intTypePromotion=1
ADSENSE

Công cuộc giảm nghèo ở huyện Lục Ngạn – tỉnh Bắc Giang: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp giảm nghèo bền vững

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

74
lượt xem
6
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong những năm qua, huyện Lục Ngạn – một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang đã đạt nhiều thành tựu trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, một số xã giàu lên nhờ phát triển các mô hình kinh tế vườn rừng, vườn đồi, đặc biệt là trồng cây vải thiểu – một sản phẩm trở thành thương hiệu cả nước biết tới.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Công cuộc giảm nghèo ở huyện Lục Ngạn – tỉnh Bắc Giang: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp giảm nghèo bền vững

Vũ Vân Anh<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 87(11): 89 - 93<br /> <br /> CÔNG CUỘC GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG<br /> THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG<br /> Thân Thị Huyền*<br /> Trường Đại học Sư phạm – ĐH Thái Nguyên<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Trong những năm qua, huyện Lục Ngạn – một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang đã đạt nhiều<br /> thành tựu trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, một số xã giàu lên nhờ phát triển các mô hình kinh<br /> tế vườn rừng, vườn đồi, đặc biệt là trồng cây vải thiểu – một sản phẩm trở thành thương hiệu cả<br /> nước biết tới. Tuy nhiên, theo nghiên cứu tìm hiểu của chúng tôi, hiện đang tồn tại một nghịch<br /> cảnh là, bên cạnh các xã trung du vươn lên giàu có nhờ phát triển kinh tế hàng hóa, lại tồn tại một<br /> vệt 13 xã vùng cao vẫn trong tình trạng kinh tế phát triển chậm, tỉ lệ hộ nghèo cao (gọi chung là<br /> vệt xã nghèo). Nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu hiện nay là tìm giải pháp giảm nghèo nhanh,<br /> bền vững cho các xã vùng cao của huyện. Để thực hiện nhiệm vụ trên, chúng tôi cho rằng cần thiết<br /> tập trung làm rõ vào các vấn đề dưới đây.<br /> Từ khoá: giảm nghèo, thực trạng, nguyên nhân, giải pháp.<br /> <br /> <br /> THỰC TRẠNG NGHÈO TRÊN DỊA BÀN<br /> HUYỆN LỤC NGẠN BẮC GIANG<br /> Đối chiếu với chuẩn nghèo mới do Thủ tướng<br /> Chính Phủ ban hành theo Quyết định số<br /> 09/2011/QĐ-TTg về chuẩn hộ nghèo, hộ cận<br /> nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015,<br /> huyện Lục Ngạn có vệt xã nghèo với tỉ lệ hộ<br /> nghèo trên 50%. Đó là 13 xã: Xa Lý, Phong<br /> Minh, Phong Vân, Tân Sơn, Cấm Sơn, Hộ<br /> Đáp, Sơn Hải, Kim Sơn, Phú Nhuận, Đèo<br /> Gia, Tân Mộc, Đồng Cốc và Biên Sơn. Đây là<br /> các xã vùng cao, nằm kéo dài trên vòng cung<br /> từ phía Tây, qua phía Đông sang phía Nam<br /> của huyện. Tổng diện tích đất tự nhiên là<br /> 60.555,3 ha (chiếm 58,9% tổng diện tích toàn<br /> huyện); diện tích đất canh tác nông nghiệp ít,<br /> chủ yếu là đất lâm nghiệp, đồi, núi có độ dốc<br /> lớn. Dân số 63.518 người (dân tộc thiểu số<br /> chiếm trên 76%) sống ở 135 thôn bản; trong<br /> đó dân số nam là 31.711 người và dân số nữ<br /> là 31.807 người; 31.955 người trong độ tuổi<br /> lao động (chiếm tỉ lệ 50,3% dân số). Chất<br /> lượng nguồn lao động thấp, chủ yếu là lao<br /> động chưa qua đào tạo.<br /> <br /> <br /> <br /> Tel:<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> Nguồn thu nhập của nhân dân vệt xã nghèo<br /> chủ yếu từ nông – lâm nghiệp nhưng diện tích<br /> đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp,<br /> sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào thiên<br /> nhiên là chính, năng suất các loại cây trồng<br /> thấp, thiếu ổn định, tư duy sản xuất hàng hoá<br /> còn hạn chế, việc ứng dụng khoa học kĩ thuật<br /> vào sản xuất chưa nhiều, việc chuyển đổi cơ<br /> cấu cây trồng vật nuôi diễn ra chậm, có rất ít<br /> sản phẩm hàng hoá, tập quán canh tác, sản<br /> xuất mang tính tự cung, tự cấp là chủ yếu.<br /> Bình quân lương thực có hạt sản xuẩt đầu<br /> người năm 2008 là 219,6 kg, nhưng bình<br /> quân sản xuất thóc chỉ đạt 154,8 kg/người. 13<br /> xã với tổng số 12.552 hộ và 63.518 khẩu<br /> (bình quân 5,06 khẩu/hộ). Trong đó, có 7.800<br /> hộ nghèo, chiếm tỉ lệ 62,1%. Qua khảo sát<br /> thống kê hộ nghèo thuộc diện đối tượng cần<br /> được hỗ trợ về nhà ở theo Quyết định<br /> 167/2998/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính<br /> Phủ thì vệt xã nghèo có 2.339 hộ nghèo khó<br /> khăn về nhà ở (chiếm 60,8% số hộ nghèo khó<br /> khăn về nhà ở toàn huyện).<br /> Căn cứ vào điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã<br /> hội đặc trưng có thể chia vệt nghèo của huyện<br /> chia thành 3 khu vực riêng biệt, đó là:<br /> (1) Khu vực 4 xã vùng hồ Cấm Sơn (Sơn Hải,<br /> Hộ Đáp, Tân Sơn, Cấm Sơn): cơ sở hạ tầng<br /> kỹ thuật còn thiếu thốn nghiêm trọng, đường<br /> 89<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Vũ Vân Anh<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> liên thôn, liên xã đều là đường đất, nhiều đèo<br /> dốc và xuống cấp nghiêm trọng, 23 thôn phải<br /> sử dụng thuyền để đi lại với bên ngoài, 3 xã<br /> chưa có chợ, 5 thôn chưa sử dụng điện lưới<br /> quốc gia. Diện tích tự nhiên lớn nhưng chủ<br /> yếu là diện tích hồ chứa nước Cấm Sơn, diện<br /> tích đất rừng phòng hộ, diện tích canh tác lúa<br /> nước ổn định rất ít (tổng số có 427 ha, bình<br /> quân 236,5 m2/khẩu).<br /> (2) Khu vực các xã vùng cao Đông Bắc<br /> (Phong Vân, Kim Sơn, Phong Minh, Xa Lý,<br /> Biên Sơn): có diện tích tự nhiên lớn nhưng<br /> chủ yếu là đất chuyên dùng, địa hình đồi núi<br /> dốc, bị chia cắt, giao thông khó khăn, diện<br /> tích đất nông nghiệp bình quân đầu người<br /> thấp (bình quân 264,6 m2/khẩu).<br /> (3) Khu vực các xã vùng Đông Nam (Phú<br /> Nhuận, Đồng Cốc, Đèo Gia, Tân Mộc): có địa<br /> hình bị chia cắt mạnh, giao thông khó khăn,<br /> điều kiện sản xuất nông nghiệp không thuận<br /> lợi, rất khó khăn trong tiếp cận thị trường.<br /> NGUYÊN NHÂN<br /> Kết quả điều tra thực trạng đói nghèo cho<br /> thấy nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo<br /> của các hộ như sau: (i) Thiếu kiến thức sản<br /> xuất kinh doanh; (ii) Chưa được qua đào tạo<br /> nghề; (iii) Thiếu đất sản xuất; (iv) Thiếu vốn<br /> sản xuất; (v) Có người ốm đau dài ngày; (vi)<br /> Thiếu lao động; (vii) Thiếu việc làm; (viii)<br /> Tai nạn rủi ro; (ix) Đông người ăn theo.<br /> Ngoài ra, một số hộ còn tư tưởng ỷ lại vào<br /> Nhà nước, thiếu ý chí vươn lên thoát nghèo.<br /> Nghèo không chỉ đơn giản là mức thu nhập<br /> thấp mà còn thiếu thốn trong việc tiếp cận<br /> dịch vụ như giáo dục, văn hoá, y tế, giao<br /> thông, thủy lợi, … Về giao thông, trên địa bàn<br /> 13 xã có 113 km đường huyện (mới có 35 km<br /> đang nâng cấp); 157 km đường xã (cứng hoá<br /> 02 km, cấp phối 37,2 km còn lại chất lượng<br /> rất xấu); 392,6 km đường thôn, bản (cứng hoá<br /> 5,8 km và 26,6 km cấp phối đang xuống cấp<br /> còn lại chất lượng rất xấu); nhiều điểm cần<br /> xây dựng ngầm, cống hoặc cầu nhỏ nhưng<br /> chưa được đầu tư. Hệ thống giao thông trong<br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> 87(11): 89 - 93<br /> <br /> những năm qua đã được chú trọng đầu tư, góp<br /> phần không nhỏ vào quá trình phát triển kinh<br /> tế - xã hội, nhưng còn thấp kém so với các<br /> khu vực khác, giao thông đi lại còn rất nhiều<br /> khó khăn, đặc biệt các xã khu vực hồ Cấm<br /> Sơn và các xã vùng Cao, địa hình bị chia cắt.<br /> Các công trình thủy lợi: Trong những năm<br /> vừa qua, bằng nguồn vốn đầu tư tập trung,<br /> vốn Chương trình 135, vốn vay Ngân hàng<br /> thế giới (WB), … và nhân dân đóng góp, trên<br /> địa bàn 13 xã đã được đầu tư xây dựng mới 5<br /> trạm bơm điện, xây dựng mới, sửa chữa 23 hồ<br /> đập nhỏ, một số đập tràn qua suối với năng<br /> lực tưới của các công trình đạt 530 ha. Tuy<br /> nhiên, phần lớn các công trình hồ, đập bằng<br /> đất đang bị xuống cấp nghiêm trọng, hệ thống<br /> cống, kè tràn không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật<br /> hệ thống kênh mương chưa được kiên cố hoá<br /> nên tỉ lệ thất thoát nước nhiều, cần được sửa<br /> chữa, nâng cấp.<br /> Hệ thống lưới điện quốc gia: Đến nay, có<br /> 91,5% số hộ sử dụng điện phục vụ sinh hoạt;<br /> 13 thôn, bản chưa có điện lưới, mạng lưới<br /> điện nông thôn còn kém, thiếu an toàn, chi<br /> phí vận hành và giá bán điện đến người tiêu<br /> dùng còn cao. Nguyên nhân là do đầu tư chưa<br /> đồng bộ, chắp vá, đường dây hư hỏng, xuống<br /> cấp nhanh, không được sửa chữa kịp thời, cần<br /> được đầu tư cải tạo trong những năm tới.<br /> Cơ sở giáo dục, y tế: Trong khu vực có 13<br /> trường Mầm non (11 trường công lập, 02<br /> trường bán công), 14 trường Tiểu học; 11<br /> trường Trung học cơ sở và 01 trường cấp 2+3<br /> Tân Sơn. Nhìn chung, cơ sở vật chất trường<br /> học trong những năm qua được tập trung cao,<br /> lớp học phần lớn được kiên cố hoá. đáp ứng<br /> nhu cầu học tập của con em nhân dân trong<br /> khu vực. Số học sinh trong độ tuổi đến trường<br /> của các bậc học đạt tỉ lệ khá. Tuy nhiên, việc<br /> đến lớp của học sinh ở nhiều thôn, bản các xã<br /> vùng hồ Cấm Sơn, các thôn bản vùng xa<br /> trung tâm còn gặp nhiều khó khăn, nhất là học<br /> sinh bậc trung học cơ sở. Hiện nay, 13/13 xã<br /> có trạm y tế xã và 01 phòng khám đa khoa<br /> khu vực Tân Sơn, 4/13 trạm y tế xã đạt chuẩn<br /> 90<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Vũ Vân Anh<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> quốc gia, dịch vụ y tế cơ sở đã từng bước đáp<br /> ứng nhu cầu khám, chữa bệnh, chăm sóc sức<br /> khoẻ ban đầu cho nhân dân trên địa bàn. Tuy<br /> nhiên, số lượng y, bác sỹ và cơ cấu chuyên<br /> môn của một số trạm y tế vẫn chưa đảm bảo<br /> theo qui định.<br /> Mạng lưới thương mại, dịch vụ trong khu vực<br /> phát triển chậm, có 6/13 xã có chợ xã hoặc<br /> chợ liên xã, một số xã xa trung tâm như Xa<br /> Lý, Đèo Gia, các xã vùng hồ Cấm Sơn<br /> thương mại kém phát triển, giao lưu hàng hoá<br /> rất khó khăn.<br /> GIẢI PHÁP XÓA NGHÈO BỀN VỮNG<br /> Vấn đề giảm nghèo trên cả nước nói chung và<br /> đối với các xã đặc biệt khó khăn của huyện<br /> Lục Ngạn nói riêng được đặt ra trước giai<br /> đoạn phát triển mới mà ở đó mục tiêu giảm<br /> nghèo bền vững trên cơ sở Đề án chiến giảm<br /> nghèo của Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020.<br /> Theo đó, hướng giảm nghèo tập trung vào đối<br /> tượng đồng bào dân tộc thiểu số và khu vực<br /> miền núi cao, vùng sâu, công tác giảm nghèo<br /> trong thời gian tới sẽ còn nhiều khó khăn vì<br /> đây là khu vực dân cư chịu tác động mạnh mẽ<br /> của phong tục tập quán bản địa, việc thiết kế<br /> các chính sách xoá đói giảm nghèo cho nhóm<br /> đối tượng này thời gian qua còn mang nặng<br /> tính bao cấp tạo nên tâm lý ỷ lại, trông chờ<br /> vào Nhà nước. Có thể nói, tình trạng nghèo<br /> sâu, nghèo kinh niên tập trung vào đối tượng<br /> là đồng bào dân tộc thiểu số. Mặc dù là đối<br /> tượng của rất nhiều chương trình dự án giảm<br /> nghèo nhưng họ vẫn gặp nhiều khó khăn<br /> trong cuộc sống và sản xuất. 13 xã có tỉ lệ hộ<br /> nghèo trên 50% được coi là “lõi nghèo” của<br /> huyện Lục Ngạn.<br /> Vấn đề giảm nghèo và thực hiện công bằng<br /> xã hội. Khoảng cách về thu nhập giữa các<br /> nhóm dân cư ngày càng rộng trong bối cảnh<br /> hiện nay là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng<br /> cao, đương nhiên đưa tới hệ luỵ là giảm cơ<br /> hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của<br /> người nghèo. Đây là thách thức đặt ra đối với<br /> chất lượng và hiệu quả của việc thực hiện<br /> chính sách giảm nghèo thời gian tới trong<br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> 87(11): 89 - 93<br /> <br /> huyện. Phát sinh hình thức nghèo mới do<br /> nông dân không có đất sản xuất và một bộ<br /> phận chuyển ra thành thị tìm việc làm.<br /> Vấn đề tái nghèo và cận nghèo. Việc áp dụng<br /> chuẩn nghèo mới và tình hình giá cả hàng hoá<br /> gia tăng, tình trạng tái nghèo sẽ diễn ra đối<br /> với không ít các hộ mới thoát nghèo dễ dàng<br /> rơi vào tình trạng nghèo khi gặp những biến<br /> động, rủi ro trong cuộc sống như thiên tai,<br /> dịch bệnh, ốm đau, ...<br /> Xác định đúng đối tượng nghèo là thách thức<br /> đòi hỏi việc xây dựng và sử dụng chuẩn<br /> nghèo phải khoa học, khách quan, linh hoạt<br /> theo hướng tính toán, cập nhật đầy đủ nhu cầu<br /> chi tiêu tối thiểu của người dân và xem xét<br /> thoả đáng các vấn đề y tế, môi trường, bình<br /> đẳng về cơ hội cùng các yếu tố phi thu nhập<br /> như nhân lực, tài sản, khả năng tiếp cận các<br /> dịch vụ hỗ trợ, ... để tìm giải pháp giảm nghèo<br /> trong giai đoạn mới.<br /> Một số giải pháp cụ thể<br /> Thứ nhất, phát triển nông - lâm nghiệp - thuỷ sản<br /> * Giải pháp chung: Phát huy tối đa lợi thế về<br /> đất đai, tiềm năng chăn nuôi gia súc, gia cầm;<br /> khai thác mọi tiềm năng về lao động và các<br /> nguồn lực khác của từng khu vực để đẩy<br /> mạnh phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp theo<br /> hướng cung cấp nguồn nguyên liệu cho công<br /> nghiệp chế biến và xuất khẩu. Thực hiện<br /> chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp<br /> với khu vực, đẩy mạnh phát triển kinh tế<br /> trang trại.<br /> * Giải pháp và chính sách cụ thể<br /> + Trồng trọt: tập trung nghiên cứu đưa những<br /> giống cây hàng năm mới vào sản xuất nhằm<br /> nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm<br /> nông sản, sử dụng những giống lúa hoặc cây<br /> màu lương thực ngắn ngày và có sức chịu hạn<br /> cao để canh tác ven hồ vào vụ xuân để nhanh<br /> thu hoạch, tránh ngập nước do lũ đầu mùa.<br /> Đối với cây ăn quả (vải thiều) chỉ nên phát<br /> triển thu hẹp ở các khu vực có khả năng thâm<br /> canh; những vùng đất khác nên qui hoạch lại<br /> và hướng dẫn nhân dân đầu tư trồng rừng.<br /> 91<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Vũ Vân Anh<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Khôi phục lại diện tích cây công nghiệp, cây<br /> thực phẩm như đậu xanh ở Phong Vân, Kim<br /> Sơn, Phong Minh; đậu tương ở Kim Sơn;<br /> bông ở Phong Minh, Xa Lý.<br /> + Chăn nuôi: Tiếp tục tập trung phát triển<br /> đàn trâu, bò kết hợp trồng cỏ ở những khu<br /> vực không bị ngăn cách do nước hồ. Phát<br /> triển chăn nuôi lợn nái sinh sản, lợn thịt, gà<br /> đồi để tận dụng nguồn thức ăn sẵn có tại chỗ<br /> như rau xanh, ngô, khoai, sắn, cá. Các xã<br /> trong khu vực tập trung phát triển chăn nuôi<br /> và quản lý khai thác cá trong hồ Cấm Sơn vừa<br /> đảm bảo cho nhân dân có nguồn thu nhập vừa<br /> bảo vệ được nguồn lợi thủy sản bền vững khi<br /> Nhà nước cấp giống, vốn.<br /> + Lâm nghiệp: Đối với các khu vực trồng<br /> rừng kinh tế, phải hoàn thành việc giao đất đến<br /> hộ gia đình, hỗ trợ giống cây con và hướng dẫn<br /> các hộ trồng rừng thâm canh với những loại<br /> cây trồng là nguyên liệu cho công nghiệp chế<br /> biến. Đối với diện tích rừng phòng hộ, giao<br /> khoán bảo vệ rừng tập trung, hướng dẫn tỉa<br /> thưa để tăng thu nhập cho người nhận khoán.<br /> + Công tác khuyến nông, khuyến lâm: Tăng<br /> cường tổ chức tập huấn cho các hộ dân về kỹ<br /> thuật trồng trọt, chăn nuôi, trồng và thâm<br /> canh rừng. Mỗi thôn, bản xây dựng 1 mô hình<br /> sản xuất trình diễn để nhân dân học tập, thực<br /> hiện các biện pháp khuyến khích các hộ có<br /> điều kiện đầu tư cho sản xuất như hỗ trợ lãi<br /> xuất vốn vay.<br /> Thứ hai, tập trung đầu tư, phát triển các lĩnh<br /> vực văn hoá – xã hội<br /> * Về giáo dục – đào tạo: Hàng năm, huy động<br /> học sinh ra học các lớp đầu cấp phổ thông và<br /> mẫu giáo đạt từ 98 đến 100% trẻ em trong độ<br /> tuổi; huy động từ 80 – 85% học sinh trong độ<br /> tuổi vào học THPT và học nghề tại các cơ sở<br /> đào tạo nghề ngắn hạn, dài hạn và Trung học<br /> chuyên nghiệp. Tiếp tục huy động các nguồn<br /> vốn của các chương trình, dự án đầu tư cho<br /> giáo dục vùng cao để thực hiện chương trình<br /> kiên cố hoá trường, lớp học, xây dựng cơ sở<br /> vật chất trường học, bồi dưỡng đội ngũ giáo<br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> 87(11): 89 - 93<br /> <br /> viên, cán bộ quản lý giáo dục theo hướng đạt<br /> chuẩn và biên chế đủ giáo viên mầm non cho<br /> các trường thuộc vệt xã đặc biệt khó khăn.<br /> Vận động các tổ chức, cá nhân ủng hộ áo<br /> phao an toàn, thuyền gỗ cho học sinh và giáo<br /> viên vùng hồ Cấm Sơn đi lại bằng thuyền.<br /> * Về y tế: Tiếp tục tăng cường củng cố mạng<br /> lưới y tế xã, thôn, bản đảm bảo đủ năng lực<br /> khám, chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn.<br /> Đầu tư nâng cấp phòng khám đa khoa khu<br /> vực Tân Sơn. Hỗ trợ xây dựng cơ sở y tế tại<br /> các xã nghèo đạt chuẩn quốc gia về y tế, đầu<br /> tư trang thiết bị y tế, nhân lực, tăng khả năng<br /> cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho nhân<br /> dân tại các xã nghèo.<br /> * Về nâng cao chất lượng dân số và nguồn<br /> nhân lực: Định hướng qui mô dân số theo<br /> hướng giảm tỉ suất sinh tự nhiên; nâng cao<br /> chất lượng dân số và nguồn nhân lực cho<br /> đồng bào dân tộc. Từng bước nâng cao chất<br /> lượng nguồn nhân lực; trình độ dân trí và<br /> kiến thức về lao động của thanh niên dân<br /> tộc ít người.<br /> * Về lao động, việc làm và nhà ở cho người<br /> nghèo: Tăng cường tập huấn, đào tạo nghề và<br /> từng bước chuyển giao khoa học - kỹ thuật<br /> cho người lao động, đặc biệt là đối với thanh<br /> niên là người dân tộc thiểu số, góp phần nâng<br /> cao năng suất lao động và tăng thu nhập của<br /> mỗi người dân và cộng đồng.<br /> Thứ ba, các chính sách trợ giúp người nghèo<br /> cần có sự khác nhau đối với nhóm người<br /> nghèo kinh niên và nhóm người nghèo tạm<br /> thời (người có khả năng thoát nghèo). Đa<br /> dạng hoá các phương thức cấp tiền cho người<br /> nghèo như cấp cho không, cho vay, cấp tiền,<br /> có điều kiện, ... (hạn chế áp dụng cơ chế bao<br /> cấp, cho không, mà chỉ áp dụng cơ chế này<br /> trong những trường hợp thực sự cần thiết).<br /> Các chính sách giảm nghèo cụ thể cần hướng<br /> đến khai thác năng lực và sự tham gia của<br /> người dân, cộng đồng vào việc giảm nghèo.<br /> Hoà nhập xã hội các nhóm yếu thế bằng hệ<br /> thống an sinh xã hội.<br /> <br /> 92<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Vũ Vân Anh<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Thứ tư, trước thực tế nhìn nhận hiện nay, “độ<br /> trơ” của giảm nghèo đối với tăng trưởng kinh tế<br /> thể hiện khá rõ, đặc biệt ở những xã có trên 70%<br /> số dân là người dân tộc thiểu số. Do đó, cần tăng<br /> cường sự tham gia và hưởng lợi từ quá trình<br /> tăng trưởng, cũng như đề cao các giải pháp<br /> nhằm hướng đến tăng cường nguồn lực cũng<br /> như nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của<br /> nhóm đồng bào dân tộc thiểu số để có khả năng<br /> tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội, cơ sở hạ<br /> tầng, việc làm ổn định có thu nhập; đồng thời có<br /> các giải pháp giảm thiểu rào cản ngôn ngữ, cải<br /> thiện chất lượng giáo dục và tránh những định<br /> kiến về năng lực yếu kém của nhóm đồng bào<br /> dân tộc thiểu số.<br /> Thứ năm, tăng cường công tác quản lý nhà nước<br /> và phân công đầu mối để quản lý có hiệu quả<br /> <br /> 87(11): 89 - 93<br /> <br /> các chương trình, dự án giảm nghèo; đẩy mạnh<br /> công tác thanh tra, kiểm tra để đảm bảo hiệu quả<br /> của việc thực hiện chương trình giảm nghèo.<br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> [1]. Uỷ ban dân tộc (2007), Văn bản quản lý Chương<br /> trình 135 giai đoạn II - tập 1, Nxb. Nông Nghiệp, Hà<br /> Nội.<br /> [2]. Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm<br /> nghèo giai đoạn 2006 – 2010 và các năm tiếp theo<br /> của Chính Phủ.<br /> [3]. Chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội<br /> tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2006 – 2010.<br /> [4]. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Lục Ngạn lần<br /> thứ XXII.<br /> [5]. Qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện Lục<br /> Ngạn giai đoạn 2007 – 2020.<br /> <br /> SUMMARY<br /> POVERTY REDUCTION IN LUC NGAN DISTRICT, BAC GIANG PROVINCE: STATUS, CAUSES<br /> AND SOLUTIONS FOR SUSTAINABLE POVERTY ELIMINATION<br /> Than Thi Huyen<br /> University of Education - TNU<br /> <br /> Over the years, Luc Ngan district - a mountainous district of Bac Giang has made significant achievements in<br /> poverty reduction, a number of social wealth from the development of economic models of forest parks, hill<br /> gardens, especially planting lychee - a product into national brands. However, the researchers looked at our<br /> existing one is adversity, in addition to the midland rising wealth by developing the commodity economy, the<br /> existence of a highland trail 13 in economic situation slow development, high poverty rate. Now, an important<br /> task is to find solutions in order to faster poverty reduction, sustainable upland communes of the district.<br /> Key words: Poverty, status, causes, solution.<br /> <br /> <br /> <br /> Tel:<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> 93<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2