intTypePromotion=1

Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ngạt nước tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ năm 2003 đến năm 2007

Chia sẻ: Trần Thị Hạnh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
9
lượt xem
0
download

Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ngạt nước tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ năm 2003 đến năm 2007

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định tỉ lệ các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị của bệnh nhân ngạt nước tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ năm 2003 đến năm 2007. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ngạt nước tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ năm 2003 đến năm 2007

ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐIỀU TRỊ<br /> NGẠT NƯỚC TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 TỪ NĂM 2003 ĐẾN NĂM 2007<br /> Nguyễn Hoàng Thanh Uyên*, Bùi Quốc Thắng**<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỉ lệ các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị của bệnh nhân<br /> ngạt nước tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ năm 2003 đến năm 2007.<br /> Phương pháp nghiên cứu: Mô tả loạt ca.<br /> Kết quả: Tuổi trung bình của trẻ ngạt nước nhập viện là 5,1 ± 4,2 tuổi. Nơi xảy ra tai nạn thường gặp nhất<br /> là sông, ao hồ (71%) và vật dụng chứa nước (18%). Ngạt do vật dụng chứa nước chủ yếu xảy ra ở trẻ ≤ 3 tuổi,<br /> xảy ra ở trẻ nữ nhiều hơn trẻ nam. Trẻ ở tỉnh và ngoại thành chủ yếu xảy ra tai nạn ở sông, ao hồ tự nhiên. Có<br /> 8% trường hợp được hồi sức đúng cách. Tỉ lệ trẻ có suy hô hấp lúc nhập viện, có rối loạn tri giác, có hạ thân<br /> nhiệt, có chấn thương đi kèm lần lượt là 75%, 64%, 4% và 3%. Có 32% trường hợp đường huyết tăng ≥<br /> 200mg%. Kết quả điều trị: hồi phục 62%, tử vong 24%, di chứng thần kinh 14%. Những trường hợp có thời<br /> gian chìm trong nước lâu, rối loạn tri giác, Glasgow thấp, mất phản xạ ánh sáng, hạ thân nhiệt, tím tái, tăng<br /> đường huyết hay pH < 7,2 thường có kết quả điều trị xấu.<br /> Kết luận: Nơi xảy ra tai nạn thay đổi theo tuổi, giới và địa bàn cư trú. Dấu hiệu tiên lượng xấu: thời gian<br /> chìm trong nước lâu, rối loạn tri giác, Glasgow thấp, mất phản xạ ánh sáng, hạ thân nhiệt, tím tái, tăng đường<br /> huyết, pH < 7,2.<br /> <br /> ABSTRACT<br /> CHARACTERISTICS OF EPIDEMIOLOGY, CLINICAL AND LABORATORY FEATURES AND<br /> TREATMENT OF DROWNING AT CHILDREN’S HOSPITAL N0 I, 2003 - 2007<br /> Nguyen Hoang Thanh Uyen, Bui Quoc Thang<br /> * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 13 – Supplement of No 1 - 2009: 1 – 7<br /> Objective: To determine prevalences of characteristics of epidemiology, clinical and laboratory features and<br /> treatment of drowning at Children’s Hospital N0 1, from 2003 to 2007.<br /> Study design: Case series.<br /> Results: The mean age of drowning children was 5.1 ± 4.2 years. Most of drownings were in open water<br /> (71%) and in body of water (18%). Drowning in body of water occurred primarily at the age of 0-3 years, in<br /> female more than in male. Children in the countryside drowned majority in open water. Only 8% of victims<br /> received right resuscitations. The proportions of respiratory failure, unconsciousness, hypothermia and trauma<br /> were 75%, 64%, 4% and 3%, respectively. 32% of victims had glycemia which was more than 200mg%. Results<br /> of treatment: 62% recovered, 24% died and 14% had neurologic impairment. The cases with prolonged<br /> submersion, unconsciousness, low Glasgow score, no pupil reflex, hypothermia, hyperglycemia, pH < 7.2 had bad<br /> outcome.<br /> Conclusion: Drowning places vary by age, gender, home. Poor prognosis: prolonged submersion,<br /> unconsciousness, low Glasgow score, no pupil reflex, hypothermia, hyperglycemia, pH < 7.2.<br /> Trên thế giới hằng năm ước tính có 500.000<br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> người tử vong vì ngạt nước (mỗi phút một<br /> * HCTĐ Nhà Bè ** Bộ môn Nhi, Đại học Y Dược Tp. HCM<br /> <br /> Chuyên Đề Nhi Khoa<br /> <br /> 1<br /> <br /> người). Con số thực tế còn lớn hơn nhiều vì có<br /> nhiều trường hợp không được báo cáo(11).<br /> Trong các nguyên nhân tử vong do tai nạn,<br /> ngạt nước là nguyên nhân xếp thứ nhì, sau tai<br /> nạn giao thông(5).<br /> Không những có tỉ lệ tử vong cao, ngạt nước<br /> còn là một trong những nguyên nhân quan<br /> trọng gây di chứng thần kinh cho trẻ còn sống.<br /> Tại Việt Nam, nghiên cứu gần đây nhất<br /> của Phạm Thị Ngọc Lan tiến hành tại bệnh<br /> viện Nhi Đồng 2 cho biết tỉ lệ tử vong của trẻ<br /> ngạt nước là 10,1%(12).<br /> Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm<br /> xác định một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận<br /> lâm sàng và tỉ lệ các kết quả điều trị của trẻ ngạt<br /> nước nhập viện Nhi Đồng 1. Qua đó đóng góp<br /> một phần kiến thức cho việc dự phòng và điều<br /> trị ngạt nước.<br /> <br /> ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> Thiết kế nghiên cứu<br /> Mô tả loạt ca.<br /> <br /> Đối tượng nghiên cứu<br /> Dân số mục tiêu<br /> Trẻ được chẩn đoán ngạt nước nhập bệnh<br /> viện Nhi Đồng 1.<br /> Dân số chọn mẫu<br /> Trẻ được chẩn đoán ngạt nước và nhập bệnh<br /> viện Nhi Đồng 1 từ 1/1/2003– 31/12/2007.<br /> Cỡ mẫu<br /> Lấy trọn.<br /> Tiêu chí chọn mẫu<br /> Trường hợp được chọn thỏa mãn hai tiêu chí<br /> sau:<br /> • Trẻ ≤ 15 tuổi.<br /> • Được chẩn đoán ngạt nước với bệnh sử<br /> úp mặt hoặc chìm trong nước.<br /> Tiêu chí loại trừ:<br /> Loại trừ những trường hợp có một trong các<br /> tiêu chí:<br /> • Trẻ được chẩn đoán bại não hoặc chậm<br /> phát triển tâm thần vận động trước nhập viện.<br /> <br /> Chuyên Đề Nhi Khoa<br /> 2<br /> <br /> • Không đủ dữ kiện theo bệnh án mẫu.<br /> • Gia đình không đồng ý tham gia nghiên<br /> cứu (với những trường hợp tiền cứu).<br /> <br /> Phân tích số liệu<br /> Nhập số liệu bằng phần mềm EpiData 3.1.<br /> Phân tích số liệu bằng phần mềm thống kê Stata<br /> 10.0. Biến số định tính: tính tần số và tỉ lệ%. Biến<br /> số định lượng: tính trung bình và độ lệch chuẩn.<br /> <br /> KẾT QUẢ<br /> Trong vòng 5 năm từ 01/01/2003 đến<br /> 31/12/2007, có tổng cộng 137 trường hợp ngạt<br /> nước nhập viện Nhi Đồng 1. Loại 12 trường hợp<br /> vì không đủ dữ kiện theo bệnh án mẫu hoặc<br /> được chẩn đoán bại não hoặc chậm phát triển<br /> tâm thần trước nhập viện, chúng tôi tiến hành<br /> nghiên cứu 125 trường hợp còn lại, gồm 121<br /> trường hợp hồi cứu và 4 trường hợp tiền cứu.<br /> <br /> Phân bố theo tuổi và giới<br /> Tuổi trung bình của trẻ ngạt nước nhập viện<br /> là 5,1 ± 4,2 tuổi. Trẻ nhỏ nhất nhập viện vì ngạt<br /> nước là 3 tháng tuổi. Nhóm tuổi thường gặp<br /> nhất là ≤ 3 tuổi, chiếm 49%, trẻ trên 3 tuổi đến 5<br /> tuổi chiếm 14%, trẻ trên 5 tuổi đến 10 tuổi chiếm<br /> 21%, trẻ trên 10 tuổi chiếm 16%. Tỉ lệ trẻ nam<br /> nhiều hơn trẻ nữ trong mọi nhóm tuổi, tỉ lệ nam:<br /> nữ xấp xỉ 2: 1.<br /> <br /> Địa bàn cư trú<br /> Trẻ nhập viện từ các tỉnh chiếm 54%, từ<br /> thành phố Hồ Chí Minh là 46%. Trong đó hai địa<br /> phương có số lượng trẻ nhập viện vì ngạt nước<br /> nhiều hơn hẳn các nơi khác là tỉnh Long An<br /> chiếm 30% và huyện Bình Chánh, thành phố Hồ<br /> Chí Minh chiếm 13%.<br /> <br /> Thời điểm xảy ra tai nạn<br /> Thời điểm trong ngày thường xảy ra tai nạn<br /> là 14 đến 17 giờ, chiếm 47,2%. Không ghi nhận<br /> trường hợp nào xảy ra từ 21 giờ đến 6 giờ. Tháng<br /> xảy ra tai nạn thường gặp là tháng 4 đến tháng 7,<br /> chiếm 43%.<br /> <br /> Nơi xảy ra tai nạn<br /> Nơi xảy ra tai nạn thường gặp nhất là<br /> sông, ao hồ (71%). Đứng thứ nhì là các vật<br /> <br /> dụng chứa nước trong nhà (18%), mà chủ yếu<br /> là xô, chậu, chỉ 1 trường hợp trong bồn tắm<br /> (1%). Tỉ lệ xảy ra tại hồ bơi, biển, nơi khác lần<br /> lượt là 7%, 2% và 2%.<br /> Đối với trẻ nam, tỉ lệ ngạt nước xảy ra ở biển<br /> là 4%, ở sông, ao hồ là 75%, ở hồ bơi là 5%, do<br /> các vật dụng chứa nước trong nhà là 12% và<br /> những nơi khác (đều là cầu cá) là 4%. Với trẻ nữ,<br /> tỉ lệ tai nạn xảy ra ở sông, ao hồ là 60%, ở hồ bơi<br /> là 12%, do các vật dụng chứa nước trong nhà là<br /> 28%. Nam có tỉ lệ xảy ra tai nạn ở sông, ao hồ cao<br /> hơn nữ, ngược lại, nữ có tỉ lệ xảy ra tai nạn ở hồ<br /> bơi và các vật dụng chứa nước cao hơn nam. Sự<br /> khác biệt về nơi xảy ra tai nạn theo giới tính là có<br /> ý nghĩa thống kê với (p=0,042).<br /> Trong mọi nhóm tuổi, ngạt nước tại sông, ao<br /> hồ đều chiếm tỉ lệ cao nhất, đặc biệt đối với<br /> nhóm trẻ lớn hơn 5 tuổi đến 10 tuổi tỉ lệ này đến<br /> 85%. Ngạt do các vật dụng chứa nước có<br /> khuynh hướng xảy ra ở trẻ nhỏ, đặc biệt trẻ ≤<br /> 3tuổi (32%). Đối với trẻ càng lớn, tỉ lệ ngạt nước<br /> do hồ bơi càng tăng. Sự khác biệt về nơi xảy ra<br /> tai nạn theo lứa tuổi là có ý nghĩa thống kê (p <<br /> 0,001).<br /> Tai nạn ngạt nước của trẻ em nội thành xảy<br /> ra nhiều ở sông, ao hồ (48%), hồ bơi (20%), vật<br /> dụng chứa nước trong nhà (29%). Đối với trẻ ở<br /> ngoại thành và ở tỉnh tai nạn xảy ra chủ yếu tại<br /> sông, ao hồ. Sự khác biệt về nơi xảy ra tai nạn<br /> theo địa bàn cư trú là có ý nghĩa thống kê (p =<br /> 0,011).<br /> Tỉ lệ ngạt nước ngọt là 92%, ngạt nước mặn<br /> 8%.<br /> Bảng 1: Tần suất (tỉ lệ%) nơi xảy ra tai nạn theo tuổi,<br /> giới và địa bàn cư trú<br /> Biển<br /> <br /> ≤3<br /> (3-5)<br /> (5-10)<br /> >10<br /> Nam<br /> <br /> Sông,<br /> ao hồ<br /> <br /> Hồ Vật dụng Nơi Kiểm<br /> bơi<br /> chứa<br /> khác định<br /> nước<br /> Fisher<br /> Tuổi<br /> p<<br /> 0<br /> 40 (65)<br /> 0<br /> 20 (32)<br /> 2 (3) 0,001<br /> 2 (12) 11 (64) 1 (6)<br /> 2 (12)<br /> 1 (6)<br /> 1 (4) 22 (85) 3 (11)<br /> 0<br /> 0<br /> 0<br /> 15 (75) 5 (25)<br /> 0<br /> 0<br /> Giới<br /> p=<br /> 3 (4) 62 (75) 4 (5) 10 (12)<br /> 3 (4) 0,042<br /> <br /> Chuyên Đề Nhi Khoa<br /> <br /> Biển<br /> <br /> Nữ<br /> <br /> 0<br /> <br /> Nội thành 1 (3)<br /> Ngoại<br /> thành<br /> Tỉnh<br /> <br /> 0<br /> 2 (3)<br /> <br /> Sông,<br /> ao hồ<br /> <br /> Hồ Vật dụng Nơi Kiểm<br /> bơi<br /> chứa<br /> khác định<br /> nước<br /> Fisher<br /> 26 (60) 5 (12) 12 (28)<br /> 0<br /> Địa bàn cư trú<br /> p=<br /> 0,011<br /> 17 (48) 7 (20) 10 (29)<br /> 0<br /> 18 (82)<br /> <br /> 0<br /> <br /> 53 (78) 2 (3)<br /> <br /> 4 (18)<br /> <br /> 0<br /> <br /> 8 (12)<br /> <br /> 3 (4)<br /> <br /> Tình huống xảy ra tai nạn<br /> Tình huống thường gặp nhất là trẻ té xuống<br /> sông, ao hồ (63%). Tiếp theo đó là do chúi đầu<br /> vào vật dụng chứa nước (18%) hoặc do đi tắm<br /> biển, sông, hồ (18%). Có 1 trường hợp do bé lên<br /> cơn động kinh và bị ngã xuống ao, 1 trường hợp<br /> bé nhảy xuống ao cứu em và cũng bị ngạt nước.<br /> Không ghi nhận trường hợp nào có liên quan<br /> đến sử dụng rượu.<br /> <br /> Thời gian ước đoán chìm trong nước<br /> Trong 125 trường hợp nghiên cứu có 55<br /> trường hợp không ghi nhận được thời gian<br /> ước đoán chìm trong nước. Trong nhóm được<br /> ghi nhận thì thời gian này trung bình là 6,6 ±<br /> 3,5 phút, các trường hợp chìm trên 5 phút<br /> chiếm 34%.<br /> <br /> Biện pháp cấp cứu tại hiện trường<br /> Trong 107 trường hợp được hồi sức tại hiện<br /> trường, có 8% trường hợp được hồi sức đúng<br /> cách. Có đến 85% trẻ được xốc nước tại hiện<br /> trường. Một số trẻ được hơ lửa (4%), lăn lu (1%),<br /> ép bụng (5%).<br /> <br /> Triệu chứng lâm sàng lúc nhập viện<br /> Tỉ lệ trẻ có suy hô hấp lúc nhập viện là 75%.<br /> Tỉ lệ phù phổi là 4%. Tỉ lệ bệnh nhân có sốc lúc<br /> nhập viện là 7%. Tỉ lệ trẻ có rối loạn tri giác là<br /> 64%, trong đó 36% lơ mơ, 28% hôn mê. Tỉ lệ trẻ<br /> có hạ thân nhiệt (thân nhiệt < 35oC) là 4%. Tỉ lệ có<br /> chấn thương đi kèm là 3%.<br /> <br /> Đặc điểm cận lâm sàng<br /> Hct và tiểu cầu trong giới hạn bình thường ở<br /> hầu hết trường hợp (92%). Bạch cầu tăng trên<br /> 10.000 trong 57% truờng hợp.<br /> <br /> 3<br /> <br /> Natri máu bình thường trong 61% trường<br /> hợp. Có 4% trường hợp natri máu tăng trên<br /> 145mEq/L. Có 35% trường hợp natri máu giảm<br /> dưới 135 mEq/ L.<br /> Có 32% trường hợp đường huyết tăng ≥<br /> 200mg%. Không có trường hợp nào đường<br /> huyết < 40mg%.<br /> Khí máu động mạch thể hiện tình trạng toan<br /> chuyển hóa có kiềm hô hấp bù trừ trong đa số<br /> trường hợp (53%), trong đó toan chuyển hóa<br /> nặng với pH < 7,2 chiếm 15%. Tỉ lệ AaDO2 tăng<br /> trên 60 mmHg chiếm 67%.<br /> 91% trường hợp có bất thường trên X quang,<br /> thường gặp nhất là hình ảnh thâm nhiễm ở hai<br /> phổi (49%).<br /> <br /> Kết quả điều trị<br /> Bảng 2: So sánh một số yếu tố giữa nhóm hồi phục<br /> với nhóm tử vong hoặc di chứng<br /> Yếu tố<br /> <br /> Giới<br /> Nam<br /> Nữ<br /> Tuổi<br /> ≤ 5 tuổi<br /> > 5 tuổi<br /> Loại nước<br /> Mặn<br /> Ngọt<br /> Thời gian ước<br /> đoán chìm trong<br /> nước (phút)<br /> Điểm Glasgow<br /> Tri giác<br /> Tỉnh<br /> Lơ mơ<br /> Mê<br /> Thân nhiệt<br /> o<br /> < 35 C<br /> o<br /> ≥ 35 C<br /> Co giật<br /> Tím tái<br /> Đường huyết<br /> < 200mg%<br /> ≥ 200mg%<br /> CRP<br /> <br /> Hồi phục<br /> (N = 78)<br /> <br /> Di chứng hay<br /> tử vong<br /> (N = 47)<br /> <br /> 50 (61%)<br /> 28 (65%)<br /> <br /> 32 (39%)<br /> 15 (35%)<br /> <br /> 47 (60%)<br /> 31 (66%)<br /> <br /> 31 (40%)<br /> 16 (34%)<br /> <br /> p<br /> <br /> p** = 0,87<br /> <br /> p** = 0,52<br /> <br /> 3 (30%)<br /> 44 ( 38%)<br /> p* < 0,001<br /> <br /> 5,5 ± 3<br /> <br /> 8,8 ± 3,5<br /> <br /> 10,1 ± 3,2<br /> <br /> 4,5 ± 2,1<br /> <br /> 42 (93%)<br /> 32 (71%)<br /> 4 (11%)<br /> <br /> 3 (7%)<br /> 13 (29%)<br /> 31 (89%)<br /> <br /> 0<br /> 78 (65%)<br /> 9 (12%)<br /> 12 (15%)<br /> <br /> 5 (100%)<br /> 42 (35%)<br /> 9 (19%)<br /> 18 (38%)<br /> <br /> 53 (70%)<br /> 15 (42%)<br /> 14 ± 23<br /> <br /> 23 (30%)<br /> 21 (58%)<br /> 22 ± 35<br /> <br /> p* < 0,001<br /> p* < 0,001<br /> <br /> Chuyên Đề Nhi Khoa<br /> 4<br /> <br /> AaDO2<br /> pH<br /> < 7,2<br /> ≥ 7,2<br /> <br /> Hồi phục<br /> (N = 78)<br /> <br /> Di chứng hay<br /> p<br /> tử vong<br /> (N = 47)<br /> 108,6 ± 127,8 380,5 ± 207,8 p* < 0,001<br /> p* = 0,009<br /> 3 (21%)<br /> 11 (79%)<br /> 49 (60%)<br /> 32 (40%)<br /> <br /> p*: kiểm định Fisher, p**: kiểm định chi bình phương.<br /> Tỉ lệ hồi phục là 62%. Tỉ lệ tử vong là 24%. Tỉ<br /> lệ có di chứng thần kinh là 14%.<br /> Nghiên cứu của chúng tôi không ghi nhận có<br /> sự khác biệt về các yếu tố: tuổi, giới, loại nước<br /> gây ngạt, co giật và giá trị của CRP giữa nhóm<br /> hồi phục với nhóm tử vong hoặc di chứng.<br /> Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa<br /> nhóm hồi phục với nhóm tử vong hoặc di chứng<br /> về các yếu tố: thời gian ước đoán chìm trong<br /> nước, thân nhiệt, điểm Glasgow, tri giác, tím tái,<br /> đường huyết, AaDO2 và pH. Nhóm tử vong<br /> hoặc di chứng có thời gian ước đoán chìm trong<br /> nước trung bình dài hơn, có điểm Glasgow<br /> trung bình thấp hơn và có giá trị AaDO2 trung<br /> bình cao hơn của nhóm hồi phục. Nhóm tử vong<br /> hoặc di chứng có tỉ lệ rối loạn tri giác, hạ thân<br /> nhiệt, tím tái, tăng đường huyết và toan chuyển<br /> hóa nặng cao hơn của nhóm hồi phục.<br /> <br /> BÀN LUẬN<br /> p* = 0,746<br /> <br /> 7 (70%)<br /> 71 (62%)<br /> <br /> Yếu tố<br /> <br /> p* = 0,007<br /> p** = 0,24<br /> p** = 0,004<br /> p** = 0,005<br /> <br /> p* = 0,442<br /> <br /> Đặc điểm dịch tễ<br /> Nhóm tuổi thường gặp nhất là ≤ 3 tuổi, đây<br /> là lứa tuổi bắt đầu biết đi nhưng chưa ý thức rõ<br /> về môi trường xung quanh nên dễ xảy ra tai nạn.<br /> Về phái tính, tỉ lệ nam: nữ trong nghiên<br /> cứu của chúng tôi xấp xỉ 2:1. Kết quả này cũng<br /> phù hợp với đặc điểm tỉ lệ ngạt nước của trẻ<br /> nam cao hơn trẻ nữ được nêu trong nhiều y<br /> văn(3,4). Tỉ lệ này trong nghiên cứu của Phạm<br /> Thị Ngọc Lan là 3:2(12), trong nghiên cứu của<br /> Ruth A. Brenner xấp xỉ 3:1(4).<br /> Thời điểm thường xảy ra tai nạn trong ngày<br /> là từ 14 đến 17 giờ (47%), đặc biệt là khoảng 1516 giờ (31%). Tai nạn xảy ra tương đối đồng đều<br /> vào các ngày trong tuần. Từ tháng 4 đến tháng 7<br /> là khoảng thời gian chiếm tỉ lệ cao trong năm<br /> (43%). Đây cũng là những tháng nghỉ hè của học<br /> <br /> sinh. Ở một số nước có khí hậu bốn mùa thì ngạt<br /> nước thường tăng cao vào những tháng ấm áp.<br /> Trong nghiên cứu của L. Quan và P. Commings<br /> tiến hành tại Washington thì 50% trường hợp<br /> ngạt nước xảy ra vào những tháng trời ấm là từ<br /> tháng 5 đến tháng 8(13). Nghiên cứu của Luis K.<br /> Lee tiến hành tại Massachusetts cho thấy 65%<br /> trường hợp ngạt nước xảy ra vào mùa hè, từ<br /> tháng 7 đến tháng 9(9).<br /> Nơi xảy ra tai nạn thường gặp nhất là sông,<br /> ao hồ, giống như kết quả nghiên cứu của Ruth<br /> A. Brenner và nhiều tác giả khác(4,12). So với kết<br /> quả nghiên cứu của Ruth A. Brenner tỉ lệ ngạt<br /> nước tại hồ bơi của chúng tôi thấp hơn và tỉ lệ<br /> ngạt do vật dụng chứa nước cao hơn. Sự khác<br /> biệt này có thể do thói quen sử dụng hồ bơi ở<br /> nước khác phổ biến hơn ở Việt Nam và ở Việt<br /> Nam thì thường dự trữ nước trong xô, chậu hơn.<br /> Nơi xảy ra tai nạn cũng thay đổi theo tuổi, giới<br /> và địa bàn cư trú.<br /> Tình huống xảy ra ngạt nước chủ yếu là do<br /> tai nạn sinh hoạt: trẻ ngạt nước khi đi biển, tắm<br /> sông (17%), chúi đầu vào xô, chậu đang chứa<br /> nước (18%), do té xuống ao hồ (63%). Đây là<br /> những tình huống phần nào có thể dự đoán<br /> trước và phòng ngừa được. Gia đình có trẻ nhỏ,<br /> đặc biệt trẻ ≤ 3 tuổi thì những vật dụng chứa<br /> nước cần có nắp đậy an toàn, giám sát trẻ cẩn<br /> thận để tránh xảy ra tai nạn.<br /> 34% trường hợp thời gian ước đoán chìm<br /> trong nước trên 5 phút. Kết quả này cho thấy rất<br /> nhiều trường hợp ngạt nước không được phát<br /> hiện kịp thời. Điều này sẽ ảnh hưởng đến tiên<br /> lượng của trẻ.<br /> Trong 107 trường hợp có hồi sức tại hiện<br /> trường chỉ 8% được hồi sức đúng, có đến 85%<br /> trẻ được xốc nước, bên cạnh đó là những xử trí<br /> sai lầm khác như hơ lửa, lăn lu, ép bụng. Những<br /> xử trí này không những không giúp ích gì cho<br /> trẻ mà còn làm nặng hơn đồng thời làm mất thời<br /> gian quí giá để hồi sức cho trẻ. Kết quả này cho<br /> thấy hiểu biết của người dân về sơ cứu ngạt<br /> nước chưa cao. Có một trường hợp cha là điều<br /> dưỡng vẫn tiến hành xốc nước cho trẻ. Một số<br /> <br /> Chuyên Đề Nhi Khoa<br /> <br /> nhân viên cứu hộ của hồ bơi cũng xốc nước cho<br /> nạn nhân rồi mới hà hơi thổi ngạt. Điều này nói<br /> lên rằng ngay cả nhân viên y tế hay nhân viên<br /> cứu hộ, những người được tin tưởng là có kiến<br /> thức, thực hành sơ cứu tốt, vẫn xử trí sai, vẫn<br /> chưa xóa bỏ được những tập quán sai lầm đã có<br /> từ lâu này. Qua đây cho thấy việc tuyên truyền,<br /> huấn luyện cách sơ cứu ngạt nước là hết sức cần<br /> thiết và có thể phải lặp đi lặp lại nhiều lần. Đối<br /> tượng hướng đến không chỉ là nhân viên cứu hộ,<br /> những người làm việc có liên quan đến tai nạn<br /> ngạt nước mà cả người dân không liên quan đến<br /> công tác cứu hộ. Trong nghiên cứu của chúng tôi<br /> có đến 91% người phát hiện ra trẻ là cha mẹ,<br /> hàng xóm, người đi đường…những người<br /> không liên quan đến việc cứu hộ.<br /> <br /> Đặc điểm lâm sàng<br /> Có 3 trường hợp chuyển viện từ tuyến trước<br /> đến bệnh viện Nhi Đồng 1 trong tình trạng mạch<br /> bằng 0, huyết áp bằng 0, điều này chứng tỏ quá<br /> trình chuyển viện chưa thật sự an toàn. Do vậy,<br /> việc tiếp tục huấn luyện thường xuyên cho<br /> tuyến trước về an toàn chuyển viện là cần thiết.<br /> Hầu hết trẻ đều có biểu hiện rối loạn về hô<br /> hấp lúc nhập viện (75%). Nguyên nhân của tổn<br /> thương hô hấp thường là do trẻ hít nước vào<br /> phổi hoặc do phản xạ co thắt thanh môn gây<br /> thiếu oxy, đưa đến hàng loạt những rối loạn trên<br /> các cơ quan khác do thiếu oxy mô(8). Tỉ lệ bệnh<br /> nhân có phù phổi trong nghiên cứu của chúng<br /> tôi là 4%, tỉ lệ này cũng tương đương với kết quả<br /> trong nghiên cứu của Phạm Thị Ngọc Lan<br /> (4%)(12).<br /> Đa số trẻ nhập viện có rối loạn tri giác: 36%<br /> lơ mơ và 28% hôn mê. Các tỉ lệ này cao hơn tỉ lệ<br /> trong nghiên cứu của Phạm Thị Ngọc Lan (lần<br /> lượt là 12% và 18%). Trẻ có rối loạn tri giác lúc<br /> nhập viện có kết quả điều trị xấu hơn trẻ không<br /> có rối loạn tri giác (p < 0,001).<br /> Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất cả các<br /> trẻ có hạ thân nhiệt đều tử vong hoặc di chứng<br /> thần kinh. Đây thông thường là một dấu hiệu<br /> tiên lượng nặng(8). Tỉ lệ trẻ ngạt nước có thân<br /> nhiệt ≤ 35oC trong nghiên cứu của Blasco Alonso<br /> <br /> 5<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản