Đánh giá chuỗi biến đổi khí hậu - nước - năng lượng - lương thực - công bằng xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long

Chia sẻ: Vixyliton Vixyliton | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

0
1
lượt xem
0
download

Đánh giá chuỗi biến đổi khí hậu - nước - năng lượng - lương thực - công bằng xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu được thực hiện với cách tiếp cận theo chuỗi và sử dụng các phương pháp thu thập sử lí số liệu, phương pháp đánh giá tương quan và xây dựng phương trình hồi quy, xây dựng biểu đồ SAM.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đánh giá chuỗi biến đổi khí hậu - nước - năng lượng - lương thực - công bằng xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE<br /> Natural Sci. 2017, Vol. 62, No. 3, pp. 142-152<br /> This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn<br /> <br /> DOI: 10.18173/2354-1059.2017-0018<br /> <br /> ĐÁNH GIÁ CHUỖI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU - NƯỚC - NĂNG LƯỢNG - LƯƠNG THỰC<br /> - CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG<br /> <br /> Đào Ngọc Hùng¹, Trần Đức Tuấn² và Cù Thị Phương³<br /> ¹Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội<br /> ²Viện Nghiên cứu Sách và Học liệu Giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam<br /> ³Khoa Thủy văn và Tài nguyên nước, Trường Đại học Thủy Lợi<br /> Tóm tắt. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, biến đổi khí hậu (BĐKH) và các hoạt động kinh tế xã<br /> hội của con người được thể hiện rõ nét qua chuỗi các mối quan hệ bao gồm biến đổi khí hậu nước - năng lượng - lương thực - công bằng xã hội (gọi tắt là chuỗi “biến đổi khí hậu - nước năng lượng - lương thực - công bằng xã hội”). Tại các vùng lãnh thổ khác nhau, mức độ quan<br /> trọng và mối quan tâm của xã hội với từng thành phần trong chuỗi không như nhau.<br /> Nghiên cứu được thực hiện với cách tiếp cận theo chuỗi và sử dụng các phương pháp thu thập<br /> sử lí số liệu, phương pháp đánh giá tương quan và xây dựng phương trình hồi quy, xây dựng<br /> biểu đồ SAM. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng: xét về mức độ tác động thì chuỗi quan hệ ở<br /> Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được biểu thị là BĐKH - nước - lương thực - năng<br /> lượng - công bằng xã hội; nhưng xét theo mức độ quan tâm của xã hội thì chuỗi quan hệ ở<br /> ĐBSCL được biểu thị là BĐKH - lương thực - nước, công bằng xã hội - năng lượng.<br /> Việc nghiên cứu chuỗi các mối quan hệ nói trên ở ĐBSCL có ý nghĩa bởi vì kết quả thu được<br /> là tiền đề quan trọng cho nghiên cứu về quá trình học tập chuyển đổi nhằm phát triển bền<br /> vững ở ĐBSCL.<br /> Từ khóa. Biến đổi khí hậu, chuỗi biến đổi khí hậu - nước - năng lượng - lương thực - công<br /> bằng xã hội, đồng bằng sông Cửu Long, học tập chuyển đổi, phát triển bền vững.<br /> <br /> 1.<br /> <br /> Mở đầu<br /> <br /> Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nằm ở rìa phía Nam của Việt Nam, có tổng diển tích tự<br /> nhiên khoảng hơn 40 nghìn km², chiếm hơn 12 % diện tích của Việt Nam [1] và 5% diện tích lưu<br /> vực sông Mê Công. Phía Tây của Đồng bằng tiếp giáp với Campuchia, phía Nam là vịnh Thái Lan,<br /> phía Đông là Biển Đông và phía Bắc tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh.<br /> 22% dân số Việt Nam sống ở ĐBSCL. Đất nông nghiệp chiếm 75% diện tích ĐBSCL, phần lớn là<br /> ruộng lúa. ĐBSCL có tài nguyên nước dồi dào, khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, hệ thống giao thông<br /> đường bộ và đường thủy thuận tiện, người dân cần cù chịu khó và có kinh nghiệm sản xuất nông<br /> nghiệp, nông nghiệp là sinh kế chính cho 60% dân cư ở ĐBSCL [2]. ĐBSCL cung cấp 46% tổng<br /> lượng lương thực sản xuất tại Việt Nam và đóng góp 27% GDP của Việt Nam [3].<br /> <br /> Ngày nhận bài: 19/2/2017. Ngày nhận đăng: 20/3/2017.<br /> Tác giả liên hệ: Đào Ngọc Hùng, e-mail: daongochung69@gmail.com<br /> <br /> 142<br /> <br /> Đánh giá chuỗi biến đổi khí hậu - nước - năng lượng - lương thực - công bằng xã hội ở đồng bằng…<br /> <br /> ĐBSCL là một trong ba đồng bằng dễ bị tổn thương nhất trên thế giới do BĐKH (cùng với<br /> đồng bằng sông Nile ở Ai Cập và đồng bằng Ganges ở Bangladesh). Với biểu hiện nước biển<br /> dâng cao, các hiện tượng thời tiết cực đoan gia tăng, BĐKH đã tác động tiêu cực và đáng kể đến<br /> ĐBSCL. Theo dự báo, tác động của BĐKH sẽ làm 90% đất nông nghiệp ở ĐBSCL bị ảnh hưởng<br /> bởi lũ lụt, 70% diện tích ĐBSCL sẽ bị xâm nhập mặn, năng suất nông nghiệp bị suy giảm và sinh<br /> kế của nhiều người dân, đặc biệt là người nghèo bị ảnh hưởng tiêu cực [3].<br /> Trong bối cảnh trên, chính quyền và người dân địa phương đã thể hiện mối quan tâm ngày<br /> càng nhiều và sâu sắc đến chuỗi mối quan hệ BĐKH - nước - lương thực - năng lượng - công<br /> bằng xã hội. Thay cho cách tiếp cận theo ngành, cách tiếp cận chuỗi là cách tiếp cận hữu hiệu để<br /> nhận diện và tìm ra các giải pháp bền vững giải quyết các vấn đề nảy sinh từ chuỗi. Golam Rasul<br /> & Bikash Sharma cho rằng tiếp cận chuỗi là cách tiếp cận mới, đặc biệt phù hợp tại các nước phát<br /> triển để xem xét và giải quyết tổ hợp các vấn đề an ninh nước - năng lượng - lương thực trong bối<br /> cảnh biến đổi khí hậu” [4]. Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc khuyến nghị sử<br /> dụng tiếp cận chuỗi để phân tích tình hình và tìm ra các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề an ninh<br /> lương thực và nông nghiệp bền vững trong điều kiện BĐKH [5]. Unescap cũng đã chỉ ra các lợi<br /> ích của sử dụng cách tiếp cận chuỗi nước - lương thực - năng lượng ở châu Á và vùng Thái Bình<br /> Dương [6]. Tuyet L. Cosslett, Patrick D. Cosslett cũng đã nhấn mạnh rằng rất cần thiết phải áp<br /> dụng tiếp cận chuỗi và phương pháp điều tra qua internet khi nghiên cứu về tài nguyên nước và an<br /> ninh lương thực ở ĐBSCL [7].<br /> Tiếp cận chuỗi đã được các tác giả của bài báo áp dụng trong quá trình phân tích bối cảnh<br /> của các quá trình chuyển hóa tiến tới sự phát triển bền vững và các quá trình học tập chuyển đổi<br /> nhằm mục tiêu sự phát triển bền vững ở ĐBSCL. Điểm mới trong nghiên cứu là đã bổ sung thêm<br /> 2 thành phần: BĐHK và Công bằng xã hội để xem xét và phân tích chuỗi các mối quan hệ. Nội<br /> dung của nghiên cứu là làm sáng tỏ vai trò của các thành phần trong chuỗi “BĐKH - nước - lương<br /> thực - năng lượng - công bằng xã hội” và mối quan tâm của người dân đối với các vấn đề của chuỗi.<br /> <br /> 2.<br /> <br /> Nội dung nghiên cứu<br /> <br /> 2.1. Phương pháp nghiên cứu<br /> * Tiếp cận theo chuỗi<br /> Một trong những thách thức lớn nhất mà nhiều vùng châu thổ trên thế giới, cũng như Đồng<br /> bằng sông Cửu Long của Việt Nam hiện đang phải đối mặt là làm thế nào để thích ứng và giảm<br /> thiểu các tác động bất lợi của BĐKH đối với hệ thống tự nhiên và kinh tế- xã hội. Vì vậy, cộng<br /> đồng các vùng châu thổ trong đó có ĐBSCL đang tìm kiếm những cách tiếp cận và giải pháp mới<br /> để vượt qua và thích ứng với những thách thức của BĐKH và các thách thức về phát triển như an<br /> ninh nguồn nước, năng lượng và lương thực cũng như công bằng xã hội. Trong bối cảnh hiện nay,<br /> cách tiếp cận và giải pháp theo ngành [8, 9] có thể làm tăng tính dễ bị tổn thương hoặc làm giảm<br /> khả năng phục hồi ở những ngành khác. Vì vậy, thay vì áp dụng cách tiếp cận ngành, ĐBSCL có<br /> thể và cần phải áp dụng càng sớm càng tốt cách tiếp cận chuỗi (tiếp cận đa ngành và đa phương<br /> diện theo định hướng phát triển bền vững) để tìm ra các giải pháp bền vững cho các vấn đề “gay<br /> cấn” về tự nhiên - kinh tế - xã hội nảy sinh dưới tác đông tiêu cực của biến đổi khí hậu. Chuỗi ở đây<br /> được hiểu là tập hợp các mối quan hệ tương hỗ lãnh nhau của các thành phần nổi trội thuộc các<br /> lĩnh vực tự nhiên - kinh tế - xã hội trong một không gian lãnh thổ nhất định trong một khoảng thời<br /> gian nhất định mà ở đó khi một thành thành phần chủ chốt của chuỗi biến đổi thì nó sẽ tác động và<br /> gây ra những biến đổi day chuền ở các thành phần khác trong chuỗi. Tiếp cận theo chuỗi là cách<br /> tiếp cận cận bền vững, coi trọng và đi sâu tìm hiểu xem xét một cách tổng thể và đa phương diện<br /> vai trò của các mối liên kết và tác động tương hỗ giữa BĐKH - nước - năng lượng - lương thực và<br /> công bằng xã hội trong một không gian lãnh thổ đang chịu tác động mãnh mẽ của BĐKH để tìm<br /> 143<br /> <br /> Đào Ngọc Hùng, Trần Đức Tuấn và Cù Thị Phương<br /> <br /> ra các giải pháp giải quyết một cách bền vững các vấn đề gây cấn nảy sinh trong không gian lãnh<br /> thổ này.<br /> * Đánh giá tương quan và xây dựng phương trình hồi<br /> <br /> Phương pháp phân tích hồi quy và tương quan là một trong những phương pháp thường được<br /> sử dụng trong thống kê để tìm mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau. Với trị số quan sát x i của X và<br /> <br /> yi của Y ta cần xác định hệ số tương quan rxy :<br /> <br /> XY  XY<br /> <br /> rxy <br /> <br /> ,<br /> <br /> X   X  . Y  Y <br /> 2<br /> <br /> 2<br /> <br /> 2<br /> <br /> 2<br /> <br /> trong đó:<br /> <br /> X<br /> X <br /> <br /> i<br /> <br /> i<br /> <br /> n<br /> <br /> 2<br /> <br /> ;X <br /> <br /> X<br /> i<br /> <br /> n<br /> <br /> 2<br /> i<br /> <br /> Y<br /> <br /> i<br /> <br /> i<br /> <br /> ;Y <br /> <br /> n<br /> <br /> Y<br /> <br /> 2<br /> <br />  X .Y<br /> <br /> i<br /> <br /> 2<br /> <br /> ;Y <br /> <br /> i<br /> <br /> n<br /> <br /> i<br /> <br /> ; XY <br /> <br /> i<br /> <br /> i<br /> <br /> n<br /> <br /> rxy luôn ≤1; và rxy càng lớn thì tương quan càng chặt.<br /> Sau đó ta xây dựng phương trình hồi quy: y = ax + b, trong đó:<br /> <br /> a<br /> <br /> XY  X .Y<br /> <br />  <br /> <br /> X2  X<br /> <br /> 2<br /> <br /> ; b  Y  aX<br /> <br /> * Phương pháp thu thập sử lí số liệu<br /> <br /> Tác giả tiến hành thu thập các tài liệu khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của lãnh<br /> thổ nghiên cứu để có cái nhìn khái quát nhất về lãnh thổ. Các dữ liệu sau khi được thu thập được<br /> tiến hành phân tích, phân loại; sau đó kiểm tra tính đầy đủ và cập nhật của các nguồn tài liệu sao<br /> cho phù hợp với yêu cầu đặt ra. Các tài liệu thu thập được từ 2 nguồn chính: Niên giám Thống kê<br /> Việt Nam và Niêm giám Thống kê của các địa phương; phân tích tần số lặp lại một thông tin nào<br /> đó bằng việc sử dụng các từ khóa trên công cụ tìm kiếm thông tin Google. Do được thu thập từ<br /> nhiều nguồn khác nhau nên các cần được chọn lọc và chuẩn hóa các tài liệu cho đồng bộ.<br /> * Biểu đồ SAM<br /> <br /> Biểu đồ SAM (Sustainability Assessment Mapping) do Clayton đề xuất năm 1997 [10]. Các<br /> kết quả của phân tích vị thế có thể được biểu diễn ở dạng biểu đồ, khiến cho các thông tin trở nên<br /> dễ tiếp cận. SAM là công cụ biểu đồ dùng để trình diễn các thông tin vị thế và hỗ trợ việc lập<br /> quyết định. Có thể nói SAM là công cụ giáo dục và trực quan.<br /> <br /> 2.2. Bối cảnh nghiên cứu<br /> Vùng đất đồng bằng châu thổ sông Cửu Long được hình thành khoảng 2.000 - 2.500 năm<br /> trước đây. Từ cuối thế kỉ XVIII, khu vực ngã ba sông Hậu – sông Cần Thơ và phụ cận là điểm<br /> quần cư đông đúc, liên tục được lựa chọn làm trung tâm của vùng ĐBSCL [11].<br /> 2.2.1. Đặc điểm địa lí tự nhiên<br /> <br /> ĐBSCL có địa hình thấp, có độ cao từ 1 - 4 m so với mực nước biển, có nhiều vùng trũng mùa<br /> mưa nhiều vùng ngập trong nước, thường xuyên chịu tác động của nước biển dâng, thủy triều,<br /> xâm nhập mặn. Các nhóm đất chính ở ĐBSCL bao gồm: Nhóm đất phù sa ngọt; nhóm đất phèn;<br /> nhóm đất mặn.<br /> Theo Copen, ĐBSCL có khí hậu nhiệt đới ẩm và khô (Aw) [12]. Nhiệt độ quanh năm cao<br /> trung bình năm khoảng 27 ºC. Do BĐKH, nhiệt độ ĐBSCL có xu thế tăng. Lượng mưa trung bình<br /> 144<br /> <br /> Đánh giá chuỗi biến đổi khí hậu - nước - năng lượng - lương thực - công bằng xã hội ở đồng bằng…<br /> <br /> năm trong đất liền 1600 - 2400 mm. Mưa ở ĐBSCL phân hóa lớn theo mùa. Mùa mưa kéo dài từ<br /> tháng 5 đến tháng 11, tập trung từ 92 - 97% lượng mưa cả năm. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4.<br /> ĐBSCL có mạng lưới sông, kêch rạch dày đặc gồm sông Tiền, sông Hậu và các sông nhỏ<br /> khác nối với nhau thành một hệ thống. Chế độ thủy văn ĐBSCL điển hình với hai mùa lũ và mùa<br /> cạn. Mùa lũ thường bắt đầu vào tháng 7 kéo dài tới tháng 12 hàng năm, gây ngập úng và hình<br /> thành một mùa nước nổi rất đặc trưng. Theo Kịch bản Biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho<br /> Việt Nam (2016) của Bộ Tài nguyên và Môi trường, theo kịch bản phát thải trung bình, nhiệt độ ở<br /> ĐBSCL có xu thế tăng, trung bình 0.02 ºC/năm (Hình 1), vào năm 2050, mực nước biển dâng 30<br /> cm, diện tích ngập là 17,6% [13].<br /> <br /> Hình 1. Biến trình nhiều năm và xu thế nhiệt độ không khí trung bình năm trạm Cần Thơ<br /> Sinh vật là nguồn tài nguyên giá trị ở ĐBSCL. Thảm thực vật nơi đây chủ yếu là rừng ngập<br /> mặn như ở Cà Mau, Bạc Liêu hay rừng tràm như ở Kiên Giang, Đồng Tháp... Với đặc điểm là<br /> miền sông nước, hệ động vật nơi đây rất đa dạng và phong phú với các loài cá và chim. Vùng<br /> ĐBSCL có một bộ phận Biển Đông và vịnh Thái Lan với rất nhiều bãi tôm, bãi cá và hơn nửa<br /> triệu ha mặt nước nuôi trồng thủy sản. Các loại khoáng sản chủ yếu của ĐBSCL là đá vôi, than<br /> bùn. ĐBSCL có triển vọng dầu khí trong vùng thềm lục địa tiếp giáp thuộc biển Đông và Vịnh<br /> Thái Lan.<br /> 2.2.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội<br /> <br /> Tính đến năm 2015, dân số ĐBSCL đạt gần 17.590.400 người, mật độ dân số đạt 434<br /> người/km². Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 4.405.200 người, dân số sống tại nông thôn<br /> đạt 13.185.200 người.Tỉ lệ tăng dân số là 0,42 % [1]<br /> Về giáo dục - đào tạo: trong năm học 2014 - 2015, tỉ lệ huy động học sinh trong độ tuổi là<br /> 94%; Về y tế năm 2015: tình hình chăm sóc sức khỏe và nguồn nhân lực y tế của vùng còn rất<br /> thấp so với cả nước; Hiện nay ĐBSCL có khoảng 115 nhà máy nước với công suất 14.300 m³/<br /> ngày cung cấp cho các đô thị, 2.379 công trình với công suất 323.885 m³/ngày cung cấp cho nông<br /> thôn [14]; Tỉ lệ hộ dùng điện sinh hoạt toàn vùng đạt 99,1%. Diện tích nhà ở trung bình tại vùng<br /> là 21,4 m²/người, thu nhập bình quân đầu người khoảng 105,7 USA/ tháng, Hệ số bất bình đẳng<br /> trong phân phối thu nhập (hệ số GINI) là 0,395, tỉ lệ hộ nghèo là 6,5%.<br /> ĐBSCL đóng góp hơn 50% diện tích lúa, 71% diện tích nuôi trồng thủy sản, 30% giá trị sản<br /> xuất nông nghiệp và 54% sản lượng thủy sản của cả nước. Ngoài ra cây ăn quả còn đặc sản nổi<br /> tiếng của vùng, với sự đa dạng về số lượng, cũng như chất lượng ngày càng được nâng cao.<br /> Nghề nuôi vịt đàn phát triển mạnh. Du lịch sinh thái bắt đầu khởi sắc như du lịch trên sông nước,<br /> vườn, khám phá các cù lao [15]. Ngoài ra ở ĐBSCL có tài nguyên về dầu khí trong thềm lục địa<br /> đã được khai thác, có các khoáng sản vật liệu xây dựng như sét gạch ngói, cát sỏi.....<br /> <br /> 145<br /> <br /> Đào Ngọc Hùng, Trần Đức Tuấn và Cù Thị Phương<br /> <br /> 2.3. Chuỗi biến đổi khí hậu - nước - năng lượng - lương thực - công bằng xã hội<br /> 2.3.1. Vai trò của các thành phần trong chuỗi<br /> <br /> - Tác động của biến đổi khí hậu<br /> BĐKH mang tính toàn cầu, tác động đến tất cả các quốc gia trên thế giới, tuy nhiên ĐBSCL<br /> là một trong những lãnh thổ chịu tác động mạnh mẽ nhất. BĐKH tác động đến tài nguyên nước,<br /> đặc biệt làm suy giảm lượng nước trong mùa cạn ở ĐBSCL (Bảng 1).<br /> Bảng 1. Kịch bản biến động tài nguyên nước dựa trên kịch bản phát thải B2<br /> Mức biến đổi so với thời kỳ nền (%)<br /> Sông<br /> Trạm<br /> Đặc trưng<br /> Phương án B2<br /> 2020<br /> 2030<br /> 2040<br /> 2050<br /> Mùa lũ<br /> 2,2<br /> -9,4<br /> 0,4<br /> -1,4<br /> Tiền<br /> Mỹ Thuận<br /> Mùa cạn<br /> -18,9<br /> -25,4<br /> -11,1<br /> -4,8<br /> Mùa lũ<br /> 1,1<br /> -9,0<br /> -1,5<br /> -1,3<br /> Hậu<br /> Cần Thơ<br /> Mùa cạn<br /> -21,1<br /> -27,4<br /> -12,1<br /> -2,5<br /> Nguồn: [14]<br /> Theo như dự báo của viện năng lượng, với tính toán tác động của BĐKH và sự tăng trưởng<br /> trong phát triển kinh tế xã hội, tổng nhu cầu điện thương phẩm của cả vùng ĐBSCL được dự báo<br /> sẽ tăng trưởng liên tục (Bảng 2).<br /> Bảng 2. Sự gia tăng nhu cầu điện thương phẩm của vùng ĐBSCL<br /> 2010<br /> 2015<br /> 2020<br /> 2025<br /> Năm<br /> 0<br /> 13,9<br /> 13,8<br /> 9,2<br /> %<br /> Nguồn: [16]<br /> BĐKH làm thay đổi môi trường sống của các loài động vật và thực vật, ảnh hưởng đến khả<br /> năng chống chịu của cây trồng vật nuôi đối với môi trường sống. Do nhiệt độ gia tăng làm cho<br /> chu kỳ sinh trưởng của sinh vật gây bệnh giảm, tăng số sinh vật sâu bệnh làm cho các dịch bệnh<br /> phát triển mạnh hơn. Nước biển dâng sẽ thu hẹp đáng kể diện tích nông nghiệp ở ĐBSCL.<br /> Với đặc thù nền kinh tế nông nghiệp, đối tượng bị tổn thương lớn nhất do BĐKH ở ĐBSCL<br /> là nông dân. Đối với độ tuổi và giới tính, đối tượng bị tổn thương lớn nhất do BĐKH là người già,<br /> phụ nữ và trẻ em.<br /> - Tác động của nước đến các thành phần trong chuỗi<br /> Bảng 3. Tổng lượng nước cần dùng ở ĐBSCL qua các năm<br /> Tổng lượng nước cần dùng vào năm (km³)<br /> 2000<br /> 2010<br /> 2020<br /> Nông nghiệp<br /> 29<br /> 32.23<br /> 34.16<br /> Thủy sản<br /> 6<br /> 9<br /> 12.16<br /> Sinh hoạt<br /> 0.413<br /> 0.646<br /> 0.808<br /> Công nghiệp<br /> 0.008<br /> 0.016<br /> 0.02<br /> Môi trường<br /> 11<br /> 13<br /> 14<br /> Toàn bộ<br /> 46<br /> 55<br /> 61<br /> Nguồn:[17]<br /> Nước điều hòa khí hậu, có vai trò lớn làm giảm thiểu BĐKH. Tại ĐBSCL, nước được sử<br /> dụng như một mạng lưới giao thông quan trọng của người dân góp phần tiết kiệm đáng kể nguồn<br /> năng lượng. Với đặc điểm nền kinh tế dựa vào tài nguyên nước, nhu sử dụng nước Tại ĐBSCL<br /> đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội ngày càng gia tăng (Bảng 3). Trong bối cảnh BĐKH, hạn hán,<br /> Ngành sử dụng nước<br /> <br /> 146<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản