HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

PHẠM THỊ KIM LAN

§¶NG Bé TØNH TH¸I B×NH L·NH §¹O

§µO T¹O NGUåN NH¢N LùC CHO N¤NG NGHIÖP

Tõ N¡M 2001 ®ÕN n¨M 2010

Chuyên ngành : L ịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số : 62 22 03 15

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS NGUYỄN TRỌNG PHÚC

2. PGS.TS VŨ QUANG VINH

HÀ NỘI - 2015

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số

liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích

dẫn đầy đủ theo quy định.

Tác giả luận án

Phạm Thị Kim Lan

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU Trang 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

7

ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

7

18

1.1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1.2. Khái quát k ết qu ả nghiên c ứu của các công trình khoa h ọc đã công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết Chương 2: CHỦ TR ƯƠNG VÀ S Ự CH Ỉ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH

21

THÁI BÌNH V Ề ĐÀO TẠO NGU ỒN NHÂN L ỰC CHO NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 2.1. Những yếu tố tác động đến công tác đào tạo nguồn nhân lực cho

nông nghiệp tỉnh Thái Bình 21

2.2. Quan điểm của Trung ương Đảng và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Bình về đào tạo nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực cho nông nghiệp nói riêng 37

2.3. Đảng bộ tỉnh Thái Bình ch ỉ đạo th ực hi ện đào tạo nguồn nhân

lực cho nông nghiệp (2001 – 2005) 51

62

Chương 3: ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH LÃNH ĐẠO ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN L ỰC CHO NÔNG NGHI ỆP GÓP PH ẦN ĐẨY MẠNH CÔNG NGHI ỆP HÓA, HI ỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN (2006 -2010) 3.1. Yêu cầu mới và quan điểm của Đảng về đào tạo nguồn nhân lực

từ năm 2006 đến năm 2010 62

3.2. Đảng bộ tỉnh Thái Bình v ận dụng ch ủ tr ương của Trung ương

Đảng về đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp 73

Chương 4: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 4.1. Một số nhận xét 4.2. Kinh nghiệm 109 109 127

142

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

146 147 162

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNXH : Ch ủ nghĩa xã hội

CNH, HĐH : Công nghi ệp hóa, hiện đại hóa

ĐBSH : Đồng bằng sông Hồng

GD - ĐT : Giáo d ục - đào tạo

KHCN : Khoa h ọc công nghệ

KT - XH : Kinh t ế - xã hội

ồn nhân lực NNL : Ngu

NTM : Nông thôn m ới

UBND : Ủy ban nhân dân

XHCN : Xã h ội chủ nghĩa

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Số lượng máy móc trong sản xuất nông nghiệp 30

Bảng 2.2: Tỷ lệ lao động chia theo trình độ chuyên môn k ỹ thu ật

35 năm 2000

Bảng 3.1: Số lao động khu v ực nông thôn chia theo trình độ

chuyên môn c ủa Thái Bình và các t ỉnh đồng bằng sông

Hồng năm 2010 103

Bảng 3.2: Số lượng và cơ cấu hộ nông, lâm nghi ệp và thủy sản giai

105 đoạn 2006-2010 của Thái Bình và một số tỉnh lân cận

Bảng 3.3: Số lượng trang trại của Thái Bình năm 2010 106

Bảng 3.4: Đóng góp của các ngành kinh t ế vào t ốc độ tăng tr ưởng

của Thái Bình so sánh qua 2 giai đoạn 2001-2005 và

107 2006-2010

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong các ngu ồn lực tập trung cho s ự phát tri ển, như: tài nguyên thiên

nhiên, vốn, khoa h ọc công ngh ệ (KHCN), con ng ười… thì ngu ồn lực con

người là quan tr ọng nhất và có tính quy ết định cho mỗi quốc gia. Nếu có tài

nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc k ỹ thuật hiện đại mà không có con

người có trình độ, năng lực, phẩm chất và sức khỏe để làm chủ trong sử dụng

nguồn tài nguyên đó thì khó có kh ả năng đạt được sự phát tri ển nh ư mong

muốn. Con ng ười, vì vậy là ngu ồn lực trực tiếp và là trung tâm c ủa sự phát

triển. Theo Ph. Ăngghen họ ph ải là nh ững ng ười “có kh ả năng nắm vững

nhanh chóng toàn b ộ hệ thống sản xuất trong th ực tiễn..., họ có th ể lần lượt

chuyển từ ngành sản xuất này sang ngành sản xuất nọ tuỳ theo nhu cầu của xã

hội hoặc tuỳ theo sở thích của bản thân họ" [25, tr.475]. Trong tác phẩm "Bàn

về chế độ hợp tác xã”, V.I Lênin lý gi ải khoa học, cặn kẽ vì sao con người lại

là lực lượng sản xuất hàng đầu. Con ng ười xã hội chủ nghĩa (XHCN) không

thể chỉ biết chữ, mà còn là sản phẩm của nền giáo dục hiện đại. Nếu trước kia

chỉ cần giáo d ục cho giai c ấp công nhân và nh ững ng ười lao động ý th ức

chính tr ị, nhi ệt tình cách m ạng, thì gi ờ đây, ph ải đào tạo họ thành nh ững

người lao động có cả tri thức và tay nghề [174, tr.421].

Việt Nam là quốc gia có nền kinh tế nông nghiệp truyền thống. Chủ tịch

Hồ Chí Minh khẳng định trong Thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam ngày 11-

4-1946: “Việt Nam là một nước sống về nông nghi ệp. Nền kinh tế của ta lấy

canh nông làm g ốc. Trong công cu ộc xây dựng nước nhà, Chính ph ủ trông

mong vào nông dân, trông c ậy vào nông nghi ệp một ph ần lớn. Nông dân ta

giàu thì n ước ta giàu. Nông nghi ệp ta th ịnh thì n ước ta th ịnh” [81, tr.215].

Trong sự phát triển của kinh tế nông nghiệp, Người đặc biệt coi trọng vai trò

của nông dân: “Nông dân ta đông người nhất, kinh tế nông nghiệp quan trọng

nhất; nông dân ta đã anh hùng trong cách m ạng, trong kháng chi ến, trong cải

cách ruộng đất, thì trong cuộc cách mạng biến đổi nông nghiệp từ thấp lên cao

2

này nông dân ta c ũng ph ải là anh hùng” [82, tr.184]. Ng ười cho r ằng trong

thời đại cách mạng mới, người nông dân không ch ỉ cần cơm no, áo ấm, mà

còn cần được nâng cao dân trí, để đóng góp được nhiều hơn cho đất nước.

Vấn đề kinh t ế nông nghi ệp, nông thôn được Đảng ti ếp tục quan tâm

ngay từ khi b ắt đầu ti ến hành s ự nghi ệp đổi mới. Cương lĩnh xây d ựng đất

nước trong th ời kỳ quá độ lên ch ủ ngh ĩa xã h ội (1991) xác định một trong

những phương hướng cơ bản trong quá trình xây d ựng XHCN: Phát tri ển lực

lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát

triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây

dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội (CNXH), không ngừng nâng

cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân [54, tr.135].

Trong Chiến lược ổn định và phát tri ển kinh tế - xã hội đến năm 2000,

Đảng xác định: xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để

ổn định tình hình kinh tế - xã hội (KT - XH). KT - XH phát tri ển gắn với xây

dựng nông thôn mới (NTM). Đảng chủ trương phát triển mạnh các ngành nghề,

đặc biệt là công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, đưa nhanh kỹ thuật nông nghiệp

và công nghệ mới đến từng hộ nông dân, giảm bớt việc làm và thay đổi cơ cấu

lao động, giảm bớt số lao động sản xuất nông nghiệp [54, tr.163].

Trong th ời kỳ đẩy mạnh công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa (CNH, H ĐH),

Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X (2008) kh ẳng

định: Nông nghi ệp, nông dân, nông thôn có v ị trí chi ến lược trong sự nghiệp

CNH, HĐH, xây d ựng và b ảo vệ Tổ quốc..., CNH, HĐH nông nghi ệp, nông

dân, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình CNH, HĐH

đất nước. Đồng thời, trong mối quan hệ nông nghiệp, nông thôn, nông dân, Đảng

luôn coi nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, do đó đào tạo nguồn nhân

lực phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ

được Đảng quan tâm hàng đầu.

Để đưa Ngh ị quy ết vào cu ộc sống, ngày 27/11/2009, Đề án Đào tạo

nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 được Thủ tướng Chính ph ủ phê

3

duyệt, nh ằm tăng cường đầu tư đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nâng

cao chất lượng lao động nông thôn. Mục tiêu đề án đặt ra là mỗi năm đào tạo

1 triệu lao động nông thôn, góp ph ần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu

kinh tế phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn [115].

Thái Bình là m ột tỉnh nằm trong khu v ực đồng bằng Bắc Bộ, có vị trí

địa lý và điều kiện tự nhiên thu ận lợi để phát tri ển kinh tế nông nghi ệp toàn

diện. Trong lịch sử, Thái Bình là tỉnh đầu tiên của miền Bắc đạt năng suất lúa

5 tấn/ha, góp ph ần quan tr ọng trong vi ệc cải thiện đời sống người nông dân,

ổn định nông thôn, xây dựng miền Bắc lớn mạnh, đồng thời hoàn thành xuất sắc

vai trò hậu phương lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc.

Trong thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và đặc biệt là giai đoạn đẩy

mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, bộ mặt nông thôn Thái Bình đã có

nhiều thay đổi, đời sống của nhân dân từng bước được nâng lên.

Tuy nhiên, đến năm 2000 kinh tế Thái Bình chủ yếu vẫn là nông nghiệp,

kinh tế nông nghiệp cơ bản vẫn là độc canh cây lúa bằng hình thức tự sản, tự

tiêu. Tâm lý sản xuất nhỏ của người nông dân đã hạn chế quá trình phát tri ển

của nền kinh tế nông nghi ệp theo hướng sản xuất hàng hóa trong th ời kỳ hội

nhập. Với đặc điểm trên 90% dân s ố sống ở vùng nông thôn và là lao động

nông nghi ệp, ph ần lớn lao động nông thôn ch ưa được đào tạo, dạy nghề cơ

bản, mà lao động bằng kinh nghiệm là chủ yếu nên năng suất lao động xã hội

thấp, chất lượng sản phẩm hạn chế, khả năng cạnh tranh không cao. Nhiều sản

phẩm trước đây là th ế mạnh của tỉnh thì nay tr ước sự cạnh tranh gay gắt của

thị tr ường nên b ị mai một. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh t ế, cơ cấu lao động

diễn ra ch ậm. Mặt khác, ngh ề và làng ngh ề truy ền th ống vốn có c ủa tỉnh,

trước điều ki ện mới của sự phát tri ển KT - XH và h ội nh ập, có xu h ướng

chững lại, không phát tri ển nên th ời gian lao động nông nhàn l ớn, đời sống

nông dân gặp nhiều khó kh ăn, gây ra nhi ều tác động xấu đến tình hình KT -

XH của tỉnh. Sự phân hóa giàu nghèo đang diễn ra mạnh mẽ, là vấn đề xã hội

bức xúc cần được quan tâm giải quyết.

4

Để th ực hi ện CNH, H ĐH nông nghi ệp, nông thôn, đạt mục tiêu đến

năm 2020 c ả nước nói chung và Thái Bình nói riêng c ơ bản là t ỉnh công

nghiệp theo h ướng hi ện đại và lao động nông nghi ệp ch ỉ còn kho ảng 30%

phải có kho ảng 70% lao động được qua đào tạo chuyên môn k ỹ thu ật và

chuyển đổi nghề nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp hoặc tiếp tục làm nông

nghiệp theo hướng hiện đại, sản xu ất hàng hóa. Do đó, đào tạo ngu ồn nhân

lực (NNL) cho nông nghi ệp là vấn đề cấp bách và cần thiết đối với sự nghiệp

CNH, HĐH nông nghi ệp, nông thôn c ủa tỉnh. Vi ệc tổng kết th ực ti ễn, đánh

giá quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo đào tạo NNL cho nông nghi ệp

trong 10 năm đầu của thế kỷ XXI, đúc rút những kinh nghiệm chủ yếu là một

trong nh ững nội dung quan tr ọng, cần thi ết đối với quá trình lãnh đạo phát

triển KT - XH của tỉnh trong những giai đoạn tiếp theo.

Với những lý do trên, nghiên c ứu sinh ch ọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Thái

Bình lãnh đạo đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp từ năm 2001 đến năm

2010” làm đề tài luận án tiến sỹ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục đích

Nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo đào tạo NNL cho

nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn từ năm 2001

đến năm 2010 nhằm tổng kết thực tiễn và đúc kết những kinh nghi ệm có giá

trị; góp ph ần cung c ấp một số lu ận cứ khoa h ọc, có c ơ sở lịch sử cho vi ệc

hoạch định ch ủ tr ương phát tri ển NNL cho nông nghi ệp, đáp ứng yêu c ầu

nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới của tỉnh Thái Bình.

2.2. Nhiệm vụ

- Làm rõ nh ững yếu tố tác động đến đào tạo NNL cho nông nghi ệp tỉnh

Thái Bình khi bước vào thế kỷ XXI;

- Hệ thống khái quát các quan điểm, chủ trương, chính sách c ủa Đảng

Cộng sản Vi ệt Nam và ch ủ tr ương của Đảng bộ tỉnh Thái Bình v ề đào tạo

NNL cho nông nghiệp trong 10 năm (2001-2010);

5

- Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh ch ỉ đạo th ực hi ện đào tạo NNL cho

nông nghiệp từ 2001 đến năm 2010;

- Nhận xét những thành tựu, hạn chế và đúc kết kinh nghiệm từ sự lãnh đạo

của Đảng bộ tỉnh Thái Bình trong đào tạo NNL cho nông nghiệp (2001-2010).

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là chủ trương và quá trình chỉ đạo thực

hiện đào tạo NNL cho nông nghi ệp của Đảng bộ tỉnh Thái Bình từ năm 2001

đến năm 2010.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: NNL cho nông nghi ệp là khái ni ệm rộng bao gồm nhiều

đối tượng như: nông dân, cán bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp, cán bộ quản

lý nông nghiệp… Tuy nhiên, luận án tập trung nghiên cứu, làm rõ chủ trương

và chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Thái Bình v ề đào tạo NNL cho nông

nghiệp chủ yếu ở đối tượng nông dân.

- Về thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2010.

- Về không gian: Trên địa bàn nông thôn tỉnh Thái Bình.

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1. C ơ sở lý luận

Luận án được thực hiện trên cơ sở các quan điểm của chủ nghĩa Mác -

Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam về NNL nói chung,

NNL cho nông nghiệp nói riêng; đặc biệt là những quan điểm của Đảng trong

công cuộc đổi mới.

Dựa vào cơ sở lý luận trên, luận án khai thác các nguồn tư liệu: văn kiện

của Đảng và Nhà n ước, văn ki ện của Đảng bộ tỉnh Thái Bình, UBND t ỉnh

Thái Bình và các nguồn tư liệu của các cơ quan, ban, ngành có liên quan.

Luận án còn k ế th ừa tư li ệu từ kết qu ả nghiên c ứu của các công trình

khoa học đề cập đến nh ững vấn đề lý lu ận và th ực ti ễn đào tạo NNL nói

chung và đào tạo NNL cho nông nghiệp nói riêng.

6

Đồng thời, luận án bổ sung thêm các tư liệu do cá nhân tự sưu tầm.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic là ch ủ yếu.

Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp tổng hợp, phân

tích, so sánh, thống kê, khảo sát thực tiễn, phỏng vấn nhân chứng lịch sử có liên

quan tới công tác đào tạo NNL cho nông nghiệp để minh chứng và luận giải quá

trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo đào tạo NNL cho nông nghi ệp từ năm

2001 đến năm 2010.

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

- Luận án góp ph ần làm rõ hơn vai trò của lực lượng sản xuất trong quá

trình phát triển KT - XH trong đó vai trò cốt yếu là NNL.

- Từ thực tiễn đào tạo NNL cho nông nghiệp tỉnh Thái Bình, luận án khắc

họa rõ nét về quá trình phát tri ển trong nhận thức cũng như trong thực tiễn về

đào tạo NNL cho nông nghiệp qua 2 giai đoạn 2001-2005 và 2006-2010.

- Từ thành công và h ạn ch ế trong quá trình lãnh đạo đào tạo NNL cho

nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Thái Bình, luận án đúc kết một số kinh nghiệm

chủ yếu có giá trị lý luận và thực tiễn.

- Luận án có th ể làm tư liệu tham kh ảo cho các c ấp, các ngành c ủa tỉnh

Thái Bình trong đào tạo NNL cho nông nghiệp nói riêng và NNL nói chung.

6. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài li ệu tham khảo và phụ lục,

nội dung luận án gồm 4 chương, 9 tiết.

7

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Vấn đề đào tạo NNL đáp ứng yêu cầu thời đại, yêu cầu phát tri ển KT -

XH đất nước đã có nhi ều công trình, đề tài đề cập dưới nhi ều góc độ khác

nhau. Trong quá trình nghiên cứu, có thể chia thành 3 nhóm công trình nghiên

cứu như sau:

1.1.1. Nh ững công trình nghiên c ứu về ngu ồn nhân l ực, đào tạo

nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực cho nông nghiệp nói riêng

Có thể kể đến những công trình sau:

Cuốn sách “Phát triển nguồn nhân lực kinh nghiệm thế giới và thực tiễn

nước ta”, tác giả Trần Văn Tùng và Lê Ái Lâm [143] đã làm rõ vai trò quy ết

định của NNL đối với sự thành công c ủa sự nghi ệp đổi mới, tổng kết kinh

nghiệm phát triển NNL của thế giới; từ đó, đưa ra những giải pháp giáo dục –

đào tạo (GD - ĐT) nhằm góp phần phát triển NNL Việt Nam thời kỳ đổi mới.

Bộ sách “ Trên đường công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa” do Trung ương

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh chủ biên [137] chuyên bàn v ề NNL

trẻ. Các tác giả bắt đầu từ tiêu chuẩn 5M của kinh tế thế giới, từ đó bàn về vai

trò của GD - ĐT với phát tri ển NNL tr ẻ của đất nước; đặt ra nh ững vấn đề

hiện tại đối với NNL tr ẻ nước nhà nh ư: đây là l ực lượng đông đảo, có tinh

thần hăng say, sáng t ạo trong vi ệc ti ếp thu tri th ức mới, tuy nhiên h ọ đang

đứng trước nhiều vấn đề: cần kiến thức chuyên môn, ki ến thức xã hội, đang

loay hoay l ựa ch ọn ngh ề nghi ệp cho phù h ợp với mình. Tác gi ả Đỗ Minh

Cương khẳng định đào tạo nghề phải gắn với các chi ến lược phát tri ển KT -

XH, GD - ĐT phải đặt vấn đề đào tạo nghề ngang tầm với đào tạo đội ngũ trí

thức. Tác gi ả Phan Chính Th ức đưa ra các gi ải pháp phát tri ển giáo d ục

chuyên nghiệp và đào tạo công nhân lành nghề cho các khu công nghiệp.

8

Công trình “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu công

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” của tác giả Mai Quốc Chánh [26] đặc biệt

coi trọng NNL tri thức, coi đây là tài sản quý giá của tất cả các quốc gia, trong

đó không loại trừ Việt Nam. Tác giả khẳng định công cuộc đổi mới muốn thành

công thì đào tạo NNL tri thức là công việc cấp bách. Tác giả chỉ rõ thực trạng số

lượng và chất lượng NNL tri thức hiện nay, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp

xây dựng và phát triển NNL này.

Công trình “ Nền kinh t ế tri th ức và yêu c ầu đổi mới giáo d ục Vi ệt

Nam” của tác giả Trần Văn Tùng [144] bàn về vai trò của tri thức với kinh tế

thế giới, khu vực châu Á - Thái Bình D ương nói chung và s ự nghiệp đổi mới

ở Việt Nam nói riêng. Từ đó tác giả nêu lên những yêu cầu đối với sự nghiệp

GD - ĐT nh ằm đáp ứng sự nghi ệp xây d ựng, đào tạo, bồi dưỡng NNL cho

quốc gia, trong đó có NNL cho nông nghiệp.

Công trình “Phong trào thanh niên với việc đào tạo nguồn nhân lực trẻ”

của tác giả Trần Văn Miều [80] đề cập đến NNL Việt Nam tức là có lao động

đang làm trong các c ơ quan, đơn vị; có l ực lượng đang học tập và có l ực

lượng chưa được huy động, chưa có việc làm. Vì vậy, ở nước ta hiện nay cần

3 phương án đào tạo NNL là đào tạo mới từ đầu, đào tạo lại và đào tạo thêm.

Bài toán phải giải trong những năm tới là đối với NNL dồi dào như ở nước ta

vấn đề là phát huy NNL đó như thế nào để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH,

HĐH đất nước.

Cuốn sách “ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam - Lý luận và thực

tiễn” của tập thể tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa và Đặng Hữu

Toàn [27] đã đề cập đến nhiều vấn đề con người, những bất cập, đòi hỏi về nguồn

lực con người trước sự nghiệp CNH, HĐH, những vấn đề quan tâm, bồi dưỡng,

nâng cao chất lượng nguồn lực con người dưới các khía cạnh khác nhau.

Công trình “Nhân lực Việt Nam trong chiến lược kinh tế 2001-2010” của

nhóm tác giả Nguyễn Văn Đễ, Bùi Xuân Trường và Nguyễn Kim Liệu [58] đã

tập hợp các bài vi ết về vai trò của NNL Việt Nam trong chiến lược phát triển

9

kinh tế 2001 - 2010. Cu ốn sách chia làm 4 ph ần: Kinh tế tri thức; Chiến lược

phát tri ển NNL Vi ệt Nam trong chi ến lược KT - XH giai đoạn 2001-2010;

Hướng tới nền kinh tế tri thức - cả nước với chương trình phát triển NNL giai

đoạn 2001- 2010; Những thông tin về GD - ĐT.

Công trình “Nguồn lực con người trong quá trình công nghi ệp hóa, hiện

đại hóa đất nước” của Đoàn Văn Khái [75] đã phân tích vai trò của nguồn lực

con người trong quá trình CNH, H ĐH nước ta, lý gi ải hợp lý ngu ồn lực con

người là yếu tố quyết định của sự nghiệp CNH, HĐH. Tác gi ả đã làm rõ: c ơ

sở lý lu ận cho vi ệc đề ra chi ến lược phát tri ển NNL; một số thực trạng, giải

pháp cho lao động đào tạo nghề; yêu cầu đặt ra đối với NNL trong quá trình

đổi mới ở Việt Nam.

Tác giả Vũ Bá Th ể trong cuốn sách “Phát huy ngu ồn lực con ng ười để

công nghiệp hóa, hi ện đại hóa” [113] đề cập đến vấn đề NNL sau khi được

đào tạo được sử dụng có hi ệu quả trong sự nghiệp CNH, HĐH của đất nước

hiện nay.

Về vai trò của các tổ chức xã hội với đào tạo NNL, tác gi ả Lê Thanh Hà

trong cuốn sách “Phát triển nguồn nhân lực công nghiệp Việt Nam trong quá

trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và vai trò c ủa công đoàn” [66]

đã làm rõ nh ững thực trạng sử dụng NNL ở Việt Nam, từ đó đưa ra các gi ải

pháp nhằm đào tạo thành công và sử dụng có hiệu quả NNL, trong đó đặc biệt

nhấn mạnh vai trò của tổ chức công đoàn.

Vấn đề NNL cho nông nghi ệp cũng thu hút được sự quan tâm c ủa rất

nhiều tác gi ả. Công trình “ Đào tạo ngh ề gi ữ vai trò tr ọng tâm trong chính

sách phát triển” của Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ lao động Thương binh

và xã hội [17] đã đánh giá sâu s ắc về những khía cạnh của đào tạo nhân lực

cho nông nghi ệp. Công trình đưa ra quan điểm phải coi nông nghi ệp là một

nghề thì đào tạo nhân lực cho nông nghiệp mới được coi trọng. Còn hiện nay

có một thực tế là nông nghiệp vẫn được xem là một hoạt động tiếp nối từ cha

mẹ, có tính chất cha truyền con nối.

10

Cuốn sách “ Con đường công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa nông nghi ệp,

nông thôn Vi ệt Nam” của Ban T ư tưởng - V ăn hóa Trung ương, Bộ Nông

nghiệp và Phát tri ển nông thôn [18] đã tập hợp nhiều bài vi ết của nhiều tác

giả, trong đó hầu hết các tác gi ả đều kh ẳng định mu ốn CNH, H ĐH nông

nghiệp, nông thôn thành công thì quan tr ọng hàng đầu là NNL. Từ đó các tác

giả làm rõ th ực trạng nguồn NNL cho nông nghi ệp, hướng đi, biện pháp đào

tạo NNL này.

Cuốn sách “ Cơ sở khoa h ọc để xây d ựng tiêu chí, b ước đi, cơ ch ế,

chính sách trong quá trình công nghi ệp hóa, hiện đại hóa nông nghi ệp, nông

thôn” do GS, TS V ũ Năng Dũng chủ biên [43] nêu ra nhi ều cơ sở cho vi ệc

xây dựng cơ ch ế, chính sách CNH, H ĐH nông nghi ệp, nông thôn. V ới một

quốc gia phát tri ển nông nghiệp lâu đời như Việt Nam thì đào tạo NNL phục

vụ nông nghi ệp, nông thôn trong b ối cảnh toàn cầu, hội nhập là tất yếu lịch

sử. Tác giả khẳng định nguồn lực con người đạt chuẩn cả về số lượng và chất

lượng là cơ sở quan trọng nhất trong bất kỳ chính sách nào.

Trong cu ốn sách “ Con đường và b ước đi công nghi ệp hóa, hi ện đại

hóa nông nghi ệp, nông thôn Vi ệt Nam” do Nguy ễn Kế Tuấn chủ biên [140]

làm rõ yêu cầu xây dựng và phát tri ển NNL ở nông thôn trong công cu ộc đổi

mới; thực trạng của quá trình đào tạo và sử dụng NNL ở nông thôn Việt Nam

hiện nay; những cơ sở lý luận để xây dựng tiêu chí, cơ chế, chính sách về đào

tạo NNL ở nông thôn đáp ứng yêu cầu mới.

Cuốn “Tác động của hội nhập kinh t ế đối với phát tri ển nông nghi ệp

Việt Nam” do tác giả Nguyễn Từ chủ biên [146] đã phản ánh những thay đổi

của nông nghi ệp, nông thôn hi ện nay theo s ự tác động của hội nh ập kinh tế

quốc tế. Để theo kịp sự thay đổi ấy, NNL nông nghi ệp cũng phải được đào

tạo, phát triển để không bị tụt hậu.

Cuốn sách “Nông dân, nông thôn và nông nghi ệp, những vấn đề đang

đặt ra” của các tác giả Phạm Hữu Nghĩa, Nguyên Ngọc, Đặng Kim Sơn, Cao

Tự Thanh và Đào Thế Tuấn [85] vi ết về đề tài nông nghi ệp, nông dân, nông

thôn. Các tác gi ả tuy xuất phát từ góc độ khác nhau để nêu và gi ải quyết vấn

11

đề nhưng đều chung nhau ở cách nhìn về thực trạng, hướng đi của nông thôn,

nông dân và nông nghi ệp Vi ệt Nam hi ện nay là mu ốn CNH, H ĐH nông

nghiệp, nông thôn thành công thì điều cốt yếu là ph ải đào tạo nh ững ng ười

nông dân đủ năng lực làm giàu trên chính mảnh đất của mình.

Cuốn sách: “Cơ ch ế, chính sách h ỗ tr ợ nông dân y ếu th ế trong quá

trình chuyển sang nền kinh tế thị trường”, của tác gi ả Vũ Dũng [44] bàn v ề

đối tượng nông dân y ếu th ế. Theo tác gi ả, nông dân y ếu th ế thu ộc nhóm

người: nông dân nghèo, thi ếu tư liệu sản xuất, một phần khá lớn là nông dân

vùng dân tộc thiểu sổ, kém phát tri ển, nông dân bị mất đất sản xuất do đô thị

hóa, hoặc những nông dân gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm. Họ hạn chế

trong việc chậm đổi mới tư duy, kh ả năng tính toán đầu vào, đầu ra của sản

phẩm kém, ch ưa thực sự nỗ lực vươn lên thoát nghèo. Vì v ậy Đảng và Nhà

nước cần có những chính sách và biện pháp phù hợp hỗ trợ họ trong quá trình

chuyển sang nền kinh tế thị trường.

Cuốn sách “Đường lối phát tri ển kinh tế nông nghi ệp của Đảng Cộng

sản Việt Nam trong th ời kỳ đổi mới (1986-2011)” của tác gi ả Nguyễn Ngọc

Hà [65] xuất phát từ thành tựu đạt được trong phong trào xây dựng NTM, từ đó

khẳng định những thành tựu đó bắt nguồn trước hết từ đường lối, chủ trương của

Đảng về CNH, HĐH nông nghi ệp, nông thôn. Tác gi ả đã hệ thống đường lối

phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng trong thời kỳ đổi mới, qua đó làm rõ

quá trình phát triển nhận thức của Đảng về kinh tế nông nghiệp trong chiến lược

phát triển KT - XH của đất nước.

Sau khi Nghị quyết số 26-NQ/TW của Đảng về nông nghiệp, nông dân,

nông thôn đi vào cu ộc sống, trở thành phong trào r ộng khắp, tác gi ả Vũ Văn

Phúc đã nghiên cứu và biên soạn cuốn sách “Xây dựng nông thôn mới - những

vấn đề lý luận và thực tiễn”[88] tổng kết những vấn đề lý luận chung và kinh

nghiệm quốc tế về xây dựng NTM; và thực tiễn xây dựng NTM ở Việt Nam.

Bên cạnh các công trình chuyên kh ảo, trên các t ạp chí khoa h ọc có

một số bài vi ết về đào tạo nguồn nhân lực như: Phát triển bền vững nông

12

nghiệp và nông thôn của Trần An Phong [86]; Phát triển lao động kỹ thuật ở

Việt Nam trên b ước đường toàn cầu hóa của Mạc Văn Ti ến [117]; Đào tạo

nghề theo nhu cầu sử dụng của xã hội của Dương Đức Lân [76]; Đa dạng hóa

cơ cấu để phát tri ển số lượng và ch ất lượng ngu ồn nhân l ực, của Nguy ễn

Thanh Tu ấn [141]; Giáo dục đào tạo với sự phát tri ển ngu ồn nhân l ực của

Trần Thanh Đức [62]; Về công tác đào tạo nguồn nhân lực trong th ời kỳ đổi

mới của Nguyễn Thắng Lợi [77]; Nâng cao chất lượng lao động đáp ứng yêu

cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghi ệp nông thôn của Hồ Văn Vĩnh

[173]; Liên kết 4 nhà t ạo đường băng để nông dân c ất cánh của Mai V ăn

Quyền [92]; Xây dựng nông thôn m ới và vấn đề đặt ra của Phạm Tất Thắng

[112]; Đất và nghề: Nhu cầu bức thiết của nông dân của Trần Văn Đông [59];

Đào tạo ngu ồn nhân l ực: còn nhi ều vi ệc ph ải làm, của Ph ạm Vĩnh Thái

[110]... Các bài báo c ủa các tác gi ả đều bắt ngu ồn từ ch ủ tr ương đẩy mạnh

CNH, HĐH nông nghi ệp của Đảng, đồng thời nhất quán ch ủ trương coi đào

tạo nhân lực chất lượng cao là một trong ba khâu đột phá để thực hiện thành

công sự nghiệp CNH, HĐH. Trên cơ sở đó các tác gi ả nêu rõ th ực trạng về

đào tạo và s ử dụng NNL ở nước ta hi ện nay đông về số lượng nh ưng ch ất

lượng lại ch ưa đáp ứng được yêu cầu KT - XH đặt ra; th ực trạng của nông

nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay: ruộng đất bị chia nhỏ manh mún không

phù hợp với sản xuất hàng hóa, ti ến độ áp dụng khoa học kỹ thuật chậm dẫn

đến năng suất lao động thấp, làng nghề thiếu công nghệ, sức cạnh tranh kém....

Các tác giả chỉ rõ: bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, đòi hỏi NNL làm sao

có thể chuyển mình kịp với nhu cầu của đất nước, thời đại. Vì vậy đào tạo NNL

đáp ứng thời kỳ mới của đất nước là công việc chung của cả xã hội.

Cùng với các công trình, bài vi ết trên, còn có các đề tài, chương trình

nghiên cứu về vấn đề này như: Chương trình khoa học - công nghệ cấp Nhà

nước: “ Con người Việt Nam. Mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế -

xã hội” mã số KX - 07 (1991 - 1995) do Ph ạm Minh Hạc làm chủ nhiệm [67]

đã nghiên c ứu con ng ười Vi ệt Nam truy ền th ống và hi ện đại, th ực tr ạng và

13

vấn đề đào tạo lại đội ngũ nhân lực... Đặc biệt, công trình đã đưa ra cái nhìn

tổng th ể mang t ầm chi ến lược về vấn đề con ng ười trong s ự nghi ệp CNH,

HĐH. Đề tài khoa h ọc cấp Bộ: “Xây dựng cơ sở lý luận cho chiến lược phát

triển nguồn nhân lực khoa học công ngh ệ” của Bộ Khoa học - Công ngh ệ -

Môi tr ường [22]; “Lý lu ận, ph ương pháp lu ận và ph ương pháp nghiên c ứu

xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2020” của Ban Ngu ồn nhân lực - Vi ện

Nghiên cứu chi ến lược - B ộ Kế ho ạch và Đầu tư [21]. Công trình nghiên

cứu của Đỗ Minh Cương “Lao động kỹ thuật ở Việt Nam - Lý lu ận và th ực

tiễn” [39] đã phân tích l ực lượng lao động nói chung trong đó đề cập sâu

đến hệ th ống đào tạo ngh ề hi ện nay, s ản ph ẩm, kết qu ả của quá trình đào

tạo. Đề tài KX - 05 - 10 “Thực tr ạng và gi ải pháp đào tạo lao động kỹ

thuật đáp ứng yêu c ầu chuyển dịch cơ cấu lao động trong điều kiện kinh t ế

thị tr ường, toàn c ầu hóa và h ội nh ập qu ốc tế” do tác gi ả Nguy ễn Minh

Đường [60] làm ch ủ nhi ệm đã nghiên c ứu th ực tr ạng, năng lực đào tạo

nghề của các c ơ sở đào tạo, các chính sách đào tạo lao động kỹ thu ật và

những vấn đề kỹ thuật của ho ạt động đào tạo. Đề tài nghiên c ứu khoa h ọc

cấp Bộ “Thực tr ạng và gi ải pháp gi ải quy ết vi ệc làm nông nghi ệp, nông

thôn Vi ệt Nam” của Bộ Nông nghi ệp và phát tri ển nông thôn, do V ũ Th ị

Kim Mão làm ch ủ nhiệm [79] đã tập trung nghiên c ứu, phân tích th ực trạng

lao động nông thôn, đề xuất các gi ải pháp gi ải quyết việc làm cho lao động

nông thôn.

Hội thảo quốc gia “ Đào tạo nghề theo nhu cầu xã hội” [20] đã đưa ra 7

nhóm giải pháp nhằm thực hiện đào tạo nghề theo nhu c ầu xã hội. Bao gồm:

1. Thành lập các cơ quan dự án theo nhu cầu xã hội; 2. Xây dựng cơ chế năng

động; 3. T ăng cường hợp tác gi ữa nhà tr ường với nhà tuy ển dụng; 4. Phát

triển đội ngũ cán bộ giảng dạy và cán bộ quản lý; 5. Xây dựng danh mục nghề

và các tiêu chu ẩn ngh ề nghi ệp; 6. Ki ểm định và đánh giá n ăng lực ngh ề

nghiệp; 7. Tư vấn hướng nghiệp.

14

Hội th ảo qu ốc gia “ Đào tạo ngu ồn nhân l ực ph ục vụ hội nh ập qu ốc

tế”[71] khẳng định trình độ của người lao động là điểm tựa của hệ thống đòn

bẩy để th ực hiện các ch ương trình KT - XH. Mu ốn tăng cường hợp tác v ới

nước ngoài Việt Nam không thể chậm trễ trong việc nâng cao tính cạnh tranh

của NNL. Do đó, đào tạo NNL là nhiệm vụ trọng yếu.

Hội thảo quốc gia “Chân dung ng ười nông dân Vi ệt Nam trong th ời kỳ

công nghiệp hóa, hi ện đại hóa và h ội nhập” [169] đã khẳng định vai trò c ủa

người nông dân v ới nông nghi ệp, nông thôn, kh ẳng định tầm quan tr ọng của

đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng, Nhà nước. Từ đó Hội thảo

đề ra những gợi mở có tính định hướng nhằm giải quyết những vấn đề lý luận

và thực tiễn của nông dân, nông thôn Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.

Một số lu ận án ti ến sỹ: “Các gi ải pháp ch ủ yếu nâng cao ch ất lượng

nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” của

Phan Thanh Tâm [108] đã làm rõ vai trò của NNL với sự phát triển KT - XH,

xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng NNL đáp ứng nhu cầu CNH,

HĐH đất nước.

“Những gi ải pháp phát tri ển đào tạo ngh ề góp ph ần đáp ứng nhu c ầu

nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Phan Chính Thức

[116] đề cập đến hệ thống đào tạo nghề ở góc độ hệ thống cung ứng nhân lực

lao động qua đào tạo ngh ề cho n ền kinh t ế và đi sâu vào nghiên c ứu th ực

trạng và các vấn đề của hệ thống đào tạo nghề của Việt Nam.

“ Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại

hoá nông thôn Vi ệt Nam” của tác gi ả Trần Thanh Bình [19] đã đi sâu vào cơ

sở lý lu ận và th ực tiễn về đào tạo NNL ph ục vụ quá trình CNH, H ĐH nông

nghiệp và nông thôn. Luận án nêu thực trạng đào tạo NNL cho nông nghiệp và

các giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo này.

“Nghiên cứu việc làm của lao động qua đào tạo nghề ở Việt Nam” của

Bùi Tôn Hiến [69] đề cập đến hệ thống lý luận về việc làm của lao động qua

đào tạo nghề, phân tích cơ hội việc làm, khác bi ệt thu nhập của lao động qua

15

đào tạo và mối quan hệ biện chứng giữa việc làm với đào tạo nghề và đề xuất

những giải pháp cho việc đào tạo nghề và giải quyết việc làm giai đoạn hiện nay.

1.1.2. Các công trình nghiên cứu về đào tạo, phát triển nguồn nhân

lực ở các vùng miền, các ngành và địa phương trong cả nước

So với những công trình nghiên cứu lý lu ận chung về NNL, nh ững công

trình nghiên cứu riêng về NNL vùng, miền, các địa phương có số lượng ít hơn.

Tác giả Bùi Ti ến Lợi trong cu ốn sách “Phát triển nguồn nhân lực của

Thanh Hoá đến năm 2010 theo h ướng công nghi ệp hoá, hi ện đại hoá” [78]

trên cơ sở thực trạng NNL và yêu cầu phát triển KT - XH của Thanh Hóa, tác

giả đã đề ra một số giải pháp cơ bản đến năm 2010 nhằm phát triển NNL của

Thanh Hoá theo hướng CNH, HĐH.

Cu ốn sách “Việc làm của nông dân trong quá trình công nghi ệp hóa,

hiện đại hóa vùng đồng bằng sông H ồng đến năm 2020’ của TS Tr ần Th ị

Minh Ng ọc [84] đã làm rõ nh ững khái ni ệm liên quan tr ực ti ếp đến vấn đề

như: vi ệc làm, thi ếu vi ệc làm, th ất nghi ệp, từ đó làm rõ đặc điểm vi ệc làm

nông thôn hi ện nay. Tác gi ả phân tích, đánh giá nh ững thu ận lợi, khó kh ăn

cũng nh ư nh ững thành t ựu, hạn ch ế trong quá trình gi ải quyết việc làm cho

nông dân vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) trong quá trình CNH, HĐH, từ

đó đề ra phương hướng và giải pháp cụ thể thiết thực nhằm tiếp tục thực hiện có

hiệu quả hơn chính sách này.

Cuốn sách “Các tỉnh ủy vùng đồng bằng sông Hồng lãnh đạo đẩy nhanh

công nghiệp hóa, hi ện đại hóa nông nghi ệp, nông thôn trong giai đoạn hi ện

nay” của Nguyễn Thị Tố Uyên [147] đã phân tích vai trò, đặc điểm của nông

nghiệp, nông thôn ĐBSH với sự phát triển KT - XH cả nước, những thay đổi sâu

sắc của bộ mặt nông thôn vùng ĐBSH từ năm 2001 đến nay. Từ đó, tác gi ả

khẳng định CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là trách nhiệm của toàn Đảng,

toàn dân, đặc biệt là giai cấp nông dân trong vùng.

Hệ th ống nh ững bài vi ết về vấn đề này trên các t ạp chí ch ủ yếu tập

trung vào vấn đề đào tạo, phát tri ển NNL thu ộc các đối tượng khác nhau và

các địa phương trên cả nước như Giáo dục đào tạo Lào Cai góp ph ần quan

16

trọng đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa

của Thanh Tùng, Đỗ Hùng [142]; Phát huy nguồn nhân lực nữ và xoá đói giảm

nghèo ở nông thôn của Lê Thi [114]; Phát triển nguồn nhân lực ở Bình Thuận

của Vũ Thị Vinh [172]; Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu

phát triển nông nghi ệp, nông thôn t ỉnh Sơn La của Nguyễn Đức Thảo [111];

Giải pháp phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Lâm Đồng của Nguyễn Tấn Vinh

[171]; Một số giải pháp nâng cao ch ất lượng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ

phát triển kinh tế - xã h ội của tỉnh Bình Ph ước của Phan Sỹ Gi ản [63]; Phát

triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Điện

Biên của Trương Xuân Cừ [41]; Cao Bằng: gắn giải quyết việc làm với đào tạo

nguồn nhân lực của Hà Minh Trần [135]; Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự

nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai của Lê Thị Mỹ Phượng [89];

Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đáp ứng nhu cầu kinh tế xã hội của

Đồng bằng sông Cửu Long trong xu th ế hội nhập của Nguyễn Thị Mỹ Dung,

Cung Thị Ngọc Mai [42]; Đào tạo nguồn nhân lực khoa học cho Hà Nội trong

thời kỳ đổi mới của Trần Thị Minh Ngọc [83]; Nâng cao chất lượng nguồn nhân

lực ngành du lịch thành phố Đà Nẵng của Nguyễn Bình Đức [61].

Nghiên cứu vấn đề này có Lu ận án ti ến sỹ: “Giải pháp đào tạo ngu ồn

nhân lực kỹ thu ật nông nghi ệp cho thành ph ố Cần Th ơ trong th ời kỳ công

nghiệp hóa, hi ện đại hóa” của Tô Minh Gi ới [64]. Tác gi ả nêu lên th ực tế

Cần Thơ là thành ph ố nhưng diện tích đất nông nghi ệp tương đối lớn, vì vậy

đào tạo NNL kỹ thuật nông nghi ệp là cần thiết. Từ đó, tác gi ả đưa ra nh ững

nguyên tắc, gi ải pháp, ki ến nghị trong công tác đào tạo NNL k ỹ thuật nông

nghiệp cho thành phố.

1.1.3. Nh ững công trình liên quan đến vấn đề nhân l ực và đào tạo

nguồn nhân lực trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Bình

Công trình “ Đặc điểm khí hậu Thái Bình” của tác giả Vũ Anh [1] đã đề

cập đến khá toàn di ện về điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội, con người Thái

Bình... đối với sự phát triển kinh tế nông nghiệp của địa phương trong lịch sử.

17

Công trình “Người nông dân Thái Bình trong l ịch sử” của Ban Nghiên

cứu lịch sử Đảng tỉnh Thái Bình [119] đã đề cập đến những đặc điểm truyền

thống của nông dân t ỉnh Thái Bình, trong đó đặc bi ệt là truy ền th ống thâm

canh lúa n ước ở một tỉnh thu ần nông và đã đạt được nh ững thành tích điển

hình trong kinh tế nông nghiệp.

Cu ốn sách “ Nông nghi ệp, nông thôn Thái Bình, th ực tr ạng và gi ải

pháp”, tác giả Bùi Sỹ Trùy chủ biên [139] viết về KT - XH trên quê lúa Thái

Bình trong hơn 10 năm đầu đổi mới. Bắt đầu từ việc phân tích đặc điểm thiên

nhiên, con người và thực trạng KT - XH và nh ững vấn đề đặt ra đối với nông

nghiệp Thái Bình nói riêng và KT - XH t ỉnh nói chung, tác gi ả đã đưa ra

những gi ải pháp phát tri ển và t ăng tr ưởng kinh t ế nông nghi ệp tỉnh trong

những th ập niên đầu th ế kỷ XXI. Trong đó, tác gi ả kh ẳng định con đường

CNH, HĐH nông nghi ệp, nông thôn là con đường duy nh ất giúp nông dân

Thái Bình thoát nghèo.

Bài viết “Xây dựng nông thôn m ới ở Thái Bình - k ết quả bước đầu và

những bài h ọc kinh nghi ệm” của Tr ần Cẩm Tú [145] đã nêu lên nh ững kết

quả bước đầu của phong trào xây dựng NTM ở Thái Bình. Những kết quả đạt

được khẳng định phong trào đã được nông dân đón nhận tích cực. Từ những

kết quả đạt được và những hạn chế, tác giả đưa ra một số bài học kinh nghiệm

trong quá trình chỉ đạo và tổ chức thực hiện cuộc vận động này.

Luận văn “Nghiên cứu phát tri ển nguồn nhân lực nông thôn t ỉnh Thái

Bình” của Tr ần Quang Huy [73], d ưới góc độ chuyên ngành kinh t ế nông

nghiệp, tác gi ả đề ra nh ững giải pháp nh ằm phát tri ển NNL nông thôn Thái

Bình trong những năm tới.

Tuy các công trình nghiên cứu về vấn đề này trên địa bàn tỉnh còn ít nhưng

đây là vấn đề luôn được Đảng bộ Thái Bình quan tâm và chỉ đạo thực hiện.

“Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Bình 1975 - 2000” của Đảng bộ tỉnh Thái

Bình [47] đã đề cập đến quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình trên

18

nhiều phương diện trong chặng đường lịch sử từ sau cuộc kháng chiến chống

Mỹ, cứu nước đến năm 2000. Qua đó, giúp cho nghiên c ứu sinh có được bức

tranh tổng thể về quá trình phát tri ển KT-XH của địa phương, cũng như tầm

quan trọng, cần thi ết về đào tạo NNL cho nông nghi ệp và nh ững thu ận lợi,

khó kh ăn trong quá trình đào tạo, phát tri ển NNL cho nông nghi ệp đối với

tỉnh Thái Bình trong giai đoạn luận án đi sâu nghiên cứu.

Ngoài ra, có th ể kể đến những công trình “Tổng kết Chương trình mục

tiêu gi ải quy ết vi ệc làm giai đoạn 2001 - 2005” [148]; “T ổng kết Ch ương

trình mục tiêu gi ải quyết việc làm giai đoạn 2006 - 2010” [164] của UBND

tỉnh Thái Bình. Nh ững công trình đó đã tổng kết về những kết quả đạt được,

hạn chế cần khắc phục và ph ương hướng đào tạo NNL cho nông nghi ệp tỉnh

Thái Bình trong giai đoạn tiếp theo.

Nhìn chung, nh ững công trình liên quan tr ực tiếp đến vấn đề nhân lực

và đào tạo NNL cho nông nghi ệp trên địa bàn tỉnh Thái Bình còn rất hạn chế.

Cho đến nay, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh

Thái Bình thực hiện đào tạo NNL cho nông nghi ệp trong những năm tiến hành

công cuộc đổi mới dưới góc độ Lịch sử Đảng.

1.2. KHÁI QUÁT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC CÔNG TRÌNH KHOA

HỌC ĐÃ CÔNG BỐ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT

1.2.1. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã

công bố liên quan đến đề tài luận án

Với ý ngh ĩa là một trong ba khâu đột phá của Việt Nam trong th ời đại

kinh tế tri thức, vấn đề NNL đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của Đảng và các

nhà nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu đã thu được những kết quả sau:

- Những vấn đề lý luận chung về NNL và đào tạo NNL trên phạm vi cả

nước. Các công trình nghiên c ứu đều tiếp cận khái niệm NNL theo nhi ều góc

độ khác nhau, t ừ đó làm rõ th ực tr ạng NNL, th ực tế đào tạo NNL c ủa đất

nước hiện nay, khẳng định chủ trương đào tạo NNL cho đất nước là vô cùng

cần thiết, đặc biệt là NNL chất lượng cao để phù hợp với yêu cầu phát triển KT -

19

XH trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Các công trình đề ra nhiều

giải pháp phong phú cho công tác đào tạo NNL đạt hiệu quả cao nhất.

- Những vấn đề lý lu ận chung về đào tạo NNL cho nông nghi ệp, nông

thôn. Đây cũng là vấn đề được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu, đặc biệt sau

chủ tr ương đẩy mạnh CNH, H ĐH nông nghi ệp, nông thôn c ủa Đảng. Xu ất

phát từ thực trạng lực lượng lao động chủ yếu là nông dân đông đảo nhưng chưa

được đào tạo nghề theo đúng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp,

nông thôn. Trong sản xuất và kinh doanh còn chậm đổi mới tư duy, chưa biết tận

dụng các cơ hội để phát triển KT - XH. Từ thực tế này, một số tác giả đã đề cập

các giải pháp nhằm khắc phục đào tạo NNL cho nông nghiệp hiệu quả.

- Những công trình nghiên cứu về tỉnh Thái Bình bước đầu làm rõ một

số đặc điểm điều kiện tự nhiên, xã h ội; một số chủ trương của Đảng bộ tỉnh,

của chính quy ền các c ấp, ban, ngành v ề đào tạo NNL nói chung, NNL cho

nông nghiệp nói riêng.

Tuy chưa có công trình nào đề cập một cách có hệ thống, toàn diện về quá

trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình trong vi ệc đào tạo NNL cho nông

nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010, nhưng những công trình nghiên cứu có liên

quan là những nguồn tư liệu và luận cứ khoa học quan trọng để luận án kế thừa,

luận giải mục đích và nhiệm vụ của luận án.

1.2.2. Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu

- Lu ận án t ập trung làm rõ yêu c ầu đào tạo NNL và NNL cho nông

nghiệp trên tổng thể cả nước, từ đó làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn trong các

biện pháp của Đảng bộ Thái Bình đào tạo NNL cho nông nghiệp từ năm 2001

đến năm 2010.

- Làm rõ t ầm quan tr ọng và nh ững yêu cầu khách quan đặt ra với đào

tạo NNL cho nông nghi ệp nói chung, đặc bi ệt là t ỉnh thu ần nông nh ư Thái

Bình thời kỳ đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện.

- Làm rõ quá trình ho ạch định chủ trương và các bi ện pháp của Đảng

bộ Thái Bình qua các nhiệm kỳ Đại hội từ khi đổi mới, đặc biệt các nhiệm kỳ

từ năm 2001 đến năm 2010 về đào tạo NNL cho nông nghiệp.

20

- Từ khảo sát thực tiễn, luận án hệ thống, phân tích, đánh giá quá trình

tổ chức chỉ đạo thực hiện chủ trương đào tạo NNL cho nông nghi ệp qua các

giai đoạn 2001 - 2005 và 2006 - 2010.

- Trên cơ sở những thành công và nh ững hạn chế, luận án nêu m ột số

kinh nghi ệm ch ủ yếu của quá trình ho ạch định ch ủ tr ương và ch ỉ đạo th ực

hiện đào tạo NNL cho nông nghiệp của tỉnh Thái Bình trong những năm tới.

Có thể khẳng định: từ góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng, cho đến nay,

chưa có chuyên kh ảo nào đề cập một cách hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh

Thái Bình lãnh đạo thực hiện đào tạo NNL cho nông nghiệp từ năm 2001 đến

năm 2010. Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của những công trình trước

đi sâu; tìm hiểu có hệ thống về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước;

sự chỉ đạo cụ thể của Đảng bộ tỉnh Thái Bình; s ự phát tri ển của nông nghiệp

tỉnh chủ yếu từ năm 2001 đến năm 2010, tác giả luận án sẽ dựng lại bức tranh

toàn cảnh và quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo đào tạo NNL cho

nông nghiệp ở địa phương trong th ời gian nói trên, t ừ đó đưa ra nh ững đánh

giá khách quan trung th ực và nh ững thành t ựu, hạn ch ế; rút ra nh ững kinh

nghiệm cho giai đoạn tiếp theo.

21

Chương 2

CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH

VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHO NÔNG NGHIỆP

TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005

2.1. NH ỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGU ỒN

NHÂN LỰC CHO NÔNG NGHIỆP TỈNH THÁI BÌNH

Hi ện có nhi ều quan điểm khác nhau v ề NNL. Theo Tổ chức Lao động

quốc tế (ILO) NNL đồng nhất với lực lượng lao động. Lực lượng lao động là

một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động, thực tế có tham gia lao động và

những ng ười không có vi ệc làm đang tích cực tìm ki ếm việc làm [72, tr.40].

Theo tổ chức quốc tế Liên hợp quốc thì "Nguồn nhân lực là tất cả những kiến

thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ

tới sự phát triển của mỗi cá nhân và c ủa đất nước" [170, tr.8]. Quan niệm này

của Liên hợp quốc thiên về chất lượng NNL, coi yếu tố tiềm năng là năng lực

sáng tạo của con người, từ đó Nhà nước có cơ chế quản lý, sử dụng thích hợp.

Có tác gi ả cho rằng: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người với hoạt

động lao động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi giới tự nhiên

và trong quá trình lao động nảy sinh các quan hệ lao động và quan hệ xã hội”

[118, tr.7]; hay: "Ngu ồn nhân l ực là t ổng hòa trong th ể th ống nh ất hữu cơ

giữa năng lực xã h ội của con ng ười (th ể lực, trí l ực, tâm l ực) và tính n ăng

động của con người" [87, tr.127].

Như vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về NNL, nhưng NNL quốc gia đều

có chung nh ững đặc điểm: NNL là ngu ồn lực con ng ười; NNL là bộ phận lao

động trong toàn thể dân số; NNL phản ánh khả năng lao động của một xã hội.

Nguồn nhân l ực cho nông nghi ệp là NNL cho s ự phát tri ển KT - XH

nông thôn, đồng thời cung cấp nhân lực cho sự phát triển KT - XH nói chung.

NNL này thống nhất nhưng không đồng nhất với nông dân. Trong nông thôn,

nông dân là lực lượng chính, nhưng để phát triển nông thôn thì còn c ần nhiều

22

lực lượng khác. NNL nông nghi ệp còn bao gồm những lực lượng khác ngoài

nông dân. Do tác động của hoàn cảnh lịch sử, của nền sản xuất hàng hóa mà

bức tranh về cơ cấu nông thôn ở Việt Nam hiện nay rất đa dạng. Vì vậy, NNL

nông nghiệp là toàn bộ những tiềm năng con người phục vụ cho sự phát triển

KT - XH ở nông thôn.

Đào tạo NNL cho nông nghiệp là quá trình làm cho NNL biến đổi trên tất

cả các mặt: cơ cấu, thể lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần... cho công việc. Nhờ

vậy mà phát triển được năng lực của họ, ổn định công ăn việc làm, nâng cao địa

vị KT - XH. Đào tạo NNL cho nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH là hoạt

động nhằm tạo ra NNL có số lượng hợp lý và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát

triển KT - XH c ủa giai đoạn CNH, HĐH. Ở Việt Nam hiện nay, đào tạo NNL

cho nông nghiệp quan trọng hàng đầu là chuyển giao KHCN và d ạy nghề cho

nông dân để họ bắt kịp được với đà CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.

Từ cách hi ểu khái ni ệm NNL và đào tạo NNL cho nông nghi ệp nh ư

trên, có th ể thấy những tác động đối với việc đào tạo NNL trong công cu ộc

đổi mới của đất nước:

2.1.1. Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và yêu c ầu đẩy mạnh công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng, phát triển nền kinh tế tri

thức đòi hỏi phải đào tạo nguồn nhân lực

Hiện nay, toàn c ầu hóa, hội nhập quốc tế đã trở thành quy lu ật tất yếu

của thời đại. Không một quốc gia nào tránh được quy luật đó. Trong quá trình

hội nhập, chất lượng NNL là y ếu tố quyết định khả năng cạnh tranh, tốc độ

hội nhập của mỗi quốc gia. Vì ch ất lượng NNL không ch ỉ tạo nên chất lượng

sản phẩm; là cơ sở nền tảng cho quá trình chuy ển giao, sử dụng và sáng t ạo

công ngh ệ mới; mà quan tr ọng hơn cả, chất lượng NNL còn t ạo nên uy tín,

sức mạnh của mỗi quốc gia trong th ế giới toàn cầu… Do đó, tất cả các qu ốc

gia đều phải có chiến lược xây dựng, đào tạo, phát triển NNL của nước mình.

Với Vi ệt Nam, quá trình h ội nh ập kinh tế thế giới làm cho NNL đang

đứng tr ước hai v ấn đề. Thứ nh ất, quá trình h ội nh ập trong điều ki ện cách

23

mạng KHCN phát tri ển mạnh mẽ, phân công lao động xã hội ngày càng sâu

sắc, nhiều ngành ngh ề mới ra đời, nhiều chuyên môn c ũ thay đổi. Từ đó đòi

hỏi trình độ lành nghề của NNL cần phải được nâng cao để đáp ứng yêu cầu

của sự phát triển. Thứ hai, trong xu thế hội nhập, Việt Nam ngày càng thu hút

đầu tư nước ngoài, NNL có d ịp được cọ sát với thị trường lao động quốc tế.

Ưu th ế cạnh tranh của NNL Vi ệt Nam là l ực lượng dồi dào, giá nhân công

thấp. Nhưng hạn chế chính là do nhi ều nguyên nhân, chất lượng NNL ở nước

ta nhìn chung còn r ất th ấp ảnh hưởng trực tiếp đến kết qu ả cuộc cạnh tranh

này. Khi điều kiện KT - XH phát triển chưa cao, đời sống nhân dân còn nhiều

khó khăn thì điều kiện đảm bảo nhất cho sự thành công của CNH, HĐH chính

là NNL kh ỏe về thể chất, giỏi về chuyên môn, ý th ức tác phong công nghi ệp

nghiêm túc. Trong bối cảnh trên, đào tạo NNL cho nông nghiệp cũng phải đáp

ứng yêu cầu thị trường lao động trong nước và thị trường lao động quốc tế.

Với điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và trong nền kinh tế hàng hóa thì

sự chuyển dịch lao động là tất yếu khách quan. Đào tạo NNL cho nông nghiệp

để đáp ứng yêu cầu nâng cao tính c ạnh tranh, tính linh ho ạt và thích ứng của

NNL trên th ị tr ường lao động. Đào tạo NNL cho nông nghi ệp ph ải gắn với

quan hệ cung cầu trên thị trường lao động.

Đồng thời, sau 10 n ăm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, đến năm

1996, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng KT - XH. Tuy nhiên, về cơ bản, bước

vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, kinh tế Việt Nam còn nghèo nàn,

lạc hậu. Trong khi đó, bản chất của CNH, HĐH được Đảng xác định là: quá

trình chuy ển đổi cơ bản, toàn di ện các ho ạt động lao động sản xu ất, kinh

doanh, dịch vụ và qu ản lý KT - XH t ừ sử dụng lao động thủ công là chính

sang sử dụng một cách ph ổ bi ến sức lao động với công ngh ệ, ph ương ti ện,

phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến

bộ KHCN, tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Th ực chất của quá trình này

chính là quá trình làm cho đào tạo NNL t ừ lao động thủ công thành nh ững

người lao động có khả năng làm chủ KHCN. Chính vì th ế, trong 5 ngu ồn lực

24

CNH, HĐH thì ngu ồn lực con ng ười là quyết định. Tất cả các ngu ồn lực: tài

nguyên, vốn, th ị tr ường, KHCN đều là h ữu hạn, con ng ười có th ể làm ch ủ

được, duy ch ỉ có ngu ồn lực con ng ười là vô h ạn. Mặt khác, quy lu ật của

CNH, HĐH là mở rộng, tăng tỷ trọng của các ngành công nghi ệp và dịch vụ.

Quá trình này tạo ra những ngành kinh tế mới với hàm lượng KHCN cao. Vì

vậy, yêu cầu đặt ra với NNL cũng cao hơn để đáp ứng thực tiễn chuyển đổi cơ

cấu kinh t ế. Chất lượng NNL là y ếu tố quyết định của cơ cấu kinh tế trong

một quốc gia.

Đến năm 2001, đào tạo NNL vẫn tiếp tục là yêu cầu khách quan vì xuất

phát từ thực trạng một nước sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, dân số đông, tốc

độ gia tăng dân số lớn làm cho quy mô NNL l ớn và tốc độ gia tăng NNL lớn

nhanh. Đây là điều kiện để phát triển mạnh mẽ NNL nhưng đồng thời cũng là

thách thức lớn đối với sự phát triển KT - XH trong vấn đề giải quyết việc làm

và nâng cao ch ất lượng NNL. Trong t ổng số lao động của cả nước thì lao

động nông thôn chi ếm tỷ lệ lớn vì Vi ệt Nam v ốn là đất nước nông nghi ệp,

năm 1990 tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông, lâm, ng ư nghi ệp là 73%, đến

năm 2000 còn trên 60%, [71, tr.2]. L ực lượng này lại hạn chế rất lớn về mặt

trình độ, kỹ năng, tay nghề. Ngoài nghề nông theo đúng nghĩa và một số nghề

truyền th ống thì vi ệc tham gia vào nh ững ho ạt động sản xu ất khác để nâng

cao chất lượng sống cho mình là khó kh ăn lớn với họ, nhất là khi Đảng đề ra

chính sách CNH, H ĐH nông nghi ệp, nông thôn. Do đó, đào tạo họ trở thành

những người nông dân có nghề là yêu cầu cấp thiết hiện nay ở nước ta.

Mặt khác, sang th ế kỷ XXI với sự phát tri ển như vũ bão của khoa học

kỹ thuật và công ngh ệ. Để đạt mục tiêu đến năm 2020 Vi ệt Nam cơ bản trở

thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, ngoài nh ững nguồn lực cơ

bản nh ư: vốn, công ngh ệ, th ị tr ường, thì mối quan tâm hàng đầu là ưu tiên

phát tri ển NNL, trang b ị và không ng ừng nâng cao trình độ kỹ thu ật ngh ề

nghiệp cho ng ười lao động. Chỉ có nh ững người lao động với năng lực phát

triển toàn diện, trình độ lành nghề, khả năng nắm bắt khoa học kỹ thuật nhanh

25

chóng để có thể khai thác tối đa các nguồn lực tự nhiên thì mới đạt được mục

tiêu đề ra. Vì v ậy Chiến lược phát tri ển kinh tế - xã h ội 10 năm (2001-2010)

của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định phát triển

nguồn lực con người là một trong những mục tiêu quan trọng để đưa đất nước

ra khỏi tình trạng kém phát triển.

Bước sang thế kỷ XXI, NNL còn đóng vai trò hạt nhân, cốt lõi trong nền

kinh tế tri thức. Vì chỉ nguồn lực con người mới chứa đựng hàm lượng trí tuệ

- yếu tố quyết định của nền kinh tế tri thức. Tri thức có khả năng thay thế vốn

và sức lao động, vì vậy tri th ức ngày càng tr ở thành lực lượng sản xuất trực

tiếp của đời sống KT - XH.

Với kinh tế nông nghi ệp, đào tạo NNL cho nông nghi ệp phải đáp ứng

yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành nông nghiệp đồng thời

cung cấp nhân lực cho các ngành kinh tế khác.

Trên thực tế, nông nghi ệp Việt Nam nói chung và Thái Bình nói riêng

vẫn là nền kinh tế lạc hậu, lại trải qua chiến tranh kéo dài, nên tình tr ạng sản

xuất nhỏ, manh mún, s ản xuất kinh nghi ệm vẫn là ch ủ yếu, sự tham gia c ủa

KHCN chưa nhiều. Mặc dù nông dân đã có những nỗ lực áp dụng KHCN vào

sản xuất, thâm canh, tăng vụ, quay vòng đất nhanh… nhưng hiệu quả đạt chưa

cao, thu nhập của người nông dân thấp, đời sống còn nhiều khó khăn.

CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đòi hỏi người lao động thay đổi kịp

thời với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp theo hướng

từ độc canh, mang “tính tự cấp, tự túc” sang sản xuất hàng hóa với năng suất,

hiệu quả, chất lượng cao. Một bộ phận lao động sẽ chuyển từ ngành trồng trọt

cây lương thực, cây công nghiệp sang ngành chăn nuôi và nuôi trồng thủy hải

sản mang tính hàng hóa cao. M ột bộ phận khác sẽ phát tri ển theo hướng làm

dịch vụ trong sản xuất và tiêu th ụ sản phẩm nông nghi ệp. Vì th ế, người lao

động sẽ có sự chuyển đổi cơ bản từ lao động kỹ thuật thấp, lạc hậu, năng suất,

hiệu quả thấp sang lao động sử dụng công ngh ệ, thiết bị hiện đại, năng suất,

hiệu quả cao. Quá trình này đòi hỏi người lao động phải được trang bị kiến

26

thức về văn hóa, chuyên môn, kỹ thuật, KHCN, kiến thức về quản lý, tổ chức

sản xu ất và kh ả năng ti ếp th ị…Đây chính là s ự chuy ển bi ến về ch ất trong

nông nghiệp. Để tạo ra được sự chuyển biến này đòi hỏi công tác đào tạo NNL

cho nông nghiệp phải bám sát yêu cầu đổi mới lao động nông thôn, đáp ứng đỏi

hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Đây cũng là nhiệm vụ

cấp thiết đặt ra với Đảng và Nhà nước. Từ Trung ương đến địa phương, Việt

Nam nói chung và Thái Bình nói riêng phải coi đào tạo NNL cho nông nghiệp là

nhiệm vụ tr ọng yếu. Đào tạo chuyên môn và nâng cao trình độ tay ngh ề cho

người lao động còn là trách nhiệm của toàn xã hội và của chính bản thân người

lao động. Để thực hiện được điều này, với quan điểm phát triển, Đại hội IX của

Đảng đã khẳng định: Phát triển GD - ĐT được coi là một trong những động lực

quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH là điều kiện để phát huy nguồn lực

con người - yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững.

2.1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Thái Bình

Điều kiện tự nhiên

Thái Bình là một tỉnh đồng bằng ven biển, nằm phía Nam châu thổ sông Hồng, có vị trí địa lý từ 20017 đến 22044 vĩ độ bắc và 106006 đến 106039 kinh

độ đông. Phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ, phía Tây và Tây Nam giáp t ỉnh Nam

Định và tỉnh Hà Nam, phía Bắc giáp tỉnh Hải Dương, Hưng Yên và thành phố

Hải Phòng. Tỉnh Thái Bình n ằm trong vùng ảnh hưởng của tam giác kinh t ế

Hà Nội - Hải Phòng - Qu ảng Ninh và tam giác H ải Phòng - Hà N ội - Lạng

Sơn. Mặt khác, với kho ảng cách đến Hà Nội là 110 km, H ải Phòng 70 km,

Thái Bình có điều ki ện thu ận lợi th ực hi ện trao đổi hàng hóa, tiêu th ụ sản

phẩm, chuyển giao kỹ thuật công ngh ệ, kinh nghi ệm quản lý sản xuất, nhân

lực với hai thị trường lớn này [28, tr.7].

Về địa hình, là m ột tỉnh thuộc ĐBSH, Thái Bình có địa hình tương đối

bằng phẳng, không có đồi núi. Trước đây, Thái Bình được ví như một ốc đảo

vì bao bọc xung quanh là hơn 50 km bờ biển chạy dọc theo 2 huyện Tiền Hải

và Thái Thụy cùng với hệ thống 4 con sông lớn gồm:

27

Phía Bắc và Đông Bắc có sông Hóa dài 35,3 km ch ảy qua các sông

thuộc huyện Quỳnh Phụ, Thái Thụy, Vĩnh Bảo rồi đổ ra biển Đông.

Phía Bắc và Tây B ắc có sông Lu ộc dài 53 km ch ảy qua địa phận của

tỉnh ngăn cách với tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam.

Phía Tây và Nam là đoạn hạ lưu sông Hồng dài 67 km.

Sông Trà, dài khoảng 65 km, phân lưu của sông Hồng, chảy qua các huyện

Hưng Hà, Vũ Thư, Đông Hưng, Tiền Hải, thành phố Thái Bình [28, tr.7].

Với một mặt giáp bi ển và hệ thống các sông bao quanh đồng thời cũng

tạo thu ận lợi lớn cho phát tri ển kinh t ế của Thái Bình nh ư phát tri ển giao

thông đường thủy; nuôi trồng thủy, hải sản; trồng rừng ngập mặn; du lịch dịch

vụ. Đặc biệt, sự bồi đắp phù sa của các con sông l ớn đã tạo ra cho Thái Bình

vùng đồng đất phì nhiêu, thu ận lợi cho việc phát tri ển trồng trọt, yếu tố quan

trọng để góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh.

Tài nguyên thiên nhiên phong phú, là ngu ồn lực quan trọng để phát triển

kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Trên địa bàn tỉnh Thái Bình hi ện nay có các

loại tài nguyên cơ bản sau:

Tài nguyên đất: Đất đai Thái Bình phì nhiêu, màu mỡ do được bồi tụ bởi

hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. T ổng diện tích tự nhiên 153.596 ha,

trong đó: Di ện tích cây hàng n ăm: 94.187 ha; Ao h ồ đã đưa vào s ử dụng:

6.018 ha. Hầu hết đất đai đã được cải tạo hàng năm có thể cấy trồng được 3-4

vụ, diện tích có khả năng làm vụ đông khoảng 40.000 ha [168, tr.3].

Tài nguyên nước: Nguồn nước ngọt cho nhu cầu dân sinh và công nghiệp

tương đối dồi dào, ch ủ yếu là ngu ồn nước của các sông l ớn. Tổng diện tích

mặt nước có kh ả năng nuôi th ủy sản là 9.256 ha. Ngoài ra còn có trên 3.000

ha vùng lúa ruộng trũng cấy 1 vụ năng suất thấp có thể chuyển sang nuôi thủy sản. Nước mặn chiếm khoảng 17km 2 chủ yếu dành cho ho ạt động khai thác

khoáng sản với tổng tr ữ lượng hải sản vùng ven bi ển kho ảng 26.000 t ấn.

Vùng nước lợ có các ngu ồn phù du sinh v ật, các lo ại tảo thực vật, thủy sinh

phong phú làm thức ăn tự nhiên cho nuôi trồng thủy sản. Vùng này có khoảng

28

20.705 ha, trong đó diện tích có khả năng phát triển nuôi trồng thủy sản nước

lợ là 5.453 ha [168, tr.3].

Tài nguyên rừng: Thái Bình có các cồn cát ven biển như: Cồn Vành, Cồn

Thủ, Cồn Đen và vùng đất ngập mặn rất thích hợp trồng tập trung cây sú vẹt,

bần. Hiện tại có gần 5.000 ha rừng vừa giữ đất, chắn sóng, vừa tạo môi trường

sinh thái và cảnh quan thiên nhiên du lịch ven biển [168, tr.4].

Tài nguyên khoáng s ản: Khoáng s ản Thái Bình ch ủ yếu là khí đốt và

nước khoáng (cả 2 đều tập trung chủ yếu ở huyện Tiền Hải) và than nâu thuộc

bể than nâu vùng ĐBSH [168, tr.4].

Về khí hậu: Thái Bình nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, biểu hiện rõ

rệt của khí hậu nhiệt đới nóng ẩm. Mùa hè lượng mưa nhiều, nhiệt độ cao, độ ẩm

không khí cao. Mùa đông lạnh, lượng mưa ít, độ ẩm thấp. Các mùa chuyển tiếp

thể hiện sự thay đổi hai hệ thống gió mùa: Đông Bắc và Tây Nam [168, tr.26].

Điều kiện kinh tế - xã hội

Về tình hình dân s ố: Theo số liệu thống kê ngày 1/10/2000, dân s ố toàn tỉnh Thái Bình là 1.801.000 ng ười, mật độ dân số 1168 ng ười/km2 [28, tr.8].

Trong đó nam: 862.000 ng ười chi ếm 47,9% dân s ố; nữ là 939.000 ng ười

chiếm 52,1% dân s ố; dân số thành th ị là 104.000 ng ười chiếm 5,8% dân s ố;

dân số nông thôn là 1.697.000 ng ười, chi ếm 94,2% dân s ố trong t ỉnh; tỷ lệ

tăng dân số hàng năm là 1,08%. Có th ể thấy cơ cấu dân số theo gi ới và theo

khu vực của tỉnh chênh l ệch rõ r ệt. Tỷ lệ dân s ố nữ nhi ều hơn dân s ố nam

4,2% và dân số tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn [28, tr.11]. Mật độ dân

số cao, s ự phân b ố dân c ư trên chênh l ệch nam - n ữ, thành th ị - nông thôn

chưa tạo điều kiện thuận lợi cho phát tri ển KT - XH của tỉnh. Trong bối cảnh

đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn mà dân số tập trung chủ yếu ở

nông thôn là v ấn đề phức tạp của chính sách phát tri ển KT - XH Thái Bình.

Nguồn lực này c ần được đào tạo chuyên môn để đáp ứng yêu c ầu CNH,

HĐH. Vì vậy, các vấn đề xã hội đặt ra lúc này nh ư: giải quyết việc làm cho

người lao động, giải quyết những vấn đề về môi trường, đất đai…

29

Về đất đai và tình hình s ử dụng đất đai: Theo số liệu thống kê ngày 01

tháng 10 năm 2000 của Cục thống kê tỉnh Thái Bình, t ổng diện tích đất đai

toàn tỉnh là 154.224 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 96.567 ha chiếm

62,6% [28, tr.35]. Với diện tích như vậy có thể gieo trồng được nhiều loại cây

cho năng suất cao nh ư: lúa, ngô, khoai, đậu, đỗ, lạc, dâu tằm, đay, cói; ho ặc

phát triển loại hình kinh tế trang trại; hay đầu tư nuôi trồng thủy, hải sản. Với

quỹ đất dành cho nông nghiệp chiếm một tỷ lệ lớn nhất, kinh tế Thái Bình chủ

yếu vẫn coi sản xuất nông nghiệp là ngành kinh tế chủ lực. Trong tổng số diện

tích đất nông nghi ệp đất dùng cho tr ồng tr ọt 93.336 ha, chi ếm 96,7% [28,

tr.35]. Tình tr ạng này đặt ra cho nông nghi ệp Thái Bình nhi ệm vụ: tăng tỷ

trọng ngành chăn nuôi, giảm tỷ trọng ngành trồng trọt đồng thời vẫn phải giữ

vững và nâng cao n ăng suất cây tr ồng. Đồng thời, theo xu h ướng của CNH,

HĐH thì đất nông nghi ệp sẽ giảm đi và t ăng diện tích đất phi nông nghi ệp,

nên chính sách s ử dụng đất đai vừa phải bảo vệ nghiêm ng ặt vùng sản xu ất

lúa năng suất cao, vừa đáp ứng yêu cầu sử dụng đất cho những lĩnh vực kinh

tế khác nh ư: xây d ựng cơ sở hạ tầng, xây d ựng khu ch ế xu ất, khu công

nghiệp, xây dựng nhà ở đô thị…

Về cơ sở vật ch ất kỹ thu ật trong s ản xu ất nông nghi ệp: Để phát tri ển

kinh tế nông nghi ệp, Thái Bình có nhi ều điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý,

thiên nhiên ưu đãi, tài nguyên khoáng sản tương đối dồi dào. Thái Bình là một

trong nh ững tỉnh có h ệ th ống điện, đường, tr ường, tr ạm, thông tin liên l ạc,

nguồn nước sạch ở vùng nông thôn đứng đầu cả nước. Những yếu tố thuận lợi

này giúp Thái Bình phát tri ển kinh tế nông nghi ệp toàn di ện. Với đặc trưng

kinh tế của tỉnh thuần nông, cơ cấu tổng sản phẩm nội địa (GDP) nông nghiệp

của tỉnh vẫn chiếm tỷ trọng cao trong toàn bộ cơ cấu GDP. Năm 1995, cơ cấu

GDP nông, lâm, thủy sản chiếm 63,93%, dịch vụ chiếm 23,27%, công nghiệp

và xây d ựng chi ếm 12,8%. Sau th ời gian 5 n ăm, tỷ tr ọng GDP nông, lâm,

thủy sản tuy giảm nhưng vẫn chiếm chủ yếu là 58,73%, dịch vụ 27,89%, công

nghiệp và xây d ựng là 13,38% [28, tr.20]. K ết qu ả đó ch ứng tỏ kinh t ế của

tỉnh vẫn chủ yếu là nông nghiệp, dân cư chủ yếu vẫn là nông dân.

30

Về đầu tư phát triển: Trong các năm 1997, 1998, Thái Bình mặc dù phải

tập trung giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp nhằm ổn định tình hình, nhưng

không vì th ế mà đầu tư xây dựng cơ bản cho nông nghi ệp bị xem nh ẹ. Nếu

năm 1995, kinh phí chi xây d ựng cơ bản cho nông nghi ệp là 210 tri ệu đồng/

39.280 tri ệu đồng thì n ăm 1999 con s ố này đã tăng lên 53.083 tri ệu

đồng/187.348 triệu đồng [28, tr.30]. Do đó, giá tr ị tài sản cố định của ngành

nông nghi ệp cũng tăng theo. N ăm 1995, t ổng giá tr ị tài s ản cố định nông

nghiệp là 14.787 triệu đồng/ 201.957 triệu đồng; thì năm 1999 là 33.390 triệu

đồng/135.693 triệu đồng [139, tr.54].

Các loại phương tiện, máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp được đầu

tư ngày càng nhi ều. Theo số liệu thống kê của tỉnh năm 2000, máy móc các

loại phục vụ cho nông nghiệp ngày càng được tăng cường.

Bảng 2.1: Số lượng máy móc trong sản xuất nông nghiệp

Tên máy

1995

1996

1997

1998

1999

2000

Đơn vị tính

1310 2356 1659 75

1770 2657 2389 75

2114 2643 2650 469

2386 2649 2732 441

3099 2683 3273 617

3662 2683 3834 616

Cái Cái Cái Cái

Máy kéo Máy bơm nước Máy tuốt lúa Máy nghi ền th ức ăn gia súc

Nguồn: Nông nghi ệp, nông thôn Thái Bình, th ực tr ạng và gi ải pháp

[139, tr.56].

Cùng với kết quả sản xuất nông nghi ệp của tỉnh trong th ập niên 90, có

thể kh ẳng định: sản xu ất nông nghi ệp là m ối quan tâm hàng đầu của tỉnh.

Nhưng việc đầu tư không dàn trải mà tập trung vào những công việc chính để

nâng cao năng suất nông nghiệp như: đầu tư máy móc, ứng dụng khoa học kỹ

thuật. Tuy nhiên, ở thời điểm này, vấn đề đào tạo NNL so v ới những vấn đề

trên ch ưa được coi tr ọng. Vi ệc đào tạo ch ủ yếu th ực hi ện qua các ch ương

trình khuyến nông, khuy ến ngư ngắn ngày, theo mùa v ụ, chưa tập trung đào

tạo để người nông dân tiếp cận với sản xuất hiện đại, sản xuất hàng hóa. Điều

31

này dẫn đến ch ất lượng NNL trong nông nghi ệp của Thái Bình nh ững năm

trước năm 2000 còn thấp, tiếp thu KHCN kém.

Như vậy, từ đặc điểm tự nhiên, KT - XH, có th ể nhận thấy những thuận

lợi cơ bản trong công tác đào tạo NNL cho nông nghiệp tỉnh Thái Bình là:

- Đất Thái Bình được bồi đắp phù sa từ những con sông lớn nên kinh tế

nông nghiệp trồng lúa nước phát triển thuận lợi;

- Đến nay, vị trí ốc đảo của Thái Bình được phá vỡ do hệ thống những cây

cầu kiên cố bắc qua những con sông nối liền cả tỉnh Thái Bình và Thái Bình với

các tỉnh bạn như: cầu Tân Đệ bắc qua sông H ồng nối Thái Bình với các tỉnh

Nam Định, Ninh Bình, thành phố Hà Nội; cầu Thái Bình qua sông Trà nối thành

phố với các huyện trong tỉnh; cầu Triều Dương qua sông Luộc nối Thái Bình với

những tỉnh khác như Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh;

- Hệ thống sông ngòi làm nên giao thông th ủy kết hợp với giao thông

đường bộ giúp Thái Bình m ở rộng giao l ưu KT - XH v ới các địa ph ương

trong cả nước và quốc tế. Đây là điều kiện để khai thác triệt để các nguồn lực

để đào tạo NNL cho nông nghiệp trong các ngành kinh tế như: phát triển kinh

tế bi ển, phát tri ển sản xu ất nông nghi ệp, phát tri ển các c ơ sở sản xu ất công

nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn của tỉnh;

- NNL đông là nhân tố rất quan trọng để phát triển KT - XH; Nhân dân

Thái Bình luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Người dân Thái Bình cần

cù, chịu khó, luôn sáng tạo trong lao động, sản xuất, ham học hỏi. Đây là những

điều kiện thuận lợi để triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng

và Nhà nước trong đó có chính sách về đào tạo nghề, phát triển NNL của tỉnh;

- Để phát huy th ế mạnh kinh tế nông nghi ệp của tỉnh, Tỉnh ủy luôn ưu

tiên hàng đầu trong vi ệc đầu tư phát tri ển kinh t ế nông nghi ệp, trong đó có

vấn đề đào tạo NNL cho nông nghiệp.

Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên, KT - XH c ũng làm cho công tác đào tạo

NNL cho nông nghiệp của tỉnh Thái Bình những khó khăn:

32

- Nằm trong vùng khí h ậu nhiệt đới ẩm gió mùa, th ường xuyên bị bão,

lũ, ng ập lụt, vỡ đê gây thi ệt hại mùa màng, nhà c ửa, thậm chí cướp đi sinh

mạng con người;

- Tỉnh Thái Bình có 50 km b ờ bi ển luôn ti ềm ẩn nh ững hi ểm họa tự

nhiên như: bão, thủy triều dâng cao, lốc xoáy, nước mặn xâm nhập…, đe dọa

tính mạng và tài s ản dân cư. Do đó, công tác đào tạo NNL cho nông nghi ệp

của tỉnh phải đặc biệt chú trọng đến khả năng phòng, ch ống thiên tai, nh ất là

cho nông dân;

- NNL đông là một thu ận lợi nh ưng hiện nay, lực lượng lao động này

vẫn chưa được khai thác triệt để. Thừa sức lao động, thiếu việc làm vẫn là vấn

đề lớn cần giải quyết [133, tr.106];

- Mật độ lao động nông nghi ệp đông, làm cho n ăng suất bình quân đầu

người thấp, thu nhập bình quân đầu người không cao, đời sống kinh tế của lao

động nông thôn còn nhiều khó khăn [133, tr.105].

Ngoài ra, theo ông Đặng Khiêu, nguyên Giám đốc Sở Lao động

Thương binh và Xã h ội tỉnh Thái Bình, thì công tác đào tạo NNL

cho nông nghiệp của tỉnh giai đoạn này còn những khó khăn là: Thái

Bình là một tỉnh nông nghiệp, kinh tế còn chậm phát triển, thu ngân

sách hàng n ăm không cao, ch ưa cân đối được ngân sách v ẫn ph ụ

thuộc vào nguồn kinh phí Trung ương cấp do đó ảnh hưởng đến việc

đầu tư nguồn lực cho công tác đào tạo NNL nói chung và đào tạo

NNL cho nông nghiệp nói riêng [Phụ lục 26].

2.1.3. Th ực tr ạng ngu ồn nhân l ực nông nghi ệp Thái Bình tr ước

năm 2001

Về số lượng NNL: Kết quả thống kê năm 2000 của tỉnh cho th ấy NNL

nông nghi ệp Thái Bình v ề số lượng là đông đảo. Ngu ồn lao động trong độ

tuổi là 1,73 tri ệu ng ười, lao động trong khu v ực nông nghi ệp chi ếm 74,3%,

công nghiệp và xây d ựng 17%, th ương mại 8,7% [28, tr.14]. V ới 94,2% dân

33

số tập trung ở nông thôn, số hộ sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh là 419.410 hộ,

tổng số nhân kh ẩu nông nghi ệp là 1.549.575 ng ười, tổng số lao động nông

nghiệp là 698.617 người, tỷ lệ sử dụng quỹ thời gian vào sản xuất trong năm là

73,8%. So với năm 1994, số hộ trong nông nghiệp tăng 13,2%, số nhân khẩu chỉ

tăng 5,7%. Quy mô hộ 3,6 khẩu/hộ (cả nước là 4,5 hộ/ khẩu, ĐBSH 4,0 khẩu/hộ)

[28, tr.15]. Cơ cấu hộ ở nông thôn, nông nghiệp chuyển mạnh theo hướng: tăng

tỷ lệ hộ làm thương mại, công nghiệp và dịch vụ. Số hộ làm nông nghiệp giảm

từ 96,5% năm 1994 xuống còn 80,8% năm 2000 [28, tr.15]. Đó là kết quả của

việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nhiều năm từ khi bắt đầu bước vào thời kỳ

đẩy mạnh CNH, HĐH. Tuy nhiên so với cả nước và khu vực, số hộ làm trong

lĩnh vực nông nghiệp Thái Bình còn cao (tỷ lệ số hộ làm nông nghiệp bình quân

cả nước 77,1%; ĐBSH 78,3%) [28, tr.15].

Lực lượng lao động tốt nghi ệp cấp II (trung h ọc cơ sở) tr ở lên chi ếm

81,1% cao hơn bình quân chung cả nước và các tỉnh trong khu vực ĐBSH (Cả

nước 45,8%, ĐBSH 73,2%). Tuy nhiên, lao động từ 15 tuổi trở lên có trình độ

chuyên môn kỹ thuật chỉ đạt 7,07%, thấp hơn so với các tỉnh khác trong vùng

ĐBSH (7,55%). Tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên không có việc làm thường

xuyên trong khu v ực nông thôn chi ếm khoảng 4,4% tổng số người lao động

kinh tế (cả nước 6,8%, ĐBSH 7,8%). Trong đó, lực lượng lao động nữ không

có vi ệc làm th ường xuyên chi ếm khoảng trên 17 ngàn ng ười [28, tr.15-16].

Đây là v ấn đề lớn đặt ra đối với nông nghi ệp và nông thôn Thái Bình khi

bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

Sự phân b ố dân c ư ở Thái Bình không đồng đều, ch ủ yếu tập trung ở

khu vực nông thôn. Điều này, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bố NNL. Ngay

ở nông thôn, cơ cấu lao động cũng không cân bằng, 90% vẫn là lao động thuần

nông, chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi nhỏ lẻ. Mặt khác, quỹ thời gian sử dụng

sản xuất nông nghiệp chưa được sử dụng triệt để, tỷ lệ thiếu việc làm và th ời

gian nông nhàn trong nông nghiệp còn cao. Trong khi đó, yêu cầu chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn là ai giỏi nghề gì làm nghề đó, ruộng đất

34

tập trung dần cho những hộ làm ruộng giỏi, hình thành các hộ kinh doanh tổng

hợp. Từ đó đặt ra yêu cầu bức thiết là phải đào tạo nghề cho họ, để tạo ra những

thanh niên nông dân có ki ến th ức vững vàng v ề khoa h ọc nông nghi ệp mà

thay thế các “lão nông tri điền” chủ yếu lao động bằng kinh nghiệm sản xuất.

Bên cạnh đó, trước năm 2000, tình hình nông dân, nông thôn Thái Bình

diễn biến phức tạp. Từ năm 1994, tình hình mâu thuẫn, khiếu tố của nhân dân

gia tăng và lan ra di ện rộng, có nơi rất nghiêm trọng. Nhân dân tố cáo cán bộ

xã tham nhũng tiêu cực, vi phạm quyền dân chủ; về quản lý tài chính, kinh tế;

việc cấp đất, bán đất; quản lý sử dụng tiền đất và các kho ản thu của dân; về

thanh toán các công trình xây d ựng cơ bản; về tác phong làm vi ệc quan liêu,

cửa quyền, hống hách đối với dân và về việc thực hiện các chính sách xã h ội;

nhân dân đề nghị thanh tra kinh tế. Một số phần tử xấu đã lợi dụng lôi kéo bà

con nông dân đi khiếu kiện đông người và tại trụ sở của chính quyền các cấp,

ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của các cơ quan Đảng, chính quyền. Từ

tháng 11/1997 đến tháng 6/1998 toàn t ỉnh đã có 242/285 xã, ph ường, thị trấn

có đơn thư khiếu nại tố cáo với 43.000 lượt người đi khiếu kiện các cấp [47,

tr.33]. Nghị quyết 06-NQ/TU ngày 12/1/1998 nh ận định những nội dung nhân

dân khiếu kiện cơ bản là đúng và chính đáng. Tuy nhiên, tổ chức đảng các cấp

chưa chủ động giải quyết tình hình để một số người lợi dụng đấu tranh chống

tham nhũng kích động, lôi kéo, đe dọa, ép bu ộc nhân dân đi khiếu kiện đông

người lên xã, huyện, tỉnh, trung ương [47, tr.346-347]. Tình hình trên đặt ra thêm

nhiều khó khăn cho công tác đào tạo NNL cho nông nghi ệp ở Thái Bỉnh. Một

mặt, Đảng bộ tỉnh vừa phải ổn định tình hình KT - XH, vừa phải có chính sách

đào tạo, phát tri ển NNL đáp ứng yêu cầu phát tri ển KT - XH c ủa tỉnh và cả

nước. Với một tỉnh kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, xã hội chủ yếu là nông thôn,

dân cư chủ yếu là nông dân nh ư Thái Bình thì mọi chủ trương, chính sách và

biện pháp phát triển KT - XH ph ải phù hợp với nguyện vọng chính đáng, hợp

pháp của nông dân, thực hiện dân chủ và công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo

kết hợp với nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

35

Về ch ất lượng NNL và các y ếu tố ảnh hưởng đến ch ất lượng NNL .

Trước hết, thu nhập bình quân đầu người trong khu vực sản xuất nông nghiệp

còn thấp nhất so với những khu vực khác, ch ỉ đạt 457.000đ/người, bằng một

nửa so với khu vực có thu nhập cao nhất [28, tr.17]. Từ sự chênh lệch này dẫn

đến mất cân b ằng trong vi ệc hưởng các thành t ựu giáo d ục, y tế, KHCN…

,ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng NNL.

Về chuyên môn kỹ thuật. Lao động nông nghiệp Thái Bình cần cù, ch ịu

khó, có trình độ thâm canh cao được tích lũy qua nhiều thế hệ, và có khả năng

tiếp cận KHCN. Tuy nhiên, lực lượng lao động Thái Bình có trình độ văn hóa

khá cao nhưng trình độ chuyên môn kỹ thuật còn thấp, được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 2.2: Tỷ lệ lao động chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật năm 2000

Đơn vị: %

Trình độ

Cả nước

Thái Bình

Không có chuyên môn kỹ thuật

84,54

79,15

86,12

Từ sơ cấp học nghề trở lên

15,46

20,85

13,88

Trong đó: từ CNKT có bằng trở lên

11,68

15,94

9,24

ĐBSH

Nguồn: Địa chí Thái Bình [133, tr.110]

Qua số liệu trên có thể thấy, trong khi tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ

thuật của vùng ĐBSH cao hơn cả nước thì tỷ lệ này ở Thái Bình lại thấp hơn

trung bình c ủa vùng và c ả nước. Đây là một trong nh ững khó kh ăn cho s ự

chuyển dịch cơ cấu kinh t ế của tỉnh. Đến năm 2000, kinh t ế Thái Bình v ẫn

chủ yếu là nông nghi ệp, trong khi ph ần lớn lao động có chuyên môn kỹ thuật

tập trung chủ yếu ở các ngành GD - ĐT, y tế, dịch vụ. Sự thiếu vắng lao động

có trình độ chuyên môn k ỹ thuật trong lĩnh vực nông nghi ệp là một trở ngại

lớn trong quá trình CNH, H ĐH nông nghi ệp, nông thôn Thái Bình. Đại hội

Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XVI (tháng 3-2001) thấy rõ sự chênh lệch giữa

trình độ văn hóa với trình độ chuyên môn k ỹ thu ật của NNL. Trong khi s ự

nghiệp GD - ĐT phát triển cả về quy mô và chất lượng: Số lượng học sinh đỗ

vào đại học, trung học chuyên nghiệp ngày càng tăng; đào tạo tại chức gấp 3

36

lần, trung cấp chuyên nghi ệp gấp 2 lần, đào tạo nghề gấp 10 lần so với năm

1995 [46, tr.17]; thì công tác đào tạo NNL còn nh ững hạn chế: Ứng dụng các

thành tựu KHCN mới còn ch ậm; phát huy th ế mạnh của địa phương để đào

tạo NNL cho nông nghi ệp còn nhi ều hạn chế; năng suất lao động trong nông

nghiệp còn thấp, tình trạng thiếu việc làm và không có việc làm vẫn là vấn đề

bức xúc; lao động thi ếu vi ệc làm chi ếm 19,5%, số ng ười th ất nghiệp 2,3%;

chất lượng đào tạo nghề còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu; mạng lưới các

trường chuyên nghiệp, dạy nghề chưa cân đối [46, tr.30].

Là một trong nh ững người trực tiếp tham gia ch ỉ đạo công tác đào

tạo NNL giai đoạn này, ông Đặng Khiêu cho bi ết: một trong những

khó khăn là hệ thống cơ sở dạy nghề được hình thành nh ưng cơ sở

vật ch ất còn h ạn ch ế, các c ơ sở đào tạo theo n ăng lực sẵn có ch ứ

chưa đào tạo theo nhu c ầu xã hội; đội ngũ giáo viên thi ếu và yếu,

cán bộ qu ản lý con thi ếu kinh nghi ệm và ch ưa được bố trí đủ số

lượng [Phụ lục 26].

Một thực tế nữa là, kinh t ế nông nghi ệp chiếm chủ yếu đã ảnh hưởng

đến tác phong lao động. Người lao động còn thiếu tác phong công nghiệp, đội

ngũ cán b ộ khoa h ọc, kỹ thu ật, công nhân có tay ngh ề cao còn ít và m ỏng

[133, tr.110]. Vì v ậy, vấn đề đặt ra là n ếu không nâng cao trình độ chuyên

môn kỹ thuật cho NNL thì KT - XH của tỉnh không tránh khỏi tụt hậu.

Hạn chế này ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình KT - XH: T ốc độ phát

triển kinh tế còn ch ậm, thấp hơn bình quân chung c ả nước và ch ưa đạt mục

tiêu đề ra (GDP bình quân c ủa tỉnh 1996 - 2000 đạt 4,5%/năm, bình quân c ả

nước 6,7%/n ăm). Cơ cấu kinh t ế nông nghi ệp chuy ển dịch ch ậm. Sản xu ất

nông nghi ệp ch ủ yếu là độc canh cây lúa, mang n ặng tính t ự cấp, tự túc;

chuyển dịch cơ cấu cây tr ồng, vật nuôi theo h ướng sản xuất hàng hóa ch ậm,

chưa tạo được khối lượng sản phẩm lớn và tập trung. Phương thức chăn nuôi

gia súc, gia cầm còn lạc hậu… [46, tr.29];

37

Bà Ph ạm Th ị Hạnh, ng ười làm nông nghi ệp lâu n ăm kh ẳng định

thực tế này. Ở thôn và xã bà, hầu hết các gia đình vẫn chỉ làm ruộng

mà không có ngh ề phụ. Trong khi đó, sản xuất nông nghi ệp lại vất

vả vì thời tiết khó khăn, thiếu máy móc, mà thu nhập cũng chỉ đủ ăn

[Phụ lục 26].

Ở các hợp tác xã nông nghiệp, sau thời gian thực hiện Luật Hợp tác xã,

đến năm 2001, đội ngũ cán bộ hợp tác xã nông nghiệp trình độ vẫn còn thấp và

không đồng đều, số đông ch ưa được đào tạo, bồi dưỡng; năng lực và kinh

nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành sản xuất kinh doanh còn hạn chế [123, tr.2].

Đây là yêu cầu cấp thiết đặt cần phải, tỉnh phải có chính sách, giải pháp

thu hút NNL ch ất lượng cao vào lĩnh vực nông nghi ệp đồng thời phải có gi ải

pháp đào tạo NNL cho nông nghiệp tại chỗ để đáp ứng yêu cầu chuyển dịch sản

xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún sang sản xuất hàng hóa lớn, tập trung, ứng

dụng tiến bộ KHCN.

Như vậy, CNH, HĐH nông nghi ệp, nông thôn có th ực hiện được hay

không là ph ụ thuộc vào ch ất lượng nguồn lực lao động ở tỉnh, trong đó, dạy

nghề cho ng ười nông dân gi ải quyết vi ệc làm lúc nông nhàn, đào tạo nh ững

người nông dân có ngh ề để chuyển đổi nghề và đào tạo nâng cao trình độ của

người lao động đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa nông nghi ệp là đòi hỏi cấp thiết

trong quá trình thực CNH, HĐH ở tỉnh.

2.2. QUAN ĐIỂM CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG VÀ CH Ủ TR ƯƠNG CỦA

ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH V Ề ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN L ỰC NÓI CHUNG

VÀ NGUỒN NHÂN LỰC CHO NÔNG NGHIỆP NÓI RIÊNG

2.2.1. Quan điểm của Đảng về đào tạo nguồn nhân lực

Đại hội Đảng lần thứ IX năm 2001, trên c ơ sở dự báo nh ững biến đổi

của thế giới, xác định rõ những thuận lợi và thách th ức của đất nước, Đại hội

Đảng lần thứ IX đề ra đường lối phát tri ển KT - XH 2001-2010 v ới 3 điểm

nổi bật ở mục tiêu chi ến lược trên: M ột là, đưa đất nước ra kh ỏi tình tr ạng

kém phát triển; Hai là, tạo nền tảng đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công

38

nghiệp theo hướng hiện đại; Ba là, vị thế của nước ta trên trường quốc tế được

nâng cao [50, tr.89-90].

Để đạt mục tiêu đó, Đảng xác định một trong nh ững nhi ệm vụ tr ọng

tâm trong 10 n ăm đầu th ế kỷ XXI là: Phát tri ển mạnh ngu ồn lực con ng ười

Việt Nam với yêu cầu ngày càng cao; 3 khâu đột phá nhằm chuyển biến tình

hình KT - XH đó là: Xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng

XHCN mà tr ọng tâm là đổi mới cơ chế, chính sách nh ằm giải phóng tri ệt để

lực lượng sản xuất, mở rộng thị trường trong và ngoài nước; Tạo bước chuyển

mạnh về phát triển NNL, trọng tâm là GD - ĐT, KHCN; Đổi mới tổ chức bộ

máy và ph ương thức hoạt động của hệ thống chính tr ị, trọng tâm là c ải cách

hành chính, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh.

Điểm nổi bật trong đường lối của Đảng tại Đại hội IX là, Đảng luôn

gắn ch ất lượng NNL trong t ổng th ể chi ến lược phát tri ển KT - XH c ủa đất

nước. Giải pháp mang ý nghĩa chiến lược Đảng đề ra là tiếp tục coi GD - ĐT,

KHCN là qu ốc sách hàng đầu. GD - ĐT, KHCN tr ở thành yếu tố quyết định

nhất làm tăng năng suất lao động, chất lượng, hiệu qu ả sản xuất, đẩy nhanh

tiến độ CNH, HĐH.

Đại hội chủ trương thực hiện xã hội hóa giáo dục nhằm huy động và tổ

chức lực lượng của toàn xã hội cùng tham gia vào quá trình giáo dục, đa dạng

hóa các loại hình GD - ĐT để mọi người dân đều được tham gia học tập, tạo

ra phong trào học tập suốt đời.

Đại hội chỉ ra yêu c ầu cụ thể với từng bậc học, đặc biệt chú tr ọng đến

nhiệm vụ phát triển đa dạng các loại hình trường trung học chuyên nghiệp và

dạy nghề: "Hiện đại hóa một số trường dạy nghề, tăng nhanh tỷ lệ lao động

được đào tạo trong toàn b ộ lao động xã hội" [50, tr.110]. Ch ủ trương khuyến

khích phát triển hệ thống trường lớp dạy nghề dân lập và tư thục, trang bị cho

thanh niên nh ững kiến thức sản xuất, kỹ năng lao động và năng lực tiếp thu

công nghệ mới để tự tạo việc làm, chủ động tìm kiếm cơ hội lập nghiệp. Nội

dung tập trung th ực hiện trong nh ững năm tới là " đẩy mạnh phong trào h ọc

39

tập trong nhân dân" [50, tr.109], "phát tri ển đa dạng các hình th ức đào tạo,

đẩy mạnh xây dựng các qu ỹ khuyến khích tài n ăng, các tổ chức khuyến học,

bảo trợ giáo dục" [50, tr.111], "tạo thị trường cho KHCN " [50, tr.113] trên cơ

sở "có quy ho ạch và chính sách tuy ển ch ọn ng ười gi ỏi", trong đó "đặc bi ệt

chú ý con em công nhân và nông dân" [50, tr.111].

So với nh ững nhi ệm kỳ Đại hội Đảng trước đây, ở nhi ệm kỳ Đại hội

Đảng IX, vấn đề đào tạo nghề được nhắc tới nhiều hơn, có quan điểm cụ thể

hơn, và công tác đào tạo nghề luôn được đặt trong tổng thể sự nghiệp GD -

ĐT của cả nước. Những điểm phát tri ển này có ý ngh ĩa đặc biệt quan tr ọng

với sự phát triển KT - XH của đất nước, khi nguồn tài chính và nguồn lực vật

chất còn hạn hẹp, thì vi ệc nuôi dưỡng, đào tạo và sử dụng hợp lý NNL là vô

cùng cần thi ết. Chi ến lược phát tri ển NNL càng có ý ngh ĩa trong giai đoạn

này khi nguồn gốc sự giàu có của mỗi quốc gia không ch ỉ là tài nguyên, vốn,

kỹ thuật mà yếu tố chính là ở sự phát triển con người, tiềm năng và năng lực

sáng tạo của con người.

Đối với nông nghi ệp, nông thôn, Đảng ch ủ tr ương ti ếp tục đẩy mạnh

CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, coi đây là một trọng điểm quan trọng có

ý ngh ĩa quyết định đến sự thành công c ủa sự nghi ệp CNH, H ĐH đất nước.

Đại hội chỉ rõ: "Đẩy nhanh CNH, H ĐH nông nghi ệp, nông thôn theo h ướng

hình thành nền nông nghiệp hàng hóa lớn phù hợp với nhu cầu của thị trường

và điều kiện sinh thái từng vùng, chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề, cơ cấu lao

động" [50, tr.168]. Nh ững nội dung c ơ bản của CNH, H ĐH nông nghi ệp,

nông thôn được xác định là:

- Ti ếp tục phát tri ển, đưa nông, lâm, ng ư nghi ệp lên một trình độ mới

bằng việc ứng dụng tiến bộ KHCN, nhất là công nghệ sinh học;

- Quy hoạch, sử dụng đất hợp lý;

- Đổi mới cơ cấu cây tr ồng, vật nuôi, tăng giá tr ị thu được trên đơn vị

diện tích;

- Đẩy mạnh thủy lợi hóa, cơ giới hóa, điện khí hóa;

40

- Giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ nông sản hàng hóa;

- Đầu tư nhiều hơn cho phát triển kết cấu hạ tầng KT - XH nông thôn;

- Phát tri ển công nghi ệp, dịch vụ, các ngành ngh ề đa dạng, chú tr ọng

công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp, các làng nghề;

- Chuyển một bộ phận quan tr ọng lao động nông nghi ệp sang khu v ực

công nghiệp và dịch vụ, tạo nhiều việc làm mới, nâng cao ch ất lượng nguồn

nhân lực, cải thiện đời sống nhân dân và dân cư ở nông thôn.

Như vậy, có th ể th ấy quan điểm của Đảng gắn li ền ch ất lượng NNL

nông nghiệp với sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.

Cụ thể hóa quan điểm Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Hội nghị lần

thứ năm Ban ch ấp hành Trung ương Đảng, khóa IX (tháng 2/2002) bàn v ề

đẩy mạnh CNH, H ĐH nông nghi ệp, nông thôn. H ội ngh ị thông qua Ngh ị

quyết số 15-NQ/TW ngày 18/3/2002 Về đẩy nhanh CNH, H ĐH nông nghiệp

nông thôn thời kỳ 2001-2010. Nghị quyết đánh giá: Ngành nông nghiệp đã đạt

những thành tựu to lớn, góp phần quan trọng tạo tiền đề cho sự nghiệp CNH,

HĐH đất nước. Tuy nhiên, do ch ưa nh ận th ức đầy đủ về vai trò c ủa CNH,

HĐH nông nghi ệp, nông thôn nên quá trình này còn nhi ều thiếu sót, khuy ết

điểm như: sản xuất nông nghiệp nhiều nơi còn phân tán, manh mún, ứng dụng

tiến bộ KHCN vào sản xuất chậm, trình độ KHCN của sản xuất nhiều mặt còn

lạc hậu nên n ăng su ất, ch ất lượng ch ưa cao, lao động còn ph ổ bi ến là th ủ

công, tỷ lệ qua đào tạo thấp, thiếu việc làm nghiêm trọng…

Từ đó Hội nghị làm rõ 2 nội hàm của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp,

nông thôn. Theo đó: công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa nông nghi ệp là quá trình

chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn chặt công

nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ giới hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa,

ứng dụng các thành tựu KHCN, nhất là công nghệ sinh học, đưa thiết bị kỹ thuật

và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp, nhằm nâng cao năng

suất, ch ất lượng, hi ệu qu ả, sức cạnh tranh của nông s ản hàng hóa; và công

nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

41

thôn theo hướng tăng nhanh tỷ tr ọng giá tr ị sản phẩm và lao động các ngành

công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp,

xây dựng kết cấu hạ tầng KT - XH; quy hoạch phát triển nông thôn. Tổ chức lại

sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn công bằng,

dân chủ, văn minh; không ng ừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của

nhân dân ở nông thôn [51, tr.79]. Vì v ậy, nếu không đào tạo NNL cho nông

nghiệp thì không thể thực hiện được cả hai quá trình trên.

Trên cơ sở kh ẳng định CNH, H ĐH nông nghi ệp, nông thôn là m ột

trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của CNH, HĐH đất nước, do đó,

phải tập trung mọi nguồn lực thực hiện sự nghiệp này. Đó là:

Công nghiệp, dịch vụ phải gắn bó ch ặt chẽ, hỗ trợ đắc lực và ph ục vụ

có hiệu quả cho CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn.

Ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, chú trọng phát huy nguồn lực con

người, ứng dụng rộng rãi thành tựu KHCN, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng phát huy l ợi thế của từng vùng gắn với thị trường để sản xuất

hàng hóa quy mô lớn với chất lượng và hiệu quả cao.

Kết hợp ch ặt ch ẽ các v ấn đề kinh t ế và xã h ội trong quá trình CNH,

HĐH nông nghiệp, nông thôn, nhằm giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo,

ổn định xã hội và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của

người dân nông thôn [51, tr.94-95].

Mục tiêu tổng quát và lâu dài c ủa sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp,

nông thôn là xây dựng nền sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, hiệu quả và bền

vững; có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các

thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến… [51, tr.95-96].

Để thực hiện mục tiêu trên, Nghị quyết đề ra một hệ thống 3 nhóm giải

pháp: về công tác quy ho ạch; về KHCN; các chính sách v ề đất đai, về tài

chính, tín d ụng, về lao động vi ệc làm, v ề th ương mại và h ội nh ập kinh t ế.

Trong đó Đảng khẳng định: "Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao

KHCN cho sản xuất, coi đây là khâu đột phá quan trọng nhất để thúc đẩy phát

42

triển nông nghi ệp và kinh t ế nông thôn" [51, tr.105]. Trong th ời gian tr ước

mắt, một trong nh ững hướng tập trung là nâng cao n ăng lực, đào tạo cán bộ

khoa học, nghiên cứu và tiếp thu KHCN tiên ti ến, đáp ứng yêu cầu phát triển

bền vững của nông nghiệp và nông thôn theo hướng CNH, HĐH.

Như vậy, đến Đại hội Đảng lần th ứ IX và H ội ngh ị Ban Ch ấp hành

Trung ương 5, khóa IX, quan điểm về CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn của

Đảng đã phát tri ển rõ ràng. Đảng khẳng định CNH, HĐH nông nghi ệp, nông

thôn giữ vị trí chiến lược, có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của thành công

của sự nghi ệp CNH, H ĐH đất nước. Quá trình ti ến hành đẩy mạnh CNH,

HĐH nông nghiệp, nông thôn không ch ỉ đơn thuần thực hiện ở lĩnh vực kinh

tế, mà được thực hiện toàn di ện trên tất cả các lĩnh vực KT - XH. Đảng chủ

trương khai thác, t ận dụng triệt để các yếu tố nội lực kết hợp với thành t ựu

KHCN, kinh tế tri th ức, hội nh ập kinh t ế quốc tế trong quá trình đẩy mạnh

CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Với chủ trương đó, thì đào tạo NNL cho

nông nghiệp là một yêu cầu khách quan, cấp thiết.

Tuy nhiên, quá trình chuy ển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã bộc lộ

rõ: một bộ phận người nông dân giỏi, nhạy bén nhanh chóng thích ứng với cơ

chế thị trường, làm chủ được kinh tế gia đình; nhưng bộ phận còn lại chưa kịp

thích nghi, làm ăn kinh tế gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, tháng 1-2004, Hội nghị

lần thứ chín Ban ch ấp hành Trung ương Đảng khóa IX ti ếp tục cụ thể hướng

chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn:

Tạo ra các vùng s ản xu ất hàng hóa t ập trung chuyên canh, thâm

canh, có n ăng su ất, ch ất lượng cao, áp d ụng ti ến bộ và công ngh ệ

mới, nh ất là công ngh ệ sinh h ọc, gắn với ch ế bi ến, tiêu th ụ; phát

triển mạnh các doanh nghi ệp và dịch vụ nhỏ và vừa, sử dụng nhiều

lao động ở nông thôn để thúc đẩy việc chuyển lao động nông nghiệp

sang các ngành ngh ề khác. Tạo điều kiện cho những người sản xuất

giỏi ở nông thôn mở rộng quy mô sản xuất, mở mang ngành nghề để

thu hút nhiều lao động [52, tr.40].

43

Thực hi ện quan điểm của Đảng về chuy ển dịch cơ cấu kinh t ế nông

nghiệp nông thôn, ngày 9-6-2004, Chính ph ủ ban hành Ngh ị định

134/2004/NĐ-CP Về khuy ến khích phát tri ển công nghi ệp nông thôn, th ực

hiện hỗ trợ, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh

tế đầu tư phát triển công nghiệp nông thôn.

Về dạy ngh ề, tạo vi ệc làm cho nông dân, Th ủ tướng chính ph ủ ban

hành quy ết định số 81/2005/Q Đ-TTg ngày 18/4/2005 Về chính sách h ỗ tr ợ

dạy nghề cho lao động nông thôn . Trong đó, đối tượng được ưu tiên là: lao

động bị mất đất sản xu ất do Nhà n ước thu h ồi, lao động thu ộc di ện chính

sách, dân tộc thiểu số, lao động nữ và lao động chưa có việc làm.

Có thể thấy điểm nổi bật trong quan điểm của Đảng ở Đại hội IX là coi

CNH, HĐH nông nghi ệp, nông thôn là nhi ệm vụ chi ến lược; và quan điểm

nhất quán của Đảng từ khi th ực hiện sự nghi ệp đổi mới là luôn đặt sự phát

triển NNL trong tổng thể chiến lược phát triển KT - XH. Vấn đề đào tạo nghề,

giải quy ết vi ệc làm cho ng ười nông dân g ắn li ền với quá trình đẩy mạnh

CNH, HĐH nông nghi ệp, nông thôn. H ệ thống quan điểm của Đảng sẽ là cơ

sở để các Đảng bộ địa phương quán triệt, vận dụng đưa ra ch ủ trương, chính

sách về phát triển, đào tạo NNL phù hợp với tình hình cụ thể của địa phương

tạo ra NNL chất lượng cao trong tổng thể cả nước.

2.2.2. Ch ủ tr ương của Đảng bộ tỉnh Thái Bình v ề đào tạo ngu ồn

nhân lực cho nông nghiệp những năm đầu thế kỷ XXI

Thái Bình là m ột tỉnh thuộc vùng ĐBSH, có truy ền thống cách mạng,

luôn đi đầu trong các phong trào xây d ựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau 15 n ăm

thực hiện đường lối đổi mới, đặc biệt là thực hiện Chiến lược ổn định và phát

triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Đảng bộ và nhân dân Thái Bình đã phấn

đấu thực hiện có hiệu quả công cuộc đổi mới, bước đầu thu được những thành

tựu quan tr ọng. Tuy nhiên, b ước vào th ế kỷ XXI - th ế kỷ của nền kinh tế tri

thức, đặt Thái Bình tr ước những cơ hội và thách th ức lớn cần giải quyết. Đặc

biệt là v ấn đề nâng cao trình độ chuyên môn k ỹ thu ật cho NNL, ứng dụng

44

KHCN vào sản xuất để tạo ra năng suất cao và bền vững, thay đổi phương thức

sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, đưa nền nông nghiệp Thái

Bình từ sản xuất theo lối truyền thống, nhỏ lẻ sang sản xuất lớn, sản xuất hàng

hóa. Thực tiễn đặt ra yêu cầu lớn đối với NNL trong nông nghiệp Thái Bình.

Đại hội đại bi ểu Đảng bộ tỉnh Thái Bình l ần th ứ XVI (tháng 03 n ăm

2001) trên cơ sở vận dụng sáng tạo những chủ trương của Đảng về NNL và

phát triển NNL đề ra phương hướng phát triển KT - XH và đào tạo NNL cho

nông nghiệp của tỉnh nhằm từng bước đưa nông nghiệp Thái Bình theo hướng

hiện đại. Mục tiêu cụ thể với kinh tế nông nghi ệp được Đại hội xác định là:

Phát triển toàn di ện kinh tế nông nghi ệp, nông thôn theo h ướng CNH, HĐH.

Chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa và phục vụ xuất khẩu. Tích cực chuyển

dịch cơ cấu kinh t ế nông nghi ệp, nông thôn. Phát huy l ợi th ế của tỉnh và

truyền thống thâm canh, ti ếp tục làm chuy ển biến nhận thức và đầu tư chiều

sâu để chuyển nhanh s ản xu ất nông nghi ệp sang s ản xu ất hàng hóa, ưu tiên

phục vụ xu ất kh ẩu. Chuy ển đổi cơ cấu lao động trong nông nghi ệp, nông

thôn; đưa một ph ần lao động nông nghi ệp sang làm ngh ề phi nông nghi ệp,

giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp lúc nông nhàn… [46, tr.44].

Để thực hiện mục tiêu kinh tế nông nghiệp nói trên, Đại hội xác định mục

tiêu cụ thể về NNL cho nông nghi ệp là: Phát triển các làng nghề tiểu thủ công

nghiệp để phát huy thế mạnh của địa phương, giải quyết việc làm, tăng thu nhập

và tạo điều kiện phân bố lại lao động nông nghiệp, nông thôn. Coi trọng đào tạo

nghề, du nh ập nghề mới, khôi ph ục và phát tri ển các làng ngh ề truyền thống:

Mộc, dệt, may, mây tre đan, cói, dệt thảm, chạm bạc, đúc đồng. Hình thành một

số doanh nghiệp công nghiệp làm đầu mối thu hút các hộ gia đình, các cơ sở vệ

tinh phát triển sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, đổi mới công nghệ… [46, tr.50].

Có thể thấy công tác đào tạo NNL cho nông nghiệp đã được Nghị quyết

coi trọng, là một trong những mục tiêu cụ thể của Đại hội.

Các biện pháp đào tạo NNL cho nông nghiệp được Đại hội đề ra là:

45

KHCN tập trung nghiên c ứu, ứng dụng nh ững ti ến bộ vào s ản xu ất -

kinh doanh, ph ục vụ đời sống, tr ước hết là công ngh ệ sinh h ọc, công ngh ệ

thông tin, công ngh ệ vật li ệu mới, công ngh ệ bảo qu ản sau thu ho ạch, ch ế

biến nông sản, thực phẩm [46, tr.52-53];

Phát triển mạnh mẽ GD - ĐT phục vụ mục tiêu “nâng cao dân trí, đào

tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho sự nghiệp CNH, HĐH; tạo chuyển biến

rõ nét về chất lượng đại trà, tăng cường nền nếp, kỷ cương, mở rộng quy mô,

đa dạng hóa các lo ại hình phù h ợp với tình hình KT - XH ở địa ph ương;

Từng bước hoàn chỉnh hệ thống trường chuyên nghiệp, dạy nghề. Liên kết

các trường, các trung tâm dạy nghề trong và ngoài tỉnh để tăng số lao động được

học nghề của tỉnh lên 30% vào năm 2005, 40% đến 50% vào năm 2010;

Tăng cường đầu tư thiết bị dạy nghề cho các tr ường và các trung tâm

kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, cải tiến nội dung, ch ương trình gi ảng dạy

để nâng cao chất lượng đào tạo. Từng bước chuẩn hóa đội ngũ giáo viên;

Phấn đấu bình quân m ỗi năm gi ải quy ết 18 - 20 nghìn ch ỗ làm mới,

giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thị xã, th ị trấn từ 7,8% xuống còn 5%, nâng t ỷ lệ sử

dụng thời gian lao động ở nông thôn t ừ 73,2% lên 75%, t ỷ lệ lao động qua

đào tạo từ 18,5% lên 30% vào năm 2005;

Đẩy mạnh các ho ạt động dịch vụ, cung ứng lao động cho t ỉnh ngoài,

xuất khẩu lao động và đưa dân đi xây dựng các vùng kinh tế mới.

Thành lập trung tâm đào tạo, cung ứng, gi ới thi ệu vi ệc làm và xu ất

khẩu lao động [46, tr.53-60].

Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XVI với những chủ trương, giải

pháp quan tr ọng trong phát tri ển KT - XH, đào tạo NNL là ti ền để để Đảng

bộ, các cấp chính quy ền và nhân dân Thái Bình ti ếp tục phát huy nh ững kết

quả đã đạt được, đồng thời có những giải pháp cụ thể để từng bước thực hiện

những mục tiêu đã đề ra.

Sau Đại hội, Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã ban hành nhi ều ngh ị quy ết

chuyên đề nhằm cụ th ể hóa ch ủ trương và tri ển khai lãnh đạo, chỉ đạo th ực

hiện trong thực tế.

46

Về phát tri ển làng ngh ề nhằm thu hút lao động, gi ải quyết vấn đề dư

thừa lao động trong nông nghi ệp và t ận dụng th ời gian nông nhàn. Ngày 5

tháng 6 năm 2001, Th ường vụ Tỉnh ủy ra Ngh ị quyết Về phát tri ển nghề và

làng ngh ề trong đó nh ấn mạnh vi ệc khôi ph ục và phát tri ển làng ngh ề của

Thái Bình nhằm từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong

nông nghi ệp, nông thôn, thu hút lao động, gi ải quy ết vi ệc làm trong nông

thôn. Để thực hiện thành công mục tiêu này, Ngh ị quyết đề ra các bi ện pháp:

Tăng cường công tác đào tạo ngh ề, đào tạo ch ủ doanh nghi ệp, cán b ộ kỹ

thuật, cán bộ quản lý, công nhân bằng các hình thức đào tạo tập trung và kèm

cặp truyền nghề, dạy nghề tại cơ sở; Khuyến khích các cấp, các ngành, các tổ

chức, cá nhân tham gia phát tri ển sự nghi ệp đào tạo, du nh ập và d ạy ngh ề

trong nông thôn; Mời các chuyên gia gi ỏi về địa phương để dạy nghề, truyền

nghề mới và các cán bộ khoa học, kỹ thuật, cán bộ quản lý, các nhà khoa h ọc

tham gia đào tạo nghề và đào tạo bồi dưỡng kiến thức quản lý cho cán bộ, các

nhà doanh nghi ệp; Khuy ến khích đầu tư KHCN vào s ản xu ất để nâng cao

năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, năng lực cạnh tranh của sản phẩm

trên thị trường [120, tr.6].

Về đào tạo NNL đáp ứng yêu c ầu chuy ển dịch cơ cấu kinh t ế nông

nghiệp: Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 29 tháng 8 n ăm 2001 của Ban Ch ấp

hành Đảng bộ Thái Bình Về chuyển dịch cơ cấu cây tr ồng, vật nuôi sau khi

xác định ph ương hướng: Chuyển mạnh sản xu ất nông nghi ệp sang s ản xu ất

hàng hóa, tạo sự phân công lao động mới, giải quyết việc làm, nâng cao trình độ

sản xuất nông nghiệp, có khả năng thích ứng với yêu cầu thị trường, tăng năng

suất cây trồng, vật nuôi, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp trên thị

trường trong nước và quốc tế, đã đề ra biện pháp thực hiện là: Tăng cường đào

tạo và huấn luyện kỹ thuật sản xuất, kỹ năng quản lý cho các hộ nông dân và cán

bộ quản lý hợp tác xã, quản lý doanh nghiệp; Tạo các điều kiện cần thiết để cán

bộ và nông dân đi nghiên cứu, học tập các mô hình chuyển đổi cơ cấu phù hợp,

có hiệu quả để áp dụng ở địa phương mình [122, tr.5].

47

Về đào tạo NNL phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn: Quán triệt

Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX)

“Về đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ

2001-2010”, Ban Th ường vụ Tỉnh uỷ thông qua Đề án “Về đẩy nhanh công

nghiệp hoá, hi ện đại hoá nông nghi ệp, nông thôn th ời kỳ 2002-2010” ngày

24-5-2002. Đề án ch ỉ rõ một trong nh ững thực trạng đặt ra yêu c ầu phải đẩy

nhanh CNH, HĐH nông nghi ệp, nông thôn là: Vi ệc ứng dụng các thành t ựu

KHCN tiên ti ến vào các l ĩnh vực sản xuất kinh doanh còn h ạn ch ế; do v ậy,

chưa tạo được nh ững sản ph ẩm có hàm l ượng KHCN cao; Đội ng ũ cán b ộ

khoa học, kỹ thuật ở nông thôn còn ít, trình độ hạn chế, thiếu nhiều kỹ sư giỏi

và thợ lành ngh ề; Lao động ở nông thôn d ư thừa nhiều, chủ yếu là lao động

thủ công, trình độ th ấp, ph ần lớn ch ưa qua đào tạo. Quá trình c ơ gi ới hoá

nông nghi ệp, ti ểu th ủ công nghi ệp, ch ế bi ến phát tri ển ch ậm [124, tr.3]. Vì

vậy, một trong nh ững quan điểm th ực hi ện CNH, H ĐH nông nghiêp, nông

thôn là: Ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, chú trọng phát huy nguồn lực con

người, ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học, công nghệ để nhanh chóng chuyển

dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng giá trị công

nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, giảm nhanh tỷ trọng nông nghiệp [124,

tr.4]. Do đó, biện pháp thực hiện là: Tiến hành cơ giới hóa, hiện đại hóa sản xuất

nông nghiệp [124, tr.6]; Ưu tiên đầu tư cho GD- ĐT ở khu vực nông thôn, bảo

đảm con em nông dân có điều kiện học tập văn hoá, nghề nghiệp như con em ở

thành thị; Hoàn thành ph ổ cập giáo dục trung học phổ thông tr ước năm 2010.

Chú trọng đào tạo nâng cao ki ến thức toàn di ện cho nông dân b ằng mọi hình

thức.; Phấn đấu đến năm 2010 tất cả các xã có tr ường cao tầng, 50% số trường

phổ thông cơ sở liên xã có trang, thiết bị hiện đại, 100% số trường phổ thông có

tủ sách, thư viện [124, tr.9].

Nghị quyết 06-NQ/TU ngày 25 tháng 2 năm 2002 của Ban Thường vụ Tỉnh

ủy Về phát tri ển sự nghiệp giáo dục đào tạo giai đoạn 2001-2010. Để đào tạo

NNL, GD - ĐT phải thực hiện nhiệm vụ: Phát triển các trung tâm học tập cộng

48

đồng làng, xã; phấn đấu đến năm 2005 có 40%, năm 2008 có 100% xã trong tỉnh

có trung tâm học tập cộng đồng; Xây dựng và hoàn thi ện hệ thống giáo dục

chuyên nghiệp - d ạy nghề thích h ợp với từng lo ại hình và ph ương th ức đào

tạo; Thành lập trường đào tạo nghề chất lượng cao đáp ứng yêu cầu cung cấp

lao động kỹ thuật công ngh ệ cao cho t ỉnh… quy ho ạch lại và nâng cao n ăng

lực đào tạo ngh ề của các tr ường thu ộc các ngành, t ăng cường dạy ngh ề,

truyền nghề của các đơn vị sản xu ất, kinh doanh và ở các địa phương trong

tỉnh; Từng bước sắp xếp và thống nhất quản lý các trường đào tạo, bồi dưỡng

cán bộ cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh

đạo trong h ệ th ống chính tr ị, cán b ộ qu ản lý nhà n ước, qu ản lý kinh t ế và

chuyên môn, nghi ệp vụ; Củng cố và nâng cao ch ất lượng các trung tâm giáo

dục th ường xuyên; Mở rộng và phát tri ển mạnh giáo d ục cộng đồng ở từng

làng xã là một yêu cầu bức thiết, đòi hỏi khách quan của giai đoạn mới để ai

cũng được học, cần gì học nấy và học tập suốt đời để đẩy nhanh quá trình xã

hội hóa h ọc tập và nâng cao dân trí cho m ọi ng ười ph ục vụ cho s ự nghi ệp

CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn [125, tr.6-7].

Đối với việc đào tạo cán bộ cho các h ợp tác xã nông nghi ệp, Tỉnh ủy

có Kết luận số 08-KL/TU ngày 16-01-2003 của Ban chấp hành Đảng bộ Thái

Bình Về phát triển đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi

trong nông nghi ệp. Kết lu ận trên c ơ sở đánh giá nh ững kết qu ả và h ạn ch ế

trong quá trình thực hiện Nghị quyết 04-NQ/TU Tỉnh ủy khẳng định tầm quan

trọng của công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật, nâng cao trình độ sản xuất

của người nông dân và đề ra nhiệm vụ về xây dựng bộ máy tổ chức và chuyển

giao KHCN trong nông nghi ệp: thành lập các tr ạm khuyến nông cấp huyện,

thị xã trên c ơ sở chuyển từ 2 - 3 cán b ộ của trung tâm kh ảo nghiệm khuyến

nông về mỗi huy ện, th ị xã và ổn định mỗi hợp tác xã nông nghi ệp có m ột

khuyến nông, lâm, ng ư viên có trình độ từ trung cấp nông nghi ệp trở lên. Từ

đó, đặt ra yêu c ầu lớn trong vi ệc đào tạo đội ngũ cán bộ cho các h ợp tác xã.

Kết luận cũng xác định phải triển khai tích c ực kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng

49

trang bị kiến thức quản lý, kinh tế, kỹ thuật sản xuất trong cơ chế thị trường để

cán bộ cơ sở đủ năng lực thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông

nghiệp tại cơ sở. Tiếp tục đẩy mạnh việc liên kết với các viện nghiên cứu, các

trường đại học để tiếp thu gi ống, cây con mới có năng suất và ch ất lượng cao

đưa về sản xuất trong tỉnh, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ sinh học [126, tr.3-4].

Về đào tạo NNL cho nông nghi ệp, cụ thể là vấn đề dạy nghề để nâng

cao tay ngh ề cho ng ười lao động được Đảng bộ tỉnh quan tâm ch ỉ đạo. Lần

đầu tiên Tỉnh ủy Thái Bình ra m ột Nghị quyết riêng về vấn đề phát tri ển đào

tạo nghề, Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 21-10-2004 Về phát tri ển đào tạo,

dạy ngh ề giai đoạn 2004-2010. Nghị quy ết nêu rõ th ực tr ạng: Hệ th ống

trường dạy nghề và các c ơ sở dạy nghề tuy đã hình thành theo yêu c ầu sản

xuất nhưng phân bố tập trung ở thành phố, chưa phân bố đều trong các huyện;

Số cơ sở dạy nghề hiện tại của tỉnh chỉ đáp ứng được dưới 50% nhu cầu học

nghề của người lao động; Cơ cấu nghề đào tạo chưa hợp lý, ch ưa toàn di ện,

một số nghề ch ưa được đưa vào ch ương trình đào tạo dẫn đến hẫng hụt lao

động trên nhiều lĩnh vực; Công tác ch ỉ đạo cũng như tâm lý xã h ội còn nặng

về đào tạo cao đẳng, đại học, ch ưa chú tr ọng đúng mức đến đào tạo ngh ề,

người lao động và học sinh ch ưa được hướng dẫn đầy đủ về nghề nghiệp và

khả năng tự lập nghiệp; Cơ sở trường lớp, trang thiết bị dạy - học còn thấp và

lạc hậu so với yêu cầu, ảnh hưởng lớn đến chất lượng đào tạo; Số phòng học

thiếu nghiêm tr ọng, trong đó 50% s ố phòng đang học là nhà h ọc tạm; Việc

đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề còn bất cập so với yêu

cầu [128, tr.1-2].

Nguyên nhân khách quan dẫn tới những hạn chế như: kinh tế phát triển

chậm, mức thu nhập của người dân thấp, tâm lý của người dân trong việc học

nghề, vi ệc xã h ội hóa đào tạo, dạy nghề, đa dạng hóa các lo ại hình đào tạo

diễn ra còn ch ậm chưa đáp ứng được nhu cầu. Nguyên nhân ch ủ quan là c ấp

ủy, chính quy ền và một số ngành ch ưa nhận thức đầy đủ, chưa toàn di ện về

vai trò, vị trí của đào tạo, dạy nghề, nên chưa thực sự quan tâm đúng mức đến

50

đào tạo ngh ề cho ng ười lao động ph ục vụ phát tri ển KT - XH; đầu tư ch ưa

tương xứng với vai trò, v ị trí c ủa đào tạo, dạy ngh ề; công tác qu ản lý nhà

nước về đào tạo nghề của các cấp còn nhiều hạn chế.

Để phát tri ển, nâng cao ch ất lượng NNL c ủa tỉnh, Tỉnh ủy xác định

quan điểm về dạy nghề đến năm 2010 là:

Một trong nh ững thế mạnh để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh là

lao động. Song, mu ốn phát huy được th ế mạnh này ph ải tập trung

đào tạo, nh ất là d ạy ngh ề để nâng cao trình độ và kh ả năng hành

nghề của ng ười lao động, đáp ứng nhu c ầu phát tri ển ngu ồn nhân

lực phục vụ sự nghiệp công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa đất nước; Đa

dạng hóa hình thức đào tạo nghề; tạo cơ hội cho mọi người lao động

được học ngh ề; khuy ến khích, huy động các t ổ ch ức xã h ội, các

thành phần kinh tế, cá nhân có khả năng dạy nghề, truyền nghề tham

gia dạy nghề cho ng ười lao động; Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo

của các c ấp ủy đảng, chính quy ền đối với vi ệc phát tri ển đào tạo

nghề. Nâng cao ch ất lượng đào tạo nghề, mở rộng đối tượng, phạm

vi đào tạo, chú tr ọng dạy nghề cho nông dân, đào tạo nghề để xuất

khẩu lao động [128, tr.2].

Mục tiêu của dạy nghề là nâng t ỷ lệ lao động qua đào tạo lên 40-50%

vào năm 2010, trong đó công nhân kỹ thuật, nhân viên nghi ệp vụ từ 25-30%;

Bình quân mỗi năm giải quyết việc làm từ 20 đến 25 nghìn ch ỗ làm mới…;

Nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn lên 85-90%. Các giải pháp

được xác định là: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và

trách nhi ệm của các c ấp, các ngành đối với sự nghi ệp đào tạo ngh ề; quy

hoạch mạng lưới, phát tri ển các ngành h ọc, đa dạng hóa các lo ại hình tr ường

nghề; nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện, đổi mới chương trình và phương

pháp đào tạo [128, tr.2-3].

Để thực hiện mục tiêu trên, Ngh ị quyết đề ra biện pháp: Tập trung đào

tạo một cách toàn di ện nh ưng có tr ọng tâm, tr ọng điểm đối với các ngành

51

nghề ph ục vụ sự nghi ệp CNH, H ĐH đất nước; Chuyển dịch cơ cấu kinh t ế

của tỉnh; Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ trên mọi lĩnh vực để

đổi mới phương pháp đào tạo nghề, bảo đảm vững chắc kiến thức cơ bản với

năng lực th ực hành, k ỹ năng ngh ề nghi ệp cho ng ười lao động; Các tr ường

cũng như các cơ sở dạy nghề cần liên kết chặt chẽ với các khu công nghi ệp,

nhà máy, cơ sở sản xu ất để tổ ch ức vi ệc th ực hành cho h ọc sinh trong quá

trình học nghề; Huy động tốt các chuyên gia làm vi ệc tại các cơ sở sản xuất,

kinh doanh, các ngh ệ nhân, nh ững người lao động có kinh nghi ệm tay ngh ề

cao… tham gia xây dựng chương trình, nội dung, tham gia giảng dạy và đánh

giá kết qu ả, việc xây dựng nội dung ch ương trình (c ả ng ắn hạn và dài h ạn)

phải bám sát nhu c ầu xã hội; theo hướng tiếp cận khoa học trình độ tiên ti ến

trong nước, khu vực và thế giới; ưu tiên các lĩnh vực công nghệ phục vụ công

nghiệp, dịch vụ du l ịch, th ương mại và các ngành ph ục vụ nông nghi ệp và

phát triển nông thôn…

Có thể khẳng định, Nghị quyết số 13-NQ/TU Về phát triển đào tạo, dạy

nghề giai đoạn 2004-2010 thể hiện sự phát tri ển nhận thức của Đảng bộ tỉnh

Thái Bình về vai trò của công tác đào tạo NNL với sự phát triển KT - XH của

tỉnh. Nghị quyết thể hiện sự quyết tâm của Đảng bộ tỉnh Thái Bình trong việc

đào tạo NNL đáp ứng yêu c ầu CNH, H ĐH của tỉnh, đồng th ời cũng mở ra

một giai đoạn mới cho công tác đào tạo NNL cho nông nghiệp, đặc biệt ở lĩnh

vực dạy nghề cho ng ười nông dân, là c ơ sở thực hiện chủ trương xã hội hóa

công tác dạy nghề cho nông dân.

2.3. ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH CH Ỉ ĐẠO TH ỰC HI ỆN ĐÀO TẠO

NGUỒN NHÂN LỰC CHO NÔNG NGHIỆP (2001-2005)

2.3.1. Quá trình chỉ đạo thực hiện

Đào tạo NNL nói chung và NNL cho nông nghi ệp nói riêng là trách

nhiệm chung của các cấp, các ngành, các đoàn thể chính trị - xã hội trong toàn

tỉnh, trong đó, chủ yếu nhất là sự chỉ đạo của Tỉnh ủy với UBND tỉnh, Sở Lao

động Thương binh và Xã hội, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Kế

52

hoạch và Đầu tư, Hội nông dân tỉnh, trường Trung học Nông nghiệp Quỳnh Phụ

trong quá trình thực hiện các nội dung đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp.

Về xây dựng các làng nghề. Thời gian này, tỉnh Thái Bình tập trung khôi

phục và ti ếp tục phát tri ển các làng ngh ề đang có xu h ướng bị mai một. Là

một tỉnh có nền kinh tế nông nghiệp truyền thống, các làng ngh ề chiếm vị trí

quan trọng, góp phần không nhỏ trong giải quyết việc làm cho lao động nông

thôn, và làm tăng nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thực hiện Nghị quyết

của Tỉnh ủy Về phát tri ển các làng ngh ề truyền thống, đồng thời, cụ thể hóa

các quy ết định của Th ủ tướng chính ph ủ về các chính sách phát tri ển các

ngành nghề ở nông thôn như: Quyết định số 132/QĐ ngày 24/11/2000 Về một

số chính sách khuy ến khích phát tri ển ngành ngh ề nông thôn ; Ngh ị định

134/NĐ-CP ngày 9/6/2004 Về khuy ến khích phát tri ển công nghi ệp nông

thôn; Tỉnh ủy Thái Bình giao cho UBND ch ỉ đạo các ngành liên quan hoàn

chỉnh đề án v ề tiêu chí các làng ngh ề, UBND ban hành Quy ết định số

672/2001/QĐ-UB ngày 20-9-2001 Về một số chính sách khuy ến khích phát

triển nghề và làng ngh ề; Quyết định số 52/2002/QĐ-UB ngày 25-7-2002 Về

một số chính sách khuy ến khích đầu tư ở Thái Bình. Quá trình th ực hiện, Sở

Công nghiệp ch ịu trách nhi ệm chính, ph ối hợp với Sở Nông nghiêp và Phát

triển nông thôn, H ội đồng liên minh các h ợp tác xã và doanh nghi ệp ngoài

quốc doanh tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND ch ỉ đạo thực hiện việc xây dựng

các làng ngh ề. Các c ơ quan thông tin đại chúng m ở chuyên m ục thông tin

tuyên truyền về những điển hình tiên tiến, kinh nghiệm hay về phát triển nghề

và làng nghề. Thực tế phát triển các làng nghề thời gian này, tuy chưa thực sự

mạnh mẽ nhưng bước đầu đã có những tác động nhất định đến tình hình phát

triển KT - XH của nông thôn tỉnh Thái Bình, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao

động nông thôn theo hướng CNH, HĐH. Tác động lớn nhất của các làng nghề

thời gian này là góp ph ần sử dụng thời gian nhàn rỗi của lao động nông thôn,

tạo việc làm, tăng thu nhập. Xây dựng và phát triển các làng nghề là một hình

thức góp phần đào tạo, sử dụng có hiệu quả NNL cho nông nghiệp.

53

Cụ th ể hóa ch ủ tr ương của Tỉnh ủy về phát tri ển kinh t ế nông nghi ệp,

UBND ban hành Quyết định số 10/QĐ-UB ngày 27-02-2002 về một số chính

sách khuyến khích chuyển đổi cơ cấu cây tr ồng, vật nuôi trong nông nghi ệp;

Quyết định số 716/2002/Q Đ-UB ngày 11-12-2002 phê duy ệt đề cương quy

hoạch tổng thể phát tri ển nông nghi ệp Thái Bình giai đoạn 2001-2010. Đồng

thời, UBND t ỉnh đã ban hành quy ch ế sử dụng vốn khuy ến nông, khuy ến

công, khuyến ngư, khuyến thương... UBND tỉnh giao cho Sở Nông nghiệp và

Phát tri ển nông thôn là c ơ quan th ực hi ện chính Đề án CNH, H ĐH nông

nghiêp, nông thôn giai đoạn 2002-2010; xây dựng kế hoạch, chương trình, cụ

thể hoá bước đi trong từng giai đoạn, rà soát, b ổ sung, xây d ựng trước hết là

các chính sách v ề đất đai, đầu tư tín dụng, thuế và lệ phí, th ị trường, đào tạo

NNL và KHCN, môi trường.

Thực hiện chủ trương của Đảng bộ tỉnh về gắn đào tạo NNL cho nông

nghiệp với giải quyết việc làm, UBND tỉnh chỉ đạo Sở Lao động Thương binh

và Xã hội tổ chức hai Hội chợ việc làm năm 2003 và 2004. H ội chợ đạt kết

quả tốt, được Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đánh giá là hội chợ đạt kết

quả cao nhất trong các tỉnh, thành phố phía Bắc: năm 2003 có 48 đơn vị tham

gia hội chợ gồm 35 doanh nghi ệp, 13 tr ường và trung tâm d ạy nghề, thu hút

khoảng 2,5 vạn lượt người tham gia; k ết quả có 1,9 v ạn lượt người đăng ký

tìm việc làm và h ọc nghề; đã tiếp nhận được 2.668 hồ sơ đủ điều kiện tuyển

dụng vào làm vi ệc, 9.883 hồ sơ đủ điều kiện học nghề. Năm 2004, 44 đơn vị

trong, ngoài tỉnh tham gia; có 3.000 ng ười được tuyển dụng, 10 nghìn ng ười

đăng ký học nghề. Các tr ường, cơ sở dạy nghề trong tỉnh đã đào tạo 17.300

người; thành lập mới 2 trung tâm d ạy nghề ở Tiền Hải và Tr ường Cao đẳng

sư phạm Thái Bình [127, tr.5]

Đặc bi ệt, thực hiện Ngh ị quyết 13 V ề phát tri ển đào tạo dạy ngh ề giai

đoạn 2004-2010, UBND giao cho S ở Lao động Thương binh và Xã h ội chịu

trách nhi ệm chính. Sở đã xây dựng kế hoạch bố trí ngân sách, xây d ựng và

thực hiện các đề án v ề phát tri ển đào tạo, dạy nghề; đồng th ời xây dựng cơ

54

chế, chính sách c ủa tỉnh để thúc đẩy sự nghi ệp đào tạo, dạy nghề phát tri ển

nhanh và bền vững. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân thực hiện nhiệm

vụ vận động, giáo dục các tầng lớp nhân dân ph ối hợp với nhà tr ường, cơ sở

dạy ngh ề và gia đình xây d ựng môi tr ường lành m ạnh giáo d ục th ế hệ tr ẻ.

UBND ch ỉ đạo các s ở, ngành liên quan nh ư: Sở Kế ho ạch đầu tư, Sở Tài

chính, Sở Nội vụ … ph ối hợp chặt chẽ với Sở Lao động Thương binh và Xã

hội gi ải quy ết có hi ệu qu ả công vi ệc, bảo đảm cho s ự nghi ệp đào tạo, dạy

nghề phát triển toàn diện.

Để thực hiện mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XVI, đến

năm 2010 số lao động qua đào tạo từ 40 đến 50%, năm 2004, UBND tỉnh chỉ

đạo Sở Lao động Thương binh và Xã h ội xây dựng và phê duy ệt Quy hoạch

hệ thống các cơ sở dạy nghề tỉnh Thái Bình giai đoạn 2004-2010. Đề án quy

hoạch xác định: “Đổi mới công ngh ệ đang di ễn ra trên quy mô toàn c ầu…

phát tri ển GD - ĐT là một trong nh ững động lực thúc đẩy sự nghi ệp CNH,

HĐH là điều kiện phát triển nguồn lực con người” [158, tr.1]. Quy ho ạch các

cơ sở dạy nghề với mục đích hình thành h ệ thống các tr ường, trung tâm, l ớp

dạy nghề trên địa bàn tỉnh; kết hợp giữa các cơ sở dạy nghề với các tổ chức,

cơ sở kinh tế có hoạt động dạy nghề nhằm đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất

lượng và cơ cấu ngành nghề; gắn dạy nghề với nhu cầu cung cấp nhân lực có

tay nghề cho sự nghiệp công nghiệp hóa của tỉnh; xác định số lượng cần thiết

các trường dạy nghề, đặc biệt là các trung tâm d ạy nghề ở các huyện, các lớp

dạy nghề của các cơ sở, tổ chức kinh tế nhằm tạo cơ hội cho người lao động, chủ

yếu là ở khu vực nông thôn có điều kiện được trang bị kiến thức, kỹ năng nghề

nghiệp, năng lực tiếp thu công nghệ mới để tự tạo việc làm. Có thể thấy, ngoài

việc xây dựng và phát triển các trường dạy nghề, Thái Bình đã bước đầu quan

tâm xây dựng các trung tâm dạy nghề, kết hợp các hình thức và các tổ chức dạy

nghề ở các huyện nhằm đào tạo lực lượng lao động ở khu vực nông thôn, phấn

đấu đến năm 2005 thời gian sử dụng lao động ở nông thôn là 78% [158, tr.5].

55

Nói về chủ trương của tỉnh Thái Bình trong công tác đào tạo nghề

giai đoạn này, ông Nguy ễn Minh Th ảo cho bi ết: thực sự bắt đầu từ

thời gian này, công tác đào tạo ng ười lao động có ngh ề nói chung

mới được quan tâm. Công tác đào tạo ngh ề được toàn xã h ội th ừa

nhận là lĩnh vực rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển KT - XH.

Đào tạo nghề là một tất yếu trong quá trình CNH, H ĐH của tỉnh và

đất nước [Phụ lục 26].

Để đào tạo NNL cho nông nghi ệp trong ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ

thuật vào sản xu ất nông nghi ệp, áp dụng các gi ống cây tr ồng, vật nuôi mới

nhằm tăng năng suất lao động, hàng năm, Tỉnh ủy chỉ đạo Sở Nông nghiệp và

Phát triển nông thôn đầu tư nghiên cứu các đề tài khoa h ọc. Sở đổi mới việc

giao đề tài nghiên c ứu khoa học, nhiều đề tài khoa h ọc và d ự án công ngh ệ

được giao theo hình thức đấu thầu. Hầu hết đề tài khoa học tập trung phục vụ

5 trọng tâm tạo bước đột phá tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Công tác qu ản lý

chất lượng đi vào chi ều sâu, theo h ướng hội nh ập qu ốc tế. Sau khi nghi ệm

thu, các đề tài được áp dụng vào thực tiễn sản xuất.

Sở Khoa học Công ngh ệ được sự chỉ đạo của Tỉnh ủy và sự phân công

nhiệm vụ của UBND, thực hiện các hoạt động chuyển giao tiến bộ KHCN về

nông thôn, t ập hu ấn bằng hình th ức tuyên truy ền và th ực nghi ệm tại ru ộng

cho nông dân, đồng thời xây dựng các mô hình ứng dụng đồng bộ các tiến bộ

KHCN về gi ống cây, gi ống con ph ục vụ chuy ển đổi cơ cấu kinh t ế nông

nghiệp. sở tiến hành xây dựng mô hình thí điểm như: cánh đồng 50 triệu tại 2

huyện Quỳnh Phụ, Tiền Hải; mô hình liên k ết “ 4 nhà” để ứng dụng tiến bộ

trồng khoai tây Hà Lan xu ất khẩu tại các huy ện Vũ Th ư, Đông Hưng, Ki ến

Xương; mô hình áp d ụng tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón giúp nông dân

tăng hi ệu qu ả ngh ề tr ồng dâu, nuôi t ằm ở các huy ện Vũ Th ư, Đông Hưng,

Hưng Hà; mô hình chuy ển đổi trồng lúa năng suất thấp sang nuôi các lo ại cá,

tôm, chim trắng cho thu nh ập 40-50 tri ệu đồng/ha/năm tại hầu hết các huyện

Kiến Xương, Tiền Hải, Quỳnh Phụ, Vũ Thư, Hưng Hà, Đông Hưng…

56

Nhằm tạo nguồn và nâng cao ch ất lượng cán bộ nông nghiệp, Ban cán

sự đảng Uỷ ban nhân dân t ỉnh ch ỉ đạo Ban T ổ ch ức Chính quy ền tỉnh, Sở

Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Trường Trung cấp nông nghiệp, Trường

Cao đẳng kinh tế kỹ thuật của tỉnh kết hợp chặt chẽ, xây dựng kế hoạch đào

tạo, bồi dưỡng, tập hu ấn nh ằm nâng cao trình độ và nghi ệp vụ chuyên môn

cho số cán bộ hợp tác xã.

Bên cạnh đó, Tỉnh ủy chỉ đạo các Huyện ủy hằng năm cử cán bộ xã, thôn

đi học tập huấn, bối dưỡng chuyên môn, học cao đẳng, đại học tại trường Cao

đẳng Kinh t ế Kỹ thu ật tỉnh Thái Bình. S ở Nông nghi ệp và Phát tri ển nông

thôn hằng năm cử nhiều lượt cán bộ đi tham quan, h ọc tập chính tr ị, chuyên

môn, quản lý nhà nước ở các trường trong và ngoài tỉnh.

Hội Nông dân t ỉnh ch ủ động đẩy mạnh th ực hi ện các phong trào nông

dân sản xuất, kinh doanh gi ỏi, giúp nhau xoá đói, giảm nghèo, xây d ựng gia

đình, làng văn hoá. Các c ấp hội đã đứng ra tín ch ấp vay vốn giúp nông dân

đầu tư phát triển sản xuất; đồng thời mở các lớp tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa

học - kỹ thuật cho hội viên. Trong 5 năm 2001-2005 đã mở 2.195 lớp tập huấn cho

hơn 18 vạn lượt hội viên, năm 2005 dạy nghề cho 750 hội viên [7, tr.3].

Như vậy, trên cơ sở nh ững quan điểm của Đảng về đào tạo NNL, đặc

biệt là phát tri ển NNL phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông

thôn, Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã quán tri ệt, vận dụng, xây d ựng thành ch ủ

trương, đường lối cụ th ể cho t ừng ngành, l ĩnh vực trong nông nghi ệp. Các

nghị quyết của Tỉnh ủy được UBND tỉnh, các Huy ện ủy xây dựng thành các

chương trình, kế hoạch để tổ chức thực hiện. Đây chính là tiền đề để thực hiện

thành công mục tiêu phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại đáp ứng mục

tiêu CNH, H ĐH nông nghi ệp, nông thôn c ủa một tỉnh thu ần nông nh ư tỉnh

Thái Bình.

2.3.2. Những kết quả đạt được

Đến năm 2005, tỉnh Thái Bình đã đạt những kết quả cụ thể về đào tạo NNL

cho nông nghiêp. Nghề và làng nghề cũng được quan tâm mở rộng và có bước

57

phát triển. 100% số xã có ngh ề, 173 làng ngh ề đạt tiêu chu ẩn (23 làng ngh ề

quy mô toàn xã), t ăng 91 làng ngh ề so với năm 2000, gi ải quyết việc làm ổn

định, tăng thu nh ập cho 15 v ạn lao động hàng n ăm gi ải quy ết thêm 7000-

10000 lao động [161, tr.4]. Nhi ều tổ hợp tác, h ợp tác xã và doanh nghi ệp

trong nông thôn được hình thành, ho ạt động có hiệu quả đã tác động tích cực

trong việc khôi phục và phát triển làng nghề và nghề trong nông thôn.

Số cán bộ làm vi ệc trong lĩnh vực nông nghi ệp, lâm nghi ệp và th ủy sản

2.201 ng ười, trong l ĩnh vực ch ế bi ến 9.108 ng ười [33, tr.13]. S ố cán b ộ có

trình độ liên tục được bổ sung hằng năm. Năm 2001, Sở Nông nghiệp và Phát

triển Nông thôn cử 16 cán bộ đi học quản lý nhà nước về nông nghiệp, 6 cán

bộ đi học nghiên cứu sinh, bồi dưỡng chuyên môn cho 15 cán b ộ [100, tr.2].

Năm 2002, 18 cán b ộ được cử đi học trung cấp quản lý, 1 cán b ộ được cử đi

học cao cấp lý lu ận chính tr ị tại Học viện Chính tr ị Quốc gia Hồ Chí Minh

[101, tr.2]. Số cán b ộ xã, thôn được cử đi học cao đẳng, đại học tại tr ường

Cao đẳng quản lý Kinh t ế, Kỹ thuật Thái Bình t ăng qua các n ăm: năm 2003:

197 cán bộ [157, tr.4], n ăm 2004: 245 cán b ộ [159, tr.4], n ăm 2005: 397 cán

bộ [160, tr.4]. Ngoài s ố cán b ộ làm vi ệc tại Sở Nông nghi ệp và Phát tri ển

nông thôn, các tr ạm khuy ến nông - khuy ến ng ư tại các huy ện được hình

thành và t ăng cường về cán bộ kỹ thuật, mỗi trạm có từ 3 đến 5 cán b ộ vừa

làm công tác khuy ến nông, khuy ến ngư vừa tham gia đào tạo, chuy ển giao

công nghệ cho ng ười lao động nông thôn. Ở cấp xã đã từng bước có cán b ộ

thú y, khuy ến nông viên, cán b ộ hợp tác xã nông nghi ệp có trình độ, được

đào tạo từ sơ cấp trở lên. Nh ư vậy, số lượng cán b ộ khoa học kỹ thuật phục

vụ cho phát tri ển kinh t ế nông nghi ệp ở Thái Bình được tăng cường và

phân bổ từ cấp tỉnh, đến cấp huyện, xã. Các c ơ sở giáo dục chuyên nghi ệp,

giáo dục th ường xuyên, k ỹ thu ật tổng hợp hướng nghi ệp được củng cố và

có bước phát tri ển. Đến năm 2003 trung tâm h ọc tập cộng đồng được thành

lập và đi vào ho ạt động ở 100% s ố xã. Trong l ĩnh vực nông nghi ệp ngoài

việc đào tạo ng ắn hạn tại các xã, các trung tâm c ấp huy ện, còn được đào

58

tạo dài h ạn hệ trung h ọc tại trường Trung h ọc nông nghi ệp Quỳnh Phụ của

tỉnh với 6 khoa chuyên ngành ph ục vụ trong l ĩnh vực nông nghi ệp th ực

hiện tuy ển sinh hàng n ăm vào các ngành ch ăn nuôi thú y, qu ản lý nhà

nước, bảo vệ thực vật…[48, tr.18].

Công tác đào tạo nghề cho người lao động, đặc biệt là đào tạo nghề ngắn

hạn cho ng ười nông dân được quan tâm, nh ất là từ khi có ngh ị quyết chuyên

đề của Tỉnh ủy về đào tạo nghề. Bình quân hàng n ăm đào tạo nghề cho trên

16 nghìn lao động, góp ph ần gi ải quy ết vi ệc làm cho kho ảng 22,4 nghìn

người, tăng 12% so với chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đề ra. Tỷ lệ

sử dụng thời gian ở khu vực nông thôn t ăng 1,1%/năm. Đến năm 2005 tỷ lệ

lao động qua đào tạo của Thái Bình đạt 30%, trong đó qua đào tạo nghề 18%

[161, tr.5-6]. Cụ thể, công tác dạy nghề đạt những kết quả:

- Về số lượng: Trong 5 năm, dạy nghề cho khoảng 85.832 người, trong

đó dạy nghề dài hạn là 7.882 người, ngắn hạn là 77.950 người. Trong đó, dạy

nghề ngắn hạn tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn và các c ụm, khu công

nghiệp mới mở hoặc các làng nghề [97, tr.3].

- Mạng lưới cơ sở dạy nghề được quy hoạch lại. Đến 30/10/2005, ngoài

các cơ sở dạy nghề tại tỉnh và các huy ện, tỉnh có thêm 6 trung tâm d ịch vụ

việc làm thuộc các tổ chức đoàn thể và 8 trung tâm k ỹ thuật tổng hợp hướng

nghiệp thuộc các huyện, thành phố đều có thêm ch ức năng dạy nghề để phục

vụ nhiệm vụ xã hội hóa công tác dạy nghề [97, tr.5].

- Đẩy mạnh ho ạt động dạy nghề thông qua các t ổ chức khuyến công,

khuyến nông, khuy ến lâm, khuy ến ng ư và truy ền ngh ề của các ngh ệ nhân

làng nghề. Năm 2004 - 2005, triển khai dự án dạy nghề cho nông dân ở 63 xã

với kinh phí 1.600 triệu đồng cho 7059 lao động [97, tr.5].

Những kết qu ả trên là c ơ sở cho nh ững thành t ựu KT - XH c ủa tỉnh:

Tổng sản phẩm của tỉnh tăng bình quân 7,21%/năm. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu

lao động chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp, xây dựng từ

14,75% năm 2000 lên 22,86% năm 2005, dịch vụ tăng từ 31,55% lên 34,87%,

59

giảm tỷ trọng nông nghiệp từ 53,7% xuống còn 42,27% [161, tr.1]. Mặc dù cơ

cấu nông nghiệp giảm nhưng giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng, đến

năm 2005 đạt 4.821 t ỷ đồng, tăng 21,9% so v ới năm 2000 [48, tr.9]; bình

quân đạt 4,04%/năm, vượt 0,54% so với chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ

XVI (3,5%/năm), tăng 0,89% so với giai đoạn 5 năm trước [161, tr.1]. Giá tr ị

sản xuất trên 1ha canh tác t ừ 21 tri ệu đồng năm 2000 lên 38 tri ệu đồng năm

2005 (t ăng 26,25%), vượt mục tiêu Đại hội đề ra (35 tri ệu đ/ha) [161, tr.2].

Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi được đẩy mạnh, đã hình thành một

số vùng và nhiều mô hình sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao; việc chuyển giao,

ứng dụng ti ến bộ khoa h ọc - k ỹ thu ật vào s ản xu ất nông nghi ệp được chú

trọng, nhất là về giống cây trồng, vật nuôi và ph ương thức canh tác. Trên địa

bàn tỉnh đã hình thành và phát tri ển “cánh đồng 50 tri ệu đồng”. Đến năm

2005, toàn tỉnh có 251 xã, th ị trấn xây dựng cánh đồng 50 triệu đồng/ha/năm,

với 1.138 cánh đồng và 11.268 ha, đạt 12,3% di ện tích đất canh tác. Đã có 2

xã Quỳnh Hải (huyện Quỳnh Phụ), Thụy An (huy ện Thái Th ụy) đạt 50 tri ệu

đồng/ha trên toàn bộ diện tích canh tác [161, tr.2].

Chăn nuôi đạt giá trị tăng trưởng khá, ngày càng tăng tỷ trọng trong nông

nghiệp và từng bước thành ngành sản xuất chính. Phương thức chăn nuôi chuyển

mạnh từ chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ, thức ăn tận dụng sang quy mô trang trại, gia

trại ph ương pháp công nghi ệp, bán công nghi ệp. Giá tr ị ch ăn nuôi giai đoạn

2000-2005, bình quân hàng n ăm tăng trưởng 10,02%, năm 2005 đạt 1.220 tỷ

đồng tăng 62,4% so với năm 2000. Sản lượng thịt gia súc, gia c ầm đạt 103,5

nghìn tấn, tăng 54,1% so với năm 2000 [161, tr.2]. Số trang trại và gia trại chăn

nuôi có tốc độ phát triển khá, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số trang trại và gia

trại trong nông nghiệp. Tiềm năng về thủy sản giai đoạn này được khai thác, đạt

giá trị tăng trưởng cao, phát triển toàn diện. Trong đó, nuôi trồng thủy sản phát triển

khá và đa dạng về hình thức theo hướng thâm canh, bán thâm canh. Diện tích nuôi

trồng năm 2005 là 12.376 ha, tăng 2.916 ha so với năm 2000, trong đó diện tích

nuôi nước mặn và nước lợ 4.707 ha, diện tích nuôi nước ngọt 7.669 ha. Sản lượng

60

nuôi trồng thủy sản năm 2005 đạt khoảng 32.500 tấn, tăng 70,9% so với năm 2000,

bình quân mỗi năm tăng 11,3% [161, tr.2]. Các huyện trong tỉnh đã triển khai thực

hiện một số mô hình dự án chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản tập trung với diện

tích từ 40ha trở lên để tạo sản lượng hàng hóa lớn và bền vững [161, tr.3].

Kinh tế trang trại và gia tr ại phát triển khá mạnh, toàn tỉnh có 543 trang

trại, trong đó có 30 trang tr ại trồng trọt, 214 trang tr ại sản xuất thủy sản, 143

trang trại chăn nuôi và 156 trang trại tổng hợp. Tổng số trang trại toàn tỉnh có

khoảng 8.000 trang trại [161, tr.3].

Những kết qu ả trên góp ph ần th ể hi ện rõ ràng nh ững thành công c ủa

công tác đào tạo NNL cho nông nghiệp tỉnh Thái Bình.

Tiểu kết chương 2

Thực hiện chủ trương, quan điểm của Trung ương Đảng về phát triển KT

- XH, đào tạo NNL, Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã cụ th ể hóa thành các ch ủ

trương và phương thức lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng kế hoạch thực hiện cụ thể

đối với từng lĩnh vực trong đó đặc biệt là đào tạo NNL cho nông nghiệp. Nếu

như trước năm 2000, các vấn đề về phát triển nhân lực, đào tạo nghề hầu như

chưa được đề cập đến trong các v ăn kiện của các cấp ủy đảng trong tỉnh, thì

đến giai đoạn này, vấn đề NNL và tác động của nó đối với phát triển KT - XH

đã được quan tâm đề cập đến. Điều này th ể hi ện trong các ngh ị quy ết của

Tỉnh ủy và vi ệc tri ển khai c ủa các c ấp trong các l ĩnh vực đều th ể hi ện nội

dung, yêu cầu ph ải đào tạo ngh ề, ứng dụng khoa học kỹ thu ật, chuyển giao

công ngh ệ nh ư là m ột yếu tố để đảm bảo th ực hi ện thành công các ch ủ

trương, đường lối đề ra.

Tuy nhiên, công tác đào tạo NNL cho nông nghi ệp th ời kỳ này còn

những hạn chế về quy mô, chất lượng, vấn đề việc làm và thu nh ập của NNL

cho nông nghi ệp sau khi được đào tạo đào tạo nghề. Nhận thức của Đảng bộ

tỉnh Thái Bình về tầm quan trọng của công tác đào tạo NNL cho nông nghi ệp

giai đoạn này đã có sự phát tri ển hơn hẳn giai đoạn trước, nhưng thực tế chỉ

đạo và quá trình th ực hiện chưa thực sự ngang bằng với nhận thức. Công tác

61

đào tạo NNL cho nông nghi ệp vẫn ch ủ yếu được th ực hi ện lồng ghép v ới

chương trình đào tạo cán bộ, bồi dưỡng chuyên môn của Sở Nông nghi ệp và

Phát triển nông thôn, nh ững khóa đào tạo chuyển giao khoa học kỹ thuật cho

nông dân chủ yếu được thực hiện theo các kế hoạch của kinh tế nông nghiệp,

vấn đề xã hội hóa công tác đào tạo NNL cho nông nghi ệp giai đoạn này chưa

được đẩy mạnh.

Khi được hỏi về các lớp học nghề, chị Bùi Thị Hiền cho biết: Ngày

trước không có các l ớp học ngh ề, mà mãi sau này m ới có, k ể cả

những lớp chuyển giao khoa h ọc kỹ thuật cho bà con c ũng sau này mới được có nhiều [Phụ lục 26].

Cụ thể trong công tác dạy nghề, theo ông Nguyễn Minh Thảo, đầu tư

cho các cơ sở dạy nghề còn dàn trải, mỗi cơ sở một ít; lực lượng giáo

viên vẫn còn nặng về lý thuy ết, kém kỹ năng, có kỹ sư có bằng tốt nghiệp nhưng kỹ năng thua xa thợ bậc 4 hoặc 5 lâu năm [Phụ lục 26].

Nguyên nhân d ẫn đến nh ững hạn ch ế này ch ủ yếu do nguyên nhân

khách quan, trong b ối cảnh chung c ủa cả nước, công tác đào tạo NNL cho

nông nghiệp giai đoạn này chưa được thực hiện mạnh mẽ so với nhận thức.

Những hạn ch ế trên ảnh hưởng tr ực tiếp đến vi ệc chuyển từ sản xu ất

nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa còn ch ậm, hiệu quả sản xuất thấp. Người nông

dân ch ưa th ực sự thích nghi v ới cơ ch ế th ị tr ường, kh ả năng ti ếp cận th ị

trường, ti ếp cận thông tin y ếu. Vi ệc ứng dụng khoa h ọc - k ỹ thu ật vào s ản

xuất nông nghi ệp mới đạt kết qu ả bước đầu. Ch ưa mạnh dạn trong vi ệc

chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng, chưa tạo được vùng sản xuất hàng hóa

lớn. Những kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của

một tỉnh nông nghi ệp với truyền thống của “quê hương năm tấn”. Điều này

đặt ra cho Đảng bộ và nhân dân Thái Bình nhi ệm vụ lớn trong nh ững năm

tiếp theo, đặc bi ệt trong l ĩnh vực nông nghi ệp. Trong đó đóng vai trò trung

tâm là người nông dân, nhân t ố quyết định thành công sự nghiệp CNH, HĐH

nông nghiệp, nông thôn của tỉnh.

62

Chương 3

ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH LÃNH ĐẠO ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC

CHO NÔNG NGHIỆP GÓP PHẦN ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA,

HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN (2006 -2010)

3.1. YÊU CẦU MỚI VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN

NHÂN LỰC TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010

3.1.1. Yêu cầu mới về đào tạo nguồn nhân lực và ngu ồn nhân lực

cho nông nghiệp

Đến năm 2006, sau 20 n ăm thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã

đạt nh ững thành t ựu to l ớn có ý ngh ĩa lịch sử, có nh ững bước tăng tr ưởng

vượt bậc và từng bước hội nhập sâu rộng với thế giới và khu v ực. Trong bối

cảnh tình hình th ế giới và Vi ệt Nam có nh ững thay đổi nhanh chóng, đòi hỏi

chủ trương, chính sách của Đảng phải phù hợp với tình hình mới. Vấn đề đào

tạo NNL cũng trở nên cấp thiết hơn.

Trên thế giới, xu thế toàn cầu hoá tiếp tục diễn ra nhanh chóng, kinh t ế

tri thức ngày càng có vai trò ch ủ đạo trong đời sống KT - XH th ế giới. Toàn

cầu hóa xoay quanh tâm điểm là xây d ựng và phát tri ển nền kinh tế tri th ức.

Trong những năm đầu thế kỷ XXI, kinh tế tri thức được chọn làm chiến lược

phát triển của các quốc gia, cả những nước phát triển và đang phát triển. Đây

là nền kinh tế mà trong đó: “ Sự sản sinh ra công nghệ, phổ cập và sử dụng tri

thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra nhiều của

cải, nâng cao ch ất lượng cuộc sống” [45, tr.152]. Các n ền kinh tế phát tri ển

nhất về công ngh ệ ngày nay th ực sự đã dựa vào tri th ức. Nh ư vậy cũng có

nghĩa là ch ất lượng tri th ức là y ếu tố quy ết định ch ất lượng NNL, mà ch ất

lượng NNL chính là quy ết định mức độ phát tri ển KT - XH c ủa tất cả các

quốc gia. Điều này đòi hỏi mỗi qu ốc gia ph ải xây dựng chiến lược đào tạo,

phát triển, sử dụng NNL đúng đắn, hợp lý. Đây sẽ là chìa khóa để các quốc gia

tạo ra được sức mạnh nội lực bền vững và nâng cao n ăng lực cạnh tranh trên

trường quốc tế.

63

Mặt khác, với những sản phẩm KHCN mới được tạo ra từ nền kinh tế

tri thức, kết hợp với sự vận động mạnh mẽ của quá trình h ội nhập, toàn cầu

hóa, tất yếu sẽ dẫn đến xu hướng chuyển giao công ngh ệ trên tất cả các lĩnh

vực nghiên cứu, ứng dụng. Các nước đang phát tri ển và kém phát tri ển sẽ có

cơ hội được hưởng những thành tựu mới nhất của kinh tế tri th ức theo hình

thức hợp tác song ph ương, hợp tác đa phương. Vi ệc ứng dụng thành tựu tri

thức mới nhất giúp cho các n ước lạc hậu, kém phát tri ển, đang phát tri ển có

thể rút ng ắn giai đoạn CNH, HĐH. Vì vậy, tất cả các qu ốc gia trên th ế giới

đều nỗ lực, gấp rút xây dựng phát triển NNL trí tu ệ cao, tay nghề giỏi để tiếp

nhận và sử dụng thành tựu KHCN cao.

Ở Việt Nam, xuất phát từ thực tế trên, Đảng chủ trương gắn liền CNH,

HĐH với phát tri ển nền kinh t ế tri th ức; CNH, HĐH gắn li ền với ch ủ động

hội nhập kinh tế thế giới. Quá trình “ đi tắt đón đầu” này nh ằm rút ng ắn thời

gian CNH, H ĐH, đồng th ời tạo cơ hội nắm bắt được nh ững thành t ựu mới

nhất của kinh tế tri th ức. Như vậy, rõ ràng ng ười lao động đã không th ể duy

trì lối làm ăn th ủ công, tự phát n ữa. Nhu c ầu tất yếu nảy sinh là tìm tòi, t ự

học, tự ứng dụng sản ph ẩm KHCN. Để hàng hóa c ủa mình có đủ sức cạnh

tranh, người lao động phải liên tục thay đổi mẫu mã, hình thức, nâng cao chất

lượng sản ph ẩm nh ưng giá thành ph ải phù h ợp với ng ười tiêu dùng, t ức là

tăng hàm lượng tri thức, công nghệ trong mỗi sản phẩm tạo ra. Muốn vậy, chỉ

có một con đường là đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nâng cao tay ngh ề. Đây

chính là quá trình t ừ nh ững ng ười lao động th ủ công là chính tr ở thành lao

động chất lượng cao.

Đây là vấn đề bức thiết đặt ra đối với nông nghiệp Việt Nam. Bản chất

của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là d ựa vào thành tựu KHCN để tăng

năng suất khi thu h ẹp diện tích đất nông nghi ệp, chuyển lao động và đất đai

sang lĩnh vực công nghi ệp, dịch vụ. Vậy, một bộ phận không nh ỏ nông dân

mất đất sản xuất, canh tác, l ại không được trang bị kiến thức, kỹ năng nghề

nghiệp đầy đủ sẽ tiếp tục cuộc sống như thế nào? Nếu không làm giàu được

64

trên mảnh đất của mình họ có tham gia được vào lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ

không? Và tham gia như thế nào? Do đó, đào tạo họ thành những nông dân có

nghề là vấn đề bức thiết không chỉ về kinh tế mà còn mang ý nghĩa xã hội to lớn.

Đảng và Nhà n ước đã nắm bắt xu th ế, nhu cầu này, từ đó đề ra đường

lối, chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, phát triển NNL có đủ phẩm chất, trình độ

tiếp nhận, sử dụng và có n ăng lực sáng tạo những sản phẩm công ngh ệ mới

chứa đựng hàm lượng tri th ức cao. Đồng thời, đào tạo nâng cao ch ất lượng,

trình độ của người lao động khu vực nông thôn - vẫn là lực lượng chính trong

quá trình phát triển KT - XH, CNH, HĐH đất nước.

Tuy nhiên, thực trạng về chất lượng NNL Việt Nam chưa đáp ứng được

yêu cầu. Đất nước còn nghèo, ảnh hưởng trực tiếp đến các biện pháp trực tiếp

đào tạo NNL. Mặc dù số lượng đông nhưng chất lượng NNL còn nh ững hạn

chế: Tỷ lệ NNL có trình độ học vấn cao còn ít và trình độ, kỹ năng còn yếu;

năng lực đổi mới và sáng t ạo KHCN của NNL Việt Nam rất thấp; so với đội

ngũ trí thức thì đội ngũ kỹ thuật viên và công nhân có tay nghề vừa thiếu, vừa

yếu; NNL có năng lực quản lý, nhất là quản trị doanh nghiệp vừa thiếu về số

lượng, vừa yếu về ch ất lượng. NNL nông nghi ệp, đặc bi ệt là l ực lượng lao

động sản xuất trực tiếp còn bổ sung thêm nh ững hạn chế như: năng lực cạnh

tranh th ấp, tác phong công nghi ệp kém, th ậm chí ch ưa hình thành; còn tình

trạng chây lười, làm việc theo thời vụ; tư duy lạc hậu, tâm lý cục bộ, sản xuất

manh mún, ỷ lại vào sự giúp đỡ của Đảng, Nhà nước.

Từ năm 2001 đến 2005, tốc độ tăng năng suất lao động của Việt Nam

tăng từ 4,25% lên 5,51%, bình quân 5 n ăm tăng 4,81%. Tính riêng 6 n ước

trong khối ASEAN có trong bảng xếp hạng năng suất lao động gồm: Xingapo,

Malaixia, Thái Lan, Philippin, Inđônêxia và Việt Nam thì Xingapo dẫn đầu và

Việt Nam ở vị trí cu ối. Năng su ất lao động năm 2005 của Vi ệt Nam so v ới

Xingapo = 2,35%, so với Malaixia = 10,95%, so với Thái Lan = 28,73%, so với

Philippin = 44,07% và so với Inđônêxia = 63,37% [74, tr.76]. Để đẩy nhanh tốc

độ tăng trưởng kinh tế thì đây là vấn đề lớn mà Việt Nam cần khắc phục.

65

Bước vào thời kỳ chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, NNL Việt Nam có

nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức như phân tích ở trên.

Vì vậy, đào tạo NNL chất lượng cao là cấp thiết và mang tính quyết định.

3.1.2. Quan điểm của Đảng về đào tạo nguồn nhân lực

Nhận th ức được tầm quan tr ọng của NNL v ới sự phát tri ển của đất

nước, đặc biệt khi bước vào thời kỳ đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và tích

cực hội nhập quốc tế, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006) đã

chủ trương chú trọng đào tạo NNL mọi lĩnh vực cho đất nước, trong đó có NNL

cho nông nghiệp. Trên cơ sở lấy GD - ĐT cùng với KHCN là quốc sách hàng đầu,

là nền tảng và động lực thúc đẩy CNH, HĐH đất nước, phương hướng chung

Đảng đề ra là: “Đổi mới toàn diện giáo dục - đào tạo, phát triển nguồn nhân lực

chất lượng cao, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam” [53, tr.95].

Về vấn đề CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và đào tạo NNL cho nông

nghiệp được đề cập khá toàn diện trong Văn kiện của Đại hội, từ chiến lược ngành

nghề, quy ho ạch, ứng dụng KHCN đến các vấn đề về đào tạo, nâng cao ch ất

lượng nhân lực phục vụ sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở

nông thôn. Mục tiêu là "Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp,

kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân" [53, tr.190].

Đại hội khẳng định rõ vai trò của vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông

thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan tr ọng. Vì v ậy, phải luôn coi tr ọng đẩy

mạnh CNH, H ĐH nông nghi ệp, nông thôn h ướng tới xây d ựng một nền

nông nghiệp hàng hóa l ớn, đa dạng, phát tri ển nhanh và b ền vững, có n ăng

suất, ch ất lượng và kh ả năng cạnh tranh cao; t ạo điều kiện từng bước hình

thành nền nông nghi ệp sạch; phấn đấu giá tr ị tăng thêm trong nông nghi ệp,

lâm nghi ệp và th ủy sản tăng 3 - 3,2%/n ăm. Tốc độ phát tri ển công nghi ệp

và dịch vụ ở nông thôn không th ấp hơn mức bình quân c ủa cả nước. Gắn

phát tri ển kinh t ế với xây d ựng NTM, gi ải quyết tốt hơn mối quan h ệ giữa

nông thôn và thành th ị, gi ữa các vùng mi ền, góp ph ần gi ữ vững ổn định

chính trị - xã hội [53, tr.191].

66

Để th ực hi ện mục tiêu trên, v ấn đề NNL cho nông nghi ệp được Đảng

giải quyết theo hướng:

- Thúc đẩy quá trình chuy ển dịch cơ cấu nông nghi ệp và kinh t ế nông

thôn; Xây dựng các vùng s ản xuất nông sản hàng hóa t ập trung gắn với việc

chuyển giao công nghệ sản xuất, chế biến và bảo quản.

- Đẩy mạnh phát tri ển công nghi ệp và d ịch vụ ở nông thôn, nh ất là

những ngành, nghề sử dụng nhiều lao động, coi đây là hướng chính để tạo ra

nhiều việc làm mới, góp phần tăng nhanh thu nhập cho nông dân.

- Đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao KHCN, nhất là giống và kỹ thuật

sản xuất; tăng cường hệ thống khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, thú y,

bảo vệ thực vật và các d ịch vụ kỹ thuật khác ở nông thôn t ạo sự đột phá về

năng suất, chất lượng và hiệu quả trong nông, lâm, ngư nghiệp.

- Tạo điều kiện thuận lợi hơn để giúp nông dân chuy ển sang làm ngành

nghề ngoài nông nghi ệp và d ịch vụ. Khuyến khích để các doanh nghi ệp và

hợp tác xã đầu tư phát tri ển công nghi ệp và dịch vụ ở nông thôn. Chú tr ọng

phát triển kinh tế trang trại, các loại hình kinh tế hợp tác; đẩy nhanh việc sắp

xếp lại và đổi mới qu ản lý các nông, lâm tr ường; phát tri ển mạnh các lo ại

hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa; phát triển bền vững các

làng ngh ề. Tạo mọi thuận lợi cho kinh t ế hộ phát tri ển. Khuyến khích nông

dân đóng góp quyền sử dụng đất và lao động của mình với các doanh nghiệp,

hợp tác xã, các ch ủ trang trại để phát tri ển sản xuất hàng hóa, ổn định và cải

thiện đời sống. Khuyến khích hơn nữa đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp…

- Xây dựng và hoàn chỉnh các quy hoạch phát triển nông nghiệp và nông

thôn. Th ực hi ện ch ương trình xây d ựng NTM nh ằm xây dựng các làng, ấp,

bản có cuộc sống no ấm, văn minh, sạch đẹp gắn với việc hình thành các khu

dân cư đô thị hóa [53, tr.194].

- Chú tr ọng đào tạo ngh ề, tạo vi ệc làm cho nông dân và cho lao động

nông thôn, nh ất là ở các vùng nhà n ước thu hồi đất để xây dựng kết cấu hạ

tầng và phát tri ển các cơ sở phi nông nghi ệp. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu

67

lao động ở nông thôn, giảm nhanh tỷ trọng lao động làm nông nghiệp, tăng tỷ

trọng lao động làm công nghi ệp và dịch vụ. Tạo điều kiện cho lao động nông

thôn có vi ệc làm cả trong công nghi ệp, tiểu thủ công nghi ệp và dịch vụ, tại

chỗ và ngoài nông thôn, k ể cả ở nước ngoài. Nhà n ước đầu tư nhiều hơn và

phát huy kh ả năng tr ợ giúp c ủa xã h ội để th ực hi ện xóa đói, gi ảm nghèo ở

nông thôn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa [53, tr.195].

Như vậy, để đào tạo NNL cho nông nghiệp, Đại hội tập trung vào những

nội dung: Nghiên c ứu, chuyển giao KHCN để nâng cao n ăng suất lao động;

tạo điều ki ện để ng ười nông dân chuy ển sang nh ững ngành ngh ề phi nông

nghiệp; Đào tạo ngh ề cho lao động nông thôn. Th ực hi ện được nh ững nội

dung trên là c ơ sở quan tr ọng để th ực hiện đẩy mạnh quá trình CNH, H ĐH

nông nghiệp, nông thôn.

Đào tạo NNL cho nông nghi ệp được Hội nghị lần thứ 7 Ban Ch ấp hành

Trung ương Khóa X (7/2008) bàn cụ thể. Hội nghị thông qua Nghị quyết Về nông

nghiệp, nông dân, nông thôn. Nghị quyết tiếp tục khẳng định tầm quan trọng nông

nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa,

hiện đại hóa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [55, tr.123]. Do đó, công nghiệp hóa,

hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong

quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [55, tr.123].

Mục tiêu tổng quát của sư nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là:

Không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của dân cư nông

thôn; nông dân được đào tạo có trình độ ngang bằng với các nước

tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ

nông thôn mới. Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo

hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất

lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an

ninh lương th ực qu ốc gia c ả tr ước mắt và lâu dài. Xây d ựng nông

thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế

và các hình th ức tổ ch ức hợp lý, g ắn nông nghi ệp với phát tri ển

68

nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch, xã hội nông thôn

ổn định [55, tr.126].

Mục tiêu cụ thể đến năm 2020 là: giải quyết cơ bản việc làm nâng cao thu

nhập của dân cư nông thôn g ấp trên 2,5 l ần so với hi ện nay. Lao động nông

nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội, tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt

trên 50%, số xã đạt tiêu chuẩn NTM khoảng trên 50%... [55, tr.126-127].

Có thể thấy điểm mới tại hội nghị lần này là đặt mục tiêu đào tạo lao động

nông thôn có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước sản xuất tiên tiến trong

khu vực; gắn đào tạo, phát triển NNL với quá trình xây dựng NTM.

Về đào tạo NNL cho nông nghi ệp, Hội ngh ị xác định vấn đề ưu tiên

hàng đầu là gi ải quyết việc làm cho nông dân. H ội nghị khẳng định việc làm

cho nông dân “là nhi ệm vụ ưu tiên xuyên su ốt trong mọi ch ương trình phát

triển KT - XH của cả nước” [55, tr.135]. Để giải quyết vấn đề này phải có kế

hoạch cụ thể về đào tạo nghề và chính sách đảm bảo việc làm cho nông dân,

nhất là ở các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất; Đẩy mạnh xuất khẩu lao

động từ nông thôn, tri ển khai kế hoạch hợp tác nông nghi ệp với một số quốc

gia có nhu cầu [55, tr.135].

Hội nghị đặc biệt quan tâm đến hai vấn đề trong đào tạo NNL cho nông nghiệp:

Thứ nhất là: Thực hiện nhiệm vụ chuyển giao, ứng dụng KHCN trong

sản xuất nông nghiệp bằng những giải pháp: tăng đầu tư ngân sách cho nghiên

cứu, chuyển giao KHCN để nông nghiệp sớm đạt trình độ tương đương với các

nước tiên tiến trong khu vực; tạo ra nhiều giống cây trồng, vật nuôi và quy trình

nuôi trồng, bảo quản, chế biến, tạo đột phá về năng suất, chất lượng và hiệu quả

sản xuất; xây dựng chính sách đãi ngộ thỏa đáng để khai thác, phát huy tốt các

nguồn lực KHCN; thu hút thanh niên, trí thức trẻ về nông thôn, nhất là các ngành

nông nghiệp, y tế, giáo dục, văn hóa [55, tr.138-139].

Thứ hai là : Thực hiện nhiệm vụ đào tạo nghề cho nông dân b ằng các

giải pháp: t ăng cường đào tạo, bồi dưỡng ki ến th ức khoa h ọc, kỹ thu ật sản

xuất nông nghiệp tiên ti ến, hiện đại cho nông dân; đào tạo nghề cho bộ phận

69

con em nông dân để chuy ển ngh ề, xu ất kh ẩu lao động; hình thành ch ương

trình mục tiêu quốc gia về đào tạo nghề, phát tri ển NNL, đảm bảo hàng năm

đào tạo kho ảng 1 tri ệu lao động nông thôn; th ực hi ện tốt vi ệc xã h ội hóa

công tác dạy nghề [55, tr.139].

Có th ể th ấy, trong th ời kỳ đẩy mạnh CNH, H ĐH, vấn đề NNL được

Đảng, Nhà nước xác định là một giải pháp đột phá trong phát tri ển KT - XH.

Các vấn đề được Đảng đề cập không ch ỉ là đào tạo nhân lực chất lượng cao,

đào tạo trí th ức mà điểm mới trong quan điểm của Đảng thời kỳ này là bên

cạnh việc phát triển các nguồn lực trên còn đặc biệt coi trọng NNL cho nông

nghiệp, tập trung vào chuyển giao KHCN, đào tạo nghề cho nông dân. Đây là

điểm phát triển mới của Đảng so với quan điểm của thời kỳ trước.

Cụ thể hóa ch ủ trương của Đảng, kỳ họp thứ 10, Qu ốc hội khóa XI t ừ

ngày 17 tháng 10 đến ngày 29 tháng 11 n ăm 2006 đã nhất trí thông qua Lu ật

Dạy ngh ề. Đây được coi là b ước ngo ặt mới cho s ự phát tri ển mạnh mẽ của

dạy nghề Việt Nam, lĩnh vực đào tạo đội ngũ lao động tham gia sản xuất trực

tiếp trong các ngành kinh t ế. Hoạt động dạy nghề được hiểu là: “Ho ạt động

dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết

cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi

hoàn thành khóa học” [90, tr.6].

Công tác d ạy nghề có mục tiêu: “Đào tạo nhân l ực kỹ thu ật tr ực ti ếp

trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành ngh ề tương xứng với trình độ

đào tạo, có đạo đức, lương tâm ngh ề nghiệp, ý th ức kỷ luật, tác phong công

nghiệp, có s ức kho ẻ nh ằm tạo điều ki ện cho ng ười học ngh ề sau khi t ốt

nghiệp có kh ả năng tìm vi ệc làm, tự tạo vi ệc làm ho ặc học lên trình độ cao

hơn, đáp ứng yêu c ầu của sự nghi ệp CNH, HĐH đất nước” [90, tr.6]. Lu ật

chú trọng công tác d ạy nghề ở vùng sâu, vùng xa, vùng kinh t ế khó kh ăn và

dạy nghề nông thôn. Luật Dạy nghề ra đời đã mở ra một trang mới trong việc

đào tạo nhân lực trực tiếp phục vụ sản xuất. Nếu như trước đây chỉ có hai loại

hình đào tạo nghề là ngắn hạn và dài hạn thì đến nay, dạy nghề được xác định

70

có 3 cấp trình độ trong hệ thống giáo dục quốc dân là cao đẳng nghề, trung

cấp nghề và sơ cấp nghề. Hai trình độ cao đẳng nghề và trung cấp nghề nhằm

đào tạo lực lượng lao động trực tiếp có trình độ cao thì sơ cấp nghề là trình độ

đào tạo nhằm phổ cập nghề cho người lao động, đặc biệt là đối với khu vực nông

thôn, khu vực có điều kiện khó khăn để người lao động có điều kiện được đào

tạo và ti ếp cận các ứng dụng KHCN vào sản xuất và được đào tạo để chuyển

nghề làm việc trong các doanh nghiệp ở vùng nông thôn.

Tại kỳ họp th ứ sáu, Qu ốc hội khóa XII, ngày 25 tháng 11 n ăm 2009,

Quốc hội thông qua Lu ật giáo dục sửa đổi, bổ sung. Có hi ệu lực thi hành t ừ

ngày 1 tháng 7 n ăm 2010, Luật xác định mục tiêu của giáo dục Việt Nam là:

“Đào tạo con ng ười Việt Nam phát tri ển toàn di ện, có đạo đức, tri th ức, sức

khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp” [91, tr.32]. Để thực hiện mục tiêu phải: “Phát

triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,

bồi dưỡng nhân tài. Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế

xã hội, tiến bộ khoa học công nghệ …” [91, tr.36-37].

Riêng về nông nghi ệp, nông dân, nông thôn, th ực hiện Nghị quyết của

Đảng, Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động của Chính phủ “Thực

hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X

về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” trong đó xác định cụ thể mục tiêu kinh

tế nông nghiệp: xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, sản

xuất hàng hóa l ớn, có n ăng suất, ch ất lượng, hi ệu qu ả, kh ả năng cạnh tranh

cao, đạt mức tăng trưởng 3,5% - 4%/n ăm, đảm bảo an ninh l ương thực quốc

gia cả trước mắt và lâu dài; Tập trung đào tạo NNL ở nông thôn, chuyển một

bộ phận lao động nông nghi ệp sang công nghi ệp và dịch vụ, giải quyết việc

làm, nâng cao thu nh ập của dân cư nông thôn tăng lên 2,5 lần so với hiện tại.

Nâng cao ch ất lượng cuộc sống vật chất và tinh th ần của dân cư nông thôn,

nhất là ở các vùng còn nhi ều khó kh ăn, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân

tham gia đóng góp và h ưởng lợi nhi ều hơn vào quá trình CNH, H ĐH đất

nước. Hoàn thi ện đồng bộ kết cấu hạ tầng KT - XH nông thôn; xây d ựng

NTM bền vững theo hướng văn minh, giàu đẹp…

71

Như vậy, mục tiêu đào tạo NNL cho nông nghi ệp được Chương trình

hành động đặt cụ thể trong mục tiêu phát tri ển kinh tế nông nghi ệp. Và đào

tạo NNL cho nông nghi ệp trở thành một trong 3 ch ương trình mục tiêu qu ốc

gia đến năm 2020. Để thực hiện mục tiêu trên, Nghị quyết đề ra nhiệm vụ xây

dựng và th ực hiện các Ch ương trình mục tiêu qu ốc gia đến năm 2020, gồm:

Tiếp tục thực hiện các Chương trình đã được phê duyệt và triển khai xây dựng

3 Ch ương trình m ục tiêu m ới: (1) Ch ương trình m ục tiêu Qu ốc gia v ề xây

dựng nông thôn m ới, trong đó có nội dung chính là: xây d ựng, tổ chức cuộc

sống của dân cư nông thôn theo h ướng văn minh, hi ện đại; kết hợp gi ữa hỗ

trợ của Nhà nước với phát huy nội lực của cộng đồng dân cư nông thôn; nâng

cao dân trí, đào tạo NNL và tổ chức tốt đời sống văn hóa cơ sở; xây dựng các

hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với yêu cầu của nền nông nghiệp hiện đại,

sản xu ất hàng hóa g ồm cả nông nghi ệp và phi nông nghi ệp, thực hiện “mỗi

làng một nghề”…; (2) Ch ương trình mục tiêu Qu ốc gia về thích ứng với sự

biến đổi khí hậu; (3) Ch ương trình mục tiêu Qu ốc gia về đào tạo NNL nông

thôn: Tập trung xây dựng kế hoạch và giải pháp đào tạo cho bộ phận con em

nông dân đủ trình độ, năng lực vào làm vi ệc ở các c ơ sở công nghi ệp, th ủ

công nghiệp và dịch vụ và chuy ển nghề; bộ phận nông dân còn ti ếp tục sản

xuất nông nghiệp được đào tạo về kiến thức và kỹ năng để thực hành sản xuất

nông nghiệp hiện đại; đồng thời tập trung đào tạo nâng cao kiến thức cho cán

bộ quản lý, cán bộ cơ sở. Đây chính là nội dung cụ thể hóa đào tạo NNL cho

nông nghiệp.

Ngày 27/11/2009, Th ủ tướng Chính ph ủ ban hành Quy ết định số

1956/QĐ - TTg phê duy ệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến

năm 2020. Quan điểm của Đề án đặt ra là: Đào tạo nghề cho lao động nông

thôn là s ự nghiệp của Đảng, Nhà n ước, của các c ấp, các ngành và xã h ội

nhằm nâng cao ch ất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH

nông nghi ệp, nông thôn. Nhà n ước tăng cường đầu tư để phát tri ển đào tạo

nghề cho lao động nông thôn, có chính sách b ảo đảm thực hiện công bằng xã

72

hội về cơ hội học nghề đối với mọi lao động nông thôn, khuy ến khích, huy

động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho lao động nông

thôn. Học nghề là quyền lợi và nghĩa vụ của lao động nông thôn nhằm tạo việc

làm, chuyển nghề, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống [115].

Từ quan điểm đó, Đề án đưa ra các gi ải pháp chính: Một là: Chuyển

mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn t ừ đào tạo theo năng lực sẵn có

của cơ sở đào tạo sang đào tạo theo nhu cầu học nghề của lao động nông thôn

và yêu cầu của thị trường lao động; Hai là: Gắn đào tạo nghề với chiến lược,

quy hoạch, kế hoạch phát triển KT - XH của cả nước, từng vùng, từng ngành,

từng địa ph ương; Bà là: Đổi mới và phát tri ển đào tạo ngh ề cho lao động

nông thôn theo hướng nâng cao ch ất lượng, hiệu quả đào tạo và tạo điều kiện

thuận lợi để lao động nông thôn tham gia h ọc nghề phù hợp với trình độ học

vấn, điều kiện kinh tế và nhu cầu học nghề của mình; Bốn là: Đẩy mạnh công

tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, tạo sự chuyển biến sâu sắc về mặt chất

lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng; Năm là: Xây dựng đội ngũ cán bộ, công

chức xã đủ tiêu chuẩn, chức danh cán bộ, công chức, đủ trình độ, bản lĩnh lãnh

đạo, quản lý và thành thạo chuyên môn, nghiệp vụ trên các lĩnh vực KT - XH ở

xã phục vụ cho CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn [115].

Đề án xác định mục tiêu bình quân hằng năm đào tạo khoảng 1 triệu lao

động nông thôn, trong đó đào tạo bồi dưỡng 100.000 lượt cán bộ công chức xã.

Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập

của lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh

tế, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn [115].

Đề án dành cho 2 dạng đối tượng: Một là, lao động nông thôn trong độ

tuổi lao động, có trình độ học vấn và s ức kh ỏe phù h ợp với ngh ề cần học.

Trong đó, ưu tiên dạy nghề cho các đối tượng là người thuộc diện được hưởng

chính sách ưu đãi, ng ười có công v ới cách m ạng, hộ nghèo, h ộ cận nghèo,

người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác. Hai là, cán

bộ chuyên trách đảng, đoàn thể chính tr ị, xã hội, chính quy ền và công ch ức

73

chuyên môn xã, cán bộ nguồn bổ sung thay thế cho cán bộ, công chức xã đến

tuổi nghỉ công tác hoặc thiếu hụt do cơ học có độ tuổi phù hợp với quy hoạch

cán bộ đến năm 2015 và đến năm 2020. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,

công chức, tạo sự chuyển bi ến sâu sắc về mặt ch ất lượng, hiệu quả đào tạo,

bồi dưỡng; nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã đủ tiêu chuẩn, chức

danh cán bộ, công chức, đủ trình độ, bản lĩnh lãnh đạo, quản lý và thành th ạo

chuyên môn, nghiệp vụ trên các lĩnh vực KT - XH ở xã phục vụ CNH, HĐH

nông nghiệp, nông thôn [115].

So với giai đoạn 2001-2005, đến giai đoạn 2006-2010, nh ận thức của

Đảng về đào tạo NNL nói chung và NNL cho nông nghi ệp nông thôn có s ự

phát tri ển rõ r ệt. Sự phát tri ển th ể hi ện rõ nét trong ch ủ tr ương của Đảng,

coi NNL ch ất lượng cao là chìa khóa c ủa sự thành công s ự nghi ệp đẩy

mạnh CNH, H ĐH đất nước và đào tạo nhân l ực, nâng cao ch ất lượng nhân

lực cho nông nghi ệp là nhân t ố quy ết định thành công c ủa CNH, H ĐH

nông nghi ệp, nông thôn và xây d ựng NTM. T ừ th ời điểm ti ến hành công

cuộc đổi mới, đây là giai đoạn nh ững ch ủ tr ương, chính sách nh ằm phát

triển con ng ười nói chung, NNL nói riêng được Đảng chú tr ọng và ch ỉ đạo

toàn di ện nh ất. Vấn đề cốt lõi ở đây là các Đảng bộ địa ph ương có v ận

dụng linh ho ạt đường lối của Đảng căn cứ vào tình hình th ực tế địa phương

để biến chủ trương thành hi ện thực cuộc sống hay không.

3.2. ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH V ẬN DỤNG CH Ủ TR ƯƠNG CỦA

TRUNG ƯƠNG ĐẢNG VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHO NÔNG NGHIỆP

3.2.1. Ch ủ tr ương của Đảng bộ tỉnh Thái Bình v ề đào tạo ngu ồn

nhân lực cho nông nghiệp

Với những thành tựu đạt được sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới,

diện mạo KT - XH tỉnh Thái Bình đã có nhiều thay đổi tích cực, đời sống của

người dân từng bước được nâng lên, cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực. Thái

Bình dần phá thế ốc đảo với những tuyến đường và cầu Tân Đệ "cầu thế kỷ",

74

giao lưu kinh tế với các tỉnh trong khu v ực vì th ế cũng được mở rộng. Giai

đoạn này, đào tạo NNL cho nông nghi ệp Thái Bình tr ở nên cần thiết hơn vì

bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Đào tạo NNL cho nông nghi ệp Thái

Bình phải đáp ứng yêu cầu:

Một là: Chất lượng NNL cho nông nghi ệp phải đáp ứng yêu cầu phát

triển KT - XH c ủa tỉnh và chuy ển dịch cơ cấu kinh tế nông nghi ệp. Mặc dù

đạt được một số thành tựu, nhưng kinh tế nông nghiệp Thái Bình còn chuy ển

dịch chậm, sản xuất nông nghiệp còn tình trạng phân tán, manh mún, chủ yếu

vẫn độc canh cây lúa mang tính tự cấp, tự túc, chưa tạo được khối lượng hàng

hóa lớn và tập trung; vi ệc ứng dụng thành tựu KHCN tiên ti ến vào các l ĩnh

vực sản xu ất kinh doanh còn h ạn ch ế; đội ng ũ cán b ộ khoa h ọc kỹ thu ật ít,

trình độ hạn chế, thiếu nhiều kỹ sư giỏi và thợ lành nghề;

Hai là: Chất lượng NNL nông nghi ệp Thái Bình ph ải đáp ứng yêu cầu

CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và xây dựng NTM. Với hơn 90% dân số ở

nông thôn, người nông dân ngoài việc làm thời vụ, thiếu việc làm lúc nông nhàn,

quá trình thu hẹp diện tích đất nông nghiệp khiến họ rơi vào tình trạng “nhàn hạ

bắt buộc” dẫn đến nhiều hậu quả KT - XH khác; kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng

được yêu cầu sản xuất hàng hóa gắn với thị trường và xây dựng NTM.

Ba là: Chất lượng NNL nông nghi ệp Thái Bình ph ải đáp ứng yêu cầu

hội nhập quốc tế, mà trước mắt là yêu cầu chuyển giao công nghệ.

Để kinh tế Thái Bình thực sự vươn mình, phát huy được thế mạnh kinh

tế nông nghi ệp của địa phương, đòi hỏi phải có nh ững quyết sách mang tính

đột phá và kịp thời, đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo NNL cho nông nghiệp.

Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XVII tháng 1 năm 2006 diễn ra

trong bối cảnh chung của đất nước và thời đại nhưng cũng đan xen với những

vấn đề riêng mang tính đặc thù của địa phương mà Đảng bộ tỉnh lần này phải

giải quy ết. Sau 5 n ăm th ực hi ện Ngh ị quy ết Đại hội IX c ủa Đảng và Ngh ị

quyết Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh, bên cạnh nh ững thu ận lợi về điều ki ện tự

nhiên, xã h ội, về thành t ựu phát tri ển KT - XH mang l ại thì Thái Bình còn

75

những khó kh ăn, thách th ức. Đề cập đến công tác đào tạo NNL cho nông

nghiệp, Đại hội nêu rõ: Chất lượng giáo dục toàn diện còn hạn chế, quy mô đào

tạo nghề nhỏ bé, chất lượng còn bất cập, nhất là chưa đào tạo được thợ kỹ thuật

bậc cao. Ph ần lớn lao động dôi dư không được đào tạo nghề, không tìm được

việc làm ho ặc đi làm với thu nh ập thấp. Nguồn nhân lực Thái Bình tuy đông

nhưng trình độ tay nghề thấp, sức ép về lao động, việc làm thật sự lớn [48, tr.31].

Đảng bộ tỉnh Thái Bình đặt mục tiêu v ề NNL trong nhi ệm kỳ 2006-

2010: Phấn đấu giải quyết việc làm cho 26-27 nghìn lao động/năm; lao động

qua đào tạo đạt 40% trở lên vào năm 2010 [48, tr.42].

Riêng về sản xuất nông nghiệp, Đảng bộ tỉnh Thái Bình ti ếp tục khẳng

định quan điểm: “Thực sự coi trọng đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp nông

thôn” [48, tr.42].

Để sự nghiệp này thành công, Đảng bộ tỉnh Thái Bình đề ra biện pháp

mang tính tổng thể: Đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; Phát triển

nông nghiệp toàn di ện cả trồng trọt chăn nuôi với tốc độ nhanh, ch ất lượng,

hiệu quả; Nâng cao kh ả năng cạnh tranh của sản phẩm trên th ị trường; Hình

thành một số mô hình nông nghi ệp công ngh ệ cao s ản xu ất sản ph ẩm sạch;

Tích cực ứng dụng các ti ến bộ KHCN, nh ất là công ngh ệ sinh h ọc vào s ản

xuất; Mở rộng, nâng cao trình độ cơ giới hóa và từng bước hiện đại hóa nông

nghiệp; Tăng cường công tác khuy ến nông; Khuy ến khích phát tri ển kinh tế

trang trại, các hình thức hợp tác trong nông nghiệp; Chuyển đổi cây trồng, vật

nuôi theo quy ho ạch để hình thành vùng s ản xu ất tập trung, kh ắc phục tình

trạng chuyển đổi manh mún, phân tán, t ự phát; Khuy ến khích tích t ụ ru ộng

đất tạo ra vùng sản xuất chuyên canh, khối lượng hàng hóa lớn [48, tr.43].

Để đào tạo NNL cho nông nghi ệp, Đại hội đề ra bi ện pháp: Khuy ến

khích phát triển nghề, sản xuất công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn; Quan tâm đào

tạo nghề, tạo điều kiện cho lao động nông thôn có vi ệc làm tại chỗ và có kh ả

năng tìm được việc làm; tập trung giải quyết các vấn đề xã hội ở nông thôn và

xây dựng NTM; Mở rộng và phát triển các nghề, làng nghề hiện có, thuận lợi

76

về thị trường, đồng thời phát triển các nghề và làng nghề mới theo hướng: tập

trung đầu tư chiều sâu để nâng cao chất lượng làng nghề [48, tr.43-47].

Trong nhi ệm kỳ này, Đảng bộ Thái Bình h ướng vào th ực hiện 5 tr ọng

tâm KT - XH để tạo bước đột phá trong tăng trưởng kinh tế:

Một là: Khai thác có hi ệu quả các khu, c ụm công nghi ệp hiện có; xây

dựng các cụm, khu công nghi ệp thành ph ố, huyện, xã gắn với các làng ngh ề

và công nghiệp nông thôn…

Hai là : Đẩy nhanh quá trình CNH, H ĐH nông nghi ệp, nông thôn và

chuyển nông nghi ệp sang s ản xu ất hàng hóa… ứng dụng nhanh ti ến bộ

KHCN nhất là công nghệ sinh học vào sản xuất.

Ba là: Đẩy mạnh phát tri ển nghề, làng ngh ề; mở rộng nghề, làng nghề

hiện có, du nhập nghề và phát triển làng nghề mới; đồng thời tăng cường đầu

tư chiều sâu để tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh trên th ị trường. Chú tr ọng

công tác quy hoạch, phát triển làng nghề gắn với bảo vệ môi trường.

Bốn là: Phát tri ển kinh t ế bi ển; quy ho ạch, mở rộng di ện tích, t ăng

cường đầu tư, nâng cao hi ệu qu ả nuôi h ải sản cả trong và ngoài đê bi ển;

chuyển mạnh sang phương thức nuôi thâm canh, bán thâm canh.

Năm là: Tiếp tục hoàn thi ện cơ chế, chính sách để khai thác đến mức

cao nhất nội lực, thu hút mạnh mẽ nguồn lực bên ngoài cho đầu tư phát triển;

tăng cường đầu tư, hỗ trợ nghề cho người lao động [48, tr.52-53].

Có th ể th ấy các gi ải pháp phát tri ển KT - XH c ủa tỉnh đều tập trung

hướng vào nội dung sử dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện

đại để CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề đào tạo nghề,

giải quyết việc làm cho người lao động. Để thực hiện được các mục tiêu đề ra,

GD - ĐT được xác định là phương án hàng đầu. Đảng bộ xác định: đổi mới cơ

chế quản lý, tăng cường xã hội hóa GD - ĐT …, nâng cao ch ất lượng đào tạo

đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH của tỉnh. Tập trung đầu tư mở rộng quy mô và

nâng cao chất lượng đào tạo, dạy nghề để nâng cao tự tạo việc làm cho người lao

động. Quan tâm đào tạo lao động có trình độ tay nghề cao và hỗ trợ học nghề

77

cho người lao động ở nơi lấy đất làm khu, cụm, điểm công nghiệp. Đẩy mạnh

các hoạt động dịch vụ cung ứng và xuất khẩu lao động. Phấn đấu mỗi năm đào tạo

nghề cho 23-24 nghìn lao động, giải quyết 26-27 nghìn chỗ làm vi ệc mới, xuất

khẩu 2500-3000 lao động; đến năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 40% trở

lên, trong đó qua đào tạo nghề 26%, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống dưới

2%, nâng tỷ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn lên trên 90% [48, tr.60].

Tuy nhiên, quá trình th ực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn làm

nảy sinh vấn đề mới về sử dụng lao động nông nghiệp. Lao động nông thôn ở

những xã thuần nông thường ở xa trung tâm, thị trấn, thị tứ, không có điều kiện

đi làm xa quê hương thì vẫn ở trong tình trạng thiếu việc làm và thu nhập thấp,

thành phần này chiếm tỷ lệ khá cao ở nông thôn trong tỉnh. Nông dân ở vùng bị

lấy đất chuyển sang khu công nghiệp thì vấn đề tạo việc làm, tìm kiếm việc mới

có thu nhập là khó kh ăn. Những vùng nông thôn có nhi ều người đi làm xa, do

trình độ và nhận thức kém, nên khi trở về địa phương kéo theo những tệ nạn xã

hội và nguy cơ trở lại nghèo đói.

Tr ước tình hình trên, ngày 15 tháng 5 n ăm 2007, Ban Thường vụ Tỉnh

ủy ra Thông báo về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TU của Ban

Thường vụ Tỉnh ủy (Khóa XVI) Về phát tri ển đào tạo nghề giai đoạn 2004-

2010. Trong toàn b ộ giai đoạn 2001 - 2010 Ngh ị quyết 13 -NQ/TU là Ngh ị

quyết mang tính đột phá v ề đào tạo NNL Thái Bình, trong đó có NNL cho

nông nghiệp.

Hơn 2 năm thực hiện Nghị quyết, các cấp, các ngành và cơ sở dạy nghề

đã có nhiều cố gắng, cùng với sự đầu tư của tỉnh, đã huy động được nguồn lực

đáng kể của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh cho đầu tư phát triển dạy

nghề. Từ đó, Nghị quyết ghi nhận: công tác dạy nghề đã có chuyển biến bước

đầu và đạt kết qu ả nh ất định, góp ph ần phát tri ển KT - XH c ủa tỉnh. Mạng

lưới cơ sở dạy nghề, hình th ức, quy mô và s ố ngh ề đào tạo được mở rộng;

một số cơ sở dạy nghề được đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị

tương đối đồng bộ. Chương trình, ph ương pháp gi ảng dạy có bước đổi mới.

78

Số lượng và ch ất lượng của đội ngũ giáo viên từng bước được nâng lên. Các

cơ sở đã đào tạo ngh ề cho trên 41 nghìn lao động, góp ph ần nâng t ỷ lệ lao

động qua đào tạo lên 32,4% (năm 2006), giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho

người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và nông thôn [131, tr.2-4].

Ngoài nh ững kết qu ả, Ban Th ường vụ Tỉnh ủy cũng đánh giá nh ững

hạn ch ế, yếu kém c ủa công tác d ạy ngh ề: Năng lực và ch ất lượng đào tạo

nghề của các c ơ sở dạy ngh ề ch ưa đáp ứng yêu c ầu của sự nghi ệp CNH,

HĐH, chưa phát huy được lợi thế về lao động của tỉnh. Số lượng lao động qua

đào tạo nghề chủ yếu được đào tạo ngắn hạn và truy ền nghề; số lao động kỹ

thuật, nghiệp vụ có trình độ tay nghề cao còn ít; kỹ năng thực hành của người

lao động qua đào tạo còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng

lao động. Hầu hết các cơ sở dạy nghề có quy mô nh ỏ, cơ sở vật chất, thiết bị

phục vụ dạy và học vừa thiếu, vừa lạc hậu. Cơ cấu nghề đào tạo chưa hợp lý,

chủ yếu là ngh ề may, ti ểu thủ công nghi ệp. Nội dung, ch ương trình, ph ương

pháp dạy nghề còn bất cập, chưa gắn với nhu cầu của người sử dụng lao động

và nhu cầu xã hội…

Để kh ắc ph ục nh ững yếu kém, h ạn ch ế trên, Th ường vụ Tỉnh ủy ch ỉ

đạo: Tiếp tục quán tri ệt sâu sắc và đầy đủ hơn nữa về quan điểm, mục tiêu,

nhiệm vụ và giải pháp phát triển dạy nghề cho cán bộ, đảng viên, các tổ chức

và nhân dân theo đúng tinh th ần Ngh ị quy ết 13-NQ/TU g ắn với vi ệc tri ển

khai thực hiện Luật Dạy nghề và th ực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng,

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII. Các ngành, các địa phương,

cơ sở dạy nghề tiến hành rà soát, đánh giá đúng th ực trạng đào tạo nghề và

việc xây dựng, tổ chức thực hiện chương trình, đề án phát tri ển dạy nghề của

ngành, địa phương và đơn vị mình; bổ sung những giải pháp phù hợp, chỉ đạo

và tổ ch ức thực hiện, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, nâng cao ch ất lượng,

hiệu quả công tác dạy nghề nhằm phát huy được lợi thế lao động của tỉnh, đào

tạo được lực lượng lao động đông đảo với cơ cấu hợp lý, có trình độ tay nghề

ngày càng cao, có phẩm chất đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật, đáp ứng yêu cầu

79

công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa c ủa tỉnh và nhu c ầu lao động trong n ước và

xuất khẩu.

Tỉnh ủy giao cho Sở Lao động, Thương binh và Xã h ội - cơ quan quản

lý nhà nước về dạy nghề của tỉnh chủ trì, phối hợp với các ngành có liên quan

tham mưu rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển dạy nghề của tỉnh;

bố trí, sắp xếp lại các cơ sở dạy nghề; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, hình

thức, quy mô đào tạo của từng loại hình cơ sở dạy nghề theo hướng cơ sở dạy

nghề cấp huyện đào tạo nghề ngắn hạn, trình độ sơ cấp; đối với các tr ường

hiện có thu ộc các ngành đang quản lý, xác định 1- 2 tr ường trọng điểm, đào

tạo nghề có trình độ kỹ thuật cao. Trên cơ sở đó, xây dựng quy hoạch đối với

từng trường, trung tâm dạy nghề trong từng ngành, lĩnh vực, bảo đảm các tiêu

chuẩn theo quy định của Nhà nước; xây dựng quy ho ạch, kế hoạch đào tạo,

bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản

lý dạy nghề, bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt tiêu chuẩn theo

quy định, đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài.

Xây d ựng và thực hiện đề án xã hội hóa hoạt động dạy nghề; có bước đi

phù hợp, chuyển các trường, trung tâm dạy nghề công lập sang hoạt động theo

cơ chế cung ứng dịch vụ hoặc tư thục. Thực hiện phân cấp quản lý đi đôi với

tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra hoạt động, chất lượng dạy nghề theo

quy định của pháp lu ật. Tăng cường và nâng cao n ăng lực, hiệu quả quản lý

nhà nước về dạy nghề; chỉ thành lập trường, trung tâm d ạy nghề có đủ điều

kiện theo quy định và trong quy ho ạch được duyệt; kiên quy ết đình chỉ hoạt

động dạy nghề đối với cơ sở dạy nghề vi phạm pháp luật về dạy nghề.

Ch ủ tr ương về đào tạo NNL c ủa Đảng bộ Thái Bình nhi ệm kỳ này

hướng hẳn đến những vấn đề thực tiễn do quy lu ật CNH, HĐH nông nghi ệp

nông thôn: yêu cầu chất lượng NNL cao; giải quyết việc làm cho đối tượng bị

thu hồi đất thực hiện CNH, HĐH; khắc phục tình trạng nhàn rỗi của đất canh

tác và ng ười nông dân. Bi ện pháp cơ bản Đảng bộ tỉnh xác định đó là ph ải

đào tạo nghề cho người nông dân, coi đây là chìa khóa để nâng cao chất lượng

80

nhân lực trong nông nghi ệp, nông thôn và để giải quyết đồng bộ các vấn đề

KT - XH đặt ra trong giai đoạn mới.

3.2.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện và những kết quả đạt được

* Quá trình tổ chức thực hiện

Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng về nông nghi ệp, nông dân,

nông thôn, đào tạo NNL và Ngh ị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh, trong giai

đoạn từ 2006-2010, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thái Bình đã ban hành các kết luận,

nghị quyết chuyên đề, các đề án cụ thể nhằm thực hiện nâng cao ch ất lượng

NNL ph ục vụ đẩy mạnh công nghi ệp hóa nông nghi ệp, nông thôn c ủa tỉnh.

Đồng th ời, Đảng bộ tỉnh đẩy mạnh ch ỉ đạo các s ở, ban, ngành th ực hi ện

nhiệm vụ. Đào tạo NNL cho nông nghi ệp giai đoạn này được Đảng bộ tỉnh

Thái Bình chỉ đạo thực hiện các nội dung:

Về chính sách h ỗ trợ đào tạo, dạy ngh ề ng ắn hạn cho lao động nông

thôn, ngay t ừ năm 2006, th ực hi ện Quy ết định số 81/2005/Q Đ-TTg ngày

8/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thái Bình giao cho

Sở Lao động - Th ương binh và Xã h ội chủ trì th ực hiện. Sở căn cứ nhu cầu

học nghề của lao động nông thôn, rà soát ngành ngh ề cần đào tạo và năng lực

của các cơ sở dạy nghề, nhu cầu sử dụng lao động trên địa bàn để hướng dẫn các

cơ sở dạy nghề xây dựng kế hoạch và giao chỉ tiêu cho các cơ sở dạy nghề trên

địa bàn tri ển khai th ực hiện. Theo Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg, người lao

động nông thôn trên địa bàn tỉnh chưa qua đào tạo nghề, có nhu cầu học nghề, đủ

điều kiện xét tuyển vào các khóa học nghề ngắn hạn. Trong đó, ưu tiên lao động

bị mất đất sản xuất do nhà nước thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng, lao động

nữ và lao động chưa có việc làm. Kinh phí hỗ trợ học nghề do nhà nước đảm bảo

từ ngân sách nhà nước và các ngu ồn kinh phí huy động khác. Đến khi có Lu ật

Dạy nghề, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã thành lập Phòng Dạy nghề

để thực hiện chức năng quản lý, tham mưu về công tác dạy nghề trên địa bàn.

Đối với công tác khuyến nông, khuyến ngư phục vụ đào tạo nguồn nhân

lực cho nông nghi ệp, thực hiện Nghị định 56/2005/NĐ-CP của Chính phủ về

81

công tác khuyến nông, khuyến ngư, UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn Thái Bình là c ơ quan chủ trì tổ chức thực hiện đã hướng dẫn

các huyện triển khai đến cấp xã, thôn với mục tiêu: nâng cao nhận thức về chủ

trương, chính sách, pháp lu ật, kiến thức, kỹ năng về khoa học, kỹ thuật, quản

lý, kinh doanh cho người sản xuất; công tác khuyến nông phải góp phần nâng

cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của người sản xuất để tăng thu nhập, thoát

đói nghèo, làm giàu thông qua ho ạt động đào tạo ng ười nông dân v ề ki ến

thức, kỹ năng và các hoạt động cung ứng dịch vụ để hỗ trợ nông dân sản xuất,

kinh doanh đạt hi ệu qu ả cao, góp ph ần chuy ển dịch cơ cấu kinh t ế nông

nghiệp theo h ướng phát tri ển sản xu ất hàng hóa, nâng cao n ăng su ất, ch ất

lượng, an toàn v ệ sinh th ực phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và xu ất khẩu;

thúc đẩy ti ến trình CNH, H ĐH nông nghi ệp, nông thôn. Đảm bảo an ninh

lương thực ổn định KT - XH, b ảo vệ môi tr ường. Công tác khuy ến nông tại

địa phương phải đảm bảo nguyên t ắc: xu ất phát t ừ nhu c ầu của người nông

dân và yêu c ầu phát tri ển nông nghi ệp của địa phương; phát huy vai trò ch ủ

động, tích cực và sự tham gia tự nguyện của nông dân; liên k ết chặt chẽ giữa

cơ quan quản lý, cơ sở nghiên cứu khoa học, các doanh nghiệp với nông dân và

giữa nông dân với nông dân. Đối với các huyện, chỉ đạo ở mỗi xã, phường, thị

trấn có sản xuất nông nghiệp phải có ít nhất một nhân viên làm công tác khuyến

nông, khuyến ngư, ở mỗi thôn có cộng tác viên khuyến nông, khuyến ngư.

Sở Nông nghi ệp và Phát tri ển nông thôn tri ển khai nhiều đề tài nghiên

cứu khoa học trên các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi trong đó tập trung nhiều

vào lĩnh vực khảo nghiệm, tuyển chọn các cây rau mầu, cây công nghiệp phục

vụ cho chuy ển đổi cơ cấu cây tr ồng và xây d ựng cánh đồng đạt giá tr ị sản

xuất 50 tri ệu. Các đề tài nghiên c ứu đã tiếp thu k ết qu ả nghiên cứu ở ngoài

tỉnh, nhanh chóng được đánh giá, kết luận và tri ển khai rộng ngoài sản xuất

góp phần nâng cao hiệu quả chuyển đổi.

Sở cũng chủ trì thực hiện Dự án ĐANIDA của Đan Mạch về hỗ trợ tiến

bộ kỹ thuật cho hộ nông dân nghèo. Dự án được triển khai thực hiện trên 15 xã

82

của 8 huyện, với các khóa đào tạo cơ bản, đào tạo nâng cao và đào tạo phương

pháp tập huấn cho người làm công tác quản lý và cán bộ khuyến nông xã.

Trọng tâm công tác chỉ đạo mà Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

phân công các đồng chí lãnh đạo Sở phụ trách đó là: Tập trung vào công tác

xúc tiến thương mại, mở rộng các mô hình s ản xuất gắn với chế biến và tiêu

thụ nông s ản thông qua h ợp đồng. Mu ốn vậy, ph ải tăng cường các l ớp tập

huấn cán b ộ kỹ thu ật cho nông dân, b ồi dưỡng, nâng cao ki ến th ức cho đội

ngũ khuyến nông cơ sở, cho ban ch ăn nuôi thú y xã, ph ường, thị trấn và các

chủ trang trại tạo nguồn lực mới trong nông nghiệp để đẩy nhanh nông nghiệp

sang sản xuất hàng hóa, ch ủ động chuẩn bị cho hội nhập khu vực và thế giới

những năm tới.

Để đào tạo NNL phục vụ cho CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, trong

Báo cáo Kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII về

phát triển nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2006-2010, Sở Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn đề ra các hình thức đào tạo:

- Tổ chức đào tạo lại cho cán bộ kỹ thuật trung tuổi bằng các hình thức

đào tạo ngắn hạn, tập huấn theo chuyên ngành ở các trường đại học, các viện

nghiên cứu, cập nhật các thông tin khoa học.

- Hợp đồng với số sinh viên đã tốt nghiệp đại học từ lo ại khá tr ở lên

đến làm vi ệc ở các đơn vị sự nghi ệp có thu v ới số lượng từ 10-15% để bổ

sung cho cán bộ đến tuổi nghỉ hưu.

- Có cơ chế, chính sách để mỗi xã có ít nhất 1 kỹ sư nông nghiệp làm việc.

- Đổi mới hình th ức đào tạo của tr ường trung c ấp nông nghi ệp, tập

trung vào đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn, kỹ năng quản lý kinh doanh

cho các chủ trang trại, giành phần thích đáng vốn khuyến nông để hướng dẫn,

tập huấn cho nông dân [107, tr.8].

Nh ư vậy, từ năm 2005-2006, với các chính sách v ề phát triển nhân lực

của Đảng, Nhà n ước, đặc bi ệt là chính sách v ề đào tạo ngh ề cho ng ười lao

động nông thôn thôn; cùng với chủ trương của Tỉnh ủy tại Nghị quyết Đại hội

83

Đảng bộ tỉnh lần th ứ XVII, công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao k ỹ năng

cho người lao động được quan tâm triển khai đồng bộ ở tất cả các cấp. Các hình

thức đào tạo, bồi dưỡng được tiến hành với các hình th ức phong phú, đa dạng

gắn với nhu cầu của người nông dân và yêu cầu thực tế của sản xuất trong nông

nghiệp. Các địa phương và cơ sở dạy nghề, trạm khuyến nông, khuyến ngư tổ

chức đào tạo cho nông dân bằng các hình thức từ tập huấn đầu bờ, chuyển giao

kỹ thuật, công nghệ, bồi dưỡng nâng cao đến tổ chức các lớp học nghề ngắn hạn

tại các thôn xã và tổ chức dạy nghề dài hạn tại các cơ sở dạy nghề.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy về đẩy mạnh phối hợp giữa các sở,

ngành trong đào tạo NNL cho nông nghi ệp, Hội Nông dân t ỉnh phối hợp với

Sở lao động - Th ương binh và Xã h ội ký kết chương trình ph ối hợp về việc

đẩy mạnh công tác d ạy ngh ề cho lao động nông thôn giai đoạn 2006-2010.

Chương trình được thực hiện theo từng năm với các lớp dạy nghề mở tại các

xã. Năm 2006 mở 20 lớp dạy nghề cho 1000 hội viên 6 xã Đông Vinh, Đông

Tân, Đông Phong, Tr ọng Quan (huy ện Đông Hưng), Vũ Vinh, Vi ệt Thu ận

(huyện Vũ Thư) với các ngh ề chủ yếu như mây tre đan xuất khẩu, dệt chiếu,

dệt khăn mặt, đệm ghế cói, sợi xuất khẩu [8, tr.5]. Năm 2007 tổ chức 125 lớp

dạy nghề cho 7022 h ộ [9, tr.4]. N ăm 2008, Hội Nông dân huy ện Hưng Hà,

Kiến Xương chủ động phối hợp với trường Trung cấp Nông nghi ệp mở lớp

dạy nghề chăn nuôi thú y cho hội viên và các chủ trang trại [10, tr.4].

Xã Đông Quan, huy ện Đông Hưng th ực hi ện dự án "D ạy ngh ề thêu

xuất khẩu" với mục đích tạo việc làm, dạy nghề thêu, trang bị vật tư và khung

thêu cho các hộ nông dân nghèo phát tri ển nghề thêu xuất khẩu, qua đó thành

lập 1 chi hội nghề nghiệp.

Các c ấp Hội nông dân đã ký kết với Công ty, Nhà máy cung ứng phân

bón theo phương thức trả chậm cho hội viên. Điển hình làm tốt việc này như

các huyện Quỳnh Phụ, Hưng Hà, Thái Thụy.

Hội nông dân tỉnh chỉ đạo các Huyện hội động viên nông dân tham gia

các hình thức bảo hiểm tự nguyện như: Hội nông dân huyện Vũ Thư phối hợp

84

với công ty bảo hiệm PJico vận động nông dân mua bảo hiểm thân thể, Hội nông

dân Quỳnh Phụ, Kiến Xương vận động hội viên tham gia bảo hiểm Viễn Đông.

Ph ục vụ công tác xu ất khẩu lao động, Hội nông dân t ỉnh phối hợp với

Công ty COLECTO Trung ương Hội và Công ty c ổ phần xuất nhập khẩu vật

tư thiết bị đường sắt tổ chức Hội nghị tư vấn, các lớp học tiếng, kỹ năng cho

hội viên và con em c ủa hội viên, để xuất khẩu sang nước bạn làm vi ệc. Điển

hình làm tốt là Hội nông dân các huyện Thái Thụy, Đông Hưng, Kiến Xương.

Sở Khoa học công ngh ệ của tỉnh chủ động phối hợp với Hội nông dân

tỉnh đẩy mạnh các ho ạt động phát tri ển KHCN, xây dựng dự án công ngh ệ ở

các xã V ũ Bình (Ki ến Xương), Đông Minh (Ti ền Hải), Đông Kinh ( Đông

Hưng), Quỳnh Hoa (Qu ỳnh Phụ). Mỗi xã vay 50 tri ệu đồng vốn KHCN; xây

dựng thành công mô hình ứng dụng tiến bộ KHCN trong s ản xuất khoai tây

hàng hóa từ giống được nuôi cấy mô tế bào tại xã Trọng Quan (Đông Hưng).

Năm 2009 tổ chức Hội đã chỉ đạo mỗi chi hội nông dân giúp đỡ 2 hộ nông

dân thoát nghèo, toàn t ỉnh các chi h ội đã giúp 1.166 h ộ thoát nghèo, ổn định

đời sống [11, tr.3-5].

Ngày 2 tháng 3 n ăm 2007, Sở Nông nghiệp và Phát tri ển nông thôn đã

Báo cáo 5 n ăm th ực hi ện Ngh ị quy ết Trung ương 5 khóa IX v ề Đẩy nhanh

công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.

Nh ững thành tựu chủ yếu đạt được sau 5 n ăm là: áp d ụng nhiều thành

tựu khoa h ọc kỹ thuật vào s ản xu ất làm tăng năng suất, ch ất lượng các lo ại

cây trồng. Trong đó thành công mang tính đột phá là đã ứng dụng công nghệ

nuôi cấy mô t ế bào vào s ản xu ất khoai tây và hoa. K ết qu ả đã mở ra tri ển

vọng lớn cho ngành s ản xuất hoa, khoai tây làm hàng hóa ph ục vụ tiêu dùng

trong nước và xuất khẩu.

Chăn nuôi b ước đầu phát tri ển theo h ướng công nghi ệp, từ vi ệc xây

dựng chu ồng tr ại, sử dụng th ức ăn công nghi ệp, xử lý n ước th ải bằng bể

Bioga, vệ sinh chuồng trại bằng các máy móc thiết bị cơ giới hóa. Nhiều cơ sở

chăn nuôi tập trung được hình thành. N ăm 2006 có 507 trang tr ại chăn nuôi,

85

trên 13.000 gia tr ại, trong đó 933 gia tr ại chăn nuôi lợn nái, 341 gia tr ại nuôi

lợn thịt, 2.449 gia trại gia cầm, 613 gia trại chăn nuôi trâu bò [104, tr.2].

Kinh tế hộ phát tri ển vượt trội đã hình thành nhi ều trang tr ại, gia tr ại.

Năm 2006 ước tính toàn t ỉnh có kho ảng 1900-2000 trang tr ại các lo ại, trong

đó có hơn 300 trang tr ại được cấp giấy chứng nhận, tạo điều ki ện thuận lợi

cho các trang tr ại sản xuất kinh doanh và được hưởng các chính sách khuy ến

khích về vốn, đất đai, tài chính tín d ụng [104, tr.2]. Kinh t ế trang tr ại phát

triển góp ph ần tích c ực trong vi ệc khai thác ti ềm năng lao động, vốn, tập

trung đất, hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung, nâng cao thu nhập cho

chủ trang trại và một bộ phận nông dân trực tiếp sản xuất ở các trang trại.

Ngành nông nghiệp tập trung chỉ đạo khuyến khích nông dân s ử dụng

những công cụ cơ khí nh ỏ trong quá trình s ản xuất. Những kết quả trên gắn

liền với thành công c ủa công tác d ạy nghề cho lao động nông thôn, chuy ển

dần họ từ sản xuất nhỏ, thủ công, manh mún lên s ản xuất công nghi ệp, góp

phần giải quyết việc làm cho người nông dân.

Báo cáo đánh giá tác động của CNH, H ĐH đến đời sống nông dân

những năm qua là: điều kiện ăn, ở, đi lại của người dân nông thôn t ừng bước

được cải thiện, cảnh quan nông thôn đổi mới khang trang h ơn trước. Cơ hội

tìm kiếm việc làm ở một số vùng ở một bộ phận nông dân được mở rộng góp

phần tăng cường khả năng sử dụng lao động nông thôn và c ải thiện đời sống

nâng cao thu nhập [104, tr.4].

Để người nông dân có c ơ hội thử sức với sản xuất lớn, đồng thời cũng

là để họ vận dụng những kỹ năng nghề đã được học, UBND tỉnh chỉ đạo các

địa phương xây dựng các vùng ch ăn nuôi tập trung thí điểm, trước mắt chọn

mỗi huyện một điểm xây dựng thí điểm. Trong su ốt quá trình tri ển khai xây

dựng các khu ch ăn nuôi thí điểm, th ường tr ực tỉnh ủy, hội đồng nhân dân,

UBND thường xuyên kiểm tra thực tế và cho ý kiến chỉ đạo để các ngành, các

địa phương tổ chức chỉ đạo thực hiện. Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn

cùng UBND các huyện, thành phố thẩm định và lựa chọn 8 xã xây dựng vùng

86

chăn nuôi t ập trung: xã V ũ Th ắng (Ki ến Xương), An Tràng (Qu ỳnh Ph ụ),

Thụy Ninh (Thái Thụy), Vũ Tiến (Vũ Thư), Nam Thắng (Tiền Hải), Đông Đô

(Hưng Hà), Đông Kinh (Đông Hưng), Phú Xuân (Thành ph ố Thái Bình). S ở

tiến hành biên so ạn tài liệu và tổ chức 2 đợt tập huấn hướng dẫn các hộ chăn

nuôi phương pháp xây dựng dự án, phương án sản xuất, kinh doanh; xây dựng

chuồng tr ại, kỹ thu ật ch ăn nuôi; các bi ện pháp phòng tr ừ dịch bệnh cho gia

súc gia cầm; xử lý môi tr ường trong ch ăn nuôi và k ỹ năng quản lý trang tr ại

chăn nuôi cho các h ộ đăng ký sản xuất kinh doanh ch ăn nuôi tại 7 vùng ch ăn

nuôi tập trung và các h ộ đang chăn nuôi theo mô hình trang tr ại, gia tr ại của

xã cùng một số cán bộ kỹ thuật chăn nuôi thú y, các đồng chí cán bộ xã, thôn

và hợp tác xã nông nghiệp.

UBND các huy ện đã thành lập ban ch ỉ đạo và lập báo cáo đầu tư xây

dựng vùng chăn nuôi thí điểm trình UBND tỉnh phê duyệt và thực hiện. Đồng

thời, tổ chức họp với các xã và các h ộ nông dân để phổ biến chủ trương của

UBND tỉnh, tiêu chí chọn hộ sản xuất kinh doanh và chuyển đổi ruộng đất tại

vùng chăn nuôi thí điểm. Một số huyện như Kiến Xương, Thái Thụy, Vũ Thư

đã bố trí một phần vốn ngân sách địa phương để triển khai dự án.

Tại các xã có vùng chăn nuôi thí điểm cũng đã phân công cán bộ cụ thể

phụ trách, chỉ đạo việc xây dựng và tổ chức chăn nuôi của các hộ tại vùng dự

án, tổ chức xét duyệt danh sách hộ ra sản xuất ở khu ch ăn nuôi, ch ỉ đạo việc

dồn điền đổi thửa.

Từ cu ối năm 2006 đã có 7 huy ện tri ển khai xây d ựng cơ sở hạ tầng

vùng ch ăn nuôi t ập trung. Các h ộ ch ăn nuôi ti ến hành đào đắp san l ấp mặt

bằng, xây dựng chuồng trại và chăn nuôi gia súc gia cầm, thả cá, trồng cây.

Các ngành ch ức năng: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi

trường, Sở Tài chính, S ở Nông nghi ệp và Phát tri ển nông thôn cùng các

huyện đã đi ki ểm tra vi ệc tri ển khai d ự án đối với các vùng ch ăn nuôi t ập

trung thí điểm có báo cáo về kết quả thực hiện và các biện pháp xử lý đối với

từng dự án trình UBND tỉnh và các ngành liên quan.

87

Số hộ đăng ký ra 7 vùng ch ăn nuôi tập trung là 106 hộ (Thụy Ninh: 13

hộ, Vũ Thắng: 10 hộ), Đông Đô: 16 hộ, Đông Kinh: 14 H ộ, Vũ Tiến: 10 hộ,

An Tràng: 11 h ộ. Nhưng khi th ực hiện mới có 83 h ộ đầu tư sản xuất (Thụy

Ninh 12 hộ, Đông Kinh 14 hộ, Nam Thắng 32 hộ, Đông Đô 14 hộ, An Tràng

3 hộ, Vũ Tiến 8 hộ) [103, tr.5]. Các h ộ được xét duy ệt ra khu ch ăn nuôi tập

trung ở các xã hầu hết là các hộ có kinh nghiệm chăn nuôi và có kinh tế khá ở

địa ph ương, đủ kh ả năng đầu tư ch ăn nuôi gia tr ại. Tuy nhiên, để tổ ch ức

trang trại ch ăn nuôi quy mô l ớn, hi ện đại thì h ầu hết các hộ này không đáp

ứng được yêu cầu cả về vốn và trình độ tổ chức kinh doanh. Vi ệc xét duy ệt

chọn hộ chỉ căn cứ vào đơn đăng ký, hộ khẩu và cảm nhận về khả năng kinh

tế và kinh nghiệm của các hộ… Khi xét duyệt không hộ nào có báo cáo đầu tư

cụ thể, không chứng minh được khả năng tài chính khả thi.

Ph ương thức dồn đổi đất đai, giải phóng mặt bằng ở các địa phương rất

đa dạng, không th ống nhất: có nơi các hộ tự đổi cho nhau theo th ời gian, có

nơi thuê đất 5% công ích của UBND xã… Với cách dồn đổi đất đai đã làm thì

đất ở khu chăn nuôi tập trung hầu hết chỉ được giao cho các hộ trong thôn có đất

quy hoạch khu chăn nuôi tập trung, rất ít trường hợp người khác thôn, khác xã

được giao đất ở khu chăn nuôi tập trung mặc dù những người này có nhu cầu và

có khả năng tài chính để tổ chức chăn nuôi quy mô lớn.

Kết quả thu được là: chỉ có 4 hộ chăn nuôi có số lượng đầu con đạt tiêu

chí trang tr ại; nhưng bước đầu nhìn th ấy hình th ức chăn nuôi hi ện đại có lãi

và hiệu quả sản xuất cao hơn cấy lúa. Áp d ụng quy trình ch ăn nuôi ch ặt chẽ

hơn chăn nuôi trong dân cư làm cho dịch bệnh gia súc gia c ầm ít hơn, vấn đề

ô nhiễm môi tr ường ít ph ải lo hơn. Đặc biệt vùng ch ăn nuôi tập trung có s ố

lượng sản phẩm tập trung nên thu hút s ự chú ý của những người bao tiêu sản

phẩm nên dễ dàng tiêu thụ sản phẩm hơn [103, tr.7]. Những kết quả bước đầu

này kh ẳng định mô hình ch ăn nuôi t ập trung là c ần thi ết, không ch ỉ giúp

ngành chăn nuôi phát tri ển nhanh và b ền vững, mà đặc biệt giúp ng ười nông

dân tiếp cận nhanh với nền sản xuất hàng hóa, ứng dụng thành tựu KHCN.

88

Tuy nhiên, ngoài 4 h ộ nói trên thì s ố hộ còn lại chủ yếu nuôi theo mô

hình gia tr ại quy mô nh ỏ, phương thức chăn nuôi th ủ công, chu ồng trại đơn

sơ. Thu nh ập từ chăn nuôi thấp hơn thu nhập từ nuôi trồng thủy sản và trồng

trọt. Xã Vũ Tiến (Vũ Thư) các hộ mới chỉ san, đào mặt bằng, chưa đầu tư xây

chuồng tr ại ch ăn nuôi. Ti ến độ th ực hi ện nhi ều dự án ch ậm hơn so v ới kế

hoạch. Toàn bộ các hộ ra sản xuất tại 7 khu ch ăn nuôi tập trung ch ưa có hộ

nào đạt được mục tiêu của dự án là chăn nuôi lớn, chuồng trại và phương thức

chăn nuôi công nghi ệp và cũng không có h ộ nào có d ự án đầu tư được phê

duyệt tr ước khi ra s ản xu ất kinh doanh. Các h ộ ở vùng ch ăn nuôi tập trung

chưa đáp ứng được mục tiêu đề án đề ra là ch ăn nuôi quy mô trang tr ại, hình

thức chăn nuôi hi ện đại. Cá bi ệt có hộ ra vùng ch ăn nuôi tập trung nh ưng lại

xây dựng nhà ở kiên c ố. Nếu qu ản lý không kiên quy ết sẽ có th ể bi ến khu

chăn nuôi tập trung thành khu kinh tế mới [103, tr.10]. Đây chính là biểu hiện

của tình tr ạng thi ếu tác phong công nghi ệp của nông dân Thái Bình - m ột

trong những vấn đề mà nội dung thực trạng nguồn nhân lực nông nghiệp Thái

Bình đã đặt ra.

Đề án xây dựng vùng chăn nuôi thí điểm thực hiện chưa thành công để

lại cho Đảng bộ tỉnh, UBND tỉnh, các Sở, ban, ngành ch ức năng nhiều kinh

nghiệm cho những dự án tiếp theo, trong đó đặc biệt là về công tác đào tạo, sử

dụng NNL cho nông nghiệp. Ví dụ khi chọn các hộ đầu tư phải đạt tiêu chuẩn

cả về kỹ thu ật sản xuất quy mô l ớn, kinh nghi ệm chăn nuôi công nghi ệp. Ở

đây, các h ộ khi ra s ản xu ất đều không có ph ương án kinh doanh được phê

duyệt, mỗi hộ tự sản xuất theo phương châm lấy ngắn nuôi dài, chăn nuôi gia

trại là chủ yếu, không theo mục tiêu và quy hoạch của dự án.

Từ đó, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn giai đoạn này tiếp tục

được Tỉnh ủy đặc biệt quan tâm, trong đó vấn đề NNL cho nông nghi ệp tiếp

tục được đặt ở vị trí đầu tiên, là yếu tố quyết định trong việc CNH, HĐH nông

nghiệp, nông thôn. Ch ương trình hành động của Ban Th ường vụ Tỉnh ủy

tháng 10 năm 2008 Về thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban ch ấp

89

hành Trung ương Đảng khóa X v ề nông nghi ệp, dân, nông thôn đã đánh giá:

Những năm qua, th ực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nông nghi ệp, nông

dân, nông thôn c ủa tỉnh đã đạt được những thành tựu khá toàn di ện và quan

trọng. Nông nghi ệp phát tri ển toàn di ện cả trồng trọt, chăn nuôi và th ủy sản

theo hướng nâng cao giá tr ị, hiệu quả, từng bước chuyển sang sản xuất hàng

hóa; đã hình thành, phát tri ển một số vùng sản xuất và trang tr ại, gia tr ại đạt

hiệu qu ả kinh t ế cao; ba n ăm 2006-2008, giá tr ị sản xu ất tăng bình quân

4,63%/năm, tăng 0,59% so v ới bình quân 5 n ăm trước; nhiều năm liền năng

suất lúa đạt 110 tạ trở lên/ha, năm cao nh ất đạt trên 130 t ạ/ha, giữ vững sản

lượng thóc trên 1 tri ệu tấn/năm; chăn nuôi phát tri ển mạnh cả về số lượng và

chất lượng, từng bước chuyển từ chăn nuôi phân tán, t ận dụng sang bán công

nghiệp và công nghi ệp; thủy sản phát triển cả nuôi trồng, khai thác, ch ế biến,

duy trì tốc độ tăng trưởng khá. Cơ cấu kinh tế nông thôn chuy ển dịch tăng tỷ

trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, tạo việc làm, tăng thu nhập cho

hàng vạn lao động ở khu vực nông thôn. Chương trình xóa đói, giảm nghèo đạt

kết quả quan trọng; kết cấu hạ tầng KT - XH được tăng cường. Đời sống vật chất

và tinh thần của dân cư nông thôn ngày càng được cải thiện [132, tr.3].

Tuy nhiên, Ban Th ường vụ Tỉnh ủy cũng đánh giá s ản xu ất nông

nghiệp phát triển chưa vững chắc, quy mô còn nhỏ, phân tán, hiệu quả và sức

cạnh tranh th ấp, ch ậm chuyển sang s ản xu ất hàng hóa. Vi ệc chuyển đổi cơ

cấu cây tr ồng, vật nuôi ch ưa đạt yêu cầu, chưa tạo được vùng sản xuất hàng

hóa lớn, tập trung... Nhi ều làng ngh ề sản xuất thiếu ổn định; kết cấu hạ tầng

KT - XH còn th ấp kém; tiếp thu ti ến bộ, khoa học - kỹ thuật, công ngh ệ tiên

tiến vào sản xuất chậm [132, tr.4].

M ột trong nh ững nguyên nhân c ủa tình tr ạng trên là do ph ần lớn lao

động nông thôn chưa qua đào tạo; đời sống của một bộ phận dân cư còn nhiều

khó khăn, không có điều kiện để học hoặc cho con em mình đi học; tỷ lệ giảm

nghèo chưa vững chắc, khoảng cách phân hóa giàu nghèo gi ữa nông thôn và

thành thị ngày càng tăng [132, tr.4].

90

Trên c ơ sở phân tích những kết quả và hạn chế trong nông nghiệp, nông

dân, nông thôn T ỉnh ủy các huy ện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc, các sở,

ban, ngành, đoàn th ể liên quan ph ải xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hi ện

Nghị quyết Trung ương 7 Khóa X v ề "nông nghiệp, nông dân, nông thôn", t ổ

chức triển khai xây dựng các đề án và tổ chức thực hiện, trong đó đặc biệt chú

trọng vi ệc chuy ển đổi cơ cấu cây tr ồng, vật nuôi trong nông nghi ệp; phát

triển ngh ề, làng ngh ề; xây d ựng và b ổ sung quy ho ạch phát tri ển nông

nghiệp, quy ho ạch vùng s ản xuất hàng hóa t ập trung g ắn với quy ho ạch xây

dựng nông thôn m ới. Tri ển khai xây d ựng NTM; đẩy mạnh ứng dụng ti ến

bộ KHCN trong s ản xuất nông nghiệp và đặc biệt là xây d ựng đề án đào tạo

nghề cho lao động nông thôn để đào tạo NNL tr ực ti ếp ph ục vụ sản xu ất

nông nghiệp, xây d ựng nông thôn m ới. Trong đó, các huy ện phải xây d ựng

đề án đào tạo ngh ề cho lao động nông thôn c ủa huy ện trên c ơ sở xác định

nhu cầu học ngh ề, nhu c ầu sử dụng lao động của doanh nghi ệp, cơ sở sản

xuất, kinh doanh trên địa bàn, nhu c ầu lao động để chuy ển đổi cơ cấu cây

trồng, vật nuôi nh ằm phục vụ sản xuất nông nghi ệp hiện đại, sản xuất hàng

hóa và nhu c ầu xây dựng NTM [132, tr.5].

Th ực hiện các Nghị quyết của Tỉnh ủy và căn cứ vào chương trình phát

triển KT - XH, t ừ 2006-2010, các s ở, ban, ngành c ủa tỉnh: Sở Lao động -

Thương binh và Xã h ội, Sở Nông nghi ệp và Phát tri ển nông thôn, S ở Công

thương (T ừ 2007 v ề tr ước là S ở Công nghi ệp và S ở Th ương mại), Sở Kế

hoạch và Đầu tư và các huyện đã triển khai xây dựng chương trình, kế hoạch

nhằm đẩy mạnh công tác dạy nghề, đào tạo phát triển nhân lực cho các ngành

kinh tế của tỉnh, chuyển giao khoa học, kỹ thuật, ứng dụng công nghệ phục vụ

sản xuất. Đào tạo NNL cho nông nghi ệp được đặc biệt coi tr ọng nhằm phục

vụ quá trình CNH, HĐH của tỉnh. NNL được đào tạo, có kiến thức sẽ là nhân

tố quyết định đến việc tăng năng suất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đồng thời,

để tạo điều kiện cho sản xuất, vấn đề gắn kết giữa sản xuất tạo ra sản phẩm

với thị trường cũng được các huyện, các xã hết sức quan tâm.

91

Xã Nguyên Xá, huyện Vũ Thư là một điển hình. Theo bác Tr ần Thị

Tú, nhân dân trong xã th ường xuyên được đi học nh ững lớp tập

huấn chuyển giao kỹ thuật do tỉnh tổ chức. Cán bộ khuyến nông về

dạy cho bà con về kiến thức khoa học, kỹ thuật thường xuyên, và bà

con rất hăng hái tham gia những lớp học này [Phụ lục 26].

Từ năm 2007, khi Lu ật Dạy nghề có hi ệu lực thực hiện, công tác d ạy

nghề chuyển từ đào tạo theo hai hình th ức là dạy nghề ngắn hạn và dạy nghề

dài hạn sang dạy nghề theo 3 c ấp trình độ là cao đẳng nghề, trung cấp nghề,

sơ cấp ngh ề và d ạy ngh ề dưới 03 tháng. Trình độ đào tạo cao đẳng ngh ề,

trung cấp ngh ề có nhi ệm vụ đào tạo lực lượng lao động tr ực ti ếp sản xu ất

trình độ cao, phục vụ nhu cầu của các ngành kinh tế mũi nhọn, có yêu cầu cao

về ki ến th ức và k ỹ năng của tỉnh, được th ực hi ện tại các tr ường cao đẳng

nghề, trung cấp nghề và các tr ường đại học có đăng ký ho ạt động dạy nghề

(giai đoạn này Thái Bình ch ưa có tr ường cao đẳng ngh ề). Trình độ sơ cấp

nghề và d ạy ngh ề dưới 03 tháng nh ằm dạy nh ững ngh ề đơn gi ản, ti ểu th ủ

công nghiệp, dạy nghề theo vị trí làm vi ệc tại các doanh nghi ệp sản xuất và

dạy nghề phục vụ sản xuất nông nghi ệp của người nông dân. Giai đoạn này,

các huyện của Thái Bình đều xây dựng kế hoạch và giao cho các trung tâm

dạy nghề của huyện triển khai thực hiện các chương trình dạy nghề ngắn hạn,

dạy sơ cấp nghề cho người lao động.

Theo ông Đặng Khiêu, nh ững lớp này ở Thái Bình là phù h ợp với

công tác đào tạo NNL cho nông nghi ệp. Vì khác bi ệt lớn nhất giữa

các lớp nghề phục vụ nông nghiệp với nghề công nghiệp, dịch vụ là:

đào tạo ng ắn ngày g ắn với sản xu ất tr ực ti ếp theo chu trình phát

triển của cây tr ồng, vật nuôi; ngành ngh ề đào tạo đa dạng, phong

phú, thay đổi theo yêu cầu ngày càng cao c ủa sản xuất hàng hóa và

nông nghiệp hiện đại [Phụ lục 26].

Với các điều ki ện mới, công tác đào tạo NNL cho nông nghi ệp của

Thái Bình từ đây có bước chuyển bi ến rõ rệt cả về số lượng và ch ất lượng.

Triển khai thực hiện Thông báo của Thường vụ Tỉnh ủy Về tiếp tục thực hiện

92

Nghị quyết 13-NQ/TW của Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển đào tạo, dạy nghề

giai đoạn 2004-2010 , các huy ện ủy và UBND các huy ện đã tổ ch ức tri ển

khai, tuyên truy ền đến cấp xã và ng ười dân về vai trò c ủa việc dạy nghề và

học nghề đối với việc phát triển sản xuất, nâng cao năng suất và thu nhập của

người nông dân; t ổ chức rà soát l ại năng lực của các trung tâm d ạy nghề và

huy động các t ổ ch ức, cá nhân, doanh nghi ệp, làng ngh ề, các tr ạm khuy ến

nông tham gia d ạy ngh ề cho ng ười lao động và v ận động ng ười nông dân

hăng hái tham gia học nghề.

Đến năm 2008 - 2010, th ực hi ện Ngh ị quy ết 26-NQ/TW Về nông

nghiệp, nông dân, nông thôn và chương trình hành động của Tỉnh ủy về triển

khai thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW, việc phát triển kinh tế nông nghiệp của

tỉnh được các huyện triển khai đến tận xã, thôn và mọi cán bộ, đảng viên. Cấp

xã đã thực sự vào cuộc trong việc phát triển KT - XH, xây d ựng NTM, người

nông dân tr ở thành ch ủ thể chính của quá trình này. Các xã ti ến hành rà soát

lại thực trạng KT - XH của xã, rà soát lại ngành nghề và nhân lực để xây dựng

lại quy hoạch sản xuất, quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, kế hoạch đào tạo

nhân lực để thực hiện các quy hoạch.

Trên c ơ sở nh ững kết qu ả đạt được trong công tác đào tạo NNL cho

nông nghiệp, và nh ững hạn chế cần khắc phục, năm 2009, UBND tỉnh thông

qua Đề án dạy nghề cho lao động nông thôn giai đoạn 2010 -2020 . Đề án là

sự tiếp tục thực hiện Nghị quyết 13 Về phát triển đào tạo dạy nghề giai đoạn

2004-2010, và Đề án 05 Về xã hội hóa các ho ạt động dạy nghề của UBND

tỉnh Thái Bình ngày 27-11-2006. Dựa vào thực tế: đến năm 2008, dân số bình

quân toàn t ỉnh là 1.868.000 ng ười, dân s ố khu v ực nông thôn là 1.730.000

người, chi ếm 92%, trong đó, lực lượng lao động ở nông thôn là 1.051.000

người thì lực lượng đã qua đào tạo chỉ có 357.340 ng ười, đạt 34%, còn l ại là

lực lượng chưa qua đào tạo [166, tr.2]. Từ đó, đề án xác định mục tiêu: Nâng

cao quy mô và ch ất lượng đào tạo cho lao động nông thôn đáp ứng chuyển

dịch cơ cấu KT - XH theo h ướng CNH, HĐH; Dạy nghề cho lao động nông

thôn nhằm tạo ra bước đột phá tăng năng suất lao động trong sản xuất nông

93

nghiệp và khu vực nông thôn; Phấn đấu đến năm 2015 có it nhất 60% và năm

2020 là 70% lực lượng lao động nông thôn được đào tạo chuyên môn kỹ thuật

và có việc làm phù hợp [166, tr.2]. Đề án thực hiện thể hiện công tác đào tạo

NNL cho nông nghi ệp luôn được các cấp ủy, chính quyền của tỉnh Thái Bình

quan tâm hàng đầu.

Về đào tạo NNL ph ục vụ xây d ựng NTM: Th ực hi ện Quy ết định số

800/QĐ-TTg của Th ủ tướng Chính ph ủ về Ch ương trình mục tiêu qu ốc gia

xây dựng NTM, tỉnh ủy, huyện ủy đã chỉ đạo các xã thành l ập ban ch ỉ đạo,

tiến hành rà soát, chu ẩn bị các điều ki ện và xây d ựng quy ho ạch xây d ựng

NTM của xã theo 19 tiêu chí (theo Quy ết định số 491/Q Đ-TTg ngày

16/4/2009 của Thủ tướng Chính ph ủ về Bộ tiêu chí qu ốc gia xây d ựng nông

thôn mới). Trong đó, GD- ĐT, dạy nghề nâng cao ch ất lượng lao động nhằm

chuyển dịch cơ cấu kinh t ế, cơ cấu lao động, nâng cao thu nh ập của ng ười

nông dân là nh ững tiêu chí quan tr ọng để xây dựng NTM. Mặc dù, giai đoạn

đầu Trung ương triển khai thí điểm tại 11 xã trong cả nước do Ban Bí thư trực

tiếp chỉ đạo, Thái Bình không có xã được lựa chọn thực hiện thí điểm nhưng

tỉnh ủy đã chỉ đạo lựa chọn 8 xã thu ộc 8 huyện: Nguyên Xá (V ũ Thư), Hồng

Minh (H ưng Hà), Tr ọng Quan ( Đông Hưng), Qu ỳnh Minh (Qu ỳnh Ph ụ),

Thanh Tân (Ki ến Xương), Vũ Phúc (Thành ph ố Thái Bình), An Ninh (Ti ền

Hải), Thụy Trình (Thái Th ụy) để tiến hành thí điểm xây dựng NTM của tỉnh

và chỉ đạo các xã tiến hành rà soát các quy hoạch hiện có để chuẩn bị các điều

kiện cho giai đoạn triển khai ti ếp theo. Tỉnh ủy, các huyện ủy, thành ủy và 8

xã điểm đã thành lập Ban chỉ đạo xây dựng mô hình NTM do đồng chí bí thư

cấp ủy làm trưởng ban.

8 xã điểm đã tập trung chỉ đạo xây dựng quy hoạch xây dựng NTM, tập

trung vào các lo ại quy ho ạch nh ư: Quy ho ạch chung xây d ựng NTM, quy

hoạch chi ti ết giao thông, th ủy lợi nội đồng, quy ho ạch vùng s ản xu ất và

ngành nghề sản xuất và kế hoạch đào tạo phát triển nhân lực phục vụ cho việc

thực hiện các quy hoạch trên. Tại các xã điểm, đã chỉ đạo huy động các nguồn

94

lực, lồng ghép các chương trình để triển khai thực hiện quy hoạch nông thôn mới

tại các xã điểm như việc dồn điển, đổi thửa gắn với chỉnh trang đồng ruộng, cơ

giới hóa sản xuất, quy hoạch vùng tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hóa nâng

cao thu nhập cho người dân, xây dựng công trình hạ tầng KT - XH…

Vi ệc thực hiện thí điểm xây dựng NTM của tỉnh Thái Bình đã mang lại

những kết quả và kinh nghiệm ban đầu quý báu cho việc tiếp tục chỉ đạo triển

khai chương trình trong nh ững năm tiếp theo, nh ững kết quả điển hình nh ư:

Các xã điểm đã hoàn thành vi ệc quy ho ạch vùng sản xuất nông nghi ệp hàng

hóa tập trung, bố trí cây tr ồng vật nuôi có hi ệu quả kinh tế cao, phù h ợp với

điều kiện tự nhiên, lợi thế có sẵn của địa phương; hoàn thành vi ệc dồn điển

đổi thửa; huy động được các nguồn vốn phục vụ xây dựng kết cấu hạ tầng và

phát tri ển sản xu ất. Để hình thành ph ương th ức sản xu ất mới tại các xã thí

điểm, UBND tỉnh đã hỗ trợ mỗi xã một máy gặt liên hợp, 1 máy làm đất đa

năng và 5 công c ụ gieo sạ hàng phục vụ sản xuất từ ngay vụ mùa năm 2009.

Cùng với hỗ trợ phương tiện phục vụ sản xuất, các cơ sở đào tạo trên địa bàn

cũng hỗ trợ việc đào tạo ng ười lao động sử dụng các công c ụ sản xu ất hiện

đại, để khuyến khích ng ười nông dân áp d ụng và trang b ị thêm ph ương tiện,

máy móc hi ện đại phù h ợp với vi ệc sản xu ất hàng hóa. V ới các bi ện pháp

đồng bộ, sản xuất nông nghiệp ở 8 xã điểm có bước phát triển khá toàn di ện,

đời sống vật chất và tinh th ần của nhân dân được nâng lên, bộ mặt thôn xóm,

diện mạo đồng ruộng có bước thay đổi tích cực. So với bộ tiêu chí qu ốc gia

xây dựng NTM, các xã thí điểm hầu hết đạt từ 9 đến 12 tiêu chí so v ới trước

khi thực hiện đề án NTM. Trên cơ sở đánh giá việc thực hiện tại các xã điểm,

đồng th ời căn cứ vào các quy ết định của Trung ương nh ư Quy ết định số

800/QĐ-TTg Phê duy ệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai

đoạn 2010-2020; Quyết định số 491/QĐ-TTg về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc

gia về xây dựng nông thôn mới, Tỉnh ủy Thái Bình đã có nhiều nghị quyết và

quyết định sát v ới th ực ti ễn để đẩy mạnh phong trào xây d ựng NTM trong

những năm tiếp theo.

95

Có th ể nhận thấy sự thay đổi lớn nhất trong cách nghĩ, cách làm của các

địa phương khi tham gia xây dựng NTM là: Các địa phương đã chủ động xây

dựng quy hoạch, đẩy mạnh cơ giới hóa và tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa

học, kỹ thuật vào sản xuất, tích cực mở rộng diện tích cây vụ đông, tăng hệ số

sử dụng đất, mở rộng ch ăn nuôi theo h ướng gia tr ại, trang tr ại… huy động

tổng hợp các ngu ồn lực để đầu tư xây dựng NTM. Sự chuyển bi ến lớn nhất

trong nông thôn chính là ý th ức, trách nhiệm của người dân đối với sự nghiệp

xây dựng NTM đã được nâng cao, do đó, nhân dân đã đồng tình ủng hộ, góp

công, góp sức để thực hiện các tiêu chí NTM. Các việc mà trước đây còn thực

hiện khó như dồn điền đổi thửa, chỉnh trang ruộng đồng, quy hoạch vùng sản

xuất hàng hóa t ập trung đã thực hiện thành công trong th ời gian ng ắn. Đồng

thời, nhân dân cũng ý thức được rằng, để xây dựng thành công NTM thì trước

hết họ phải là ng ười nông dân hi ện đại, được đào tạo bài bản để có th ể ứng

dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, tiết kiệm được thời gian,

chi phí, nâng cao năng suất, thu nhập của chính bản thân mình nên phong trào

tham gia học nghề của người dân th ời gian này được đẩy mạnh, các xã điểm

đều tổ chức từ 3 đến 5 lớp dạy nghề cho ng ười lao động nông thôn v ới các

nghề ph ổ bi ến, phù h ợp với th ực tế sản xu ất. Cấp ủy đảng và chính quy ền

cũng nhận thức rõ, việc đào tạo, nâng cao ch ất NNL, nâng tỷ lệ lao động qua

đào tạo trên địa bàn xã là m ột tiêu chí quan tr ọng trong xây dựng NTM và là

nhân tố quan trọng để thực hiện thành công các tiêu chí khác.

Theo bác Trần Thị Tú, tại xã Nguyên Xá, huyện Vũ Thư, người dân

rất tích cực tham dự các lớp học do cán b ộ khuyến nông tỉnh giảng

dạy, nói chuy ện, vì h ọc xong, họ áp dụng vào ngay công vi ệc làm

ruộng của mình và mang l ại hiệu quả cao. Đời sống nhân dân ngày

một nâng cao, thôn xóm sách sẽ không một cọng rơm, hầu hết người

dân đac chuyển qua đun bếp bằng ga [Phụ lục 26]

Tuy nhiên, sau th ời gian th ực hiện thí điểm xây dựng NTM, bên c ạnh

những thành công b ước đầu, thì vẫn còn nh ững hạn chế đòi hỏi phải tiếp tục

96

đào tạo NNL cho nông nghiệp: Việc hỗ trợ kinh phí học nghề chủ yếu từ ngân

sách trung ương, việc nhân dân đóng góp để tham gia h ọc nghề còn rất hạn

chế; Trình độ quản lý, trình độ chuyên môn của cán bộ cấp xã còn rất hạn chế

đặt ra nhu cầu cần phải đào tạo, bồi dưỡng cho chính đội ngũ này; Vấn đề nổi

bật nh ất trong quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình ch ỉ đạo xây d ựng NTM

những năm này chính là d ạy nghề cho nông dân ph ục vụ xây dựng thí điểm

NTM. Xây dựng NTM sẽ không thành công n ếu người nông dân không được

đào tạo nghề và có ngh ề ổn định. Cuộc sống của lao động nông thôn còn khó

khăn, mô hình NTM sẽ mang nặng tính hình thức và phát triển thiếu bền vững.

Qua phỏng vấn, cho thấy có sự khác nhau về mức độ quan tâm, đầu

tư của Đảng, chính quy ền với công tác d ạy ngh ề cho t ừng địa

phương. Ví dụ ở xã Nguyên Xá nhân được sự quan tâm sát sao là do

xã điểm của huyện. Còn theo chị Trương Thị Hằng ở phường Hoàng

Diệu (trước kia là xã Hoàng Di ệu), thành phố Thái Bình thì m ặc dù

rất muốn tham gia các khóa h ọc bổ trợ kiến thức khoa học kỹ thuật,

nhưng chưa có. Trong khi đó, vì nhà ch ăn nuôi lợn theo hình th ức

chuồng trại nên chị rất mong được tham gia học những lớp như vậy

[Phụ lục 26].

Đây là nh ững vấn đề mà Tỉnh ủy trong quá trình ch ỉ đạo thực hiện rút

ra để kịp thời ban hành những Nghị quyết, quyết định và xây dựng đề án triển

khai trong toàn tỉnh trong những năm tiếp theo.

Về phong trào liên k ết “4 nhà”: Đây là mô hình n ếu th ực hiện tốt sẽ

góp phần đào tạo, sử dụng NNL cho nông nghiệp hiệu quả cao. Từ năm 2008,

phong trào "liên k ết 4 nhà" được Đảng bộ tỉnh đẩy mạnh chỉ đạo thực hiện.

Phong trào bắt đầu từ năm 2002 nhưng đến năm 2008 mới thực sự phát triển,

nhiều hình thức liên kết được thực hiện.

Với phương châm "Doanh nghi ệp, nông dân cùng có l ợi" mô hình liên

kết 4 nhà gữa Công ty cổ phần giống cây trồng Thái Bình (TSC) với nông dân

được coi là mô hình điển hình, hi ệu qu ả nh ất cho nông nghi ệp Thái Bình.

97

Công ty ký h ợp đồng với hợp tác xã Bình Định (Kiến Xương) theo ph ương

thức liên kết: công ty chịu trách nhiệm cung ứng trước giống lúa, tập huấn kỹ

thuật gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch cho nông dân;

sau đó bà con nông dân th ực hiện. Phương thức thanh toán là 1kg thóc gi ống

được quy đổi bằng 1,3 kg thóc th ịt, đặc biệt là giá thu mua gi ống của công ty

cao hơn so với giá thị trường nên hiệu quả kinh tế cao hơn. Còn hợp tác xã đã

tiến hành thành l ập tổ tự nguyện hợp tác sản xuất, tiêu th ụ sản phẩm và xây

dựng quy ước hoạt động theo nguyên tắc bình đẳng, dân chủ cùng có lợi, sản

xuất cùng mặt hàng, tự trang trải các chi phí ho ạt động bằng nguồn tiền chiết

khấu dịch vụ của TSC theo quy định. Về phía các h ộ dân ph ải viết cam kết

thực hi ện đúng theo s ự ch ỉ đạo của hợp tác xã v ề khung lịch gieo cấy, quy

hoạch vùng sản xuất, quy trình kỹ thuật chăm sóc, phòng tr ừ sâu bệnh, xử lý

tạp chất trước và sau khi thu ho ạch… Kết quả bước đầu thu được là: với diện

tích giống lúa tốt, đẹp như hiện nay, ước tính bình quân n ăng suất đạt trên 60

tạ/ha ở vụ mùa, giá thu mua d ự kiến 9.300đ/kg thì trung bình m ỗi ha cho thu

nhập 200 triệu đồng, tăng gấp 30 - 40% so với gieo cấy các giống lúa khác và

làm thóc th ịt [10, tr.3]. Nh ững kết quả trên làm bà con nông dân ph ấn khởi,

yên tâm thực hiện mô hình liên kết.

Mô hình này được nhân r ộng vì tính hi ệu qu ả cao. T ại huy ện Đông

Hưng, Công ty l ương th ực Thái Đan ký h ợp đồng với hợp tác xã Đông

Phương gieo cấy giống lúa mới ng ắn ngày của Nhật. Đây là huy ện từ trước

đến nay v ẫn gieo tr ồng theo ph ương th ức truyền th ống, năng suất, hi ệu qu ả

chưa cao. Hợp tác xã ch ịu trách nhiệm huy động máy móc hi ện đại như công

cụ gieo sạ, máy gặt đập liên hợp, máy cày to, máy cày nh ỏ. Đồng thời, hợp

tác xã đứng ra tổ chức cho các hộ gia đình đăng ký lấy giống, cung ứng phân

bón, thu ốc tr ừ sâu theo ph ương th ức tr ả ch ậm, tư vấn về cách ch ăm sóc,

phòng trừ sâu bệnh, tổ chức các lớp tập huấn, thu hút hàng tr ăm hộ học tập.

Bên cạnh đó, hợp tác xã linh ho ạt hợp đồng với các chủ máy gặt đập liên hợp

thu ho ạch lúa giúp bà con gi ảm được 30.000 đồng/sào. Công ty l ương th ực

98

Thái Đan thu mua thóc tươi ngay tại ruộng. Cứ máy gặt đi đến đâu, đóng bao

và cân tới đó, trả tiền mặt ngay cho bà con [10, tr.4].

Mô hình liên k ết sản xu ất lúa gi ống TBR45 v ới Công ty c ổ ph ần

Giống cây tr ồng Thái Bình, h ợp tác xã còn t ổ chức “hội nghị đầu bờ” ở 7/7

thôn để các hộ nắm bắt được kỹ thuật gieo cấy, phương pháp phòng tr ừ sâu

bệnh. Nh ững cách làm này khi ến ng ười nông dân h ăng hái th ực hi ện kế

hoạch đã đăng ký v ới hợp tác xã. Sau m ột năm, xã đã có gạo xuất khẩu [11,

tr.2]. Kết qu ả thu được càng kh ẳng định mô hình liên k ết 4 nhà là th ực sự

có hiệu quả và cần thiết.

Những kết quả trong quá trình ch ỉ đạo thực hiện chủ trương của Đảng

về phát triển kinh tế nông nghiệp, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và đào

tạo NNL cho nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã có tác động lớn đến

sự phát tri ển KT - XH c ủa tỉnh. Vấn đề đào tạo NNL được quan tâm ch ỉ đạo

đã có những bước phát triển mới cả về số lượng và chất lượng, từng bước đáp

ứng yêu cầu của thực tiễn và nhu cầu của người lao động nông thôn.

* Những kết quả đạt được

Quá trình th ực hi ện ch ủ tr ương đào tạo NNL cho nông nghi ệp của

Đảng bộ tỉnh Thái Bình giai đoạn này nh ằm khắc phục những hạn ch ế, yếu

kém của giai đoạn tr ước, đồng th ời phát huy nh ững thành t ựu đã đạt được,

tích cực đẩy mạnh nâng cao ch ất lượng NNL cho nông nghi ệp đáp ứng yêu

cầu mới của phát tri ển KT - XH nh ằm giải quyết đồng bộ các vần đề nông

nghiệp, nông dân, nông thôn.

Những kết quả về đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghi ệp: Cùng với

sự phát tri ển của kinh t ế, tác động của các ch ủ tr ương, gi ải pháp phát tri ển

NNL nói chung và NNL cho nông nghiệp của tỉnh Thái Bình giai đoạn 2006 -

2010 đạt được những kết quả đáng ghi nhận.

Cơ sở vật chất, thiết bị của một số trường trung học chuyên nghi ệp và

dạy nghề được xây dựng mới và nâng c ấp... Xã hội hóa GD - ĐT có chuy ển

biến tích cực. Các cấp, các ngành và nhân dân đã thường xuyên chăm lo, quan

99

tâm đầu tư cho phát tri ển GD - ĐT; đẩy mạnh công tác khuy ến học, khuyến

tài [49, tr.17].

Vi ệc đào tạo nghề cho ng ười lao động được mở rộng với sự tham gia

của nhi ều tổ ch ức; đa dạng hóa lo ại hình, ngành ngh ề và trình độ đào tạo.

Năm 2008 là n ăm cuối cùng th ực hiện dự án IPM. S ở Nông nghi ệp và Phát

triển nông thôn t ổ ch ức được 310 l ớp tập hu ấn kỹ thu ật về các bi ện pháp

phòng trừ dịch hại, đưa tổng số lên 3821 lớp học với 112000 học viên sau 15

năm thực hiện dự án, trong đó có 30 giáo viên chuyên trách c ủa Chi cục bảo

vệ thực vật và 1025 giáo viên được đào tạo từ nông dân [106, tr.8]. Các l ớp

dạy nghề cho lao động nông thôn theo Quy ết định số 81/2005/QĐ-TTg được

thực hiện rộng khắp trên địa bàn tỉnh với vai trò ch ủ đạo của các trung tâm

dạy nghề cấp huyện. Hàng năm số lao động nông thôn được đào tạo các nghề

ngắn hạn phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp ngày một tăng.

Ch ương trình gi ải quy ết vi ệc làm đã tạo ra nhi ều vi ệc làm m ới cho

người lao động. Hằng năm, đào tạo ngh ề và gi ải quy ết vi ệc làm m ới cho

khoảng 29 nghìn lao động. Nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực

nông thôn tăng 1,14%. Năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 42%, tăng

12%; trong đó qua đào tạo nghề 29%, tăng 10% so với năm 2005 [164, tr.7].

Riêng trong lĩnh vực dạy nghề, lĩnh vực trực tiếp đào tạo đội ngũ người

lao động tham gia sản xuất trực tiếp đã được quan tâm, đầu tư phát triển, góp

phần đáp ứng nhu cầu đào tạo của người lao động và nhu c ầu nhân lực của

tỉnh, đặc biệt với chương trình đào tạo nghề ngắn hạn đã góp phần đào tạo lực

lượng lao động lớn cho nông nghiệp, nông thôn. Có thể đánh giá khái quát về

kết quả công tác dạy nghề của tỉnh những năm qua như sau:

- V ề mạng lưới cơ sở dạy nghề: Tính đến hết năm 2010, trên địa bàn

tỉnh Thái Bình có 46 c ơ sở dạy nghề, trong đó: 01 cơ sở liên kết đào tạo của

trường Cao đẳng nghề; 08 trường Trung cấp nghề; 18 Trung tâm dạy nghề và

19 cơ sở khác tham gia d ạy nghề. Như vậy, trong 6 n ăm (từ 2004 đến 2010)

đã có thêm 19 cơ sở dạy nghề, trong đó: 01 cơ sở liên kết đào tạo của trường

100

Cao đẳng nghề, 04 tr ường trung cấp nghề, 14 trung tâm d ạy nghề. Ngoài ra,

còn có các Trung tâm khuyến công, khuyến nông, Chi hội làng nghề, Hợp tác

xã và các Trung tâm h ọc tập cộng đồng và doanh nghi ệp. Về loại hình có 06

trường công lập và 03 trường ngoài công lập; 12 trung tâm dạy nghề công lập

và 06 trung tâm dạy nghề ngoài công lập; 10 cơ sở thuộc các cơ quan, đơn vị

công lập và 09 c ơ sở dạy nghề thuộc các doanh nghi ệp, cơ sở sản xuất kinh

doanh. Trong mạng lưới cơ sở dạy ngh ề trên địa bàn t ỉnh, số tr ường, trung

tâm, đơn vị ngoài công l ập cũng chi ếm tỷ lệ khá cao (39.13%) [168, tr.11].

Đây là một trong nh ững thuận lợi trong vi ệc xã hội hóa trong phát tri ển dạy

nghề. Đa số các cơ sở dạy nghề được đầu tư đảm bảo các điều kiện cơ bản để tổ

chức dạy nghề cho người lao động. Đội ngũ giáo viên các trường dạy nghề cũng

được tăng cường cả về số lượng và nâng cao về chất lượng.

- Về kết quả của công tác dạy nghề: Giai đoạn 2004 - 2010, s ố lao động

được tuyển sinh đào tạo nghề ở các cấp trình độ là 168.900 ng ười, trong đó:

Trình độ Cao đẳng nghề là 3.400 ng ười; Trung cấp nghề và dạy nghề dài hạn

là 21.000 ng ười; Dạy nghề ngắn hạn, Sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng

là 144.500 ng ười, trong đó: từ năm 2004 - 2006 d ạy ngh ề dài h ạn là 6.410

người, dạy nghề ngắn hạn là 54.460 người; từ 2007 - 2010 th ực hiện Luật Dạy

nghề: Cao đẳng nghề 3.400 người, Trung cấp nghề 14.590, Sơ cấp nghề và dạy

nghề dưới 3 tháng 90.040 người. Tỷ lệ tốt nghiệp bình quân/năm đạt trên 90%.

Số lao động được tuyển sinh đào tạo nghề hằng năm tăng góp phần nâng tỷ lệ

lao động qua đào tạo của tỉnh từ 28% năm 2004 (trong đó qua đào tạo nghề

16%) lên 45,6% năm 2011 (trong đó qua đào tạo nghề 31,5%) [168, tr.15].

- Chất lượng lao động đã qua đào tạo nghề đạt khá tốt, tỷ lệ lao động có

việc làm sau đào tạo đạt khá cao (kho ảng 75%) [167, tr.15]. Để tiết kiệm chi

phí và tạo điều kiện cho học viên làm quen v ới thực tiễn, các tr ường đã liên

kết với các nhà máy, các c ơ sở sản xuất trong và ngoài tỉnh để thuận tiện cho

học viên trong quá trình th ực hành. Cũng qua th ời gian th ực hành, các c ơ sở

sản xu ất bi ết kh ả năng trình độ của học viên và s ẵn sàng ti ếp nh ận các em

101

ngay sau khi t ốt nghi ệp ra tr ường. Vi ệc gắn kết gi ữa nhà tr ường và doanh

nghiệp trong công tác đào tạo nghề giai đoạn này đã được tăng cường. Thông

qua việc liên kết các trường đánh giá được mức độ đáp ứng của mình với nhu

cầu của doanh nghi ệp và xã h ội để từ đó điều chỉnh nội dung, ch ương trình

cho phù hợp. Việc đào tạo đã dần chuyển từ đào tạo theo năng lực sẵn có của

các trường sang đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp của người học và xã hội.

Do đó, chất lượng công tác đào tạo từng bước được tăng cường, người dân cũng

từng bước thay đổi nhận thức về việc học nghề và tạo việc làm cho bản thân.

- Về ngành nghề đào tạo, lao động được tuyển sinh đào tạo thuộc nhóm

ngành, nghề nông nghiệp: 57.340 người (chiếm 33,9% tổng số lao động được

đào tạo). Trong đó: Cao đẳng ngh ề: 240 ng ười (chi ếm 0,42%); Trung c ấp

nghề và dạy nghề dài hạn: 3.760 người (chiếm 6,56%); Sơ cấp nghề và dạy nghề

dưới 3 tháng: 53.340 ng ười (chi ếm 93,02%) [168, tr.15-16]. Có th ể th ấy các

nghề nông nghiệp được người lao động lựa chọn chủ yếu là các nghề trình độ sơ

cấp và dưới 03 tháng nhằm phục vụ trực tiếp ngay trong quá trình sản xuất của

người nông dân. Các ngh ề này có thời gian đào tạo ngắn, chủ yếu là thực hành

nên thu hút được người lao động. Mặt khác, do ti ết kiệm thời gian, lượng kiến

thức phù hợp với nhu cầu và thực tiễn sản xuất và các nghề đào tạo chủ yếu được

hỗ trợ chi phí đào tạo nên người lao động nông thôn cũng tích cực tham gia.

Một số nghề chủ yếu được người lao động lựa chọn và đăng ký học nghề

như: chăn nuôi gia súc, gia c ầm; thú y; bảo vệ thực vật; nuôi tr ồng thủy sản;

trồng cây lương thực, thực phẩm. Sau khi triển khai Luật Dạy nghề, các cơ sở

dạy ngh ề đã và đang th ực hi ện tốt vai trò đào tạo phát tri ển NNL của tỉnh.

Trên thực tế nhu cầu của thị trường lao động về lao động có trình độ chuyên

môn kỹ thuật được các cơ sở dạy nghề đáp ứng được phần lớn.

Về xã hội hóa công tác đào tạo NNL: Trong giai đoạn này, công tác xã

hội hóa hoạt động dạy nghề của Thái Bình đã đạt được nhiều thành tựu quan

trọng, góp phần thúc đẩy phát triển dạy nghề, đào tạo nhân lực cho sự nghiệp

CNH, HĐH của tỉnh nói riêng và đất nước nói chung. Quy mô d ạy ngh ề ở

102

Thái Bình ngày càng được mở rộng, nhi ều tr ường mới được cấp gi ấy phép

thành lập. Năm 2004, Thái Bình m ới ch ỉ có 27 c ơ sở, nh ưng đến cu ối năm

2010, trên địa bàn tỉnh Thái Bình có 46 c ơ sở, trong đó có 03 tr ường ngoài

công lập; 06 trung tâm d ạy nghề ngoài công lập; 10 cơ sở thuộc các cơ quan,

đơn vị công lập và 09 cơ sở dạy nghề thuộc các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất

kinh doanh. Bên cạnh các cơ sở công lập, tỷ lệ các cơ sở ngoài công lập cũng

như các cơ sở dạy nghề thuộc các doanh nghi ệp, cơ sở sản xuất kinh doanh

cũng chiếm tỷ lệ lớn (39.13%) [168, tr.17]. Điều này cho thấy công tác xã hội

hóa hoạt động dạy nghề của tỉnh Thái Bình đã có những thành tựu đáng kể.

Hằng năm, nhờ làm tốt công tác xã h ội hóa ho ạt động dạy nghề nên các

cơ sở dạy nghề trong tỉnh đã huy động được nhiều tỷ đồng từ sự đóng góp của

nhân dân, doanh nghi ệp cũng như các tổ chức trong và ngoài n ước vào vi ệc

xây dựng và tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng dạy nghề. Xây

dựng được các qu ỹ khen th ưởng cho cán b ộ, giáo viên, h ọc sinh có nhi ều

thành tích xuất sắc.

Phong trào xã h ội hóa ho ạt động dạy nghề ở Thái Bình không ch ỉ dừng

lại ở chỗ huy động sự đóng góp về tài chính của nhân dân mà còn đẩy mạnh

được công tác tuyên truy ền trong nhân dân, doanh nghi ệp và các t ổ ch ức

trong và ngoài tỉnh. Nhờ đó, phong trào đã huy động được các tầng lớp nhân

dân, các tổ chức kinh tế, chính tr ị - xã h ội chung sức phát tri ển công tác đào

tạo nghề của tỉnh Thái Bình.

Bên cạnh quy mô giáo d ục, dạy ngh ề được mở rộng, vi ệc đào tạo, bồi

dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý các cấp trong nông nghiệp cũng được coi trọng.

Các trung tâm, trạm khuyến nông, khuyến công được tăng cường đội ngũ cán

bộ kỹ thuật. Đội ngũ cán bộ quản lý được tăng cường từ cấp tỉnh đến xã. Sở

Nông nghiệp và Phát tri ển nông thôn ki ện toàn tổ chức bộ máy khi được sát

nhập, đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Năm 2007,

Sở cử 2 cán bộ đi học lớp Lý luận chính trị cao cấp, có 8 thạc sỹ kinh tế nông

nghiệp [105, tr.3]. N ăm 2008, 2 cán b ộ bảo vệ thành công lu ận án ti ến sỹ, 7

103

cán bộ được cử đi học thạc sỹ, 5 cán b ộ học cao cấp lý lu ận chính tr ị [106,

tr.3]. Trung tâm khuyến nông tỉnh được hình thành và bổ sung đội ngũ cán bộ

kỹ thuật, chi cục Hợp tác và Phát tri ển nông thôn được hình thành để giúp tỉnh

trong công tác phát triển nông thôn. Đội ngũ cán bộ làm công tác nông nghiệp và

cán bộ làm công tác lao động xã hội (trong đó kiêm chức năng theo dõi, quản lý

về dạy nghề) được bổ sung và đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hóa. Bên cạnh đó, các

Ban chỉ đạo cũng được hình thành từ cấp tỉnh đến cấp xã đã góp phần chỉ đạo và

tổ chức thực hiện có hi ệu quả công tác đào tạo NNL ph ục vụ cho phát tri ển

nông nghiệp của tỉnh.

Bảng 3.1: Số lao động khu vực nông thôn chia theo trình độ chuyên

môn của Thái Bình và các tỉnh đồng bằng sông Hồng năm 2010

Cơ cấu lao động chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật (%)

Tỉnh

Trung cấp

Đại học trở lên

Tổng số (người)

Sơ cấp, CNKT

Cao đẳng (bao gồm cả cao đẳng nghề)

31 995 954 1 923 608 778 262 412 995 409 509 285 866 685 105 541 839 508 940 351 912 758 943 361 391

1,93 3,94 3,09 2,58 3,12 3,06 2,89 3,09 2,90 2,97 2,49 2,85

4,25 8,03 5,32 5,98 6,09 7,68 5,35 7,99 5,52 5,60 4,5 7,08

2,17 5,68 1,59 2,06 3,02 2,08 1,89 3,16 2,00 1,55 1,66 2,20

Chưa qua đào tạo và lao động không có bằng cấp/ chứng chỉ 88,84 77,69 84,96 84,30 83,50 82,77 84,45 80,43 84,64 85,28 86,93 83,94

ĐBSH Hà Nội Thái Bình Vĩnh Phúc Bắc Ninh Quảng Ninh Hải Dương Hải Phòng Hưng Yên Hà Nam Nam Định Ninh Bình Ngu

2,81 4,66 5,04 5,08 4,27 4,41 5,42 5,33 4,94 4,60 4,42 3,93 ồn: Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghi ệp và thủy sản năm

2010 [134, tr. 23].

Qua b ảng số liệu cho th ấy, so với các tỉnh trong khu v ực ĐBSH, tỉnh

Thái Bình có s ố lượng lao động khu vực nông thôn cao, ch ỉ sau Hà N ội (do

sáp nhập với tỉnh Hà Tây cũ). Qua so sánh số liệu có thể thấy nếu chia theo tỷ

lệ thì lao động qua đào tạo có bằng cấp chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp trở lên

104

của tỉnh Thái Bình t ương đương với các tỉnh của khu vực ĐBSH (giao động

trong khoảng 13-15%). Tuy nhiên, nếu so sánh theo số liệu tuyệt đối trên tổng

số lao động khu vực nông thôn thì s ố lao động nông thôn của tỉnh Thái Bình

được đào tạo cao hơn nhiều so với các tỉnh khác trong khu vực, cụ thể: số lao

động khu vực nông thôn qua đào tạo, có ch ứng ch ỉ bằng cấp của Thái Bình

117.051/778.262 người, ch ỉ th ấp hơn Thành ph ố Hà N ội 429.157/1.923.608

người, cao hơn tỉnh Nam Định (99.194/758.943 người), tỉnh có dân số khu vực

nông thôn tương đương với Thái Bình. Đặt trong điều kiện một tỉnh thuần nông,

độc canh cây lúa, có nhi ều đặc điểm và điều kiện khó kh ăn hơn các tỉnh khác

trong khu vực và gặp rất nhiều khó khăn trong bất ổn về chính trị xã hội những

năm 1997-1998 và đầu những năm 2000, vừa phải ổn định chính trị, trật tự xã

hội, ổn định đời sống nhân dân vừa phải đề ra các giải pháp nhằm phát triển kinh

tế, nâng cao thu nhập và đời sống nhân dân thì những kết quả trong đào tạo nhân

lực cho nông nghiệp của tỉnh Thái Bình trong giai đoạn này là hết sức to lớn, có

ý nghĩa không chỉ về mặt KT - XH mà còn mang tính nhân văn sâu sắc. Những

kết quả đó góp phần đưa tỉnh Thái Bình dần vươn lên phát triển ngang bằng các

tỉnh trong khu vực vốn phát triển năng động và mạnh mẽ trong những năm đầu

thế kỷ XX trong hầu như tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Tác động của việc phát triển nguồn nhân lực đối với kinh tế xã hội khu

vực nông nghi ệp, nông thôn t ỉnh Thái Bình: Cùng với các ch ủ trương, chính

sách đồng bộ của Tỉnh ủy trên các l ĩnh vực, sự vào cu ộc của các c ấp, các

ngành, nhận thức và sự cố gắng, nỗ lực của nhân dân, và nh ững tác động từ

kết quả công tác phát triển NNL của tỉnh, đến năm 2010, KT - XH Thái Bình

đã có những thay đổi rõ nét trên tất cả các lĩnh vực.

Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 n ăm 2006-2010 đạt 12,02%; đến

năm 2010, GDP bình quân đầu người đạt 16,1 triệu đồng, gấp 5 lần so với năm

2000. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động có bước chuyển biến theo hướng tích

cực. Tỷ trọng công nghiệp, xây dựng từ 24% (n ăm 2005) lên 33% n ăm 2010;

giảm tỷ trọng nông nghiệp từ 41,8% xuống 33,5%. Tăng tỷ trọng lao động công

105

nghiệp, xây dựng từ 20,1% năm 2005 lên 22% năm 2010, dịch vụ từ 13,3% lên

15,7%; giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp từ 66,6% xuống còn 62,3% [167, tr.1].

Giá tr ị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng bình quân 5,1%/năm. Diện

tích gi ống lúa ng ắn ngày, lúa ch ất lượng cao t ăng nhanh; năng su ất lúa đạt

130tạ/ha/năm, sản lượng thóc trên 1 triệu tấn/năm... chăn nuôi trang trại, gia trại

theo phương thức công nghi ệp, bán công nghi ệp phát triển khá, đã hình thành

một số trang tr ại quy mô lớn, liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm giữa hộ với

doanh nghiệp. Giá trị sản xuất chăn nuôi tăng 9,6%/năm, đến năm 2010 chiếm

36,4 giá trị sản xuất nông nghiệp. Nuôi trồng thủy, hải sản được mở rộng; một số

vùng được đầu tư nuôi theo phương thức bán thâm canh. Năng lực và sản lượng

khai thác th ủy sản tăng nhanh. Giá tr ị sản xu ất th ủy sản tăng bình quân

11,3%/năm; năm 2010 chiếm 12,5% tổng giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp

[167, tr.2]. Như vậy, ngay trong ngành nông nghiệp đã có sự chuyển đổi cơ cấu

một cách rõ nét, điều này kéo theo sự chuyển đổi về cơ cấu lao động trong nông

nghiệp và vấn đề đào tạo nâng cao chất lượng nhân lực để đáp ứng yêu cầu.

Trong nông nghi ệp, nông thôn đã hình thành và phát triển các khu, cụm

công nghiệp; nghề và làng ngh ề trong nông thôn ti ếp tục phát tri ển, đến năm

2010 có 219 làng ngh ề được công nh ận đạt tiêu chu ẩn, gi ải quy ết vi ệc làm

cho khoảng 175 nghìn lao động. Giá trị sản xuất nghề, làng nghề chiếm 26%

tổng giá trị sản xuất công nghiệp [167, tr.5].

Bảng 3.2: Số lượng và cơ cấu hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản

giai đoạn 2006-2010 của Thái Bình và một số tỉnh lân cận

Số lượng hộ

Cơ cấu (%)

Tỉnh

2006 281514 282548 150506 122788 160269 2124275

2010 270219 244947 148725 91103 121664 1814976

2006 60,4% 68,5% 55,9% 64,2% 63,2% 60,5%

2010 54,2% 53,7% 52,4% 43,5% 42,9% 47,2%

Thái Bình Nam Định Hưng Yên Hà Nam Hải Phòng Chung ĐBSH Ngu

ồn: Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghi ệp và thủy sản năm

2010 [134, tr. 23].

106

Có thể thấy: Số lượng và cơ cấu hộ nông, lâm nghi ệp và th ủy sản của

Thái Bình từ 2006 đến 2010 có sự chuyển dịch tích cực, từ 60,4% xuống còn

54,2%. Mặc dù so với một số tỉnh lân cận vùng ĐBSH và chuyển dịch chung

của các tỉnh ĐBSH, việc chuyển dịch này không nhanh b ằng, nhưng đối với

một tỉnh thuần nông nh ư Thái Bình thì đây là sự chuyển đổi lớn và tích c ực.

Đây là kết quả tổng hợp của các chính sách, trong đó có chính sách đào tạo và

chuyển dịch cơ cấu lao động ngay trong nông nghiệp, nông thôn đã chuyển được

một bộ phận lao động từ thuần nông sang các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ.

Bảng 3.3: Số lượng trang trại của Thái Bình năm 2010

Tỉnh

Tổng hợp

Trồng trọt

Chăn nuôi

Lâm nghiệp

Nuôi trồng thủy sản

Thái Bình

Tổng số (trang trại) 524

4

162

0

340

18

Nam Định

306

3

73

0

229

1

Hà Nam

215

10

169

0

24

12

Hưng Yên

189

5

178

0

3

3

Hải Phòng

398

2

295

0

82

19

Hải Dương

282

0

259

0

11

12

Ngu ồn: Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghi ệp và thủy sản năm

2010 [134, tr. 33].

Có th ể th ấy: Số lượng hộ chuyển từ kinh t ế nông nghi ệp nh ỏ lẻ sang

xây dựng mô hình trang trại, áp dụng kiến thức, KHCN vào sản xuất hàng hóa

của Thái Bình t ăng nhanh, so v ới các tỉnh trong khu v ực thì Thái Bình có s ố

trang trại cao hơn, thu hút được nhiều lao động và bước đầu tạo ra mô hình

sản xuất mới trong nông nghi ệp, nông thôn. Số lượng trang trại của tỉnh Thái

Bình trong giai đoạn này phát tri ển hơn so với các tỉnh khác trong khu v ực.

Số lao động làm việc thường xuyên tại trang trại 2385 người, số lao động bình

quân tại trang tr ại 5 ng ười/trang trại, diện tích bình quân 5ha/trang tr ại. Việc

phát triển mô hình trang trại và cách thức sản xuất hàng hóa đã đặt ra yêu cầu

đối với mỗi hộ trang trại là phải cập nhật kiến thức, KHCN, được đào tạo một

cách bài bản cả về kỹ thuật, kiến thức pháp luật và thông tin thị trường.

107

Với sự chuyển dịch và phát triển của kinh tế, đóng góp của nông nghiệp

vào tăng trưởng chung của Thái Bình từ năm 2006-2010 có sự thay đổi đáng

kể, đóng góp c ủa kh ối ngành công nghi ệp, xây d ựng và d ịch vụ tăng, do

chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghi ệp hóa, đặc biệt sự chuyển dịch ở

khu vực nông thôn và các khu v ực giáp thành ph ố. Có th ể so sách m ức độ

đóng góp của các ngành kinh t ế vào tốc độ tăng trưởng chung từ năm 2005

đến 2010 của Thái Bình qua bảng số liệu sau:

Bảng 3.4: Đóng góp của các ngành kinh tế vào tốc độ tăng trưởng của

Thái Bình so sánh qua 2 giai đoạn 2001 - 2005 và 2006 - 2010

2005

2010

Chỉ tiêu

Tốc độ tăng trưởng kinh tế 2006-2010 (%)

6464 3.146 1351 1967

11420 3949 3902 3569

12,05 4,65 23,63 12,65

Đóng góp của từng ngành vào tốc độ tăng trưởng (%) GDP 12,05 1,95 6,20 3,90

GDP (tỷ đồng) Nông, lâm, thủy sản Công nghiệp, xây dựng Dịch vụ Ngu

ồn: Quy hoạch hệ thống các cơ sở dạy nghề tỉnh Thái Bình giai đoạn

2010-2020 [168, tr. 12].

Nh ư vậy, có thể đánh giá, giai đoạn 2006-2010, với việc vận dụng linh

hoạt đường lối của Đảng về nông nghi ệp, nông dân, nông thôn, v ề đào tạo,

phát triển NNL Thái Bình đã đạt những kết quả to lớn và đồng bộ trên tất cả

các lĩnh vực. Nh ững kết qu ả từ công tác đào tạo NNL c ủa tỉnh đã tác động

tích cực đến sự phát tri ển KT - XH, đặc bi ệt là trong nông nghi ệp và nông

thôn. Đến năm 2010, Thái Bình là m ột trong 5 t ỉnh của cả nước (là tỉnh duy

nhất của ĐBSH) được lựa chọn để chỉ đạo điểm xây dựng NTM. Đây là vinh

dự của tỉnh, nhưng đồng thời cũng là kết quả của sự nỗ lực, cố gắng của Đảng

bộ và nhân dân trong tỉnh trong giai đoạn đầu đẩy mạnh CNH, HĐH.

Tiểu kết chương 3

Giai đoạn 2006-2010 nền kinh tế thế giới có nhi ều biến động sâu sắc,

sau th ời gian phát tri ển mạnh mẽ, đến năm 2008 kinh t ế th ế gi ới rơi vào

108

khủng hoảng, suy thoái, đồng thời đây cũng là giai đoạn thế giới toàn cầu hóa

mạnh mẽ, xác l ập th ời đại kinh t ế tri th ức toàn nhân lo ại. Là một đất nước

đang ph ấn đấu đến năm 2020 c ơ bản tr ở thành một nước công nghi ệp theo

hướng hiện đại, Việt Nam không th ể chậm trễ trong việc nâng cao ch ất lượng

nguồn lực con người để thích ứng với sự biến đổi của nền kinh tế thế giới và đáp

ứng nhu cầu khách quan của sự nghiệp CNH, HĐH. Những chủ trương, chính

sách về đào tạo NNL của Đảng, Nhà nước thể hiện quá trình nhận thức ngày một

sáng rõ hơn về vai trò của NNL đối với sự nghiệp cách mạng to lớn hiện nay.

Từ những kết quả và kinh nghi ệm qua thực tế những năm đầu đổi mới

và những năm 2001-2005 về phát triển NNL, bước sang giai đoạn 2006-2010,

giai đoạn đẩy mạnh thực hiện CNH, HĐH mà trọng tâm là nông nghiệp, nông

dân, nông thôn, Đảng bộ tỉnh Thái Bình xây dựng và phát triển hệ thống quan

điểm, chủ trương, phương thức chỉ đạo trong đào tạo, phát triển NNL phục vụ

phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh. Gắn kết đào tạo với sử dụng lao động,

gắn ngành ngh ề đào tạo với nhu cầu của thị trường và quy ho ạch phát tri ển

ngành, lĩnh vực của tỉnh. Với chủ trương xây dựng một nền nông nghiệp toàn

diện, phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa trong điều kiện đất chật, người

đông thì vấn đề nâng cao chất lượng NNL, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật

vào sản xuất là yếu tố quyết định. Ngay từ năm 2004, Tỉnh ủy đã có một Nghị

quyết chuyên đề về đào tạo, dạy nghề cho người lao động. Đây chính là điểm

mốc quan tr ọng cho công tác d ạy nghề của tỉnh phát tri ển. Trên cơ sở những

chủ trương, đường lối mới của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn tại

Hội nghị lần th ứ 7, Ban Ch ấp hành Trung ương khóa X n ăm 2008, Tỉnh ủy

Thái Bình đã tổ ch ức tổng kết, đánh giá nh ững kết qu ả đạt được và đề ra

những chủ trương, giải pháp mới đáp ứng yêu cầu thực tế ngày càng cao c ủa

sản xu ất nông nghi ệp và phát tri ển nông thôn. S ự vận dụng linh ho ạt của

Đảng bộ Thái Bình được thể hiện ở chủ trương: xuất phát từ bối cảnh một tỉnh

thuần nông, tr ọng tâm đặt ra của Đảng bộ tỉnh là đào tạo NNL nông nghi ệp

chất lượng cao t ừng bước đáp ứng yêu c ầu CNH, H ĐH nông nghi ệp, nông

thôn của tỉnh.

109

Chương 4

MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

4.1. MỘT SỐ NHẬN XÉT

4.1.1. Đào tạo, phát tri ển ngu ồn nhân l ực cho nông nghi ệp ở tỉnh

Thái Bình nh ững năm 2001-2010 đã đạt được nh ững thành t ựu quan

trọng cả trong nhận thức và thực tiễn

Một là, Đảng bộ tỉnh Thái bình đã vận dụng chủ trương của Đảng về đào tạo

nguồn nhân lực nông nghiệp từng bước phù hợp với đặc thù của địa phương.

Bước sang những năm đầu thế kỷ XXI, ngoài những thành tựu cơ bản về

KT - XH, Thái Bình còn nhi ều khó khăn trong việc thực hiện mục tiêu CNH,

HĐH nông nghi ệp, nông thôn đặc bi ệt là v ấn đề đào tạo NNL cho nông

nghiệp của tỉnh. Sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới, đến năm 2001, tuy

đã đạt nh ững thành t ựu bước đầu quan tr ọng, nh ưng nhìn chung Thái Bình

vẫn là tỉnh nghèo, dân số đông, kinh tế và đời sống chủ yếu của người dân là

dựa vào sản xuất nông nghiệp. Kinh tế nông nghiệp thời kỳ này sản xuất giản

đơn, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất chậm, năng suất các lo ại

cây trồng, đặc biệt là cây lúa - sản phẩm chủ lực của kinh tế nông nghiệp Thái

Bình có xu hướng chững lại. Việc chuyển dịch cơ cấu trong nông nghi ệp còn

chậm. Các lĩnh vực nuôi tr ồng thủy sản, chế biến mặc dù có l ợi thế về điều

kiện tự nhiên nhưng những kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng.

Chăn nuôi còn chủ yếu mang tính nhỏ lẻ, tự cấp, sản xuất ở quy mô trang trại,

sản xu ất hàng hóa còn h ạn ch ế. Làng ngh ề có xu h ướng mai một tr ước tác

động của cơ chế thị trường và cạnh tranh. Hơn nữa Thái Bình v ừa phải dồn

sức tập trung giải quyết bất ổn chính trị, ổn định đời sống nhân dân trong hai

năm 1997, 1998. Năm 1997, lần đầu tiên toàn tỉnh không hoàn thành nghĩa vụ

nộp thu ế sử dụng đất nông nghi ệp và thu ế nhà đất tới 7000 t ấn thóc [47,

tr.373]. Vì vậy, tình hình KT - XH của Thái Bình vào thời điểm này còn nhiều

khó kh ăn, thậm chí có nh ững giai đoạn Trung ương Đảng phải cử các đồng

110

chí trong Bộ Chính trị về trực tiếp cùng Đảng bộ ổn định tình hình. Song, với

bản lĩnh cách mạng kiên cường, Đảng bộ tỉnh Thái Bình v ẫn bình tĩnh, kiên

định đường lối đổi mới của Đảng, vận dụng sáng t ạo đề ra ch ủ tr ương phù

hợp với tình hình thực tiễn của tỉnh. Trên cơ sở đường lối, chủ trương Đại hội

Đảng lần th ứ IX, X và các Ngh ị quy ết ch ỉ đạo tình hình k ịp th ời từ Trung

ương, Đảng bộ tỉnh Thái Bình vượt qua khó khăn, tiến hành Đại hội Đảng bộ

lần thứ XVII, XVIII.

Đại hội Đảng bộ tỉnh lần th ứ XVII n ăm 2001 là Đại hội mở đầu cho

những năm ổn định chính tr ị xã h ội. Vì v ậy, Đảng bộ vừa ph ải đề ra ch ủ

trương ti ếp tục khôi ph ục kinh t ế, gi ữ vững sự ổn định chính tr ị xã h ội,

củng cố lòng dân, v ừa ph ải có ch ủ trương khôi ph ục, phát tri ển kinh t ế để

theo kịp sự phát triển của đất nước và các t ỉnh trong khu v ực. Nhiệm vụ đặt

ra với nhi ệm kỳ XVII c ủa Đảng bộ là nh ững khó kh ăn to l ớn đòi hỏi ph ải

có gi ải pháp k ịp th ời, nh ưng không được nóng v ội và ph ải củng cố được

lòng tin c ủa người dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Nhân dân Thái Bình

từ truy ền th ống luôn tin t ưởng tuy ệt đối vào s ự lãnh đạo của Đảng, không

tiếc sức ng ười, sức của cống hi ến cho đất nước, gi ờ đây, sau nh ững bi ến

động, nhân dân c ần ổn định và t ập trung phát KT - XH. N ắm bắt nguy ện

vọng của nhân dân, Đảng bộ tỉnh Thái Bình nhanh chóng, k ịp thời, nghiêm

túc xây d ựng mục tiêu, ph ương hướng phát tri ển KT - XH c ủa tỉnh trong c ả

giai đoạn và c ụ thể từng năm phù h ợp với đặc điểm KT - XH và phát huy

lợi thế của tỉnh. Đối với một tỉnh nông nghiệp như Thái Bình, việc phát triển

KT - XH g ắn với giải quyết vấn đề nông nghi ệp, nông dân, nông thôn có ý

nghĩa quyết định của quá trình này. Vì vậy, trong quá trình lãnh đạo thực hiện

đường lối đổi mới, Đảng bộ tỉnh Thái Bình luôn xu ất phát t ừ đặc điểm của

một tỉnh thuần nông, có truy ền thống, kinh nghi ệm canh tác nông nghi ệp lâu

năm và truy ền thống của "quê hương năm tấn" trong th ời kỳ chống Mỹ, cứu

nước để làm c ơ sở đề ra ch ủ tr ương phát tri ển KT - XH c ủa tỉnh. Với lực

lượng lao động chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn và ngành nghề chủ yếu

111

là làm nông nghi ệp. Vi ệc CNH, H ĐH nông nghi ệp, nông thôn đòi hỏi ph ải

đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh t ế trong nông nghi ệp và chuy ển dịch cơ

cấu lao động, chuyển một bộ phận lao động sản xuất nông nghi ệp sang lĩnh

vực công nghiệp dịch vụ. Yêu cầu đặt ra đối với mỗi chính sách phải gắn liền

với ứng dụng KHCN, đào tạo và phát tri ển NNL. Từ năm 2001, Ngh ị quyết

Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII đã khẳng định: Phát triển toàn diện kinh tế

nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH. Chuyển mạnh sang sản xuất

hàng hóa ph ục vụ xu ất kh ẩu. Tích c ực chuy ển dịch cơ cấu kinh t ế nông

nghiệp, nông thôn. Phát huy l ợi thế của tỉnh và truy ền thống thâm canh, ti ếp

tục làm chuyển biến nhận thức và đầu tư chiều sâu để chuyển nhanh sản xuất

nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa. Chuyển đổi cơ cấu lao động trong nông

nghiệp, nông thôn, đưa một phần lao động nông thôn sang làm ngh ề phi nông

nghiệp… Ti ếp đó, trong các Ngh ị quyết chuyên đề nh ư Nghị quyết về khôi

phục và phát tri ển làng ngh ề (2001), Ngh ị quyết về chuyển dịch cơ cấu cây

trồng vật nuôi (2001), Ngh ị quyết về đẩy mạnh sản xuất cây vụ Đông (2002)

đều gắn vi ệc đẩy mạnh sản xu ất với việc đào tạo, chuyển giao khoa h ọc kỹ

thuật, nâng cao trình độ sản xuất, trình độ thâm canh cho người lao động. Đặc

biệt, giai đoạn này, Tỉnh ủy đã ra một nghị quyết chuyên đề về vấn đề phát

triển đào tạo nghề (2004) với mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 40

- 50% vào năm 2010, hàng năm giải quyết việc làm cho khoảng 20 - 25 nghìn

lao động và nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn lên 85 - 90%.

Đồng thời, Đảng bộ tỉnh chỉ đạo sát sao quá trình th ực hiện chủ trương

tới các huy ện ủy, xã, thôn, các s ở, ban ngành… sao cho quá trình th ực hiện

đường lối mang lại kết quả cao nhất, không để tình trạng nhân dân ph ải băn

khoăn, th ắc mắc, dẫn đến khi ếu ki ện, khi ếu nại. Đảng bộ tỉnh ch ủ tr ương

kết hợp phát tri ển kinh t ế, chuy ển dịch cơ cấu cây tr ồng vật nuôi trong

nông nghiệp, nông thôn v ới đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ các cấp, đặc

biệt là c ấp cơ sở; đầu tư xây d ựng hạ tầng nông thôn đã tạo ra s ự ổn định

chính tr ị, từng bước phát tri ển kinh t ế, nâng cao thu nh ập và đời sồng của

112

người nông dân, t ạo cơ sở vững ch ắc cho s ự phát tri ển của nông nghi ệp và

nông thôn. Trong giai đoạn đầu, Tỉnh ủy đã ch ủ động ban hành các ngh ị

quyết chuyên đề về các v ấn đề trong nông nghi ệp, nông thôn phù h ợp với

thực tiễn kinh tế nông nghiệp tỉnh. Cùng v ới đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban

hành một nghị quyết chuyên đề về đào tạo NNL.

Nghị quyết số 13-NQ/TU của Ban Th ường vụ Tỉnh ủy Về công tác đào

tạo, dạy nghề cho người lao động là bước phát triển mới trong nhận thức của

Tỉnh ủy về công tác đào tạo nghề nhằm nâng cao chất lượng NNL. Vị trí, vai

trò của công tác dạy nghề, đào tạo NNL được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ

với phát tri ển KT - XH. Phát tri ển đào tạo, dạy nghề là động lực quan tr ọng

thúc đẩy sự nghi ệp CNH, H ĐH, là điều ki ện để phát huy ngu ồn lực con

người, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền

vững. Quan điểm về đào tạo NNL được Tỉnh ủy nhận thức sát hợp với thực

tiễn của một tỉnh thuần nông, lực lượng lao động trong nông nghiệp chiếm đa

số. Một trong những thế mạnh để phát triển KT - XH của tỉnh là lực lượng lao

động. Song mu ốn phát huy th ế mạnh này, ph ải tập trung đào tạo, nhất là dạy

nghề để nâng cao trình độ và kh ả năng hành ngh ề của ng ười lao động, đáp

ứng nhu cầu phát triển NNL, phục vụ CNH, HĐH đất nước; đa dạng hóa các

hình th ức đào tạo ngh ề, tạo cơ hội cho m ọi ng ười lao động được học

nghề....Đồng thời, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền

đối với việc phát triển đào tạo nghề cho người lao động.

So với nh ững tỉnh trong khu v ực, đây là giai đoạn Thái Bình ph ải đối

mặt với những khó kh ăn, thách th ức hơn cả vì sự tác động của tình hình b ất

ổn định chính tr ị - xã h ội trước đó. Do đó, những thành công c ủa thực hiện

đường lối thời kỳ này là s ự cố gắng lớn lao của Đảng bộ và nhân dân trong

tỉnh. Đảng bộ luôn bám sát vào th ế mạnh địa phương là một tỉnh nông nghiệp

truyền thống, từ đó xác định: CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ

trọng tâm trong giai đoạn này, đào tạo NNL cho nông nghi ệp là chìa khóa để

thành công.

113

Kế thừa những kết quả và kinh nghi ệm đạt được trong giai đoạn trước,

trong giai đoạn 2006-2010, Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã từng bước hoàn thi ện

chủ tr ương, ph ương thức chỉ đạo công tác đào tạo, phát tri ển NNL ph ục vụ

phát triển KT - XH c ủa tỉnh nói chung và kinh t ế nông nghiệp, nông thôn nói

riêng. Quan điểm chủ đạo của đào tạo phát tri ển NNL nh ằm gắn đào tạo với

việc th ực hi ện các chi ến lược, quy ho ạch phát tri ển KT - XH c ủa tỉnh. Đặc

biệt từ năm 2008, th ực hi ện Ngh ị quy ết số 26-NQ/TW c ủa Ban Ch ấp hành

Trung ương Đảng về nông nghi ệp, nông dân, nông thôn, Đảng bộ tỉnh Thái

Bình đã chỉ đạo xây dựng các đề án nhằm đào tạo, phát tri ển NNL cho nông

nghiệp phục vụ quy hoạch xây dựng NTM của tỉnh. Ngay trong tháng 10 năm

2008, Ban Th ường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Ch ương trình hành động số 23-

CT/TU ngày 16 tháng 10 n ăm 2008 để thực hiện Nghị quyết của Trung ương

Đảng. Trong đó xác định nhiệm vụ, giải pháp thực hiện của các cấp ủy đảng,

các sở, ban, ngành trong t ỉnh và ch ỉ đạo triển khai th ực hiện đề án xây d ựng

NTM của tỉnh, trước mắt triển khai xây dựng thí điểm 8 mô hình NTM trong

năm 2009. Song song với triển khai xây dựng NTM, UBND tỉnh đã ban hành

Đề án dạy nghề cho lao động nông thôn của tỉnh để đào tạo nhân lực phục vụ

phát triển kinh tế nông thôn và xây d ựng NTM; thành l ập Ban điều phối xây

dựng NTM của tỉnh, thành lập Ban chỉ đạo xây dựng NTM, Ban chỉ đạo thực

hiện Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn do m ột đồng chí lãnh đạo

tỉnh làm trưởng ban chỉ đạo. Các huyện cũng thực hiện thành lập các ban ch ỉ

đạo cấp huyện và thành l ập các ban, t ổ thực hiện Đề án ở cấp xã. Giai đoạn

này, đào tạo NNL nông nghi ệp được đặt trong tổng thể chính sách phát tri ển

NNL cho yêu cầu CNH, HĐH nền kinh tế của tỉnh. Những chủ trương và chỉ

đạo th ực hi ện của Tỉnh ủy vừa bám sát th ực ti ễn, đồng bộ, đồng th ời có l ộ

trình và bước đi thận trọng, từ làm điểm đến nhân rộng. Những kết quả trong

công tác ch ỉ đạo phát tri ển NNL của tỉnh đã góp ph ần quan tr ọng vào thành

tựu phát tri ển KT - XH c ủa tỉnh trong những năm đầu thế kỷ XXI, góp ph ần

đưa Thái Bình từ một tỉnh có tốc độ phát triển thấp, còn nhiều bất ổn về chính

114

trị xã h ội tr ở thành t ỉnh có t ốc độ phát tri ển KT - XH và ch ất lượng NNL

tương đương với các tỉnh trong khu vực ĐBSH.

Nhận thức đúng là cơ sở để Đảng bộ lãnh đạo nhân dân thực hiện. Thực

hiện chủ trương của Đảng bộ, UBND tỉnh cụ thể hóa bằng các ch ương trình,

kế hoạch. Sau đó, Ủy ban giao tr ực tiếp cho các S ở, ban, ngành, UBND các

huyện, xã… th ực hiện. Các c ấp, ngành ch ủ động phối hợp làm tốt công tác

điều tra, tổng kết, đánh giá, dự báo; từ đó tiến tới chủ trương quy hoạch NNL;

đề ra chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng NNL hợp lý, trong đó tính đến

cả NNL hi ện có và NNL t ương lai. Với NNL hi ện có, Đảng bộ chủ trương

đào tạo, bồi dưỡng, phát tri ển, kết hợp với các chính sách thu hút, đãi ng ộ

nhân tài để họ cống hi ến cho s ự nghi ệp phát tri ển KT - XH c ủa tỉnh. Với

NNL tương lai, Đảng bộ ch ủ tr ương giáo d ục, đào tạo, bồi dưỡng để phát

triển họ thành lớp người kế cận toàn di ện về phẩm chất đạo đức và kỹ năng

tay nghề. Đặc biệt, với người nông dân, các ch ủ trương của Đảng, chính sách

của chính quyền hướng đến mục tiêu hiện đại hóa những người nông dân th ủ

công giúp họ đủ năng lực ngh ề nghiệp tham gia vào s ự nghi ệp CNH, HĐH

nông nghiệp, nông thôn và là chủ thể của sự nghiệp này.

Hai là, từng bước nâng cao nh ận thức của các tầng lớp nhân dân trong

tỉnh về đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghi ệp, vai trò của nguồn nhân lực

nông nghiệp trong tình hình mới.

Trước hết, Đảng bộ tỉnh coi đây là khâu đột phá nh ằm thực hiện thành

công sự nghiệp CNH, HĐH nông nghi ệp, nông thôn. Cả tỉnh tập trung đầu tư

cho sự nghiệp đào tạo NNL nói chung và nhân l ực cho nông nghiệp nói riêng.

Chủ trương quan tâm đến nguồn lực con người, đào tạo NNL nông nghiệp của

Đảng bộ Thái Bình là động lực chính làm cho nhận thức toàn xã hội về vị trí, vai

trò của NNL nói chung, NNL nông nghiệp nói riêng chuyển biến rõ rệt.

Theo ông Nguy ễn Minh Th ảo, tr ước đây, khó kh ăn lớn nh ất, tr ực

tiếp ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề cho nông dân chính là ở

nhận th ức của các t ầng lớp nhân dân ch ưa chu ẩn mực, ch ưa chính

115

xác, thậm chí còn l ệch lạc. Ph ần đông người dân cho r ằng sau khi

học xong ph ổ thông ph ải học cao đẳng, đại học để xin vi ệc Nhà

nước thì vi ệc làm, thu nh ập ổn định, có cơ hội thăng tiến, được xã

hội tôn tr ọng. Còn h ọc ngh ề xong ch ỉ vào các doanh nghi ệp làm

việc, lao động chân tay vất vả, thu nhập thấp, không được xã hội coi

trọng. Nhận thức này không ch ỉ của nông dân mà còn c ủa cả Đảng

viên và những người có địa vị trong xã hội [Phụ lục 26].

Khi được hỏi về vi ệc có c ần các l ớp học về chuyển giao k ỹ thu ật

không, bà Phạm Thị Hạnh cũng đã trả lời ngay là: Cô không c ần, vì

cô làm ruộng giỏi rồi [Phụ lục 26].

Chị Bùi Thị Hiền cũng có câu trả lời tương tự khi nhận được câu hỏi

trên. Theo chị, làm ruộng quen rồi, không cần học [Phụ lục 26].

Dưới sự ch ỉ đạo của Đảng bộ tỉnh, các c ấp chính quy ền, các s ở, ban

ngành đã phối hợp hiệu quả để thực hiện công tác đào tạo NNL, làm tốt chức

năng tham mưu, thực hiện, xây dựng các ch ương trình, đề án hỗ trợ đào tạo

NNL cho nông nghi ệp. Đảng bộ tỉnh chỉ đạo chỉ đạo Sở Lao động - Th ương

binh và Xã h ội, giúp UBND t ỉnh th ực hiện ch ức năng qu ản lý nhà n ước về

dạy nghề; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan quản lý về nông

nghiệp, nông thôn, nông dân của tỉnh. Các Sở theo chức năng đã hướng dẫn, chỉ

đạo các phòng ban ch ức năng của huyện làm tốt công tác phát triển NNL ở địa

phương. Cụ thể, giai đoạn này tất cả các huyện đã xây dựng được trung tâm dạy

nghề, thành lập các trạm khuyến nông để thực hiện nhiệm vụ dạy nghề, khuyến

nông, chuyển giao KHCN trong sản xuất nông nghiệp cho người dân [168, tr.11].

Phong trào xã h ội học tập, cả xã h ội đầu tư cho GD - ĐT, dạy ngh ề,

chuyển giao khoa học kỹ thuật được hình thành và phát tri ển mạnh mẽ. Công

tác đào tạo nghề được bắt đầu chú trọng và đẩy mạnh, nhất là từ năm 2004 khi

Tỉnh ủy có ngh ị quy ết chuyên đề về phát tri ển đào tạo, dạy ngh ề đến năm

2010. Công tác tuyên truy ền, phổ biến về đào tạo nghề cho bà con nông dân

được chú trọng làm cho nh ận thức của nhân dân về đào tạo nghề từ chỗ chưa

116

coi trọng đến chú ý l ắng nghe, theo dõi và tham gia để được đào tạo ngh ề.

Những chính sách, ch ủ trương của Đảng bộ và các c ấp chính quy ền làm cho

người dân hiểu rõ tầm quan trọng của học nghề. Cùng với thực tiễn, nhân dân

Thái Bình nhận thức được đào tạo nghề, được trang bị kỹ năng nghề nghiệp là

cần thiết đối với sản xuất, giúp họ đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế. Sau n ăm 2006, với nh ững chính sách và đường lối mới của

Đảng về phát tri ển NNL, nh ất là khi có Quy ết định số 81/2005/QĐ-TTg của

Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn và

Luật Dạy nghề được Quốc hội thông qua n ăm 2006, công tác đào tạo NNL

cho nông nghi ệp của Thái Bình có b ước phát tri ển mới vừa phát tri ển về số

lượng, vừa từng bước nâng cao chất lượng. Các cơ sở dạy nghề của tỉnh được

quy hoạch lại, cơ sở vật chất, thiết bị được tăng cường để đảm bảo thích ứng

với những thay đổi và đòi hỏi chất lượng ngày một cao của sản xuất. Thực tế,

số lượng cơ sở dạy nghề của Thái Bình giai đoạn này tăng nhanh và phân b ố

đều trong tỉnh, cả 8 huyện trong tỉnh đều có trung tâm dạy nghề [168, tr.11].

Sự chỉ đạo kịp thời của Đảng bộ tỉnh đã tạo ra bước phát triển mạnh trong

đào tạo NNL của tỉnh. Số lượng lao động được đào tạo hằng năm của tỉnh đạt

29000 lao động, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn tăng 1,14% [167,

tr.5], góp phần nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

trong nông nghiệp.

Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII dành h ẳn một nội dung báo cáo v ề

công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm. Điều này chứng tỏ Đảng bộ tỉnh

nhận thức sâu sắc được vai trò quy ết định của NNL với phát tri ển KT - XH.

Sự ch ỉ đạo th ực hi ện nghiêm túc, sát sao c ủa Đảng bộ tỉnh Thái Bình góp

phần làm cho nhân dân thay đổi nhận thức về vai trò của mình với sự nghiệp

CNH, HĐH nông nghi ệp, nông thôn c ủa tỉnh. Sự nghiệp GD - ĐT không ch ỉ

của riêng Đảng, Chính quyền mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội và mỗi

người dân. Quan điểm ch ọn ngh ề của ng ười nông dân t ừng bước thay đổi.

Giờ đây, con đường thành tài c ủa mỗi gia đình nhà nông không ch ỉ là bằng

117

mọi giá con em ph ải thi đỗ vào các tr ường đại học, học ra m ới là có “cái

nghề”, mà họ đã nh ận th ức được là ph ải có một ngh ề thì mới đem lại cu ộc

sống ấm no, đầy đủ, và làm giàu trên chính m ảnh đất, đồng ruộng của mình.

Từ đó, bà con nông dân m ột mặt cho con em điều kiện để học tập từ cấp phổ

thông cho đến các cấp học cao hơn. Mặt khác cũng tích cực tham gia các khóa

đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo nghề, chủ động tham gia thị trường sức lao động,

chủ động tiếp cận công ngh ệ thông tin, KHCN. Vì v ậy, giảm đáng kể sức ép

về lao động việc làm cho tỉnh. Đây là thành công l ớn thu được từ chủ trương

đào tạo NNL cho nông nghi ệp của Đảng bộ Thái Bình, đã "hiện đại hóa" suy

nghĩ, hành động cho những người nông dân. Các chương trình giải quyết việc

làm, chương trình đưa doanh nghiệp về nông thôn cũng góp phần giúp người

dân thay đổi nhận thức rằng, được đào tạo bài bản, được tiếp nhận vào doanh

nghiệp ngay tại địa phương, hoặc tự đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh, xây

dựng mô hình trang tr ại trên chính mảnh đất của mình cũng là con đường để

thoát nghèo, con đường để làm giàu cho gia đình và xã hội.

Ba là, xã hội hóa vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp trong

tỉnh được đẩy mạnh và từng bước đạt những kết quả đáng ghi nhận.

Để chuy ển dịch cơ cấu kinh t ế theo đúng quy lu ật CNH, H ĐH nông

nghiệp nông thôn, Tỉnh đã xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích để huy

động tối đa sự tham gia c ủa các doanh nghi ệp, động viên các doanh nghi ệp,

các nhà khoa h ọc, các nhà đầu tư về tận làng, xã t ổ chức, hướng dẫn bà con

nông dân sản xuất, học nghề và th ực hành ngh ề. Tỉnh chủ trương khôi ph ục

lại các làng ngh ề truyền thống. Trước đây, làng nghề truyền thống Thái Bình

rất phát tri ển với việc xuất khẩu các mặt hàng th ủ công sang các n ước Đông

Âu. Từ khi ch ế độ XHCN ở Liên Xô và các n ước Đông Âu sụp đổ, các mặt

hàng thủ công ứ đọng, không tiếp tục xuất khẩu được, các làng nghề mai một

dần. Bước vào nền kinh tế thị trường, các làng nghề còn lại không đủ sức đáp

ứng yêu c ầu ch ất lượng sản ph ẩm, nên không có n ăng lực cạnh tranh. Đây

chính là vấn đề của chất lượng NNL. Vì vậy, khôi phục các làng ngh ề truyền

118

thống gắn liền với đào tạo NNL chất lượng cao, có khả năng làm chủ KHCN,

chủ động liên hệ tìm thị trường. Tỉnh đồng thời tích cực thực hiện liên kết “4

nhà”, trong đó vai trò c ủa Nhà n ước (vai trò c ủa chính quy ền các c ấp) làm

công tác quy ho ạch sản xuất, dự báo, thông tin th ị trường hàng hóa, thu th ập

thông tin, đưa ra dự báo về nhu cầu hàng hóa, giúp ng ười dân biết đẩy mạnh

sản xuất những sản phẩm gì, thực hiện chính sách thu hút, trọng dụng, đãi ngộ

và sử dụng nhân tài, vinh danh nh ững gương sản xuất giỏi; nhà doanh nghiệp

thực hi ện vai trò k ết nối gi ữa sản xu ất và th ị tr ường trong vi ệc cung c ấp

nguyên liệu, thu mua, bao tiêu s ản phẩm của người nông dân; nhà khoa h ọc

cần nghiên c ứu các gi ống vật nuôi, cây tr ồng mới có n ăng su ất cao, ch ất

lượng tốt phù hợp với điều kiện sinh thái và thổ nhưỡng của từng vùng, miền;

nghiên cứu quy trình k ỹ thu ật canh tác công ngh ệ cao; công ngh ệ ch ế bi ến

bảo quản sau thu ho ạch để nâng cao giá tr ị hàng hóa nông s ản. Đây là công

đoạn dễ dàng nâng cao giá trị gia tăng hàng hóa nông sản nhưng chính là khâu

yếu nhất của sản xuất nông nghiệp. Mặc dù mô hình này còn nhiều vấn đề cần

tiếp tục nghiên cứu và hoàn thi ện nhưng trong nh ững năm qua, vi ệc áp dụng

trong sản xu ất nông nghi ệp ở Thái Bình đã mang l ại kết qu ả bước đầu, đã

hình thành các vùng chuyên cây, chuyên con, các làng ngh ề thủ công truy ền

thống cũng được khôi phục và phát triển.

Tỉnh chủ trương phát triển kinh tế trang trại, là hình th ức kinh tế gắn liền

với nền sản xuất hàng hóa. Mô hình kinh tế này đòi hỏi người nông dân không

thể “chây lười”, ngại nghĩ mà phải tích cực, năng động, chịu khó, ham học hỏi,

dám nghĩ, dám làm, để làm giàu trên mảnh đất của mình. Từ những người nông

dân thuần nông họ trở thành những người nông dân công nghiệp, thương nghiệp.

Vì vậy, đây là một hình thức phát triển KT - XH nhưng cũng là quá trình đào tạo

nhân lực nông nghi ệp hiệu quả, thiết thực. Kinh tế trang tr ại phát triển sẽ góp

phần huy động vốn đầu tư trong dân cư, giải quyết việc làm cho người lao động

ở nông thôn, xóa đói, giảm nghèo và là một trong những con đường làm giàu ở

nông thôn Thái Bình thời hội nhập.

119

Chị Trương Thị Hằng, với mô hình ch ăn nuôi lợn chuồng trại, mỗi

năm thu nh ập 100 tri ệu đồng, là con s ố cao so v ới thu nh ập bình

quân của nông dân Thái Bình hi ện nay. T ừ làm ru ộng, đến năm 2007, gia đình ch ị chuyển hẳn sang làm kinh t ế theo mô hình này

[Phụ lục 26].

Bên cạnh đó, đào tạo NNL cho nông nghi ệp còn bằng nhiều hình th ức:

Đào tạo tại các tr ường trong và ngoài t ỉnh, đào tạo tại các trung tâm d ạy

nghề, trung tâm h ọc tập cộng đồng tại huyện, xã; đào tạo tại doanh nghi ệp,

đào tạo chuy ển giao khoa h ọc kỹ thu ật tại đồng ru ộng, tại trang tr ại, cơ sở

sản xuất, đào tạo chuyển giao t ại các mô hình trình di ễn trong nông nghi ệp;

liên kết các c ơ sở đào tạo ngh ề, tr ực ti ếp tham gia vào quá trình đào tạo

nghề, xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển đào tạo nghề. Xây dựng cơ

chế, chính sách t ạo điều kiện cho doanh nghi ệp thành lập trường nghề, trung

tâm đào tạo nghề; liên kết các cơ sở đào tạo nghề với giải quyết việc làm cho

người lao động.

Đối tượng đào tạo phong phú, n ội dung đào tạo phù h ợp với từng đối

tượng cụ thể. Từ hướng nghiệp cho học sinh ph ổ thông, đến cán bộ quản lý

nông nghiệp, cán bộ nghiên cứu ứng dụng KHCN vào s ản xuất nông nghi ệp,

lực lượng sản xuất nông nghi ệp tr ực tiếp. Đối với ng ười nông dân tr ực ti ếp

sản xu ất thì b ằng các hình th ức chuy ển giao công ngh ệ, dạy ngh ề, truy ền

nghề, tập nghề để họ từng bước tiếp cận trình độ sản xuất tiên tiến, từng bước

áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tăng hàm lượng chất xám trong s ản

phẩm. Hệ thống các cơ sở đào tạo nghề được mở rộng cả các cơ sở của Nhà

nước và các cơ sở đào tạo do các tổ chức, cá nhân thành lập đảm bảo đáp ứng

yêu cầu về năng lực đào tạo và chất lượng đào tạo. Các trung tâm dạy nghề ở

cấp huyện được hình thành là cơ sở chịu trách nhiệm chính đào tạo NNL trên

địa bàn huyện. Ngoài ra, các trung tâm khuy ến nông, khuyến công cũng được

hình thành và góp ph ần quan tr ọng vào vi ệc chuyển giao KHCN cho ng ười

lao động. Đào tạo nghề cơ bản đáp ứng được nhu cầu học nghề của người lao

120

động. Cơ cấu và loại hình đào tạo, huấn luyện nghề đa dạng, có đủ các nhóm

nghề. Từng bước đáp ứng nhu cầu học nghề của người lao động và nhu c ầu

NNL có tay nghề cao cho xã hội.

Bốn là, qu ản lý nhà n ước về đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghi ệp

dần từng bước hoàn thiện.

Thực hi ện ch ủ tr ương của Đảng bộ về đào tạo NNL nông nghi ệp,

không một cấp ủy, sở, ban, ngành nào đứng ngoài cu ộc. Qua th ời gian ti ến

hành thực hiện chủ trương, trình độ quản lý của các cơ quan nhà nước về đào

tạo NNL được phát tri ển, hoàn thi ện từ khâu kh ảo sát, đánh giá, đến chỉ đạo

từng bước nâng cao hi ệu quả quản lý nhà nước về đào tạo. Từ năm 1998, khi

Chính phủ quyết định tái thành l ập Tổng cục Dạy nghề, giao Bộ Lao động -

Thương binh và Xã hội thực hiện chức năng quản lý nhà nước về dạy nghề. Ở

Thái Bình, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã từng bước hoàn thiện cơ

cấu bộ phận dạy nghề, thành lập phòng qu ản lý dạy nghề để thực hiện chức

năng quản lý nhà n ước về dạy nghề ở địa phương. Tại các huy ện, cũng từng

bước bố trí cán b ộ chuyên trách v ề dạy ngh ề thu ộc Phòng Lao động -

Thương binh và Xã h ội. Công tác d ạy nghề của tỉnh được thống nh ất th ực

hiện và t ừng bước phát tri ển. Đặc biệt, từ khi th ực hiện Ngh ị quyết số 26-

NQ-TW của Trung ương Đảng về nông nghi ệp, nông dân, nông thôn, T ỉnh

ủy và UBND t ỉnh đã xây dựng, thông qua các đề án của tỉnh như Đề án xây

dựng NTM, Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Cùng v ới đó, tỉnh

đã thành l ập các Ban ch ỉ đạo, Ban điều ph ối xây d ựng NTM, Ban ch ỉ đạo

thực hi ện Đề án đào tạo ngh ề cho lao động nông thôn t ừ cấp tỉnh đến cấp

huyện, cấp xã để chỉ đạo và t ổ chức thực hiện các Đề án. Với bộ máy qu ản

lý được hình thành và ki ện toàn t ừ cấp tỉnh đến cấp xã, công tác đào tạo

NNL của tỉnh được ch ỉ đạo th ực hiện th ống nh ất, đặc bi ệt là ph ục vụ mục

tiêu xây d ựng NTM mà trong đó NNL là nhân t ố đóng vai trò quy ết định

trong vi ệc chuy ển dịch cơ cấu lao động trong nông nghi ệp, nông thôn và

nâng cao thu nh ập của người dân.

121

Hiệu qu ả của năng su ất, chất lượng, sự phát tri ển toàn di ện của nông

nghiệp, trình độ canh tác chính là th ước đo cụ thể nhất cho hiệu quả của công

tác GD - ĐT. Nh ững thành t ựu đạt được đã tác động tr ực ti ếp đến sự phát

triển KT - XH của tỉnh Thái Bình. Cùng với các chủ trương, chính sách đồng

bộ của Tỉnh ủy trên các l ĩnh vực, trong đó đặc biệt là th ực hiện chính sách

phát triển NNL c ủa tỉnh từ năm 2001-2010 và s ự vào cu ộc của các cấp, các

ngành, nhận thức, sự cố gắng, nỗ lực của nhân dân, đến năm 2010, KT - XH

Thái Bình đã có nh ững thay đổi rõ nét trên các l ĩnh vực. Tốc độ tăng trưởng

GDP bình quân 5 năm 2006-2010 đạt 12,02%; đến năm 2010, GDP bình quân

đầu người đạt 16,1 triệu đồng, gấp 5 lần so với năm 2000. Cơ cấu kinh tế và cơ

cấu lao động có bước chuyển biến theo hướng tích cực. Tỷ trọng công nghiệp,

xây dựng từ 24% (năm 2005) lên 33% năm 2010; giảm tỷ trọng nông nghiệp từ

41,8% xuống 335. Tăng tỷ trọng lao động công nghiệp, xây dựng từ 20,1% năm

2005 lên 22% năm 2010, dịch vụ từ 13,3% lên 15,7%; gi ảm tỷ trọng lao động

nông nghiệp từ 66,6% xuống còn 62,3% [164, tr.1].

Trong nông nghi ệp, nông thôn hình thành và phát tri ển các khu, c ụm

công nghiệp; nghề và làng ngh ề trong nông thôn ti ếp tục phát tri ển, đến năm

2010 có 219 làng ngh ề được công nh ận đạt tiêu chu ẩn, gi ải quy ết vi ệc làm

cho khoảng 175 nghìn lao động. Giá trị sản xuất nghề, làng nghề chiếm 26%

tổng giá trị sản xuất công nghiệp [164, tr.5].

Những thành tựu mà Đảng bộ và nhân dân Thái Bình giành được là do

đường lối và sự lãnh đạo sát sao của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và sự chỉ

đạo chặt chẽ của Nhà nước, sự hỗ trợ tích cực của các bộ, ban, ngành Trung

ương. Để Thái Bình v ượt qua nh ững bất ổn định chính tr ị xã hội năm 1997,

1998, Trung ương Đảng, Bộ Chính tr ị luôn theo dõi sát sao và ch ỉ đạo kịp

thời. Khi tình hình di ễn bi ến có chi ều hướng căng th ẳng, Th ường vụ Bộ

Chính trị ra Chỉ thị về một số công việc cấp bách ở nông thôn hiện nay, đồng

thời cử Tổ công tác đặc biệt của Bộ Chính trị về Thái Bình tr ực tiếp chỉ đạo,

giải quyết tình hình. Dưới sự lãnh đạo kịp thời của Trung ương Đảng, sự sáng

122

suốt, nghiêm túc, nhưng mềm dẻo, kiên trì gần dân, giải thích, vận động nhân

dân của Tổ công tác đặc biệt, cùng với sự nỗ lực vượt bậc của Đảng bộ, chính

quyền, các sở, ban, ngành trong t ỉnh đã ổn định tình hình lập lại trật tự chính

trị xã hội trong tỉnh, tạo thuận lợi bước vào giai đoạn phát triển KT - XH. Sau

đó, Đảng ti ếp tục lãnh đạo, ch ỉ đạo Đảng bộ Thái Bình tích c ực th ực hi ện

công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH.

Bên cạnh đó, sự phát tri ển chung của KT - XH nh ững năm đầu thế kỷ

XX cũng tác động lớn đến những thành công c ủa Thái Bình trong giai đoạn

này. Những năm 2000 đến 2005, kinh t ế trong nước tăng trưởng ở mức cao,

cùng với thể chế kinh tế thị trường dần được hình thành đã tạo điều kiện thuận

lợi cho sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn. Đến những năm 2006, 2007

trở đi, mặc dù trong th ời gian suy thoái kinh t ế, nh ưng sự tác động của

KHCN, sự toàn c ầu hóa và kinh t ế tri th ức đã đặt ra yêu c ầu trong nông

nghiệp, nông thôn ph ải thay đổi ph ương th ức sản xu ất, tăng hàm l ượng

KHCN trong s ản phẩm, do đó tạo điều kiện cho sự phát tri ển của NNL. Sự

phát triển của kinh tế thị trường, sự đòi hỏi ngày một cao về chất lượng sản

phẩm cũng tác động mạnh mẽ đến yêu c ầu ph ải đào tạo của ng ười lao

động. Ngay trong s ản xuất nông nghi ệp, các s ản phẩm tạo ra không ch ỉ đòi

hỏi năng su ất cao mà ch ất lượng sản ph ẩm ph ải được nâng lên, m ẫu mã

phải đa dạng. Thị trường của các sản phẩm nông nghi ệp không ch ỉ giới hạn

trong phạm vi của tỉnh mà phát tri ển ra cả nước và phục vụ xuất khẩu do đó

đặt ra yêu c ầu về ch ất lượng, mẫu mã hàng hóa ngày m ột cao. Tính c ạnh

tranh của các s ản ph ẩm nông nghi ệp, th ủ công nghi ệp ngày càng l ớn đòi

hỏi ng ười sản xu ất ph ải nhanh nh ạy áp d ụng ti ến bộ khoa h ọc, kỹ thu ật

nhằm gi ảm chi phí, t ăng năng su ất, nâng cao ch ất lượng của sản ph ẩm.

Người nông dân ý th ức được rằng, để thoát nghèo, để làm giàu thì ngoài

KHCN, họ ph ải được đào tạo một cách bài b ản để có th ể ứng dụng được

các thành t ựu đó trong s ản xu ất. Do đó, nhu c ầu về đào tạo của ng ười lao

động ngày càng t ăng.

123

Đảng bộ và nhân dân Thái Bình luôn nêu cao tinh th ần trách nhi ệm,

quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, vận dụng linh

hoạt vào thực tiễn địa phương đề ra đường lối phát triển KT - XH phù hợp với

đặc điểm tự nhiên, xã h ội tỉnh. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Bình luôn

tính đến những những nhiệm vụ cơ bản, lâu dài mang tính chiến lược. Đào tạo

NNL cho nông nghiệp là một trong những vấn đề chiến lược, lâu dài. Sau khi

đề ra ch ủ trương, Đảng bộ sát sao ch ỉ đạo thực hiện tới cơ sở Đảng các cấp,

Chính quyền các cấp, các sở, ban, ngành để phối hợp thực hiện. Đào tạo NNL

cho nông nghiệp không phải việc một sớm một chiều, vì vậy không thể nóng

vội. Hình th ức, nội dung đào tạo được xây dựng cẩn thận, tỷ mỷ, chú ý đến

từng chi tiết, hoàn cảnh của mỗi tầng lớp và địa bàn dân cư.

Ví dụ như xã Nguyên Xá, huy ện Vũ Thư, mỗi lớp học khi di ễn ra,

mỗi xóm được cử 10 ng ười đi học, mỗi ng ười đi được hỗ tr ợ

20.000-30.000đ, có đợt thì được tặng vật phẩm. Con những ai ở nhà

thì được nghe qua loa phát thanh [Phụ lục 26].

Những thành t ựu trong công tác đào tạo NNL trong giai đoạn này

chứng minh sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình là hoàn toàn đúng đắn.

Tất cả các cấp, sở, ban, ngành đều vào cu ộc thực hiện chủ trương của Đảng

bộ, tạo ra s ự chuy ển bi ến mạnh mẽ về ch ất lượng NNL nông nghi ệp. Thái

Bình là một trong những tỉnh đầu tiên trên c ả nước có hệ thống điện, đường,

trường, trạm hoàn thi ện, hệ thống giáo dục đào tạo từ mầm non đến đại học

phát triển đồng đều trên phạm vi cả tỉnh, công tác y tế, chăm sóc sức khỏe cho

nhân dân được đảm bảo. NNL cho nông nghiệp đã dần đáp ứng được yêu cầu

phát triển KT - XH.

Qua thời gian, năng lực lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình ngày càng

trưởng thành. Đảng bộ luôn nêu cao tinh th ần cầu ti ến, th ẳng th ắn ch ỉ ra

những yếu kém, h ạn ch ế trong quá trình lãnh đạo và ch ỉ đạo. Bên c ạnh đó,

Đảng bộ luôn th ực hi ện cải ti ến ph ương th ức lãnh đạo, ch ỉ đạo qu ản lý và

điều hành c ủa Đảng và chính quy ền các c ấp. Mặt khác, Đảng bộ tỉnh Thái

124

Bình luôn phát huy truy ền thống yêu nước, sự năng động, sáng tạo trong lao

động của mọi tầng lớp nhân dân trong tỉnh, thực hiện đoàn kết toàn dân, vượt

qua mọi khó kh ăn, xây dựng, phát tri ển KT - XH. Sau nh ững biến cố chính

trị, người dân Thái Bình không vì th ế mà quay lưng lại với Đảng. Khi những

khúc mắc được giải quyết, nhân dân d ần lấy lại niềm tin với Đảng, đi theo,

ủng hộ Đảng trong nh ững ch ủ tr ương lớn. Không nh ững th ế, nhân dân còn

chủ động, sáng t ạo tìm tòi, th ử nghi ệm mô hình kinh t ế mới, là t ấm gương

thực tiễn giúp Đảng có cơ sở tổng kết lý luận.

4.1.2. Lãnh đạo đào tạo, phát tri ển ngu ồn nhân l ực cho nông

nghiệp ở tỉnh Thái Bình vẫn còn những hạn chế

Về mạng lưới cơ sở dạy nghề, cơ sở giáo dục chuyên nghi ệp phân bố

không đồng đều tập trung chủ yếu ở địa bàn thành phố (27 cơ sở) dẫn đến hạn

chế kh ả năng ti ếp cận với dạy nghề của người lao động nông thôn để được

đào tạo mới cũng như đào tạo nâng cao trình độ. Toàn tỉnh, chưa có tr ường

cao đẳng nghề (chỉ có một cơ sở liên kết dạy trình độ cao đẳng nghề, đến năm

2012 mới thành lập trường Cao đẳng nghề Thái Bình). Do v ậy, tỉnh khó ch ủ

động trong vi ệc đào tạo lao động kỹ thu ật trình độ cao phù h ợp với sự phát

triển của tỉnh. Là tỉnh thuần nông, kinh t ế nông nghiệp là ch ủ lực nhưng tỉnh

chỉ có 1 tr ường trung cấp nông nghi ệp với quy mô đào tạo hàng năm từ 200

đến 300 h ọc viên các chuyên ngành v ề nông nghi ệp, nh ưng vi ệc tuyển sinh

hàng năm hết sức khó kh ăn. Năng lực của các trung tâm d ạy ngh ề của tỉnh

chưa đáp ứng được nhu c ầu chuy ển đổi vi ệc làm c ủa lao động, nh ất là lao

động ở vùng dành đất phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị [168, tr.19].

Về chất lượng các trường và trung tâm dạy nghề: Mặc dù số lượng cơ sở

dạy nghề nhiều nhưng đa số các trường trung cấp nghề và trung tâm dạy nghề

chưa đạt đủ các tiêu chí, tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Lao động - Thương

binh và Xã h ội. Chưa có s ự đầu tư đúng mức cho vi ệc đào tạo các ngh ề kỹ

thuật cao, m ũi nh ọn và đặc thù để ph ục vụ phát tri ển KT - XH c ủa địa

phương; ch ưa xây d ựng được ngh ề đào tạo mang tính th ương hi ệu đối với

125

từng cơ sở. Nhiều cơ sở ngoài công lập còn gặp khó khăn trong việc đầu tư cơ

sở vật chất, thiết bị dạy nghề, các phương tiện dạy học và thu hút đội ngũ giáo

viên vào tham gia giảng dạy. Thiết bị dạy nghề trong cơ sở dạy nghề được đầu tư

chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến kỹ năng thực hành nghề của học viên. Các trung

tâm, trạm khuyến nông còn thi ếu cán bộ. Trong quá trình ho ạt động chủ yếu

thực hiện việc tuyên truyền, hoặc hướng dẫn theo thời vụ, chưa tập trung nhiều

vào công tác tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho người nông dân.

Đội ngũ cán bộ quản lý đào tạo nghề là kiêm nhi ệm còn nhi ều, đội ngũ

giáo viên dạy nghề thiếu về số lượng, trình độ giáo viên không đồng đều, đòi

hỏi phải tiếp tục kiện toàn, nâng cao trình độ cả về chuyên môn giảng dạy và

nghiệp vụ sư phạm. Do điều kiện KT - XH c ủa tỉnh nên việc đầu tư cho lĩnh

vực dạy nghề còn ở mức khiêm tốn, tư tưởng, nhận thức của một số cán bộ,

người lao động người dân về học nghề và việc làm còn hạn chế.

Việc giám sát, đánh giá các ho ạt động đào tạo, dạy ngh ề ch ưa được

thường xuyên. Hệ thống tổ chức, quản lý nhà nước về công tác dạy nghề còn

nhiều bất cập, chưa theo kịp yêu cầu phát tri ển của công tác d ạy nghề; chưa

có cán bộ quản lý, giám sát chuyên trách v ề dạy nghề ở cấp huyện và xã nên

việc phối hợp để thực hiện nhiệm vụ hiệu quả chưa cao. Thiếu sự gắn kết chặt

chẽ giữa các cơ sở dạy nghề với các doanh nghi ệp để tổ chức đào tạo có địa

chỉ và th ực hiện tốt việc giải quyết việc làm sau đào tạo. Cơ chế chính sách

thiếu đồng bộ để khuyến khích, huy động ngu ồn lực từ các t ổ ch ức, doanh

nghiệp và cá nhân tham gia ho ạt động dạy nghề. Nhiều nơi, việc tổ chức dạy

nghề cho lao động nông thôn còn hình th ức, chưa thực sự gắn với th ực tiễn

sản xuất nông nghiệp và nhu cầu của bà con nông dân.

Về đầu tư cho cơ sở đào tạo, dạy nghề, đặc biệt thuộc lĩnh vực khoa học -

kỹ thuật cần phải có một lượng kinh phí l ớn, nhất là đầu tư thiết bị dạy nghề

công nghệ cao; trong khi đó hàng năm kinh phí đầu tư cho các cơ sở dạy nghề

còn hạn chế, thiếu tập trung, nguồn đầu tư chủ yếu phụ thuộc vào sự hỗ trợ của

Trung ương từ các Chương trình mục tiêu Quốc gia.

126

Công tác xã hội hóa dạy nghề phát tri ển chậm, việc huy động các doanh

nghiệp, các tổ chức, cá nhân tham gia vào đào tạo NNL còn hạn chế. Các doanh

nghiệp khi đầu tư vào nông thôn chủ yếu sử dụng lao động có sẵn, chưa chú trọng

khâu đào tạo, hoặc chỉ đào tạo, tập huấn sơ đẳng cho người lao động dẫn đến chất

lượng nguồn lao động chưa cao, chủ yếu vẫn là làm các công việc giản đơn hoặc

gia công sản phẩm [167, tr.20].

Về chất lượng lao động nông thôn: Lao động nông nghi ệp của tỉnh vẫn

chiếm tỷ lệ rất cao và hầu hết là lao động chưa qua đào tạo trong khi các nghề

về nông nghi ệp ch ủ yếu cũng là đào tạo ng ắn hạn. Điều này cho th ấy ch ất

lượng lao động ở khu vực nông thôn còn h ạn chế, và sẽ trở thành lực cản đối

với quá trình chuy ển dịch cơ cấu lao động, đặc biệt là kh ả năng rút lao động

nông thôn ra kh ỏi ngành nông nghi ệp và ảnh hưởng đến việc phát tri ển một

nền nông nghiệp toàn diện, hiện đại, sản xuất hàng hóa của tỉnh. Bên cạnh đó,

chất lượng lao động thấp ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất lao động xã hội,

đồng thời tạo ra nh ững rào cản đối với việc thu hút đầu tư của khu vực nông

nghiệp, nông thôn c ũng nh ư giải quyết vấn đề việc làm cho ng ười lao động

trong tỉnh [168, tr.3].

Những hạn ch ế trên là do m ột số cấp ủy Đảng, chính quy ền, cán bộ,

đảng viên chưa nhận thức rõ vai trò quan trọng của công tác dạy nghề cho lao

động nông thôn. Vì v ậy dẫn đến công tác ki ểm tra, giám sát tình hình th ực

hiện ở nhiều nơi chưa tốt.

Một bộ phận lao động nông thôn chưa hiểu đầy đủ về các chính sách hỗ

trợ của Đảng, Nhà nước và lợi ích của việc học nghề, chưa chủ động tích cực

tham gia học nghề.

Công tác tuyên truy ền nâng cao nh ận thức về ý ngh ĩa, tầm quan tr ọng

của phát tri ển đào tạo, dạy ngh ề ch ưa th ường xuyên, liên t ục. Một số địa

phương, đơn vị có quan ni ệm chưa đúng mức đối với việc học nghề. Tâm lý

xã hội vẫn còn chú tr ọng việc học cao đẳng, đại học; coi việc học nghề chưa

phải là chỗ dựa vững chắc đối với việc lập nghiệp, tìm việc làm và tự tạo việc

làm ổn định lâu dài của người lao động. Ở một số nơi còn tình trạng chưa nắm

127

được nhu cầu nhân lực cần đào tạo ở từng lĩnh vực, việc chọn nghề và tổ chức

dạy nghề chưa xuất phát từ nhu cầu thực tế, chưa gắn kết giữa đào tạo và sử

dụng; các điều kiện bảo đảm chất lượng dạy học chưa đáp ứng yêu cầu.

Chưa có c ơ ch ế chính sách quy định vi ệc ng ười sử dụng lao động qua

đào tạo phải có trách nhiệm hỗ trợ cơ sở đào tạo về kinh phí đào tạo nghề cho

người lao động.

4.2. KINH NGHIỆM

4.2.1. Nắm vững quan điểm, đường lối của Trung ương Đảng, đồng

thời vận dụng sáng t ạo, phù h ợp với đặc điểm truy ền th ống của địa

phương để hoạch định chủ trương và chỉ đạo về đào tạo nguồn nhân lực

cho nông nghiệp có hiệu quả

Trong quá trình lãnh đạo công tác đào tạo NNL ph ục vụ phát tri ển kinh

tế nông nghiệp của Thái Bình, điều quan trọng là phải quán triệt tốt nội dung

các chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng, các Nghị quyết của Trung ương

về đào tạo phát triển NNL cho trong giai đoạn nhất định. Trên cơ sở đó, tìm ra

bước đi thích hợp nhất, phù hợp với điều kiện và đặc điểm của địa phương,

nhằm tạo ra nh ững bước đột phá góp ph ần nâng cao ch ất lượng lao động,

phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, từng bước tạo nền tảng cho tỉnh

Thái Bình theo kịp sự phát triển chung cả nước.

Trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự CNH, HĐH đất nước, Đảng xác

định GD - ĐT là quốc sách hàng đầu, trong đó đào tạo NNL đáp ứng yêu cầu

phát triển kinh tế và nhu cầu phát triển nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm

vụ quan tr ọng trong ti ến trình công cu ộc đổi mới và đẩy mạnh sự nghi ệp

CNH, HĐH đất nước. NNL được Đảng xác định là một trong nh ững đột phá

chiến lược trong vi ệc th ực hi ện thành công m ục tiêu đưa nước ta s ớm tr ở

thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Để thực hiện tốt chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng, các đảng bộ

địa phương phải thực hiện trên nguyên tắc quán triệt sâu sắc, tiếp thu triệt để

những ch ủ tr ương chung, v ới nh ững định hướng chung c ủa Trung ương đã

128

nêu ra. Mặt khác từng địa phương căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của

địa phương mình, trên cơ sở đó đề ra những chủ trương, biện pháp phù hợp để

phát huy được thế mạnh của địa phương mình, đồng thời hạn chế, khắc phục

dần những điểm yếu, những tồn tại hạn chế.

Trong giai đoạn 2001-2010, bên c ạnh nh ững thu ận lợi, Đảng bộ tỉnh

Thái Bình phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức trong việc ổn định

tình hình chính tr ị, xã hội ở khu vực nông thôn sau s ự kiện năm 1997. Đảng

bộ và nhân dân t ỉnh Thái Bình đã từng bước khắc phục khó kh ăn, vừa quán

triệt sâu sắc, sáng tạo các nội dung ch ủ trương, đường lối của Đảng về phát

triển giáo dục và đào tạo, nâng cao ch ất lượng NNL; v ề nông nghi ệp, nông

dân, nông thôn vừa vận dụng sáng tạo linh hoạt những chủ trương đó vào điều

kiện th ực tế của địa ph ương. Trên c ơ sở đó, Đảng bộ tỉnh đề ra nh ững ch ủ

trương, nhi ệm vụ và gi ải pháp thích h ợp nh ằm đẩy mạnh công tác đào tạo

NNL phục vụ phát tri ển kinh tế nông nghi ệp, góp ph ần từng bước đưa nông

nghiệp Thái Bình phát triển theo hướng hiện đại, nâng cao đời sống của người

lao động nông thôn, góp phần xây dựng NTM.

Trên thực tiễn trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2010, vai trò lãnh

đạo của cấp ủy Đảng, quản lý của chính quyền, sự vào cuộc của các Sở, ban,

ngành, đoàn thể đối với lĩnh vực đào tạo NNL đã được quan tâm đúng mức và

có những chủ trương đúng đắn về công tác phát triển NNL trong nông nghiệp,

nông thôn. Để có được những chủ trương, chính sách đúng đắn đối với công

tác đào tạo NNL trước hết Đảng bộ tỉnh phải có nhận thức được đầy đủ và sâu

sắc về ý ngh ĩa của việc đào tạo NNL đáp ứng sự nghiệp phát tri ển KT - XH

của tỉnh, cũng như của toàn xã hội. Đảng bộ tỉnh cũng đã xác định, đây là một

trong nh ững nhi ệm vụ quan tr ọng để th ực hi ện quan điểm, đường lối của

Đảng về CNH, HĐH nông nghi ệp nông thôn. Chính vì v ậy, công tác đào tạo

NNL của tỉnh đã được quán tri ệt một cách sâu s ắc, triệt để đến mọi cán bộ,

đảng viên và quần chúng nhân dân trong tỉnh.

Nội dung này được thể hiện trong quá trình xây dựng các chương trình

công tác trọng tâm của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Bình. Đảng bộ tỉnh

129

đã nhận thức rõ để ổn định tình hình chính trị, xã hội, phát triển kinh tế ở khu

vực nông thôn thì một trong những nội dung quan trọng là phải nâng cao dân

trí, đào tạo NNL, đưa người nông dân từ lối canh tác giản đơn, nhỏ lẻ sang áp

dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, tăng hàm lượng chất sám trong

mỗi sản phẩm hàng hóa, t ừng bước đưa nông nghi ệp của tỉnh sang sản xuất

hàng hóa theo hướng hiện đại. Trong giai đoạn từ 2001-2010, ngoài các Nghị

quyết, chỉ thị của Tỉnh ủy về phát tri ển các lĩnh vực trong nông nghi ệp như

chuyển đổi cơ cấu cây tr ồng, vật nuôi; phát tri ển làng ngh ề; xây dựng cánh

đồng 50 tri ệu đồng; phát tri ển nuôi tr ồng...., Tỉnh ủy đã ban hành các Ngh ị

quyết chuyên đề về đào tạo, phát tri ển NNL nh ư Ngh ị quy ết số 06-NQ/TU

ngày 25/2/2002 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Về phát triển sự nghiệp giáo dục

- đào tạo giai đoạn 2001-2010; Nghị quyết số 13-NQ/TU của Ban Thường vụ

tỉnh ủy về phát triển đào tạo, dạy nghề giai đoạn 2004-2010...

Đồng thời, mô hình liên k ết “4 nhà” đã mang lại những kết quả cao, là

minh chứng cho ch ủ trương của Đảng bộ tỉnh đã đáp ứng đúng nhu cầu của

nhân dân. Để mô hình thu hút được sự tham gia đông đảo của nông dân thì

điều quan trọng nhất của mô hình là phải phù hợp với thực tại, Nhà nước phải

có cơ chế chính sách đảm bảo được quyền của các bên, đặc biệt cơ chế phải

mang tính pháp lý cao và đi vào cuộc sống. Ngoài ra, doanh nghi ệp phải biết

chia sẻ lợi ích với nông dân thì mô hình đó mới có th ể tồn tại và phát tri ển

bền vững được.

Ông Đặng Khiêu cho đây là kinh nghi ệm đầu tiên trong quá trình

lãnh đạo đào tạo NNL cho nông nghi ệp. Mọi chủ trương của Đảng

bộ tỉnh trong đó có ch ủ trương về đào tạo NNL mu ốn đi vào cu ộc

sống, được ng ười dân h ưởng ứng, tham gia đều ph ải xu ất phát t ừ

nhu cầu, nguy ện vọng chính đáng của ng ười dân, ph ục vụ lời ích

của nhân dân [Phụ lục 26].

Để đạt được những thành tựu trên, một trong những nguyên nhân quan trọng

hàng đầu là có sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Thái

130

Bình. Với những chủ trương và chính sách đúng đắn Đảng bộ tỉnh Thái Bình tạo

ra những kết quả tích cực trong công tác đào tạo NNL. Đó cũng là những giá trị

lý luận quan trọng để tiếp tục vận dụng sáng tạo vào điều kiện mới.

4.2.2. Đào tạo nguồn nhân lực phải gắn với định hướng phát tri ển

đúng đắn, đồng thời quyết tâm ch ỉ đạo thực hiện là điều kiện tiên quy ết

để đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp có kết quả

Đây là một trong nh ững kinh nghi ệm quan tr ọng nhất của công tác đào

tạo NNL cho nông nghi ệp tỉnh Thái Bình. Đảng bộ tỉnh Thái Bình trong quá

trình đề ra chủ trương đào tạo NNL cho nông nghiệp luôn xuất phát từ thực tế của

tỉnh là kinh tế thuần nông, tâm lý người nông dân chủ yếu vẫn muốn “ly nông” vì

coi đây là ngh ề “tầm thường”, cho nên ng ười dân rất “ngại” học nghề. Họ coi

những nghề như bác sỹ, luật sư, kỹ sư... mới là những nghề có giá, được xã hội coi

trọng. Để thay đổi nhận thức của người dân, Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã gắn đào

tạo NNL cho nông nghiệp với định hướng phát triển đúng đắn là đáp ứng nhu cầu

chuyển đổi nền kinh tế nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa lớn, nâng cao năng

lực cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp trên thị trường.

Qua quá trình tr ực ti ếp ch ỉ đạo công tác đào tạo NNL cho nông

nghiệp của tỉnh Thái Bình, ông Đặng Khiêu rút ra kinh nghiệm: Các

ngành nghề đào tạo phải sát với nhu cầu sản xuất, nhu cầu sử dụng

lao động trên địa bàn và đáp ứng được yêu cầu phát tri ển kinh tế -

xã hội của địa phương [Phụ lục 26].

Không ch ỉ đề ra ch ủ trương phù hợp với điều kiện KT - XH, Đảng bộ

tỉnh còn luôn bám sát, ch ỉ đạo các ngành ch ức năng th ực hi ện. Rút kinh

nghiệm từ bất ổn chính tr ị những năm trước, Đảng bộ tỉnh luôn ch ỉ đạo thực

hiện chủ trương một cách sát sao nh ất. Các ngành Giáo d ục và Đào tạo, Lao

động - Th ương binh và Xã h ội, Nông nghi ệp và Phát tri ển nông thôn đã có

nhiều bi ện pháp c ụ th ể để từng bước nâng cao s ố lượng và ch ất lượng của

công tác đào tạo NNL nói chung c ủa tỉnh và đào tạo nhân lực phục vụ phát

triển kinh tế nông nghiệp nói riêng.

131

Ông Đặng Khiêu khẳng định: bản thân ngành lao động, thương binh,

xã hội luôn tham m ưu, đề xu ất kịp th ời giúp UBND t ỉnh có nhi ều

giải pháp theo đặc thù riêng của tỉnh nhằm đáp ứng kịp thời cho việc

đào tạo NNL cho nông nghiệp của tỉnh [Phụ lục 26].

Các hình thức đào tạo được thực hiện phong phú, từ chính quy đến thường

xuyên; các chương trình đào tạo ngày càng đáp ứng được nhu cầu của người dân

và yêu cầu của sản xuất chương trình đào tạo ngắn hạn, đào tạo trình độ sơ cấp,

chuyển giao khoa học kỹ thuật, tập nghề, truyền nghề đến các chương trình đào

tạo trung cấp, cao đẳng đáp ứng nhu cầu phong phú của người dân.

Hệ thống cơ sở đào tạo từ cấp tỉnh đến cấp huyện được xây dựng đồng

bộ, có cơ cấu đào tạo các trình độ, ngành ngh ề một cách hợp lý; chu ẩn hóa,

từng bước hiện đại hóa các cơ sở đào tạo, dạy nghề, đa dạng hóa ngành nghề đào

tạo đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của người dân và xã hội. Thực tế

trong 10 năm (2001-2010), hệ thống các cơ sở đào tạo, dạy nghề của Thái Bình

đã từng bước được sắp xếp, xây dựng một cách tương đối đồng bộ, hợp lý. Đây

là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng nhân lực cho nông nghiệp. Các cơ

sở dạy nghề phân bổ tương đối đều khắp đáp ứng được cơ bản nhu cầu học nghề

của người lao động. Các trường trung cấp nghề có nhiệm vụ đào tạo nghề ở trình

độ cao, đáp ứng yêu cầu của các ngành công nghiệp, dịch vụ. Hệ thống các trung

tâm dạy nghề cấp huyện, các cơ sở dạy nghề ngoài công lập đáp ứng nhu cầu đa

dạng về dạy ngh ề ng ắn hạn cho ng ười lao động, đặc bi ệt là các ngh ề nông

nghiệp. Các cơ sở đào tạo, dạy nghề được đầu tư tương đối đồng bộ, đảm bảo

các điều kiện để tổ chức đào tạo. Công tác đào tạo không chỉ thực hiện ở trường,

lớp mà còn được thực hiện ngay tại nơi sản xuất, trên đồng ruộng, gắn với sản

xuất nên đã thu hút được người lao động tham gia.

Ngoài hệ thống các tr ường trên địa bàn th ực hiện công tác đào tạo, các

trạm khuyến nông, khuy ến ng ư của tỉnh cũng th ực hi ện nhi ều ch ương trình

đào tạo, bồi dường, tập huấn, chuyển giao KHCN trong sản xuất nông nghiệp,

là cấu nối giữa người nông dân v ới KHCN. Với hệ thống đồng bộ các cơ sở

đào tạo, dạy nghề trên địa bàn tỉnh, trong 10 năm lực lượng lao động qua đào

132

tạo và đào tạo nghề của tỉnh đã tăng lên rõ rệt bước đầu đáp ứng được yêu cầu

phát triển KT - XH của tỉnh.

Không chỉ mở rộng hệ thống đào tạo mà Đảng bộ tỉnh còn chỉ đạo hoàn

thiện nội dung ch ương trình dạy nghề. Nội dung đào tạo NNL ph ải gắn với

nhu cầu thực tiễn sản xuất, gắn lý thuyết với thực hành, đáp ứng yêu cầu của

doanh nghiệp và ng ười học, của xã hội, từng bước tiếp cận với trình độ của

khu vực và th ế giới. Vì vậy, nội dung ngh ề đào tạo đã được các nhà tr ường,

các trung tâm, các cơ sở dạy nghề đặc biệt coi trọng. Ngay từ khâu đầu tiên là

tuyển sinh đến đào tạo, đều được thực hiện nghiêm túc nhưng linh hoạt, năng

động nhằm tạo ra cơ hội học tập cho tập cho tất cả các đối tượng, đặc biệt là

người nông dân. Đào tạo NNL theo địa chỉ, theo đơn đặt hàng là bi ện pháp

năng động, sáng t ạo trong công tác đào tạo NNL c ủa tỉnh. Theo hình th ức

này, tất cả các hình th ức đào tạo từ chính quy đến đào tạo thường xuyên, đào

tạo ngắn hạn, theo các bậc kỹ năng nghề được áp dụng. Hai năm một lần, Sở

Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì tổ chức thi giáo viên dạy nghề giỏi,

là hình thức tiêu biểu tuyên truyền và thực hiện đào tạo NNL.

Trong quá trình chỉ đạo thực hiện Đảng bộ tỉnh xác định công tác đào tạo

NNL nói chung và đào tạo NNL cho nông nghiệp nói riêng là trách nhiệm của

các ngành, các c ấp, của cả hệ thống chính tr ị và của chính ng ười lao động.

Thực tiễn công tác đào tạo NNL từ năm 2001 đến năm 2010 cho th ấy, công

tác đào tạo nói chung và công tác đào tạo nghề cho người lao động nói riêng,

muốn đạt được kết quả cao, cần có nhiều biện pháp đồng bộ và sự nỗ lực phấn

đấu của toàn xã h ội. Từ nh ận th ức đúng đắn đó, yêu c ầu đặt ra ph ải tăng

cường vai trò lãnh đạo của Đảng các cấp, sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban,

ngành, đặc biệt là cơ quan tham m ưu giúp UBND t ỉnh quản lý nhà n ước về

GD - ĐT nghề nhằm phát huy s ức mạnh tổng hợp đem lại kết quả cao trong

công tác đào tạo nghề cho người lao động.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và sự chỉ đạo của UBND tỉnh các tổ chức

quần chúng như Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến

133

binh, Đoàn Thanh niên...đã phát huy tốt vai trò xung kích trong quá trình phát

triển KT - XH, trong đó chú trọng công tác đào tạo nghề cho người lao động.

Các đoàn thể đã phát huy vai trò trong vi ệc vận động người dân tham gia các

chương trình, dự án phát tri ển KT - XH c ủa địa phương, triển khai nhiều lớp

đào tạo nghề, bồi dưỡng kiến thức về việc làm. Đó là môi trường thuận lợi để

người dân bồi dưỡng kiến thức và lựa chọn nghề nghiệp cho bản thân mình.

Thực tiễn cho thấy, ở địa phương nào có sự quan tâm của cấp ủy, chính

quyền, phân công trách nhi ệm rõ ràng thì công tác đào tạo, dạy ngh ề được

triển khai m ạnh mẽ và đạt ch ất lượng, hi ệu qu ả cao. Ng ược lại, nếu địa

phương nào cấp ủy, chính quy ền địa phương không sâu sát, ph ối hợp không

chặt ch ẽ thì k ết qu ả đào tạo ngh ề cho ng ười lao động nơi đó bị hạn ch ế và

kém hiệu quả. Bài học to lớn từ sự kiện bất ổn chính trị năm 1997 giúp Đảng

bộ tỉnh Thái Bình thêm quy ết tâm bám sát th ực ti ễn, nắm bắt nguy ện vọng

người nông dân trong quá trình ch ỉ đạo thực hiện chủ trương. Nhưng như thế

cũng không có nghĩa là mọi yêu cầu của người dân phải được giải quyết. Sau

dự án xây d ựng vùng ch ăn nuôi tập trung thí điểm với mục đích đưa ng ười

nông dân lên sản xuất lớn thực hiện không thành công đảng bộ Thái Bình rút

ra thêm bài h ọc thực tế về đào tạo và sử dụng NNL cho nông nghiêp. Đó là

không chỉ cần có chủ trương đúng đắn mà quá trình chỉ đạo thực hiện phải sát

sao, kiên quy ết, tri ệt để không theo c ảm tính và kh ắc ph ục tư tưởng "quen

biết", "dòng họ" của cán bộ thực hiện và người nông dân.

Chị Bùi Th ị Hiền cũng cho bi ết thêm, mu ốn vay vốn nhưng cán bộ Hội ph ụ nữ ch ỉ cho nh ững ng ười quen vay, nên đến bây gi ờ vẫn chưa đến lượt mình [Phụ lục 26].

Có được sự thành công c ủa mô hình liên k ết 4 nhà là nh ờ công s ức

không nh ỏ của cán b ộ thôn. Xu ất phát t ừ kế ho ạch của xã, cán b ộ thôn đã

tuyên truy ền, vận động các h ộ nông dân đăng ký gi ống trên h ệ th ống phát

thanh, tổ chức các bu ổi hội họp và tới tận các hộ để vận động, nói rõ nh ững

lợi ích người dân được hưởng. Do đó, chỉ sau khi xã triển khai vài ngày, nhân

134

dân đã đến lấy gi ống về gieo c ấy đủ di ện tích được giao. Đặc bi ệt, cán b ộ

trong thôn còn tiên phong, gương mẫu thực hiện nên đã tạo được niềm tin của

nhân dân với xã và doanh nghiệp.

Để công tác đào tạo, dạy nghề đạt chất lượng hiệu quả cao, đáp ứng yêu

cầu NNL cao trong tỉnh, yêu cầu đặt ra hàng đầu là phải có sự đoàn kết thống

nhất cao ngay trong nội bộ đảng các cấp; phát huy vai trò trách nhiệm của toàn

xã hội; sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành, đặc biệt các cơ sở đào tạo nghề

gắn mối quan hệ mật thiết với UBND các xã, ph ường, thị trấn, các tổ chức xã

hội để đào tạo theo nhu cầu, cho người sản xuất.

Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính tr ị, nhất là phát huy

sức mạnh của toàn xã h ội đối với công tác đào NNL đó là nhân t ố bảo đảm

hiện thực có kết quả chủ trương của Đảng và Nhà n ước, bảo đảm sự ổn định

và phát tri ển KT - XH đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH nông nghi ệp, nông thôn

của tỉnh Thái Bình.

4.2.3. Chú trọng khai thác các nguồn lực tại chỗ, phát huy thế mạnh

của tỉnh, lựa chọn trọng tâm, trọng điểm và có nh ững bước đi, giải pháp

thích hợp trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp

Trong nh ững năm đầu th ế kỷ XXI, nông nghi ệp vẫn là ngành s ản xu ất

chính trong cả nước nói chung và của tỉnh Thái Bình nói riêng. V ới đặc điểm

kinh tế nông nghiệp thuần túy, không có điều kiện phát triển kinh tế biển như

Hải Phòng, Qu ảng Ninh; các khu công nghi ệp như Hưng Yên, Hà Nam, H ải

Dương; Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH nông

nghiệp, nông thôn, chuy ển mạnh sản xu ất nông nghi ệp sang kinh t ế th ị

trường; phát triển mạnh mẽ nghề và làng nghề, chú trọng nâng cao chất lượng

sản phẩm tạo sức cạnh tranh trên th ị trường; xác định đào tạo nghề, chuyển

giao ti ến bộ KHCN cho ng ười lao động là một trong nh ững giải pháp chi ến

lược. Mục đích nhằm chuyển một bộ ph ận quan tr ọng lao động nông nghi ệp,

nông thôn sang lĩnh vực lao động công nghiệp, dịch vụ; đối với lực lượng lao

động tiếp tục làm nông nghiệp thì đào tạo họ theo hướng sản xuất nông nghiệp

135

hiện đại nhằm tạo việc làm từng bước nâng cao chất lượng NNL, cải thiện đời

sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Để thực hiện tốt mục tiêu đó, Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã chủ động, tích

cực đưa ra chủ trương mở rộng mạng lưới cơ sở đào tạo, dạy nghề từ cấp tỉnh

đến cấp huyện, thị, đặc biệt các trung tâm đào tạo nghề và trung tâm giáo dục

thường xuyên, tr ạm khuyến nông, khuy ến ng ư các huy ện vì xác định đây là

cơ sở trực tiếp, quan trọng trong công tác đào tạo, chuyển giao khoa học - kỹ

thuật cho nông dân, người lao động ở khu vực nông thôn.

Theo ông Đặng Khiêu, khác nhau cơ bản giữa tỉnh Thái Bình với các tỉnh lân cận là: Thái Bình là tỉnh thuần nông, nên công tác dạy nghề ở Thái Bình chủ yếu phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất lao động trên cùng một diện tích canh tác, giảm chi phí, tăng thu nh ập cho người dân; ph ục vụ chuyển dịch cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, hình thành các vùng chuyên cây, chuyên con [Phụ lục 26] Ông Nguyễn Minh Th ảo cũng đánh giá nh ư th ế. Theo ông, sự khác

nhau cơ bản trong công tác đào tạo NNL cho nông nghi ệp Thái Bình

với các tỉnh lân cận là ở nhu cầu chuyển đổi kinh tế của các tỉnh: Hải

Phòng, Nam Định, Hà Nam, Nam Định, tốc độ phát triển các khu công

nghiệp lớn hơn Thái Bình, vì v ậy, yêu cầu lao động công nghi ệp có

nghề nhi ều hơn Thái Bình. Còn Thái Bình đào tạo NNL cho nông

nghiệp phải theo hướng vào phục vụ chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông

nghiệp của tỉnh là từ kinh tế sản xuất nhỏ lẻ sang sang sản xuất hàng hóa

lớn, sử dụng KHCN hiện đại, năng suất lao động cao [Phụ lục 26].

Có thể thấy, trong đào tạo lực lượng trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp,

Đảng bộ tỉnh đặc biệt chú trọng những ngành nghề, lĩnh vực là thế mạnh của tỉnh

như: trồng lúa chất lượng cao, nuôi trồng thủy, hải sản. Các ngành nghề đào tạo

gắn kết chặt chẽ với quá trình sản xuất, vừa phục vụ sản xuất nông nghiệp hiện

đại, vừa phát triển các ngành nghề truyền thống của địa phương, đồng thời chú

136

trọng việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong khu vực nông thôn. Việc chuyển dịch

cơ cấu kinh tế không chỉ ở việc giảm tỷ trọng nông nghiệp mà ngay trong bản thân

ngành nông nghiệp cũng có sự chuyển dịch theo hướng tăng các sản phẩm có giá

trị kinh tế cao, các sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường để chuyển dịch cơ cấu

cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp.

Đảng bộ tỉnh còn chú ý đến đặc thù riêng c ủa từng huyện trong tỉnh, từ

đó đề ra ch ủ tr ương phát tri ển KT - XH c ủa từng huy ện, qua đó th ực hi ện

công tác đào tạo NNL cho nông nghi ệp. Mỗi huyện phải nhận thức rõ được

thế mạnh của địa phương mình. Ngoài ch ủ lực kinh tế nông nghi ệp còn đẩy

mạnh phát tri ển các ngành ngh ề nhằm thu hút và t ạo việc làm cho lao động

nông thôn. T ừ đó, có k ế ho ạch xây d ựng và phát tri ển NNL. Trong nh ững

năm 2001 - 2010 các huy ện của tỉnh đã làm khá t ốt việc tận dụng thế mạnh

địa phương để phát triển KT - XH.

Huyện Vũ Th ư có chính sách cho thuê m ặt bằng sản xu ất, hỗ tr ợ vay

vốn, đào tạo ngh ề trong các d ự án tr ồng dâu, nuôi t ằm, dệt đũi, dự án phát

triển nghề thêu.

Huyện Kiến Xương chủ trương duy trì phát triển các nghề truyền thống như

trạm bạc, mây tre đan, đồng th ời du nh ập những ngh ề mới nh ư đệm ghế cói

nhằm xóa số xã tr ắng ngh ề trong huy ện. Huyện cũng có chính sách khuy ến

khích với các ngh ệ nhân lao động sáng tạo, nghệ nhân có tay ngh ề vàng; từng

bước bồi dưỡng đội ngũ kỹ thuật tinh xảo nhằm dạy nghề và truyền nghề.

Huyện Thái Th ụy là một trong nh ững huyện chủ động và có chính sách

cụ thể khuyến khích ngh ề truyền thống và du nh ập nghề mới như nghề thêu,

nghề đệm chiếu cói, ngh ề ươm tơ dệt đũi, làm lông mi gi ả... Đảng bộ huyện

chỉ đạo 2 hợp tác xã chi ếu cói Diêm Điền và hợp tác xã Nguy ễn Đức Cảnh

chuyển hướng sang sản xuất các sản phẩm thêu, dệt thảm, mây tre đan... Qua

đó công tác đào tạo NNL cho nông nghi ệp, giải quyết việc làm cho nông dân

được thực hiện khá tốt.

137

Huyện Qu ỳnh Phụ tập trung theo 3 h ướng chính là: phát tri ển sản xuất

vật liệu xây dựng; phát tri ển mạnh ngh ề dệt chi ếu, đan cói; khôi ph ục ngh ề

truyền thống như đúc đồng, chế biến nông sản, mây tre...

Toàn tỉnh ch ỉ còn huy ện Hưng Hà là huy ện thu ần nông, xa trung tâm

thành phố, lại không có ngu ồn tài nguyên nào, cơ hội giải quyết việc làm cho

người lao động còn g ặp nhi ều khó kh ăn. Tuy nhiên, huy ện cũng luôn ch ủ

trương xóa xã tr ắng ngh ề, hướng dẫn xã Phúc Khánh và xã V ăn Cẩm xây

dựng dự án du nh ập nghề dệt lưới; xây dựng dự án phát tri ển nghề dệt Thái

Phương trở thành trung tâm của vùng dệt.

Mặt khác, để nâng cao ch ất lượng NNL, ph ải gắn đào tạo với việc làm,

trong đó, một trong nh ững giải pháp quan tr ọng là ph ải thực hiện tốt sự liên

kết, phối hợp chặt chẽ giữa các trường, các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh;

gắn đào tạo với th ực ti ễn sản xu ất nông nghi ệp theo h ướng hi ện đại. Đồng

thời phải có kế hoạch và biện pháp thật cụ thể để nâng cao chất lượng đội ngũ

giáo viên, gi ảng viên d ạy ngh ề ph ải vừa là th ầy, vừa là th ợ; th ường xuyên

quan tâm, chăm lo đến đội ngũ giáo viên, có chính sách ưu đãi phù hợp nhằm

thu hút đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn cao, tinh th ần trách nhi ệm

trong công vi ệc. Bổ sung trang thi ết bị tiên ti ến, hi ện đại, đáp ứng yêu c ầu

trong giảng dạy và học tập. Đổi mới phương pháp đào tạo và dạy nghề theo

phương thức trực quan, thực hành nhằm làm cho người học dễ hiểu, dễ nhớ để

nâng cao chất lượng sau đào tạo. Ưu tiên mở các lớp đào tạo gắn với việc làm

phục vụ tại chỗ; các lớp phù hợp với trình độ văn hóa, phong tục tập quán của

từng địa phương. Từng bước xã hội hóa hoạt động GD - ĐT nghề để phát huy

tối đa nguồn lực trong nhân dân, tổ chức nhiều hoạt động bổ trợ như: tổ chức

sản xuất, tổ chức các phong trào b ề nổi..., tranh thủ sự hỗ trợ của các ngành,

các nhà doanh nghi ệp. Quan điểm nh ất quán c ủa Đảng bộ tỉnh Thái Bình

trong giai đoạn này là thực hiện tốt công tác đào tạo NNL sẽ bảo đảm đáp ứng

yêu cầu đội ng ũ lao động có tay ngh ề, nâng cao ch ất lượng ngu ồn lực, sức

138

cạnh tranh về lực lượng lao động nhằm phục vụ sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh

CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của tỉnh.

Quá trình Đảng bộ tỉnh lãnh đạo th ực hi ện công tác đào tạo NNL cho

nông nghiệp, yêu cầu đặt ra là ph ải bảo đảm chủ trương, chính sách phù h ợp

với điều kiện của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. T ừng bước nâng cao

chất lượng đời sống nhân dân, nâng cao ngu ồn lực, phát triển con người toàn

diện, từng bước thu hẹp kho ảng cách giàu nghèo trong nhân dân, gi ải quyết

tốt vấn đề văn hóa xã hội bức xúc, hạn chế những mặt tiêu cực phát sinh trong

cơ chế thị trường, kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội

và bảo vệ môi trường.

4.2.4. Đào tạo, phát tri ển nguồn nhân lực cho nông nghi ệp gắn liền

mật thi ết và thúc đẩy công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa nông nghi ệp, nông

thôn và xây dựng nông thôn mới

Từ sau Hội ngh ị lần thứ bảy Ban Ch ấp hành Trung ương Đảng khoá X

(2008) công tác đào tạo NNL cho nông nghiệp Thái Bình còn thực hiện nhiệm

vụ mới, đó là: đào tạo NNL cho nông nghiệp đáp ứng nhu cầu xây dựng NTM.

Vì vậy, đào tạo NNL cho nông nghiệp coi chuyển giao, ứng dụng công nghệ, là

yếu tố quan trọng hàng đầu nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH.

Để làm được điều này, Đảng bộ tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ban, ngành

nghiêm túc tuyên truy ền, quán tri ệt sâu r ộng bằng nhi ều hình th ức đến mọi

cán bộ, đảng viên và nhân dân n ắm vững nghị quyết của Đảng về quan điểm,

mục tiêu, giải pháp, nhiệm vụ xây dựng NTM. Nhiệm vụ KT - XH trong th ời

gian tới được Đảng bộ tỉnh xác định trong văn kiện đại hội Đảng bộ lần thứ

XVIII (2010) là: phát tri ển kinh tế nông nghi ệp là then ch ốt, xây dựng NTM

là căn bản. Trong công vi ệc này, người nông dân đóng vai trò chính. Vì v ậy,

Đảng bộ luôn coi trong việc hướng dẫn, quán triệt đường lối phát triển kinh tế

và đào tạo nhân lực tới mỗi đảng viên và nhân dân tạo sự chuyển biến sâu sắc

trong cán b ộ, đảng viên và nhân dân, làm cho m ỗi ng ười dân hi ểu rõ ch ủ

trương, chính sách của Đảng về đào tạo NNL nói chung và đào tạo NNL phục

139

vụ phát tri ển kinh tế nông nghi ệp gắn với xây dựng NTM. Ng ười nông dân

vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của quá trình phát tri ển kinh tế nông nghiệp,

xây dựng NTM. Ng ười nông dân ph ải th ực sự hi ểu, th ực sự th ấy rõ vì sao

phải xây dựng NTM; vai trò, trách nhi ệm và quyền lợi của mình như thế nào.

Bài học kinh nghi ệm về mất ổn định chính tr ị nh ững năm 1996-1998 được

Đảng bộ tỉnh nghiêm túc quán tri ệt và th ực hiện trong vi ệc đào tạo NNL xây

dựng NTM. Th ực hiện dân ch ủ từ khâu tri ển khai ch ủ trương của Đảng đến

công khai, minh bạch quá trình thực hiện về thiết kế, dự toán, các khoản đóng

góp của nhân dân. Ở các xã, làng, th ực hiện nghiêm túc ch ủ trương dân biết,

dân bàn, dân làm, dân kiểm tra nhằm bảo đảm nghiêm túc quy chế dân chủ cơ

sở và huy động sự đóng góp trí tuệ, sức lực của nhân dân.

Đồng thời, phải làm cho mỗi người dân từng bước thay đổi nhận thức về

nghề nghiệp, việc làm. Dạy nghề, chuyển giao KHCN gắn với việc phát triển

sản xuất. Nhiều địa phương đã xây dựng phương án liên kết vùng, phương án

phát triển sản xuất quy mô vừa và nhỏ theo hình th ức liên kết giữa hộ dân và

các doanh nghi ệp, nông dân, đem lại hi ệu qu ả kinh t ế cao h ơn hẳn so v ới

trước đây. Đào tạo nhân lực gắn với phát triển kinh tế và xây dựng NTM được

thực hiện cùng với việc xây dựng các mô hình c ụ thể như mô hình s ản xuất,

mô hình chuyển đổi cây trồng vật nuôi, mô hình ch ăn nuôi năng suất cao, mô

hình cánh đồng 50 tri ệu đồng. Sản xu ất nông nghi ệp đã hình thành nh ững

vùng sản xu ất hàng hóa t ập trung v ới gi ống cây tr ồng năng su ất cao được

nghiên cứu và áp d ụng vào sản xuất. Hiệu quả thực tế giúp ng ười nông dân

nhận thức rõ đào tạo NNL không ch ỉ là việc tạo điều kiện tốt nhất để con em

họ được học tập mà ngay chính b ản thân ng ười lao động, ng ười nông dân

cũng phải liên tục tham gia vào quá trình đào tạo và tự đào tạo để theo kịp sự

phát triển của KHCN, của thị trường.

Từ đó, nhận thức về vị trí, vai trò c ủa đào tạo NNL trong quá trình xây

dựng NTM của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong t ỉnh đã có chuy ển biến

mạnh mẽ. Cùng với sự phát tri ển trong nh ận thức về GD - ĐT, công tác đào

tạo NNL gi ờ đây không còn là chi ến lược nằm im lặng trong trong v ăn kiện

của Đảng bộ nữa, cũng không ph ải là trách nhi ệm của riêng ban ngành nào

140

nữa, mà trở thành công việc chung của toàn xã hội, làm cho hình thức đào tạo

trở nên phong phú, đa dạng, hiệu quả cao.

Mọi người dân có nhu cầu đào tạo đều được tuyên truyền tư vấn để hiểu

về quyền lợi và nghĩa vụ của mình khi tham gia h ọc nghề. Các chính sách hỗ

trợ học ngh ề mi ễn phí theo Quy ết định 81/2005/QĐ-TTg, chính sách h ỗ trợ

lao động nông thôn học nghề theo Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn

của Quyết định số 1956/QĐ-TTg được cụ thể hóa thành nh ững chương trình,

đề án cụ thể của tỉnh và tuyên truy ền đến tận người dân, đặc biệt là các đối

tượng được ưu tiên như người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo,

hộ cận nghèo, hộ bị thu hồi đất canh tác, ng ười khuyết tật, đã tạo ra hiệu ứng

xã hội tốt, khích lệ người nông dân hăng hái tham gia.

Đời sống kinh tế phát triển là điều kiện để người nông dân quan tâm đến

đời sống xã hội của mình hơn. Chất lượng NNL vì v ậy cũng phát tri ển vượt

lên so với thời kỳ trước. Cùng với kết cấu hạ tầng NTM được xây dựng làm

cho bộ mặt nông thôn Thái Bình khang trang, hi ện đại, phong trào xây d ựng

xã, làng, thôn văn hóa phát tri ển sôi nổi, rộng khắp. Đến năm 2010, 100% số

thôn có nhân viên y t ế, 80% dân c ư nông thôn s ử dụng nước hợp vệ sinh,

khoảng 60% nông dân tham gia bảo hiểm y tế [164, tr.55].

Xây dựng NTM là nhi ệm vụ vừa mang tính cấp thiết, vừa mang tính lâu

dài và mang tính nhân v ăn sâu s ắc. Để có được NTM thì không th ể thi ếu

những ng ười nông dân ti ến bộ, dám ngh ĩ, dám làm, m ạnh dạn với KHCN,

nhạy bén v ới th ị tr ường. Do đó, xây dựng NTM ph ải gắn với đào tạo NNL

cho nông nghiệp. Nhiệm vụ này đòi hỏi trách nhiệm, sự tham gia của Đảng bộ

và nhân dân toàn tỉnh.

Tiểu kết chương 4

Trong giai đoạn 2001 - 2010, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình,

KT - XH của tỉnh đã vượt qua thời kỳ khó khăn về chính trị, từng bước ổn định

và phát triển, đạt nhiều thành tựu. Đó là thành quả của Đảng bộ tỉnh Thái Bình

141

quán triệt đúng đắn và vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng đề ra chủ trương

phù hợp với đặc thù của địa phương nhằm thúc đẩy KT - XH phát triển.

Từ thực tiễn qua 10 năm (2001-2010), có thể thấy điểm nổi bật trong chủ

trương của Đảng bộ tỉnh Thái Bình là ưu tiên đào tạo, phát triển NNL đáp ứng

yêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH. Trong đó, Đảng bộ tỉnh chú trọng đến vấn đề

đào tạo NNL cho nông nghi ệp, nh ằm tận dụng và phát huy được th ế mạnh

kinh tế nông nghi ệp của địa phương. Quan điểm về chú tr ọng đào tạo NNL

cho nông nghiệp được thực sự đẩy mạnh từ năm 2004, với sự ra đời của Nghị

quyết số 13-NQ/TU Về đẩy mạnh đào tạo nghề cho người nông dân. Đến năm

2010, công tác này đã đạt những thành tựu to lớn, tác động tích cực đến đời

sống KT - XH của tỉnh.

Trong quá trình lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện, bên cạnh những ưu điểm,

Đảng bộ tỉnh Thái Bình vẫn còn những hạn chế về mạng lưới cơ sở dạy nghề,

đội ngũ giáo viên dạy nghề, về việc giám sát, đánh giá các hoạt động đào tạo,

dạy nghề.

Những ưu điểm, hạn chế đó để lại cho Đảng bộ tỉnh những kinh nghiệm

quý nhằm tiếp tục hoàn thi ện chủ trương đào tạo NNL cho nông nghi ệp đáp

ứng yêu c ầu CNH, H ĐH nông nghi ệp, nông thôn góp ph ần xây d ựng tỉnh

Thái Bình ngày càng giàu đẹp.

142

KẾT LUẬN

1. Nh ững năm đầu th ế kỷ XXI, tr ước nh ững bi ến đổi to l ớn của tình

hình thế giới, xu thế hợp tác, hội nhập, đa phương hóa đang trở thành xu th ế

chủ đạo trong đời sống kinh tế thế giới. Sự phát triển mạnh mẽ của KHCN và

việc ứng dụng vào th ực tiễn sản xuất đã góp ph ần tạo ra năng suất lao động

cao trong các ngành, lĩnh vực.

Trong xu th ế đó, Việt Nam đứng trước những cơ hội lớn để phát tri ển

kinh tế, thu h ẹp kho ảng cách v ới các n ước trong khu v ực và th ế giới; đồng

thời, cũng đứng trước những thách th ức vô cùng to l ớn nếu không tận dụng

được những cơ hội, bắt kịp xu thế của thời đại. Với những thành tựu bước đầu

sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra

chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, nhằm phấn đấu sớm đưa nước ta

cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Để thực hiện mục tiêu trên, v ấn đề đào tạo NNL đáp ứng yêu cầu phát

triển được coi là nhân t ố quyết định. Trong đó, đào tạo NNL ph ục vụ CNH,

HĐH nông nghi ệp, nông thôn là v ấn đề được ưu tiên hàng đầu. Ngay từ đầu

những năm 2000, Đảng đã xác định: CNH, HĐH nông nghi ệp, nông thôn là

một trong nh ững nhi ệm vụ quan tr ọng hàng đầu của CNH, H ĐH đất nước.

Phát triển công nghi ệp, dịch vụ phải gắn bó ch ặt chẽ, hỗ trợ đắc lực và ph ục

vụ có hiệu quả cho CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; ưu tiên phát triển lực

lượng sản xuất, chú tr ọng phát huy ngu ồn lực con ng ười, ứng dụng rộng rãi

thành tựu KHCN; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy

lợi thế của từng vùng, gắn với thị trường để sản xuất hàng hóa uy mô l ớn với

chất lượng và hiệu quả cao… phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững.

2. Thái Bình là m ột tỉnh thuộc ĐBSH và điều kiện tự nhiên thu ận lợi

cho việc phát triển một nền nông nghiệp toàn diện. Là một tỉnh kinh tế thuần

nông, một trong những thuận lợi to lớn của nông nghiệp Thái Bình là có NNL

đông đảo. NNL trong nông nghiệp Thái Bình từ lịch sử đến hiện tại luôn đồng

143

lòng th ực hi ện ch ủ tr ương, đường lối cách m ạng của Đảng. Tuy nhiên, v ới

đặc điểm kinh tế chủ yếu là nông nghi ệp, lực lượng chủ yếu là nông dân, đặc

điểm xã h ội ch ủ yếu là nông thôn, kinh t ế Thái Bình ch ủ yếu vẫn là nông

nghiệp, lực lượng lao động phần lớn là lao động thủ công ch ưa qua đào tạo.

Vì vậy, đào tạo NNL này để họ góp phần vào thành công của sự nghiệp CNH,

HĐH nông nghiệp, nông thôn là vô cùng cần thiết.

Căn cứ vào tình hình th ực tế của tỉnh, vận dụng sáng t ạo đường lối

CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, phát tri ển NNL của Đảng, Đảng bộ tỉnh

Thái Bình đã đề ra ch ủ trương và lãnh đạo thực hiện công tác đào tạo NNL

cho nông nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH, xây dựng NTM của địa

phương. Quá trình th ực hi ện ch ủ tr ương đào tạo NNL cho nông nghi ệp của

tỉnh đã mang lại những kết quả nhất định: Từng bước nâng cao nhận thức cho

Đảng bộ, chính quyền các cấp và toàn xã hội về vai trò và tầm quan trọng của

việc phát triển NNL; huy động được sức mạnh của cả hệ thống chính trị, của các

tổ chức, cá nhân và các nguồn lực khác cho công tác này. Quá trình thực hiện là

một quá trình vừa làm vừa tự hoàn thiện, dần nâng cao nhận thức, phương pháp

tổ chức thực hiện, mục tiêu của của công tác đào tạo, phát triển NNL.

3. Trong giai đoạn từ 2001 đến 2005, công tác đào tạo NNL được thực

hiện theo tinh th ần của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII và các

Nghị quyết chuyên đề của tỉnh, đặc biệt là Nghị quyết số 13-NQ/TU của Ban

Thường vụ Tỉnh ủy về việc phát triển đào tạo, dạy nghề giai đoạn 2004-2010

với các đề án và chính sách được UBND tỉnh ban hành.

Giai đoạn 2006 - 2010 công tác đào tạo, phát tri ển NNL cho nông

nghiệp của tỉnh được chỉ đạo phát tri ển một cách toàn di ện từ số lượng đến

từng bước nâng cao chất lượng nhằm thực hiện nhiệm vụ phát triển toàn diện

nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH, chuyển mạnh nông

nghiệp sang sản xuất hàng hóa. Thông qua các chương trình và Nghị quyết của

Tỉnh ủy như: dạy nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số 81/2005/QĐ-

TTg; Nghị quyết về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TU của Ban

144

Thường vụ Tỉnh ủy về việc phát triển đào tạo, dạy nghề giai đoạn 2004-2010;

Chương trình hành động của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn,

NNL trong nông nghiệp, nông thôn của Thái Bình đã từng bước đáp ứng yêu cầu

của sản xuất và nhu cầu của xã hội.

Tuy nhiên, so sánh 2 giai đoạn 2001-2005 với giai đoạn 2006-2010 có

thể th ấy rõ ở giai đoạn 2001-2005, công tác đào tạo NNL cho nông nghi ệp

của tỉnh Thái Bình ch ưa th ực sự phát tri ển mạnh mẽ so v ới nh ận th ức của

Tỉnh ủy. Chỉ từ sau Nghị quyết số 13-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về

việc phát triển đào tạo, dạy nghề giai đoạn 2004-2010 công tác đào tạo NNL

nói chung và đào tạo NNL cho nông nghiệp nói riêng mới bước vào giai đoạn

đẩy mạnh thực hiện. Những kết quả đạt được trong giai đoạn 2006-2010 là cơ

sở để Tỉnh ủy Thái Bình chỉ đạo tiếp tục xây dựng Đề án dạy nghề cho lao động

nông thôn giai đoạn 2010 - 2020, và Quy ho ạch hệ thống các cơ sở dạy nghề

tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010-2020,

4. Qua 10 năm chỉ đạo thực hiện công tác đào tạo NNL cho nông nghiệp,

tỉnh Thái Bình đã hình thành được hệ thống cơ sở đào tạo và hệ thống quản lý,

hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển đào tạo nhân lực. Cùng với nâng cao nhận

thức về công tác này cho toàn hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân, đây là

một trong những thành công cơ bản, là cơ sở để Đảng bộ tỉnh Thái Bình tiếp tục

thực hiện đào tạo NNL cho nông nghiệp những giai đoạn tiếp theo.

Mặc dù xu ất phát điểm thấp, điều ki ện KT - XH còn nhi ều khó kh ăn

nhưng với đường lối đúng đắn, sáng tạo cùng sự nỗ lực, khắc phục mọi khó

khăn, quá trình th ực hiện chủ trương đào tạo và phát tri ển NNL của Đảng bộ

tỉnh đã mang lại những chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng cho

NNL của tỉnh. Số lao động qua đào tạo, số lao động có nghề năm sau cao hơn

năm trước, đặc biệt là giai đoạn 2006-2010, bình quân hằng năm đào tạo từ 25

đến 30 ngàn lao động, trong đó phần lớn là lao động nông thôn. Thành công

đó đã góp ph ần quan tr ọng cho sự phát tri ển KT - XH, t ừng bước thực hiện

CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và xây dựng NTM của tỉnh.

145

5. Bên c ạnh nh ững thành công, quá trình lãnh đạo công tác đào tạo

NNL cho nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Thái Bình còn có những hạn chế như

mạng lưới cơ sở đào tạo, dạy nghề của tỉnh mặc dù tăng nhưng phân bố không

đồng đều. Đến năm 2010, Thái Bình là tỉnh duy nhất của vùng ĐBSH chưa có

trường cao đẳng ngh ề. Năng lực của các c ơ sở đào tạo trong t ỉnh còn ch ưa

đáp ứng được nhu cầu nhân lực cho phát tri ển KT - XH, nh ất là ph ục vụ sản

xuất nông nghi ệp công ngh ệ cao, chuy ển đổi nghề ở những khu vực mất đất

sản xu ất; cơ cấu ngành ngh ề và c ơ cấu trình độ đào tạo còn ch ưa hợp lý.

Những hạn chế này đã được Tỉnh ủy nhận thức và từng bước khắc phục trong

giai đoạn sau khi th ực hiện chủ trương của Đảng về nông nghi ệp, nông dân

nông thôn và các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng NTM, Đề

án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020.

6. Th ực ti ễn lãnh đạo công tác đào tạo NNL cho nông nghi ệp từ năm

2001 đến năm 2010 của Đảng bộ tỉnh Thái Bình có th ể đúc kết được một số

kinh nghi ệm: Nắm vững quan điểm, đường lối của Trung ương Đảng, đồng

thời vận dụng sáng tạo, phù hợp với đặc điểm truyền thống của địa phương để

hoạch định chủ trương và chỉ đạo về đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp

có hi ệu qu ả; Ch ủ tr ương đúng đắn gắn li ền quy ết tâm ch ỉ đạo th ực hi ện là

điều kiện tiên quy ết để đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghi ệp có kết quả;

Trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực cần chú trọng khai thác các nguồn lực

tại ch ỗ, phát huy th ế mạnh của tỉnh, lựa ch ọn tr ọng tâm, tr ọng điểm và có

những bước đi và giải pháp thích hợp; Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho

nông nghi ệp gắn li ền mật thi ết và thúc đẩy công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa

nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới.

Những kết quả đã đạt được, những kinh nghi ệm rút ra t ừ quá trình lãnh

đạo công tác đào tạo NNL cho nông nghiệp trong thời kỳ 2001 - 2010 là cơ sở

và tiền đề để Đảng bộ tỉnh Thái Bình thực hiện thành công công tác phát triển

NNL cho nông nghi ệp, ph ục vụ cho th ời kỳ đẩy mạnh CNH, H ĐH nông

nghiệp, nông thôn và xây dựng NTM trong giai đoạn tiếp theo.

146

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1. Phạm Thị Kim Lan (2012), “T ăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong

công tác dạy nghề cho lao động nông thôn”, Tạp chí Lao động và xã

hội, (5), tr.38- 40.

2. Phạm Thị Kim Lan (2012), “Tìm hiểu đào tạo nghề cho lao động nông thôn

sau 3 n ăm th ực hi ện Ngh ị quy ết Hội ngh ị lần th ứ 7 khóa X c ủa

Đảng”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (6), tr.83- 87.

3. Phạm Thị Kim Lan (2012), “Đào tạo nghề cho người lao động sản xuất trực

tiếp trong giai đoạn tới”, Tạp chí Cộng sản (Chuyên đề cơ sở), (7),

tr.32- 36.

4. Phạm Thị Kim Lan (2014), “Hiệu quả từ chính sách ưu đãi đối với nghề cá

theo Đề án 1956”, Tạp chí Lao động và xã hội, (9), tr.39- 41.

5. Phạm Thị Kim Lan (2015), “Công tác dạy nghề cho lao động nông thôn - chủ

trương và một số kết quả”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (6), tr.98- 102.

6. Ph ạm Thị Kim Lan (2015), “Trang b ị kỹ năng ngh ề, tạo vi ệc làm và thu

nhập ổn định cho lao động nông thôn ở Thái Bình”, Tạp chí Lao

động và xã hội, (16), tr.30-31.

147

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO\

1. Vũ Anh (1982), Đặc điểm khí hậu Thái Bình, Ủy ban Khoa h ọc và k ỹ

thuật Thái Bình, Thái Bình.

2. Ban Ch ấp hành H ội nông dân t ỉnh Thái Bình (2000), Báo cáo k ết qu ả công tác hội và phong trào nông dân, phương hướng hoạt động năm 2001, Thái Bình.

3. Ban Ch ấp hành H ội nông dân t ỉnh Thái Bình (2001), Báo cáo k ết qu ả công tác hội và phong trào nông dân, phương hướng hoạt động năm 2002, Thái Bình.

4. Ban Ch ấp hành H ội nông dân t ỉnh Thái Bình (2002), Báo cáo k ết qu ả công tác hội và phong trào nông dân, phương hướng hoạt động năm 2003, Thái Bình.

5. Ban Ch ấp hành H ội nông dân t ỉnh Thái Bình (2003), Báo cáo k ết qu ả công tác hội và phong trào nông dân, phương hướng hoạt động năm 2004, Thái Bình.

6. Ban Ch ấp hành H ội nông dân t ỉnh Thái Bình (2004), Báo cáo k ết qu ả công tác hội và phong trào nông dân, phương hướng hoạt động năm 2005, Thái Bình.

7. Ban Ch ấp hành H ội nông dân t ỉnh Thái Bình (2005), Báo cáo k ết qu ả công tác hội và phong trào nông dân, phương hướng hoạt động năm 2006, Thái Bình.

8. Ban Ch ấp hành H ội nông dân t ỉnh Thái Bình (2006), Báo cáo k ết qu ả công tác hội và phong trào nông dân, phương hướng hoạt động năm 2007, Thái Bình.

9. Ban Ch ấp hành H ội nông dân t ỉnh Thái Bình (2007), Báo cáo k ết qu ả

công tác hội và phong trào nông dân, phương hướng hoạt động năm

2008, Thái Bình.

10. Ban Ch ấp hành H ội nông dân t ỉnh Thái Bình (2008), Báo cáo k ết qu ả

công tác hội và phong trào nông dân, phương hướng hoạt động năm

2009, Thái Bình.

148

11. Ban Ch ấp hành H ội nông dân t ỉnh Thái Bình (2009), Báo cáo k ết qu ả

công tác hội và phong trào nông dân, phương hướng hoạt động năm

2010, Thái Bình.

12. Ban Ch ấp hành H ội nông dân t ỉnh Thái Bình (2010), Báo cáo k ết qu ả

công tác hội và phong trào nông dân, phương hướng hoạt động năm

2011, Thái Bình.

13. Ban Chỉ đạo điều tra dân số và nhà ở Thái Bình (2000), Dân số và nhà ở

Thái Bình năm 1999, Thái Bình.

14. Ban Chỉ đạo điều tra lao động - việc làm tỉnh Thái Bình (2004), Báo cáo

lao động việc làm 2001 - 2004, Thái Bình.

15. Ban Khoa giáo Trung ương (2000), Dự thảo chiến lược nguồn nhân lực

2001 - 2010, Hà Nội.

16. Ban Thường vụ Hội liên hiệp phụ nữ Thái Bình (2007), Báo cáo tổng kết

công tác d ạy ngh ề, tạo vi ệc làm và ho ạt động hỗ tr ợ các doanh

nghiệp nữ 5 năm (2002-2007), Thái Bình.

17. Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Lao động Th ương binh và Xã h ội

(2008), Đào tạo nghề gi ữ vai trò tr ọng tâm trong chính sách phát

triển, Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội.

18. Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Bộ Nông nghiệp và phát tri ển nông

thôn (2002), Con đường công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa nông

nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

19. Trần Thanh Bình (2003), Đào tạo ngu ồn nhân l ực ph ục vụ quá trình

công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn Vi ệt Nam, Luận án tiến sỹ

kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.

20. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Đào tạo nghề theo nhu c ầu xã hội, tại

trang www.pgs.hcmut.edu.vn/su-kien/item/327-truong-dai-hoc-

bach-khoa-tphcm, [truy cập ngày 4/5/2012].

21. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (1998), Lý luận, phương pháp lu ận và ph ương

pháp nghiên c ứu xây d ựng chi ến lược phát tri ển ngu ồn nhân l ực

đáp ứng yêu cầu công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa đất nước đến năm

2020, Hà Nội.

149

22. Bộ Khoa học Công ngh ệ và Môi tr ường (1997), Xây dựng cơ sở lý lu ận

cho chiến lược phát tri ển nguồn nhân lực khoa học công ngh ệ, Đề

tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội.

23. Bộ Lao động, Th ương binh và Xã h ội (2005), Đề án phát tri ển xã h ội

hóa dạy nghề đến năm 2010, Hà Nội.

24. Bộ Lao động, Th ương binh và Xã h ội (2007), Giải quy ết vi ệc làm k ết

hợp chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn, Hà Nội.

25. C.Mác và Ph. Ăngghen (2004), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính tr ị quốc gia,

Hà Nội.

26. Mai Quốc Chánh (1999), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng

nhu cầu công nghi ệp hoá, hi ện đại hoá đất nước, Nxb Chính tr ị

quốc gia, Hà Nội.

27. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa và Đặng Hữu Toàn (Đồng chủ

biên) (2002),Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam - Lý luận và

thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

28. Cục Th ống kê Thái Bình (2001), Niên giám th ống kê Thái Bình n ăm

2000, Thái Bình.

29. Cục Th ống kê Thái Bình (2002), Niên giám th ống kê Thái Bình n ăm

2001, Thái Bình.

30. Cục Th ống kê Thái Bình (2003), Niên giám th ống kê Thái Bình n ăm

2002, Thái Bình.

31. Cục Th ống kê Thái Bình (2004), Niên giám th ống kê Thái Bình n ăm

2003, Thái Bình.

32. Cục Th ống kê Thái Bình (2005), Niên giám th ống kê Thái Bình n ăm

2004, Thái Bình.

33. Cục Th ống kê Thái Bình (2006), Niên giám th ống kê Thái Bình n ăm

2005, Thái Bình.

34. Cục Th ống kê Thái Bình (2007), Niên giám th ống kê Thái Bình n ăm

2006, Thái Bình.

150

35. Cục Th ống kê Thái Bình (2008), Niên giám th ống kê Thái Bình n ăm

2007, Thái Bình.

36. Cục Th ống kê Thái Bình (2009), Niên giám th ống kê Thái Bình n ăm

2008, Thái Bình.

37. Cục Th ống kê Thái Bình (2010), Niên giám th ống kê Thái Bình n ăm

2009, Thái Bình.

38. Cục Th ống kê Thái Bình (20011), Niên giám th ống kê Thái Bình n ăm

2010, Thái Bình.

39. Đỗ Minh Cương (2001), Lao động kỹ thuật ở Việt Nam - Lý luận và thực

tiễn, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, Hà Nội.

40. Đỗ Minh Cương, Mạc Văn Tiến (2004), Phát triển lao động kỹ thuật ở

Việt Nam lý luận và thực tiễn, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội.

41. Trương Xuân Cừ (2006), "Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát

triển kinh tế - xã hội của tỉnh Điện Biên", Tạp chí Giáo dục, (137), tr.

21-23.

42. Nguyễn Thị Mỹ Dung, Cung Thị Ngọc Mai (2009), "Đào tạo nguồn nhân

lực có trình độ cao đáp ứng nhu cầu kinh tế xã hội của Đồng Bằng

sông Cửu Long trong xu th ế hội nhập", Tạp chí Ngân hàng , (8), tr.

29-32.

43. Vũ Năng Dũng (2004), Cơ sở khoa học để xây dựng tiêu chí, bước đi, cơ

chế, chính sách trong quá trình công nghi ệp hóa, hiện đại hóa nông

nghiệp, nông thôn,Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

44. Vũ Dũng (2012), Cơ chế, chính sách hỗ trợ nông dân y ếu thế trong quá

trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

45. Ngô Văn Dụ, Hồng Hà và Tr ần Xuân Giá ( Đồng chủ biên), (2006), Tìm

hiểu một số thu ật ng ữ trong v ăn ki ện X c ủa Đảng, Nxb Chính tr ị

quốc gia, Hà Nội.

46. Đảng bộ tỉnh Thái Bình (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh

Thái Bình lần thứ XVI, Thái Bình.

151

47. Đảng bộ Thái Bình (2004), Lịch sử Đảng bộ Thái Bình (1975 - 2000),

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

48. Đảng bộ tỉnh Thái Bình (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh

Thái Bình lần thứ XVII, Thái Bình.

49. Đảng bộ tỉnh Thái Bình (2010), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh

Thái Bình lần thứ XVIII, Thái Bình.

50. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn qu ốc

lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

51. Đảng Cộng sản Vi ệt Nam (2002), Văn ki ện Hội ngh ị lần th ứ năm Ban

Chấp hành Trung ương khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

52. Đảng Cộng sản Vi ệt Nam (2002), Văn ki ện Hội ngh ị lần th ứ chín Ban

Chấp hành Trung ương khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

53. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn qu ốc

lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

54. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 51, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

55. Đảng Cộng sản Vi ệt Nam (2008), Văn ki ện Hội ngh ị lần th ứ bảy Ban

Chấp hành Trung ương khoá X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

56. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn qu ốc

lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

57. Phạm Đắp (2005), Nghiên cứu con ng ười Vi ệt Nam công nghi ệp trong

thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng tới nền kinh tế tri thức,

Đề tài KX. 05.08, Hà Nội.

58. Nguyễn Văn Đễ, Bùi Xuân Trường và Nguyễn Kim Liệu (2004), Nhân lực

Việt Nam trong chiến lược kinh tế 2001-2010, Nxb Hà Nội, Hà Nội.

59. Trần Văn Đông (2012), "Đất và ngh ề: Nhu cầu bức thiết của nông dân",

Tạp chí Cộng sản, (3), tr. 10-12.

60. Nguyễn Minh Đường (2005), Thực trạng và gi ải pháp đào tạo lao động

kỹ thuật đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động trong điều

152

kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, Đề tài KX

- 05 - 10, Hà Nội.

61. Nguyễn Bình Đức (2013), "Nâng cao ch ất lượng nguồn nhân lực ngành

du lịch thành phố Đà Nẵng", Tạp chí Quản lý giáo dục, (206), tr.5-7.

62. Trần Thanh Đức (2007), "Giáo dục đào tạo với sự phát triển nguồn nhân

lực", Tạp chí Thương mại, (42), tr. 4-6.

63. Phan Sỹ Gi ản (2006), "M ột số gi ải pháp nâng cao ch ất lượng đào tạo

nguồn nhân l ực ph ục vụ phát tri ển kinh t ế - xã h ội của tỉnh Bình

Phước", Tạp chí Giáo dục, (129), tr 9-10.

64. Tô Minh Gi ới (2009), Giải pháp đào tạo ngu ồn nhân lực kỹ thu ật nông

nghiệp cho thành phố Cần Thơ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại

hóa, Luận án tiến sỹ giáo dục học, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.

65. Nguyễn Ngọc Hà (2012), Đường lối phát tri ển kinh tế nông nghi ệp của

Đảng Cộng sản Vi ệt Nam trong th ời kỳ đổi mới (1986-2011) Nxb

Chính trị- Hành chính, Hà Nội.

66. Lê Thanh Hà (2009), Phát triển nguồn nhân lực công nghi ệp Việt Nam

trong quá trình công nghi ệp hoá, hi ện đại hoá đất nước và vai trò

của công đoàn, Nxb Lao động, Hà Nội.

67. Phạm Minh Hạc (Chủ nhiệm) (1995), Con người Việt Nam. Mục tiêu và

động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, Chương trình khoa học -

công nghệ cấp Nhà nước, mã số KX - 07, Hà Nội.

68. Phạm Minh Hạc (2004), Tâm lý người Việt Nam đi vào công nghiệp hóa,

hiện đại hóa - Nh ững điều cần khắc phục, Nxb Chính tr ị quốc gia,

Hà Nội.

69. Bùi Tôn Hi ến (2009), Nghiên cứu vi ệc làm c ủa lao động qua đào tạo

nghề ở Vi ệt Nam , Lu ận án ti ến sỹ chuyên ngành Kinh t ế học,

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.

70. Học vi ện Chính tr ị qu ốc gia H ồ Chí Minh (2002), Một số định hướng

chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu từng bước phát triển kinh

153

tế tri th ức ở Vi ệt Nam nh ững th ập niên đầu th ế kỷ XXI , Đề tài

nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Hà Nội.

71. Học viện Ngoại giao (2009), Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hội nhập

quốc tế, Nxb Thế giới, Hà Nội.

72. Học viện ngoại giao (2012), Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu

công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa và h ội nh ập qu ốc tế, tại trang

www.dav.edu.vn/dao-tao/gioi-thieu-chung.html, [truy c ập ngày

14/6/2013].

73. Trần Quang Huy (2010), Nghiên cứu phát tri ển ngu ồn nhân l ực nông

thôn tỉnh Thái Bình, Luận văn Th ạc sỹ kinh t ế, Đại học nông

nghiệp, Hà Nội.

74. ILO (2003), Các vấn đề về việc làm và đói nghèo, Nghiên cứu tham luận

số 9, ILO Geneva.

75. Đoàn Văn Khái (2005), Ngu ồn lực con ng ười trong quá trình công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.

76. Dương Đức Lân (2007), " Đào tạo ngh ề theo nhu c ầu sử dụng của xã

hội", Tạp chí Lao động và xã hội, tr. 3-6.

77. Nguyễn Th ắng Lợi (2007), "V ề công tác đào tạo ngu ồn nhân l ực trong

thời kỳ đổi mới", Tạp chí Lịch sử Đảng, (12), tr. 9-11.

78. Bùi Tiến Lợi (2002), Phát triển nguồn nhân lực của Thanh Hoá đến năm

2010 theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội.

79. Vũ Th ị Kim Mão (2008), Thực tr ạng và gi ải pháp gi ải quy ết vi ệc làm

nông nghiệp, nông thôn Vi ệt Nam, Đề tài nghiên c ứu khoa học cấp

Bộ, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hà Nội.

80. Trần Văn Mi ều (2001), Phong trào thanh niên v ới vi ệc đào tạo ngu ồn

nhân lực trẻ, Nxb Thanh niên, Hà Nội.

81. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

82. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

154

83. Trần Thị Minh Ngọc (2009), "Đào tạo nguồn nhân lực khoa học cho Hà

Nội trong thời kỳ đổi mới", Tạp chí Giáo dục lý luận, (2), tr.13-15.

84. Trần Th ị Minh Ng ọc (2010), Việc làm c ủa nông dân trong quá trình

công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng đồng bằng sông Hồng đến năm

2020, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

85. Phạm Hữu Nghĩa, Nguyên Ngọc, Đặng Kim Sơn, Cao Tự Thanh và Đào

Thế Tuấn (2008), Nông dân, nông thôn và nông nghi ệp, những vấn

đề đang đặt ra, Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội

86. Trần An Phong (2005), "Phát triển bền vững nông nghiệp và nông thôn",

Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (11), tr. 34-36.

87. Lê Du Phong (Chủ biên) (2006), Nguồn lực và động lực phát triển trong

nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb

Lý luận chính trị, Hà Nội.

88. Vũ Văn Phúc (2013), Xây dựng nông thôn mới - những vấn đề lý luận và

thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

89. Lê Thị Mỹ Phượng (2009), "Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp

công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai", Tạp chí Lao động và xã

hội, (354), tr. 26-29.

90. Quốc hội (2014), Luật dạy nghề, Nxb Lao động, Hà Nội.

91. Quốc hội (2014), Luật giáo dục, Nxb Lao động, Hà Nội.

92. Mai Văn Quyền (2010), "Liên kết 4 nhà tạo đường băng để nông dân cất

cánh", Tạp chí Cộng sản, (2), tr. 45-47.

93. Đặng Kim S ơn (2008), Nông nghi ệp, nông dân, nông thôn Vi ệt Nam -

Hôm nay và mai sau, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

94. Sở Kế ho ạch và Đầu tư Thái Bình (2009), Chính sách khuy ến khích

doanh nghi ệp liên k ết với nông dân đầu tư sản xu ất nông nghi ệp,

chế biến, tiêu thụ sản phẩm, Thái Bình.

95. Sở Khoa học và Công nghệ Thái Bình (2009), Đề án đẩy mạnh ứng dụng

tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, Thái Bình.

155

96. Sở Lao động, Th ương binh và Xã h ội Thái Bình (2004), Báo cáo tình

hình và k ết qu ả th ực hi ện ch ương trình vi ệc làm, s ố 785/ BC -

LĐTBXH, Thái Bình.

97. Sở Lao động Thương binh và Xã h ội Thái Bình (2005), Báo cáo kết quả

chương trình vi ệc làm giai đoạn 2001-2005 và nh ững giải pháp gi ải

quyết việc làm giai đoạn 2006-2010, số 956/ BC - LĐTBXH, Thái Bình.

98. Sở Lao động Thương binh và Xã hội Thái Bình (2006), Kết quả điều tra

thực trạng việc làm và thất nghiệp năm 2006, Thái Bình.

99. Sở Lao động Thương binh và Xã hội (2010), Đẩy mạnh công nghiệp hóa,

hiện đại hóa nông nghi ệp nông thôn ở Thái Bình th ời kỳ 2001 -

2010, Thái Bình.

100. Sở Nông nghi ệp và Phát tri ển nông thôn Thái Bình (2002), Báo cáo kết

quả công tác n ăm 2001; Ph ương hướng, nhi ệm vụ công tác n ăm

2002, Thái Bình.

101. Sở Nông nghi ệp và Phát tri ển nông thôn Thái Bình (2003), Báo cáo kết

quả công tác n ăm 2002; Tri ển khai kế hoạch sản xuất nông nghi ệp

năm 2003, Thái Bình.

102. Sở Nông nghi ệp và Phát tri ển nông thôn Thái Bình (2006), Quy hoạch

tổng thể phát triển nông nghiệp-nông thôn tỉnh Thái Bình giai đoạn

2001-2010 và quy ho ạch vùng nông s ản hàng hóa giai đoạn 2005-

2010, Thái Bình.

103. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Bình (2007), Báo cáo kết quả

thực hiện xây dựng vùng chăn nuôi tập trung thí điểm, Thái Bình.

104. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Bình (2007), Báo cáo về 5

năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về Đẩy nhanh công

nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, Thái Bình.

105. Sở Nông nghi ệp và Phát tri ển nông thôn Thái Bình (2008), Báo cáo kết

quả công tác n ăm 2007, Tri ển khai kế hoạch sản xuất nông nghi ệp

năm 2008, Thái Bình.

156

106. Sở Nông nghi ệp và Phát tri ển nông thôn Thái Bình (2009), Báo cáo kết

quả công tác n ăm 2008, Tri ển khai kế hoạch sản xuất nông nghi ệp

năm 2009, Thái Bình.

107. Sở Nông nghi ệp và Phát tri ển nông thôn Thái Bình (2009), Báo cáo Kế

hoạch thực hi ện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần th ứ XVII về

phát triển nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2006-2010, Thái Bình.

108. Phan Thanh Tâm (2000) , Các gi ải pháp ch ủ yếu nâng cao ch ất lượng

nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất

nước, Luận án tiến sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

109. Nguyễn Thanh (2005), Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghi ệp

hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

110. Phạm Vĩnh Thái (2013), " Đào tạo nguồn nhân lực: còn nhi ều việc phải

làm", Tạp chí Kinh tế và Dự báo (35), tr.37-39 .

111. Nguyễn Đức Thảo (2006), "Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng

yêu cầu phát tri ển nông nghi ệp, nông thôn t ỉnh Sơn La", Tạp chí

Giáo dục lý luận (23), tr.38-41.

112. Phạm Tất Th ắng (2011), "Xây d ựng nông thôn m ới và v ấn đề đặt ra",

Tạp chí Cộng sản (12), tr. 24-26.

113. Vũ Bá Th ể (2005), Phát huy ngu ồn lực con ng ười để công nghi ệp hóa,

hiện đại hóa của, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.

114. Lê Thi (2005), "Phát huy ngu ồn nhân l ực nữ và xoá đói gi ảm nghèo ở

nông thôn", Tạp chí Khoa học về Phụ nữ (9), tr.32-34.

115. Thủ tướng Chính phủ (2009), Quyết định số 1956/QĐ-TTG: Phê duyệt

Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, tại

trang http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/he

thongvanban, [truy cập ngày 5/7/2012].

116. Phan Chính Th ức (2003), Những giải pháp phát tri ển đào tạo nghề góp

phần đáp ứng nhu c ầu nhân l ực cho s ự nghi ệp công nghi ệp hóa,

hiện đại hóa, Luận án tiến sỹ chuyên ngành Giáo dục học, Hà Nội.

157

117. Mạc Văn Tiến (2006), "Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam trên bước

đường toàn cầu hóa", Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (13), tr.25-28.

118. Nguyễn Tiệp (2011), Giáo trình Nguồn nhân lực, Nxb Lao động xã hội,

Hà Nội.

119. Tỉnh ủy Thái Bình (1986), Người nông dân Thái Bình trong l ịch sử, Tư liệu Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Thái Bình, Thái Bình 120. Tỉnh ủy Thái Bình (2001), Nghị quyết số 01/NQ - TU V ề phát triển làng

nghề, Thái Bình.

121. Tỉnh ủy Thái Bình (2001), Nghị quyết số 02/NQ - TU V ề phát triển kinh

tế biển, Thái Bình.

122. Tỉnh ủy Thái Bình (2001), Nghị quyết 04-NQ - TU Về chuyển đổi cơ cấu

cây trồng và vật nuôi trong nông nghiệp, Thái Bình.

123. Tỉnh ủy Thái Bình (2001), Thông báo s ố 10-TB/TU V ề ý ki ến của Ban

thường vụ Tỉnh ủy tình hình chuyển đổi hợp tác xã nông nghiệp theo

Luật Hợp tác xã, Thái Bình.

124. Tỉnh ủy Thái Bình (2002), Đề án v ề đẩy nhanh công nghi ệp hóa, hi ện

đại hóa nông nghiệp nông thôn, Thái Bình.

125. Tỉnh ủy Thái Bình (2002), Nghị quy ết 06-NQ/ TU V ề phát tri ển sự

nghiệp giáo dục và đào tạo giai đoạn 2001-2010, Thái Bình.

126. Tỉnh ủy Thái Bình (2003), Kết luận số 08-KL/TU Về phát triển đẩy mạnh

thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây tr ồng vật nuôi trong nông nghi ệp,

Thái Bình.

127. Tỉnh ủy Thái Bình (2004), Báo cáo số 97-BC/TU, Báo cáo k ết quả công

tác năm 2003, Một số nhiệm vụ chủ yếu năm 2004, Thái Bình.

128. Tỉnh ủy Thái Bình (2004), Nghị quy ết số 13/NQTU V ề phát tri ển đào

tạo, dạy nghề giai đoạn 2004 - 2010, Thái Bình.

129. Tỉnh ủy Thái Bình (2005), Báo cáo số 142-BC/TU, Báo cáo kết quả công

tác năm 2004, Một số nhiệm vụ chủ yếu năm 2005, Thái Bình.

130. Tỉnh ủy Thái Bình (2006), Báo cáo số 04-BC/TU, Báo cáo k ết quả công

tác năm 2005, Một số nhiệm vụ chủ yếu năm 2006, Thái Bình.

158

131. Tỉnh ủy Thái Bình (2007), Thông báo v ề vi ệc ti ếp tục th ực hi ện Ngh ị

quyết số 13-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (Khóa XVI) về phát

triển đào tạo nghề giai đoạn 2004-2010, Thái Bình.

132. Tỉnh ủy Thái Bình (2008), Chương trình số 23 - CTr/TU V ề Thực hiện

Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng

khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Thái Bình.

133. Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân t ỉnh Thái Bình (2010),

Địa chí Thái Bình, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.

134. Tổng cục thống kê (2011): Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp

và thủy sản, 2010, NXB Thống kê, Hà Nội.

135. Hà Minh Tr ần (2008), "Cao B ằng: Gắn giải quyết việc làm với đào tạo

nguồn nhân lực", Tạp chí Lao động và xã hội, (329) tr. 29-30.

136. Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (chủ biên) (2001), Luận cứ khoa học

cho vi ệc nâng cao ch ất lượng đội ng ũ cán b ộ trong th ời kỳ đẩy

mạnh công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa nông nghi ệp nông thôn n ước

ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

137. Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (1998), Trên đường

công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội.

138. Nguyễn Văn Trung (Ch ủ biên) (1998), Phát triển nguồn nhân lực trẻ ở

nông thôn để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, nông nghiệp

nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

139. Bùi Sỹ Trùy (2003), Nông nghi ệp, nông thôn Thái Bình, th ực trạng và

giải pháp, Nxb Thống kê, Hà Nội.

140. Nguyễn Kế Tuấn (Chủ biên) (2006), Con đường và bước đi công nghiệp

hóa, hiện đại hóa nông nghi ệp, nông thôn Vi ệt Nam, Nxb Chính tr ị

quốc gia, Hà Nội.

141. Nguyễn Thanh Tuấn (2007), "Đa dạng hóa cơ cấu để phát triển số lượng

và ch ất lượng ngu ồn nhân l ực", Tạp chí Lao động xã h ội, (318),

tr.31-33.

159

142. Thanh Tùng, Đỗ Hùng (2005), "Giáo dục đào tạo Lào Cai góp phần quan trọng đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa", Tạp chí Đông Nam Á, (7), tr.36-39.

143. Trần Văn Tùng và Lê Ái Lâm (1996), Phát tri ển ngu ồn nhân lực kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

144. Trần Văn Tùng (2001), Nền kinh tế tri thức và yêu cầu đổi mới giáo dục

Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội.

145. Trần Cẩm Tú (2012), "Xây d ựng nông thôn m ới ở Thái Bình - k ết qu ả bước đầu và những bài học kinh nghiệm", Tạp chí Cộng sản, (3), tr. 41-44.

146. Nguyễn Từ (2008), Tác động của hội nh ập kinh t ế đối với phát tri ển

nông nghiệp Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

147. Nguyễn Th ị Tố Uyên (2013), Các tỉnh ủy vùng đồng bằng sông H ồng lãnh đạo đẩy nhanh công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa nông nghi ệp, nông thôn trong giai đoạn hi ện nay , Nxb Chính tr ị qu ốc gia - S ự thật, Hà Nội.

148. Ủy ban nhân dân t ỉnh Thái Bình (2001), Chương trình m ục tiêu gi ải

quyết việc làm tỉnh Thái Bình giai đoạn 2001 - 2005, Thái Bình.

149. Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình (2001), Kế hoạch phát triển kinh tế - xã

hội giai đoạn 2001 - 2005, Thái Bình.

150. Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Bình (2001), Quyết định số 579/2001/QĐ-UB ngày 13/7/2001V ề một số chính sách khuy ến khích chuy ển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp (lần 1), Thái Bình. 151. Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Bình (2001), Quyết định số 672/2001/QĐ-UB Về một số chính sách khuy ến khích phát tri ển ngh ề và làng ngh ề, Thái Bình.

152. Uỷ ban nhân dân t ỉnh Thái Bình (2002), Quyết định số 10/Q Đ-UB Về

một số chính sách khuy ến khích chuy ển đổi cơ cấu cây tr ồng, vật

nuôi trong nông nghiệp (lần 2), Thái Bình.

153. Uỷ ban nhân dân t ỉnh Thái Bình (2002), Quyết định số 52/2002/QĐ-UB

Về một số chính sách khuyến khích đầu tư ở Thái Bình, Thái Bình.

160

154. Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Bình (2002), Quyết định số 716/2002/QĐ-UB

Phê duyệt đề cương quy hoạch tổng thể phát triển nông nghiệp Thái

Bình giai đoạn 2001-2010, Thái Bình.

155. Uỷ ban nhân dân t ỉnh Thái Bình (2003), Báo cáo số 02/UB-BC Về tình

hình phát tri ển kinh tế - xã h ội năm 2002 và ph ương hướng, nhiệm

vụ chủ yếu năm 2003, Thái Bình.

156. Uỷ ban nhân dân t ỉnh Thái Bình (2003), Báo cáo số 24/UB-BC Về tình

hình phát triển kinh tế - xã hội từ năm 2001 đến nay và một số kiến

nghị với Bộ Chính tr ị, Ban Bí th ư Trung ương Đảng và Chính ph ủ,

Thái Bình.

157. Uỷ ban nhân dân t ỉnh Thái Bình (2003), Báo cáo số 47/UB-BC Về tình

hình phát tri ển kinh tế - xã h ội năm 2003 và ph ương hướng, nhiệm

vụ chủ yếu năm 2004, Thái Bình.

158. Ủy ban nhân dân t ỉnh Thái Bình (2004), Quy hoạch hệ thống các cơ sở

dạy nghề tỉnh Thái Bình giai đoạn 2004-2010, Thái Bình.

159. Uỷ ban nhân dân t ỉnh Thái Bình (2004), Báo cáo số 75/UB-BC Về tình

hình phát tri ển kinh tế - xã h ội năm 2004 và ph ương hướng, nhiệm

vụ chủ yếu năm 2005, Thái Bình.

160. Uỷ ban nhân dân t ỉnh Thái Bình (2005), Báo cáo số 54/UB-BC Về tình

hình phát tri ển kinh tế - xã h ội năm 2005 và ph ương hướng, nhiệm

vụ chủ yếu năm 2006, Thái Bình.

161. Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình (2005), Báo cáo số 57/UB-BC Kế hoạch

phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 - 2010, Thái Bình.

162. Ủy ban nhân dân t ỉnh Thái Bình (2006), Chương trình xóa đói gi ảm

nghèo tỉnh Thái Bình giai đoạn 2006 - 2010, Thái Bình.

163. Uỷ ban nhân dân t ỉnh Thái Bình (2006), Báo cáo số 72/UB-BC Về tình

hình phát tri ển kinh tế - xã h ội năm 2006 và ph ương hướng, nhiệm

vụ chủ yếu năm 2007, Thái Bình.

161

164. Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình (2007), số 01/Ctr-UBND, Chương trình

giải quyết việc làm giai đoạn 2006 - 2010 tỉnh Thái Bình, Thái Bình.

165. Uỷ ban nhân dân t ỉnh Thái Bình (2007), Báo cáo tóm t ắt tình hình phát

triển kinh tế - xã hội năm 2007 và phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu

năm 2008, Thái Bình.

166. Ủy ban nhân dân t ỉnh Thái Bình (2009), số 72/Ttr/UBND, Tờ trình v ề

việc đề nghị phê duyệt Đề án dạy nghề cho lao động nông thôn giai

đoạn 2010 - 2020, Thái Bình.

167. Ủy ban nhân dân t ỉnh Thái Bình (2009), số 65-BC/UBND, Báo cáo k ế

hoạch phát tri ển kinh t ế xã h ội 5 n ăm 2011-2015 t ỉnh Thái Bình,

Thái Bình

168. Ủy ban nhân dân t ỉnh Thái Bình (2010), Quy hoạch hệ thống các cơ sở

dạy nghề tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010-2020, Thái Bình.

169. Viện Hàn lâm Khoa h ọc Xã h ội Vi ệt Nam (2013), Chân dung ng ười

nông dân Vi ệt Nam trong th ời kỳ công nghiệp hóa, hi ện đại hóa và

hội nh ập, tại trang www.vas.gov.vn/noidung/tintuc/list/Tintuc

HoinghiHoithao/, [truy cập ngày 5/7/2014].

170. Viện Nghiên c ứu qu ản lý kinh t ế Trung ương (2004), Quản lý ngu ồn

nhân lực ở Việt Nam, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội.

171. Nguyễn Tấn Vinh (2006), "Gi ải pháp phát tri ển nhuồn nhân lực của tỉnh

Lâm Đồng", Tạp chí Kinh tế và phát triển, (107), tr. 26-29.

172. Vũ Thị Vinh (2005), "Phát tri ển nguồn nhân lực ở Bình Thuận", Tạp chí

Lý luận chính trị, (11), tr. 33-35.

173. Hồ Văn Vĩnh (2009), "Nâng cao ch ất lượng lao động đáp ứng yêu cầu

công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa nông nghi ệp nông thôn", Tạp chí

Cộng sản, (12), tr. 34-36.

174. V.I. Lênin (2006), Toàn tập, tập 45, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

162

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Bản đồ hành chính tỉnh Thái Bình

Nguồn: Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình

[133, tr.1].

163

Phụ lục 2 Một số chỉ tiêu chủ yếu về dân số năm 2010 của Thái Bình so với một số tỉnh khu vực Đồng bằng sông Hồng

DS Bình quân (1000 người)

Mật độ DS (Người/km2)

DS Thành thị (Tỷ lệ %)

Đơn vị tính: % Tỷ số giới tính (Nam/100 nữ)

263

Cả nước

86927.7

30.17

97.8

939

ĐBSH

19770.0

29.64

97.2

1140

Thái Bình

1786.3

9.71

93.4`

1226

Hưng Yên

1132.3

12.32

96.6

1107

Nam Định

1830

17.83

95.8

1221

Hải Phòng

1857.8

46.27

98.47

1038

Hải Dương

1712.9

19.13

96.1

914

Hà Nam

789.3

9.53

95.43

Nguồn: Cục Thống kê Thái Bình (2011), Niên giám thống kê Thái Bình năm 2010

[38, tr.5].

Phụ lục 3

Đơn vị tính: %

Cả nước ĐBSH Hưng Yên Thái Bình Nam Định Hải Dương Hải Phòng Hà Nam

Tốc độ tăng dân số của Thái Bình so với một số tỉnh Khu vực ĐBSH

2009 1.06 0.74 0.21 0.02 0.12 0.35 0.89 -0.1

2010 1.05 0.77 0.33 0.18 0.09 0.35 0.94 0.02

2008 1.07 1.28 0.44 -0.07 -0.19 0.36 0.98 -0.18

2007 1.09 0.63 0.43 -0.19 -0.53 0.3 0.98 -0.21

Nguồn: Cục Thống kê Thái Bình (2011), Niên giám thống kê Thái Bình năm 2010

[38, tr.7].

164

Đơn vị tính: %

Phụ lục 4 Tỷ suất di cư thuần của Thái Bình so với một số tỉnh Khu vực ĐBSH

2007 -0.4

2008 -0.6

2009 -0.5

2010 0.5

ĐBSH

1.8

-1.2

-4.0

-0.3

Hưng Yên

-4.5 -3.2

-1.1 -7.6

-11.4 -10.6

-8.4 -4.4

Thái Bình Nam Định

-2.8

-0.8

-4.3

-2.2

Hải Dương

1.8

1.8

1.8

3.2

Hải Phòng

-8.8

-0.4

-10.7

-4.6

Hà Nam

Nguồn: Cục Thống kê Thái Bình (2011), Niên giám thống kê Thái Bình năm 2010

[38, tr.7].

Phụ lục 5

Đơn vị tính: %

Tỷ lệ nhân khẩu thực tế thường trú chia theo nhóm tuổi năm 2010

Hà Nam

Cả nước

ĐBSH

Thái Bình 100.00

Hưng Yên 100.00

Nam Định 100.00

Hải Dương 100.00

100.00

100.00

Tổng số 0 tuổi 1-4 tuổi 5-9 tuổi 10-14 tuổi 15-17 tuổi 18-19 tuổi 20-24 tuổi 25-29 tuổi 30-34 tuổi 35-39 tuổi 40-44 tuổi 45-49 tuổi 50-54 tuổi 55-59 tuổi 60-64 tuổi 65-69 tuổi 70-74 tuổi 75-79 tuổi 80+ tuổi

1.27 6.44 7.96 8.35 5.88 3.38 8.26 8.37 7.89 7.75 7.32 6.95 6.09 4.19 2.86 1.86 1.86 1.45 1.88

1.48 6.04 8.09 7.78 5.89 2.55 5.23 6.61 6.11 7.42 6.64 7.55 7.86 5.99 4.57 2.07 2.58 2.18 3.37

1.48 6.66 7.26 7.26 5.16 3.22 7.53 8.02 7.2 7.46 6.39 7.5 7.38 4.85 3.67 2.21 2.34 1.90 2.53

1.36 5.72 6.83 7.41 5.37 3.14 7.60 7.13 6.51 7.83 6.51 8.21 7.64 5.06 3.69 2.25 3.12 2.25 2.39

0.73 5.22 6.92 7.85 5.85 1.83 4.94 6.14 5.97 8.51 7.57 8.35 8.85 5.85 4.96 2.44 2.55 2.38 3.07

100.00 0.67 5.92 6.99 8.74 5.47 2.96 6.40 6.86 7.22 8.18 6.66 7.02 7.51 5.21 3.52 2.37 2.57 2.63 3.10

Hải Phòng 100.00 1.41 6.26 6.27 6.71 5.12 3.42 7.90 8.61 7.16 7.61 7.07 7.40 7.80 5.44 3.57 2.08 2.10 1.77 2.29

1.32 6.29 6.69 7.67 5.47 3.00 7.30 6.76 6.76 7.35 7.05 8.35 7.54 4.56 3.90 2.01 3.10 2.11 3.89 Nguồn: Cục Thống kê Thái Bình (2011), Niên giám thống kê Thái Bình năm 2010

[38, tr.8].

165

Phụ lục 6

Đơn vị tính: %

Dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo trình độ học vấn năm 2010

ĐBSH

Cả nước

Hưng Yên

Thái Bình

Nam Định

Hải Dương

Hải Phòng

Hà Nam

100.00 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00

Tổng số

1.89

2.86

1.08

2.50

1.44

1.62

1.45

4.81

Chưa đi học

5.79

8.19

5.23

8.52

5.80

4.76

4.25

12.46

Chưa tốt nghiệp Tiểu học

12.09

11.11

9.41

13.46

10.06

10.69

12.47

22.66

Tiểu học

42.4

47.62

55.06

54.26

52.63

41.00

58.72

32.08

Trung học cơ sở

2.84

1.89

5.11

1.41

2.79

3.30

1.33

1.71

Sơ cấp nghề

Trung học phổ thông

14.47

18.38

18.86

14.73

10.41

15.47

22.68

11.70

2.68

1.88

1.05

2.18

2.95

3.20

2.98

1.53

Trung cấp nghề

4.26

3.43

3.01

2.85

3.04

4.21

2.61

3.23

Trung cấp chuyên nghiệp

0.4

0.27

0.12

0.30

0.59

0.51

0.74

0.27

Cao đẳng nghề

1.75

1.57

2.08

1.47

1.34

1.43

1.60

1.50

Cao đẳng

7.20

2.19

2.72

2.55

3.69

6.47

2.15

5.00

Đại học trở lên

0.32

0.13

0.42

0.10

0.20

0.13

0.00

0.27

Không xác định

Nguồn: Cục Thống kê Thái Bình (2011), Niên giám thống kê Thái Bình năm 2010

[38, tr. 8].

Phụ lục 7

Đơn vị tính: Người

90,000

80,000

70,000

60,000

50,000

Nam Nữ

40,000

30,000

20,000

10,000

0

15-19 tuổi

20-24 tuổi

25-29 tuổi

30-34 tuổi

35-39 tuổi

40-44 tuổi

45-49 tuổi

50-54 tuổi

55-59 tuổi

60-64 tuổi

65-69 tuổi

70-74 tuổi

75+ tuổi

LLLĐ chia theo độ tuổi và giới tính của Thái Bình năm 2010.

Nguồn: Quy hoạch hệ thống các cơ sở dạy nghề tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010-

2020 [168, tr. 42].

166

Phụ lục 8

Đơn vị tính: %

100%

2.850.46 0.962.590.072.16

0.52 3.45 1.512.110.121.40

2.70.4 0.12.1 3.0 1.0

90%

2.300.41 0.453.030.032.85 12.43

14.34

14.7

16.42

80%

2.80

5.1

6.17

KXĐ

9.83

70%

Đại học trở lên Cao đẳng

60%

Cao đẳng nghề

50%

Trung cấp chuyên nghiệp Trung cấp nghề

62.53

55.1

59.20

40%

55.59

Trung học phổ thông Sơ cấp nghề

30%

Trung học cơ sở

20%

Tiểu học Chưa tốt nghiệp Tiểu học

Chưa đi học

9.4

9.27

10%

5.2 1.1

8.03 0.242.93

3.56 0.34

0%

6.69 0.122.25 LLLĐ LLLĐ NamLLL Đ Nữ

Người từ 15 tuổi trở lên

Nguồn: Quy hoạch hệ thống các cơ sở dạy nghề tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010-

2020 [168, tr. 43]

Cơ cấu lực lượng lao động chia theo giới tính và trình độ học vấn

Phụ lục 9

LLLĐ qua đào tạo năm 2010

Đơn vị tính: %

100%

18.74

19.27

20.06

90%

80%

14.57

7.59 0.65

70%

24.92

11.45

0.48

60%

8.19

17.48

0.22

50%

6.47

26.41

40%

Đại học trở lên Cao đẳng Cao đẳng nghề Trung cấp chuyên nghiệp Trung cấp nghề Sơ cấp nghề

30%

53.38

3.93

41.72

20%

24.46

10%

0%

Chung

Nam

Nữ

Nguồn: Quy hoạch hệ thống các cơ sở dạy nghề tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010-

2020 [168, tr. 42]

167

Phụ lục 10

Tình trạng hoạt động kinh tế của LLLĐ năm 2010

Trình độ học vấn

Tỷ lệ thất nghiệp (%)

Tỷ lệ tham gia LLLĐ (%)

Lực lượng lao động (Người)

Tổng số người 15 tuổi trở lên (Người)

Tỷ lệ có việc làm so với LLLĐ (%)

A

1

2

3

4

5

Tổng số

1,414,168

1,120,817

79.26

97.86

2.14

Chưa đi học

15,212

2,641

1.08

98.11

1.89

32,849

44.43

99.85

0.15

Chưa tốt nghiệp Tiểu học

73,929

Tiểu học

133,109

90,036

67.64

99.23

0.77

Trung học cơ sở

778,588

663,545

85.22

98.77

1.23

Sơ cấp nghề

72,200

69,174

95.81

98.7

1.30

208,314

160,776

Trung học phổ thông

77.18

95.25

4.75

Trung cấp nghề

14,829

10,732

72.37

83.81

16.19

Trung cấp chuyên nghiệp

68.18

96.95

3.05

42,516

28,988

Cao đẳng nghề

47.63

92.7

7.30

795

1,669

Cao đẳng

82.34

93.91

6.09

24,161

29,344

Đại học trở lên

82.92

92.6

7.40

31,952

38,534

Không xác định

0.04

5,168

87.2

99.96

5,924

Nguồn: Quy hoạch hệ thống các cơ sở dạy nghề tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010-

2020 [168, tr. 45]

168

Phụ lục 11

Đơn vị tính: %

Dân số từ 15 tuổi trở lên không hoạt động kinh tế

Tỷ lệ dân số Không hoạt động kinh tế (%)

SV, HS Nội trợ

Khác

Ốm đau, bệnh tật

Quá già, quá trẻ

Số người từ 15 tuổi trở lên (Người)

A

1

3

5

6

7

8

Tổng số

1,414,168

8.77

1.57

1.74

6.15

2.51

Chưa đi học

15,212

25.65

49.79

0.34

6.86

Chưa tốt nghiệp Tiểu học

73,929

7.45

40.87

2.98

4.27

Tiểu học

133,109

2.50

1.57

4.23

21.96

2.09

Trung học cơ sở

778,588

10.59

0.80

0.83

1.28

1.27

Sơ cấp nghề

72,200

0.53

0.20

2.88

0.57

Trung học phổ thông

208,314

17.39

1.41

0.42

0.90

2.70

Trung cấp nghề

14,829

4.03

0.95 22.64

Trung cấp chuyên nghiệp

42,516

5.17

2.59

10.98 13.07

Cao đẳng nghề

1,669

46.55

5.81

Cao đẳng

29,344

1.83

7.14

0.35

0.66

7.67

Đại học trở lên

38,534

0.32

3.67

2.15

2.65

8.29

Không xác định

5,924

9.23

0.95

0.74

0.95

0.98

Nguồn: Quy hoạch hệ thống các cơ sở dạy nghề tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010-

2020 [168, tr. 45]

169

170

Phụ lục 12

Đơn vị tính: %

100%

2.22 2.67

2.14 3.42

2.06 4.11

90%

80%

70%

60%

Thất nghiệp

50%

95.11

94.44

93.83

Thi ếu việc làm

Đủ việc làm

40%

30%

20%

10%

0%

LLLĐ

LLLĐ nam

LLLĐ nữ

Nguồn: Cục Thống kê Thái Bình (2011), Niên giám thống kê Thái Bình năm 2010

[38, tr. 11].

Tình trạng việc làm của LLLĐ

Phụ lục 13

Việc làm của LLLĐ đã qua đào tạo theo vị thế công việc

Đơn vị tính: %

Cao đẳng

và theo trình độ CMKT năm 2010

Vị thế công việc

Sơ cấp nghề

Trung cấp nghề

Cao đẳng nghề

Đại học trở lên

Trung cấp chuyên nghiệp

Tổng số

100.00

100.00

100.00

100.00

100.00

100.00

Chủ cơ sở SXKD

6.71

1.62

4.34

6.51

2.79

1.30

Tự làm cho bản thân

19.36

31.95

14.00

24.02

7.71

8.39

Lao động gia đình

0.07

7.15

74.29

0.00

7.65

1.22

Làm công ăn lương

73.04

59.28

7.22

69.47

81.85

89.10

Xã viên Hợp tác xã

0.82

0.15

Nguồn: Cục Thống kê Thái Bình (2011), Niên giám thống kê Thái Bình năm 2010

[38, tr. 11].

171

Phụ lục 14

Đơn vị tính: %

Việc làm của LLLĐ theo nghề nghiệp và trình độ CMKT

Nghề nghiệp

Khác Tổng

Sơ cấp nghề

Cao đẳng

Cao đẳng nghề

Trung cấp nghề

Đại học trở lên

Trung cấp chuyên nghiệp

23.92

0.94

0.92 61.20 13.02

100

1. Các nhà lãnh đạo trong các ngành, các cấp và các đơn vị

0.15

2.02

0.35 21.64 75.47

0.37

100

2. CMKT bậc cao trong các lĩnh vực

0.34

9.76

46.15

1.17 41.64 0.76

0.17

100

3. CMKT bậc trung trong các lĩnh vực

4. Nhân viên trong các lĩnh vực

5.07

0.51

8.89

5.44

3.66

76.43

100

3.35

0.54

3.65

0.03

0.94

1.28

90.20

100

5. Nhân viên dịch vụ cá nhân, bảo vệ trật tự - ATXH và bán hàng có kỹ thuật

100.0

100

6. LĐ có kỹ thuật trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản

17.11

0.65

0.92

0.07

0.83

0.02

80.40

100

7. Thợ thủ công có kỹ thuật và các thợ kỹ thuật khác có liên quan

52.10

3.32

1.94

0.17

1.33

41.14

100

8. Thợ có kỹ thuật lắp ráp và vận hành máy móc, thiết bị

9. Lao động giản đơn

0.26

0.39

0.89

0.27

0.20

97.98

100

10. Lực lượng quân đội

59.32 40.68

100

Nguồn: Cục Thống kê Thái Bình (2011), Niên giám thống kê Thái Bình năm 2010

[38, tr. 12].

172

Phụ lục 15

Đơn vị tính: %

Việc làm của LLLĐ theo ngành kinh tế và trình độ CMKT

Ngành kinh tế

Khác Tổng

Cao đẳng

Đại học trở lên

Sơ cấp nghề

Trung cấp nghề

Cao đẳng nghề

Trung cấp chuyên nghiệp

0.36

0.38

0.98

0.01

0.32

0.18

97.77

100

A. Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản

7.70

4.52

87.78

100

17.04

1.23

2.63

0.24

1.34

0.79

76.74

100

16.62

0.00

9.29

37.57

100

36.52

5.25

24.20

2.33

29.40

38.82

100

19.81

0.21

0.99

0.40

0.11

78.47

100

3.49

0.74

3.47

0.71

0.91

90.68

100

50.28

6.67 0.26

0.51 0.20 3.08

0.31 0.79 3.08

4.33 4.29 52.89

33.29 89.83 26.55

100 100 100

4.60 1.04 14.40

B. Khai khoáng C. Công nghiệp chế biến, chế tạo D. SX và phân phối điện,khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí E. Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải F. Xây dựng G. Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ôtô, mô tô, xe máy và các xe có động cơ khác H. Vận tải kho bãi I. Dịch vụ lưu trú và ăn uống 3.59 J. Thông tin và truyền thong

29.27

53.44

14.44

100

2.85

2.51

2.23

30.25

65.01

100

1.57

1.84

22.02

0.14

41.23

31.04

2.15

100

4.34

45.95

28.48

100

8.41

12.83

2.49

7.56

78.70

100

11.25

100

13.70

9.61

1.70

0.35

1.10

0.66

72.89

100.00

100

K. Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm N. Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ P. Giáo dục và đào tạo Q. Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội R. Nghệ thuật vui chơi và giải trí S. Hoạt động dịch vụ khác T. Hoạt động làm thuê các công việc trong các hộ GĐ, SX SP vật chất và DV tự tiêu dùng của hộ GĐ Ngành khác

11.19

33.66

44.15

0.25

2.85

0.01

7.89

100 Nguồn: Cục Thống kê Thái Bình (2011), Niên giám thống kê Thái Bình năm 2010

[38, tr. 12].

173

Phụ lục 16

Đơn vị tính: %

0.00

0.370.00

3.45

3.910.00

3.950.15

100%

0.02 9.50

0.55 10.61

19.00

90%

34.15

80%

70%

80.74

60%

80.44

91.76

80.37

50%

85.69

74.36

40%

59.41

30%

20%

10.27

10%

8.63

10.31 5.34

8.90 1.21

0.082.91

0.004.14

0%

Sơ cấp nghề Trung cấp

Cao đẳng Đại học trở

Khác

nghề

6.65 0.00 Cao đẳng nghề

lên

0.003.15 Trung cấp chuyên nghiệp

Dưới 20 giờ

Từ 20 giờ đến dưới 35 giờ

Từ 35 giờ đến dưới 60 giờ

Trên 60 giờ

KXĐ

Nguồn: Cục Thống kê Thái Bình (2011), Niên giám thống kê Thái Bình năm 2010

[38, tr. 13].

Số giờ làm việc của LLLĐ theo trình độ CMKT

Phụ lục 17

Đơn vị tính: Triệu đồng

4.00

3.73

3.50

3.00

2.90

2.91

2.72

2.64

2.65

2.50

2.00

1.50

1.00

0.50

0.00

Sơ cấp nghề

Cao đẳng

Trung cấp nghề

Trung cấp chuyên nghiệp

Cao đẳng nghề

Đại học trở lên

Thu nhập bình quân/tháng của LLLĐ theo trình độ CMKT

Nguồn: Cục Thống kê Thái Bình (2011), Niên giám thống kê Thái Bình năm 2010

[38, tr. 15].

174

Đơn vị tính: Triệu đồng

Phụ lục 18 Thu nhập bình quân 1 tháng của LLLĐ theo ngành kinh tế

TNBQ

Ngành kinh tế

Tổng số

2.57

A. Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản

2.09

B. Khai khoáng

3.48

C. Công nghiệp chế biến, chế tạo

2.40

D. SX và phân phối điện,khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí

3.05

E. Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải

2.30

F. Xây dựng

2.38

G. Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tto, mô tô, xe máy và các xe có động cơ khác

3.01

H. Vận tải kho bãi

3.52

I. Dịch vụ lưu trú và ăn uống

2.39

J. Thông tin và truyền thông

4.23

K. Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm

3.49

M. Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ

3.72

N. Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ

2.00

O. Hoạt động của ĐCS, tổ chức chính trị-xã hội, QLNN, ANQP, BĐXH bắt buộc

2.84

P. Giáo dục và đào tạo

2.83

Q. Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội

3.85

R. Nghệ thuật vui chơi và giải trí

2.36

S. Hoạt động dịch vụ khác

2.34

2.23

T. Hoạt động làm thuê các công việc trong các hộ GĐ, SX SP vật chất và DV tự tiêu dùng của hộ GĐ

Nguồn: Cục Thống kê Thái Bình (2011), Niên giám thống kê Thái Bình năm 2010

[38, tr. 15].

175

Phụ lục 19

Đơn vị tính: %

ừ 45-49 tu ổi,

Từ 50-54 tu ổi, 5.07

Từ 59-59 tu ổi, 6.42

4.07

Từ 15-19 tu ổi, 26.11

Từ 40-44 tu ổi, 1.06

Từ 35-39 tu ổi, 4.24

Từ 20-24 tu ổi, 20.35

Từ 30-34 tu ổi, 7.18

Từ 25- 29 tu ổi, 25.49

Nguồn: Quy hoạch hệ thống các cơ sở dạy nghề tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010-

2020 [168, tr. 46]

Tình trạng thất nghiệp của LLLĐ theo độ tuổi

Phụ lục 20

Đơn vị tính: %

Tình trạng tìm kiếm việc làm của lao động thất nghiệp

Có chủ động tìm kiếm việc làm chia theo các hình thức tìm kiếm việc làm

KXĐ

Trình độ CMKT

Tổng số

Không chủ động tìm kiếm việc làm trong 30 ngày qua

Nộp đơn xin việc

Tổng số Sơ cấp nghề Trung cấp nghề Trung cấp chuyên nghiệp Cao đẳng nghề

100 100 100 100 100

53.57 26.45 54.00 83.14

18.23 43.29 5.77 100.00

Liên hệ/ tư vấn cơ sở dịch vụ việc làm 8.25 68.30

Nhờ bạn bè/ người thân 19.31 5.25 2.71 11.09

Xem thông báo tuyển người 0.44

0.21

Cao đẳng Đại học trở lên Khác

100 100 100

13.25 11.98 63.12

36.07 86.16 5.69

43.55 4.37

1.86 26.52

7.13

0.30

Nguồn: Quy hoạch hệ thống các cơ sở dạy nghề tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010-

2020 [168, tr. 46]

176

Phụ lục 21

Đơn vị tính: %

KXD, 0.22

Chưa bao giờ làm việc, 43.97

Đã từng làm việc, 55.81

Nguồn: Quy hoạch hệ thống các cơ sở dạy nghề tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010-

2020 [168, tr. 47]

Kinh nghiệm làm việc của lao động thất nghiệp

Phụ lục 22

Đơn vị tính: %

Lý do rời bỏ công việc gần đây nhất của lao động thất nghiệp

Giảm nhân công, 21.42

Giải thể/sắp xếp lại DN, 9.70

Khác, 54.05

Hết hợp đồng, 1.97

Xin thôi việc/ thu nhập thấp, 12.86

Nguồn: Quy hoạch hệ thống các cơ sở dạy nghề tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010-

2020 [168, tr. 47]

177

Phụ lục 23 Cơ sở dạy nghề công lập (TCN, TTDN) tính đến cuối năm 2010 phân theo huyện/TP

Diện tích (km2)

TT

Tên TP/huyện

Cơ sở dạy nghề (cơ sở)

Dân số (người)

16

1

TP. Thái Bình

67.69

183.430

1

2

H. Đông Hưng

191.763

233.844

1

3

H. Hưng Hà

200.2

247.222

3

4

H. Kiến Xương

199.21

212.420

1

5

H. Quỳnh Phụ

208.96

232.509

1 2

6 7

H. Thái Thụy H. Tiền Hải

249.52 286.980

247.657 208.444

1

8

H. Vũ Thư

195.1618

218.978

Nguồn: Quy hoạch hệ thống các cơ sở dạy nghề tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010-

2020 [168, tr. 50]

178

Phụ lục 24

Đơn vị tính: Người

Giáo viên và cán bộ quản lý

Phân theo trình độ đào tạo

TT

Cơ sở dạy nghề

Tổng

Cao đẳng

Trung cấp

Đã được bồi dưỡng NVSP

ĐH và trên ĐH

Trình độ khác

282 185 72

179 126 45

65 40 15

23 14 6

169 130 36

15 5 6

3

25

8

10

3

4

4

I Về giáo viên, người dạy nghề 1 Nhóm các trường Trung cấp nghề 2 Nhóm các trung tâm dạy nghề Nhóm các cơ sở tham gia dạy nghề

0

167 92 51

130 74 38

18 10 7

16 8 5

3 0 1

3

24

18

1

3

2

II Về cán bộ quản lý 1 Nhóm các trường Trung cấp nghề 2 Nhóm các trung tâm dạy nghề Nhóm các cơ sở tham gia dạy nghề

Cộng tổng

449

309

83

39

18

169

Nguồn: Nguồn: Quy hoạch hệ thống các cơ sở dạy nghề tỉnh Thái Bình giai đoạn

2010-2020 [168, tr. 50]

Phụ lục 25

Quy mô và cơ cấu dạy nghề

TT

Chỉ tiêu

ĐVT Tổng số

2004

2005

Thực hiện qua từng năm 2008 2007 2006

2009

2010

18,300 20,900 21,650 22,650 26,000 28,200 31,200

người người người

168,900 3,400 21,000

1,800

2,200

2,400

2,550

300 3,350

1,500 4,300

1,600 4,400

1

người

144,500

16,500 18,700 19,250 20,100 22,350 22,400 25,200

người

36,343

2,459

5,411

7,010

7,331

3,498

5,422

5,212

%

93.1

92.2

91.5

90.4

93.7

95.2

96.6

2

Số lao động được tuyển sinh DN - Cao đẳng nghề - Trung cấp nghề - Sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng Trong đó: dạy nghề theo CTMTQG Tỷ lệ tốt nghiệp bình quân năm Tỷ lệ LĐ có việc làm sau đào tạo bình quân năm

3

%

79

78

81

80.5

80

81.5

82

Nguồn: Nguồn: Quy hoạch hệ thống các cơ sở dạy nghề tỉnh Thái Bình giai đoạn

2010-2020 [168, tr. 51]

179

Phụ lục 26

Chức vụ,

STT

Họ và tên

Địa chỉ

nghề nghiệp

1

Đặng Khiêu

Giám đốc

Sở lao động Thương binh và Xã hội Thái Bình (2001-2013)

2

Nguyễn Minh Thảo

Hiệu trưởng

Trường Trung cấp nghề Thái Bình (2001-2010)

3

Phạm Thị Hạnh

Nông dân

Thôn Xuân Phố, xã Thái Phúc, huyện Thái Thụy, Thái Bình

4

Bùi Thị Hiền

Nông dân

Xã Vũ Tây, huyện Kiến Xương, Thái Bình

5

Trương Thị Hằng

Nông dân

Phường Hoàng Diệu, Thành phố Thái Bình

Xã Nguyên Xá, huyện Vũ Thư,

6

Trần Thị Tú

Nông dân

Thái Bình

Danh sách cá nhân điều tra, phỏng vấn

1. Ph ỏng vấn Ông Đặng Khiêu - nguyên Giám đốc Sở Lao động

Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình từ năm 2001 đến năm 2012 NCS: Theo ông, giai đoạn 2001-2005 và 2006-2010 đào tạo ngu ồn

nhân lực cho nông nghiệp tỉnh Thái Bình có những thuận lợi, khó khăn gì?

ả lời: Tr

ề thuận lợi: - V

Th ứ nhất, Thái Bình là t ỉnh có truyền thống cách mạng, là "quê hương

năm tấn" thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Nhân dân Thái Bình luôn tin tưởng vào

sự lãnh đạo của Đảng. Người dân Thái Bình c ần cù, ch ịu khó, luôn sáng t ạo

trong lao động, sản xuất, ham học hỏi. Đây là nh ững điều kiện thuận lợi để

triển khai th ực hiện các ch ủ trương, chính sách c ủa Đảng và Nhà n ước trong

đó có chính sách về đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực của tỉnh.

Th ứ hai, Thái Bình luôn nh ận được sự quan tâm, ch ỉ đạo kịp thời của

Trung ương Đảng trong các vấn đề về phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã

180

hội. Đảng bộ và nhân dân Thái Bình luôn đoàn kết, quyết tâm th ực hiện các

chủ trương, đường lối của Đảng nhằm phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng đời

sống ấm no, hạnh phúc.

Th ứ ba, Thái Bình có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự

phát triển kinh tế, xã hội, nhất là phát triển kinh tế nông nghiệp. Đây được coi

là thế mạnh của tỉnh, đồng thời trong những năm đầu thế kỷ XXI, với sự phát

triển của kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ dẫn đến nhu cầu của người dân

về vi ệc đào tạo, ứng dụng khoa học công ngh ệ vào s ản xu ất ngày một lớn.

Nhu cầu học nghề của người dân, đặc biệt là lao động nông thôn hàng n ăm

đều tăng. Đây là thu ận lợi cơ bản để nâng cao ch ất lượng ngu ồn nhân l ực

trong nông nghiệp của tỉnh.

Th ứ tư, Thái Bình có h ệ thống các cơ sở đào tạo nghề tương đối đồng

bộ, các huy ện của Thái Bình đều có trung tâm d ạy nghề nhằm đáp ứng nhu

cầu đào tạo ngh ề của ng ười lao động. Ngoài ra, các trung tâm, các doanh

nghiệp cũng tích c ực tham gia vào công tác đào tạo ngh ề. Bên c ạnh đó hệ

thống các tr ạm, trung tâm khuy ến nông c ủa tỉnh giai đoạn này c ũng được

thành lập ở các huy ện góp ph ần vào vi ệc đào tạo, bồi dưỡng, chuy ển giao

khoa học kỹ thuật cho người lao động.

Th ứ năm, có sự vào cuộc của các cấp, các ngành trong công tác đào tạo

nghề đặc biệt là Sở Lao động - Th ương binh và Xã h ội, Sở Nông nghi ệp và

Phát triển nông thôn trong vi ệc tham mưu và ch ỉ đạo thực hiện công tác đào

tạo nghề, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho người nông dân.

Về những khó khăn:

- Thái Bình là m ột tỉnh nông nghi ệp, kinh tế còn ch ậm phát tri ển, thu

ngân sách hàng n ăm không cao, ch ưa cân đối được ngân sách vẫn phụ thuộc

vào nguồn kinh phí Trung ương cấp do đó ảnh hưởng đến việc đầu tư nguồn

lực cho công tác đào tạo nguồn nhân lực nói chung và đào tạo nguồn nhân lực

cho nông nghiệp nói riêng.

- H ệ thống các cơ sở dạy nghề được hình thành nh ưng cơ sở vật chất

còn hạn ch ế, ch ưa đáp ứng được nhu c ầu học ngh ề đa dạng của ng ười lao

động. Các cơ sở mới thực hiện đào tạo theo năng lực sẵn có chứ chưa đào tạo

181

được theo nhu cầu của người lao động, của doanh nghiệp và xã hội do đó ảnh

hưởng đến chất lượng của công tác đào tạo.

- Đội ngũ giáo viên c ủa các cơ sở dạy nghề còn thi ếu và yếu, cán bộ

quản lý về dạy nghề các cấp còn thiếu kinh nghiệm và chưa được bố trí đủ về

số lượng.

- Nh ận th ức của người dân và xã h ội về vi ệc học ngh ề còn h ạn ch ế.

Người lao động nông thôn ch ưa thực sự thiết tha với việc tham gia học nghề

do ảnh hưởng tâm lý bằng cấp.

NCS: Theo ông, đào tạo nghề cho nông nghi ệp với những ngành nh ư

công nghiệp, dịch vụ có gì khác biệt không?

Trả lời: Khác bi ệt lớn nhất là các ngành ngh ề đào tạo để phục vụ sản

xuất nông nghi ệp chủ yếu là các ngh ề ở trình độ sơ cấp và dạy nghề dưới 03

tháng như các nghề về chăn nuôi, trồng trọt, hoặc các nghề phục vụ phát triển

làng ngh ề. Vi ệc đào tạo ch ủ yếu được th ực hi ện ngay t ại nơi sản xu ất, trên

đồng ruộng, trang trại gắn trực tiếp với sản xuất, theo chu trình phát tri ển của

cây trồng, vật nuôi.

Thứ hai, các nghề đào tạo rất đa dạng phong phú và thay đổi nhanh theo

yêu cầu ngày càng cao của sản xuất hàng hóa và làm nông nghiệp hiện đại.

NCS: Trong quá trình th ức hi ện, công tác đào tạo ngu ồn nhân l ực ở

Thái Bình có khác gì so với các tỉnh lân cận không, thưa ông?

Trả lời: So với các tỉnh lân cận như Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định,

Hà Nam công tác này của Thái Bình có những điểm giống và khác nhau như:

- Gi ống nhau: Công tác d ạy nghề đều phục vụ phát tri ển nhân lực của

tỉnh, nâng cao trình độ canh tác, gi ảm chi phí, nâng cao n ăng suất thu nh ập

cho người lao động nông thôn. T ừ năm 2008 tr ở đi là ph ục vụ cho vi ệc xây

dựng nông thôn mới theo Ngh ị quyết của Trung ương Đảng về nông nghi ệp,

nông dân, nông thôn.

- Khác nhau là Thái Bình là m ột tỉnh thuần nông, công nghiệp, dịch vụ

chưa phát triển, giai đoạn này tỉnh mới có 1 khu công nghiệp nên công tác dạy

nghề của Thái Bình phục vụ chủ yếu cho phát triển kinh tế nông nghiệp nhằm

nâng cao năng suất lao động trên cùng m ột diện tích canh tác, gi ảm chi phí,

182

tăng thu nhập cho người dân. Bên cạnh đó, công tác đào tạo cũng nhằm phục

vụ chuyển dịch cơ cấu trong s ản xu ất nông nghi ệp nh ư chuyển dịch cơ cấu

cây tr ồng, vật nuôi theo h ướng sản xu ất hàng hóa, hình thành các vùng

chuyên cây, chuyên con.

NCS: Ông có đúc kết được những kinh nghiệm gì trong đào tạo nguồn

nhân lực cho nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010 không?

Tr ả lời: Theo tôi, chủ yếu là những kinh nghiệm sau:

- M ọi chủ trương của Đảng bộ tỉnh trong đó có ch ủ trương về đào tạo

nguồn nhân lực muốn đi vào cuộc sống, được người dân hưởng ứng, tham gia

đều phải xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của người dân, ph ục

vụ lợi ích của nhân dân;

- Các ngành ngh ề đào tạo ph ải sát v ới nhu c ầu sản xu ất, nhu c ầu sử

dụng lao động trên địa bàn và đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

của địa phương;

- Công tác tuyên truy ền, tư vấn về học nghề và giải quyết việc làm phải

được thực hiện thường xuyên, có chi ều sâu và phong phú v ề hình th ức; hàng

năm phải rà soát nhu cầu đào tạo, nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp

và nhu cầu học nghề của người dân;

- S ự chỉ đạo sát sao của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự vào cuộc của

các tổ chức đoàn thể và mọi người dân là yếu tố quyết định đến kết quả, hiệu

quả của công tác đào tạo nhân lực nói chung và nhân lực cho nông nghiệp nói

riêng của tỉnh.

- B ản thân ngành LĐTBXH luôn chủ động tham mưu, đề xuất kíp thời

giúp cấp ủy, UBND tỉnh được nhiều giải pháp phù hợp với đặc thù riêng của

tỉnh nhằm đáp ứng kíp th ời cho vi ệc đào tạo NNL cho nông nghi ệp của tỉnh

Thái Bình phát triển.

183

2. Phỏng vấn ông Nguyễn Minh Thảo, nguyên Hiệu trưởng trường

Trung cấp ngh ề Thái Bình t ừ năm 2001 đến năm 2013 (T ừ năm 2012,

trường phát triển thành trường Cao đẳng nghề Thái Bình)

NCS. Xin ông cho bi ết công tác đào tạo nghề của tỉnh Thái Bình giai

đoạn này có những thuận lợi, khó khăn gì?

Tr ả lời.

+ Thu ận lợi:

- Công tác đào tạo nghề, tạo nguồn lao động có ngh ề đáp ứng yêu cầu

phát triển kinh tế - xã h ội giai đoạn này được Đảng, nhà nước đặc biệt quan

tâm. Có th ể nói ch ưa bao gi ờ Đảng, Nhà n ước, các c ấp, các ngành, các địa

phương lại quan tâm đến công tác đào tạo nghề như giai đoạn từ năm 2000

đến nay.

- S ự quan tâm đầu tư, lãnh đạo, chỉ đạo về công tác đào tạo nghề được

quan tâm như trên là phù hợp với đường lối, chủ trương phát triển kinh tế - xã

hội của Đảng và Chính ph ủ. Đồng th ời, là một tất yếu trong quá trình th ực

hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

- Công tác đào tạo nghề đã được Chính ph ủ quan tâm đầu tư để phát

triển, nâng cao n ăng lực công tác đào tạo nghề, từ cơ quan qu ản lý đào tạo

nghề ở Trung ương là B ộ Lao động - Th ương binh và Xã h ội, tr ực ti ếp là

Tổng cục Dạy nghề, ở địa phương là Ủy ban nhân dân t ỉnh, thành ph ố tr ực

thuộc trung ương về cơ sở vật chất, về đội ngũ giáo viên dạy nghề, về đội ngũ

quản lý các c ơ sở dạy nghề, về chương trình, giáo trình đào tạo và về cơ chế

chính sách c ủa công tác đào tạo ngh ề (đặc bi ệt cụ th ể là Quy ết định số

1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đề án đào tạo nghề cho lao động

nông thôn đến năm 2020).

- Nh ận th ức của dân dân và ng ười học ngh ề cũng dần đã đúng mức,

thiết thực: Học để tạo lập cuộc sống, để có việc làm không nhất thiết phải học

đại học, cao đẳng.

- Th ị tr ường lao động phát tri ển với tốc độ cao, h ội nh ập kinh t ế của

Việt Nam ngày càng sâu r ộng, các nhà đầu tư trong và ngoài n ước đã đầu tư

184

phát triển các cơ sở sản xuất lớn, đòi hỏi nguồn nhân lực có ngh ề ngày càng

tăng cao, tạo áp lực cho các cơ sở đào tạo nghề phải tăng tốc, phải phát triển.

- Đội ng ũ nh ững ng ười làm công tác đào tạo ngh ề (g ồm qu ản lý và

giảng dạy) dần thích ứng với yêu cầu công tác đào tạo nghề.

- Công tác đào tạo nghề được toàn xã hội thừa nhận là lĩnh vực rất quan

trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.

+ Khó kh ăn

- Nh ận thức về công tác đào tạo nghề chưa chuẩn mực, chưa chính xác,

thậm chí một số nơi còn lệch lạc. Phần đông người dân và học sinh, sinh viên

vẫn coi sau khi h ọc phổ thông thì vào tr ườn cao đẳng, đại học. Học sau đó

xong chạy vào các cơ quan nhà nước, thì việc làm thu nhập ổn đinh, có cơ hội

thăng tiến hơn; còn học nghề thì học xong sẽ vào các doanh nghi ệp làm việc,

lao động chân tay v ất vả hơn, cơ hội th ăng quan ti ến ch ức ít, vi ệc làm thu

nhập không bền vững, xã hội xem thường.

Nh ận thức này không ph ải ở những người nông dân ở các địa phương

mà còn ở cả những cán bộ, đảng viên có địa vị trong xã hội.

Tôi cho đây là khó kh ăn lớn nh ất, tr ực ti ếp ảnh hưởng đến công tác

tuyển sinh học nghề ở các cơ sở đào tạo nghề trong phạm vi cả nước

- V ề cơ sở vật chất, tuy nhà nước đã quan tâm đầu tư, nhưng hiện tượng

dàn trải, mỗi cơ sở một ít vẫn là cơ chế phổ biến, do vậy nhìn chung số đông

cơ sở đào tạo vẫn còn hạn chế khâu này.

- V ề lực lượng giáo viên, c ũng đã được quan tâm cả về số lượng, chất

lượng nhưng hiện tại vẫn còn bất cập, chủ yếu tốt nghiệp từ các tr ường đào

tạo chuyên nghi ệp, nặng lý thuy ết, kém kỹ năng th ực hành (nhi ều kỹ sư tốt

nghiệp loại khá nhưng kỹ năng thua xa thợ bậc 4, bậc 5), nói hay, làm dở.

- Ch ương trình, giáo trình th ỉ chủ yếu cũng là ch ương trình, giáo trình

của các trường đào tạo chuyên nghiệp, tính cầm tay chỉ việc còn hạn chế. Tiến

trình đổi mới chương trình, giáo trình từ trung ương đến các cơ sở chậm.

NCS: Nh ững kết qu ả điển hình trong đào tạo ngh ề của nhà tr ường

trong thời gian này?

Trả lời:

185

- Tr ường Trung cấp nghề Thái Bình thuộc Sở Lao động - Thương binh

và Xã h ội tỉnh Thái Bình là m ột tr ường trung c ấp ngh ề được thành lập đầu

tiên trong ph ạm vi cả nước khi có Lu ật Dạy ngh ề (Ngày 21/4/2006). Trong

những năm qua trường đã được Tổng cục Dạy nghề và Ủy ban nhân dân t ỉnh

Thái Bình, trực tiếp là Sở Lao động - Th ương binh và Xã h ội quan tâm, lãnh

đạo, chỉ đạo toàn diện, sâu sắc và cụ thể gồm các nội dung:

- T ăng cường cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề;

- Phê duy ệt dự án xây d ựng trường trên khuôn viên 3ha v ới tổng mức

đầu tư được phê duyệt trên 70 tỷ đồng;

- B ộ cấp vốn thông qua ch ương trình mục tiêu bình quân m ỗi năm 1,5

tỷ đồng;

- Ổn định tổ chức bộ máy, tuyển dụng giáo viên dạy nghề;

- Giao ch ỉ tiêu đào tạo hàng năm phù hợp;

- có k ế ho ạch và th ường xuyên ki ểm tra giám sát m ọi ho ạt động của

trường theo Luật Dạy nghề.

ề kết quả đào tạo cụ thể: * V

+ V ề số lượng: từ năm 2007-2010 mỗi năm tuyển sinh đào tạo 200 học

sinh trung c ấp ngh ề chính quy v ới 03 ngh ề Điện công nghi ệp, may công

nghiệp, cơ khí hàn. Đào tạo sơ cấp nghề mỗi năm 350 học sinh với 05 ngh ề:

điện công nghi ệp, may công nghi ệp, cơ khí hàn, s ửa chữa máy may, tin h ọc.

Trong số này, dạy nghề cho lao động nông thôn bình quân 150 học sinh/năm.

- T ừ năm 2011 đến nay, mỗi năm tuyển sinh đào tạo 350 học sinh trung

cấp nghề chính quy và trên 400 học sinh học sơ cấp nghề.

- Ngoài công tác đào tạo nghề, trường được tỉnh ủy giao thêm nhiệm vụ

kiên kết đào tạo lại cán bộ công ch ức cấp xã, phường, thị trấn; bình quân mỗi

năm 150 sinh viên với các ngành học: công tác xã hội, quản trị nhân lực, kế toán.

+ V ề chất lượng:

ố học sinh ra trường so với số học sinh tuyển sinh 96%; - S

ố học sinh đạt yêu cầu tốt nghiệp đạt 97%; - S

ố học sinh ra trường có việc làm đạt 100%; - S

186

- S ố học sinh được tỉnh giao liên kết đào tạo tốt nghiệp 100%, trong đó

90% khá, giỏi;

- Tr ường ch ấp hành nghiêm túc các quy định về đào tạo ngh ề theo

Luật Dạy nghề và các quy định khác của Chính phủ của Bộ LĐTBXH và của

Ủy ban nhân dân tỉnh;

- H ầu hết các năm trường được Bộ LDDTBXH, UBND tỉnh tặng bằng khen.

NCS: So sánh vi ệc đào tạo nghề cho nông nghi ệp và các ngành khác

có gì khác biệt (các ngành công nghiệp, dịch vụ)

ả lời: Tr

Tr ường tập đào tạo các ngh ề công nghi ệp để phục vụ việc chuyển đổi

cơ cấu kinh tế của tỉnh và cơ cấu lao động từ lao động nông nghi ệp sang lao

động công nghiệp phù hợp với thị trường lao động của tỉnh, đào tạo nghề dịch

vụ không ph ải là tr ọng tâm c ủa tr ường. Song qua vi ệc ti ếp cận và kh ảo sát

trong khu v ực, tôi cho r ằng đào tạo nghề có nh ững điểm chung đó là trong

thực hành, yêu c ầu kỹ năng nhi ều hơn, ph ải có c ơ sở vật ch ất tốt, nguyên

nhiên vật liệu nhiều, giáo viên phải biết cầm tay chỉ việc…

Song khác bi ệt giữa đào tạo nghề công nghiệp, dịch vụ với nghề nông

nghiệp thì ngh ề nông nghi ệp đòi hỏi phải kiên trì, theo chu trình sinh tr ưởng

phát triển của cây, con và phải gắn trực tiếp với sản xuất của bà con nông dân.

NCS: So v ới các cơ sở dạy nghề ở một số tỉnh lân cận có những điểm

giống, khác nhau gì?

ả lời: Tr

+ Gi ống nhau: Đều thực hiện theo Lu ật Dạy nghề, phải chấp hành đầy

đủ các quy định về đào tạo nghề của các cơ quan quản lý nhà nước; Vẫn phải

quan tâm đến phát tri ển cơ sở vật chất, thiết bị, lực lượng giáo viên, ch ương

trình, giáo trình để phát triển cơ sở.

Song khác nhau: Theo tôi ở cách làm của các trường, cơ sở và khả năng

tài chính của từng tỉnh và điều kiện của người học nghề, tốc độ phát tri ển và

chuyển đổi cơ cấu kinh tế của từng tỉnh.

Ví dụ: Hải Phòng, Nam Định, Hà Nam tốc độ phát triển các khu công nghi ệp

lớn hơn Thái Bình, yêu cầu lao động có nghề nhiều hơn Thái Bình

187

- Các tr ường đào tạo nghề của các tỉnh tôi được tiếp xúc ở các tỉnh lân

cận được đầu tư nhiều hơn; kinh phí đầu tư cho một tiết học nghề của 1 năm

nhiều hơn của Thái Bình.

NCS: Nh ững kinh nghi ệm đúc kết được trong th ời gian lãnh đạo nhà

trường?

Tr ả lời:

Theo tôi: ngoài nh ững vấn đề chung cần giáo dục về chính trị, tư tưởng,

đạo đức, tác phong nghề nghiệp….

Tr ường tập trung vào công tác tuyên truy ền tuy ển sinh, đầu tư cho

công tác tuyển sinh để tuyển sinh đạt chỉ tiêu;

Có k ế hoạch và bi ện pháp th ật cụ thể để nâng cao ch ất lượng đội ngũ

giáo viên, giáo viên dạy nghề phải vừa là thầy, vừa là thợ.

Nên t ổ chức nhiều hoạt động bổ trợ, ví dụ: tổ chức sản xuất, tổ chức các

phong trào thi đua

Tranh th ủ sự hỗ trợ của các cấp, các ngành, các nhà doanh nghiệp

Gắn chặt chẽ giữa đào tạo và thực tiễn sản xuất.

NCS: Xin c ảm ơn ông!

188

ỏng vấn bà Phạm Thị Hạnh Tu ổi: 60

Địa chỉ: Thôn Xuân Phố, xã Thái Phúc, huyện Thái Thụy, Thái Bình 3. Ph

NCS: Th ưa cô, trong nh ững năm 2001 - 2010, kinh t ế gia đình cô ch ủ

yếu là gì?

Trả lời: Ch ủ yếu là kinh t ế nông nghi ệp, cấy ru ộng, tr ồng tr ọt, ch ăn

nuôi, nhưng từ năm 2006 cô trả ruộng vì còn phải chăm ông bà.

NCS: Th ế từ đó, nguồn thu nhập chính của gia đình từ đâu?

Tr ả lời: Thì cô chăm ông bà rồi thì các anh em phụ vào, chủ yếu là anh

trai cô nuôi, với lại cô tăng gia trồng trọt, chăn nuôi.

NCS: Cô có ngh ề phụ gì không ạ?

Tr ả lời: Không cháu ạ. Cô cả đời chỉ làm ruộng, thôn cô, xã cô ch ỉ làm

ruộng.

NCS: Th ế thu nhập như thế có cao không ạ?

Tr ả lời: Không, vất vả lắm nhưng chỉ đủ ăn thôi

NCS: Nh ững năm 2001-2005, các cô có được tham gia các l ớp tập

huấn hay đào tạo nghề để phục vụ sản xuất nông nghiêp không?

Tr ả lời: Không có các lớp đó. Nếu có thì họ chỉ gọi những nhà có nhiều

ruộng, còn nhà nào ít ruộng thì thôi.

NCS: Th ế nếu có những kiến thức mới thì cô học như thế nào?

Tr ả lời: Cô học lỏm.

NCS: Theo cô, nh ững lớp tập huấn về khoa học kỹ thuật hay đào tạo

nghề cho nông dân có cần thiết không?

Tr ả lời: Cô không cần, vì cô làm ruộng giỏi rồi.

NCS: Cô có nh ớ là nh ững năm 2001-2005, khó kh ăn nh ất trong s ản

xuất nông nghiệp của cô là gì không?

Tr ả lời: Vất vả lắm. Hạn hạn, không có máy móc nh ư bây gi ờ. Một

mình cô tự gặt, gánh về rồi đập lúa, kéo đá.

NCS: Cháu c ảm ơn cô.

189

4. Ph ỏng vấn cô Trương Thị Hằng Tu ổi 33

Địa chỉ: Phường Hoàng Diệu, Thành phố Thái Bình

NCS: T ốt nghiệp phổ thông xong chị làm gì?

Tr ả lời: Em ở nhà, lấy chồng, sinh con, làm ruộng.

NCS: Ch ị làm ruộng từ năm 2001 có được nhà nước hỗ trợ gì về chính

sách, máy móc, kiến thức khoa học kỹ thuật không?

Tr ả lời: Không có gì hết. Làm đơn nhiều lần cũng không được vay vốn,

muốn có lớp học kỹ thuật cũng không có.

NCS: Th ế chị có muốn theo học những lớp đấy không?

Tr ả lời: Có, em rất muốn. Từ năm 2007, em chuyển qua chăn nuôi lợn

nên càng muốn tham gia những lớp ấy, nhưng em vẫn chưa thấy có, kiến thức

tự tìm hiểu trên mạng.

ệu có ph ải chị đã không để ý đến những thông tin v ề lớp học NCS: Li

không?

Tr ả lời: Không có đâu, em bi ết mà. Em ngh ĩ xã v ừa mới được lên

phường thuộc thành ph ố nên chính sách ch ưa quan tâm t ới nông dân chúng

em.

NCS: Hi ện gi ờ, thu nh ập bình quân c ủa nhà ch ị từ ch ăn nuôi là bao

nhiêu, chị có thể nói không?

Tr ả lời: Khoảng 100 triệu đồng/năm. Nhưng vất vả lắm, chủ yếu là lấy

công làm lãi.

NCS: Theo ch ị, khó khăn nhất hiện nay là gì?

Tr ả lời: Là v ốn, tôi mu ốn vay để mở rộng ch ăn nuôi nh ưng không

được, là kiến thức khoa học hỗ trợ chăn nuôi.

NCS: Vâng, c ảm ơn chị!

190

5. Ph ỏng vấn chị Bùi Thị Hiền Tu ổi: 37

Địa chỉ: Xã Vũ Tây, huyện Kiến Xương

đình chị chủ yếu làm ru ộng trong th ời gian 2001-2010 ph ải NCS: Gia

không?

Tr ả lời: Vâng. Nhưng hiệu quả thấp lắm, không ăn thua nên vẫn phải đi

cấy thuê và nấu cỗ thuê.

NCS: Sao ch ị không tham gia các l ớp học ngh ề và làng ngh ề. Huyện

chị có rất nhiều lớp và làng nghề mà?

Tr ả lời: Ngày tr ước có đâu. Mãi sau này m ới có ngh ề mây, tre, đan

nhưng không ăn thua. Bây gi ờ người ta đi làm công ty h ết rồi, mình có con

nhỏ phải ở nhà thì cấy ruộng của người ta.

NCS: Ch ị có được hỗ trợ gì để làm nông nghiệp không?

Tr ả lời: Ch ẳng được gì. Mu ốn vay v ốn nh ững không được vay. Còn

làm ruộng thì cứ thế làm, không cần học.

NCS: H ội Ph ụ Nữ và H ội nông dân v ẫn có ch ương trình h ỗ tr ợ vốn,

sao chị không vay từ đó?

Tr ả lời: Thì tôi có tham gia H ội Ph ụ Nữ, nh ưng cán b ộ hội ch ỉ cho

những người quen thân với họ vay thôi, tôi không được.

NCS: Ch ị có được nghe về những lớp tập huấn chuyển giao khao h ọc

kỹ thuật không?

Tr ả lời: Có, chính quy ền có t ổ ch ức nh ững bu ổi hội th ảo về nông

nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, phân bón, nhưng ít thôi.

NCS: Ch ị có tham gia không?

Tr ả lời: Không. Làm ruộng quen rồi, không cần nghe. Với lại cũng bận

đi làm thuê không có thời gian nữa.

NCS: C ảm ơn chị!

191

6. Phỏng vấn bác Trần Thị Tú Tu ổi: 53 Địa chỉ: Xã Nguyên Xá, huyện Vũ Thư, Thái Bình

ệp không ạ? ả lời: Có chứ, tôi cấy nhiều là đằng khác, không cấy lấy gì ăn.

ế bác làm ru ộng thì dựa vào kinh nghi ệm hay ki ến thức khoa

ả lời: Có chứ, ở xã này mọi người làm theo kiến thức khoa học hết rồi.

ến thức khoa học bác học ở đâu ạ?

ả lời: Bà con được đi học đấy. Trên tỉnh mở lớp học rồi cử cán b ộ

ững lớp học này có hay được tổ chức không ạ, nội dung chính

ư thế chắc người dân thích đi học lắm ạ?

ả lời: Họ rất thích. Vừa được ngồi mát, vừa được tiền, vừa được kiến thức.

ọc xong bà con có áp dụng được không ạ?

ế còn làm ngh ề ph ụ thì sao ạ? Là xã điểm thì làng ngh ề có

ăn lớn nhất với bà con khi làm nông nghiệp là gì ạ? ả lời: Tôi không th ấy khó kh ăn gì c ả, vì dân ở đây họ sướng lắm,

NCS: Bác có làm nông nghi Tr NCS: Th học ạ? Tr NCS: Ki Tr khuyến nông về dạy, hay lắm, bà con thích lắm. NCS: Nh là về gì ạ? Tr ả lời: Thường xuyên, vì là xã điểm nên được quan tâm l ắm. Cán bộ khuyến nông về mở lớp ở hội trường cạnh chùa đấy, mỗi xóm được 10 người đi học. Những người đi học được 20.000-30.000 một lần học. Có đợt thì được cán bộ khuyến nông tặng vật phẩm. Ai đi học thì nghe tr ực tiếp, ai không đi học thì nghe qua loa của xóm, nghe người ta giảng hay lắm. NCS: Nh Tr NCS: H Tr ả lời: Được ch ứ, áp dụng vào tr ồng lúa, tr ồng hoa màu, ch ăn nuôi. Bây giờ nhà cửa thôn xóm r ất sạch sẽ không có c ọng rơm vì xử lý hết ngoài đồng, rơm phơi luôn trên r ạ, còn nhân dân ở đây đun bằng ga hết, không có nhà nào đun rơm cả. NCS: Th phát triển không ạ? Tr ả lời: Không, bây giờ họ đi làm công ty h ết rồi. Chỉ bao giờ hết tuổi công ty, hay ph ải trông con nh ỏ thì họ mới ở nhà làm ngh ề chẻ rễ, làm ch ổi, thêu ren, mỗi ngày được 50.000-100.000đ. NCS: Theo bác, khó kh Tr không vất vả như ngày xưa. NCS: C ảm ơn bác!