t ắc công b ằng xã hội.
Công tác ki ểm tra, giám sát ho ạt động của th ị trường bất động sản còn r ất
yếu kém.
Trong thời gian tới, giải pháp cơ bản nhằm phát triển thị trường bất động
sản phát tri ển lành m ạnh, đảm bảo nguyên t ắc công b ằng, cạnh tranh bình
đẳng cần phải chú tr ọng hoàn thi ện hệ thống pháp lu ật về bất động sản, làm
cho các quyền về đất đai và bất động sản phải được vận động theo cơ chế thị
trường. Hoàn thi ện chính sách thu ế liên quan đến kinh doanh b ất động sản,
khuyến khích đầu tư nâng cao giá tr ị của bất động sản, đồng thời ngăn chặn
những cơn sốt phát sinh do đầu cơ đất đai, bất động sản.
Đất đai là yếu tố quan trọng nhất đối với những người yếu thế, đặc biệt
là ng ười nghèo và doanh nghi ệp nh ỏ. Do qu ỹ đất nông nghi ệp ngày càng
giảm đi, nền cần nhận thức rõ sự gắn kết giữa tăng trưởng và CBXH để đưa
121
những khía cạnh này vào quá trình xây d ựng và th ực thi chính sách thu h ồi
đất nông nghi ệp, chính sách s ử dụng đất nông nghi ệp. Xét v ề tăng tr ưởng,
khi cung đất nông nghi ệp giảm đi, để bù lại cần tăng năng suất lao động của
sản xu ất nông nghi ệp và phi nông nghi ệp. Đây là v ấn đề cần được xem xét
kỹ lưỡng trong ho ạch định chính sách. Đối với doanh nghi ệp nh ỏ cũng cần
có những chính sách ưu đãi hoặc hỗ trợ có điều kiện để nhóm đối tượng này
có thể tiếp cận đất đai.
Đẩy mạnh việc giải quyết vấn đề nhà ở cho một số đối tượng chính sách
xã hội theo hướng Nhà nước tăng cường đầu tư xây dựng quỹ nhà ở xã hội để
cho thuê hoặc bán theo quy định của pháp luật. Giải quyết vấn đề nhà ở cho lao
động ở các khu công nghiệp, khu kinh tế v.v..
- Phát tri ển thị trường lao động: Đối với thị trường lao động, bên c ạnh
bảo vệ người lao động bằng chính sách ti ền lương, tiền công, c ần đồng thời
tăng hiệu lực của các chính sách an sinh xã h ội. Để đảm bảo công b ằng và
tiến bộ xã hội, cần đẩy nhanh quá trình chính th ức hóa th ị trường lao động
phi chính quy đã và đang tồn tại khá ph ổ biến ở nước ta. Gi ải pháp này c ần
được thực hi ện kết hợp với nhi ều gi ải pháp khác nh ư cải thiện môi tr ường
đầu tư và kinh doanh để giảm thiểu nh ững rào c ản gia nh ập thị trường đối
với các doanh nghi ệp, tăng cường đào tạo ngu ồn nhân l ực để đáp ứng nhu
cầu của thị trường.
Tiếp tục hoàn thiện khung pháp luật, chính sách về tiền lương, tiền công,
sớm xây dựng Luật Tiền lương tối thiểu, Luật Việc làm. Th ể chế hóa ch ế độ
tiền lương tối thiểu đảm bảo công bằng xã hội.
Hoàn thiện khung pháp lu ật, chính sách về hệ thống giao dịch thị trường
nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động, kiểm soát, ngăn chặn các hành vi
lừa đảo và các hiện tượng khác. Tăng cường quản lý và giám sát của Nhà nước
với các ho ạt động trên thị trường lao động. Xử lý có hi ệu quả các tranh ch ấp,
bảo đảm lợi ích chính đáng của người lao động và người sử dụng lao động
122
4.2. NÂNG CAO VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG VÀ HI ỆU LỰC QUẢN
LÝ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI
Thực hiện CBXH là yêu cầu khách quan đối với sự phát triển KTTT định
hướng XHCN ở nước ta. Để bi ến yêu c ầu khách quan đó thành hi ện th ực,
nhiệm vụ hàng đầu là ph ải không ng ừng nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng
và hiệu lực quản lý của Nhà nước, tức là phát huy sức mạnh chủ thể, tạo nhân
tố và điều ki ện quyết định đảm bảo thành công m ục tiêu đề ra. Trong th ời
gian tới, cần thực hiện tốt các giải pháp cơ bản như sau:
Thứ nhất, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ và năng lực lãnh đạo của
Đảng; không ngừng tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về CBXH trong điều
kiện KTTT định hướng XHCN ở nước ta.
Bản lĩnh chính tr ị của Đảng là kh ả năng, ý chí kiên định của Đảng
trước mọi hoàn c ảnh, nh ất là lúc cách m ạng gặp khó kh ăn, th ử thách. B ản
lĩnh chính tr ị của Đảng th ể hi ện ở sự trung thành v ới ch ủ ngh ĩa Mác -
Lênin và t ư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu, lý t ưởng XHCN đã
được lựa ch ọn; bình t ĩnh, sáng su ốt tr ước nh ững bi ến động ph ức tạp của
tình hình th ế giới và tác động đa chiều của KTTT cùng v ới xu th ế hội nhập
quốc tế ngày càng ph ổ biến.
Ở Vi ệt Nam hi ện nay, th ực hi ện CBXH trong điều ki ện KTTT định
hướng XHCN v ẫn đang là v ấn đề mới mẻ, ph ức tạp, có th ời cơ, thu ận lợi,
nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức. Bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên
định sẽ giúp cho Đảng tận dụng thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó kh ăn, thách
thức đưa đất nước vững vàng đi lên vì mục tiêu phát triển đất nước giàu mạnh
đi đôi với thực hiện công bằng, tiến bộ xã hội.
Tăng cường năng lực lãnh đạo của Đảng, ngoài vi ệc giữ vững bản lĩnh
chính trị, Đảng phải không ngừng nâng cao trình độ trí tuệ ngang tầm đòi hỏi
của nhiệm vụ mới. Trước tiên và quan trọng nhất là Đảng phải nâng cao năng
lực hoạch định chủ trương, đường lối khoa học, đúng đắn. Chủ trương, đường
123
lối đó ph ải phản ánh đúng đắn quy lu ật phát tri ển của đời sống xã h ội, phù
hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân, được nhân dân đồng tình ủng
hộ; gắn với tình hình l ịch sử cụ thể của đất nước và xu th ế phát tri ển khách
quan của thời đại.
Nâng cao b ản lĩnh chính tr ị và phát huy n ăng lực trí tuệ của Đảng luôn
gắn li ền với quá trình h ọc tập lý lu ận ch ủ ngh ĩa Mác - Lênin và t ư tưởng
Hồ Chí Minh; m ỗi cán b ộ đảng viên không ng ừng nâng cao trình độ mọi
mặt, tích cực rèn luy ện thực tiễn, gắn bó với nhân dân; ti ếp thu có ch ọn lọc
kinh nghi ệm của các n ước; không ng ừng mở rộng dân ch ủ trong Đảng và
trong xã h ội.
Xung quanh vấn đề lý luận về KTTT định hướng XHCN và CBXH, hiện
nay, còn nhi ều quan điểm và nh ận thức khác nhau, đòi hỏi Đảng ta ph ải tiếp
tục tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận. Trong thời gian tới, hàng loạt những
vấn đề quan tr ọng, cấp bách v ề CBXH trong điều ki ện KTTT định hướng
XHCN cần được tiếp tục bổ sung, làm rõ nh ư: Lý luận về KTTT định hướng
XHCN trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay; vấn đề công bằng về
cơ hội và điều kiện phát tri ển; phân tầng xã hội và CBXH; t ương quan gi ữa
tăng trưởng kinh tế và công b ằng, tiến bộ xã hội; tính quy lu ật của việc thực
hiện CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN; CBXH và v ấn đề an
sinh xã h ội, phúc l ợi xã h ội v.v..T ất cả nh ững vấn đề này c ần ph ải được
nghiên cứu tường minh, tạo khung lý luận cơ bản để tiếp tục thực hiện CBXH
trên cơ sở đảm bảo thúc đẩy kinh tế phát triển ổn định, bền vững. Để làm tốt
vấn đề này, Đảng phải tiếp tục đổi mới tư duy lý lu ận, thực sự giải phóng tư
tưởng khỏi nh ững khuôn mẫu, nh ững quan ni ệm cũ đã hình thành trong c ơ
chế cũ mà đến nay không còn phù h ợp. Phát tri ển lý lu ận gắn với tổng kết
thực ti ễn, nhanh nh ạy nắm bắt nh ững vấn đề mới nảy sinh, bám sát các s ự
kiện đang vận động, dự báo được chiều hướng phát triển của tình hình; kh ắc
phục chủ nghĩa chủ quan duy ý chí, ch ủ nghĩa kinh nghiệm, khắc phục những
quan niệm giản đơn, giáo điều v.v..
124
Thứ hai, tiếp tục đổi mới phương th ức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà
nước trong việc thực hiện công bằng xã hội.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà n ước trong vi ệc xây
dựng, ban hành lu ật pháp, hoàn thi ện hệ th ống pháp lu ật và các chính sách
của Nhà nước nhằm phát triển KTTT và thực hiện CBXH.
Thực hiện nghiêm chỉnh quy chế về xây dựng và ra nghị quyết của Đảng,
nâng cao ch ất lượng các ngh ị quyết của Đảng về phát tri ển kinh tế - xã h ội
liên quan đến việc thực thi CBXH, t ạo điều kiện thuận lợi cho Nhà n ước thể
chế hóa các nghị quyết đó và đồng thời tổ chức thực hiện đạt kết quả cao.
Thực hiện nghiêm ch ỉnh quy ch ế về sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà
nước, Đảng không can thi ệp quá sâu vào công vi ệc qu ản lý, điều hành c ủa
Nhà nước, Đảng cũng không làm thay công vi ệc của Nhà n ước, Đảng lãnh
đạo Nhà nước nhằm phát huy vai trò lãnh đạo chính tr ị của Đảng, đồng thời
phát huy vai trò, ch ủ động, sáng t ạo của Nhà n ước đối với vi ệc th ực hi ện
CBXH trong điều kiện KTTT.
Đổi mới việc học tập, quán tri ệt nghị quyết của Đảng nói chung và ngh ị
quyết về những vấn đề liên quan tr ực tiếp đến CBXH nói riêng, g ắn việc học
tập, quán tri ệt ngh ị quyết với xây d ựng ch ương trình, hành động th ực hi ện
nghị quyết của tập thể và cá nhân cán b ộ, đảng viên, công ch ức trong các c ơ
quan Nhà nước.
Tiếp tục đổi mới phong cách, l ề lối làm vi ệc của Đảng trong lãnh đạo
Nhà nước thực hiện CBXH theo hướng phát huy dân chủ, đảm bảo kỷ cương,
thiết thực, sâu sát cơ sở, sâu sát nhân dân, làm việc có chương trình, kế hoạch,
có trọng tâm, trọng điểm, nói đi đôi với làm. Đổi mới cách ra nghị quyết, văn
kiện và báo cáo phải đảm bảo tính thiết thực, cụ thể, đổi mới và nâng cao chất
lượng các hội nghị nói chung và hội nghị liên quan tới CBXH nói riêng.
Đẩy mạnh th ực hi ện công cu ộc xây d ựng, ch ỉnh đốn Đảng, nâng cao
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng; củng cố, nâng cao
125
chất lượng hoạt động của Ban cán sự đảng, phát huy mạnh mẽ vai trò của các
tổ ch ức này trong vi ệc tr ực ti ếp lãnh đạo của cơ quan, cán b ộ, công ch ức
nhằm thực hiện CBXH.
Thứ ba, xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý cho vi ệc thực hiện CBXH
trong điều kiện KTTT định hướng XHCN.
Với tính cách là công c ụ quản lý nhà nước chủ yếu nhất, trong điều kiện
KTTT, pháp luật, đặc biệt là pháp luật về kinh tế, có vai trò tạo cơ sở pháp lý
cho Nhà n ước th ực hi ện CBXH. Ch ỉ bằng pháp lu ật, Nhà n ước mới có th ể
thực hiện tốt CBXH ở tất cả các mặt, các quá trình v ận hành của nền kinh tế
theo cơ chế thị trường như công bằng trong sở hữu về tư liệu sản xuất, trong
quản lý và phân ph ối, trong quá trình điều tiết các ngu ồn lực cho phát tri ển
kinh tế - xã hội.
Trong giai đoạn hiện nay, các quy định pháp luật được xây dựng và hoàn
thiện cần thực hiện tốt những điểm sau:
- Xây dựng và hoàn thiện pháp luật cần quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ
trương của Đảng về phát triển kinh tế - xã h ội hiện nay, đó là: xây d ựng nền
KTTT định hướng XHCN, huy động mọi tiềm năng, nguồn lực trong và ngoài
nước cho phát tri ển kinh t ế; đảm bảo cho kinh t ế Nhà n ước gi ữ vai trò ch ủ
đạo, kinh tế Nhà nước và kinh t ế tập thể làm nền tảng của nền kinh tế quốc
dân; tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và CBXH trong từng bước và cả
quá trình phát triển.
- Nâng cao ch ất lượng ho ạt động xây d ựng và ban hành các v ăn bản
pháp lu ật. Các v ăn bản pháp lu ật được xây dựng phải có ch ất lượng tốt, có
tính kh ả thi, đồng th ời ph ản ánh được sự phát tri ển đa dạng, phong phú
trong các l ĩnh vực của đời sống xã h ội. Th ường xuyên coi tr ọng công tác
điều tra, kh ảo sát th ực tiễn phục vụ việc xây dựng và ban hành các v ăn bản
pháp lu ật. Phát huy dân ch ủ trong xây d ựng văn bản dự th ảo phát tri ển,
tăng cường trao đổi, tọa đàm, coi tr ọng ý ki ến của các c ơ quan, đơn vị có
126
liên quan, c ủa cán b ộ có chuyên môn, các nhà khoa h ọc và đặc bi ệt là t ổ
chức xin ý ki ến của nhân dân v ề các d ự th ảo văn bản pháp lu ật bằng các
hình thức, phương pháp thích h ợp.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong các cơ quan chuyên trách về
xây dựng pháp luật.
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về xây dựng và ban hành luật. Đây là vấn đề
rất cần thiết đối với nước ta trong điều kiện hiện nay. Việc mở cửa, chủ động
và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện công
việc này, nh ất là vi ệc hợp tác, trao đổi, học tập kinh nghi ệm xây dựng pháp
luật với các nước phát triển và các nước có những điểm tương đồng với nước
ta. Tuy nhiên, tiến hành công việc này phải trên cơ sở đường lối đối ngoại của
Đảng và quy định của Nhà nước với những phương thức thích hợp.
Thứ tư, xây d ựng bộ máy Nhà n ước trong s ạch, vững mạnh; không
ngừng nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ,
công chức Nhà nước.
Thực tế đã ch ứng minh, m ột nhà n ước quan liêu, ho ạt động kém hi ệu
quả, cán bộ công chức phẩm chất và năng lực yếu kém không thể thúc đẩy sự
phát tri ển kinh tế và th ực hiện CBXH. Vì v ậy, xây dựng bộ máy Nhà n ước
trong sạch vững mạnh và hiệu quả là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Hiện nay, cơ
cấu tổ chức Nhà nước ta còn nhiều chỗ chưa hợp lý, nhiều tầng nấc, nhiều đầu
mối; lề lối làm việc chưa chuyên nghiệp, hiện đại. Các thủ tục hành chính còn
rườm rà, đội ngũ cán bộ công ch ức chưa đáp ứng được yêu cầu của một nền
hành chính văn minh, chuyên nghi ệp và hi ện đại. Hiện tượng quan liêu, c ửa
quyền, sách nhi ễu trong gi ải quyết công vi ệc hành chính v ẫn còn t ồn tại ở
nhiều nơi, nhi ều lúc, điều này đã làm suy gi ảm vai trò, s ức mạnh của Nhà
nước. Do đó Nhà nước cần phải tiếp tục đổi mới cơ cấu tổ chức bộ máy và
phương th ức ho ạt động theo h ướng tinh gi ản, gọn nh ẹ, phân định rõ ch ức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan; lo ại bỏ các th ủ tục hành chính
127
rườm rà không c ần thi ết, th ực hi ện nguyên t ắc công khai, minh b ạch trong
mọi khâu giải quyết thủ tục hành chính. Nhà n ước cần tích cực áp dụng công
nghệ thông tin vào qu ản lý hành chính, t ừng bước triển khai “chính ph ủ điện
tử” nhằm nâng cao hi ệu lực, hiệu quả điều hành của chính ph ủ và hệ thống
các cơ quan hành chính các cấp.
Nhà nước cần chú tr ọng đổi mới, nâng cao ch ất lượng đội ng ũ cán b ộ
công ch ức cả về năng lực và ph ẩm ch ất, đáp ứng yêu cầu th ực thi công v ụ
hiệu quả. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tăng cường công
tác thanh tra công v ụ, ng ăn ch ặn và x ử lý nghiêm nh ững hành vi tiêu c ực
tham nh ũng, hách d ịch của cán b ộ nhà n ước. Nhà n ước cần ph ải th ực hi ện
CBXH ngay trong công tác cán bộ, tăng cường cải cách chế độ tiền lương của
cán bộ công chức tạo điều kiện để họ yên tâm công tác, hoàn thành nhiệm vụ,
không sa vào các tiêu cực, tệ nạn đã được nêu trên, nhất là tham nhũng, nhằm
thực hiện CBXH.
4.3. ĐỔI MỚI VÀ HOÀN THI ỆN CÁC CHÍNH SÁCH KINH T Ế, CHÍNH
SÁCH XÃ HỘI THEO HƯỚNG GIẢI QUYẾT HÀI HÒA CÁC QUAN HỆ LỢI ÍCH
4.3.1. Xây dựng và hoàn thiện các chính sách kinh tế
* Chính sách sở hữu:
Kinh tế thị trường định hướng XHCN ph ải thừa nhận sự tồn tại đa dạng
hóa các hình th ức sở hữu, các thành ph ần kinh tế. Ở nước ta hiện nay, tồn tại
ba lo ại hình s ở hữu ch ủ yếu: toàn dân (nhà n ước), tập th ể và t ư nhân. M ỗi
thành phần kinh tế tồn tại dưới hình thức tổ chức kinh tế nhất định và có một
loại hình sở hữu đặc trưng, hoặc đan xen nhi ều loại hình sở hữu khác nhau,
song trong đó bao giờ cũng có một loại hình sở hữu thống trị, chi phối cơ bản
hệ thống kinh tế - xã hội.
Từ thực tiễn đổi mới ở nước ta, có th ể thấy việc đa dạng hóa các hình
thức sở hữu là khách quan, ph ản ánh quy lu ật phát tri ển không đồng đều
của lực lượng sản xuất, tuy nhiên, ở một phương diện khác, vi ệc thừa nhận
128
tính đa dạng của các hình th ức sở hữu chính là ph ương th ức bảo đảm
CBXH, tôn tr ọng và b ảo vệ lợi ích đa dạng của các ch ủ th ể khác nhau.
Chính điều này đã có tác d ụng to lớn giải phóng s ức sản xuất, khơi dậy mọi
tiềm năng phát tri ển. Song, đa dạng hóa các lo ại hình s ở hữu, các thành
phần kinh t ế phải trên c ơ sở đảm bảo ch ế độ sở hữu toàn dân (s ở hữu nhà
nước) và s ở hữu tập th ể gi ữ vai trò ch ủ đạo. Vai trò ch ủ đạo của sở hữu
Nhà nước và t ập th ể cho phép ph ản ánh đặc tr ưng căn bản của ch ế độ sở
hữu XHCN, t ạo điều ki ện gi ải quy ết hài hòa quan h ệ lợi ích th ống nh ất
giữa cá nhân, nhóm xã h ội và toàn xã h ội
Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể sẽ tạo điều kiện
huy động các ngu ồn lực tập trung cho phát tri ển vững mạnh của đất nước,
thúc đẩy tăng tr ưởng và đặc bi ệt là t ạo ti ền đề vật ch ất tr ực ti ếp gi ải quyết
CBXH một cách hi ệu qu ả nh ất. Tuy nhiên, vai trò ch ủ đạo của kinh t ế nhà
nước không mang ý ngh ĩa độc tôn, v ới ph ạm vi th ống trị tuyệt đối áp dụng
đối với tất cả các tư liệu sản xuất như trước đây, mà chỉ đối với một số tư liệu
sản xuất chủ yếu. Kinh tế nhà nước không phải dàn trải ở tất cả các mặt, các
lĩnh vực kinh tế, mà ngược lại, chỉ tập trung vào nh ững ngành, lĩnh vực có vị
trí quan tr ọng, có tính ch ất huyết mạch cho phép đảm bảo duy trì ho ạt động
hài hòa và hiệu quả cao của nền kinh tế. Trong khi đó, phải đảm bảo khu vực
kinh tế tư nhân được coi là b ộ phận hữu cơ của nền kinh tế, là khu v ực chủ
yếu giải quyết việc làm, tăng thu nh ập, tạo sức ép thúc đẩy cạnh tranh, tăng
chất lượng và hiệu quả đối với các khu vực kinh tế khác.
* Chính sách phân phối
Chính sách phân ph ối của một chế độ xã hội có vai trò quy ết định thành
tựu CBXH của chế độ xã hội đó. Kinh tế dù phát triển, có nhiều điều kiện vật
chất để thực hiện CBXH, nh ưng nếu chính sách phân ph ối không công b ằng
cũng không th ể có CBXH. Bên c ạnh đó, chính sách phân ph ối không công
bằng cũng sẽ tác động tiêu cực đến phát tri ển kinh tế, triệt tiêu các động lực
cho phát triển kinh tế.
129
Xây dựng và hoàn thi ện chính sách phân ph ối trong giai đoạn hi ện
nay cần thể hiện rõ ch ủ trương, quan điểm của Đảng ta là thúc đẩy KTTT
phát tri ển mạnh mẽ, đồng thời thực thi CBXH. Trong n ền KTTT, các y ếu
tố của sản xuất như vốn, tài s ản, sức lao động phải được trả giá đầy đủ và
công b ằng, song điều này c ũng làm n ảy sinh s ự bất bình đẳng về thu nh ập
và hưởng th ụ. Tình tr ạng này ch ủ yếu do s ự chênh l ệch về sở hữu tài s ản,
vốn, sức lao động, điều ki ện sống và làm vi ệc gi ữa các cá nhân, đơn vị
kinh t ế khác nhau, gi ữa các vùng, mi ền, lãnh th ổ khác nhau. Trong m ột
thời gian dài, chúng ta ph ải ch ấp nh ận sự chênh l ệch về thu nh ập gi ữa
những ng ười tham gia vào quá trình s ản xu ất vì có s ự khác nhau gi ữa họ
về năng su ất, ch ất lượng, hi ệu qu ả lao động và v ề quy mô c ủa các ngu ồn
lực mà h ọ đóng góp vào quá trình s ản xu ất. Đồng th ời, cần ph ải tạo ra
được quan h ệ đồng thu ận cơ bản về lợi ích xã h ội, bao g ồm: sự động
thuận lợi ích c ủa ng ười lao động với lợi ích c ủa ng ười qu ản lý doanh
nghiệp, lợi ích của Nhà nước và của xã h ội.
Bên cạnh việc đảm bảo nguyên t ắc thực hiện phân ph ối theo lao động
và hi ệu qu ả kinh t ế làm ch ủ yếu, cần chú tr ọng th ực hi ện phân ph ối theo
mức đóng góp v ề vốn và các ngu ồn lực khác vào s ản xu ất kinh doanh và
phân ph ối thông qua an sinh xã h ội, phúc l ợi xã h ội. Theo ngh ĩa đó, phân
phối trong n ền KTTT định hướng XHCN ở nước ta vừa khác c ơ bản so với
phân ph ối chỉ theo lao động và mang tính bình quân “cào b ằng” trong n ền
kinh tế kế hoạch hóa, t ập trung, quan liêu bao c ấp trước đây, vừa khác v ới
phân ph ối theo ki ểu tư bản ch ủ ngh ĩa. Sự khác bi ệt này th ể hi ện ở ch ỗ,
trong nền KTTT định hướng XHCN, lao động vẫn được coi là yếu tố quyết
định trong phân ph ối lần đầu. Đồng thời, các v ấn đề xã hội nảy sinh trong
quá trình phát tri ển nh ư đói nghèo, s ự chênh l ệch gi ữa các vùng, mi ền,
v.v.., được chủ động gi ải quyết thông qua quá trình tái phân ph ối, qua các
công cụ luật pháp, chính sách c ủa Nhà nước XHCN. TTKT và phát tri ển xã
130
hội, văn hóa, giáo d ục và đào tạo được th ực thi trong s ự gắn kết ch ặt ch ẽ
với nhau, nh ằm giải quyết tốt các v ấn đề xã h ội vì m ục tiêu phát tri ển con
người, đáp ứng yêu c ầu về tính nhân v ăn và xu th ế phát tri ển của đất nước
và của thời đại.
Đổi mới và hoàn thi ện lu ật pháp, c ơ ch ế, chính sách phân b ổ ngu ồn
lực theo h ướng vừa đảm bảo tuân th ủ các quy lu ật cơ bản của KTTT, v ừa
đảm bảo tính chi ến lược, kế hoạch phát tri ển nhằm đạt hiệu quả kinh tế - xã
hội cao. V ốn đầu tư của Nhà n ước cần tập trung cho phát tri ển kết cấu hạ
tầng kinh t ế - xã h ội, dịch vụ công quan tr ọng, một số ngành sản xuất thiết
yếu, then ch ốt, đóng vai trò ch ủ đạo mà l ĩnh vực tư nhân không th ể ho ặc
chưa th ể đảm đương được. Các chính sách phân ph ối cần ph ải chú ý quan
tâm đến các vùng, đối tượng khó kh ăn, thu h ẹp kho ảng cách v ề trình độ
phát tri ển giữa các vùng, các địa phương. Th ực hi ện chính sách phân ph ối
và phân ph ối lại trên c ơ sở bảo đảm hài hòa l ợi ích cá nhân, t ập th ể và xã
hội. Có th ực hiện được điều này chúng ta m ới gi ảm bớt những vấn đề nảy
sinh, nh ững mâu thu ẫn lợi ích trong quá trình phát tri ển kinh t ế - xã h ội,
góp phần đảm bảo CBXH.
