
1
ĐÁNH GIÁ ĐỘ THÍCH HỢP GÂY TRỒNG SAO ĐEN (HOPEA
ODORATA) Ở VÙNG ĐÔNG NAM BỘ
Ngô Đình Quế
Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
TÓM TẮT
Trên cơ sở các kết quả điều tra, khảo sát, nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, tính chất đất dưới
rừng tự nhiên và rừng trồng Sao đen (Hopea odorata) tại vùng Đông Nam Bộ, đề tài đã bước
đầu đánh giá được một số yếu tố đất đai có ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của Sao đen
và từ đó đề xuất tiêu chuẩn phân chia độ thích hợp cây trồng làm cơ sở cho việc gây trồng và
phục hồi rừng Sao đen ở vùng Đông Nam Bộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy: vùng thích hợp
cây Sao đen ở Đông Nam Bộ thì diện tích đất rất thích hợp cho cây Sao đen là 29,57%; diện
tích thích hợp là 66,33%, diện tích ít thích hợp và không thích hợp rất thấp (3,97% và 0,13%),
có thể thấy rằng đây là vùng thích hợp nhất để phát triển cây Sao đen ở nước ta.
Từ khoá: Độ thích hợp cây trồng, Sao đen
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng cây họ Dầu (Dipterocarpus) trong đó có Sao đen (Hopea odorata) là loài cây quan
trọng, có giá trị kinh tế cao, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới ẩm gió mùa ở Đông Nam Á,
Malaysia, Inđônêsia, ấn Độ, Thái Lan, Myanma, Việt Nam, Nam Trung Quốc…
Ở Việt Nam, cây họ Dầu phân bố rải rác xuất hiện từ Tây Bắc, Tây Nguyên và hội tụ ở vùng
Đông Nam Bộ khá tập trung về số loài (36 trong tổng số 42 loài) hình thành các kiểu lá rộng
thường xanh, lá rộng nửa rụng lá, ưu thế họ Dầu. Trong nhiều năm, qua diện tích rừng cây họ
Dầu bị suy giảm đáng kể do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Để nhanh chóng phục hồi lại rừng cây họ Dầu, cần thiết phải tiến hành phân chia mức độ
thích hợp cây trồng nhằm phục vụ cho quy hoạch vùng trồng hợp lý.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp kế thừa, thu thập các kết quả nghiên cứu đã có trước đây có liên quan
Điều tra ngoại nghiệp
- Chọn địa điểm nghiên cứu, lập tuyến điều tra, khảo sát hiện trạng khu vực rừng trồng hiện
có. Trên hệ thống tuyến khảo sát, lập các ô tiêu chuẩn diện tích 400m2 (20 x 20m) đối với
rừng trồng và 2.500m2 (50 x 50m) đối với rừng tự nhiên đại diện cho cấp tuổi và mức độ sinh
trưởng khác nhau.
- Trong mỗi ô tiêu chuẩn tiến hành đo đếm toàn bộ cây trong ô các chỉ tiêu về đường kính
ngang ngực (D1,3) bằng thước đo vanh, chiều cao vút ngọn (Hvn) bằng thước đo độ cao.
Ngoài ra, đào và mô tả phẫu diện, thu thập các mẫu đất theo tầng để phân tích trong phòng thí
nghiệm.
Phương pháp nội nghiệp
- Các mẫu đất lấy về được phân tích các chỉ tiêu lý, hoá tính theo các phương pháp đang được
áp dụng phổ biến trong phòng thí nghiệm hiện nay:
Thành phần cơ giới: Theo phương pháp 3 cấp của FAO.
Mùn tổng số: Theo Walkley- Black.

2
Đạm tổng số: Theo Kjendhall
pHKCl của đất: Dùng pH metter
P2O5 dễ tiêu: Theo Oniani (trắc quang)
K2O dễ tiêu: Theo Maslova (đo trên quang kế ngọn lửa)
Ca2+, Mg2+ trao đổi: Dùng Trilon B
Al3+ trao đổi: Theo Xôlôcôp
Độ chua thuỷ phân: Theo Kappen
- Áp dụng GIS xây dựng bản đồ phân chia mức độ thích hợp cây trồng cấp vĩ mô cho trồng
rừng Sao đen ở vùng Đông Nam Bộ tỷ lệ 1:250.000.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Phân bố của cây Sao đen
Theo tài liệu của Nguyễn Duy Chuyên, Ngô An, Vũ Văn Dũng (1994) cho thấy ở Đông Nam
Bộ có 6 chi. Chi có số loài nhiều nhất là Dipteropcarpus có 13 loài, chi Cà chắc có 9 loài, Sao
đen Hopea có 6 loài chúng phân bố theo tiểu vùng khí hậu và độ cao tương đối rõ.
Cây họ Dầu ưa ẩm mọc trên vùng đồi núi thấp
Bao gồm các loài rụng lá và rụng lá một phần, gồm các loài thường gặp: Dầu rái (D.alatus),
Dầu mít (D.Costatus), Dầu lá bỏng (D.turbinatus), Làu táu (Vatica cinera), Sao đen (Hopea
odorata), Sến mủ (Shorea roxburrghi).
Phân bố ở vùng có lượng mưa hàng năm trên 2.300mm với các loại đất phổ biển có tầng đất
sâu, dày, tốt ở các vùng Bù Gia Mập, Bù Đăng, Bắc Vĩnh An, Nam Cát Tiên, La Ngà. Tại đây
các loài họ Đậu, Tử Vi phân bố tương đối nhiều sống hỗn loại với các câu họ dầu.
Cây họ Dầu trên đất xương xẩu: Cây Sao đen rất ít phân bố trên loại đất này
Cây họ Dầu trên đất vùng ven biển: Bao gồm một số cây họ Dầu thường xanh và rụng lá
mùa khô, phân bố chủ yếu ở vùng Bình Châu, Long Đất (Bà Rịa- Vũng Tàu)
Những ưu hợp thể hiện cấu trúc nhiều tầng của cây họ Dầu đó là những ưu hợp ở trạng thái
rừng giàu như ưu hợp Dầu rái- Sao đen gặp ở một số nơi như Núi Tượng, khu Đà Cộ, Đá Bàn
thuộc Vườn Quốc gia Nam Cát Tiên. Rừng có 4 tầng:
- Tầng ưu thế: gồm các loài Dầu rái, Bằng lăng, các loài cây họ Đậu trong đó Dầu
rái chiếm 15- 18,7% tổ thành, Sao đen chiếm 2,7- 6,5%
- Tầng 2: Bao gồm các loài cây nhỡ như Trâm, Bình Linh, Kẹn, Bứa phân bố tương
đối đều.
- Tầng 3: Chủ yếu là cây bụi
- Tầng 4: Thảm tươi
Bảng 1. Sinh trưởng của lâm phần cây Sao đen và một số loài cây họ Dầu trong rừng tự
nhiên Đông Nam Bộ

3
Kiểu rừng Ưu hợp Trạng thái rừng Mật độ
(cây/ha)
D1,3 tb
(cm)
Hvn tb
(m) M3/ha
Rừng
thường
xanh
Dầu rái + cây họ
Dầu
Rừng TB 156 26,1 16,2 110
Rừng giàu 368 36,3 20,4 278
Sao đen + cây họ
Dầu
Rừng non 200 18,8 19,0 -
Rừng giàu 512 25,7 15,8 245
Dầu song nàng +
Dầu chai
Rừng non 369 18,3 13,8 74,4
Rừng giàu 349 26,2 17,5 151
Trong trạng thái rừng cây họ Dầu thường xanh, muốn đạt được rừng trung bình, trữ lượng
phải đạt 150m3 trở lên, phải có 300cây/ha trở lên đạt cỡ D1,3 ≥ 25cm. Có thể đây là một cấu
trúc có ý nghĩa khi sử dụng các biện pháp tái sinh nhân tạo thông qua các kỹ thuật lâm sinh
tương ứng với các điều kiện lập địa và loài cây.
Đặc điểm đất đai dưới rừng Sao đen tự nhiên
Khi tiến hành nghiên cứu đặc điểm đất dưới rừng Sao đen tự nhiên và tiến hành kiểm tra tình
hình sinh trưởng của Sao đen trong rừng tự nhiên mà Sao đen phân bố thu được kết quả ở
bảng sau:
Bảng 2. Đặc điểm lý hoá tính dưới đất rừng sao đen tự nhiên (tầng đất 0- 10cm)
Địa điểm/loại đất pHKCl Mùn
(%)
Dễ tiêu
(mg/100g đất)
Trao đổi
(me/100g đất) TPCG (%)
P2O5 K2O Ca2+,
Mg2+ Al3+ 2- 0,02 0,02-
0,002 <0,002
Tân Phú (Đồng
Nai)/Fs 4,2 3,31 0,52 3,23 4,4 1,8 30,53 18,83 50,63
Nghĩa Trung
(Bình Phước)/Fk 4,1 2,29 1,01 1,24 2,8 1,13 25,6 34,2 40,02
Phúc Tân (Sông
Bé)/Xp 4,1 1,58 0,42 2,33 3,0 1,6 38,31 29,91 31,8
Đông Giang (Bình
Thuận)/Fa 3,9 1,51 0,33 0,6 1,1 2,5 46,6 25,19 28,21
Như phần trên đã trình bày, Sao đen phân bố tự nhiên trên nhiều loại đất ở Đông Nam Bộ,
nhưng chủ yếu trên phù sa cổ, đất nâu đỏ trên bazan, feralit đỏ vàng có tầng đất sâu, ẩm, thoát
nước tốt. Tuy nhiên ở những nơi đất có độ phì kém, thoái hoá, tầng đất nông, thoát nước kém,
Sao đen ít phân bố hoặc sinh trưởng yếu. Kết quả phân tích ở bảng 2 cho thấy:
- Nơi Sao đen sinh trưởng tốt (Tân Phú và Nghĩa Trung) có hàm lượng mùn trung bình trở lên
(2,29- 3,31 %), hàm lượng Ca2+ và Mg2+ trao đổi khá (2,8- 4,4 me/100g đất), P2O5 và K2O
khá. Đất có thành phần cơ giới trung bình (hàm lượng cát vật lý 25,6- 30,53 %) và thoát nước
tốt.

4
- Nơi có Sao đen sinh trưởng trung bình và kém (Phúc Tân và Đông Giang) đất có hàm lượng
mùn nghèo (1,51- 1,58 %), các chất dễ tiêu không cao, tổng Ca2+ và Mg2+ thấp hơn so với
rừng sinh trưởng tốt (1,1- 3,0 me/100g đất), thành phần cơ giới nhẹ (hàm lượng cát vật lý
38,31- 46,6 %), rất nhiều kết von và đá lẫn.
Đặc điểm đất đai dưới rừng Sao đen trồng
Để xác định mức độ ảnh hưởng của điều kiện đất đai tới sinh trưởng và phát triển cây Sao
đen, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu sinh trưởng và năng suất rừng trồng Sao đen đã định
hình và tương đối ổn định tại một số vùng đã gây trồng loài cây này.
Bảng 3. Sinh trưởng có năng suất của một số rừng trồng Sao đen thuần loài trên một số
loại đất khác nhau
Địa phương Đá mẹ/
loại đất
Độ dày
tầng đất
(cm) Tuổi Mật độ
(cây/ha)
Sinh trưởng Trữ
lượng
(m3/ha)
Năng
suất
(m3/ha/
năm)
D1,3
(cm)
∆D
(cm)
Hvn
(m)
∆Hvn
(m)
Trảng Bom 1
(Đồng Nai) Phù sa
cổ/Fp > 100 22 900 19,5 0,88 19 0,86 257,8 11,7
Trảng Bom 2
(Đồng Nai) Phù sa
cổ/Fp > 100 20 600 19,4 0,97 20 1,0 236,4 11,8
LT Tân Phú
(Đồng Nai) Phù sa
cổ/Xp > 100 20 800 23,5 1,17 18 0,9 245,0 14,8
Châu Đức 1
(Bà Rịa – Vũng
Tàu) Bazan/Fk
> 100 23 700 23 1,0 18,5 0,8 276,6 12,0
Châu Đức 2
(Bà Rịa – Vũng
Tàu) Bazan/Fk
> 100 23 800 23,9 1,03 22 0,95 398 16,8
Đồng Phú 1
(Bình Phước) PT sét/Fs > 100 23 800 24,6 1,06 21 0,91 399 17,3
Đồng Phú 2
(Bình Phước) PT sét/Fs > 100 23 800 22,6 0,98 21 0,91 337 14,6
Khánh Vĩnh
(Khánh Hoà) Granit/Fa
< 50 7 1200 7,42 1,06 3,4 0,49 54,7 7,8
Kết quả điều tra ở bảng 3 cho thấy Sao Đen có thể sinh trưởng và phát triển trên nhiều loại đất
khác nhau ở Đông Nam Bộ. Sinh trưởng của Sao đen tốt nhất ở đất nâu đỏ, phát triển bazan
có độ dốc dưới 150, đất còn có tính chất đất rừng, với cây 23 tuổi, có thể đạt sinh trưởng bình
quân năm là > 1cm về đường kính và 0,80- 0,95 m/năm về chiều cao, đạt trữ lượng 276 đến
398 m3/ha, năng suất đạt 12- 16,8 m3/ha/năm. Cùng với đất Bazan là đất xám trên phù sa cổ
(Tân Phú) có tầng dầy trên 1m, đất ẩm và thực bì còn khá tốt. Sinh trưởng về đường kính đạt
1,17 cm/năm 0,9 m/năm về chiều cao.

5
Tuy nhiên, trên đất macma axit (granit), có độ dốc > 150, độ dầy < 50cm nhiều sỏi đá cây Sao
đen sinh trưởng xấu, ở Khánh Vĩnh cây 7 tuổi sinh trưởng chiều cao trung bình chỉ đạt
0,49m/năm và năng suất là 7,8 m3/ha/năm.
Bảng 4. Kết quả phân tích lý, hoá tính đất dưới rừng trồng Sao đen ở một số loại đất khác
nhau
ÔTC Địa điểm/loại đất
Độ sâu
(cm) pHKC
l
(%) (mg/100g
đất) (me/100g đất) Sét
vật lý
(%)
Mùn
t.số
Đạm
t.số
P2O5
dt K2O
dt
Chua
t/phâ
n
Al3+t
đ Ca,M
g tđ
1 ĐN1- Trường
THLN Trảng
Bom/Fp
0- 10 4,69 0,65 0,099
0,004 1,81 2,82 1,11 1,41 18,12
30- 40 4,57 0,53 0,071
0,003 1,81 2,83 1,31 2,02 22,20
2 LT Tân Phú-
Định Quán/Xp
0- 10 4,23 3,66 0,246
0,018 4,82 11,02 3,53 2,42 80,81
30- 40 4,01 2,31 0,173
0,003 3,01 11,38 5,29 6,08 84,87
3 Châu Đức-
BRVT/Fk
0- 10 4,53 2,99 0,245
0,029 4,22 7,32 0,94 3,55 78,66
30- 40 4,75 1,37 0,131
0,024 1,81 3,99 0,21 4,57 90,64
4 Đồng Phú- Bình
Phước/Fs
0- 10 4,63 1,86 0,047
0,009 9,04 3,01 0,51 2,13 14,17
30- 40 4,51 0,99 0,039
0,010 8,44 3,73 1,63 4,17 28,54
5 Khánh Vĩnh-
Khánh Hoà/Fa
0- 10 4,10 2,04 0,150
0,002 6,63 4,95 0,91 2,63 58,63
30- 40 4,00 1,72 0,120
0,004 5,42 5,13 1,21 2,02 60,66
Qua bảng 4 cho thấy:
- Đất dưới rừng Sao đen nơi đất bazan (ÔTC 3) hay xám trên phù sa cổ (ÔTC 2), cây sinh
trưởng tốt đều có hàm lượng mùn khá 2,99- 3,66%, hàm lượng đạm tổng số cao (~0,245 %).
Thành phần cơ giới là thịt nhẹ hoặc sét nhẹ nhưng có kết cấu tốt, thoát nước.
- Nơi Sao đen sinh trưởng trung bình và kém (ÔTC 1, 4, 5) có hàm lượng dinh dưỡng nghèo
(hàm lượng mùn tổng số phần lớn < 2 %), hàm lượng đạm tổng số thấp (< 0,15 %), đất chặt
và thoát nước kém
Có thể nói Sao đen là cây có yêu cầu dinh dưỡng khá cao, ẩm và thoát nước. Sao đen là cây
ưa sáng nhưng lại ưa bóng ở giai đoạn đầu, các rừng trồng Sao đen thành công hầu hết có cây
trồng phù trợ, phần lớn là cây họ đậu để cải tạo đất, vừa tạo hoàn cảnh sinh thái cho cây phát
triển. Kết quả xây dựng mô hình của Nguyễn Anh Tuấn- Trung tâm Khoa học sản xuất Đông
Nam Bộ năm 2005 trồng Sao đen xen Dầu rái kết hợp với cây phù trợ là Muồng đen và Đậu
tràm là các mô hình rất có triển vọng trên đất xấu.
Phân vùng thích hợp cho gây trồng Sao đen ở Đông Nam Bộ.

