
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 15 năm trưởng thành và phát triển, TTCK Việt Nam đã ghi
nhận những thay đổi cả về bề rộng lẫn chiều sâu, là một trong các thị trường
phát triển nhanh nhất trong nhóm thị trường biên (frontier markets) và thị
trường mới nổi (emerging markets). Quy mô TTCK Việt Nam tăng trưởng
mạnh mẽ, vững chắc, từng bước đóng vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn
quan trọng, đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững.
Trong giai đoạn 2000-2005, vốn hóa thị trường chỉ đạt xấp xỉ 1%
GDP. Tuy nhiên, vốn hóa thị trường đã nhảy vọt lên 22,7% GDP vào năm
2006 và tiếp tục tăng lên trên 43% GDP vào năm 2007. Tổng vốn hoá thị
trường niêm yết trong năm 2016 đạt hơn 1,64 triệu tỷ đồng (72 tỷ USD), tăng
345.000 tỷ đồng (26,6%), tương ứng tăng khoảng hơn 15 tỷ USD so với cuối
năm 2015. Mặc dù có bước phát triển nhảy vọt nhưng TTCK còn nhiều biến
động và hạn chế về thanh khoản, đặc biệt khi thị trường điều chỉnh hoặc có
dấu hiệu suy giảm. Bên cạnh đó, hàng hóa niêm yết trên TTCK chưa đa dạng,
chất lượng chưa cao, chưa đáp ứng nhu cầu đa dạng hóa danh mục đầu tư và
phòng ngừa rủi ro của nhà đầu tư (chưa có các sản phẩm phái sinh). Các dịch
vụ tiện ích cho nhà đầu tư trên thị trường còn nghèo nàn (chưa có nghiệp vụ
bán khống, vay ký quỹ, bán trước ngày hoàn tất giao dịch,…), tính minh bạch
thị trường chưa đáp ứng nhu cầu của công chúng đầu tư.
Với thị trường phát triển nhanh và đầy biến động như vậy, việc hệ
thống hóa cơ sở lý luận và các bài học kinh nghiệm trong việc lựa chọn, áp
dụng vào hoạt động đa dạng hóa đầu tư trong quá trình quản lý, điều hành của
các nhà đầu tư chuyên nghiệp (Công ty chứng khoán, Công ty quản lý quĩ,
Quĩ đầu tư,…) tại TTCK Việt Nam là rất cần thiết. Mặt khác, việc nghiên cứu,
rà soát thực trạng hoạt động đa dạng hóa danh mục đầu tư trên TTCK Việt
Nam thời gian qua, tìm ra điểm tích cực và vấn đề tồn tại, khó khăn, thách
thức cũng như cơ hội mà có khả năng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến
hoạt động đa dạng hóa danh mục đầu tư trên TTCK Việt Nam là một đòi hỏi
cấp thiết, góp phần tăng cường hiệu quả sử dụng vốn, giảm thiểu rủi ro và
nâng cao hiệu quả hoạt động cho nhà đầu tư nói riêng và toàn thị trường nói
chung; qua đó hỗ trợ duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững. Ngoài ra, việc xây
dựng và hệ thống hóa được những nghiên cứu về lý thuyết được áp dụng trong
thực tiễn quản trị, phân bổ tài sản và đa dạng hóa đầu tư cũng góp phần quan
trọng trong việc hoàn thiện và phát triển công tác nghiên cứu khoa học tại
Việt Nam trong lĩnh vực này.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1. N cứu ƣớc
Các công trình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đối với lý thuyết
đa dạng hóa danh mục đầu tư trên thế giới khá phong phú, tuy nhiên kết quả
thực tiễn rất khác nhau, tùy từng nước, vùng lãnh thổ và thời điểm. Cụ thể:
Lee, Fah và Chong (2016) đã sử dụng mô hình CAPM và mô hình trung bình
phương sai của Markowitz để xem xét, đánh giá hiệu quả của hoạt động đa
dạng hóa danh mục đầu tư tại Malaysia; Verchenko (2000) sử dụng phương
pháp tương quan đơn giản và phương pháp đồng liên kết để đo lường mối
tương quan giữa cổ phiếu của 10 thị trường mới nổi ở châu Âu, gồm Ukraina,
Lithuania, Estonia, Latvia, Poland, Hungary, Slovenia, Nga và Cộng hòa Séc;
Zaimovic, Berio và Mustafic (2017) sử dụng lý thuyết mô hình trung bình
phương sai của Markowitz và kỹ thuật phân tích cấu phần cơ bản (PCA) để
xem xét lợi ích và đánh giá hiệu quả của hoạt động đa dạng hóa danh mục đầu
tư tại các thị trường mới nổi ở Đông Nam Âu (South East Europe); Zhou
(2010) đã xem xét tối ưu hóa danh mục đầu tư cổ phiếu quốc tế từ góc nhìn

2
của nhà đầu tư Trung Quốc; Hallinan (2011) sử dụng mô hình lựa chọn danh
mục đầu tư của Markowitz (1952) và những gợi ý của Lý thuyết danh mục
đầu tư hiện đại để xây dựng 6 danh mục đầu tư (bao gồm cổ phiếu của các thị
trường mới nổi); Porwal (2014) đã sử dụng lý thuyết danh mục đầu tư của
Markowitz (1952) để tiến hành nghiên cứu các đặc điểm của các thị trường
biên khi so sánh với các thị trường mới nổi để đạt được hiệu quả tối ưu cho
hoạt động đa dạng hóa danh mục đầu tư cho các nhà đầu tư; Randolph (2011)
đã sử dụng mô hình trung bình phương sai của Markowitz (1952) để xem xét
đa dạng hóa danh mục đầu tư của các cổ phiếu trên thị trường biên châu Phi;
Hearn và Piesse (2008) đã sử dụng 3 mô hình khác nhau, mô hình không áp
dụng điều kiện phân phối chuẩn, mô hình có điều kiện GARCH và mô hình có
điều kiện CAPM để xem xét, đánh giá khả năng đa dạng hóa danh mục đầu tư
tối ưu trên cơ sở kết hợp giữa cổ phiếu của Nam Phi (nước lớn nhất trong
cộng đồng SADC) và các thị trường nhỏ như Swaziland, Namibia và
Mozambique (các nước nhỏ hơn trong cộng đồng SADC) trong giai đoạn
1992-2007; Gupta, Jithendranathan và Sukumaran (2005) đã sử dụng mô hình
GARCH và xây dựng danh mục đầu tư đa dạng hóa tối ưu để xem xét lợi ích
đa dạng hóa đầu tư của thị trường biên châu Phi của các nhà đầu tư Australia;
Sirinonthakan (2014) đã xem xét sự khác nhau trong phân bổ tài sản để đa
dạng hóa danh mục đầu tư khi nhà đầu tư ở một nước thành viên ASEAN chỉ
có thể đầu tư vào quỹ chỉ số quốc gia hoặc khi nhà đầu tư chỉ đầu tư vào các
cổ phiếu riêng lẻ; Baig, Bilal và Asiam (2016) đã xem xét mối tương quan
giữa cổ phiếu của thị trường mới nổi Ấn Độ (SENSEX) và cổ phiếu của thị
trường biên Pakistan (KSE100) và Sri Lanka (CSE) để tìm kiếm cơ hội đa
dạng hóa danh mục đầu tư hiệu quả…
2.2. N cứu tr ƣớc
Các công trình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đối với lý thuyết
đa dạng hóa danh mục đầu tư tại Việt Nam chưa nhiều. Võ Thị Thúy Anh
(2012) đã ứng dụng lý thuyết trung bình-phương sai để lựa chọn cổ phiếu
thống trị. Dữ liệu tác giả sử dụng thực nghiệm trong 3 năm (2009-2011) cho
các cổ phiếu niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí
Minh và Hà Nội từ 31/12/2008 trở về trước. Triệu Kim Lanh (2011) đã vận
dụng các lý thuyết danh mục đầu tư trên TTCK Việt Nam, theo đó sử dụng lý
thuyết Markowitz để tính toán thu nhập kỳ vọng và rủi ro của danh mục đầu
tư, tìm tỷ trọng phân bổ tối ưu tài sản trong danh mục đầu tư. Ngô Đăng
Hoàng (2013) đã ứng dụng lý thuyết danh mục đầu tư Markowitz để xây dựng
danh mục đầu tư với mong muốn tìm giải pháp lựa chọn danh mục đầu tư hiệu
quả trên TTCK Việt Nam. Lê Quý (2013) đã kết hợp lý thuyết Markowitz với
phân tích chứng khoán theo cách tiếp cận Top-down để xây dựng danh mục
đầu tư hiệu quả cho nhà đầu tư cá nhân trên TTCK Việt Nam. Hoàng Thanh
Dương (2005) đã ứng dụng lý thuyết danh mục đầu tư Markowitz để thực
nghiệm xây dựng đường biên hiệu quả, danh mục đầu tư tối ưu và đường thị
trường vốn cho TTCK Việt Nam trong giai đoạn 20/4/2004 - 23/2/2005. Võ
Thái Phong (2011) đã vận dụng lý thuyết danh mục đầu tư Markowitz xây
dựng danh mục đầu tư hiệu quả cho nhà đầu tư với chứng khoán niêm yết tại
Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, dữ liệu quan sát từ năm
2004 đến năm 2011. Trần Văn Trí (2015) ứng dụng mô hình định giá tài sản
vốn và lý thuyết danh mục đầu tư Markowitz thực nghiệm xây dựng và quản
lý danh mục đầu tư trên TTCK Việt Nam sử dụng số liệu từ Sở Giao dịch
Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội giai đoạn 2008-2013.
Trương Đông Lộc và Trần Thị Hạnh Phúc (2012) đã kiểm định mối quan hệ
giữa lợi nhuận và rủi ro của cổ phiếu niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán
Thành Phố Hồ Chí Minh dựa trên mô hình định giá tài sản vốn sử dụng số liệu
là chỉ số HOSE và giá của 80 cổ phiếu niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng
khoán Thành Phố Hồ Chí Minh từ 2/1/2007 đến 31/12/2009…
2.3. trố cứu của đề t

3
Các nhà nghiên cứu và thực nghiệm trong nước đã tiếp cận các lý
thuyết danh mục đầu tư hiện đại để xây dựng, quản lý và đa dạng hóa danh
mục đầu tư chứng khoán. Tuy nhiên, các nghiên cứu ứng dụng thực tiễn tại
TTCK Việt Nam chưa nhiều, phạm vi khảo sát ứng dụng giới hạn trong một
nhóm nhỏ các chứng khoán nhất định. Đồng thời, cũng chưa có nghiên cứu
nào tại Việt Nam hệ thống hóa được đầy đủ lý thuyết về đa dạng hóa danh
mục đầu tư tại TTCK Việt Nam đã được áp dụng cụ thể như thế nào.
Một trong những số ít nghiên cứu về đa dạng hóa danh mục đầu tư
chứng khoán trên TTCK Việt Nam trong thời gian gần đây là nghiên cứu của
Trần Văn Trí (2015) về “Xây dựng và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán
ở Việt Nam”. Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa hệ thống hóa được đầy đủ các
lý thuyết về đa dạng hóa danh mục đầu tư chứng khoán; ưu, nhược điểm của
từng lý thuyết, những ứng dụng thực tiễn cũng như các bằng chứng thực
nghiệm về đa dạng hóa danh mục đầu tư chứng khoán của các thị trường thế
giới mà có điều kiện tương đồng với Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu này
cũng chưa đề cập đến hoạt động đa dạng hóa danh mục đầu tư ở Việt Nam
một cách toàn diện trên góc độ thị trường lẫn góc độ khung khổ pháp lý.
Nghiên cứu của Trần Văn Trí (2015) mới dừng ở việc khai thác khía cạnh kỹ
thuật xây dựng và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán. Bên cạnh đó,
nghiên cứu của Trần Văn Trí (2015) cũng chỉ dừng lại ở việc kiểm định lý
thuyết định giá tài sản vốn đối với danh mục đầu tư gồm các tài sản rủi ro,
chưa tổng kết hóa được một cách hệ thống các bài học kinh nghiệm về xây
dựng và quản lý danh mục đầu tư đa dạng hóa tại các nước mới nổi và thị
trường biên có điều kiện tương đồng Việt Nam, đồng thời chưa đề cập đến
ảnh hưởng của các tài sản phi rủi ro cũng như các điều kiện ràng buộc khác
trong quá trình xây dựng và quản lý danh mục đầu tư nói riêng và kết quả của
danh mục nói chung.
Đây là khoảng trống cơ bản để luận án tiếp tục khai thác và đưa vào
nghiên cứu và xử lý trong thực tiễn tại Việt Nam.
3. Mục đíc nghiên cứu
Với bối cảnh học thuật cũng như thực tiễn nghiên cứu tại TCCK Việt
Nam đề cập ở trên, Luận án tập trung nhằm hệ thống hóa được các trường
phái lý thuyết bàn luận về hoạt động đa dạng hóa danh mục đầu tư; đồng thời
tổng kết các nghiên cứu thực chứng, rút ra các bài học kinh nghiệm về đa
dạng hóa danh mục đầu tư tại các nền kinh tế có điều kiện tương đồng như
Việt Nam (các nước mới nổi và thị trường biên). Mặt khác, Luận án cũng làm
rõ thực trạng hoạt động đa dạng hóa danh mục đầu tư của các tổ chức, nhà đầu
tư trên thị trường, qua đó chỉ ra kết quả đạt được, vấn đề còn tồn tại và nguyên
nhân dẫn đến hạn chế để từ đó đưa ra giải pháp đa dạng hóa danh mục đầu tư
trên TTCK Việt Nam. Trên cơ sở rà soát, tổng hợp để tìm kiếm các mô hình
lý thuyết phù hợp với điều kiện, bối cảnh của Việt Nam để có cơ sở ứng dụng
các mô hình lý thuyết này đặc biệt là 2 lý thuyết chính về Định giá tài sản vốn
và lý thuyết danh mục đầu tư Markowitz để thực nghiệm việc xây dựng, kiểm
định, so sánh kết quả đa dạng hóa danh mục đầu tư trên TTCK Việt Nam.
Trên cơ sở tối ưu hóa việc phân bổ tài sản nhằm xây dựng một danh
mục đầu tư đa dạng hóa cho trường hợp nghiên cứu tại Việt Nam trong giai
đoạn 2007–2017 từ các nền tảng lý thuyết trên, Luận án tiếp tục tiến hành
kiểm định, so sánh kết quả của danh mục đầu tư được xây dựng trên nền tảng
đa dạng hóa này với kết quả chung của toàn TTCK Việt Nam. Từ kết quả
kiểm định, Luận án rút ra những nhận định, kết luận về lợi thế của việc tuân
thủ và áp dụng nguyên tắc đa dạng hóa danh mục đầu tư đã mang lại trong
quá trình xây dựng và quản lý danh mục đầu tư đa dạng hóa trên TTCK Việt
Nam.

4
4. Đố tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đố tƣợ cứu
Luận án tập trung rà soát, tổng hợp để tìm kiếm các mô hình lý
thuyết, các bằng chứng nghiên cứu thực chứng tại các nước mới nổi và thị
trường biên về đa dạng hóa danh mục đầu tư có khả năng phù hợp với điều
kiện, bối cảnh của Việt Nam để từ đó ứng dụng các mô hình lý thuyết này, gợi
ý triển khai thực nghiệm việc xây dựng, đa dạng hóa danh mục đầu tư cho các
nhà đầu tư chuyên nghiệp trên TTCK Việt Nam. Trên cơ sở nền tảng lý thuyết
và kết quả thực nghiệm tổng kết được, Luận án đưa ra các kiến nghị, hàm ý
chính sách để cải thiện điều kiện thị trường, các yếu tố thể chế, pháp luật để
hỗ trợ các nhà đầu tư chuyên nghiệp phân bổ tài sản nhằm xây dựng và đa
dạng hóa danh mục đầu tư hiệu quả tại Việt Nam trong giai đoạn 2007-2017.
Ngoài ra, Luận án tiến hành so sánh kết quả hoạt động đa dạng hóa
danh mục đầu tư được xây dựng trên nền tảng các lý thuyết ở các thị trường
khác nhau để rút ra các nhận định về qui luật chung cũng như những đặc điểm
riêng có tại từng thị trường đặc thù (trong nhóm nước thuộc đối tượng nghiên
cứu là các nước mới nổi và thị trường biên) trong quá trình triển khai xây
dựng và quản lý hoạt động đa dạng hóa danh mục đầu tư. Từ kết quả phân
tích, so sánh, Luận án đúc rút, nhận định để đưa ra các qui luật chung về hoạt
động đa dạng hóa danh mục đầu tư; nhận định, kết luận về lợi thế và bất lợi
của việc tuân thủ và áp dụng nguyên tắc đa dạng hóa danh mục đầu tư đã
mang lại trong quá trình xây dựng và quản lý danh mục đầu tư trên TTCK tại
các nước mới nổi và thị trường biên.
4.2. ạ v cứu
Luận án tập trung rà soát, xem xét hoạt động đa dạng hóa danh mục
đầu tư trên TTCK Việt Nam thông qua việc so sánh, mô tả, phân tích hoạt
động đa dạng hóa danh mục đầu tư của các quỹ đầu tư/công ty quản lý đầu tư
trong nước và quốc tế đang hiện diện và hoạt động trên TTCK Việt Nam. Tuy
nhiên, do hạn chế về số liệu nên Luận án tập trung đánh giá thực trạng hoạt
động đa dạng hóa danh mục của các nhà đầu tư là tổ chức mà chủ yếu và điển
hình là các Quỹ đầu tư trong giai đoạn 2007, 2008, 2016 và 6 tháng đầu năm
2017.
Trên cơ sở đó, Luận án nghiên cứu, xây dựng, phân bổ tài sản nhằm
đa dạng hóa danh mục đầu tư theo các cách tiếp cận và khuyến nghị từ mô
hình lý thuyết được lựa chọn phù hợp với bối cảnh, số liệu TTCK Việt Nam.
5. ƣơ p áp cứu
Để triển khai phân tích các mục tiêu nghiên cứu mà Luận án đặt ra nói
chung và trả lời các câu hỏi của Luận án nói riêng, hai phương pháp nghiên
cứu chính được vận dụng tại Luận án; cụ thể như sau:
5.1. ƣơ p áp p t a số: Luận án sử dụng phương pháp phi
tham số (non-parametric method) là phương pháp không lượng hóa quan hệ
các biến qua các tham số của hàm số toán học, với việc áp dụng mô hình toán,
tối ưu hóa và lập trình ma trận số (matrix programming) thông qua sự hỗ trợ
của các công cụ Solver trên phần mềm Excel để tính toán, xác định tỷ trọng
đầu tư của các chứng khoán trong danh mục đầu tư được đa dạng hóa. Cũng
như phân tích các yếu tố tác động đến việc phân bổ tài sản trong danh mục
được đa dạng hóa và kết quả tương ứng của danh mục, cụ thể: (i) mức lợi suất
phi rủi ro, (ii) chiến lược bán khống của nhà đầu tư. Trên cơ sở đó, Luận án
tính toán hiệu quả và rủi ro của danh mục đầu tư đã được đa dạng hóa này.
Ngoài ra, Luận án cũng sử dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền bằng kỹ
thuật “Bootstraping” để tính toán, quy đổi số liệu về chứng khoán phi rủi ro
cho đồng nhất với số liệu về cổ phiếu.

5
5.2. ƣơ p áp t a số: Luận án áp dụng phương pháp tham số
(parametric method) với sự hỗ trợ của phần mềm Eviews 8 để tính toán hệ số
tương quan giữa các chuỗi số liệu về lợi suất của các cổ phiếu; xem xét tính
ngẫu nhiên của thị trường; kiểm định thống kê về phân phối chuẩn của các
chuỗi số liệu về lợi suất của các cổ phiếu. Ngoài ra, thông qua phương pháp
này, Luận án tiến hành hồi quy để kiểm tra thực nghiệm về quan hệ giữa hiệu
quả của danh mục và của thị trường. Theo đó, Luận án áp dụng mô hình Định
giá vốn tài sản (CAPM) để tìm và kiểm định xem suất sinh lợi của danh mục
đa dạng hóa đã được lựa chọn và xây dựng từ phương pháp phi tham số (non-
parametric method) nêu trên biến động đồng nhất hay nhanh hơn hay chậm
hơn so với suất sinh lợi của thị trường. Từ đó, chỉ ra các bằng chứng thực
nghiệm giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định tối ưu trong từng trường hợp cụ thể.
Ngoài ra, Luận án cũng sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp,
so sánh… trong quá trình thực hiện Luận án.
6. Kết cấu luận án: Ngoài phần tóm tắt, mở đầu, Luận án được kết
cấu gồm 3 chương với các kết qua nghiên cứu được báo cáo tóm tắt dưới đây.
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐA DẠNG HÓA DANH MỤC ĐẦU
TƢ TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1. Tổng quan về đa dạng hóa danh mục đầu tƣ c ứng khoán
Luận án tóm tắt khái niệm và các hình thức đa dạng hóa danh mục
đầu tư chứng khoán như đa dạng hóa giữa các loại tài sản, giữa các loại hình
trong từng tài sản, giữa các ngành và lĩnh vực trong nền kinh tế, giữa các quỹ
đầu tư, giữa các nền kinh tế, giữa các đồng tiền, giữa các khoảng thời gian đầu
tư, các loại hình tài sản, chất lượng tài sản và giữa các công cụ tài chính.
1.2. Một số lý thuyết cơ b n về đa dạng hóa danh mục đầu tƣ
chứng khoán
Theo tổng kết của Ongkrutaraksa (1996), lý thuyết đầu tư hiện đại
liên quan đến việc phân bổ các tài sản tài chính (tài sản thực và tài sản phái
sinh) nhằm đa dạng hóa danh mục đầu tư khởi đầu với ba nền tảng chính. Từ
thập niên 1950 đến 1970, lý thuyết đa dạng hóa danh mục đầu tư và mô hình
một nhân tố (single factor model) dựa trên mối tương quan về hiệu quả trung
bình - phương sai (MVE) là cơ sở quyết định phân bổ và đa dạng hóa các tài
sản trong danh mục đầu tư. Lý thuyết này được Markowitz (1952, 1959) khởi
xướng và sau này được kế thừa, phát triển bởi Sharpe (1963). Tiếp đó là các
lý thuyết về Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) được phát triển độc lập bởi
Sharpe (1964), Lintner (1965) và Mô hình chênh lệch giá (APT) – nền tảng
của mô hình đa nhân tổ (multiple factors model) bởi Ross (1976) là những cơ
sở lý luận được phát triển từ nền tảng MVE. Theo đó, 3 mô hình lý thuyết về
đa dạng hóa danh mục đầu tư này liên quan mật thiết đến nhau.
Tại chương 1, Luận án mô tả các lý thuyết về đa dạng hóa danh mục
đầu tư như: (i) Lý thuyết dựa trên quan hệ hiệu quả trung bình-phương sai; (ii)
Lý thuyết đa dạng hóa danh mục đầu tư của Tobin và Sharpe; (iii) Lý thuyết
đa dạng hóa danh mục đầu tư theo Mô hình nhân tố; (iv) Lý thuyết đa dạng
hóa danh mục đầu tư theo Mô hình định giá tài sản vốn; (v) Lý thuyết đa dạng
hóa danh mục đầu tư theo Mô hình kinh doanh chênh lệch giá; (vi) Lý thuyết
đa dạng hóa danh mục đầu tư theo Mô hình Black-Litterman;
Các thước đo hiệu quả hoạt động đa dạng hóa danh mục đầu tư được
Luận án tóm tắt qua các chỉ số:
(i) v c c h ục h c đ u ệ r u c: phương pháp
cơ bản tính toán chỉ số này là chia suất sinh lợi tăng thêm cho rủi ro. Các chỉ

