intTypePromotion=1

Đặc điểm hình thái - cấu trúc của ẩn dụ tu từ trong thơ Xuân Quỳnh

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
93
lượt xem
2
download

Đặc điểm hình thái - cấu trúc của ẩn dụ tu từ trong thơ Xuân Quỳnh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ẩn dụ tu từ là một phương tiện đặc biệt trong xây dựng hình tượng nghệ thuật nhằm nâng cao hiệu lực biểu đạt của ngôn ngữ, và đây cũng chính là phương thức tu từ thường gặp trong thơ Xuân Quỳnh. Về mặt hình thái - cấu trúc, các ẩn dụ tu từ thường không đồng nhất về cấp độ và khác nhau về tính chất trong kết cấu nội tại.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đặc điểm hình thái - cấu trúc của ẩn dụ tu từ trong thơ Xuân Quỳnh

Lê Thị Như Nguyệt<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 72(10): 29 - 34<br /> <br /> ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI - CẤU TRÚC CỦA ẨN DỤ TU TỪ TRONG THƠ XUÂN QUỲNH<br /> Lê Thị Như Nguyệt*<br /> Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Ẩn dụ tu từ là một phương tiện đặc biệt trong xây dựng hình tượng nghệ thuật nhằm nâng cao hiệu<br /> lực biểu đạt của ngôn ngữ, và đây cũng chính là phương thức tu từ thường gặp trong thơ Xuân<br /> Quỳnh. Về mặt hình thái - cấu trúc, các ẩn dụ tu từ thường không đồng nhất về cấp độ và khác<br /> nhau về tính chất trong kết cấu nội tại. Xét về mặt hình thái - cấu trúc, trong thơ Xuân Quỳnh có 2<br /> nhóm ẩn dụ: Ẩn dụ tu từ có hình thái - cấu trúc là từ ngữ, ẩn dụ tu từ có hình thái - cấu trúc là kết<br /> cấu chủ - vị hay phát ngôn - câu. Việc đi sâu nghiên cứu đặc điểm hình thái - cấu trúc của ẩn dụ tu<br /> từ trong thơ Xuân Quỳnh sẽ giúp chúng ta tiếp cận một cách sâu hơn về phong cách nghệ thuật của<br /> tác giả nữ này trong nền thơ Việt Nam hiện đại dưới góc nhìn ngôn ngữ học.<br /> Từ khóa: Ẩn dụ, ẩn dụ tu từ, hình thái - cấu trúc, thơ Xuân Quỳnh<br /> <br /> 1. Xuân Quỳnh là một gương mặt tiêu biểu<br /> của nền thơ ca Việt Nam hiện đại. Thơ của<br /> chị đã đi vào lòng người đọc, khiến nhiều thế<br /> hệ độc giả say mê, vì đã thể hiện được nhiều<br /> cung bậc tình cảm, thể hiện sự ngọt bùi và<br /> cay đắng ở đời, là tiếng nói của tình yêu và<br /> tình mẫu tử, hồn hậu dung dị mà yêu thương<br /> da diết, đồng thời cũng in dấu nếp nghĩ nếp<br /> cảm của tâm hồn người Việt.<br /> Mặc dù các nhà nghiên cứu, phê bình văn học<br /> đã có những đánh giá, phân tích về nhiều mặt<br /> như: nội dung, tư tưởng, hình thức, đề tài, chủ<br /> đề... trong thơ Xuân Quỳnh, nhưng cho đến<br /> nay chưa có công trình chuyên biệt nào<br /> nghiên cứu kĩ lưỡng, thấu đáo về ngôn ngữ<br /> nghệ thuật trong thơ Xuân Quỳnh.<br /> Như đã biết, nghiên cứu ngôn ngữ văn<br /> chương là phải chỉ ra được đặc điểm ngôn từ<br /> nghệ thuật, trong đó có các biện pháp tu từ.<br /> Vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn vấn đề này để<br /> nghiên cứu với mục đích: góp thêm tiếng nói<br /> khẳng định những đóng góp của Xuân Quỳnh<br /> trong kho tàng thơ ca Việt Nam hiện đại.<br /> Trong hệ thống các phương tiện nhằm nâng<br /> cao hiệu lực biểu đạt của ngôn ngữ, ẩn dụ là<br /> cách thức đem lại hiệu quả đặc biệt trong xây<br /> dựng hình tượng nghệ thuật, và đây cũng<br /> chính là phương thức tu từ thường gặp trong<br /> ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh. Chính phương<br /> thức này đã góp phần tạo nên phong cách<br /> <br /> <br /> Tel: 0973216622; Email: lenguyet.dhtn@gmai.com<br /> <br /> riêng của tác giả trong nền văn học Việt Nam<br /> hiện đại. Ở bài viết này, chúng tôi xin bàn về<br /> đặc điểm hình thái – cấu trúc của ẩn dụ tu từ<br /> trong thơ Xuân Quỳnh.<br /> 2. Ẩn dụ là một trong những biểu hiện độc<br /> đáo trong ngôn ngữ của một cộng đồng. Đây<br /> là phương thức chuyển nghĩa dựa vào nét<br /> tương đồng giữa hai đối tượng trên cơ sở của<br /> sự liên tưởng. Đây được xem là cách tạo<br /> nghĩa mới của từ, tùy theo khả năng sáng tạo<br /> của người nói, và điều quan trọng hơn, nghĩa<br /> mới ấy phải phù hợp với thẩm mĩ từng cộng<br /> đồng nhất định.<br /> Dựa trên các quan niệm: Ẩn dụ tu từ là cách<br /> lâm thời lấy tên gọi của sự vật này để biểu thị<br /> sự vật kia trên cơ sở mối liên hệ về nét tương<br /> đồng giữa hai đối tượng, và: Về mặt hình thái<br /> - cấu trúc, các ẩn dụ tu từ thường không đồng<br /> nhất về cấp độ và khác nhau về tính chất<br /> trong kết cấu nội tại, từ thực tế khảo sát 9 tập<br /> thơ với 196 bài của Xuân Quỳnh, chúng ta có<br /> kết quả như sau:<br />  Xét về mặt hình thái - cấu trúc, trong thơ<br /> Xuân Quỳnh có 2 nhóm ẩn dụ:<br /> - Ẩn dụ tu từ có hình thái - cấu trúc là từ ngữ,<br /> ví dụ:<br /> Hạt mưa sa trên bùn lầy nước đọng<br /> Một kiếp người nhắm mắt lệ còn rơi…<br /> [4, tr48]<br /> Chỉ có thuyền mới hiểu<br /> Biển mênh mang nhường nào<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> | 29<br /> <br /> Lê Thị Như Nguyệt<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Chỉ có biển mới biết<br /> Thuyền đi đâu về đâu…<br /> [4, tr 80]<br /> - Ẩn dụ tu từ có hình thái - cấu trúc là kết cấu<br /> chủ - vị hay phát ngôn - câu, ví dụ:<br /> Áo chàm xanh, bài ca cháy đỏ<br /> Mảnh trăng ngàn nghiêng nhớ ánh đèn xa<br /> [10, tr 35]<br /> Đất nước thức vạn đêm<br /> Chưa một ngày vui trọn<br /> [7, tr 22]<br /> Căn cứ vào tính chất đơn hay phức của hình<br /> thái - cấu trúc, có thể phân biệt ẩn dụ là từ với<br /> ẩn dụ là ngữ, ẩn dụ câu đơn với ẩn dụ câu<br /> ghép trong thơ Xuân Quỳnh:<br /> - Ẩn dụ đơn có hình thái - cấu trúc là những<br /> từ đơn, ví dụ:<br /> Nguồn nghe lời của gió<br /> Kể chuyện về biển khơi<br /> [8, tr 30]<br /> Tàu hối hả ngược xuôi<br /> Bao điều chưa kịp nói<br /> [7, tr31]<br /> - Ẩn dụ phức có hình thái - cấu trúc là một<br /> ngữ, ví dụ:<br /> Áo tứ thân, tóc đuôi gà<br /> Tiếng yêu ông nói cùng bà ngày xưa<br /> [9, tr 58]<br /> Con vành khuyên của mẹ<br /> Vành khuyên tập xuống hầm từ bé<br /> [9, tr 124]<br /> - Ẩn dụ đơn có hình thái - cấu trúc là một<br /> phát ngôn - câu đơn, ví dụ:<br /> Lụa tơ thành phố hàng Đào<br /> Hàng Đường làm ngọt lời chào đón đưa<br /> [10, tr 7]<br /> Một ngày kia cây bạch đàn ra đi<br /> Theo tay người đến cùng đồi đá<br /> [6, tr 83]<br /> - Ẩn dụ phức có hình thái - cấu trúc là<br /> một phát ngôn - câu ghép, ví dụ:<br /> Anh nằm trên bãi cát cửa sông<br /> Dòng nước lợ mang máu anh về bể<br /> Sóng ve vuốt bàn chân gió thì thầm rất khẽ<br /> [6, tr 95]<br /> Ngủ đi vầng trán yêu thương<br /> <br /> 72(10): 29 - 34<br /> <br /> Bức tranh đã ngủ mặt tường lặng im<br /> [10, tr 79]<br /> Có thể trình bày khái quát các hình thái cấu trúc thuộc các đơn vị ngôn ngữ được sử<br /> dụng để ẩn dụ tu từ trong thơ Xuân Quỳnh<br /> theo sơ đồ sau:<br /> Ẩn dụ<br /> tu từ<br /> <br /> Ẩn dụ tu<br /> từ là<br /> phát<br /> ngôn<br /> <br /> Ẩn dụ tu<br /> từ là từ<br /> ngữ<br /> <br /> Ẩn dụ<br /> là từ<br /> <br /> Ẩn dụ<br /> là ngữ<br /> <br /> Ẩn dụ là<br /> phát<br /> ngôn câu đơn<br /> <br /> Ẩn dụ<br /> là<br /> phát<br /> ngôn câu<br /> ghép<br /> <br /> Sau đây xin trình bày kĩ hơn về hai loại hình<br /> thái - cấu trúc của ẩn dụ tu từ đã nói ở trên:<br /> Ẩn dụ tu từ trên cơ sở từ ngữ<br /> Qua khảo sát thống kê, chúng ta hình dung<br /> được bức tranh hình thái - cấu trúc của ẩn dụ<br /> là từ ngữ qua bảng thống kê tần số xuất hiện<br /> của chúng trong thơ Xuân Quỳnh như sau:<br /> Tấn số xuất hiện<br /> Hình thái – cấu trúc<br /> <br /> Số lượng<br /> <br /> Tỉ lệ %<br /> <br /> Từ<br /> <br /> 247<br /> <br /> 45,5<br /> <br /> Ngữ<br /> <br /> 296<br /> <br /> 54,5<br /> <br /> [3, tr 65]<br /> Có thể nhận thấy: Một trong những đặc điểm<br /> về hình thái - cấu trúc của ẩn dụ tu từ trong<br /> thơ Xuân Quỳnh là tác giả ưa dùng các ngữ<br /> để ẩn dụ hóa (54,5%).<br /> Về bản chất, sử dụng ngữ để ẩn dụ hóa tức là<br /> đã sử dụng các đơn vị định danh bậc hai, có<br /> thể xem đó chính là sự mở rộng các đơn vị<br /> định danh bậc một mà có. Ví dụ:<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> | 30<br /> <br /> Lê Thị Như Nguyệt<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Ôi lò nung như tim đập bồi hồi<br /> Lửa của yêu thương, lửa niềm tin, căm giận<br /> ...<br /> Dẫu có chết quyết không dời chỗ đứng<br /> Phải giữ lò, giữ lấy lửa đời ta<br /> ...<br /> Thành phố Cảng hôm nay đỏ mắt nhìn lên<br /> Niềm xúc động như sóng ngầm lẳng lặng<br /> Soi mặt nhau biết lửa vẫn còn<br /> [5, tr 57]<br /> Ánh lửa rừng thức suốt đêm khuya<br /> Quây quần lại tiếng hát người du kích<br /> [7, tr 15]<br /> Lửa ở đây là từ được lấy làm từ cơ sở để tạo<br /> ra những biến thể, tổ hợp mới: lửa của yêu<br /> thương, lửa niềm tin, căm giận, lửa của đời<br /> ta, ánh lửa rừng...<br /> Hay như tàu so với tiếng con tàu, con tàu lạ...<br /> trong các câu thơ sau:<br /> Có khi tàu ngẩn ngơ<br /> Trước một màu hoa súng<br /> ...<br /> Nghe niềm vui rạo rực dưới chân<br /> Nghe trong máu tiếng con tàu réo gọi<br /> [9, tr 78, 80]<br /> Ngủ đi, người của em yêu<br /> Này, con tàu lạ vừa neo bến chờ<br /> [10, tr 79]<br /> Hoặc như hoa so với hoa nếp, hoa diếp vàng,<br /> hoa nghệ dại, hoa sim tím...:<br /> Hoa trìu mến mảnh mai như chấm nắng<br /> Như thơ ca như kỉ niệm của người<br /> Như tình yêu dưới bom đạn ngút trời<br /> [7, tr 40]<br /> Hoa nếp mỏng manh trước tầm gió thổi<br /> Hoa diếp vàng cô độc giữa âm u<br /> Và bên đường hoa nghệ dại ngẩn ngơ<br /> Hoa sim tím một nỗi buồn hoang dã<br /> [10, tr 63]<br /> Như đã trình bày ở trên, những đơn vị định<br /> danh gốc đã được tác giả dùng để cấu tạo các<br /> đơn vị định danh bậc hai trong thơ. Quá trình<br /> một từ đơn có tư cách như một đơn vị định<br /> danh gốc được dùng làm cơ sở để tạo nên các<br /> <br /> 72(10): 29 - 34<br /> <br /> đơn vị định danh bậc hai có thể được hình<br /> dung qua hai con đường:<br /> Thứ nhất là con đường chuyển nghĩa (kể cả<br /> nghĩa chuyển ấy có tính chất ổn định, được<br /> cộng đồng bản ngữ chấp nhận và có thể đưa<br /> vào từ điển, hoặc chỉ có tính chất lâm thời<br /> trong một ngữ cảnh cụ thể).<br /> Ví dụ: Hình tượng "sóng" trong bài thơ cùng<br /> tên Sóng của Xuân Quỳnh không còn mang<br /> nghĩa gốc (chỉ "hiện tượng mặt nước dao<br /> động nâng lên hạ xuống trông tựa như đang di<br /> chuyển, chủ yếu do gió gây nên"), mà được<br /> dùng với nghĩa phái sinh có tính lâm thời chỉ<br /> người con gái đang yêu với một khát vọng<br /> tình yêu chân thành, hồn nhiên:<br /> Dữ dội và dịu êm<br /> Ồn ào và lặng lẽ<br /> Sóng không hiểu nổi mình<br /> Sóng tìm ra tận bể<br /> ...<br /> Ôi con sóng nhớ bờ<br /> Ngày đêm không ngủ được<br /> [11, tr 11]<br /> Hay trong bài Con tàu, tác giả đã viết:<br /> Tàu hãy mang giùm nhau<br /> Tình yêu và nỗi nhớ<br /> Đến một nơi rất xa<br /> Người yêu ta ở đó<br /> [9, tr48]<br /> Tàu trong câu thơ trên cũng không được sử<br /> dụng với nghĩa gốc (chỉ "phương tiện vận tải<br /> lớn và hoạt động bằng máy móc phức tạp"),<br /> mà đã được chuyển nghĩa chỉ người mang lại<br /> hạnh phúc, tình yêu thương, niềm vui đến cho<br /> mọi người.<br /> Thứ hai là con đường sử dụng các từ ngữ với<br /> vai trò là gốc (tạm gọi là "từ ngữ gốc") làm<br /> chất liệu, cơ sở để tạo ra những đơn vị định<br /> danh bậc hai bằng cách kết hợp với các đơn vị<br /> khác tạo thành một đơn vị có hình thái - cấu<br /> trúc là một từ phức hay một ngữ.<br /> Ví dụ: Thạch Sanh trong một bài thơ của<br /> Xuân Quỳnh không còn chỉ nhân vật cổ tích<br /> ngày nào, mà được dùng với nghĩa chuyển có<br /> tính chất lâm thời chỉ những chú bộ đội đánh<br /> giặc; Hay đại bàng không còn là "một loài<br /> chim ăn thịt cỡ lớn, cánh dài và rộng, chân có<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> | 31<br /> <br /> Lê Thị Như Nguyệt<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> lông đến tận ngón, sống ở núi cao" trong<br /> truyện cổ tích nữa, mà đã là hình ảnh ẩn dụ<br /> chỉ máy bay hung hãn của giặc Mĩ trên bầu<br /> trời Tổ quốc:<br /> Con ngủ ngày trong tiếng bà vẫn kể<br /> Mơ thấy ban đêm, con vạc con cò<br /> Chú bê con đòi mẹ lái ô tô<br /> Chú Thạch Sanh bắn đại bàng bằng tên lửa<br /> [6, tr 61]<br /> ...<br /> Căn cứ vào đặc điểm của các từ ngữ gốc được<br /> dùng làm ẩn dụ hóa, ta có thể phân loại các ẩn<br /> dụ tu từ phức có hình thái - cấu trúc là các ngữ<br /> này thành các tiểu loại khác nhau như sau:<br /> - Ẩn dụ tu từ phức có hình thái - cấu trúc là<br /> một danh ngữ. Kiểu ẩn dụ này được Xuân<br /> Quỳnh sử dụng nhiều nhất (264/543 lượt,<br /> chiếm 48,6%), ví dụ:<br /> Đất nước ngày sum họp<br /> Nơi đây, cầu nối nhịp, tay cầm tay<br /> [7, tr 68]<br /> Qua bao ngày lửa đạn<br /> Đất về với mùa xuân<br /> Như em về với anh<br /> Qua những ngày sóng gió<br /> [7, tr 91]<br /> - Ẩn dụ tu từ phức có hình thái - cấu trúc là<br /> một động ngữ. Kiểu này được sử dụng không<br /> nhiều (25/543 lượt, chiếm 4,6%), ví dụ:<br /> Tiếng đàn anh luyến luyến<br /> Nghe đầm ấm ngọt ngào<br /> [4, tr 52]<br /> Thương cây trẻ, đá rộng lòng cởi mở<br /> Hiểu đồi già, cây bén rễ sâu<br /> [6, tr 83]<br /> - Ẩn dụ tu từ phức có hình thái - cấu trúc là một<br /> tính ngữ. Đây là kiểu ẩn dụ được nhà thơ sử<br /> dụng ít nhất (7/543 lượt, chiếm 1,3%), ví dụ:<br /> Con chào mào ngọt giọng hót vang<br /> Vị thơm lự rơi rơi theo từng hạt<br /> [5, tr 44]<br /> Với cái gió làm chín lừ da mặt<br /> Mảnh đất cằn khoai sắn ít sinh sôi<br /> Tôi sẵn lòng đem hiến cả đời tôi<br /> Cho cát trắng và gió Lào quạt lửa<br /> [6, tr 26]<br /> Một số nhận xét<br /> <br /> 72(10): 29 - 34<br /> <br /> - Ẩn dụ tu từ trên cơ sở đơn vị định danh gốc<br /> là từ ngữ chiếm một số lượng khá lớn trong<br /> tác phẩm thơ Xuân Quỳnh (79%). Đặc biệt,<br /> nhà thơ ưa dùng ẩn dụ tu từ có hình thái - cấu<br /> trúc là ngữ (42,9%).<br /> - Việc dùng ngữ để ẩn dụ hóa là do sự mở<br /> rộng định danh bậc một. Từ một từ đơn, với<br /> tư cách là đơn vị định danh gốc được nhà thơ<br /> chọn làm cơ sở, trung tâm để tạo ra các ngữ<br /> (đơn vị định danh bậc hai). Quá trình này có<br /> thể diễn ra theo hai con đường: Con đường<br /> chuyển nghĩa và con đường sử dụng các đơn<br /> vị gốc làm cơ sở để tạo ra những đơn vị định<br /> danh bậc hai bằng cách kết hợp với các đơn vị<br /> tạo thành một đơn vị có hình thái - cấu trúc là<br /> một từ phức hay một ngữ.<br /> - Ở ẩn dụ tu từ phức có hình thái - cấu trúc là<br /> một ngữ có tiểu loại nhỏ: Ẩn dụ tu từ phức có<br /> hình thái - cấu trúc là một danh ngữ, động<br /> ngữ và tính ngữ. Trong đó, tác giả thường<br /> xuyên sử dụng ẩn dụ tu từ phức có hình thái cấu trúc là một danh ngữ (37%), tiếp đến là<br /> ẩn dụ tu từ phức có hình thái - cấu trúc là một<br /> động ngữ (4,6%), ẩn dụ tu từ phức có hình<br /> thái - cấu trúc là một tính ngữ (1,3%).<br /> Ẩn dụ tu từ trên cơ sở phát ngôn - câu<br /> Phát ngôn - câu cũng được Xuân Quỳnh chọn<br /> làm phương tiện để sáng tạo những ẩn dụ tu từ.<br /> Dựa vào tính chất đơn hay phức của khung vị<br /> ngữ, có thể phân loại các ẩn dụ tu từ có hình<br /> thái - cấu trúc là phát ngôn - câu trong thơ<br /> Xuân Quỳnh thành 2 tiểu loại:<br /> Ẩn dụ tu từ có hình thái - cấu trúc là phát<br /> ngôn - câu đơn<br /> Ẩn dụ tu từ có hình thái - cấu trúc là phát<br /> ngôn - câu đơn được cấu tạo trên cơ sở một<br /> khung vị ngữ, trong đó có một vị từ (động từ,<br /> tính từ) làm trung tâm vị ngữ. Đây là kiểu kết<br /> cấu được nhà thơ sử dụng nhiều nhất, ví dụ:<br /> Nhìn đâu cũng thấy nụ cười<br /> Hàng phi lao // hát những lời mát xanh<br /> C<br /> V<br /> [11, tr 28]<br /> Câu thơ trên có chủ ngữ là hàng phi lao, vị<br /> ngữ hát những lời mát xanh, vị từ hát là động<br /> từ làm trung tâm vị ngữ.<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> | 32<br /> <br /> Lê Thị Như Nguyệt<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Dế con // cũng biết đào hầm<br /> C<br /> V<br /> Con cua chả ngủ canh phòng đạn bom<br /> [6, tr 77]<br /> Cờ // đuổi hàng rào dây thép gai<br /> C<br /> V<br /> Cờ ngự trên thành phố đổ<br /> [6, tr 41]<br /> Ở câu này, có thể thấy: chủ ngữ: dế con, cờ; vị<br /> ngữ: cũng biết đào hầm, đuổi hàng rào dây<br /> thép gai; vị từ trung tâm của vị ngữ: biết, đuổi.<br /> Ẩn dụ tu từ có hình thái - cấu trúc là phát<br /> ngôn - câu ghép<br /> Ẩn dụ tu từ có hình thái - cấu trúc là phát<br /> ngôn - câu ghép được cấu tạo trên cơ sở từ hai<br /> khung vị ngữ trở lên, có số lượng vị từ tương<br /> ứng làm trung tâm vị ngữ. Các khung vị ngữ<br /> không bao hàm lẫn nhau, liên hệ với nhau<br /> bằng những quan hệ ngữ pháp nhất định. Kiểu<br /> kết cấu này chiếm một số lượng rất nhỏ, trong<br /> các bài thơ của Xuân Quỳnh chỉ thấy xuất<br /> hiện 3/543 lượt, ví dụ:<br /> Trời đã hết những loài quỉ dữ<br /> Chim // liền bầy, cành // hết phải xa cây<br /> C1<br /> V1<br /> C2<br /> V2<br /> [7, tr 63]<br /> Anh nằm trên bãi cát cửa sông<br /> Dòng nước lợ mang máu anh về bể<br /> Sóng//ve vuốt bàn chân gió//thì thầm rất khẽ<br /> C1<br /> V1<br /> C2<br /> V2<br /> [6, tr 95]<br /> Ngủ đi vầng trán yêu thương<br /> Bức tranh // đã ngủ mặt tường // lặng im<br /> C1<br /> V1<br /> C2<br /> V2<br /> [10, tr 79]<br /> ...<br /> Như vậy, các ẩn dụ tu từ có hình thái - cấu<br /> trúc là phát ngôn - câu ghép được nhà thơ xây<br /> dựng trên cơ sở hai khung vị ngữ.<br /> 3. Trong quá trình sáng tạo ngôn từ nghệ<br /> thuật ẩn dụ có thể được xem là phương tiện<br /> biểu cảm đặc biệt. Phép tu từ này xuất hiện<br /> <br /> 72(10): 29 - 34<br /> <br /> trong thơ Xuân Quỳnh với nhiều kiểu loại đa<br /> dạng, góp phần thể hiện cá tính sáng tạo riêng<br /> của nhà thơ về mặt ngữ nghĩa.<br /> Đặc điểm hình thái - cấu trúc của ẩn dụ tu từ<br /> trong thơ Xuân Quỳnh được chia làm hai<br /> nhóm lớn: ẩn dụ trên cơ sở từ ngữ và ẩn dụ<br /> trên cơ sở phát ngôn - câu. Ẩn dụ tu từ trên cơ<br /> sở từ ngữ có một số lượng khá lớn trong thơ<br /> Xuân Quỳnh. Trong đó, ẩn dụ tu có hình thái<br /> - cấu trúc là ngữ được nhà thơ sử dụng nhiều<br /> hơn cả. Nhà thơ thường sử dụng ẩn dụ tu từ<br /> phức có hình thái - cấu trúc là một danh ngữ,<br /> tiếp đến là động ngữ và tính ngữ.<br /> Ẩn dụ tu từ trên cơ sở là phát ngôn - câu trong<br /> thơ Xuân Quỳnh thuộc về 2 tiểu loại: ẩn dụ có<br /> hình thái - cấu trúc là phát ngôn - câu đơn<br /> được nhà thơ sử dụng nhiều nhất, nhiều hơn<br /> hẳn so với ẩn dụ có hình thái - cấu trúc là phát<br /> ngôn - câu ghép.<br /> Nghiên cứu đặc điểm hình thái - cấu trúc của<br /> ẩn dụ tu từ trong thơ Xuân Quỳnh giúp chúng<br /> ta tiếp cận một cách chân thực phong cách<br /> nghệ thuật của nhà thơ dưới góc nhìn ngôn<br /> ngữ học. Để hiểu đầy đủ và sâu sắc hơn nữa<br /> về thơ Xuân Quỳnh, cần tiếp tục nghiên cứu ở<br /> những bình diện khác nữa như: thể thơ, nhịp<br /> thơ, các phương thức tu từ ngữ nghĩa theo<br /> quan hệ tổ hợp, các lớp từ ngữ, cú pháp thơ,<br /> đặc điểm ngữ nghĩa của ẩn dụ tu từ,... Về<br /> phương diện Phong cách học, cần tìm hiểu<br /> thêm về các phương thức tu từ khác, ngoài ẩn<br /> dụ, là: so sánh, phóng đại, tượng trưng, nói<br /> giảm, hoán dụ... Chúng tôi hi vọng sẽ có dịp<br /> tiếp tục xem xét các khía cạnh trên, để có cơ<br /> hội hiểu rõ hơn nữa về phong cách thơ của nữ<br /> tác giả với những bài thơ và có cuộc đời còn<br /> mãi được truyền tụng này.<br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> [1]. Hữu Đạt (2001), Phong cách học tiếng Việt<br /> hiện đại, Nxb Đại Học Quốc Gia, H.<br /> [2]. Đinh Trọng Lạc (2005), 99 phương tiện và<br /> biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb GD, H.<br /> [3]. Lê Thị Như Nguyệt (2009), So sánh và ẩn dụ<br /> tu từ trong thơ Xuân Quỳnh, Luận văn Thạc sĩ,<br /> ĐH Sư phạm - ĐH Thái Nguyên.<br /> [4]. Xuân Quỳnh (1963), Tơ tằm - chồi biếc (in<br /> chung Cẩm Lai), Nxb Văn học, H.<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> | 33<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2