intTypePromotion=1
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 143
            [banner_name] => KM - Normal
            [banner_picture] => 316_1568104393.jpg
            [banner_picture2] => 413_1568104393.jpg
            [banner_picture3] => 967_1568104393.jpg
            [banner_picture4] => 918_1568188289.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 6
            [banner_link] => https://alada.vn/uu-dai/nhom-khoa-hoc-toi-thanh-cong-sao-ban-lai-khong-the.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-11 14:51:45
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Đặc điểm hình thái và phân bố của trùn chỉ (Limnodrilus hoffmeisteri Claparede, 1862) trong ao nuôi thủy sản nước ngọt

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
45
lượt xem
9
download

Đặc điểm hình thái và phân bố của trùn chỉ (Limnodrilus hoffmeisteri Claparede, 1862) trong ao nuôi thủy sản nước ngọt

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu này xác định đặc điểm hình thái và sinh khối của trùn chỉ, loài đóng vai trò là thức ăn tự nhiên trong ao nuôi thủy sản, góp phần đề xuất giải pháp sử dụng hiệu quả nguồn thức ăn này. Nghiên cứu được thực hiện ở các ao nuôi cá của trại thực nghiệm Ninh Phụng- Ninh Hòa. Chiều dài của các cá thể thu được dao động từ 14-40mm, trung bình 21.34 ± 5,76mm, cơ thể phân đốt rõ ràng. Số lượng đốt của các cá thể dao động từ 47-85 đốt, trung bình là 60±10 đốt/cá thể. Trùn chỉ phân bố ở hầu hết các ao nuôi ngoại trừ ao cá trê phi. Mật độ loài L. hoffmeisteri trên tổng mật độ giun ít tơ thấp nhất (28,44 ± 4,25%) ở ao nuôi ghép, cao nhất ở ao ương giống cá rô phi bằng thức ăn chế biến chiếm 42,06 ± 8,36%.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đặc điểm hình thái và phân bố của trùn chỉ (Limnodrilus hoffmeisteri Claparede, 1862) trong ao nuôi thủy sản nước ngọt

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 4/2016<br /> <br /> THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC<br /> <br /> ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ PHÂN BỐ CỦA TRÙN CHỈ (Limnodrilus<br /> hoffmeisteri Claparede, 1862) TRONG AO NUÔI THỦY SẢN NƯỚC NGỌT<br /> MORPHOLOGICAL CHARACTERISTICS AND DISTRIBUTION OF OLIGOCHAETE<br /> (Limnodrilus hoffmeisteri Claparede, 1862) IN FRESHWATER AQUACULTURE PONDS<br /> Nguyễn Đình Mão1, Đinh Thế Nhân2, Trương Thị Bích Hồng1, Nguyễn Thị Thúy1<br /> Ngày nhận bài: 13/01/2016; Ngày phản biện thông qua: 25/5/2016; Ngày duyệt đăng: 15/12/2016<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Nghiên cứu này xác định đặc điểm hình thái và sinh khối của trùn chỉ, loài đóng vai trò là thức ăn tự<br /> nhiên trong ao nuôi thủy sản, góp phần đề xuất giải pháp sử dụng hiệu quả nguồn thức ăn này. Nghiên cứu<br /> được thực hiện ở các ao nuôi cá của trại thực nghiệm Ninh Phụng- Ninh Hòa. Chiều dài của các cá thể thu<br /> được dao động từ 14-40mm, trung bình 21.34 ± 5,76mm, cơ thể phân đốt rõ ràng. Số lượng đốt của các cá thể<br /> dao động từ 47-85 đốt, trung bình là 60±10 đốt/cá thể. Trùn chỉ phân bố ở hầu hết các ao nuôi ngoại trừ ao cá<br /> trê phi. Mật độ loài L. hoffmeisteri trên tổng mật độ giun ít tơ thấp nhất (28,44 ± 4,25%) ở ao nuôi ghép, cao<br /> nhất ở ao ương giống cá rô phi bằng thức ăn chế biến chiếm 42,06 ± 8,36%.<br /> Từ khoá: ao nuôi thủy sản, giun ít tơ, trùn chỉ (L. hoffmeisteri)<br /> ABSTRACT<br /> This study determined morphological characteristics and biomass of L.hoffmeisteri that played the role<br /> as a natural food in aquaculture pond, contributing to propose solution to efficient use this source of food. The<br /> study was carried out in the fish ponds of empirical farm at Ninh Phung -Ninh Hoa. The length of collected<br /> individuals varied from 14 to 40 mm, being average at 21.34 ± 5.76 mm, with clearly segmented body. The<br /> segment of individuals varied from 47 to 85, being average at 60±10 segments/individual. This species was<br /> distributed in most of the ponds except catfishes ones. Density of the species devided by oligochaete density<br /> was lowest (28.44 ± 4,25%) in polyculture ponds, highest in tilapia nursing ponds by processed food, taking<br /> 42.06 ± 8,36%.<br /> Keyword: aquaculture ponds, oligochaete, L. hoffmeisteri<br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Trùn chỉ không chỉ là thức ăn tự nhiên và<br /> yêu thích của hầu hết các loài cá ăn đáy mà<br /> chúng còn đóng vai trò rất quan trong trong quá<br /> trình chuyển hoá hợp chất hữu cơ dư thừa, cải<br /> tạo nền đáy, tiêu diệt mầm bệnh gây hại cho<br /> đối tượng nuôi thuỷ sản sống ở nền đáy ao.<br /> Bởi vì, giun đốt nói chung, trùn chỉ nói riêng<br /> <br /> 1<br /> 2<br /> <br /> có sức tiêu hóa lớn. Một tấn trùn có thể phân<br /> hủy được 70-80 tấn rác hữu cơ, hoặc 50 tấn<br /> gia súc trong một quý [3]. Thêm vào đó, trong<br /> quá trình ăn bùn đáy, trùn ăn và tiêu diệt luôn<br /> cả các tác nhân gây bệnh có trong bùn. Phân<br /> của chúng là môi trường tốt cho các loại vi<br /> sinh vật hữu ích phát triển [2]. Ngoài ra, trùn<br /> chỉ còn là sinh vật chỉ thị sinh học rất tốt.<br /> <br /> Viện Nuôi trồng thủy sản - Trường Đại học Nha Trang<br /> Trường Đại học Nông Lâm Tp. HCM<br /> <br /> NHA TRANG UNIVERSITY • 85<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> Chúng thường phân bố ở khu vực nền đáy có<br /> hàm lượng chất hữu cơ cao. Mật độ của trùn<br /> chỉ tăng cao khi thuỷ vực trở lên ô nhiễm hữu<br /> cơ. Do đó, thu mẫu xác định sinh khối của trùn<br /> chỉ trong ao nuôi thuỷ sản có thể biết được<br /> chất lượng nước ao nuôi. Từ đó có biện pháp<br /> điều chỉnh lượng thức ăn hoặc thả nuôi ghép<br /> các đối tượng khác nhau để vừa sử dụng hiệu<br /> quả nguồn thức ăn đưa vào trong ao nuôi, vừa<br /> khai thác được nguồn thức ăn tự nhiên có sẵn<br /> trong ao, đồng thời quản lý được chất lượng<br /> nước của thuỷ vực.