* Chính sách đầu tư:
Đổi mới chính sách và cải thiện môi trường đầu tư, xóa bỏ các hình thức
phân biệt đối xử trong việc tiếp cận các cơ hội đầu tư để khai thác và sử dụng
có hi ệu qu ả các ngu ồn vốn từ các thành ph ần kinh tế trong nước và thu hút
vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp từ nước ngoài. Chính sách đầu tiên cần chú ý
tạo cơ hội và điều kiện nh ằm phát huy n ăng lực trước hết của mỗi cá nhân,
giúp cho mỗi cá nhân, có kh ả năng tiếp cận các ngu ồn vốn đầu tư đầu tư đa
dạng, sử dụng các nguồn vốn đầu tư một cách có hiệu quả trong quá trình sản
xuất, kinh doanh. C ần đảm bảo chính sách đầu tư ưu đãi và tr ợ giúp đối với
những cá nhân và gia đình khó khăn, những người có công, nh ững đối tượng
chính sách để họ có cơ hội làm ăn, khắc phục khó khăn, từng bước hòa nhập
131
với cộng đồng. Đối với các nhóm xã hội, các tập thể lao động, chính sách đầu
tư cần hướng tới thu hút các ngu ồn lực lao động đa dạng, tạo điều kiện phát
huy sức mạnh tập thể thông qua vi ệc hỗ trợ vốn, khoa h ọc công ngh ệ, kinh
nghiệm sản xu ất…Bên cạnh đó, chính sách đầu tư cần chú ý đến đặc điểm
từng ngành, t ừng vùng, l ĩnh vực, tránh đầu tư tràn lan, manh mún, gây t ốn
kém, lãng phí ti ền của của Nhà nước, tạo kẽ hở cho các t ệ nạn tham nh ũng,
lãng phí phát triển.
Cần dành m ức đầu tư cho các vùng kinh t ế động lực nh ằm tạo ra
những “đầu tàu” tăng trưởng để kéo toàn b ộ “đoàn tàu” kinh t ế đi lên. Song
không th ể không chú ý đầu tư thích đáng cho các vùng khác, nh ất là vùng
sâu, vùng xa, vùng cao, vùng đồng bào dân t ộc thiểu số, vùng c ăn cứ cách
mạng và kháng chi ến cũ, nh ằm gi ảm bớt kho ảng cách phát tri ển gi ữa các
vùng này, t ừng bước khắc phục tình tr ạng “bất công t ự nhiên” và b ất công
do lịch sử để lại, để giữ vững ổn định, đảm bảo cho s ự phát tri ển bền vững
của đất nước.
Cần chú ý, vi ệc sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách c ủa nhà n ước cần
phải tập trung ch ủ yếu xây d ựng kết cấu hạ tầng kinh t ế, xã h ội, phát tri ển
văn hóa, giáo d ục, khoa h ọc, y t ế và tr ợ giúp các vùng khó kh ăn. Vốn tín
dụng ưu đãi của Nhà n ước cần ưu tiên cho vi ệc xây d ựng các c ơ sở thu ộc
kết cấu hạ tầng có thu h ồi vốn và h ỗ tr ợ đầu tư một số dự án quan tr ọng
thiết yếu của nền kinh t ế. Đầu tư cho doanh nghi ệp nhà n ước ph ải hướng
vào vi ệc nâng cao n ăng lực sản xu ất, đổi mới thi ết bị, hi ện đại hóa công
nghiệp, nâng cao ch ất lượng sản ph ẩm. Vốn của các khu v ực dân doanh
được khuy ến khích đầu tư vào các l ĩnh vực nh ằm tạo vi ệc làm cho ng ười
lao động và xuất khẩu. Có nh ư vậy hiệu quả đầu tư mới được đảm bảo, mới
thực hi ện được mục tiêu “kép” đó là v ừa thúc đẩy phát tri ển kinh t ế, vừa
giải quyết tốt vấn đề CBXH.
Trong giai đoạn hiện nay, Nhà n ước cần quan tâm đầu tư cho vi ệc đẩy
mạnh công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa nông nghi ệp, xây d ựng nông thôn m ới,
132
cải thiện môi tr ường sinh thái. Chính sách đầu tư cần được hoàn thi ện theo
hướng mở rộng sản xuất lương thực ở những vùng có nhi ều điều kiện thuận
lợi, tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý, xây d ựng và phát
triển các th ị trấn, th ị tứ để thúc đẩy và h ỗ trợ nông thôn, nh ất là mi ền núi
phát tri ển; phát tri ển mạng lưới y t ế, giáo d ục ở xã, b ản, phổi cập giáo d ục
tiểu học, xóa mù ch ữ, từng bước nâng cao trình độ văn hóa của người dân.
* Chính sách tài chính - tiền tệ.
Hệ thống tài chính - tiền tệ là xương sống của nền kinh tế quốc dân. Mục
tiêu của chính sách tài chính - tiền tệ là thúc đẩy sản xuất phát triển, huy động
và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, gia tăng tích lũy để tạo vốn cho đầu tư,
phát triển, tích lũy để tái sản xuất mở rộng và nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần của nhân dân. Vì vậy, Nhà nước cần sử dụng ngân sách như một công cụ
tài chính quan tr ọng để điều ch ỉnh kinh t ế vĩ mô nh ằm khuyến khích phát
triển kinh tế, điều tiết thu nhập, hướng dẫn tiêu dùng, kiềm chế lạm phát. Xây
dựng đồng bộ thể chế tài chính phù h ợp với cơ chế thị trường, xóa bỏ hoàn
toàn chính sách tài chính theo ch ế độ cấp phát, giao n ộp. Hoàn thi ện chính
sách tài chính theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sản xuất
kinh doanh, tính toán thu - chi và ki ểm soát chặt chẽ bội chi ngân sách trong
mức cho phép đảm bảo sự phát triển của nền kinh tế.
Hoàn chỉnh chính sách thu ế, nộp ngân sách theo ph ương châm hiện đại,
vừa gọn nhẹ, vừa khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội, tăng thu ngân sách
nhà nước, đảm bảo phân bổ cho các ngành, vùng lãnh thổ phát triển kinh tế và
đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Cần phân cấp ngân sách một cách
hợp lý, theo nguyên t ắc dân ch ủ, công khai, công b ằng. Đảm bảo ngân sách
cho tiêu dùng thường xuyên nhưng phải hợp lý và tiết kiệm; ưu tiên ngân sách
cho đào tạo ngu ồn nhân l ực, nâng cao dân trí, ti ếp thu công ngh ẹ hi ện đại,
chăm sóc kh ỏe, đảm bảo quốc phòng, an ninh; gi ải quyết các v ấn đề xã hội
bức xúc nhằm thực hiện tốt CBXH.
133
4.3.2. Đổi mới và hoàn thiện các chính sách xã hội
* Chính sách về lao động và việc làm
Chính sách lao động và vi ệc làm là h ệ th ống quan điểm, ch ủ tr ương,
phương hướng, bi ện pháp nh ằm tạo vi ệc làm và b ảo đảm việc làm cho các
công dân có khả năng lao động và có nhu cầu việc làm.
Chính sách lao động và vi ệc làm liên quan đến thỏa mãn nhu cầu cơ bản
của con người, thông qua đó, con người có việc làm, có được thu nhập, bảo đảm
đời sống. Chính vì thế chính sách lao động và việc làm là một trong những chính
sách cơ bản của mỗi quốc gia. Thông qua tạo thêm việc làm và bảo đảm việc
làm cho người dân, chính sách việc làm có mục tiêu xã hội là nâng cao phúc lợi
cho người dân, th ực hiện CBXH, tạo cơ hội và điều kiện cho ng ười dân hòa
nhập xã hội, giảm dần mâu thuẫn, phân hóa và sự tách biệt xã hội.
Trong giai đoạn hiện nay, chính sách lao động và việc làm cần thiết phải
hướng tới tạo việc làm bền vững với thu nhập đảm bảo cuộc sống cho người
lao động và gi ảm thất nghiệp. Có chính sách và chi ến lược tạo cầu lao động,
đảm bảo tốc độ tăng trưởng việc làm cao hơn tốc độ tăng lực lượng lao động.
Nhà nước cần tiếp tục tạo thuận lợi cho thu hút đầu tư trong nước và đầu tư
nước ngoài; thúc đẩy quá trình đô thị hóa, tích t ụ ru ộng đất gắn với chuyển
dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, đặc biệt trong nông nghi ệp và nông
thôn, giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp. Có chính sách khuyến khích người
lao động tự tạo ra việc làm và khuyến khích các doanh nghi ệp phát triển các
ngành nghề sử dụng nhiều lao động. Coi tr ọng giải quyết việc làm cho nông
dân, nhất là ở những nơi đất nông nghi ệp bị thu hồi phục vụ cho đô thị hóa,
xây dựng các khu công nghi ệp và phát tri ển các ngành ngh ề đa dạng nh ằm
tích cực giải quyết việc làm cho nông dân.
Xây dựng chi ến lược và t ăng đầu tư mở rộng th ị tr ường xu ất kh ẩu lao
động sang các khu v ực, các nước phù hợp với lao động Việt Nam. Ti ếp tục
thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và sử dụng hiệu quả các
134
quỹ qu ốc gia h ỗ tr ợ việc làm để nh ững ng ười th ất nghi ệp, ng ười thi ếu vi ệc
làm có cơ hội có việc làm, ổn định cuộc sống.
Chính sách lao động và việc làm phải được xây dựng và hoàn thi ện theo
hướng tiếp tục hoàn thi ện thể chế thị trường lao động, đảm bảo hài hòa gi ữa
lợi ích c ủa ng ười lao động và ng ười sử dụng lao động. Xây d ựng và hoàn
thiện chính sách bảo hiểm và trợ cấp thất nghiệp.
* Chính sách tiền lương và phụ cấp
Chính sách tiền lương ở nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế, chưa trả đủ
giá trị sức lao động, làm cho đời sống của những người làm công ăn lương
còn gặp nhiều khó kh ăn. Chính sách ti ền lương và ch ế độ phụ cấp chưa bảo
đảm sự công bằng, mang nặng tính chất bình quân, không khuyến khích nâng
cao trình độ chuyên môn c ủa người lao động, tạo nên sự bất bình đẳng giữa
các đối tượng, ngành ngh ề và khu v ực và do v ậy là một trong những nguyên
nhân chính gây mâu thu ẫn, xung đột về lợi ích giữa cá nhân, nhóm xã h ội và
cả cộng đồng xã hội. Chính sách tiền lương phông phù hợp không những làm
phương hại đến các ch ức năng vốn có c ủa nó mà còn t ạo ngu ồn gốc cho
những tiêu c ực, bất công xã h ội, làm xói mòn ni ềm tin c ủa ng ười dân. Có
nhiều nguyên nhân d ẫn đến nh ững hạn ch ế này, trong đó nguyên nhân ch ủ
yếu là quan điểm tiền lương chưa đúng với nguyên tắc của nền KTTT, ch ưa
thực sự coi tiền lương là giá cả của sức lao động, nên chưa trả đúng với giá trị
của nó. Bên c ạnh đó, sự can thi ệp của Nhà nước vào ti ền lương cũng ch ưa
phù hợp với quy luật của nền KTTT, chưa bảo đảm tiền lương vận động tự do
theo quan hệ cung - cầu sức lao động; việc quy định tiền lương tối thiểu mang
nặng tính duy ý chí; vi ệc quy định tiền lương theo công vi ệc đã làm nảy sinh
những tiêu cực trong chính sách tiền lương.
Trong th ời gian t ới, cải cách chính sách ti ền lương là nhi ệm vụ vô
cùng quan tr ọng nhằm tạo điều kiện thúc đẩy xã hội phát tri ển, đặc biệt là
thực thi CBXH. C ải cách chính sách ti ền lương ph ải đảm bảo cho ti ền
135
lương th ực sự trở thành giá c ả sức lao động, ti ền lương ph ải bảo đảm chi
trả cho những tư liệu sinh ho ạt cần thiết cho người lao động và gia đình của
họ. Bằng ti ền lương, ng ười lao động mua được những hàng hóa tiêu dùng
cá nhân cho b ản thân h ọ và gia đình, có đủ điều kiện tích lũy bảo đảm cuộc
sống bình th ường khi hết tuổi lao động, nhất là chăm sóc y tế tuổi già.
Tích cực điều chỉnh sự tác động của Nhà nước vào chính sách tiền lương
theo hướng phù hợp với điều kiện của KTTT và sớm xây dựng luật tiền lương
đối với người lao động. Nhà nước cần thiết phải xây dựng môi trường pháp lý
bảo đảm điều ki ện cho s ự vận động tự do của cung - c ầu và giá c ả sức lao
động trong nền kinh tế.
Tập trung cải cách chính sách tiền lương đối với khu vực công chức hành
chính; đổi mới cơ ch ế tài chính và c ải cách ti ền lương đối với khu v ực sự
nghiệp và doanh nghi ệp. Đảm bảo nguyên tắc công bằng, khuyến khích làm
việc hiệu quả cao “trả lương cao cho công chức hành chính có năng lực, trình
độ và trách nhi ệm cao”; đồng th ời xây d ựng cơ ch ế qu ản lý để công ch ức
hành chính t ận tâm v ới công vi ệc. Đối với các khu v ực doanh nghi ệp, Nhà
nước có cơ ch ế, chính sách phù h ợp để khu vực này ch ủ động thu, chi, xây
dựng hệ thống thang, bảng lương tương ứng, tự chịu trách nhiệm tạo nguồn và
chi trả tiền lương cho ng ười lao động. Điều quan tr ọng là Nhà n ước cần xóa
bỏ tư tưởng hành chính tập trung và bao cấp trong cơ chế quản lý, hoạt động,
tổ chức và tài chính hi ện hành, tạo môi trường thật sự công bằng, bình đẳng,
tự do cho các doanh nghi ệp ho ạt động. Đồng th ời, Nhà n ước cần thiết ph ải
tăng cường ch ức năng giám sát, ki ểm tra, hướng dẫn th ực hi ện và x ử lý vi
phạm về chính sách tiền lương.
* Chính sách xóa đói, giảm nghèo
Thực hi ện chính sách thúc TTKT g ắn với gi ảm nghèo b ền vững. Xác
định các chu ẩn nghèo trên c ơ sở nhu c ầu mức sống tối thi ểu của người lao
động; đưa mục tiêu gi ảm nghèo và n ội dung gi ảm nghèo vào nội dung chi ến
136
lược phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước, của từng vùng và từng địa
phương, vào chi ến lược phát tri ển nông nghi ệp và nông thôn; xây d ựng và
thực hiện chương trình phát tri ển cộng đồng và phát tri ển nông thôn mới gắn
với mục tiêu giảm nghèo.
Tạo điều kiện cho người nghèo nâng cao năng thị trường, năng lực và điều
kiện tiếp cận các cơ hội phát triển; đa dạng hóa sinh kế thông qua các ch ương
trình giáo dục, đào tạo và dạy nghề. Đặc biệt là tạo cơ hội cho người nghèo tiếp
cận thuận lợi và với chi phí thấp, ưu đãi đối với các dịch vụ xã hội cơ bản, an
sinh xã hội và phúc lợi xã hội; hỗ trợ người nghèo từng bước tiếp cận với dịch vụ
xã hội chất lượng cao. Giảm nguy cơ rủi ro cho ng ười nghèo, nhất là rủi ro do
thiên tai, biến đổi khí hậu, do cơ chế thị trường cũng như những bất trắc của
cuộc sống (ốm đau, bệnh tật, tai nạn…).
Tập trung ngu ồn lực gi ảm nghèo cho các vùng có t ỷ lệ hộ nghèo cao,
nhất là vùng núi phía B ắc, Tây Nguyên, vùng có đông đồng bào dân t ộc
thiểu số…, thông qua ch ương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và b ền vững ở
các vùng này nh ằm thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, các t ầng lớp dân cư,
các dân tộc.
* Chính sách an sinh xã hội
Chính sách an sinh xã h ội có vai trò c ơ bản trong vi ệc tạo cơ hội và
điều kiện cho ng ười dân được tiếp cận công b ằng các ngu ồn lực phát tri ển
và các d ịch vụ xã h ội, góp ph ần kh ắc ph ục phân hóa xã h ội, bảo đảm
CBXH. Chính sách an sinh xã h ội chính là s ự bảo đảm thu nh ập và các
điều ki ện thi ết yếu cho cá nhân, gia đình và c ộng đồng tr ước nh ững bi ến
động về kinh t ế, xã h ội và t ự nhiên, làm cho h ọ bị gi ảm ho ặc mất kh ả
năng lao động, ho ặc mất vi ệc làm, ốm đau, bệnh tật…Chính sách an sinh
xã hội thể hiện sâu s ắc những giá tr ị nhân v ăn, ti ến bộ trong s ự phát tri ển
của xã h ội ta hiện nay.
137
Trong th ời gian t ới, chính sách an sinh xã h ội ph ải được th ực hi ện
đồng bộ với các chính sách xã h ội khác, phù h ợp với điều kiện KTTT, phù
hợp với nguyên t ắc đảm bảo quy ền lợi và ngh ĩa vụ xã h ội đối với mỗi cá
nhân, cộng đồng và toàn xã h ội trong vi ệc phòng ng ừa rủi ro đối với từng
cá nhân và c ộng đồng xã h ội. Nói cách khác, Nhà n ước, doanh nghi ệp và
cá nhân đều phải xác định rõ trách nhi ệm của mình trong h ệ thống an sinh
xã hội; hệ th ống an sinh xã h ội ph ải được xây d ựng trên c ơ sở thúc đẩy
cạnh tranh công b ằng trên th ị trường lao động và trách nhi ệm chia s ẻ rủi
ro xã h ội.
Thực ch ất, nhìn d ưới góc độ kinh t ế, chính sách an sinh xã h ội là một
khâu của hệ thống tái phân ph ối, tạo cơ hội và điều kiện cho nh ững cá nhân
và cộng đồng gặp rủi ro v ươn lên trong cu ộc sống. Tuy nhiên, h ệ th ống
chính sách an sinh xã h ội phải được xây d ựng gắn với điều ki ện, tình hình
lịch sử cụ thể của đất nước, phát huy t ối đa sức mạnh của cộng đồng; tăng
cường trách nhi ệm của Nhà nước; khuyến khích s ự gắn bó, đoàn kết, tương
trợ, bù đắp giữa các cá nhân, các nhóm xã h ội và toàn xã h ội. Theo đó, hệ
thống an sinh xã h ội vừa bảo đảm nhu cầu tối thiểu thông qua vi ệc tái phân
phối phù h ợp các ngu ồn lực, vừa từng bước nâng cao ý ngh ĩa, hi ệu quả an
sinh xã hội đối với người tham gia.
* Chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công
Chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công th ực chất là đường lối,
chủ trương của Đảng và Nhà n ước trong vi ệc th ực hi ện ch ế độ đãi ng ộ với
những người có công với đất nước nhằm mục đích ghi nhận công lao, sự đóng
góp, hy sinh cao c ả của họ; đồng thời đền đáp, bù đắp phần nào về đời sống
vật chất và tinh thần đối với người có công và gia đình họ. Chính sách ưu đãi
cho nhóm đối tượng này không chỉ đơn thuần thể hiện tinh thần nhân văn, mà
còn là giải pháp thực thi CBXH, góp phần vào việc ổn định chính trị - xã hội
của đất nước. Chính sách đối với người có công là chính sách đặc biệt quan
trọng, luôn được Đảng, Nhà n ước và toàn dân quan tâm v ới tất cả trách
138
nhiệm, lương tâm của mình. Trong th ời kỳ mới, thực hiện chính sách ưu đãi
đối với người có công, cần chú trọng:
- Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, cơ chế luật pháp đối với người
có công nh ằm tiếp tục cải thiện đời sống vật chất và tinh th ần của người có
công, nhất là ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ địa cách mạng.
- Đối với những người có những cống hiến sức lực, tuổi trẻ, thậm chí hy
sinh tính mạng cho độc lập tự do, cho sự bình yên của đất nước, họ có thể bị
tổn thương về sức khỏe, bệnh tật, do đó cuộc sống của họ nói riêng, gia đình
họ nói chung t ương đối khó kh ăn, đặc biệt trong điều kiện KTTT. Chính vì
vậy, Chính phủ cần thông qua các chính sách ưu đãi tích cực nhằm hỗ trợ tài
chính, hỗ tr ợ vi ệc làm, ch ăm sóc s ức kh ỏe, giáo d ục và đào tạo, ch ỗ ở…,
nhằm giúp ch ọ duy trì cu ộc sống ổn định, từng bước nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần.
- Tích cực đổi mới công tác qu ản lý, công tác thanh tra, ki ểm tra, chống
các hiện tượng tiêu cực trong việc thực hiện chế độ, chính sách đối với người
có công. Thường xuyên chỉ đạo các địa phương làm tốt công tác thương binh,
liệt sĩ; đẩy mạnh phong trào đền ơn đáp nghĩa, huy động mọi nguồn lực, đẩy
mạnh các chương trình chăm sóc người có công.
- Đẩy mạnh hơn nữa ho ạt động của hệ th ống chính tr ị trong vi ệc th ực
hiện chính sách với người có công; làm tốt công tác phối hợp giữa các ngành,
các cấp, các đoàn thể chính trị - xã hội, tăng cường công tác tuyên truyền trên
các phương tiện thông tin đại chúng và nh ận thức đúng đắn về bản chất của
chính sách ưu đãi người có công.
- Duy trì và phát triển các phong trào đền ơn đáp nghĩa, các chương trình
xã hội khác hướng vào vi ệc tạo cơ hội cho ng ười có công phát tri ển kinh tế,
nhất là ch ương trình gi ảm nghèo, tạo vi ệc làm, phát tri ển kinh t ế - v ăn hóa
vùng đặc biệt khó khăn và căn cứ cách mạng trước đây.
139
* Chính sách y tế
Xây dựng và hoàn thi ện chính sách y t ế theo yêu c ầu phát tri ển hệ
thống y t ế công b ằng và hi ệu qu ả, mọi ng ười dân được ch ăm sóc và b ảo
vệ sức kh ỏe. Chính sách y t ế được xây d ựng và hoàn thi ện cần đáp ứng
yêu cầu xây d ựng và phát tri ển mô hình y t ế đan xen gi ữa y t ế công và y
tế tư nhân, trong đó y t ế công gi ữ vai trò ch ủ đạo. Ti ếp tục hoàn thi ện
chính sách đầu tư nh ằm tăng đầu tư, nâng c ấp các c ơ sở y t ế, y t ế dự
phòng. Xây d ựng và hoàn thi ện các chính sách tr ợ cấp và b ảo hi ểm y t ế
cho ng ười hưởng chính sách xã h ội và ng ười nghèo trong khám, ch ữa
bệnh. Hoàn thi ện các chính sách phát tri ển, các d ịch vụ y tế công ngh ệ cao
và ngoài công l ập. Hoàn thi ện các chính sách b ảo hi ểm y t ế, đảm bảo
CBXH trong l ĩnh vực này.
* Chính sách giáo dục đào tạo
Chính sách giáo d ục - đào tạo cần được xây d ựng và hoàn thi ện theo
hướng điều tiết, tạo cơ hội học tập ngày càng tốt hơn ở mọi cấp học và trình
độ đào tạo cho mọi tầng lớp nhân dân; đặc biệt chú ý tạo cơ hội học tập ở đại
học, cao đẳng cho con em nông dân, các gia đình chính sách, đồng bào dân
tộc thiểu số và các vùng còn nhi ều khó khăn. Hoàn thiện chính sách giáo d ục
đào tạo đáp ứng yêu cầu giảm sự cách biệt về cơ hội học tập giữa các tầng lớp
dân cư, về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và cán b ộ quản lý giáo d ục giữa
các vùng, miền.
Tăng ngân sách nhà n ước cho giáo d ục và đào tạo; huy động nguồn lực
từ các tổ chức kinh tế - xã hội, các đơn vị sử dụng nhân lực sau đào tạo, phân
bổ tài chính cho các c ơ sở giáo d ục dựa trên nhu c ầu th ực và k ết qu ả ho ạt
động của từng cơ sở nhằm tạo sự cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích các cơ
sở phấn đấu nâng cao ch ất lượng và hi ệu quả giáo dục; nâng cao tính t ự chủ
của các cơ sở giáo dục, đảm bảo tính minh b ạch và trách nhi ệm đối với Nhà
nước, người học và xã hội.
140
4.4. PHÁT HUY DÂN CH Ủ XÃ H ỘI CH Ủ NGH ĨA, NÂNG CAO HI ỆU QU Ả
CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, CÁC TỆ NẠN XÃ HỘI
4.4.1. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa
Trong điều ki ện KTTT định hướng XHCN, phát huy dân ch ủ và th ực
thi CBXH có quan h ệ gắn bó h ữu cơ. Xã h ội càng dân ch ủ càng t ạo ra
những kh ả năng, nh ững kênh để ng ười dân ý th ức về vai trò, trách nhi ệm
của mình, tham gia ch ủ động, có hi ệu quả vào các ho ạt động kinh t ế, chính
trị, xã hội. Có dân ch ủ thì lợi ích c ủa các nhóm dân c ư, các c ộng đồng mới
được đưa ra bàn b ạc, cọ xát với toàn xã h ội, nhờ đó mà phát hi ện ra nh ững
lệch lạc trong vi ệc điều ph ối lợi ích, t ừ đó có nh ững bi ện pháp điều ch ỉnh
kịp thời. Dân ch ủ khắc phục phân t ầng xã h ội tiêu c ực, đảm bảo phân t ầng
xã hội tích c ực thông qua vi ệc tạo cơ ch ế và điều ki ện phát huy tính tích
cực, sáng t ạo của ng ười lao động, làm cho m ọi ng ười đều có th ể bộc lộ
những ti ềm năng vốn có, ch ủ động trong s ản xu ất, kinh doanh, làm giàu
cho mình và góp ph ần làm giàu cho xã h ội. Dân chủ tạo cơ hội và điều kiện
cho nh ững ng ười khó kh ăn, yếu th ế vươn lên, v ượt qua khó kh ăn, từng
bước hòa nhập cộng đồng.
Như vậy, CBXH là một nội dung, một tiêu chí của dân chủ. Xã hội độc tài
tập trung quyền lực cho một người, một nhóm người, do vậy tình trạng phân hóa
giàu nghèo, xung đột lợi ích xã hội ngày càng sâu sắc; xã hội XHCN mà chúng
ta phấn đấu xây dựng là chế độ xã hội do nhân dân làm chủ, nghĩa là nhân dân là
chủ thể xây dựng chế độ xã hội mới với tất cả lợi ích, trách nhiệm, quyền hạn và
nghĩa vụ đối với quốc gia, dân tộc, đó là nền dân chủ cho đa số, là nền dân chủ
thống nhất với bản chất ưu việt của chế độ xã hội XHCN.
Việt Nam xây d ựng xã h ội mới từ một nước phong ki ến, thu ộc địa, vì
vậy truyền thống dân ch ủ ở nước ta hết sức hạn chế. Hơn nữa, một thời gian
dài chúng ta th ực hiện cơ chế tập trung, quan liêu, bao c ấp, nên nh ững cách
làm độc đoán, chuyên quyền, thiếu dân chủ tiếp tục được duy trì. Đây là một
141
trong những nguyên nhân làm giảm sức cạnh tranh lành mạnh trong phát triển
kinh tế, tạo nên những bất công phi lý trong các quan hệ xã hội. Trong thời kỳ
đổi mới, phát tri ển KTTT định hướng XHCN, th ể ch ế dân ch ủ đã và đang
từng bước được xây d ựng, song ch ưa đồng bộ và hoàn thi ện. Để đảm bảo
quyền dân ch ủ, phát huy đầy đủ vai trò c ủa các tầng lớp nhân dân lao động,
qua đó tạo điều kiện thực thi CBXH ở nước ta hi ện nay, cần phải đẩy mạnh
việc xây dựng và hoàn thi ện thể chế dân ch ủ XHCN và phát huy quy ền làm
chủ của nhân dân.
Mở rộng và phát huy dân ch ủ trong kinh t ế là n ội dung và điều ki ện
quan tr ọng nh ất nh ằm kh ắc ph ục tình tr ạng phân t ầng xã h ội, qua đó góp
phần phát tri ển KTTT và th ực hi ện CBXH. Dân ch ủ kinh t ế, cái c ốt lõi là
bảo đảm lợi ích kinh t ế của ng ười lao động được th ực hi ện. Tr ước tiên,
những lợi ích đó phải được thể chế hóa trong các quy ền công dân: s ở hữu,
quản lý, phân ph ối làm cho ng ười lao động làm ch ủ thực sự về tư liệu sản
xuất, tạo động lực thúc đẩy phát tri ển sản xu ất, kinh doanh. Nhà n ước,
thông qua pháp lu ật, hệ thống chính sách kinh t ế - xã h ội và các công c ụ
quản lý điều tiết xã hội khác, ph ải hướng tới xóa b ỏ mọi rào cản phát tri ển
kinh tế, bãi b ỏ độc quy ền cũng nh ư cơ ch ế xin, cho - m ột trong nh ững
nguyên nhân ch ủ yếu của sự gia t ăng phân t ầng xã h ội tiêu c ực hi ện nay.
Dân ch ủ về kinh t ế đòi hỏi không ng ừng giải phóng s ức sản xuất, phát huy
tính tự giác, sáng t ạo của người dân trong các quá trình ho ạt động kinh t ế;
khuyến khích và t ạo cơ ch ế phù h ợp để cho m ọi ng ười được làm giàu
chính đáng; mặt khác, ph ải tr ừng tr ị nghiêm minh nh ững kẻ làm giàu b ất
chính, trái pháp lu ật.
Mở rộng, phát huy dân ch ủ trong kinh t ế ph ải đi li ền với dân ch ủ về
chính tr ị, xã h ội để mọi tầng lớp nhân dân nh ận th ức được trách nhi ệm xã
hội và tham gia vào các ho ạt động chính tr ị, xã h ội với phương châm “dân
biết, dân bàn, dân làm, dân ki ểm tra”. C ần coi tr ọng sự phát tri ển hài hòa,
142
đồng bộ giữa dân ch ủ ở cấp trung ương với việc thực hiện dân ch ủ ở cơ sở,
trong đó, dân ch ủ ở cơ sở có tính ch ất quy ết định. Phát huy vai trò giám
sát, ph ản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn th ể chính tr ị - xã h ội;
xây dựng và đẩy mạnh hoạt động của các mô hình t ự quản trong cộng đồng
dân cư ở cơ sở; bám sát th ực ti ễn để góp ph ần kh ắc ph ục tập trung quan
liêu; tăng cường kiểm tra, giám sát c ủa tập thể đối với cá nhân, c ủa tổ chức
đối với cán bộ, đảng viên; có quy ch ế bảo đảm phát huy t ự do tư tưởng, tôn
trọng ý ki ến của nhau. C ần tăng cường và c ải tiến các ho ạt động mang tính
dân chủ cao như chất vấn tại Quốc hội và Hội đồng nhân dân, đối thoại trực
tiếp với nhân dân qua truy ền hình và Internet, thi ết lập các đường dây nóng
liên lạc với ng ười dân, đổi mới các cu ộc ti ếp xúc v ới cử tri…Th ực tế cho
thấy, nơi nào phát huy t ốt dân ch ủ cơ sở sẽ hạn chế được những hiện tượng
tiêu cực, nh ững bi ểu hi ện sai trái, vi ph ạm kỷ cương, phép n ước, nh ững
biểu hiện suy thoái đạo đức, lối sống của một số cán bộ có ch ức, có quy ền,
các hiện tượng quan liêu, tham nh ũng…
Phát huy dân chủ hiện nay phải đi liền với hoàn thiện hệ thống pháp luật,
tăng cường pháp ch ế XHCN, đảm bảo trật tự, kỷ cương xã hội. Những tiêu
cực trong nền KTTT ở nước ta vừa qua làm cho b ất công xã h ội tăng lên có
nguyên nhân từ hệ thống pháp lu ật chưa hoàn thi ện, thiếu đồng bộ, chưa tạo
đầy đủ khuôn kh ổ pháp lý c ần thiết. Ở nước ta, tình tr ạng luật vừa thừa, vừa
thiếu, chồng chéo, chế ước làm mất hiệu quả của nhau còn tồn tại. Luật pháp
ban hành nhiều nhưng việc thực hiện lại thiếu hiệu quả, một số văn bản pháp
luật thiếu tính cụ thể, tính tường minh còn th ấp hoặc chưa phù hợp với cuộc
sống…Trong thời gian tới, phải khẩn trương cải cách và xây d ựng hệ thống
pháp luật theo hướng đồng bộ, đặc biệt là pháp lu ật về kinh tế nhằm điều tiết
kinh tế - xã hội phát triển lành mạnh, hạn chế những bất công, bất bình đẳng,
những tiêu cực nảy sinh trong nền KTTT. Tăng cường kỷ cương, phép nước,
trên cơ sở đó phát huy vai trò ch ủ động tích cực của mọi tầng lớp nhân dân
143
tham gia vào quản lý kinh tế - xã hội, tham gia kiểm soát lực lượng lao động,
sản xuất và phân phối sản phẩm…có như vậy, mục tiêu phát triển kinh tế gắn
với thực hiện CBXH mới được bảo đảm.
4.4.2. Nâng cao hi ệu qu ả công tác phòng, ch ống tham nh ũng, lãng
phí, các tệ nạn xã hội
Trong nh ững năm qua, Đảng và Nhà n ước ta luôn th ể hi ện rõ quy ết
tâm ng ăn ch ặn, đẩy lùi tình tr ạng tham nh ũng, lãng phí nh ư: Ngh ị quy ết
Trung ương 6 (l ần 2) khóa VIII; Ngh ị quy ết Trung ương 4 (Khóa XI) v ề
một số vấn đề cấp bách v ề xây d ựng đảng hi ện nay đã kh ẳng định vi ệc
chống tham nh ũng, lãng phí là nhi ệm vụ đặc bi ệt quan tr ọng, có tính th ời
sự cấp thi ết; Ch ủ tịch nước phê chu ẩn Công ước của Liên h ợp qu ốc về
chống tham nh ũng. Trên c ơ sở đó, đến nay, công cu ộc đấu tranh phòng,
chống tham nhũng, lãng phí ở nước ta có s ự chuyển biến tích cực, bước đầu
đã xử lý được một số vụ án tham nh ũng lớn; các c ấp uỷ Đảng, chính quyền,
các ngành, đoàn th ể đã quan tâm lãnh đạo thực hiện công tác này. K ết quả
này góp ph ần bước đầu củng cố niềm tin c ủa nhân dân, nâng cao uy tín và
vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Tuy vậy, cu ộc đấu tranh, phòng, ch ống tham nh ũng, lãng phí v ẫn còn
nhiều hạn chế, giữa quyết tâm chính tr ị với việc tổ chức triển khai th ực hiện
còn khoảng cách lớn; công tác tuyên truy ền, giáo dục về phòng, ch ống tham
nhũng, lãng phí ch ưa sâu rộng; một số cơ chế, chính sách, quy định về quản
lý kinh tế - xã hội và công tác phòng ch ống tham nhũng, lãng phí chậm được
bổ sung, sửa đổi, dẫn đến hiệu quả thấp trong tổ chức thực hiện. Công tác t ự
kiểm tra phát hi ện vẫn là khâu y ếu, việc xử lý có nhi ều khó kh ăn; các hành
vi tham nhũng ngày càng tinh vi, ph ức tạp hơn. Một số vụ án tham nhũng xử
lý chậm, kéo dài, gây tâm lý hoài nghi trong nhân dân v ề tính nghiêm minh
của pháp luật.
144
Trong những năm tới, việc đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng,
lãng phí, các t ệ nạn xã hội ti ếp tục phải được xác định là nhi ệm vụ có tính
chiến lược trong phát tri ển kinh t ế và th ực hi ện CBXH ở nước ta. Để th ực
hiện được điều này cần phải triển khai đồng bộ các giải pháp sau:
Thứ nh ất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng,
chống tham nhũng, lãng phí, các tệ nạn xã hội trong tình hình mới.
Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng xác định phải quyết tâm tạo sự
chuyển biến quan tr ọng, cơ bản, rõ nét, v ững chắc trong vi ệc đẩy lùi tệ nạn
tham nhũng, lãng phí, các t ệ nạn xã hội. Vì vậy, phải tạo được sự “vào cuộc”
của cả hệ thống chính trị và của toàn dân, trong đó sự lãnh đạo trực tiếp, toàn
diện của Đảng đóng vai trò quy ết định. Đảng ta xác định phòng, ch ống tham
nhũng, lãng phí, các tệ nạn xã hội là một trọng tâm công tác lớn của công tác
xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước; phải được tiến hành thường xuyên, liên
tục bằng nhiều hình thức, biện pháp cụ thể, phù hợp.
Các cấp ủy đảng và ng ười đứng đầu cơ quan, đơn vị cần xác định rõ
những vấn đề, lĩnh vực trọng tâm, tr ọng điểm để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo
cho sát th ực. Ph ải lựa ch ọn, bố trí nh ững cán b ộ, đảng viên có ph ẩm ch ất,
năng lực, có bản lĩnh làm công tác phòng, ch ống tham nhũng, lãng phí. Tăng
cường công tác ki ểm tra, giám sát, đôn đốc, đưa công tác phòng, ch ống tham
nhũng, lãng phí vào n ội dung ch ương trình công tác và đưa kết quả công tác
này là một tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của mỗi cơ quan,
tổ chức, đơn vị và cá nhân.
Thực hiện tự phê bình và phê bình thường xuyên trong Đảng để kịp thời phát
hiện, uốn nắn, ngăn chặn những biểu hiện sai phạm của cán bộ, đảng viên. Đồng
thời, tạo điều kiện để các tổ chức trong cơ quan, đơn vị và chính quyền, nhân dân
địa phương nơi cư trú thực hiện tốt vai trò giám sát cán bộ, đảng viên về phẩm
chất đạo đức, lối sống. Kiên quyết phê phán, xử lý nghiêm minh những cán bộ,
145
đảng viên thoái hóa, biến chất, hoặc có biểu hiện dung túng, bao che các vụ việc
tham nhũng, lãng phí, theo đúng quy định hiện hành của pháp luật.
Thứ hai, hoàn thiện cơ chế quản lý, giám sát theo h ương dân chủ, công
khai minh bạch.
Trong quản lý phải công khai, minh b ạch về cơ chế, chính sách, các d ự
án đầu tư, xây dựng cơ bản, mua sắm từ ngân sách Nhà nước, huy động đóng
góp của nhân dân, qu ản lý và sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng s ản, tài sản
công, cổ phần hóa doanh nghi ệp nhà nước, công tác t ổ chức, cán bộ,… Tiếp
tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoàn thiện quy định kiểm soát thu nhập, minh
bạch tài sản, xử lý tài sản tham nhũng, đưa ra các giải pháp kiên quyết, mạnh
mẽ và cứng rắn hơn.
Hoàn thiện quy trình xác định trách nhiệm của người đứng đầu khi để cơ
quan, đơn vị xảy ra tham nh ũng, lãng phí. X ử lý đúng pháp lu ật, kịp th ời,
công khai cán b ộ, đảng viên tham nh ũng. Có cơ chế khuyến khích và b ảo vệ
những ng ười đấu tranh ch ống tham nh ũng, lãng phí; k ỷ lu ật nghiêm nh ững
người bao che, ng ăn cản việc chống tham nh ũng, lãng phí, ho ặc lợi dụng sự
việc để vu khống, làm hại người khác, gây mất đoàn kết nội bộ.
Thứ ba, nâng cao ph ẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng cho đội ngũ
cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Giáo dục phẩm chất “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô t ư” phải được
đặt lên hàng đầu; giáo dục kết hợp giữa “đức” và “tài”, trong đó “đức” đóng
vai trò quan trọng, là cơ sở, nền gốc của mỗi người, đặc biệt là người cán bộ.
Việc giáo dục phải được thực hiện bằng nhiều hình thức, biện pháp đồng bộ,
gắn liền với việc tuyên truy ền chống chủ nghĩa cá nhân, b ởi vì ch ủ nghĩa cá
nhân chính là nguyên nhân trực tiếp làm nảy sinh tham nhũng, lãng phí, các tệ
nạn xã hội, làm cản trở sự kết hợp lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, là nguyên
nhân của mọi bất công, bất bình đẳng xã hội.
146
Thứ tư, kiện toàn các cơ quan bảo vệ pháp luật.
Các cơ quan b ảo vệ như công an, vi ện kiểm soát, tòa án, thanh tra nhà
nước cần kiện toàn. Kiên quy ết xử phạt nghiêm minh đối với những cán bộ,
nhân viên tham nhũng hoặc bao che cho các đối tượng tham nhũng ở mọi cấp,
mọi nơi, mọi cương vị làm cho bộ máy thật sự trong sạch, vững mạnh.
Cùng với đấu tranh ch ống tham nh ũng, lãng phí, c ần tiếp tục đẩy mạnh
và đấu tranh một cách hiệu quả bài trừ các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm,
bạo lực xã hội…trên các địa bàn dân cư. Sự nảy nở nhiều tệ nạn xã hội ở nước
ta trong th ời gian qua đã hủy hoại một phần lực lượng lao động xã hội, tiêu
phí của cải vật chất, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự và an toàn xã
hội, do vậy cần được kiên quyết đấu tranh đẩy lùi.
Thứ năm, phát huy vai trò tích c ực của nhân dân trong đấu tranh phòng,
chống tham nhũng, lãng phí, các tệ nạn xã hội.
Bác Hồ đã từng dạy rằng, làm việc gì cũng phải có quần chúng nhân dân
tham gia. Trong đấu tranh ch ống tham nh ũng, lãng phí, n ếu không dựa vào
nhân dân thì khó có th ể phát hiện và đấu tranh kịp thời với những cá nhân, tổ
chức tham nh ũng, lãng phí. Th ực tế, những năm qua, đa số các vụ việc tham
nhũng được xử lý đều do người dân phát hiện ra. Sự đồng tình và ủng hộ của
nhân dân chính là s ức mạnh và nhân t ố quan tr ọng để ngăn chặn và đẩy lùi
tham nhũng, lãng phí, các tệ nạn xã hội. Để khơi dậy và phát huy tính tích cực
của nhân dân, ngoài việc cần phải thực thi pháp luật nghiêm minh, kiên quyết
trừng tr ị nh ững hành vi vi ph ạm pháp lu ật, ch ống lại nhân dân, ngoài vi ệc
nâng cao n ăng lực, ph ẩm chất đạo đức của đội ng ũ cán b ộ đảng, nhà n ước,
cần ph ải tích cực tuyên truy ền, giáo d ục, bồi dưỡng, nâng cao trình độ văn
hóa dân chủ trong nhân dân, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia tích c ực, có
hiệu qu ả vào các công vi ệc chính tr ị, xã hội, “biết và hưởng quyền dân ch ủ
của mình” như Bác Hồ đã từng dạy chúng ta.
147
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4
Thực hiện CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN là vấn đề có
tính chiến lược trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nhằm
không ng ừng nâng cao đời sống vật ch ất tinh th ần cho nhân dân, ti ếp tục
khẳng định những giá tr ị ưu việt của CNXH. Th ực hiện CBXH ph ải gắn với
quá trình xây d ựng và phát tri ển KTTT, gắn với vi ệc gi ải quyết những mâu
thuẫn cơ bản trong quá trình th ực thi, đặc biệt là mâu thu ẫn giữa tăng trưởng
kinh tế và CBXH, mâu thu ẫn giữa sự gia tăng của phân tầng xã hội với quá
trình th ực hi ện CBXH v.v..CBXH ph ải được th ực hi ện th ường xuyên, liên
tục, lâu dài g ắn với những giải pháp mang tính t ổng thể, đồng bộ như nâng
cao vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý Nhà nước; xây dựng và hoàn
thiện thể chế KTTT định hướng XHCN; đổi mới và hoàn thiện các chính sách
kinh tế và chính sách xã h ội; phát huy dân ch ủ xã hội, nâng cao hi ệu quả của
công tác phòng, ch ống tham nh ũng, lãng phí, các t ệ nạn xã hội. Nh ững gi ải
pháp này vừa mang tính định hướng, vừa mang tính cụ thể nhằm phát huy vai
trò của nhân tố chủ quan và điều kiện khách quan, tạo sức mạnh tổng hợp để
thực hiện có hiệu quả CBXH trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta.
148
KẾT LUẬN
Trong lịch sử, có nhiều quan niệm khác nhau về CBXH. Sự khác nhau đó
phản ánh sự khác nhau về lợi ích của các giai cấp khác nhau trong xã hội. Tuy
nhiên, qua mỗi thời kỳ đều ghi dấu quan tr ọng trong hành trình tìm ki ếm và
thực thi CBXH; CBXH đã thực sự tr ở thành động lực của tiến bộ xã hội, là
thước đo những thành tựu đạt được của con người trong quá trình phát triển.
Đối với nước ta, CBXH là khát vọng của toàn dân và là yêu cầu cấp bách
của công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN. Quan hệ giữa CBXH
và KTTT định hướng XHCN là quan h ệ gắn bó h ữu cơ. Sự thành công c ủa
nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta không chỉ biểu hiện ở mức độ TTKT
mà còn là nh ững thành tựu đạt được trong quá trình th ực hiện CBXH. Th ực
tiễn khách quan của quá trình xây dựng KTTT định hướng XHCN và th ực thi
CBXH đã từng bước làm bộc lộ những nội dung cơ bản mang tính quy luật của
nó, đòi hỏi phải được nhận thức đúng đắn, nhằm phát hi ện những mâu thu ẫn
và tìm kiếm những giải pháp phù hợp để tiếp tục thúc đẩy quá trình thực hiện
CBXH trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở nước ta.
Từ những mô hình lý luận và bài học thực tiễn ở một số nước, căn cứ vào
tình hình lịch sử cụ thể, bám sát yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
theo mục tiêu XHCN, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng đổi mới tư duy lý
luận, xây dựng đường lối chiến lược phù hợp đảm bảo gắn tăng trưởng kinh tế
với CBXH; th ực hi ện CBXH trong t ừng bước và từng chính sách phát tri ển
v.v.., đây là những quan điểm chiến lược phù hợp, tạo tiền đề thúc đẩy kinh tế -
xã hội với những bước phát triển nhanh và bền vững. Sau gần 30 năm đổi mới,
nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta đã phát tri ển mạnh mẽ và phát huy
tác dụng to lớn, nâng cao đời sống vật chất và tinh th ần của nhân. CBXH đạt
được nhiều thành tựu quan tr ọng trên các l ĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy
nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta đang còn ph ải đương
đầu với hàng lo ạt nh ững khó kh ăn th ử thách: tình tr ạng phân hóa giàu -
149
nghèo, khoảng cách chênh lệch giữa các vùng, miền ngày càng lớn; tình trạng
thất nghi ệp, thi ếu việc làm đang tr ở thành v ấn đề hết sức nan gi ải trong xã
hội; tham nhũng, lãng phí, vi ph ạm dân chủ đang xảy ra nhiều nơi ảnh hưởng
nghiêm trọng tới CBXH. Hi ện nay, tư duy lý lu ận về CBXH trong điều kiện
KTTT còn tương đối hạn chế. Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn
chưa ngang tầm với đòi hỏi của thực tiễn, còn nhi ều lúng túng trong vi ệc xử
lý những vấn đề đặt ra do thiếu hụt khung lý thuyết và các mô hình phát triển.
Các chính sách vĩ mô của Nhà nước còn chứa đựng nhiều bất cập, tồn tại, đòi
hỏi phải tiếp tục hoàn thiện nhằm hướng vào khai thác, h ội tụ mọi nguồn lực
của đất nước, phát triển kinh tế và thực hiện CBXH.
Lý luận và th ực tiễn đã chỉ ra, thực hiện CBXH là v ấn đề lớn, phức tạp,
đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ, toàn diện. Các giải pháp ph ải được
thực hiện trên cơ sở tuân thủ những quy luật khách quan của KTTT, có tham
khảo và vận dụng sáng tạo kinh nghi ệm của các mô hình phát tri ển tiêu bi ểu
trên thế giới, đồng thời phải đảm bảo tính định hướng XHCN trong quá trình
phát triển. Giải pháp có tính đột phá hi ện nay là xây d ựng và hoàn thi ện thể
chế KTTT định hướng XHCN t ạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao
sức cạnh tranh c ủa nền kinh t ế, tạo điều ki ện vật ch ất, kinh t ế th ực hi ện
CBXH. Để kết hợp th ống nhất gi ữa mục tiêu phát tri ển KTTT và th ực hiện
CBXH, điều ki ện tiên quy ết đó là đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng, phát
huy vai trò “bàn tay hữu hình” của Nhà nước cùng với việc xây dựng và hoàn
thiện các chính sách kinh t ế, chính sách xã h ội; phát huy hi ệu qu ả công tác
phòng, chống tham nhũng, lãng phí, các tệ nạn xã hội là những vấn đề cốt lõi
hiện nay. Những giải pháp này có tính định hướng nhằm tìm kiếm những tiền
đề khách quan c ũng như phát huy nhân t ố chủ quan trong vi ệc tạo dựng một
xã hội công bằng, bình đẳng, ở đó, con người được phát huy quy ền làm ch ủ,
luôn sáng tạo, luôn cống hiến cao nhất năng lực của mình vì sự phát triển tiến
bộ của xã hội và lợi ích của mỗi thành viên.
150
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC
ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
1. Nguyễn Hồng Sơn (2009), “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và vấn đề công bằng xã hội ở nước ta hi ện nay”, Tạp chí Kinh t ế và
phát triển, (2).
2. Nguyễn Hồng Sơn (2011), “Góp ph ần tìm hi ểu tư tưởng Hồ Chí Minh v ề
dân chủ”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 166 (II).
3. Nguyễn Hồng Sơn (2014), “Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và t ư
tưởng Hồ Chí Minh v ề công bằng xã hội”, Tạp chí Lý lu ận chính tr ị
và truyền thông, (2).
4. Nguy ễn Hồng Sơn (2014), “Những nhân t ố tác động tới vi ệc th ực hi ện
công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ ngh ĩa ở nước ta hi ện nay” , Tạp chí Lý lu ận chính tr ị và truy ền
thông, (11).
5. Nguyễn Hồng Sơn (2015), “Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã
hội trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Lý luận chính trị, (3).
6. Võ Th ị Hoa - Nguy ễn Hồng Sơn (2015), “Quan hệ giữa phát tri ển kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện công bằng xã hội
ở Việt Nam”, Tạp chí Triết học, (3).
7. Nguyễn Hồng Sơn (2015), “Nhận thức về việc thực hiện công bằng xã hội
trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, (4).
8. Nguy ễn Hồng Sơn (2015) “Xây d ựng và hoàn thi ện th ể ch ế kinh t ế th ị
trường định hướng xã h ội ch ủ ngh ĩa tạo điều ki ện thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội ở nước ta hi ện nay”, Tạp
chí Lý luận chính trị và truyền thông, (10).
151
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đinh Văn Ân (2008), Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Lê Xuân Bá (2005) “V ề xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị, (2).
3. Vũ Đình Bách (Ch ủ biên) (2004), Một số vấn đề về kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội.
4. “Báo cáo phát tri ển thế giới 2006 - Công b ằng và phát tri ển” (2005),
NXB Văn hóa và thông tin, Hà Nội.
5. Hoàng Chí B ảo (2010), Luận cứ và giải pháp phát triển xã hội và quản
lý phát triển xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới, NXB Chính tr ị quốc gia,
Hà Nội.
6. Ban tuyên giáo Trung ương (2013), Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội
nghị lần thứ VIII của Ban ch ấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt
Nam Khóa XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
7. Nguy ễn Đức Bình (Chủ biên) (2003), Về chủ nghĩa xã hội và con đường
đi lên chủ nghĩa xã hôi ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
8. Chu V ăn Cấp (2006) “Bàn thêm về kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa”, Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng lý luận, (2).
9. Bin Clint ơn (1997) Giữa hy vọng và lịch sử, NXB Chính tr ị quốc gia,
Hà Nội.
10. Tr ần Văn Ch ử (2005) “T ư duy c ủa Đảng ta v ề quan h ệ gi ữa tăng
trưởng kinh t ế với ti ến bộ và công b ằng xã h ội” Tạp chí Lý lu ận
chính trị, (2).
11. Nguy ễn Cúc (2004) “Hai m ươi năm đổi mới và sự hình thành th ể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”, Tạp chí lý
luận chính trị, (10).
152
12. Đoàn Viết Cương (2005), Tiến tới thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc
sức khỏe nhân dân - vấn đề và giải pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
13. Mai Ng ọc Cường (2012) “V ề xây dựng và hoàn thi ện hệ thống an sinh
xã hội ở nước ta những năm tới”, Tạp chí Kinh tế phát triển, (178).
14. Mai Ng ọc Cường (2013) “Một số vấn đề xã hội nhằm giải quyết mối quan
hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ở nước
ta, thực trạng và khuyến nghị” Tạp chí Kinh tế Phát triển, (196).
15. Mai Ng ọc Cường (2013) “Một số vấn đề cơ bản về chính sách xã hội ở
Việt Nam hiện nay”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
16. Di ễn đàn kinh tế, tài chính Vi ệt - Pháp, (2004) “Vì một sự tăng trưởng
và một xã hội công bằng”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
17. Ph ạm Tất Dong, (2000), “Tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã
hội - một nội dung của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”,
Tạp chí Quốc phòng toàn dân.
18. Bùi Đại Dũng (2012), Công bằng trong phân ph ối, cơ sở để phát tri ển
bền vững, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
19. Nguy ễn Tấn Dũng (2012 ), Hoàn thi ện th ể ch ế kinh t ế thị tr ường định
hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô
hình tăng trưởng, Tạp chí Cộng sản, (832).
20. Nguy ễn Tiến Dũng (2012) “Kinh t ế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, sự tiếp nối của công cuộc đổi mới”, Tạp chí Cộng sản điện tử.
21. Nguy ễn Hữu Dũng (2012) “Phát tri ển kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa và thực hiện chính sách an sinh xã hội ở nước ta”, Tạp chí
Cộng sản điện tử.
22. Lê Cao Đoàn (2001) Triết lý phát tri ển: quan h ệ công nghi ệp – nông
nghiệp, thành thị - nông thôn trong quá trình công nghi ệp hóa, hiện đại
hóa ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội.
153
23. Ph ạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hòa (2010), Vấn đề dân
sinh và xã hội hài hòa, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
24. Ph ạm Văn Đức và các c ộng sự (2010) Trách nhiệm xã hội trong điều
kiện kinh tế thị trường, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
25. Đảng Lao động Vi ệt Nam (1960), Văn kiện Đại hội Đảng lần th ứ III,
Ban Chấp hành Trung ương Đảng xuất bản, Hà Nội.
26. Đảng cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội Đảng VI, NXB Sự
thật, Hà nội.
27. Đảng cộng sản Vi ệt Nam (1994) Văn ki ện Hội ngh ị toàn qu ốc gi ữa
nhiệm kỳ, khóa VII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
28. Đảng cộng sản Vi ệt Nam (1992), Văn ki ện Đại hội Đảng VII, NXB
Chính trị quốc gia, Hà nội.
29. Đảng cộng sản Vi ệt Nam, ( 1996), Văn ki ện đại hội Đảng VIII, NXB
Chính trị quốc gia, Hà nội.
30. Đảng Cộng sản Vi ệt Nam, (2001 ), Văn ki ện Đại hội Đảng IX , NXB
Chính trị quốc gia, Hà nội.
31. Đảng Cộng sản Vi ệt Nam, (2006 ), Văn ki ện Đại hội Đảng X, NXB
Chính trị quốc gia, Hà nội.
32. Đảng Cộng sản Vi ệt Nam, (2011 ), Văn ki ện Đại hội Đảng XI, NXB
Chính trị quốc gia, Hà nội.
33. Đảng Cộng sản Vi ệt Nam, (2015) Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý
luận và th ực ti ễn qua 30 n ăm đổi mới (1986 - 2015), NXB Chính tr ị
quốc gia, Hà Nội.
34. Nguy ễn Tài Đông (2010) “M ột số vấn đề xã h ội và dân sinh ở Vi ệt
Nam từ đổi mới đến nay”, Tạp chí Triết học, (4).
35. Nguy ễn Ngọc Hà – Ph ạm Quốc Thới (2012) “Th ực hiện công bằng xã
hội – nội dung cơ bản của định hướng xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh
tế thị trường ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học xã hội, (2).
154
36. Lương Đình Hải (2008), Hiện đại hóa xã hội vì mục tiêu công bằng xã
hội ở Việt Nam hiện nay, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
37. Tr ần Hậu (2012), “V ề quan điểm tiến bộ và công b ằng xã hội ở nước
ta”, Tạp chí Triết học, (2).
38. Tr ần Kim Hào – Nguy ễn Thị Nguyệt (2012) “Nâng cao ho ạt động của
các doanh nghi ệp nhà nước nhằm duy trì tăng trưởng kinh tế”, Tạp chí
Kinh tế phát triển, (175).
39. Hiến pháp n ước Cộng hoà xã h ội ch ủ ngh ĩa Vi ệt Nam n ăm 1992 ,
(1992) NXB Sự thật.
40. Nguy ễn Đình Hoà, (2002), “V ề vai trò c ủa Nhà nước đối với việc thực
hiện công bằng xã hội trong ti ến trình công nghi ệp hoá, hi ện đại hoá”,
Tạp chí Triết học.
41. Hoàng Ng ọc Hòa (2007) “Các mô hình, th ể ch ế kinh t ế thị trường và
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” Tạp
chí Cộng sản, (2).
42. Minh Hoài, (2000), “T ăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm ở nước
ta hiện nay”, Tạp chí Con số và sự kiện.
43. Tô Đức Hạnh (2009) “Bàn về mô hình kinh tế thị trường trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” , Tạp chí Kinh tế phát triển, (2).
44. Võ Th ị Hoa (2011), Nhà nước với vi ệc th ực hi ện công b ằng xã h ội
trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta hiện nay, Luận án ti ến sĩ Chính tr ị học, Học viện Chính tr ị quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội.
45. Bùi Th ị Hoàn (2011), “Phát triển kinh tế thị trường và vấn đề hạn chế làm
giàu không chính đáng ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học, (8) (243).
46. Nguy ễn Minh Hoàn (2003), “Th ực hi ện công b ằng xã h ội trong điều
kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
hiện nay”, Tạp chí Triết học, (6) (145).
155
47. Nguyễn Minh Hoàn (2009), “ Công bằng xã h ội trong ti ến bộ xã h ội”
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
48. Nguyễn Minh Hoàn (2009), “S ự khác bi ệt trong quan ni ệm của C.Mác
và J.Rawls về công bằng xã hội” Tạp chí Triết học, (10).
49. Nguyễn Th ị Mai Hồng, (2000), Phân hoá giàu nghèo trong quá trình
chuyển sang kinh t ế th ị tr ường ởt nước ta-Th ực tr ạng xu h ướng bi ến
động và gi ải pháp, Lu ận án ti ến sĩ Triết học, Học viện Chính tr ị quốc
gia Hồ Chí Minh, Hà nội.
50. Hội đồng qu ốc gia ch ỉ đạo biên so ạn Từ điển Bách khoa Vi ệt Nam
(1995), Từ điển Bách khoa Vi ệt Nam, Trung tâm T ừ điển Bách khoa
Việt Nam, Hà Nội.
51. Mai Xuân Hợi (2009) “Nh ững nhân t ố quyết định tính định hướng xã
hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí
Kinh tế phát triển, (2).
52. Nguy ễn Tấn Hùng, Lê H ữu Ái (2008) “Th ực hiện công bằng xã hội ở
Việt Nam hi ện nay, mâu thu ẫn và ph ương pháp gi ải quy ết”, Tạp chí
Triết học, (4).
53. Đỗ Huy (2008) “Công b ằng xã h ội ở Vi ệt Nam: Nh ận di ện và gi ải
pháp” Tạp chí Triết học, (5).
54. Đỗ Huy (2009), “M ột số vấn đề quan tâm trong vi ệc gi ải quy ết mối
quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội”, Tạp chí Triết học, (12) (223).
55. Nguyễn Quỳnh Huy (2005),“Thành tựu về tiến bộ và công bằng xã hội
của Việt Nam trong những năm gần đây”, Tạp chí Giáo dục lý luận.
56. Nguyễn Văn Huyên (1998), "V ề một mô hình phát tri ển đảm bảo sự
tiến bộ xã hội", Tạp chí Triết học.
57. Nguyễn Hải Hữu (2006), “Phát tri ển hệ thống an sinh x ã hội phù hợp
với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”, Tạp
chí Cộng sản.
156
58. Nguy ễn Đình Kháng (2000 ), “Vai trò qu ản lý của Nhà nước trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã h ội chủ ngh ĩa”, Tạp chí qu ốc phòng
toàn dân.
59. Ph ạm Thanh Khiết, (2000) “Kinh tế thị trường ở nước ta và nh ững vấn
đề cần giải quyết”, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, (6).
60. Nguy ễn Hữu Khi ển, (2011) “Nhóm lợi ích và v ấn đề ch ống tham
nhũng” Tạp chí Triết học, Số 3.
61. Tr ương Đình Khương (2008), Thực hi ện công bằng xã h ội trong điều
kiện kinh t ế th ị tr ường định hướng xã hội ch ủ ngh ĩa ở Vi ệt Nam hi ện
nay, lu ận văn th ạc sĩ Tri ết học, Học vi ện Chính tr ị qu ốc gia H ồ Chí
Minh, Hà Nội.
62. Vi Th ị Hương Lan (2012) Vai trò của Nhà n ước trong vi ệc thực hi ện
CBXH ở Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế”, Luận án tiến sĩ Triết học,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
63. Lê B ộ Lĩnh (chủ biên), (1998), Tăng trưởng kinh tế và Công bằng xã hội ở
một số nước Châu Á và Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
64. Lê Qu ốc Lý (ch ủ biên), (2012) Chính sách xóa đói, giảm nghèo, th ực
trạng và giải pháp NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
65. Lê Qu ốc Lý (Ch ủ biên), (2013), “ Những vấn đề đặt ra trong quá trình
phát tri ển kinh t ế Vi ệt Nam giai đoạn 2011 - 2020”, NXB Chính tr ị
quốc gia, Hà Nội.
66. C.Mác - Ăngghen toàn tập, (1995), Tập 3, NXB Sự thật, Hà Nội.
67. C.Mác - Ăngghen (1995) toàn tập, tập 4, NXB Sự thật, Hà Nội.
68. C.Mác - Ăngghen (1995), (toàn tập, tập 18, NXB Sự thật, Hà Nội.
69. C.Mác - Ăngghen (1995), toàn tập, tập 19, NXB Sự thật, Hà Nội.
70. C.Mác - Ăngghen (1980), toàn tập, tập 1, NXB Sự thật, Hà Nội.
71. C.Mác - Ăngghen ( 1995), toàn tập, tập 22, NXB Sự thật, Hà Nội.
157
72. Hồ Chí Minh (2000), toàn tập, tập 1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
73. Hồ chí minh (2000), toàn tập, tập 7, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
74. Hồ chí minh (2000), toàn tập, tập 10, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
75. Hồ chí minh (2000), toàn tập, tập 11, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
76. Hồ chí minh (2000), toàn tập, tập 12, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
77. Hồ Chí Minh về cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã
hội, (1976), NXB Sự thật, Hà Nội.
78. Ngô Quang Minh (2008) “Ti ếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở Việt Nam” Tạp chí Lý luận chính trị, (5).
79. Vũ Viết Mỹ (2004), “K ết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công
bằng xã hội trong sự nghiệp công nghi ệp hóa hi ện đại hóa đất nước”,
Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng, lý luận, (10).
80. Nguy ễn Thu Nghĩa (2010) “Vai trò của việc xây dựng nền văn hóa tiên
tiến đậm đà bản sắc dân t ộc với sự phát tri ển kinh t ế th ị tr ường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” Tạp chí Triết học, (11).
81. Ph ạm Xuân Nam (ch ủ biên), (2001), Quản lý sự phát tri ển xã hội trên
nguyên tắc tiến bộ và công bằng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
82. Ph ạm Xuân Nam (chủ biên), (2002), Triết lý phát triển ở Việt Nam, mấy
vấn đề cốt yếu, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
83. Ph ạm Xuân Nam (2008), “Công b ằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Triết học, (2) (201).
84. Nguy ễn Thị Nga (2005), “Công bằng xã hội ở nước ta hiện nay - một số
thành tựu và vấn đề đặt ra”, Tạp chí Lý luận chính trị.
85. Nguy ễn Thị Nga (Ch ủ biên) (2007), Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế
và công bằng xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới - vấn đề và giải pháp,
NXB lý luận chính trị, Hà nội.
86. Dương Xuân Ng ọc, Nguyễn Văn Nhớn (2002), "Vai trò c ủa Nhà nước
trong việc thực hiện công bằng xã hội", Tạp chí Triết học.
158
87. Dương Xuân Ngọc (Chủ biên) (2012) Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và
đổi mới chính trị ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
88. Tr ần Văn Ngọc (2004), “Vấn đề phân phối kết quả sản xuất trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 7.
89. Tr ần Nhâm (2004) Tư duy lý luận với sự nghiệp đổi mới, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
90. Niên giám thống kê, NXB Thống kê, 2014
91. Lê H ữu Nghĩa, Lê Ngọc Hùng (2012) Cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội
trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
92. Nguy ễn Quốc Phẩm (2005), “Kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và
công bằng xã hội”, Tạp chí Cộng sản.
93. Tr ần Văn Phòng (2006), “M ột số giải pháp nh ằm kết hợp tăng trưởng
kinh tế với công b ằng xã h ội ở nước ta hi ện nay”, Tạp chí Khoa h ọc
chính trị.
94. Vũ Văn Phúc (2004), “Tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển văn hóa xã
hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân.
95. Vũ Văn Phúc (2012), (ch ủ biên) Đổi mới mô hình t ăng trưởng, cơ cấu
lại nền kinh tế, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
96. Đỗ Thanh Phương (2000), “Quá trình nh ận thức kinh tế nhà nước trong
cơ cấu kinh tế nhiều thành ph ần ở nước ta”, Tạp chí Sinh ho ạt lý lu ận,
số 6.
97. Đỗ Nguyên Phương (2006), Tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến
bộ và công b ằng xã h ội, Trong “Việt Nam - 20 n ăm đổi mới”, NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
98. Ph ạm Ngọc Quang (2004) “Định hướng và giữ vững định hướng xã hội
chủ nghĩa trong phát tri ển kinh tế thị trường – một số vấn đề phương
pháp luận”, Tạp chí Thông tin công tác lý luận, (6).
159
99. Ph ạm Ngọc Quang (2009), “Vai trò c ủa Nhà nước trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã h ội ch ủ ngh ĩa ở Vi ệt Nam hi ện nay”, Tạp chí
Cộng sản, (8).
100. Lương Xuân Qu ỳ (2002), Xây dựng quan h ệ sản xu ất định hướng xã
hội chủ nghĩa và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội ở Việt Nam, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
101. Lương Xuân Qu ỳ (2005), Quản lý nhà n ước trong n ền kinh t ế th ị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Đề tài khoa h ọc cấp
Nhà nước KX 0109.
102. Lương Xuân Quỳ - Đỗ Đức Bình (2010) Thể chế kinh tế của nhà nước
trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam,
NXB Chính trị quốc gia.
103. Nguyễn Duy Quý (2001), Tiến tới một Asean hòa bình, ổn định và phát
triển bền vững, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
104. Kỷ yếu hội th ảo (2004) “Vấn đề phân ph ối và phân hóa giàu nghèo
trong điều ki ện phát tri ển kinh t ế th ị tr ường định hướng xã h ội ch ủ
nghĩa ở nước ta”, NXB Lao động – xã hội.
105. Lương Sơn (1991) “Công bằng xã hội trong kinh tế thị trường”, Tạp chí
Cộng sản (11).
106. Hồ Tấn Sáng (2010) “Vai trò của nhân tố lãnh đạo, quản lý trong quá
trình xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam” Tạp chí Triết học, (6).
107. Nguyễn Hồng Sơn (2009) “Kinh t ế th ị trường định hướng xã h ội ch ủ
nghĩa và vấn đề công bằng xã hội ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Kinh tế
và phát triển, (2).
108. Nguyễn Hồng Sơn (2009) “Góp ph ần tìm hi ểu tư tưởng Hồ Chí Minh
về dân chủ”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, (166) (II).
160
109. Nguyễn Hồng Sơn (2014) “Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội”, Tạp chí Lý lu ận chính trị và
truyền thông, (2).
110. Nguyễn Hồng Sơn (2014) “Những nhân tố tác động tới việc thực hiện
công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ ngh ĩa ở nước ta hi ện nay ”, Tạp chí Lý lu ận chính tr ị và truy ền
thông, (11).
111. Nguyễn Hồng Sơn (2015) “Th ực hi ện tư tưởng Hồ Chí Minh v ề công
bằng xã hội trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Lý luận chính trị, (3).
112. Nguyễn Hồng Sơn (2015) “Nhận thức về việc thực hiện công bằng xã
hội trong điều ki ện kinh t ế th ị trường định hướng xã hội ch ủ nghĩa ở
Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, (4).
113. Lưu Văn Sùng (2012) Định hướng xã hội ch ủ nghĩa - Ti ến tới xã hội
nhân đạo hoàn bị, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
114. Nguyễn Đình Tấn (2005), Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội, NXB Lý
luận chính trị, Hà Nội.
115. Lê Hữu Tầng (1997), Về động lực của sự phát tri ển kinh t ế - xã h ội,
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
116. Lê Hữu Tầng (2008) “M ột số vấn đề lý lu ận và th ực tiễn xung quanh
việc thực hi ện công bằng xã h ội ở Việt Nam hi ện nay”, Tạp chí Tri ết
học, (1) (200).
117. Hoàng Đức Thân (2011) “Gi ải quy ết các v ấn đề xã h ội nảy sinh
trong chi ến lược phát tri ển bền vững ở Vi ệt Nam” Tạp chí Kinh t ế
phát triển, (173).
118. Trần Thành (2006) “Vai trò c ủa nhà nước trong việc kết hợp giữa tăng
trưởng kinh tế và th ực hiện công bằng xã hội ở nước ta hi ện nay” Tạp
chí Triết học, (2).
161
119. Hà Huy Thành (Ch ủ biên) (2000), Những tác động tiêu cực của cơ chế
kinh tế thị trường ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
120. Hà Huy Thành – Nguy ễn Ngọc Khánh (2009), Phát triển bền vững từ
quan niệm đến hành động, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
121. Ngô Quang Thành, (2000), “Các định tố của bất bình đẳng về thu nhập
và chi ến lược tăng tr ưởng kinh t ế trong công b ằng xã h ội cho Vi ệt
Nam”, Tạp chí nghiên cứu kinh tế.
122. Ngô Quang Thành (2001), “Vai trò ch ủ đạo của kinh t ế nhà n ước với
mục tiêu t ăng trưởng kinh t ế gắn li ền với công b ằng xã hội”, Tạp chí
Khoa học Chính trị, (5).
123. Hồ Bá Thâm (2011), Bàn về mâu thuẫn xung đột lợi ích hiện nay, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
124. Trần Phúc Thăng (2003), Quan điểm duy vật lịch sử với việc nhận thức
thời đại ngày nay, Thông tin những vấn đề triết học và đời sống.
125. Nguyễn Xuân Th ắng (Ch ủ biên) (2003), Một số xu h ướng phát tri ển
chủ yếu hiện nay của nền kinh tế thế giới, NXB Khoa học xã hội.
126. Hoàng Đức Thân - Đinh Quang Ty, ch ủ biên (2010) Tăng tr ưởng
kinh tế và tiến bộ, công bằng xã h ội ở Việt Nam, NXB Chính tr ị quốc
gia, Hà Nội.
127. Lê Văn Toàn (2012), Phân tầng xã h ội ở Vi ệt Nam trong quá trình
chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, NXB Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
128. Trần Nguyễn Tuyên (2010), Gắn kết tăng trưởng kinh tế và công bằng,
tiến bộ xã hội, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
129. Lưu Đạt Thuy ết (2004) “Gi ải quy ết một số vấn đề xã h ội trong quá
trình phát tri ển nền kinh t ế th ị trường định hướng xã h ội ch ủ ngh ĩa ở
nước ta”, Tạp chí Lý luận chính trị, (11).
162
130. Nguyễn Gia Th ơ (2012), “M ối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định
hướng xã h ội ch ủ ngh ĩa trong th ời kỳ quá độ lên ch ủ ngh ĩa xã h ội ở
nước ta”, Tạp chí Triết học, (6) (253).
131. Phạm Thị Ngọc Trầm (Chủ biên) (2009), Những vấn đề lý luận cơ bản
về công b ằng xã h ội trong điều ki ện hi ện nay ở nước ta,, NXB Khoa
học xã hội, Hà Nội.
132. Nguyễn Ng ọc Trân (2003), Một số vấn đề kinh t ế toàn c ầu hi ện nay ,
NXB Thế giới, Hà Nội.
133. Nguyễn Phú Tr ọng (2007), “Kinh t ế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, quan niệm và giải pháp phát triển”, Tạp chí Cộng sản, (1).
134. Nguyễn Phú Trọng (chủ biên) (2008), Đổi mới và phát triển ở Việt Nam,
một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
135. Nguyễn Phú Trọng (chủ biên) (2011), Về các mối quan hệ lớn cần được
giả quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
136. Vũ Anh Tu ấn, (2001), Vai trò của pháp lu ật trong vi ệc đảm bảo công
bằng xã h ội ở nước ta hi ện nay, Luận án ti ến sỹ Lu ật học, Học vi ện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
137. Đào Thế Tuấn (2012) “Bàn về giá trị công bằng và tương trợ trong nội
dung định hướng xã hội chủ nghĩa” Tạp chí Cộng sản điện tử.
138. Trần Nguy ễn Tuyên (2012), Gắn kết tăng tr ưởng kinh t ế và ti ến bộ,
công bằng xã hội, NXB Chính trị quốc gia.
139. Trần Xuân Trường (chủ biên) (2000), Một số vấn đề định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
140. Đỗ Tư - Tr ịnh Quốc Tuấn - Nguyễn Đức Bách (1996), Lược khảo lịch
sử tư tưởng xã h ội ch ủ ngh ĩa và c ộng sản ch ủ ngh ĩa, NXB Chính tr ị
quốc gia, Hà Nội.
163
141. Đinh Quang Ty (2004) “Bước đầu tìm hiểu những vấn đề có tính quy luật
trong phát triển kinh tế thị trường” Tạp chí Thông tin công tác lý luận, (6).
142. Tô Huy Rứa và các đồng sự Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lý lu ận
của Đảng 1986 - 2005, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội (2005).
143. Viện Khoa h ọc xã h ội Vi ệt Nam (2007), Công bằng xã h ội, trách
nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội, kỷ yếu hội thảo quốc tế.
144. Lưu Th ị Hồng Vi ệt (2005) “C ơ ch ế th ị tr ường trong n ền kinh t ế th ị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta: những khuyết tật và biện
pháp khắc phục” Tạp chí Báo chí và tuyên truyền, (4).
145. Phạm Thị Ngọc Trầm (chủ biên) (2009), Những vấn đề lý luận cơ bản
về công bằng xã hội trong điều kiện nước ta hi ện nay, NXB Khoa h ọc
xã hội, Hà Nội.
146. V.P.Vônghin (1979) Lược khảo các tư tưởng xã hội chủ nghĩa”, NXB
Sự thật, Hà Nội.
147. Nguyễn Hữu Vượng (2004), Về tiến bộ xã hộ trong kinh t ế thị trường,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
148. Đức Vượng (2003) “Ch ủ ngh ĩa xã h ội và kinh t ế th ị tr ường, kinh
nghiệm của Trung Qu ốc và kinh nghi ệm của Việt Nam” Tạp chí Cộng
sản, (34).
149. Ngô Đình Xây (2011)“Phát triển nhanh và bền vững trong chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết học, (4).
150. Báo Công an nhân dân Thành ph ố Hồ Chí Minh điện tử, ngày
22.10.1013.
151. Báo điện tử Chính ph ủ. http://baodientu.chinhphu.vn/Cac-bai-phat-
bieu-cua-Thu-tuong/Bao-cao-cua-Chinh-phu-do-Thu-tuong-Nguyen-
Tan-Dung-trinh-bay-tai-phien-khai-mac-Ky-hop-thu-6-QH-khoa-
XIII/183595.vgp
164
152. Báo Nhân dân Điện tử ngày 24/8/2015
153. Báo Lao động điện tử “Chênh lệch thu nh ập tại Việt Nam đang tăng”.
http://laodong.com.vn/kinh-doanh/chenh-lech-thu-nhap-tai-viet-nam-
dang-tang-71455.bld
154. Báo Xã luận điện tử ngày 29/5/2015
155. Báo Sống mới - Kinh t ế Online. http://songmoi.vn/kinh-te-quoc-te/my-
can-moc-moi-ve-bat-binh-dang-giau-ngheo
156. Cổng thông tin điện tử Bộ tài chính ngày 25/6/1015
157. Cổng thông tin điện tử Chính ph ủ nước Cộng hòa XHCN Vi ệt Nam
http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungtinhhinhth
uchien?categoryId=100002607&articleId=10051323
158. Cổng thông tin điện tử Chính ph ủ nước Cộng hòa XHCN Vi ệt Nam
http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungtinhhinhth
uchien?categoryId=100002927&articleId=10052683.
159 Cổng thông tin điện tử Chính ph ủ nước Cộng hòa XHCN Vi ệt Nam
http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungtinhhinht
huchien?categoryId=100003029&articleId=10053823
Tiếng Anh
160 Clark, M.Islam, S Ira C.Colby, Catherine N.Dulmus, Karen M.Sowers
(2004)“Economic Growth and Social Welfare; Oprerationalizing
Normative Social Choice Theory”, Victoria University, Australia.
161 David Miller, (2001)“Principles of social juctice” , Harvard University
press.
162 David Shriberg, Samuel Y.Song, Antoinetle Halsell, Kisha M. Radliff
(2013) “School psychology and sosial juctice: Conceptual foundations
and tools for pratice”, Lodon, New York: Routledge
163 Esner, Wolfram, Lee, Friderics (2011 ) “Studies in economic reform
165
and social justice: Evaluting economic research in a contested
discipline: rakings, pluralsm, and the future of heterodiox economics”,
Malden: Wiley - Balckwell.
164 Fillip Taylor (2004) “Social Inequality in Vietnam and the Challenges
to Reform” Institute of Southeast Asian Studies Singapore.
165 Frideric S.Lee (2012) “Social Provisioning, Ebeddedness and
Modelling the economy: Study in economic reform and social justice” ,
Wiley - Blackwell press.
166 Hayter, Susan (2011) “The role collective bargaining in the global
economy: Negotiating for social justice”, Cheltenham: Edword Egar:
Iternational Labour Office.
“Social 167 Ira C.Colby, Catherine N.Dulmus, Karen M.Sowers (2013)
work and social policy: advancing the principles of economic and
social justice”, Hoboken:John Wiley & Son press.
168 Lindert, P.H. (2004) “Growing Public Social Spending and Economic
Growth since the eighteeth century”, Cambridge University Press.
169 Matthew Clayton and Andrew Williams (2004) “Social justice” ,
Blackwell publishing Ltd.

