intTypePromotion=1
ADSENSE

Công nghệ chăn nuôi : Kỹ thuật chăn nuôi lợn part 7

Chia sẻ: Afsjkja Sahfhgk | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

66
lượt xem
10
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bổ sung protein Lợn con đang bú sữa có tốc độ sinh trưởng và khả năng tích luỹ protein rất cao đặc biệt là hệ cơ, do đó đòi hỏi về số lượng và chất lượng protein cao. trong 2 tuần đầu lượng sữa của lợn nái đạt đến cực thịnh, lợn con hầu như đã nhận đủ lượng protein cần thiết cho sự phát triển của cơ thể. Từ tuần lễ thứ 3 cần bổ sung thêm protein để không ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của lợn con. Khẩu phần của lợn con cần...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Công nghệ chăn nuôi : Kỹ thuật chăn nuôi lợn part 7

  1. 4 7.7 2000 1240 760 5 10.0 2375 1240 1135 6 12.7 275 1135 1615 7 15.9 3125 915 2210 8 19.0 3500 805 2695 + Bổ sung protein Lợn con đang bú sữa có tốc độ sinh trưởng và khả năng tích luỹ protein rất cao đặc biệt là hệ cơ, do đó đòi hỏi về số lượng và chất lượng protein cao. trong 2 tuần đầu lượng sữa của lợn nái đạt đến cực thịnh, lợn con hầu như đã nhận đủ lượng protein cần thiết cho sự phát triển của cơ thể. Từ tuần lễ thứ 3 cần bổ sung thêm protein để không ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của lợn con. Khẩu phần của lợn con cần có 18 - 20% protein thô. Hoặc có 120 - 130g protein tiêu hoá/1 ÐVTA. Ðể đảm bảo mức protein như thế cần ưu tiên cho lợn con nguồn protein động vật có giá trị sinh vật học cao như bột sữa, bột thịt, bột máu, bột cá nhạt và men thức ăn gia súc. Nguồn protein thực vật tốt nhất cho lợn con là bột khô dầu đậu tương. + Bổ sung vitamin: khẩu phần của lợn con cần được kiểm tra cẩn thận về hàm lượng vitamin, đặc biệt là vitamin A, vitamin nhóm B và vitamin D. + Bổ sung khoáng: cơ thể động vật không tổng hợp được các chất khoáng. Ðể thoả mãn nhu cầu về khoáng đa, vi lượng của gia súc cần bổ sung chúng vào khẩu phần ăn nhất là Ca, P, sắt và đồng. Trong 1 kg VCK của khẩu phần cần có 9 g Ca và 7.5 g P. Ca và P tham gia vào cấu trúc cơ thể, thiếu chúng cũng như vitamin D lợn con sẽ mắc bệnh còi xương, chậm lớn. Thừa Ca thiếu kẽm lợn con bị bệnh vẫy sừng và làm giảm tính ngon miệng, giảm mức thu nhận thức ăn của lợn. Lợn con hay thiếu sắt. Trong cơ thể lợn con sơ sinh có 50 mg sắt. Lợn con cần mỗi ngày 7 mg để duy trì sinh trưởng. Sữa mẹ mỗi ngày chỉ cung cấp được 1 mg. Do vậy, nếu không bổ sung sắt kịp thời thì chỉ sau 8-10 ngày tuổi lợn con sẽ có hiện tượng thiếu sắt. Triệu chứng điển hình của thiếu sắt là thiếu máu, hàm lượng hemoglobin giảm (trong thành phần hemoglobin sắt chiếm tới 60 - 70% sắt của cơ thể). Triệu chứng