intTypePromotion=1
ADSENSE

Đặc điểm câu kể trong chương trình tiếng Việt lớp 4 khảo sát qua các đoạn trích là bài đọc trong sách giáo khoa

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

30
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Câu là đơn vị nhỏ nhất trong giao tiếp; trong đó câu kể là loại câu được sử dụng thường xuyên để tạo lập các văn bản (nói và viết). Câu kể mang trong mình những đặc trưng riêng về ngữ nghĩa và chức năng giúp cho người đọc dễ dàng nhận ra và sử dụng trong nhiều trường hợp khác nhau. Vì vậy, chương trình Tiếng Việt lớp 4 đã chọn câu kể để cung cấp cho học sinh những kiến thức ngôn ngữ ban đầu, giúp các em biết cách vận dụng vào thực tiễn đời sống hàng ngày.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đặc điểm câu kể trong chương trình tiếng Việt lớp 4 khảo sát qua các đoạn trích là bài đọc trong sách giáo khoa

  1. ĐẶC ĐIỂM CÂU KỂ TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT LỚP 4 KHẢO SÁT QUA CÁC ĐOẠN TRÍCH LÀ BÀI ĐỌC TRONG SÁCH GIÁO KHOA LÊ THỊ KIM DUYÊN Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế Tóm tắt: Câu là đơn vị nhỏ nhất trong giao tiếp; trong đó câu kể là loại câu được sử dụng thường xuyên để tạo lập các văn bản (nói và viết). Câu kể mang trong mình những đặc trưng riêng về ngữ nghĩa và chức năng giúp cho người đọc dễ dàng nhận ra và sử dụng trong nhiều trường hợp khác nhau. Vì vậy, chương trình Tiếng Việt lớp 4 đã chọn câu kể để cung cấp cho học sinh những kiến thức ngôn ngữ ban đầu, giúp các em biết cách vận dụng vào thực tiễn đời sống hàng ngày. Từ khóa: câu, câu kể, đặc điểm câu kể, Tiếng Việt lớp 4 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Câu kể là một nội dung được đưa vào chương trình Tiếng Việt lớp 4 ở phần Luyện từ và câu. Đây là thuật ngữ để gọi loại câu được phân theo mục đích nói năng trong cách chia của ngữ pháp truyền thống. Hiện nay, trong cách nhìn của ngôn ngữ học hiện đại như ngữ pháp chức năng, ngữ dụng học thì chức năng thực sự của câu kể khá đa dạng và mối quan hệ giữa hình thức ngữ pháp, chức năng trong hoạt động giao tiếp và chức năng trong văn bản đã được chú ý khá nhiều. Chính vì vậy chúng tôi muốn đi sâu vào việc nghiên cứu mối quan hệ này của câu kể qua các văn bản bài đọc được đưa vào chương trình Tiếng Việt ở lớp 4 nhằm phục vụ cho việc rèn luyện kĩ năng tiếp nhận và sử dụng loại câu kể cho học sinh. Câu kể thực hiện những mục đích nói khác nhau trong thực tế giao tiếp. Trong chương trình Tiếng Việt lớp 4, để thuận lợi cho việc tiếp nhận của học sinh, người ta phân câu kể thành 3 loại: Ai làm gì?, Ai thế nào?, Ai là gì?. Cách phân loại này dựa vào đặc điểm, chức năng vị ngữ. Đây được coi là ba kiểu câu cơ bản, sử dụng thường xuyên trong giao tiếp (nói và viết). Tuy nhiên, trong thực tế, cấu trúc ngữ pháp của câu kể rất đa dạng và chức năng của nó trong tổ chức các loại văn bản mang những nét đặc thù riêng thay đổi theo từng hoàn cảnh, điều đó dẫn đến sự lúng túng của học sinh khi đứng trước kiểu câu kể không hoàn toàn điển hình theo kiểu phân loại đã được đưa vào sách giáo khoa, hạn chế phần nào khả năng vận dụng vào thực tế tạo lập cũng như giải mã văn bản. Ngay cả giáo viên, nếu không nắm vững kiến thức ngôn ngữ và vận dụng một cách linh hoạt thì cũng sẽ gặp khó khăn trong việc giúp học sinh xác định câu kể và các dạng của câu kể. Đề tài nghiên cứu dựa trên những tiền đề lý luận quan trọng về ngôn ngữ học, ngữ pháp học và tâm lý học; những định hướng của dạy học câu theo quan điểm giao tiếp. Để việc dạy Tiếng Việt ở tiểu học nói chung, dạy học nội dung Câu kể trong Tiếng Việt 4 nói riêng đạt hiệu quả cao, chúng tôi cũng đã khảo sát, phân tích để rút ra các kết luận về đặc điểm ngữ nghĩa, chức năng của câu kể. Từ đó đưa ra những đề xuất giúp cho việc giảng dạy Tiếng Việt ngày một tốt hơn. 2. ĐẶC ĐIỂM CÂU KỂ QUA CÁC ĐOẠN TRÍCH TRONG SGK TIẾNG VIỆT 4 2.1. Thống kê các dạng câu kể trong văn bản Tập đọc Do nguyên tắc tích hợp bài đọc với phần luyện từ và câu và làm văn nên chương trình chủ yếu cung cấp những văn bản, đoạn trích thuộc thể loại tự sự và miêu tả. Để tiện cho việc xác định tần số xuất hiện của các loại câu kể, chúng tôi chia văn bản khảo sát thành 3 loại: loại văn bản thuần túy miêu tả, loại văn bản thuần túy tự sự và loại phối hợp miêu tả và tự sự. Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Sau Đại học lần thứ hai Trường Đại học Sư phạm Huế, tháng 10/2014: tr. 596-602
  2. ĐẶC ĐIỂM CÂU KỂ TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT LỚP 4... 597 Bảng 1. Bảng thống kê các loại văn bản Loại văn bản Văn bản miêu tả Văn bản tự sự Văn bản kết hợp miêu tả và tự sự Số lượng 24 36 17 Tỉ lệ (%) 31,2 46,7 22,1 Qua bảng thống kê có thể thấy thể loại văn bản tự sự chiếm số lượng lớn nhất (46,7%). Điều này một phần lý giải cho việc câu kể Ai làm gì? được dạy đầu tiên trong ba tiểu loại của câu kể bởi đặc điểm của văn bản tự sự là những chuỗi sự việc nối tiếp nhau diễn ra, đưa đến một kết thúc hoặc một ý nghĩa nhất định. Thể loại văn bản miêu tả gồm những đoạn trích miêu tả đặc điểm trạng thái của người, đồ vật, con vật, cây cối chiếm 31,2%. Các văn bản này hỗ trợ tích cực cho việc rèn kĩ năng viết văn miêu tả trong phân môn Tập làm văn. Loại văn bản kết hợp miêu tả và tự sự chỉ chiếm tỉ lệ 22,1% trong các văn bản được khảo sát nhưng cũng đã thể hiện được sự đan cài khéo léo của các kiểu câu kể, tạo nên sức kết nối, sự hấp dẫn cho văn bản. Chúng tôi cũng đã tiến hành khảo sát các tiểu loại câu kể theo từng loại văn bản. Kết quả khảo sát thể hiện ở bảng sau: Bảng 2. Bảng thống kê các tiểu loại câu kể trong văn bản Văn bản Văn bản Văn bản kết hợp Loại văn bản miêu tả tự sự miêu tả và tự sự 92 câu 294 câu 186 câu Ai (cái gì/con gì) làm gì? (16,1) (51,4) (32,5) 109 câu 101 câu 115 câu Kiểu Ai (cái gì/con gì) thế nào? (33,5) (31,1) (35,4) câu kể 27 câu 44 câu 13 câu (%) Ai (cái gì/con gì) là gì? (32,1) (52,4) (15,5) 5 câu 18 câu 15 câu Kiểu câu khác (13,2) (47,4) (39,4) 2.2. Sự thể hiện của các dạng câu kể trong văn bản Tập đọc 2.2.1. Câu kể Ai làm gì? Chủ ngữ trong câu kể Ai làm gì? chỉ sự vật (người, con vật hay đồ vật, cây cối được nhân hóa) có hoạt động được nói đến ở vị ngữ. Trên số liệu thống kê của chúng tôi, loại câu kể này gồm 572 câu, chiếm đến 56,1% số lượng câu trong các văn bản Tập đọc lớp 4, phân bố thường xuyên nhất ở dạng thức văn bản tự sự. Loại câu kể Ai làm gì? có vị ngữ là những động từ. Tùy loại động từ được dùng ở phần trung tâm của vị ngữ, các câu kể này có các tiểu loại khá phong phú. Cụ thể là : - Câu kể có vị ngữ là động từ chỉ hoạt động vật lý: 452 câu, chiếm 79%. - Câu kể có vị ngữ là động từ chỉ hoạt động tâm lý: 89 câu, chiếm 15,6%. - Câu kể có vị ngữ là động từ chỉ quan hệ, sở hữu: 31 câu, chiếm 5,4%. Loại câu có vị ngữ là động từ chỉ hoạt động tâm lý thường mang ý nghĩa khá gần gũi với câu có vị ngữ là từ chỉ tính chất, trạng thái (tính từ). Chính vì vậy mà sự phân biệt hai loại câu kể Ai làm gì? và Ai thế nào? đôi khi rất khó khăn, nhất là đối với “ngưỡng tiếp nhận” của học sinh tiểu học. Chẳng hạn như việc xác định kiểu câu đối với các trường hợp: “Trăng mai còn sáng hơn.”; “Anh mừng cho các em vui Tết Trung thu độc lập đầu tiên…” (Trung thu độc lập) [2, tr. 67]. Ở loại câu có vị ngữ là từ chỉ hoạt động nói năng, ngoài chức năng tự sự về hành động của nhân vật còn có chức năng thực hiện các loại hành động ngôn trung, dẫn xuất lời nói của nhân vật trong văn bản, ví dụ:
  3. 598 LÊ THỊ KIM DUYÊN Ông Hòn Rấm cười bảo: - Sao chú mày nhát thế? Đất có thể nung trong lửa kia mà. (Chú Đất Nung) [2, tr. 134] 2.2.2. Câu kể Ai thế nào? Chủ ngữ trong câu kể Ai thế nào? chỉ những sự vật có đặc điểm, tính chất hoặc trạng thái được nêu ở vị ngữ. Đây là loại câu kể có vị ngữ là những từ chỉ tính chất trạng thái của sự vật, con người. Loại câu kể này gồm 325 câu, chiếm 31,9 % trong các tác phẩm, trích đoạn tác phẩm văn học. Loại câu kể này phân bố khá đều: 33,5% thuộc văn bản miêu tả; 31,1% thuộc văn bản tự sự; 35,4% thuộc văn bản kết hợp miêu tả và tự sự. Tuy nhiên, thực tế văn bản cũng có những câu không hoàn toàn thuộc cấu trúc câu Ai thế nào? như định nghĩa. Điều này đòi hỏi người giáo viên phải có kiến thức ngôn ngữ vững vàng để có thể hướng dẫn, hỗ trợ cho học sinh trong quá trình dạy học. Ví dụ: “Thân giày làm bằng vải cứng, dáng thon thả, màu vải như màu da trời những ngày thu.” (Đôi giày ba ta màu xanh) [2, tr. 81]. Dù có sự xuất hiện của động từ làm nhưng “chức năng vị ngữ” lại miêu tả đặc điểm của phần thân giày và căn cứ vào chủ ngữ (sự vật vô tri), có thể xác định đây là kiểu câu Ai thế nào?. Mặc dù vậy, cũng cần lưu ý thêm rằng, đối với học sinh lớp 4, nội dung dạy học Câu kể được đóng khung trong dạng thức cấu tạo đơn. Chính vì thế, những câu đã nêu không nhất thiết phải đề nghị xem xét bởi sự phức hợp các vế câu. 2.2.3. Câu kể Ai là gì? Câu kể Ai là gì? là loại câu kể có vị ngữ thường là cấu trúc của một danh ngữ được dẫn xuất bằng hệ từ là. Câu kể Ai là gì? thường được dùng với chức năng giới thiệu hoặc nhận định về đối tượng được nêu ở chủ ngữ. Ví dụ : “Mình là Quách Tuấn Lương, học sinh lớp 4B Trường Tiểu học Cù Chính Lan, thị xã Hòa Bình.” (Thư thăm bạn) [2, tr. 25]. Loại câu kể này gồm 84 câu, chiếm 8,3% trong các đoạn trích luyện đọc ở Tiếng Việt lớp 4. Mức độ phân bố của kiểu câu Ai là gì? Không đồng đều: văn bản tự sự 52,4%, văn bản miêu tả 32,1% và văn bản kết hợp miêu tả và tự sự 15,5%. 2.2.4. Câu tồn tại Câu tồn tại là kiểu câu dùng để thông báo sự tồn tại hay tiêu biến của sự vật. Cấu trúc của câu tồn tại khác biệt so với cấu trúc câu kể truyền thống vì loại câu này chỉ có vị ngữ là vị từ tồn tại với một danh ngữ chỉ đối tượng tồn tại chứ không có chủ ngữ chỉ sự vật hiện tượng mang hành động ở vị ngữ. Loại câu này thường có trạng ngữ chỉ thời gian và địa điểm liên quan đến sự vật tồn tại nên sẽ khó khăn trong việc nhận diện, nhất là ở trình độ nhận thức của học sinh lớp 4. Đây là loại câu xuất hiện khá nhiều trong cách mở đầu một văn bản tự sự theo kiểu truyền thống, chức năng của nó là đưa đối tượng vào trong văn bản, ví dụ: “Ngày xưa có một ông vua cao tuổi muốn tìm người nối ngôi” (Những hạt thóc giống) [2, tr. 46]. Loại câu này gồm 38 câu, chỉ chiếm 3,7% và phân bố chủ yếu trong thể loại văn bản tự sự (47,4%), văn bản kết hợp miêu tả và tự sự (39,4%) còn trong thể loại văn bản miêu tả ít xuất hiện hơn (13,2%). 3. ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA CÂU KỂ VÀ CÁC LOẠI CÂU KỂ PHÂN THEO NGỮ NGHĨA 3.1. Đặc điểm chung Nghĩa chính là cái điều được biểu đạt trong lời nói. Trong ngôn ngữ học truyền thống, khi nói đến nghĩa, người ta chỉ nghĩ đến nghĩa của các từ chứ ít chú ý đến nghĩa của câu và quan niệm “nghĩa của câu chẳng qua là nghĩa của các từ kết hợp lại mà thôi”. Trong cách nhìn của ngôn ngữ học hiện đại, nghĩa của câu rất được coi trọng. “Nghĩa biểu hiện của câu phản ảnh cái sự
  4. ĐẶC ĐIỂM CÂU KỂ TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT LỚP 4... 599 tình của thế giới được nói đến trong câu”. [1, tr. 230] Nghĩa biểu hiện của câu có thể có tính phổ quát cho mọi ngôn ngữ mặc dù các ngôn ngữ khác nhau có thể có cách thể hiện theo các hình thức ngữ pháp khác nhau. Nội dung của phần này chúng tôi sẽ dựa vào những cơ sở lý thuyết về việc phân loại câu theo nghĩa biểu hiện của khung vị từ được nhiều nhà nghiên cứu ngữ pháp chức năng nêu lên để khảo sát. Câu phân theo nghĩa biểu hiện của khung vị từ theo hai cặp tiêu chí +/- Động, +/- Chủ ý. Theo đó chúng ta có thể xác lập các kiểu sự tình sau: SỰ TÌNH Chủ ý Không chủ ý Động Hành động Quá trình Không động Quan hệ Trạng thái Bên cạnh đó, để việc phân loại câu theo nghĩa biểu hiện của khung vị từ có thể phản ánh trung thành và cân đối hiện thực của ngôn ngữ, tác giả Cao Xuân Hạo đề xuất đưa thêm sự tình tồn tại và phân chia nhóm vị từ không động thành hai loại trạng thái và quan hệ để hệ thống được hoàn chỉnh và phù hợp với thực tế sử dụng ngôn ngữ hơn. 3.2. Các loại câu kể phân theo ngữ nghĩa 3.2.1. Câu chỉ hành động Hành động là một sự tình động và chủ ý vì vậy nó luôn đòi hỏi một chủ thể hành động mang tính chủ ý (động vật, con người, kể cả những nhân vật của thế giới tưởng tượng như ma quỷ, thánh thần hoặc những sự vật được nhân hóa) chủ thể hành động được gọi là hành thể. Hành động có thể có một đối tượng bị tác động hoặc là không. Đối tượng bị tác động được gọi là đối thể, câu hành động còn có các tham tố khác biểu thị các ý nghĩa về thời gian, nơi chốn, phương tiện, mục đích. Có thể hình dung theo sơ đồ sau: Ví dụ 1: Ta sẽ truyền ngôi cho chú bé trung thực và dũng cảm này. Hành thể Hành động Đối thể Ví dụ 2: Trên bờ sông một con rùa đang cố sức tập chạy. Không gian Hành thể Hành động Trong chương trình Tiếng Việt lớp 4 loại câu kể có ý nghĩa biểu hiện là câu hành động là hình thức điển hình cho loại câu kể Ai làm gì?. 3.2.2. Câu chỉ quá trình Câu chỉ quá trình là loại câu trong đó không có chủ thể nào có chủ ý. Một quá trình như mưa, bão không có diễn tố hay diễn tố thể hiện quá trình chính là đối tượng tự nhiên Trời. Một quá trình chỉ có một diễn tố chính là đối tượng trải qua quá trình ấy. Ví dụ: Mới đến chái bếp, gặp trời đổ mưa chú ngấm nước, rét quá. Không gian, cảnh huống Thể bị tác động, vật trải qua quá trình Quá trình 3.2.3. Câu chỉ trạng thái Câu chỉ trạng thái là loại câu có vị từ chỉ về tính chất, trạng thái của sự vật. Tính chất gồm hai loại thể chất và tinh thần. Tính chất thể chất có thể có ở vật vô sinh như rắn, mềm, đặc, loãng, hoặc tính chất của vật hữu sinh như khỏe, yếu, dữ, hiền… Tính chất về mặt tinh thần có nhiều
  5. 600 LÊ THỊ KIM DUYÊN thứ, như về trí tuệ: thông minh, ngu đần…, thuộc đạo đức như tận tụy, nóng nảy... Câu chỉ trạng thái thường chỉ có một diễn tố chỉ chủ thể mang tính chất hay trạng thái. Ví dụ: Vua rất mừng vì con gái khỏi bệnh. Người thể nghiệm trạng thái Trạng thái Nguyên nhân Bên cạnh đó còn có những trạng thái tâm lý có hai diễn tố. Diễn tố thứ nhất là người thể nghiệm trạng thái tâm lý đó còn đối tượng thứ hai chính là đối tượng gây nên trạng thái tâm lý của người thể nghiệm. Ví dụ: thấy một cậu bé đang lấy vành tai tát nước suối lên một Họ ngạc nhiên thửa ruộng cao bằng mái nhà. Người thể nghiệm Trạng thái Đối tượng gây nên trạng thái trạng thái Trong chương trình Tiếng Việt lớp 4 loại câu kể có ý nghĩa biểu hiện là câu trạng thái là hình thức điển hình cho loại câu kể Ai thế nào?. 3.2.4. Câu chỉ quan hệ Câu chỉ quan hệ là loại câu xác định mối quan hệ giữa các đối tượng trong thế giới hiện thực. Câu chỉ quan hệ có thể là loại câu định tính, định vị, hoặc là những mối quan hệ khác. Một câu quan hệ nhất thiết phải có hai vế. Trong tiếng Việt, những từ thường dùng để chỉ quan hệ như hơn, kém, bằng, đồng nhất với xa, gần, trên, dưới... Trong nguồn ngữ liệu chúng tôi thu thập được, có thể nêu ra một số kiểu câu quan hệ sau đây: - Quan hệ giữa thực thể với thực thể + Quan hệ so sánh Ví dụ: Mặt trăng cũng như vậy, mọi thứ đều như vậy. (Rất nhiều mặt trăng). + Quan hệ đồng nhất Ví dụ: Cậu là học sinh chăm chỉ và giỏi nhất lớp. (Cậu học sinh ở Ác-boa). + Quan hệ tương liên Ví dụ: Ngày 8 tháng 9 năm 1522, đoàn thám hiểm chỉ còn một chiếc thuyền với mười tám thủy thủ sống sót cập bờ biển Tây Ban Nha. (Hơn một nghìn ngày vòng quanh trái đất). Trong chương trình Tiếng Việt lớp 4 loại câu kể có ý nghĩa biểu hiện là câu quan hệ giữa thực thể với thực thể là hình thức điển hình cho loại câu kể Ai là gì?. - Quan hệ giữa một thực thể và một sự tình + Quan hệ nhân quả Ví dụ: Hơn bốn mươi năm khổ công nghiên cứu, tìm tòi, Xi-ôn-cốp-xki đã thực hiện được điều ông hằng tâm niệm: “Các vì sao không phải để tôn thờ mà để chinh phục.” (Người tìm đường lên các vì sao). + Quan hệ xác định Ví dụ: Bu-ra-ti-nô tìm cách moi điều bí mật ấy ở chính những kẻ độc ác đang tìm bắt chú hòng đoạt chiếc chìa khóa quý giá. (Trong quán ăn “Ba cá bống”).
  6. ĐẶC ĐIỂM CÂU KỂ TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT LỚP 4... 601 3.2.5. Câu chỉ hành động và trạng thái Thực tế văn bản không phải lúc nào một câu cũng chỉ biểu thị một nghĩa biểu hiện mà có những câu biểu thị 2 nghĩa biểu hiện. Ví dụ: Gô-sa hơi láu, lén hắt những mẩu bánh vụn xuống đất. (Ba anh em). 4. ĐẶC ĐIỂM CHỨC NĂNG CỦA CÂU KỂ Câu kể là loại câu tiêu biểu nhất và thông dụng nhất cho nên nó có tần số xuất hiện cao trong các loại văn bản tự sự, miêu tả… Câu kể đóng vai trò không nhỏ trong việc hoàn thiện hình thức lẫn nội dung của mỗi loại văn bản. Ở đây, chúng tôi xét vai trò của câu kể trong hai loại văn bản: văn bản tự sự và văn bản miêu tả. Văn bản tự sự là loại văn bản có phương thức trình bày là một chuỗi các sự việc; sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng đi đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa. Văn tự sự giúp ta giải thích sự việc, tìm hiểu con người, nêu vấn đề và bày tỏ thái độ. Còn văn miêu tả là loại văn bản nhằm giúp người đọc, người nghe hình dung những đặc điểm, tính chất nổi bật của các sự vật, sự việc, con người, phong cảnh,... làm cho những sự vật, hiện tượng này hiện lên trước mắt người đọc, người nghe. Để văn bản chuyển tải được hết các thông điệp thẩm mĩ đó, câu kể mang những đặc điểm chức năng sau: 4.1. Trình bày, diễn tả hoạt động của sự vật, hiện tượng - Diễn tả vận động, quá trình thuộc về hoạt động hành vi của chủ thể. - Diễn tả vận động, hoạt động mang ý nghĩa trao nhận. - Diễn tả hoạt động có tác động gây khiến. - Diễn tả vận động, hoạt động về cảm nghĩ nói năng. - Diễn tả vận động mang ý nghĩa di chuyển. - Diễn tả vận động mang ý nghĩa tồn tại. - Diễn tả vận động, quá trình hoạt động khác. 4.2. Miêu tả trạng thái của hoạt động, sự vật, hiện tượng - Miêu tả những thuộc tính về màu sắc, mùi vị, hình dáng, kích thước. - Miêu tả trạng thái của sự vật. - Miêu tả những thuộc tính vật lý của chủ thể. - Miêu tả trạng thái tâm lý, tình cảm. - Miêu tả tính cách của nhân vật. - Diễn tả sự so sánh. 4.3. Giới thiệu sự vật, hiện tượng - Giới thiệu về bản thân, quê hương. - Đánh giá sự vật, hiện tượng. - Nêu nhận định, định nghĩa về sự vật, hiện tượng. 4.4. Diễn đạt hành động nói khác Câu kể là tên gọi khái quát nhưng thực chất nó được sử dụng với những chức năng đa dạng khác nhau trong văn bản. Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, gồm
  7. 602 LÊ THỊ KIM DUYÊN một hay nhiều câu, nhiều đoạn và có những đặc điểm cơ bản sau: thể hiện và triển khai chủ đề một cách trọn vẹn; các câu liên kết chặt chẽ. Văn bản được xây dựng với kết cấu mạch lạc; biểu hiện tính hoàn chỉnh của nội dung nhằm thực hiện một hoặc một số mục đích giao tiếp nhất định. Từ đó, câu kể cần phải linh hoạt phát huy vai trò của mình trong việc hình thành ý nghĩa của văn bản. Để làm được điều đó, theo chúng tôi, bên cạnh những chức năng trên câu kể còn có chức năng diễn đạt hành động nói khác như: diễn đạt hành động khiến; diễn đạt hành động hỏi; diễn đạt hành động than. Với mục đích và yêu cầu giúp học sinh hiểu rõ kiến thức về câu kể cũng như có kĩ năng vận dụng câu kể một cách linh hoạt vào thực tiễn, theo chúng tôi, giáo viên trước hết phải có chuyên môn vững chắc, có những phương pháp dạy học tích cực để mang lại hiệu quả cao trong quá trình giảng dạy Tiếng Việt. Trong trường hợp giúp học sinh phân biệt được từng loại câu kể, giáo viên cần thực hiện những biện pháp: Yêu cầu học sinh xác định đúng câu kể, hướng dẫn học sinh chỉ ra từng bộ phận chính (chủ ngữ, vị ngữ) trong câu kể, cho học sinh nắm chắc cấu trúc của từng loại câu kể. Tuy nhiên, theo như chúng tôi đã trình bày ở trên, không phải câu kể nào cũng có cấu trúc như ba tiểu loại đã nêu, vì thế để học sinh có thể dễ dàng tiếp nhận và biết cách sử sụng câu kể đúng, hay; giáo viên cần đặt những câu hỏi gợi mở, dẫn dắt học sinh tư duy linh hoạt, không rập khuôn cấu trúc như đã học ba tiểu loại câu trên. 5. KẾT LUẬN Theo Cao Xuân Hạo, câu kể trong mục đích hành động là “bản màu đa sắc”, điều này thể hiện sự liên hệ giữa nội dung và hình thức, cấu trúc và chức năng. Từ góc độ ngôn ngữ học, câu kể là loại câu quen thuộc, có đặc trưng riêng giúp người đọc dễ dàng nhận biết được. Mặc dù vậy, ngôn ngữ luôn biến đổi để nội dung truyền đạt phong phú hơn, vì thế các dạng câu nói chung và câu kể nói riêng đều thay đổi cấu trúc tùy theo ngữ cảnh của nó. Sự biến điệu này dẫn đến không ít khó khăn trong quá trình dạy và học Tiếng Việt. Từ những phân tích, mô tả và chỉ dẫn về câu kể trên hai bình diện tiếp nhận và tạo lập, chúng tôi kì vọng có thể góp phần nâng cao chất lượng dạy học nội dung Câu kể (trong phân môn Luyện từ và câu) nói riêng, dạy học câu kể trong các phân môn Tiếng Việt lớp 4 nói chung. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Cao Xuân Hạo (1991). Tiếng Việt, sơ thảo ngữ pháp chức năng, NXB Khoa học Xã hội. [2] Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), Nguyễn Thị Hạnh, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán, Nguyễn Trại (2005). SGK Tiếng Việt lớp 4, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội. Title: THE CHARACTERISTICS OF STATEMENT IN THE FOURTH GRADE VIETNAMESE PROGRAM Abstract: Sentence is the smallest unit of communication; in the types of the sentence, the statement is often used to create the texts (speaking and writing). The statement has own characteristics about semantics and function which helps readers easily recognize and use them in many different situations. Therefore, the fourth grade Vietnamese program has chosen the staterment to give the students the initial linguistic knowledge and help them know how to use in practical daily life. Keywords: sentence, statement, the characteristics of statement, the fourth grade Vietnamese LÊ THỊ KIM DUYÊN Học viên Cao học, chuyên ngành Giáo dục học (Giáo dục tiểu học), khóa 21 (2012-2014), Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế Email: kimduyen2109@gmail.com
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2