intTypePromotion=1
ADSENSE

Đánh giá hiệu quả của thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến phát triển kinh tế ở Việt Nam

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

11
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết Đánh giá hiệu quả của thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến phát triển kinh tế ở Việt Nam tập trung đánh giá thực trạng và hiệu quả trong thu hút nguồn vốn FDI đến phát triển kinh tế của Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đánh giá hiệu quả của thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến phát triển kinh tế ở Việt Nam

  1. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM TS. Phạm Thị Bạch Tuyết Trường Đại học Sài Gòn Tóm tắt Trong hơn 30 năm đổi mới đất nước, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) ngày càng phát huy vai trò quan trọng và có những đóng góp đáng kể trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Bài viết tập trung đánh giá thực trạng và hiệu quả trong thu hút nguồn vốn FDI đến phát triển kinh tế của Việt Nam. Đầu tư nước ngoài đã góp phần quan trọng tạo động lực đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại; đổi mới công nghệ, tạo ra nhiều việc làm và tăng thêm thu nhập cho người lao động; đóng góp vào ngân sách nhà nước; nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy xuất khẩu, góp phần tích cực trong việc mở rộng thị trường, chủ động hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Tuy nhiên, kết quả thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI trong thời gian qua bộc lộ nhiều vấn đề hạn chế, bất cập ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững về kinh tế của đất nước đòi hỏi phải có những giải pháp phù hợp nhằm sử dụng nguồn vốn đạt hiệu quả cao hơn. Từ khóa: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), hiệu quả, kinh tế, phát triển 1. MỞ ĐẦU Sau 30 năm thực hiện chính sách mở cửa, thu hút đầu tư nước ngoài với việc Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 có hiệu lực, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) ngày càng phát huy vai trò quan trọng và có những đóng góp đáng kể trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, trở thành một trong những động lực tăng trưởng kinh tế đất nước. Việt Nam là một trong những quốc gia thu hút FDI thành công nhất trong khu vực và trên thế giới, là địa điểm lựa chọn đầu tư tin cậy của các nhà đầu tư nước ngoài. Việt Nam có nhiều lợi thế như nằm ở vị trí địa lý chiến lược ở trung tâm Đông Nam Á rất thuận tiện cho việc giao thương; có quy mô dân số đông, nguồn lao động dồi dào và giá rẻ, lại đang nằm trong giai đoạn cơ cấu dân số “vàng”; tài nguyên thiên nhiên phong phú; cơ sở hạ tầng ngày một tốt hơn; có nền chính trị xã hội ổn định, khung pháp lý ngày càng hoàn thiện... tạo môi trường đầu tư hấp dẫn đối với các doanh nghiệp FDI. Ngoài ra, trong thời gian qua, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả khả quan với tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong thời gian dài (trung bình khoảng 5,5 - 6,5%/năm giai đoạn 2007 - 2017), đó cũng là tín hiệu tốt cho các nhà đầu tư an tâm về tiềm năng tăng trưởng của thị trường. Việt Nam đang 347
  2. tích cực phát huy các ưu thế, cải thiện môi trường đầu tư mạnh mẽ nhằm thu hút các nhà đầu tư FDI và đã đạt được nhiều kết quả. Trong vòng 30 năm (1988 - 2018), tổng số dự án FDI được cấp phép đã lên tới 29.893 dự án, tăng 14,9 lần (3.147 dự án năm 2018 so với 211 dự án giai đoạn 1988 - 1990). Về tổng số vốn đăng ký đạt hơn 415,07 tỷ USD, tăng 22,7 lần giai đoạn 1988 - 2018 (36.368,6/1.603,5 triệu USD). Tổng số vốn thực hiện tính đến hết năm 2018 chiếm 46,0% tổng vốn FDI đã đăng ký (191.092,9 triệu USD). Riêng trong năm 2018, Việt Nam thu hút được 3.147 dự án với tổng số vốn đầu tư đạt 36,37 tỷ USD, tăng 14,8% về số dự án nhưng tổng số vốn đầu tư lại giảm 1,97% so với năm 2017. Vốn thực hiện chiếm 52,5% tổng vốn FDI đã đăng ký. Có thể nói, trong điều kiện kinh tế toàn cầu có nhiều biến động và cạnh tranh gay gắt giữa các nước thì kết quả đạt được trong việc thu hút FDI của Việt Nam trong thời gian qua cho thấy những nỗ lực và thành công trong vận động xúc tiến đầu tư và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh của nước ta. Trong xu thế mở cửa và hội nhập quốc tế hiện nay, FDI đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia nói chung và từng địa phương nói riêng. Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội được tiếp cận theo nhiều phương diện, đặc biệt là những tác động tích cực đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển giao khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường, giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng lao động… Hiện nay, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang trở thành trụ cột phát triển năng động nhất và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong thành tựu tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Khu vực FDI chiếm 22 - 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, chiếm 55% giá trị sản lượng công nghiệp, 71% kim ngạch xuất khẩu, 18% tổng thu ngân sách và 20% GDP và khu vực FDI tạo công ăn việc làm cho khoảng 3,7 triệu lao động. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được thì việc thu hút sử dụng FDI cũng bộc lộ những mặt tiêu cực, hạn chế ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển bền vững của địa phương cũng như quốc gia. Vì vậy, trong bài viết này sẽ phân tích và đánh giá thực trạng và hiệu quả trong thu hút, sử dụng nguồn vốn FDI đối với phát triển kinh tế đất nước. Qua đó cũng đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay để phát huy hiệu quả của khu vực FDI trong phát triển bền vững về kinh tế. 2. NỘI DUNG 2.1. Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Sau 30 năm kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài có hiệu lực (12/1987), Việt Nam đã đạt được nhiều thành công trong thu hút FDI. Về số lượng dự án, tổng số vốn đầu tư đăng ký và thực hiện: Ngay khi Luật Đầu tư nước ngoài có hiệu lực, các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu đầu tư vào nước ta, tuy nhiên, nguồn vốn FDI vào Việt Nam những năm đầu còn khá ít 348
  3. và dè đặt. Trong giai đoạn từ 1988 - 1990 tổng số dự án đầu tư là 211 dự án với tổng số vốn đăng ký đạt 1,6 tỷ USD. Tuy nhiên, sang giai đoạn 1991 - 1995, FDI vào Việt Nam đã tăng vượt bậc với 1.409 dự án, tổng số vốn đăng ký là 18.379,1 triệu USD. Đây có thể coi là thời kỳ bắt đầu sự bùng nổ FDI tại Việt Nam. Kể từ đó đến nay, nguồn vốn đầu tư FDI đã không ngừng tăng nhanh, lũy kế tính đến hết tháng 12/2018, cả nước có 29.893 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký 415,06 tỷ USD và tổng vốn thực hiện khoảng 191,09 tỷ USD, bằng 46,0% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực. Đặc biệt sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO đã mở ra nhiều cơ hội lớn, trong đó dấu ấn đậm nét nhất chính là thu hút FDI, vì vậy số dự án và tổng vốn đầu tư FDI vào Việt Nam cũng tăng vượt bậc. Năm 2007 là năm có số dự án tăng cao với 1.544 dự án, tăng 156,4% so với năm 2006 (987 dự án), đặc biệt năm 2008 là năm mà nguồn vốn FDI đầu tư vào Việt Nam tăng cao kỷ lục, hơn 71,72 tỷ USD với 1.171 dự án, cao hơn tổng số vốn tính chung từ 2000 - 2007. Sang năm 2009, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu nên xu hướng có giảm xuống, năm 2009 giảm xuống còn 23,1 tỷ USD, năm 2011 chỉ đạt 15,6 tỷ USD. Nhưng sang giai đoạn gần đây khi nền kinh tế thế giới có dấu hiệu phục hồi và tăng trưởng trở lại thì nguồn vốn FDI vào Việt Nam tăng trở lại. Năm 2018 đánh dấu một cột mốc rất ý nghĩa - 30 năm đầu tư nước ngoài vào Việt Nam (1988 - 2018). Trong năm 2018, số dự án được cấp phép mới là 3.147 dự án với tổng số vốn đăng ký đạt 36,37 tỷ USD, nguồn vốn giải ngân đạt 19,1 tỷ USD, đạt 52,5% so với vốn đăng ký. Bên cạnh đó, có 1.195 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 7,8 tỷ USD. Như vậy, kể từ năm 1988 đến nay, dòng vốn FDI vào Việt Nam có nhiều biến động nhưng tổng vốn FDI có xu hướng tăng theo thời gian. Về quy mô vốn trên một dự án: Quy mô vốn bình quân của 1 dự án FDI giai đoạn 1988 - 1990 chỉ là 7,59 triệu USD, thì đến năm 2018 quy mô đó đạt 11,46 triệu USD. Mặc dù đạt được một số kết quả đáng ghi nhận về tăng quy mô vốn của dự án nhưng nhìn chung các dự án FDI vào nước ta đều có quy mô vừa và nhỏ, trung bình cho cả giai đoạn 1988 - 2018 là 13,88 triệu USD/dự án. Về hình thức đầu tư: Đầu tư FDI vào Việt Nam chủ yếu được thực hiện theo hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài với 23.087 dự án, chiếm 84,4% tổng số dự án và chiếm 71,9% tổng vốn đăng ký đầu tư. Hình thức liên doanh có 4.017 dự án, chiếm 14,7% tổng số dự án và chiếm 22,1% tổng vốn đăng ký đầu tư. Số còn lại thuộc hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng BOT, BT, BTO. Về đối tác đầu tư: Nhìn chung các nước châu Á vẫn là những nhà đầu tư lớn nhất của Việt Nam cả về tổng số dự án và tổng vốn đăng ký. Từ năm 1988 đến năm 2018 đã có 130 quốc gia 349
  4. và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký đạt 415,06 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 191.09 tỷ USD, chiếm 46,0% vốn đăng ký. Nguồn vốn đó chủ yếu đến từ các nước châu Á như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore, Malaysia, Thái Lan (chiếm 74,6%). Các nước châu Âu như Đức, Pháp, Anh (chiếm 2,7%), châu Mỹ gồm Mỹ, Canada (chiếm 4,2%), còn lại là các đối tác khác. Trong năm 2018, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất với tổng vốn cấp mới, tăng thêm và vốn góp mua cổ phần đạt 8,9 tỷ USD, chiếm 24,6% tổng vốn đăng ký; tiếp đến là Hàn Quốc: 7,3 tỷ USD, chiếm 20,1%; Singapore: 5,2 tỷ USD, chiếm 14,4%; Hồng Kông: 3,2 tỷ USD, chiếm 8,9%; Trung Quốc: 2,5 tỷ USD, chiếm 7%... Mặc dù các đối tác đầu tư cũng có sự thay đổi theo hướng tích cực từ những quốc gia và vùng lãnh thổ châu Á sang các nước thuộc châu Âu, châu Mỹ. Tuy nhiên, châu Á vẫn là nhà đầu tư lớn nhất cả về tỷ trọng số dự án và vốn đăng ký FDI vào Việt Nam. Tính đến tháng 12/2018, nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam là Hàn Quốc với tổng số dự án là 7.487 dự án (chiếm 27,3% tổng số dự án) và tổng vốn đăng ký là 62,63 tỷ USD (chiếm 18,4% tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam). Các doanh nghiệp có vốn FDI của Hàn Quốc tiêu biểu như các hãng Samsung, LG hay Lotte... luôn là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế nước ta. Đối tác đầu tư lớn thứ hai của Việt Nam là Nhật Bản với các thương hiệu như Honda, Toyota... với 4.007 dự án và tổng số vốn đăng ký là 47.372 triệu USD. Tiếp theo là các nước Singapore, Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc… Nhìn chung thị trường và đối tác FDI của Việt Nam chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đến từ các nước châu Á. Các quốc gia này thường tập trung đầu tư vào các ngành công nghiệp nhẹ, sử dụng nhiều lao động như dệt may, da giày, công nghiệp chế biến thực phẩm, kinh doanh nhà hàng, khách sạn, kinh doanh bất động sản… với nguồn vốn đầu tư trên mỗi dự án không cao, hơn nữa công nghệ của các nước này thường ở mức độ trung bình của thế giới, máy móc, thiết bị cũ, công nghệ lạc hậu tiêu hao nhiều năng lượng, gây ô nhiễm môi trường, không đảm bảo an toàn lao động; việc chuyển giao công nghệ, sáng chế phát minh, giải pháp kỹ thuật từ doanh nghiệp FDI vào Việt Nam chưa tương xứng với vốn đầu tư, nhất là trong những ngành công nghệ cao như công nghiệp điện tử, ô tô, xe máy… Trong khi vốn đầu tư từ Hoa Kỳ, EU và những nước OECD khác, với tiềm năng về tài chính, công nghệ và cách quản lý là rất lớn thì vẫn đang còn khiêm tốn (Hoa Kỳ: 2,7%, Pháp: 1,1%, Anh: 1,0%, Đức: 0,6%...). Về địa bàn đầu tư: Theo Tổng cục Thống kê, luỹ kế tính đến tháng 12/2018, trong 63 tỉnh, thành thì TP. Hồ Chí Minh là địa phương thu hút nhiều vốn FDI nhất, với 8.123 dự án, tổng số vốn đăng ký là hơn 45,2 tỷ USD; TP. Hà Nội đứng thứ 2 với 5.110 dự án, tổng số vốn đăng ký 33,2 tỷ USD; Bình Dương đứng thứ 3 với 3.519 dự án, tổng số vốn đăng ký 31,8 tỷ USD, tiếp theo là các tỉnh Đồng Nai, Long An, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc... Riêng 350
  5. năm 2018 có 59 tỉnh, thành phố trên cả nước đã thu hút các dự án FDI, đứng đầu là Hà Nội với 7,6 tỷ USD, chiếm 20,8% vốn đăng ký, tiếp theo là TP. Hồ Chí Minh với 6,2 tỷ USD, chiếm 17,1%, Hải Phòng với 3,1 tỷ USD chiếm 8,6%. Nhìn chung, phần lớn các dự án FDI tập trung tại các đô thị lớn và các khu công nghiệp tập trung tại hai khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng nơi có nhiều điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng, nguồn lao động dồi dào và có trình độ. Hai khu vực này có tỷ trọng doanh nghiệp ĐTNN cao nhất, với tỷ trọng lần lượt là 49% và 31%; Trong khi đó các khu vực khó khăn như Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên lại có tỷ trọng doanh nghiệp có vốn ĐTNN thấp với tỷ trọng lần lượt là 1,6% và 0,8%. 2.2. Đánh giá hiệu quả của thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế ở Việt Nam Thứ nhất, FDI tăng cường nguồn vốn đầu tư phát triển xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế FDI được coi là nguồn vốn quan trọng góp phần bổ sung vào vốn đầu tư phát triển xã hội, trở thành động lực, tạo “cú huých” cho tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam. Vốn FDI thực hiện tăng nhanh qua các năm, từ khoảng 27,17 nghìn tỷ đồng, chiếm 18,0% tổng vốn đầu tư xã hội (2000) lên 214,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,8% tổng vốn đầu tư xã hội (2010). Năm 2018 vốn đầu tư phát triển toàn xã hội của khu vực FDI đạt 434,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Nguồn vốn FDI không chỉ tạo ra nguồn đầu tư trực tiếp mà còn góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển, tăng nguồn vốn đầu tư để mở rộng sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, thúc đẩy các ngành dịch vụ phát triển, khai thác có hiệu quả các nguồn lực về tự nhiên, dân cư, lao động của cả nước. Đầu tư nước ngoài còn là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam bởi mức đóng góp của khu vực này vào tăng trưởng kinh tế ngày càng cao. FDI hiện là khu vực phát triển năng động nhất trong các khu vực kinh tế với tốc độ tăng GDP cao hơn so với các khu vực kinh tế khác và cao hơn tốc độ tăng của toàn nền kinh tế. Năm 1995 GDP của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,98% trong khi GDP cả nước tăng 9,54%; tốc độ này tương ứng là 11,44% và 6,79% (2000), 13,22% và 8,44% (2005), 8,12% và 6,78% (2010), 12,2% và 7,08% (2018). Khu vực FDI tăng nhanh dẫn tới tỷ trọng đóng góp của khu vực này vào GDP không ngừng tăng lên. Tỷ trọng đóng góp của khu vực FDI trong GDP tăng dần qua các năm, từ 6,3% GDP (1995), lên 12,7% (2000), 17,7% (2010), 18,1% (2015) và 20,28% (2018). Thứ hai, khu vực FDI đóng góp nguồn thu ngân sách nhà nước Một tác động kinh tế trực tiếp khác của FDI là đóng góp vào ngân sách nhà nước, không tính từ dầu thô, thuế thu nhập cá nhân và các khoản lệ phí khác. Số thu ngân sách nhà nước từ khu vực doanh nghiệp có vốn ĐTNN luôn tăng trưởng ổn định. Năm 2000, 351
  6. khu vực ĐTNN đóng góp vào ngân sách nhà nước (chưa kể thu từ dầu thô) hơn 4,7 nghìn tỷ đồng (chiếm 5,2% tổng thu ngân sách), năm 2005 hơn 19,1 nghìn tỷ đồng (chiếm 8,4%), năm 2010 hơn 64,9 nghìn tỷ đồng (11,03%), năm 2015 hơn 140 nghìn tỷ đồng (14,1%), đến năm 2017 là 171 nghìn tỷ đồng, chiếm 13,3% tổng thu ngân sách cả nước. Thứ ba, FDI đóng góp vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, vì thế, Việt Nam được coi là điểm đến của nhiều nhà đầu tư nước ngoài và khu vực FDI đã trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam. Nguồn vốn FDI tập trung chủ yếu vào khu vực công nghiệp và dịch vụ đã tác động mạnh đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước ta theo hướng CNH - HĐH. Các dự án FDI đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp - xây dựng chiếm 55,4% tổng số dự án và 67,5% tổng vốn FDI, khu vực dịch vụ tương ứng là 42,8% dự án và 31,5% tổng vốn FDI, đã đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp từ 27,2% xuống 14,7% giai đoạn 1995 - 2018, tăng tỷ trọng của khu vực công nghiệp (28,8% lên 34,2%) và dịch vụ (44,0% lên 51,1%). Bảng 1: Số dự án và tổng vốn đăng ký đầu tư FDI vào Việt Nam phân theo ngành kinh tế (lũy kế tính đến 31/12/2018) Số dự án Tổng vốn đăng ký Ngành kinh tế STT Dự án Cơ cấu % Triệu USD Cơ cấu % Tổng số 27.454 100 340.849,9 100 1 Nông nghiệp, lâm nghiệp và 491 1,8 3.455,7 1,0 thủy sản 2 Công nghiệp - Xây dựng 15.454 55,4 230.022,4 67,5 2.1 Khai khoáng 108 4903,8 2.2 Công nghiệp chế biến, chế tạo 13.306 195.911,4 2.3 Sản xuất và phân phối điện, 189 25.751,5 khí đốt, nước và hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải 2.4 Xây dựng 1.593 10.091,1 3 Dịch vụ 11.767 42,8 107.371,8 31,5 Nguồn: Tổng cục Thống kê, https://www.gso.gov.vn Tính đến ngày 31/12/2018, ngành công nghiệp và xây dựng là ngành kinh tế thu hút được nhiều vốn FDI nhất với 15.454 dự án và số vốn đăng ký là 230,02 tỷ USD, 352
  7. chiếm 67,5% tổng lượng vốn FDI. Đặc biệt, khu vực FDI đóng góp chủ yếu ở khu vực công nghiệp, nhất là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đến 48,5% tổng số dự án và 57,5% tổng vốn đầu tư FDI. Nguồn vốn này đã tạo ra hơn 50% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế như viễn thông, khai thác, chế biến dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin, thép, xi măng... thúc đẩy hình thành hệ thống các KCN -KCX, góp phần phân bố hoạt động công nghiệp hợp lý hơn, nâng cao hiệu quả đầu tư. Ngành dịch vụ cũng đã thu hút được 11.767 dự án với tổng vốn đăng ký là 107,37 tỷ USD, chiếm 31,5% tổng lượng vốn FDI. Khu vực ĐTNN cũng tạo nên bộ mặt mới trong lĩnh vực dịch vụ chất lượng cao như khách sạn, văn phòng căn hộ cho thuê, ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, tư vấn luật, vận tải biển, logistics, siêu thị... Trong khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản mặc dù chỉ thu hút được 491 dự án với tổng lượng vốn là 3.455,7 triệu USD (chiếm 1,0% tổng vốn FDI đăng ký). Tuy nhiên các dự án đầu tư khá đang dạng và đồng đều, tập trung vào tất cả các lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi gia súc gia cầm, trồng và chế biến lâm sản, trồng rừng và sản xuất nguyên liệu giấy, sản xuất mía đường... đã góp phần nhất định vào việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, tạo nhiều việc làm mới, nâng cao thu nhập cho dân cư các địa phương, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị hàng hóa nông sản xuất khẩu. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì đầu tư FDI hiện vẫn còn nhiều hạn chế, chưa thật sự bền vững. Trong công nghiệp, các dự án FDI chủ yếu tập trung vào gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng thấp nhằm tận dụng lao động rẻ, đầu tư vào khai thác tài nguyên cũng tăng lên; các ưu tiên đầu tư vào công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường, dịch vụ chất lượng cao, giáo dục và đào tạo, nghiên cứu và phát triển không đạt được như dự kiến. Đặc biệt, FDI chưa tạo được mối liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp Việt Nam để cùng tham gia chuỗi giá trị, chưa thúc đẩy được ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước phát triển. FDI hiện tập trung chủ yếu tại địa bàn có điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, thị trường tiêu thụ sản phẩm gây mất cân đối vùng miền, không đạt được mục tiêu hướng ĐTNN vào địa bàn khó khăn. Các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao phát triển nhanh ở nhiều địa phương nhưng có cơ cấu gần như nhau, không tạo ra lợi thế của sự khác biệt từng địa phương, từng vùng lãnh thổ. Thứ tư, FDI góp phần đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, tạo thuận lợi cho việc tiếp cận và mở rộng thị trường xuất khẩu Khu vực FDI hiện đang chiếm ưu thế trong kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng năm của nước ta. Năm 1995 tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI mới chỉ chiếm 27%, đến trước năm 2002 chiếm dưới 50% tỷ trọng xuất khẩu cả nước (47,1%). Nhưng sau năm 2002, khu vực FDI đã lớn mạnh nhanh chóng, vượt qua khu vực trong nước để 353
  8. trở thành nhân tố chính thúc đẩy xuất khẩu. Năm 2003, xuất khẩu của khu vực này bắt đầu vượt khu vực trong nước, đạt 10,161 tỷ USD, chiếm khoảng 50,4% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Đặc biệt, từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI tăng khá nhanh, thường cao hơn 2 lần so với khu vực kinh tế trong nước. Đến năm 2018 khu vực này chiếm tới 71,4% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước với kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 123,07 tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 174 tỷ USD, xuất siêu 32 tỷ USD, trong khi khu vực trong nước nhập siêu 25,5 tỷ USD. Chính nhờ vào xuất siêu của các doanh nghiệp FDI mà thương mại Việt Nam đã đạt giá trị thặng dư thương mại từ 2012 đến nay. Như vậy, trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, khu vực kinh tế FDI ngày càng đóng vai trò quan trọng, góp phần tích cực đối với gia tăng quy mô kim ngạch xuất khẩu cũng như tác động tích cực đối với cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của nước ta thời gian qua. ĐTNN góp phần làm thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng giảm tỷ trọng sản phẩm khai khoáng, mặt hàng sơ cấp, tăng dần tỷ trọng hàng chế tạo (phần lớn hàng hóa xuất khẩu có hàm lượng công nghệ cao đều thuộc về các doanh nghiệp FDI). ĐTNN tác động tích cực tới việc mở rộng thị trường xuất khẩu nhất là sang Hoa Kỳ, EU, làm thay đổi đáng kể cơ cấu xuất khẩu, đưa Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. ĐTNN còn góp phần ổn định thị trường trong nước, hạn chế nhập siêu thông qua việc cung cấp cho thị trường nội địa các sản phẩm chất lượng cao do doanh nghiệp trong nước sản xuất thay vì phải nhập khẩu như trước đây. Tuy nhiên khi thương mại Việt Nam phần lớn phụ thuộc vào khu vực FDI với xu hướng ngày càng tăng, nếu khu vực này có sự biến động sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động thương mại nước ta. Điển hình như khi khủng hoảng kinh tế thế giới nổ ra cuối năm 2008, tỷ trọng xuất khẩu khu vực FDI sụt giảm còn 53,2% năm 2009, nhưng sau khi kinh tế thế giới phục hồi sau năm 2010, khu vực FDI lại tăng nhanh trở lại. Không chỉ xuất khẩu mà hoạt động nhập khẩu hàng hóa của nước ta, khu vực FDI cũng đang ngày càng đóng vai trò chủ đạo, tăng nhanh từ 18,0% năm 1995 lên 59,9% năm 2018. Điều này hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển xuất khẩu của khu vực kinh tế này. Để phục vụ hoạt động sản xuất và xuất khẩu hàng hóa, khu vực kinh tế FDI có xu hướng nhập khẩu ngày càng nhiều máy móc thiết bị và nguyên phụ liệu. Tuy nhiên nó cũng phản ánh thực tế rằng, năng lực cung ứng máy móc thiết bị và nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất của nước ta còn nhiều hạn chế, đặc biệt là sự kém phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ đã không đáp ứng được nhu cầu cung cấp nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất không chỉ cho các doanh nghiệp trong nước mà đặc biệt là các doanh nghiệp FDI, đã phần nào hạn chế hiệu quả trong thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam. 354
  9. 3. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế mở ra cho kinh tế nước ta những cơ hội phát triển mới và FDI vẫn đóng một vai trò quan trọng trong cung cấp nguồn vốn cho phát triển kinh tế - xã hội. Sau 30 năm thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu, khẳng định được vai trò đóng góp to lớn của khu vực này đối với kinh tế nước ta như thúc đẩy xuất khẩu, bổ sung vốn cho phát triển, thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế… Kết quả nổi bật đó đã đưa Việt Nam trở thành một trong những nước thu hút FDI thành công của khu vực và thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đạt được thì vẫn còn những hạn chế, tồn tại cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp khắc phục để nâng cao hiệu quả trong thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI. Hoàn thiện môi trường đầu tư theo hướng ngày càng minh bạch, thông thoáng và hấp dẫn nhằm huy động mạnh mẽ mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển: Điều chỉnh và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài; Đơn giản và công khai quy trình, thủ tục hành chính đối với đầu tư nước ngoài, có các văn bản hướng dẫn cụ thể cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư về các thủ tục đầu tư, thủ tục cấp phép, các luật kinh doanh ở Việt Nam, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính. Chú trọng đến chất lượng các dự án đầu tư, tập trung vào một số lĩnh vực ưu tiên: chú trọng phát triển theo chiều sâu, ưu tiên các ngành, lĩnh vực công nghệ cao, tiên tiến, công nghệ thân thiện với môi trường, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; các ngành dịch vụ chất lượng cao; sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch; phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật hiện đại… Đối với các ngành then chốt đang có ưu thế hiện nay như dệt may, da giày, chế biến thì cần tập trung vào các khâu có giá trị gia tăng cao, ứng dụng công nghệ vào sản xuất nhằm nâng cao giá trị của sản phẩm trong chuỗi giá trị toàn cầu. Cần có định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ rõ ràng, có phương hướng, chính sách cụ thể, xác định rõ các ngành công nghiệp hỗ trợ để từ đó có định hướng phát triển và đào tạo nguồn nhân lực phù hợp. Về thị trường và đối tác đầu tư: thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa thu hút FDI từ các thị trường và đối tác tiềm năng. Tiếp tục đẩy mạnh mối quan hệ với các nước mà Việt Nam đã ký hiệp định thương mại và đầu tư. Ưu tiên các nhà đầu tư có tiềm lực về vốn và công nghệ hiện đại đến từ các nước phát triển châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản… Hướng tập trung vào các tập đoàn có công nghệ nguồn, có thương hiệu mạnh để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Quy hoạch nâng cấp và hoàn thiện nhanh cơ sở hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, nhất là hệ thống đường bộ, đường cao tốc, các cảng biển, hệ thống điện, cấp thoát nước… Kêu gọi vốn đầu tư vào lĩnh vực hạ tầng, khuyến khích áp dụng những hình thức đầu tư như BOT, BTO, BT trong đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kĩ thuật. 355
  10. Đầu tư cho giáo dục - đào tạo nhằm nâng cao trình độ lao động, nhất là phát triển nguồn lao động có trình độ cao nhằm đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư. Giữa các doanh nghiệp và cơ sở đào tạo cần phải có sự kết nối với nhau trong việc đào tạo nguồn lao động phù hợp với yêu cầu doanh nghiệp, đặc biệt là những ngành nghề lĩnh vực mới, hiện đại; Thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2018. “30 năm thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tầm nhìn và cơ hội mới trong kỷ nguyên mới”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học. 2. Cục Đầu tư nước ngoài, 2018. Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài năm 2018, https://dautunuocngoai.gov.vn/TinBai/6108/Tinh-hinh-thu-hut-Dau-tu-nuoc- ngoai-nam-2018, truy cập 02/08/2019. 3. Tổng Cục Thống kê, Niên giám Thống kê Việt Nam hằng năm, Nhà xuất bản Thống kê. 4. Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, Đầu tư trực tiếp nước ngoài: Một số vấn đề về thực trạng và giải pháp, http://www.ciem.org.vn/Content/files/VNEP/FDI_VNEP_tong%20quan_chi%20 Ta%20Thao.pdf, truy cập 08/08/2019. 356
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2