tiếp theo là lượng sắt trong gan giảm. Khi thiếu sắt da lợn con có màu trắng xanh, đôi khi bị ỉa chảy, ỉa phân trắng, lợn con chậm lớn, có khi bị tử vong. Có thể bổ sung sắt bằng cách tiêm, cho uống hoặc cho ăn. Tiêm là phương pháp đạt hiệu quả cao nhất. Nên dùng sắt dưới dạng dextran, hợp chất này có tên: Ferri- dextran. Tiêm bắp vào ngay thứ 3 sau khi đẻ với liều 1 ml/con (100-125 mg). Ðể có hiệu quả cao hơn nên tiêm nhắc lại lần 2 sau 10 ngày với liều lượng như trên. + Cho lợn con bú sữa uống nước đầy đủ: Cần phải cung cấp nuớc đầy đủ cho lợn con vì: lợn con sinh trưởng nhanh cần nhiều nước, mặt khác trong sữa lợn hàm lượng lipid cao, quá trình tiêu hóa đòi hỏi nhiều nước. Nhu cầu về nước 0.5 lít/1kg/h. Nhu cầu mùa hè lớn hơn mùa đông 30%. Tốt nhất là
  2. cho uống thỏa mãn theo nhu cầu. Hiện nay có xu hướng dùng dung dịch HCL pha loảng 0.8% cho lợn uống tự do từ 3 ngày tuổi trở đi. c) Kỹ thuật chăm sóc lợn con bú sữa Chăm sóc lợn con là một khâu kỹ thuật quan trọng. Nếu không được chăm sóc cẩn thận thì tỷ lệ chết cao, nhất là trong tuần đầu sau khi đẻ. + Chuồng trại: phải sạch sẽ khô ráo, thoáng mát. Một trong những nguyên nhân làm cho tỷ lệ chết của lợn con cao là do lợn mẹ đè. Do đó chuồng của lợn nái đẻ cần được thiết kế theo những kiểu thích hợp để hạn chế thiệt hại đó. Nền chuồng lợn nái nuôi con có độ dốc vừa phải khoảng 2 - 3% thì lợn con ít bị đè. Thực tế, lợn nái nuôi con có thể cho nằm sàn gỗ vừa đủ cho mẹ nằm và cho con bú, diện tích chiếm 1/3 - 1/4 nền chuồng là phù hợp. Hiện nay người ta thường sử dụng chuồng lồng để giảm tỷ lệ chết. - Giữ ấm cho lợn con: do đặc điểm chức năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn thiện, nên lợn con bị chết do cảm lạnh chiếm một tỷ lệ lớn. Do vậy cần giữ ấm cho lợn con đặc biệt là trong 3 tuần lễ đầu. Nhiệt độ tối ưu cho lợn con (theo Trần Thế Thông) 300C Sơ sinh: 280C 1 tuần tuổi: 240C 2 tuần tuổi: 220C 3 tuần tuổi: 200C 4 tuần tuổi: 180C 5-8 tuần tuổi: Ẩm độ: 65 - 70% Các biện pháp giữ ấm thường áp dụng: che kín chuồng nuôi, tránh gió lùa. Trải ổ dày cho lợn con, hoặc tạo ra nền chuồng đặc biệt cho lợn con: (cát 5cm, trấu bột 5cm); sưởi ấm bằng nước, điện, treo bóng điện 200 - 300 oát. - Cho lợn vận động: sau khi lợn đẻ 5 - 7 ngày, nếu trời nắng ấm có thể cho lợn vận động. Trong trường hợp mùa đông, có thể sau 2 tuần tuổi thì cho vận động. Những ngày đầu thì có thể cho vận động 2 - 3 lần, 30 phút/lần trên sân chơi. 3-4 tuần tuổi có thể cho vận động mỗi lần 1 giờ. Trên 1 tháng tuổi cho vân động tự do trên sân chơi. - Thiến và tiêm phòng cho lợn: lợn đực không làm giống thì nên thiến. Thường thiến vào lúc 10 - 14 ngày tuổi. Chú ý không thiến ngay trước và sau khi cai sữa. Khi thiến phải chú ý tuân thủ qui trình và chăm sóc hậu phẩu. Tiêm phòng các loại vac xin: phó thương hàn (20 ngày tuổi), dịch tả (45 ngày) , đóng dấu, tụ huyết trùng (60 ngày). - Cắt đuôi cho lợn con: trong chăn nuôi công nghiệp qui mô lớn thường cắt đuôi cho lợn (chừa lại 2,5 cm) lúc 6 - 7 ngày tuổi. Mục đích hạn chế cắn nhau gây thương tích nhiễm trùng d) Cai sữa cho lợn con
  3. Thời gian cai sữa phụ thuộc vào: điều kiện cơ sở vật chất của cơ sở (thức ăn, nuôi dưỡng), trình độ của người chăn nuôi, tập quán chăn nuôi sức khỏe của lợn mẹ, sức khỏe của lợn con, tuổi trọng lượng, khả năng tiêu hóa. Thời gian cai sữa có thể dao động từ 21 tuổi đến 60 ngày tuổi. Hiện nay, trong thực tế sản xuất cai sữa trước 42 ngày tuổi được gọi là cai sữa sớm. * Tác dụng của cai sữa sớm: - Nâng cao được khả năng sinh sản của lợn nái vì rút ngắn được KCLÐ, tăng số lứa đẻ/ năm, tăng số con do một lợn nái đẻ/năm, tăng số con do lợn nái đẻ/đời. - Giảm tỷ lệ hao hụt lợn mẹ (sớm dộng dục trở lại). - Giảm chi phí cho sản xuất 1 kg khối lượng lợn con (vì giảm chi phí thức ăn cho lợn mẹ trong thời gian nuôi con) - Rút ngắn thời gian sử dụng chuồng nuôi, giảm khấu hao chuồng nuôi/lợn. - C h ủ đ ộ ng b ổ s ung th ức ă n cho l ợ n con đ i ề u khi ể n đ ượ c t ố c đ ộ s inh tr ưở ng. Nhiều nhà chăn nuôi đề nghị nên cai sữa trong khoảng 21 - 28 ngày tuổi là hiệu quả nhất. * Điều kiện để cai sữa sớm cho lợn con: để cai sữa sớm cho lợn con thành công yêu cầu thức ăn có chất lượng cao, phù hợp với sinh lý tiêu hóa của lợn con, người chăn nuôi phải có tay nghề cao, chăm sóc lợn con cẩn thận hơn. * Yêu cầu của việc cai sữa - Sau cai sữa lợn con sinh trưởng phát triển bình thường (không gây cho chúng sự khủng hoảng lớn) - Lợn con không mắc các bệnh về đường tiêu hóa (ỉa chảy, đi phân trắng, suy dinh dưỡng, viêm ruột, thiếu máu) * Phương pháp cai sữa cho lợn con Nguyên tắc: khi cai sữa cho lợn con phải tiến hành từ từ, tránh sự thay đổi đột ngột cho cả mẹ lẫn con. Nhằm làm cho bộ máy tiêu hóa của lợn con không bị rối loạn, không ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của nó. Ðối với lợn mẹ không bị viêm vú. Biện pháp: + Ðối với lợn con: giảm số lần bú/ ngày. Trước khi cai sữa 4 ngày cho bú 4 - 5 lần/ngày, trước khi cai sữa 3 ngày cho bú 3 - 4 lần/ngày, trước khi cai sữa 2 ngày cho bú 2 - 3 lần/ngày, trước khi cai sữa 1 ngày cho bú 1 - 2 lần/ngày, ngày cai sữa không cho bú. + Ðối với lợn mẹ: trước khi cai sữa 3 - 5 ngày, giảm dần lượng thức ăn và nước uống hàng ngày (tiêu chuẩn nái thường), không dùng thức ăn kích thích tạo sữa. Ðến ngày cai sữa thì tách mẹ chứ không tách con (đưa mẹ đi), sau khoảng 1 tuần thì nhập lợn vào đàn mới. Các phương pháp cai sữa: hiện nay có 2 phương pháp
  4. + Cai sữa đồng loạt: sau khi khống chế thời gian cho lợn con bú, đến ngày là cai sữa toàn ổ. Phương pháp này thường áp dụng cho những ổ lợn đồng đều. Có ưu điểm tiến hành nhanh gọn, nâng cao số lứa đẻ/năm. + Cai sữa từng đợt: phương pháp này thường áp dụng cho những ổ lợn độ đồng đều thấp. Ta chọn những con to cai sữa trước, con nhỏ cho bú thêm 1 thời gian nữa mới tiến hành cai sữa. Cần chú ý tránh hiện tượng viêm vú cho lợn mẹ. 4.5. Kỹ thuật chăn nuôi lợn thịt Chăn nuôi lợn thịt có ý nghĩa rất quan trọng vì nó là khâu cuối cùng để sản xuất ra thịt lợn đó mục đích của ngành chăn nuôi lợn. Hơn nữa lợn thịt chiếm một tỷ trọng lớn (2/3) trong tổng đàn lợn. Yều cầu cần đạt được của chăn nuôi lợn thịt là có tốc độ tăng trọng nhanh (lợn lai: 500 - 550g, Ngoại: 600 - 700 g/ngày), rút ngắn thời gian nuôi (4 - 5 tháng), giảm tiêu tốn thức ăn/1 kg tăng trọng (dưới 3 - 3,5kg thức ăn (3100 KcalME)/kg), nâng cao phẩm chất thịt xẻ. a) Kỹ thuật chọn lợn để nuôi thịt - Chọn lợn lai để nuôi thịt mục đích là lợi dụng ưu thế lai, tính di truyền trung gian vì vậy con lai sẽ có tầm vóc lớn, sinh trưởng nhanh, chi phí thức ăn thấp, chất lượng thịt (nhất là tỷ lệ nạc) cao hơn giống nội - Tuỳ theo mức độ đầu tư và điều kiện chăn nuôi cụ thể của địa phương mà chọn công thức lai thích hợp F1, F2 (3/4 máu ngoại), ngoại x ngoại. - Phải chọn lọc qua tổ tiên: đảm bảo tổ tiên tốt, có thành tích cao trong sản xuất. - Phải chọn lọc qua bản thân: những con có mình dài, lưng thẳng, mông tròn, nỡ, bụng thon gọn, chân thanh, thẳng chắc chắn, mắt tinh nhanh, ham hoạt động, da mỏng, hồng hào, có 12 vú trở lên, có khối lượng cai sữa cao, 2 tháng tuổi phải đạt được khối lượng 14 - 16 kg. b) Ðặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn thịt: - Ðặc điểm nỗi bật của lợn thịt là sinh trưởng và phát triển theo giai đoạn. + Giai đoạn sau cai sữa: lợn 3 - 4 tháng tuổi. Lợn có các đặc điểm nỗi bật: cơ bắp phát triển nhanh, tăng thể tích và khối lượng. Vì vậy ở giai đoạn này trong nuôi dưỡng phải chú ý thức ăn có hàm lượng protein và khoáng cao. + Giai đoạn lợn choai/lợn nhỡ: lợn 5 - 7 tháng tuổi. Lợn có đặc điểm cơ bắp tiếp tục phát triển nhanh, bộ xương phát triển hoàn chỉnh. Vì vậy ở giai đoạn này trong nuôi dưỡng phải chú ý thức ăn có hàm lượng protein cao nhiều thức ăn xanh. + Giai đoạn vỗ béo: lợn 8 - 10 tháng tuổi. Ở giai đoạn này mô mỡ phát triển nhanh. - Cùng với sự phát triển cơ thể lợn thịt có sự biến đổi về thành phần hoá học của cơ thể lợn: càng lớn hàm lượng nước trong cơ thể càng giảm, hàm lượng vật chất khô càng tăng. Trong vật chất khô hàm lượng mỡ càng nhiều và nhiệt năng trong 1 đơn vị sản
  5. phẩm càng cao. Hàm lượng protein trong cơ thể khá ổn định từ nhỏ đến lớn chiếm khoảng 15% khối lượng sống. Trong quá trình phát triển của lợn thịt giai đoạn đầu có sự ưu tiên tích luỹ nạc, có thể đạt cự đại 400 g/ngày lúc lợn 60 kg và sau đó thì giảm dần. Ðối với mô mỡ thì có sự ưu tiên hình thành và tích luỹ và ở giai đoan sau, càng về sau thì mỡ tích luỹ càng cao so với thời gian trước đó. Mặt khác, trong cơ thể lợn có sự ưu tiên dinh dưỡng khác nhau giữa các cơ quan bộ phận. Theo Hammond (1946) sự ưu tiên theo thứ tự: cho não và hệ thần kinh, sự phát triển của thai và tạo sữa, bộ xương, cơ bắp, mô mỡ. Khi mức ăn giảm 20% so với nhu cầu thì sự tích luỹ mỡ bị đình trệ, giảm 40% thì cả sự tích luỹ mỡ và nạc bị đình trệ. Vì vậy trong nuôi dưỡng lợn thịt phải chú ý cung cấp đầy đủ dinh dưỡng theo nhu cầu vì thiếu thì gia súc sẽ không tăng trọng. Ở giai đoạn đầu của thời kỳ nuôi cần phối hợp khẩu phần có hàm lượng protein cao, giai đoạn sau hàm lượng gluxit cao. c) Những nhân tố ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất thịt Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất thịt, dưới đây là một số các nhân tố quan trọng: - Giống: các giống khác nhau thì có năng suất và phẩm chất thịt khác nhau. Các giống lợn ngoại có tốc độ sinh trưởng nhanh, năng suất và phẩm chất thịt cao hơn lợn nội. - Lai kinh tế: lai kinh tế làm tăng năng suất và phẩm chất thịt ở lợn do xuất hiện ưu thế lai ở con lai. - Giới tính và các thể: lợn đực tăng trọng nhanh, tiêu tốn ít thức ăn/1kg tăng trọng và có tỷ lệ nạc cao hơn lợn cái. Các cá thể có trọng lượng cái sữa cao, ăn khoẻ sẽ lớn nhanh và ngược lại. - Thời gian nuôi và chế độ nuôi: đây là yếu tố ảnh hưởng lớn đến năng suất và phẩm chất thịt. Nếu thời gian nuôi dài, đầu tư dinh dưỡng thấp thì năng suất chăn nuôi giảm và chất lượng thịt kém và ngược lại nếu đầu tư dinh dưỡng cao phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng, rút ngắn thời gian nuôi, thì năng suất và chất lượng thịt sẽ cao. Do vậy, xu hướng hiện nay trong chăn nuôi lợn thịt thâm canh, theo hướng nạc người ta cho ăn tự do. - Khí hậu và thời tiết: ở những vùng khí hậu mát mẻ, nhiệt độ ẩm độ thích hợp thì khả năng tiêu hóa thức ăn của lợn sẽ cao. Nếu dinh dưỡng được cung cấp đầy đủ và thời tiết khí hậu thuận lợi thì lợn sinh trưởng phát dục nhanh, rút ngắn thời gian nuôi, chất lượng thịt sẽ tốt. Nhiệt độ thích hợp đối với lợn thịt khoảng 25 - 180C, ẩm độ 70 - 75 %. Ðể tạo nhiệt độ và ẩm độ thích hợp cho lợn: mùa hè thì chống nóng- tắm rửa, mùa đông thì chống rét- che và sưởi ấm d) Các phương thức nuôi lợn thịt - Phương thức nuôi lấy nạc (phương thức chính của thế giới)
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2