intTypePromotion=1

Đặc trưng văn hóa Nam Bộ trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư

Chia sẻ: ViHitachi2711 ViHitachi2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
126
lượt xem
13
download

Đặc trưng văn hóa Nam Bộ trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn trẻ của vùng tận cùng tổ quốc. Sinh ra nơi mênh mông sông nước, nữ nhà văn Đất Mũi đã mang đến cho văn học Việt Nam một hơi thở mới nồng nàn chất quê Nam Bộ. Mảnh đất Nam Bộ với khoảng 300 năm hình thành và phát triển đã hiện lên trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư vô cùng sống động với các đặc trưng văn hóa: Văn hóa mưu sinh, văn hóa ẩm thực, văn hóa cư trú, văn hóa cải lương.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đặc trưng văn hóa Nam Bộ trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE<br /> Social Sci., 2016, Vol. 61, No. 2, pp. 82-87<br /> This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn<br /> <br /> DOI: 10.18173/2354-1067.2016-0013<br /> <br /> ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA NAM BỘ<br /> TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ<br /> Nguyễn Thị Quỳnh Thơ1 và Trần Thị Hà2<br /> 1 Khoa<br /> <br /> 2 Khoa<br /> <br /> Sư phạm, Trường Đại học Tây Nguyên<br /> Tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam, Học viện Khoa học Quân sự, Bộ Quốc phòng<br /> <br /> Tóm tắt. Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn trẻ của vùng tận cùng tổ quốc. Sinh ra nơi mênh<br /> mông sông nước, nữ nhà văn Đất Mũi đã mang đến cho văn học Việt Nam một hơi thở<br /> mới nồng nàn chất quê Nam Bộ. Mảnh đất Nam Bộ với khoảng 300 năm hình thành và<br /> phát triển đã hiện lên trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư vô cùng sống động với các<br /> đặc trưng văn hóa: văn hóa mưu sinh, văn hóa ẩm thực, văn hóa cư trú, văn hóa cải lương.<br /> Nguyễn Ngọc Tư thể hiện ở điểm nhìn tiếp cận hiện thực đời sống với thái độ ngợi ca và<br /> trân trọng những giá trị văn hóa đã ăn sâu vào tiềm thức qua bao thế hệ của người dân thôn<br /> quê, chị nhìn họ với thái độ yêu thương, trân trọng.<br /> Từ khóa: Nguyễn Ngọc Tư, truyện ngắn, đặc trưng văn hóa Nam Bộ.<br /> <br /> 1.<br /> <br /> Mở đầu<br /> <br /> Những năm gần đây, trong sự khởi sắc chung của đời sống văn học, của truyện ngắn Việt<br /> Nam đương đại, Nguyễn Ngọc Tư góp mặt như một hiện tượng độc đáo. Theo chúng tôi, một trong<br /> những lí do làm nên nét độc đáo của Nguyễn Ngọc Tư là thông qua phương ngữ Nam Bộ, lớp từ<br /> địa phương, Nguyễn Ngọc Tư đã thể hiện được rất nhiều bình diện trong tác phẩm, đó là phong<br /> cách, cá tính sáng tạo, quan niệm về thế giới nghệ thuật, về con người,. . . mà dễ nhận thấy nhất là<br /> tái hiện lại một cách sinh động đặc trưng văn hóa của con người Nam Bộ trong thời kì đổi mới.<br /> Đề cập đến vấn đề này, không thể không kể đến các nghiên cứu của Sơn Nam, Võ Văn<br /> Thành, Trần Ngọc Thêm [3, 7, 8]. Đây là những nghiên cứu mang tính định hướng để chúng tôi,<br /> qua tiếp xúc với văn chương Nguyễn Ngọc Tư, dựng lên và khám phá bức tranh toàn cảnh, được<br /> cung cấp thêm nhiều cứ liệu quý giá, những trải nghiệm làm giàu tâm hồn mà không có gì có thể<br /> thay thế được.<br /> <br /> 2.<br /> 2.1.<br /> <br /> Nội dung nghiên cứu<br /> Văn hóa mưu sinh<br /> <br /> Không làm gì bằng nghề nông, đó là tâm thức nông nghiệp của người Việt và đó cũng là<br /> suy nghĩ trong tiềm thức người dân Nam Bộ. Khi Nguyễn Ngọc Tư định danh công cụ lao động<br /> Ngày nhận bài: 15/4/2015. Ngày nhận đăng: 11/1/2016<br /> Liên hệ: Nguyễn Thị Quỳnh Thơ e-mail: quynhtho.1988@gmail.com<br /> <br /> 82<br /> <br /> Đặc trưng văn hóa Nam Bộ trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư<br /> <br /> của người dân nơi đây là phảng và cù nèo, phần nào phản ánh được hình thức canh tác lúa nước<br /> của người dân Nam Bộ. Đối với họ, cái phảng là quan trọng nhất, nó còn quan trọng hơn cái cày,<br /> cái bừa, vì đa số ban đầu đều là đất hoang, chỉ cần phát cỏ, đốt cỏ là có thể gieo hạt. Dần dần,<br /> ruộng đã thuộc thì họ mới làm theo lối thâm canh. Theo nhà Nam Bộ học Sơn Nam, trong quá<br /> trình phát hoang, “người miền Nam nghĩ đến một kiểu dao để chém cỏ nhiều hơn. Ngồi mà chặt<br /> cỏ thì thất sách vì mỏi lưng, đứng mà chặt thì không sát gốc, cỏ mọc trở lại. Muốn cho cỏ chết,<br /> phải chặt ngay gốc, dưới nước để cỏ bị thối luôn. Do đó cần đến một loại dao dài; muốn chém cỏ<br /> ở tư thế đứng thì cán dao phải bẻ cong lại. Đó là cây phảng” [2;93].<br /> Nếu như trong sáng tác của Sơn Nam nổi bật nghề len trâu thì trong truyện ngắn Nguyễn<br /> Ngọc Tư là hình ảnh người Nam Bộ làm nghề chăn vịt chạy đồng. Đó là nghề quen thuộc của dân<br /> miền Tây Nam Bộ. Dân gian có câu “Muốn giàu nuôi cá, muốn khá nuôi heo, muốn nghèo nuôi<br /> vịt”. Nghề nuôi vịt phổ biến cho người nghèo, bởi vì nghề này cần ít vốn, vịt có thể đi ăn ở các<br /> đồng. Chính vì vậy, nghề chăn vịt đòi hỏi người chăn phải chịu khó di chuyển, từ cánh đồng này<br /> sang cánh đồng khác. Người chăn vịt phải chăn khắp vạt đồng, khi nào người ta bừa đất sạ mùa<br /> mới thì phải ra đi. Những người chăn vịt phải chịu cảnh rày đây mai đó, cuộc sống tạm bợ như ông<br /> già trong Cái nhìn khắc khoải: “Ông làm nghề nuôi vịt đẻ chạy đồng. Hôm nay ở đồng rạch Mũi,<br /> ngày mai ở nhà Phấn ngọn, xa nữa lại dạt đến Cái Bát không chừng. Ông đậu ghe, dựng lều, lùa<br /> vịt lên những cánh đồng vừa mới gặt xong, ngó chừng chừng qua những cánh đồng lúa mới vừa<br /> chín tới và suy nghĩ về một vạt đồng khác lúa vừa no đòng đòng” [3;52].<br /> Với người dân Nam Bộ, không phải cuộc mưu sinh nào cũng dễ dàng và thành công: “Họ<br /> rải vôi trên những hố chôn lớn bằng mấy khẩu đìa cộng lại. Họ tọng những con vịt còn sống, còn<br /> giãy giụa, còn gào thét bằng bao tải, buộc miệng và quăng xuống đó”. Góp thêm vào bức tranh<br /> điêu tàn đó là cảnh tượng đầy ám ảnh: “Sáng hôm sau, người ta tìm được một người chăn vịt sát<br /> mép hố, mắt chong chóng ngó trời không chớp, miệng sủi ra thứ bọt, trong vắt như bọt cua nhưng<br /> hôi nồng nặc. Chai thuốc sâu nằm lăn lóc cạnh đó đã cạn tới giọt cuối cùng” [3;155].<br /> Thương hồ là nghề nghiệp đặc trưng của vùng sông nước Nam Bộ. Đó là nghề buôn bán lặt<br /> vặt trên sông nước như hàng bông, trái cây, tạp hóa. . . Họ sống trên ghe và coi đó như là nhà của<br /> mình. Có những người cũng có nhà trên bờ, còn lại chủ yếu là những người nghèo, không có mảnh<br /> đất cắm dùi, gia tài chỉ là chiếc ghe nho nhỏ vừa buôn bán vừa sinh sống. Một bộ phận lớn người<br /> Nam Bộ có hoàn cảnh như vậy nên đã tạo nên những chợ nổi buôn bán sầm uất mà chỉ ở Nam Bộ<br /> mới có. Trong lời đề từ cho truyện ngắn Nhớ sông, Nguyễn Ngọc Tư đã tái hiện cảnh sinh hoạt của<br /> chợ nổi: “Tôi thường đứng trên cầu Gành Hào, nhìn về chợ nổi,... Mỗi chiếc ghe là một ngôi nhà<br /> nhỏ, ngang hai mét, dài năm bảy mét. . . Những chiều tà chợ nổi đìu hiu bập bềnh. Những người<br /> đàn bà cúi đầu chăm chăm xới nồi cơm dào dạt khói, những người đàn ông xếp bằng trên mui ghe<br /> vấn những điếu thuốc to đùng bằng ngón chân cái, phì phà khói lên trời. Những đứa trẻ con ngồi<br /> tênh hênh trên mui ghe câu cá chốt, cá mè. Những cô gái sau một ngày bán hàng mệt mỏi soi mình<br /> xuống sông, chải tóc” [3;112].<br /> <br /> 2.2.<br /> <br /> Văn hóa cư trú<br /> <br /> Môi trường sông nước tự nhiên chằng chịt ở Nam Bộ một nhân tố nền tảng quy định cách<br /> cư trú của cư dân nơi đây. Người dân Nam Bộ cư trú ở một địa bàn có hệ thống sông ngòi, kênh<br /> rạch dày đặc. Bước ra khỏi nhà đã là sông, là rạch. Trong các truyện ngắn của Sơn Nam, chúng ta<br /> bắt gặp nhiều hình ảnh của con sông, con rạch, con kênh xáng múc. Trước cửa nhà có con sông,<br /> sau hè lại có một con rạch, con sông khác. Do sống trong khí hậu ẩm ướt như vậy nên vấn đề nhà<br /> 83<br /> <br /> Nguyễn Thị Quỳnh Thơ và Trần Thị Hà<br /> <br /> ở của họ có sự khác biệt so với các vùng miền khác. Trong các tác phẩm của mình, Nguyễn Ngọc<br /> Tư đã gọi nơi ở của cư dân Nam Bộ là chòi, ghe, xuồng. Chính cách định danh nơi ở đó đã cho mở<br /> ra cho người đọc thấy rõ văn hóa cư trú của người Miền Nam.<br /> Hình ảnh căn chòi rất phổ biến trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư. Chòi là nơi sinh sống<br /> của những người bình dân nghèo khổ, đời sống chưa ổn định, được cất bằng những vật liệu thô sơ<br /> sẵn có ở môi trường tự nhiên khi họ đến sống thăm dò ở vùng đất mới: “Đời của ông là một cuộc<br /> đời lang bạt. Một cuộc sống trên đồng khơi. Chòi cắm ở đâu cũng được, miễn có chỗ khô ráo cho<br /> ông nằm” [3;16].<br /> Trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, căn chòi được xây dựng dọc theo các bờ kênh, máng<br /> xúc, sông cái. Đây là lựa chọn tối ưu bởi vì môi trường sông nước đặc thù, phương tiện đi lại chủ<br /> yếu là ghe xuồng nên thuận tiện cho họ đi lại: “Và tôi lại thấy mình ở trong một căn chòi chăn vịt<br /> cất dựa mé kinh Chiếc. Căn chòi đầy khói” [5;36].<br /> Ngoài hình thức cư trú là “chòi”, Nguyễn Ngọc Tư còn sử dụng những từ như “ghe”,<br /> “xuồng” không phải là phương tiện đi lại, mà là chỉ nơi ở. Chiếc ghe đã trở thành là ngôi nhà<br /> di động trên sông cho những kiếp người lang bạc, những khách thương hồ thích rày đây mai đó,<br /> những con người muốn trọn đời gắn bó với sông nước vì một khối tình trắc ẩn. Trong truyện Nhớ<br /> sông là hình ảnh cả gia đình ông Chín sống gắn bó với sông nước, ngôi nhà của họ chính là chiếc<br /> ghe. Nó vừa là phương tiện di chuyển, phương tiện để mưu sinh và vừa là ngôi nhà ấm áp của ba<br /> cha con (Ông Chín và hai con gái Giang, Thủy). Vì vậy, chiếc ghe đã trở thành một vật thiêng liêng<br /> với cuộc đời họ. Ở đó, ông Chín đã từng trải qua nỗi đau mất đi người vợ hiền, hai đứa con ông<br /> ôm nỗi đau mất mẹ. Nhưng cũng chính nơi đó, ba cha con đã sống nương tựa vào nhau cùng nhau<br /> vượt qua số phận vươn đến hạnh phúc. Đây là lí do mà Giang dù đã lấy chồng sống trên bờ nhưng<br /> vẫn khôn nguôi nỗi niềm nhớ ghe tha thiết. Hay có lẽ chiếc ghe đã trở nên gắn bó với cư dân Nam<br /> Bộ nên khi xảy ra sự cố, rủi ro, họ hay chọn “ghe” làm nhà. Truyện ngắn Cánh đồng bất tận là câu<br /> chuyện thương tâm của gia đình út Vũ, vợ ngoại tình bỏ đi tạo cho ông một cú sốc lớn, đây là lí do<br /> duy nhất để ông chọn “ghe” làm nhà cùng hai con phiêu bạc “cha đem tất cả đồ đạc của má đem<br /> đốt. Khói bay mù mịt trong nhà. . . Chúng tôi dong ghe đi, quặn lòng ngoái lại căn nhà đang quay<br /> quắt giãy giụa trong lửa đỏ” [3;172].<br /> Bên cạnh đó, vẫn có bộ phận dân cư xây dựng nhà cửa trên những vùng đất cao. Nhà cửa<br /> của cư dân Nam Bộ rất tươm tất, trong nhà đầy đủ những vật dụng cần thiết thể hiện sự văn minh,<br /> nơi có đời sống cao như: bộ ván, bộ ngựa, tủ thờ. . . Bộ ván ngựa không thể thiếu trong các gia đình<br /> Nam Bộ. Nghèo nhất là bộ vạt tre, vạt cau đặt trên bốn cây nộc, cắm xuống đất. Nó được dùng để<br /> dọn cơm, tiếp khách, nằm ngủ, đánh cờ, uống rượu hay để làm các việc vặt trong nhà “những ngày<br /> vào đợt hái trầu, ngoại quảy cà vung ra vườn sớm. . . đổ ra bộ ván” [6;151]; “mối mọt, bù xè thi<br /> nhau tấn công vào những cây cột gỗ, bộ ngựa chân quỳ, mấy cái tủ thờ” [3;120].<br /> Còn “tủ thờ” tức là cái tủ dùng để thờ phụng ông bà, tổ tiên đã khuất. Đây cũng là hình ảnh<br /> quen thuộc ở các “nóc gia” Nam Bộ nói chung và các miền khác nói riêng vì nó phản ánh phong<br /> tục thờ cúng gia tiên của người Việt. Điều này là một biểu hiện tính đa dạng trong thống nhất của<br /> nền văn hóa Việt Nam có từ rất lâu đời được cháu con gìn giữ với niềm thành kính thiêng liêng. Tín<br /> ngưỡng thờ cúng tổ tiên cũng một phương diện của đời sống tâm linh của người Việt. Với truyện<br /> Mối tình đầu của Nguyễn Ngọc Tư, người đọc cũng bắt gặp một không gian kỉ niệm mang đậm<br /> dấu ấn đời sống tâm linh của người Việt. Nhân vật Trọng trong truyện là một thanh niên còn rất trẻ<br /> nhưng đã có ý thức trong việc nâng niu, gìn giữ nếp văn hoá tâm linh bao đời của gia đình: “Nhà<br /> Trọng có một cái lạ nữa là trên bàn thờ lúc nào cũng chong đèn, ngày tháng này qua ngày tháng<br /> 84<br /> <br /> Đặc trưng văn hóa Nam Bộ trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư<br /> <br /> khác, năm này qua năm khác, ngọn đèn truyền từ đời cố Trọng, nội rồi tới Trọng, không bao giờ<br /> được phép tắt. Chiều nào chị em tôi đi ngang qua cũng thấy Trọng lọ mọ ngồi lau các bóng đèn<br /> hột vịt ám khói, châm dầu bằng cái vẻ thành kính nâng niu” [3;117].<br /> <br /> 2.3.<br /> <br /> Văn hóa ẩm thực<br /> <br /> Ẩm thực là tiếng dùng chung khái quát nói về việc ăn uống. Văn hoá ẩm thực bao gồm cách<br /> chế biến, bày biện và thưởng thức trong món ăn, thức uống từ đơn giản, đạm bạc đến cầu kì, mĩ<br /> vị. Song, khi nói đến văn hoá ẩm thực ở một vùng, miền nào đó thì nhất thiết phải tiếp cận từ điều<br /> kiện thiên nhiên thì mới có thể nêu lên được bản sắc văn hoá đặc trưng cụ thể của vùng, miền ấy.<br /> Trong sáng tác của mình, Nguyễn Ngọc Tư còn cho ta thấy vô vàn những sản vật thực vật khác<br /> rất đặc sắc, phong phú và đa dạng. Đó là những loài động thực vật thuộc hệ sinh thái ngập mặn:<br /> đước, mắm, vẹt, dừa nước, bần, mù u, bông súng,... Đó cũng còn là những từ phản ánh về hình ảnh<br /> miệt vườn cây trái Nam Bộ: chôm chôm, sầu riêng, dừa xiêm, măng cụt. Ngoài hệ thống thực vật<br /> đặc trưng cho văn hóa miệt vườn Nam Bộ, trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện một hệ<br /> thống tên gọi những động vật của Nam Bộ: ba khía, cá sặc, cá lóc, cá rô mề, cúm núm, cá sặc rằn,<br /> cá chốt, ốc lác, rắn mối, rắn bông súng, tôm bạc, tép đất, thòi lòi, thác lác, trê vàng, vọp. Đi đôi<br /> với hệ động - thực vật phong phú ấy, Nam Bộ đã sản sinh ra những món ăn dân dã mang hương vị<br /> của miền đất khẩn hoang tạo nên một nền văn hóa ẩm thực Nam Bộ khó quên. Có thể thấy, món<br /> ăn trong sáng tác nguyễn Ngọc Tư nổi bật ở những dạng chính là: món ăn cơm, món nhậu và món<br /> bánh.<br /> Món cơm là món cơ bản gồm canh các loại rau, canh chua, cá kho. Canh chua Nam Bộ có<br /> đủ các vị mặn, ngọt, chua, cay. Cá là một trong những nguyên liệu chính của món ăn nơi đây như<br /> cá lóc, cá kèo, cá sặc, cá rô mề “Diệp bảo mớ khô cá sặc rằn này hôm nào liên hoan tiễn con đi”<br /> [6;142]. Còn cá kho là món hiện diện trong mọi gia đình người dân Nam Bộ. Cá kho thật mặn,<br /> để dành được nhiều ngày, rồi trong lúc chèo thuyền, di chuyển từ chỗ nọ sang chỗ kia, giở ra vừa<br /> ăn vừa làm vệc, để tiết kiệm thời gian. Nguyễn Ngọc Tư dã định danh rất nhiều món ăn đặc sắc,<br /> tiêu biểu là món “mắm”. Ở Nam Bộ, những ngày mới khai hoang do sự phong phú của cá tôm nên<br /> người dân mới nghĩ ra cách xử lí cá tôm sao cho có thể dự trữ lâu dài. Họ mang cá đi phơi khô<br /> hoặc làm mắm. Lúc đầu chỉ có ý định chế biến làm thức ăn dự trữ nhưng khi ăn, họ cảm thấy ngon<br /> miệng và ưa thích. Món ăn này được ăn kèm với nhiều loài thực vật quen thuộc như khế, chuối<br /> chát hết khế chua chuối chát cặp với mắm lòng.<br /> Trong văn hóa ẩm thực của người Nam Bộ không thể không nhắc đến văn hóa nhậu. Nét<br /> văn hóa này thể hiện rất rõ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư. Món nhậu được chuẩn bị đơn<br /> sơ, nhanh gọn hơn so với món cơm. Nhậu là cả ăn lẫn uống. Nói “nhậu” trước tiên phải có rượu.<br /> Nhưng chỉ có rượu mà không mồi, vẫn chưa thành chữ “nhậu”. Nói nhậu là phải có mồi: “Tối sau<br /> Trần Hưng rủ thêm vài người tới nhà dì Thấm, anh không quên xách theo chai rượu với mớ cá khô,<br /> cá kèo mua ở đằng đầu xóm” [85;6]; “Ăn cơm xong, chị dọn ra xị rượu, nướng mấy con khô cá<br /> chạch” [6;61]. Mặt khác, “nhậu” không chỉ là thú vui mà còn phản ánh nét văn hóa riêng của của<br /> người Việt ở Nam Bộ. Nếu từ xưa dân ta có câu “khách đến nhà không trà thì bánh”, đến Nam Bộ<br /> từ “bánh” có thể thay bằng “rượu”. Đó cũng là một cách riêng thể hiện tính hiếu khách của cư dân<br /> vùng đất này. Qua sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi ghi nhận được rất nhiều cuộc nhậu<br /> qua nhiều tác phẩm, đặc biệt là việc “nhậu” không bị giới hạn bởi giới tính. Ai cũng có thể nhậu<br /> và họ có xu hướng chơi hết mình, chơi hết sức mới thôi.<br /> Ngoài các món mặn ăn cơm, món nhậu, Nam Bộ còn đặc sắc bởi các loại bánh hấp dẫn:<br /> 85<br /> <br /> Nguyễn Thị Quỳnh Thơ và Trần Thị Hà<br /> <br /> bánh kẹp, bánh phồng, bánh phồng tôm, bánh xèo, bánh ú, bánh cam, bánh còng, bánh khọt, bánh<br /> dừa, bánh tét (...).<br /> Những cảnh sinh hoạt, thói quen ăn uống ấy của người dân quê được Nguyễn Ngọc Tư miêu<br /> tả một cách chân thực, tự nhiên, chị đã khai thác những điều có sẵn làm nên tính nghệ thuật trong<br /> văn chương.<br /> <br /> 2.4.<br /> <br /> Văn hóa cải lương<br /> <br /> Nói đến Nam Bộ cũng là nói đến cái nôi của bộ môn nghệ thuật cải lương, một đóng góp<br /> lớn của văn hoá Nam Bộ. Loại hình nghệ thuật này phù hợp với đặc điểm địa hình sông nước cũng<br /> như phong cách sống của người Nam Bộ. Chính vì vậy, từ lâu rồi đờn ca tài tử, cải lương trở thành<br /> nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Nam Bộ.<br /> Trong sáng tác của mình, Nguyễn Ngọc Tư thường nhắc tên các vở cải lương với những ý đồ<br /> nghệ thuật khác nhau: “Thoại Khanh Châu Tuấn” (Cái nhìn khắc khoải), “Đêm lạnh chùa hoang”<br /> (Chuyện của Điệp), “Nửa đời hương phấn”; “Lữ Bố hí Điêu Thuyền”; “Bên cầu dệt lụa”;. . . (Cuối<br /> mùa nhan sắc), “Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài”; “Tô Ánh Nguyệt” (Làm má đâu có dễ ). Các nghệ<br /> sĩ cải lương tên tuổi như Thanh Sang, Thanh Nga, Trọng Hữu, Lệ Thuỷ cũng được nhà văn nhắc<br /> tới trong truyện “Đời như ý”.<br /> Người đọc còn bắt gặp trong truyện những người dân Nam Bộ mê hát cải lương, mê vọng<br /> cổ đến nỗi không ngần ngại từ bỏ những hạnh phúc thiêng liêng khác. Đào Hồng nguyện với Tổ cả<br /> đời theo nghiệp hát để rồi “vì mê hát, vì chiến tranh mà gởi con cho người ta, đến mức nó không<br /> thèm nhìn mình nữa”, rồi đến lúc còn chút “sức tàn lực kiệt”,“ốm sát chiếu” vẫn nguyện đem lời<br /> ca tiếng nhạc mua vui cho đời “Đào Hồng hát đến lịm tiếng đi. Bà ngồi trên sân khấu, gục đầu.<br /> Cái gánh nặng tâm tư này, không mang nỗi nữa rồi. Khi ông Chín dìu bà xuống giường, bà đã hôn<br /> mê. Người ta hát vở cuối cho bà, cho một người nghệ sĩ chân chính” [3;103]. Cũng hoàn cảnh như<br /> Đào Hồng, Diệu trong Làm má đâu có dễ vì muốn toàn tâm với nghề, đam mê nghiệp hát, mong<br /> muốn trở thành một đào hát nổi tiếng mà chấp nhận lìa xa đứa con mình rứt ruột sinh ra. Để rồi,<br /> khi trút bỏ ánh hào quang, Diệu cảm thấy cô đơn, trống trải vô cùng khi bé San không nhận chị<br /> là mẹ, gọi chị bằng “chế” nghe xa lạ, khách sáo như nói với người dưng. Nhìn chung, hình tượng<br /> nghệ sĩ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư thường có số phận bất hạnh, hi sinh cả đời cho nghề<br /> hát. Dưới ánh đèn sân khấu họ là những người giành hết tâm huyết với nghề, hi sinh những hạnh<br /> phúc cá nhân để được cống hiến cho nghề.<br /> Không chỉ nghệ sĩ, mà chính những người dân Nam Bộ ai cũng thuộc và biết hát cải lương,<br /> vọng cổ. Vậy mới thấy cái máu hát đã ăn sâu trong máu thịt của người dân Nam Bộ như thế nào?<br /> Trong truyện ngắn Huệ lấy chồng, trước khi thu dọn hành lí về nhà chồng vẫn không quên “lại<br /> chỗ đầu nằm, giở gối lên, nâng niu ấp trong tay tập chép bài ca đã cũ”, và băn khoăn khi: “về bên<br /> nhà chồng không biết có còn rảnh rỗi vừa đưa võng vừa nghêu ngao hát?” [3;37]. Người Nam Bộ<br /> không chỉ mê cải lương, mà còn hâm mộ, trân trọng người nghệ sĩ hát cải lương. Truyện ngắn Cuối<br /> mùa nhan sắc là câu chuyện xúc động nói người dân tự nguyện bỏ tiền để xây dựng ngôi nhà “buổi<br /> chiều” cho những nghệ sĩ một thời vang bóng có nơi trú ngụ: “Nhà buổi chiều nằm ở tận cùng con<br /> hẻm Cây Còng. Hẻm cụt. Nhà toàn người già, là chỗ trú ngụ cho nghệ sĩ cải lương, nghệ sĩ hát bội<br /> một thời vang bóng” [3;92].<br /> Đúng là cải lương là món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người<br /> dân Nam Bộ. Ngày nay, ở Đồng bằng sông Cửu Long các gánh hát, các câu lạc bộ đờn ca tài tử<br /> vẫn ngược xuôi khắp miền sông nước để phục vụ cho bà con cô bác. Bởi lẽ, đờn ca tài tử, sân khấu<br /> 86<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2