<br /> Mặc dù, trùn chỉ có vai trò rất lớn đối với ao<br /> nuôi thuỷ sản nước ngọt nhưng có rất ít nghiên<br /> cứu về khả năng phân bố của chúng trong các<br /> dạng thuỷ vực này. Duy nhất, tác giả Thái Trần<br /> Bái cho thấy, trùn chỉ phân bố tự nhiên và có thể<br /> kết với nhau tạo thành búi màu hồng trong ao<br /> nuôi trồng thủy sản nói chung [1]. Vì vậy, chúng<br /> tôi đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm hình thái<br /> và khả năng phân bố, mật độ của trùn chỉ ở các<br /> ao nuôi thuỷ sản nhằm xác định nguồn lợi thức<br /> ăn tự nhiên trong ao, từ đó đề xuất giải pháp tận<br /> dụng nguồn thức ăn này để giảm lượng thức<br /> ăn đưa vào ao nuôi, giảm chi phí sản xuất góp<br /> phần nâng cao lợi nhuận trong nuôi trồng thủy<br /> sản các đối tượng nước ngọt.<br /> II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> 1. Đối tượng nghiên cứu:<br /> Limnodrilus hoffmeisteri Claparede, 1862<br /> 2. Địa điểm nghiên cứu<br /> Đặc điểm hình thái và phân tích các yếu tố<br /> môi trường sinh thái được tiến hành tại phòng<br /> thí nghiệm sinh thái thuộc khu Công nghệ cao<br /> trường Đại học Nha Trang.<br /> Trùn chỉ được thu mẫu trong các ao nuôi<br /> thủy sản ở trại thực nghiệm Nuôi trồng thủy<br /> sản – Viện nuôi trồng thủy sản tại Ninh Hòa Khánh Hòa.<br /> 3. Phương pháp nghiên cứu<br /> 3.1. Thu mẫu<br /> Mẫu nước ở tầng giữa của thủy vực được<br /> thu bằng Batomet, sau đó dùng ống nhựa<br /> <br /> 86 • NHA TRANG UNIVERSITY<br /> <br /> Số 4/2016<br /> hút nước vào chai nút mài 125ml và chai nhựa<br /> 500ml, cố định mẫu đưa về phòng thí nghiệm để<br /> phân tích các thông số môi trường nước. Trên<br /> mỗi chai mẫu đều được dán nhãn ghi rõ thông<br /> tin loại mẫu, ngày, giờ và địa điểm thu mẫu.<br /> Mẫu nền đáy được thu bằng gầu Petersen<br /> có độ mở rộng của miệng 0,02 m2. Mỗi vị trí<br /> khảo sát thu 5 gầu theo mặt cắt ngang của<br /> thủy vực. Sau đó mẫu vật nền đáy được cho<br /> vào các túi nilon có ghi nhãn để đưa về phòng<br /> thí nghiệm xác định mật độ trùn chỉ và phân<br /> tích nền đáy.<br /> 3.2. Phân tích mẫu<br /> Nhiệt độ được đo bằng nhiệt kế thủy ngân,<br /> pH được đo bằng test pH tại điểm khảo sát thu<br /> mẫu. Xác định nồng độ oxy hòa tan trong nước<br /> theo phương pháp Winkler, nhu cầu oxy hòa<br /> tan (BOD), oxy hóa học (COD) theo phương<br /> pháp Permanganat, tổng lượng chất rắn lơ<br /> lửng trong nước (TSS), chất đáy theo phương<br /> pháp sa lắng cơ học, hàm lượng chất hữu cơ<br /> trong đất (OM) theo tài liệu của Nguyễn Đình<br /> Trung (2004) [5] trong phòng thí nghiệm.<br /> Mật độ loài được tính theo công thức<br /> N=10ΣXi. Trong đó: N mật độ (cá thể.m-2); Xi<br /> số lượng cá thể.<br /> Định loại các loài giun ít tơ có trong mẫu<br /> theo tài liệu phân loại học của Đặng Ngọc<br /> Thanh và ctv, (1980)(4). Xác định đặc điểm hình<br /> thái, đếm số lượng đốt và đo chiều dài 30 cá thể<br /> trùn chỉ (L.hoffmeisteri). Trùn chỉ thu về được cố<br /> định và bảo quản trong dung dịch cồn 70%, sau<br /> đó lấy mẫu để đo.chiều dài cơ thể bằng thước<br /> nhựa có chia vạch tới mm. Đặc điểm hình thái,<br /> số đốt được quan sát và đếm dưới kính hiển<br /> vi quang học hai mắt hiệu Olympus BX41, sản<br /> xuất taị Nhật Bản, gắn máy chụp ảnh Olympus<br /> C-7070, sản xuất tại Nhật Bản.<br /> Số liệu đã thu thập được xử lý sơ bộ với<br /> chương trình Excel và xử lý thống kê bằng phần<br /> mềm SPSS 18, so sánh sự khác biệt giữa các<br /> nghiệm thức (ANOVA) sau đó sử dụng phép<br /> thử Duncan để kiểm chứng. Toàn bộ số liệu<br /> trong các bảng được trình bày dưới dạng giá trị<br /> trung bình (Mean)± độ lệch chuẩn (SD).<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN<br /> 1. Đặc điểm hình thái<br /> Trùn chỉ (L. hoffmeisteri) phân bố ao nuôi<br /> thủy sản có chiều dài dao động từ 14-40 mm,<br /> trung bình là 21,34±5,76 mm/con. Cơ thể trùn<br /> chỉ phân đốt rõ ràng với số lượng đốt dao giao<br /> động từ 47-85, trung bình 60 ± 10 đốt/con. Kết<br /> quả nghiên cứu ít có sự sai khác với quần thể<br /> trùn chỉ ở sông Chao Phraya Thái Lan. Chiều<br /> dài trung bình (25,52 ±3,29 mm), số đốt trung<br /> bình/cá thể (64,8±13,34) [6]. Số đốt của trùn<br /> chỉ dao động lớn vì trong quá trình phát triển<br /> ở hậu môn còn giữ vùng sinh trưởng và vùng<br /> này tạo dần các đốt từ trước ra sau, trước tiên<br /> <br /> Số 4/2016<br /> là tách các đôi túi thể xoang về phía trước rồi<br /> phân đốt phía ngoài. Các đốt cứ tiếp tục nhân<br /> lên cho đến khi đạt số đốt trưởng thành [1].<br /> Phần trước miệng ở đầu bị tiêu giảm, tấm<br /> trước miệng vắn kết với tua quanh miệng tạo<br /> thành hình tam giác, tiết diện cắt ngang đuôi<br /> là hình tròn. Tơ lưng và tơ bụng đều có cùng<br /> một kiểu tơ hình chữ S. Răng đỉnh thanh hơn<br /> và hơn ngắn hơn so với răng gốc. Mỗi một<br /> chùm tơ trước đốt sinh đốt sinh dục thường có<br /> từ 4-8 lông cứng. Sau đốt sinh dục số lượng<br /> lông cứng của các chùm tơ giảm xuống, các<br /> đốt cuối cơ thể chỉ còn 2-3 tơ cứng/1 chùm tơ<br /> (Hình 1).<br /> <br /> Hình 1. Chùm tơ cứng trước đốt sinh dục và cuối cơ thể:<br /> chùm tơ cứng trước đốt sinh dục (a); chùm tơ cứng cuối cơ thể (b)<br /> <br /> Trong số các mẫu vật quan sát được có<br /> 46,7% con trưởng thành, cho phép nhìn thấy<br /> được ống kitin phía trong cơ thể. Đường kính<br /> của ống không đều mà hơi thon nhỏ ở vị trí<br /> 1/3 tính từ mép ngoài. Mép ngoài của ống kitin<br /> cong dạng hình loa kèn. Túi nhận tinh hình túi,<br /> bầu của túi nhận tinh hình trứng. Một số mẫu<br /> vật còn quan sát được bó tinh trùng hình chùy<br /> trong túi nhận tinh (Hình 2). Số trùn chỉ chưa<br /> trưởng thành chiếm 53,3%, trong đó 33,3%<br /> <br /> mẫu vật ở giai đoạn tiền trưởng thành, đốt sinh<br /> dục bắt đầu phát triển, đốt sinh dục đã lớn hơn<br /> các đốt khác nhưng chưa thấy màu trắng của<br /> túi tinh, ống kitin ở phân đốt sinh dục (đốt XI).<br /> Trùn chỉ chưa trưởng thành chiếm 20%, đốt<br /> sinh dục chưa phình to, màu sắc toàn bộ cơ<br /> thể đồng nhất. Kết quả này tương tự như mẫu<br /> thu từ sông Chao Phraya Thái Lan trùn chưa<br /> trưởng thành chiếm ưu thế trong quần thể trùn<br /> chỉ [8].<br /> <br /> Hình 2. Ống dẫn tinh, túi nhận tinh và bó tinh: ống dẫn tinh bằng kitin (a), bó tinh hình chùy trong túi nhận tinh (b)<br /> <br /> NHA TRANG UNIVERSITY • 87<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 4/2016<br /> <br /> 2. Sinh thái phân bố<br /> 2.1. Yếu tố môi trường<br /> Thông số môi trường tự nhiên, giá trị<br /> trung bình cộng với độ lệch chuẩn của ao<br /> nuôi thủy sản đều nằm trong khoảng thích<br /> hợp cho sự phát triển của thủy sinh vật:<br /> <br /> nhiệt độ biến động từ 27,7ºC đến 34,5ºC,<br /> pH dao động từ 6,5 đến 8,0 Oxy 4,16 5,28 mg/L, COD dao động 5,66 đến 10,35<br /> (mgO2/L), BOD5 dao động từ 1,51 đến<br /> 6,43 (mgO2/L), TSS dao động từ 0,11 đến<br /> 0,47 mg/L (Bảng 1).<br /> <br /> Bảng 1. Các yếu tố môi trường ở dạng thủy vực nước tĩnh có mực nước cao<br /> Thủy vực dạng<br /> ao<br /> <br /> Nhiệt độ (ºC)<br /> <br /> pH<br /> <br /> DO (mg/L)<br /> <br /> COD (mgO2/L)<br /> <br /> BOD5<br /> (mgO2/L)<br /> <br /> TSS (mg/L)<br /> <br /> Tự nhiên<br /> Cá trê<br /> Nuôi ghép<br /> Cá tra dầu<br /> rô phi giống<br /> Cá rô đồng<br /> <br /> 32,33±0,58<br /> 33,50±0,76<br /> 31,83±0,76<br /> 33,00±0,5<br /> 27,50±0,05<br /> 34,50±0,05<br /> <br /> 6,8-7,8<br /> 6,8-7,0<br /> 6,9-7,5<br /> 6,9-7,5<br /> 6,5-7,3<br /> 7,0-8,0<br /> <br /> 4,16±0,55<br /> 4,59±0,40<br /> 4,87±0,4<br /> 5,28±0,67<br /> 4,68±0,45<br /> 5,72±0,11<br /> <br /> 9,45±0,66<br /> 10,35±0,69<br /> 8,23±0,69<br /> 5,66±0,47<br /> 8,97±0,96<br /> 7,41±0,33<br /> <br /> 3,21±1,67<br /> 2.79±0,86<br /> 2,79±0,86<br /> 1,51±0,36<br /> 6,43±0,33<br /> 1,29±0,10<br /> <br /> 0,17±0,88a<br /> 0,23±0,07ab<br /> 0,11±0,09ab<br /> 0,47±0,08ab<br /> 0,29±0,01b<br /> 0,26±0,17c<br /> <br /> Số liệu trình bày trên bảng là giá trị trung<br /> chất hữu cơ của các ao có sự khác biệt rõ rệt.<br /> bình ± độ lệch chuẩn. Số liệu cùng một cột có<br /> Ao tự nhiên, không có sự tác động của con<br /> các chữ cái khác nhau thể hiện sai khác có ý<br /> người có hàm lượng chất hữu cơ thấp nhất<br /> nghĩa thống kê (P

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản