intTypePromotion=1

Đánh giá hiệu quả phác đồ thuốc phối hợp có gốc artemisinine (acts) trong điều trị sốt rét do plasmodium falciparum chưa biến chứng tại vùng sốt rét lưu hành nặng, khu vực miền trung Tây Nguyên, 2004-2008

Chia sẻ: Trần Thị Hạnh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
24
lượt xem
0
download

Đánh giá hiệu quả phác đồ thuốc phối hợp có gốc artemisinine (acts) trong điều trị sốt rét do plasmodium falciparum chưa biến chứng tại vùng sốt rét lưu hành nặng, khu vực miền trung Tây Nguyên, 2004-2008

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm đánh giá hiệu quả phác đồ thuốc phối hợp có gốc artemisinine (acts) trong điều trị sốt rét do plasmodium falciparum chưa biến chứng tại vùng sốt rét lưu hành nặng, khu vực miền trung Tây Nguyên, 2004-2008. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đánh giá hiệu quả phác đồ thuốc phối hợp có gốc artemisinine (acts) trong điều trị sốt rét do plasmodium falciparum chưa biến chứng tại vùng sốt rét lưu hành nặng, khu vực miền trung Tây Nguyên, 2004-2008

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÁC ĐỒ THUỐC PHỐI HỢP<br /> CÓ GỐC ARTEMISININE (ACTs) TRONG ĐIỀU TRỊ SỐT RÉT<br /> DO PLASMODIUM FALCIPARUM CHƯA BIẾN CHỨNG<br /> TẠI VÙNG SỐT RÉT LƯU HÀNH NẶNG,<br /> KHU VỰC MIỀN TRUNG TÂY NGUYÊN, 2004-2008<br /> Triệu Nguyên Trung*, Huỳnh Hồng Quang*, Li Guoqiao** và cs.,<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Giới thiệu: Sốt rét vẫn là vấn đề y tế công cộng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, đặc biệt châu Phi và châu<br /> Á. Sự xuất hiện và lan rộng KSTSR kháng thuốc đang diễn biến nghiêm trọng đe dọa đến thành quả phòng<br /> chống sốt rét. Các dẫn suất của artemisinin ra đời đã tác động rất lớn về mặt điều trị và chống kháng. Tuy nhiên,<br /> kinh nghiệm cho thấy tình trạng kháng thuốc xảy ra cũng là lúc “tuổi thọ” của TSR giảm đi. Nếu không có biện<br /> pháp và hoạt động giám sát thường xuyên về tình hình kháng thuốc thì việc đầu tư vào nghiên cứu phát minh ra<br /> thuốc mới sẽ rất lãng phí. Do vậy, thử nghiệm lâm sàng một số thuốc sốt rét mới là rất cần thiết và quan trọng,<br /> để đưa ra chiến lược kịp thời, đồng thời nhằm bổ sung dữ liệu và góp phần thay đổi chính sách thuốc quốc gia<br /> trong từng giai đoạn.<br /> Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của phác đồ CV-8, Artekine (Dihydroartemisinine +<br /> piperaquine), Artequick (Artemisinine + piperaquine) trong điều trị sốt rét do P. falciparum chưa biến chứng.<br /> Phương pháp: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên tự chứng liên quan đến đánh giá đáp ứng của P.<br /> falciparum với các phác đồ khác nhau.<br /> Kết quả: Với phác đồ CV8, Artequick dạng viên, Artekine cho kết quả đáp ứng lâm sàng và ký sinh trùng<br /> đầy đủ (ACPR) là 100%; Hiệu quả phác đồ Artequick (dạng cốm) cho ACPR từ 98,10%, LPF là 1,9%, không có<br /> ca nào ETF hoặc LCF. Không có một tác dụng phụ nghiêm trọng nào xảy ra trong quá trình theo dõi.<br /> Kết luận: (1) Hiệu quả phác đồ CV-8, Artequick (dạng viên hoặc cốm), Artekine rất cao, đây là những thuốc<br /> lý tưởng cho điều trị sốt rét (2) tác dụng phụ của thuốc chỉ thoáng qua không cần can thiệp y tế hoặc buộc ngưng<br /> điều trị; Kết quả nghiên cứu sẽ bổ sung dữ liệu, giúp cho Bộ y tế đánh giá và có hướng điều chỉnh Chính sách<br /> thuốc sốt rét quốc gia phù hợp.<br /> <br /> ABSTRACT<br /> ASSESSMENT OF ACTs (ARTEMISININE BASED COMBINATIONS)<br /> ANTIMALARIAL DRUGS EFFICACY FOR THE TREATMENT<br /> OF UNCOMPLICATED FALCIPARUM MALARIA IN SOME HYPERENDEMIC AREAS,<br /> CENTRAL AND WEST HIGHLAND OF VIETNAM, 2004-2008<br /> Trieu Nguyen Trung, Huynh Hong Quang, Li Guoqiao et al.,<br /> * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 12 - Supplement of No 4 - 2008: 28 - 34<br /> Background: Malaria still a public health problem in the tropics and subtrropics areas, particularly in Asia<br /> and Africa. The emergence and spread of drug-resistant malaria parasites is the major threat to effective malaria<br /> control. The artemisinin derivatives have had an important clinical impact both on the treatment of resistant<br /> falciparum malaria. However, experience has shown that resistance eventually curtails the life span of<br /> antimalarial drugs. If measures are not applied to contain resistance, the investment put into the development of<br /> * Viện Sốt rét KST-CT Quy Nhơn, Bộ Y tế ** Viện Trung y dược Quảng Tây, Trung Quốc<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> new drugs will be squandered. Therefor, A few promising new antimalarials are being tested clinically, drugs<br /> tolerance that can be used in short courses, and for strategies to delay the onset of drug resistance and to properly<br /> change national antimalarial drug policy.<br /> Objectives: To assess the efficacy and safety of CV-8, Artequick in tablets and granules (Artemisinine plus<br /> piperaquine), Artekin (Dihydroartemisinine plus piperaquine) regimes for the treatment of uncomplicated P.<br /> falciparum malaria.<br /> Methods: We conducted a randomized clinical trials involved patients with uncomplicated P. falciparum<br /> malaria. The patients were treated with either CV-8 or Artequick or Artekine regimes, and followed for 28 days to<br /> assess the antimalarial efficacy of the drug by monitoring of clinical and parasitological parameters.<br /> Results: in analyses conducted according to the study protocol, the cumulative efficacy of CV-8, Artequick<br /> (tablet) and Artekin were (ACPR) of 100%; only in Artequick (granule) was (ACPR) of 98.10%, LPFof 1.90%,<br /> none of them were ETF or LCF; no serious side-effects related to the studied drugs.<br /> Conclusions: (1). The efficacy of CV-8, Artekin and Artequick (tablets and granules) are extremely high,<br /> ideal for malaria treatment; (2) Side effects of these regimes were reported but did not necessitate premature<br /> cessation of therapy or health care interventions. From this study outcomes will be used to assist the Ministry of<br /> Health of Vietnam in assessing the current national treatment guidelines.<br /> số quốc gia trên thế giới, nhưng tỷ lệ thất bại<br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> (mặc dù rất ít) của ACTs sử dụng ở các quốc gia<br /> Sốt rét vẫn còn là vấn đề y tế công cộng, rất<br /> tiểu vùng sông Mê Kông đã lên tiếng cảnh báo<br /> quan trọng và đe dọa tính mạng cộng đồng tại<br /> cho liên vùng và toàn cầu. Song, đặc biệt hầu hết<br /> các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới.<br /> phác đồ khuyến cáo điều trị của WHO hiện tại<br /> Ước tính hiện tại có khoảng 350-500 triệu ca mắc<br /> đều trên nền dẫn suất artemisinine, nếu quả thật<br /> mới và hơn một triệu ca tử vong do sốt rét trên<br /> P. falciparum kháng với dẫn suất artemisinine<br /> phạm vi toàn cầu hằng năm, phần lớn tập trung<br /> như thế thì thật đáng sợ vì có thể kháng lan rộng<br /> ở châu Phi và châu Á. Quản lý ca bệnh hiệu quả<br /> ra cả các châu lục khác trong khi loại TSR khác<br /> và kịp thời vẫn là một trong những điểm chính<br /> vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm.<br /> làm giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong, thành công<br /> của chiến lược này dựa trên khả năng sự thay<br /> đổi chính sách thuốc quốc gia của Bộ Y tế theo<br /> từng giai đoạn nhằm cung cấp thuốc sốt rét<br /> (TSR) có hiệu quả cao.<br /> Sự lan rộng P. falciparum kháng thuốc hầu<br /> hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam đang là<br /> thử thách nguy hiểm cho điều trị. Không riêng<br /> kháng chloroquine mà các TSR khác cũng tăng<br /> kháng, ngoại trừ “hoặc chưa” có tính kháng đối<br /> với các dẫn suất của artemisinine. Vì tình trạng<br /> kháng thuốc lan nhanh có thể là quy mô toàn<br /> cầu, liệu pháp phối hợp thuốc artemisinin<br /> (ACTs_<br /> artemisinine-based<br /> combination<br /> therapy) là những thuốc phối hợp hiệu lực cao<br /> có sẵn để lựa chọn điều trị tại Việt Nam và một<br /> <br /> Miền Trung-Tây Nguyên với tỷ lệ bệnh nhân<br /> và con số tử vong cũng như tình trạng kháng<br /> TSR cao nhất cả nước thì việc nghiên cứu áp<br /> dụng một số phác đồ thuốc ACTs để kịp thời xử<br /> trí kháng lan rộng là rất cần thiết, cùng với ý<br /> nghĩa đó, chúng tôi tiến hành đề tài nhằm:<br /> <br /> Mục tiêu nghiên cứu<br /> Đánh giá hiệu quả điều trị về mặt lâm sàng,<br /> ký sinh trùng của các phác đồ CV-8, Artequick<br /> (dạng viên và dạng cốm) và Artekine trên bệnh<br /> nhân sốt rét P. falciparum chưa biến chứng, thông<br /> qua xác định tỷ lệ ETF, LTF, LPF và ACPR;<br /> Đánh giá tỷ lệ xuất hiện tác dụng phụ trên<br /> bệnh nhân khi dùng các phác đồ.<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008<br /> ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> Địa điểm và thời gian nghiên cứu<br /> - Thời gian: từ tháng 2005-2008, đặc biệt thời<br /> điểm các đỉnh truyền bệnh cao.<br /> - Địa điểm: - xã Phước Chiến, huyện Thuận<br /> Bắc, tỉnh Ninh Thuận và xã Đăk Roong, huyện<br /> K’Bang, tỉnh Gia Lai<br /> <br /> Thiết kế nghiên cứu<br /> Đánh giá thử nghiệm lâm sàng tiến cứu tự<br /> chứng về đáp ứng lâm sàng và KSTSR trực<br /> tiếp trên bệnh nhân sốt rét do P. falcipparum<br /> chưa biến chứng.<br /> <br /> Tiêu chuẩn chọn bệnh<br /> Tuổi từ 5-60 tuổi;<br /> Nhiễm đơn thuần loại KSTSR Plasmodium<br /> falciparum;<br /> MĐKSTSR trong máu ≥ 500 thể vô tính /µl<br /> máu;<br /> Nhiệt độ nách ≥ 37,5 °C hoặc nhiệt độ dưới<br /> lưỡi/ đại tràng ≥38 °C;<br /> Có khả năng nuốt và uống thuốc; chưa dùng<br /> loại TSR nào trước đó<br /> Hợp tác nghiên cứu trong suốt thời gian và<br /> lịch nghiên cứu.<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Tiền sử mẫn cảm bất kỳ thành phần nào của<br /> thuốc nghiên cứu.<br /> * Riêng phác đồ thuốc Artequick (dạng cốm)<br /> chọn ưu tiên nhóm bệnh nhân < 6 tuổi<br /> <br /> Thuốc sử dụng trong nghiên cứu<br /> Thuốc điều trị sốt rét<br /> CV-8: gồm 32mg dihydroartemisinine +<br /> 320mg piperaquine + 90mg trimethoprime + 5mg<br /> primaquine phosphate, do XNDP OPC 26, tp.Hồ<br /> Chí Minh cung cấp;<br /> Artequick viên nén: gồm 62.5mg artemisinine<br /> + 375mg piperaquine, Lot. 20040401, do công ty<br /> dược phẩm Artepharm Co. Ltd Guangzhou,<br /> China cung cấp;<br /> Artequick dạng cốm: gồm 24mg artemisinine +<br /> 144mg piperaquine, Lot/bacth. 20030910, do<br /> công ty DP Artepharm Co. Ltd Guangzhou,<br /> China cung cấp;<br /> Artekine: viên nén, log 20030301, do Cty<br /> TNHH DP Guangzhou Holleykin cung cấp.<br /> Thuốc dùng đồng thời (nếu có thể)<br /> Các biện pháp hạ sốt cơ học (dùng quạt, lau<br /> mát) làm giảm nhiệt độ thoáng qua;<br /> Điều trị sốt khi ≥ 38°C cho phép dùng<br /> paracetamol hoặc acetaminophen; trước khi điều<br /> trị TSR sẽ tránh không để loại bệnh nhân vì lý do<br /> nôn.<br /> Phân tích số liệu<br /> Số liệu được thu thập qua ghi nhận, tổng<br /> hợp trong bảng Exelsheet form của WHO, 2005,<br /> 2007 và EPI_ INFO 6.04, của Hoa Kỳ.<br /> Các khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu<br /> Mọi thời điểm, tính an toàn và sự bồi hoàn<br /> phải luôn đảm bảo cho bệnh nhân; có cam kết<br /> giữa đối tượng nghiên cứu và đề tài được chấp<br /> thuận của Hội đồng y đức Bộ y tế.<br /> <br /> Tiêu chuẩn loại trừ<br /> Ngoài khoảng tuổi trên (< 5 và > 60 tuổi);<br /> Xuất hiện các dấu chứng nguy hiểm trên<br /> những trẻ em ≤ 5 tuổi hoặc những dấu hiệu cảnh<br /> báo dẫn đến SRAT theo tiêu chuẩn và định<br /> nghĩa WHO;<br /> Nhiễm phối hợp hoặc đơn nhiễm các loài<br /> khác P.falciparum;<br /> Suy dinh dưỡng nặng, phụ nữ có thai (test<br /> thử +), đang cho con bú, bệnh tâm thần;<br /> Sốt do bệnh nhiễm trùng khác hoặc các bệnh<br /> mạn tính.<br /> Phân loại đánh giá hiệu quả điều trị các phác đồ thuốc sốt rét<br /> <br /> Phân loại đánh giá hiệu quả điều trị theo tiêu chuẩn WHO (Classification of treatment outcomes WHO-2005, 2007)<br /> Thất bại điều trị sớm (ETF_Early Treatment Failure)<br /> Có xuất hiện các dấu chứng của sốt rét nguy hiểm hoặc nghiêm trọng vào ngày D1, D2 hoặc D3, kèm có mặt KSTSR trong<br /> máu;<br /> KSTSR vào ngày D2 cao hơn D0 bất kể thân nhiệt;<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Xuất hiện KSTSR trong máu vào ngày D3 đi kèm thân nhiệt ≥ 37,5ºC;<br /> KSTSR trong máu vào ngày D3 ≥ 25% so với MĐKSTSR ngày D0.<br /> Thất bại điều trị muộn (LTF_Late Treatment Failure)<br /> Thất bại lâm sàng muộn (LCF_Late Clinical Failure)<br /> Xuất hiện các dấu chứng sốt rét nặng và nguy hiểm vào bất kỳ ngày nào từ D4 đến D28 với sự có mặt của KSTSR trong máu,<br /> không có tiêu chuẩn nào của ETF trước đó;<br /> Có mặt KSTSR trong máu và thân nhiệt ≥ 37,5ºC hoặc có tiền sử sốt trong vùng sốt rét lan truyền thấp đến trung bình ở bất kỳ<br /> ngày nào từ D4 đến D28, không có bất kỳ dấu hiệu nào của ETF trước đó;<br /> Thất bại ký sinh trùng muộn (LPF_Late Parasitological Failure)<br /> Có mặt KSTSR trong máu vào bất kỳ ngày nào từ D7 đến D28 và thân nhiệt < 37,5ºC, không có bất kỳ tiêu chuẩn nào của ETF<br /> và LCF trước đó.<br /> Đáp ứng lâm sàng, KST đầy đủ (ACPR_Adequate Clinical and Parasitological Response)<br /> Không có xuất hiện KSTSR trong máu vào D28, bất luận nhiệt độ nách thế nào và không có bất kỳ tiêu chuẩn nào của ETF,<br /> LCF và LPF trước đó.<br /> <br /> KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU<br /> Hiệu lực điều trị phác đồ CV-8 với sốt rét<br /> do P. falciparum chưa biến chứng<br /> Bảng 1: Hiệu lực phác đồ CV 8 đường uống 3 ngày<br /> liên tiếp<br /> CHỈ SỐ<br /> Số ca nghiên cứu (n)<br /> Thời gian sạch KST trung bình<br /> (giờ)<br /> Thời gian cắt sốt trung bình (giờ)<br /> Tỷ lệ đáp ứng ACPR<br /> Tỷ lệ thất bại điều trị: ETF, LPF,<br /> LCF<br /> <br /> GIÁ TRỊ<br /> Thông số<br /> Tỷ lệ (%)<br /> 36<br /> 33,60 ± 12,60<br /> 23,00 ± 11,40<br /> 36<br /> 100<br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 36 ca đều cải thiện về mặt lâm sàng và KST<br /> nhanh;<br /> Tỷ lệ đáp ứng lâm sàng và KST đầy đủ<br /> (ACPR) là 100%.<br /> <br /> Hiệu lực điều trị phác đồ Artequick dạng<br /> viên (Artemisinine + piperaquine) với P.<br /> falciparum<br /> Bảng 2: Hiệu lực điều trị, cắt sốt và làm sạch KSTSR<br /> của Artequick tablets<br /> CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ<br /> Tổng số ca nghiên cứu (n)<br /> Thời gian sạch KST trung bình<br /> (giờ)<br /> Thời gian cắt sốt trung bình (giờ)<br /> Tỷ lệ đáp ứng ACPR<br /> Tỷ lệ tái phát sớm/ thất bại điều trị<br /> (TF)<br /> <br /> GÍA TRỊ<br /> Thông số Tỷ lệ (%)<br /> 52<br /> <br /> ± 9,90giờ và cắt KSTSR trung bình (PCT) là 51,60<br /> ±13,90 giờ<br /> <br /> Hiệu lực điều trị phác đồ Artequick dạng<br /> cốm (Artemisinine + piperaquine) với P.<br /> falciparum<br /> Bảng 3: Hiệu lực điều trị, cắt sốt và làm sạch KSTSR<br /> của Artequick granule<br /> CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ<br /> Tổng số ca nghiên cứu (n)<br /> Thời gian sạch KST trung bình<br /> (giờ)<br /> Thời gian cắt sốt trung bình<br /> (giờ)<br /> Tỷ lệ đáp ứng ACPR<br /> Tỷ lệ thất bại điều trị (LPF)<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 52 ca dùng artequick có hiệu quả rất cao,<br /> 100% đáp ứng tốt lâm sàng và ký sinh trùng<br /> (ACPR); thời gian cắt sốt (FCT) trung bình 27,70<br /> <br /> 47,30 ±15,40<br /> 28,40 ± 12,30<br /> 105/107<br /> 2<br /> <br /> 98,1%<br /> 1,90%<br /> <br /> 107 trẻ em dùng artequick dạng cốm cho<br /> hiệu quả ACPR là 98,10% và LPF là 1,90%; thời<br /> gian cắt sốt (FCT) trung bình 28,40 ± 12,30 giờ và<br /> cắt KSTSR trung bình (PCT) là 47,30 ±15,40giờ<br /> <br /> Hiệu lực điều trị phác đồ Artekine<br /> (Dihydroartemisinine + piperaquine) với P.<br /> falciparum<br /> Bảng 4: Hiệu lực điều trị, cắt sốt và làm sạch KSTSR<br /> của Artekine<br /> CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ<br /> <br /> 51,60 ±13,90<br /> 27,70 ± 9,90<br /> 52<br /> 100<br /> <br /> GÍA TRỊ<br /> Thông số<br /> Tỷ lệ (%)<br /> 107* (trẻ em < 6 tuổi)<br /> <br /> Tổng số ca nghiên cứu (n)<br /> Thời gian sạch KST (PCT) trung<br /> bình (giờ)<br /> Thời gian cắt sốt (FCT) trung<br /> bình (giờ)<br /> Tỷ lệ đáp ứng ACPR<br /> Tỷ lệ tái phát sớm/ thất bại điều trị<br /> (TF)<br /> <br /> GÍA TRỊ<br /> Thông số Tỷ lệ (%)<br /> 51<br /> 36,50 ± 17,10<br /> 22,70 ± 11,20<br /> 51<br /> <br /> 100<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 12 * Phụ bản của Số 4 * 2008<br /> 51 ca dùng artekin cho kết quả 100% đáp<br /> ứng tốt lâm sàng và ký sinh trùng (ACPR); thời<br /> gian cắt sốt (FCT) trung bình 22,70 ± 11,20 giờ và<br /> cắt KSTSR trung bình (PCT) là 36,50 ± 17,10 giờ.<br /> <br /> Độ an toàn và một số tác dụng phụ của các<br /> thuốc sốt rét ACTs<br /> Bảng 5: Một số triệu chứng nghi tác dụng phụ do<br /> dùng thuốc sốt rét<br /> Tác dụng phụ<br /> <br /> CV-8<br /> <br /> Nhức đầu, chóng<br /> mặt<br /> <br /> 0<br /> <br /> Artequick Artequic<br /> Artekine<br /> (viên nén) k (cốm)<br /> 5 (9,6%)<br /> <br /> 1<br /> 3 (5,8%)<br /> (2,78%)<br /> Đau bụng, RL tiêu<br /> 1<br /> 0<br /> hóa<br /> (2,78%)<br /> Ngứa, nổi mẩn, đỏ<br /> 0<br /> 0<br /> da<br /> Chán ăn<br /> 0<br /> 0<br /> Buồn nôn, nôn<br /> <br /> 2(1,9)<br /> <br /> 4 (7.8%)<br /> <br /> 3(2,8)<br /> <br /> 3 (5,9%)<br /> <br /> 3(2,8)<br /> <br /> 1(2,0)<br /> <br /> 0<br /> <br /> 0<br /> <br /> 1(0,9)<br /> <br /> 0<br /> <br /> Với phác đồ CV-8: ghi nhận 1/36 (2,78%)<br /> bệnh nhân có biểu hiện buồn nôn, 1/36 (2,78%)<br /> có đau bụng và rối loạn tiêu hóa;<br /> Với phác đồ Artequick: ghi nhận chỉ 5/52<br /> (9,6%) có biểu hiện nhức đầu và hơi chóng mặt;<br /> 5,8% bệnh nhân buồn nôn; trong số 107 bệnh<br /> nhân trẻ em dùng artequick dạng cốm có 2 ca<br /> biểu hiện nhức đầu, 3 ca buồn nôn và 3 ca rối<br /> loạn tiêu hóa nhẹ;<br /> Với phác đồ Artekin: ghi nhận bệnh nhân<br /> đau bụng nhẹ (1ca; 2%), buồn nôn (3 ca; 5,9%) và<br /> 4 ca biểu hiện nhức đầu chóng mặt.<br /> <br /> BÀN LUẬN<br /> Hiệu quả phác đồ CV-8 liệu trình 3 ngày<br /> với sốt rét P.falciparum<br /> CV-8, loại thuốc sốt rét phối hợp có thời gian<br /> bán hủy trung bình 6.8 giờ, liệu trình 3 ngày là<br /> thuốc cứu cánh về kháng thuốc và rút ngắn liệu<br /> trình điều trị, hiệu quả điều trị được khẳng định<br /> qua nghiên cứu trong nước và thế giới. Hiệu lực<br /> điều trị CV8 với sốt rét do P. falciparum chưa biến<br /> chứng tiếp tục được khẳng định qua 36 ca theo<br /> dõi invivo 28 ngày.<br /> Phác đồ CV-8 cải thiện về mặt lâm sàng lẫn<br /> KSTSR, chưa đầy 2 ngày là vừa sạch KSTSR vừa<br /> cắt sốt, thời gian sạch KSTSR trung bình 33,60 ±<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> 12,60 và thời gian cắt sốt trung bình là 23,00 ±<br /> 11,40 giờ; tỷ lệ đáp ứng lâm sàng và ký sinh<br /> trùng đầy đủ (ACPR) là 100% qua theo dõi 28<br /> ngày. Số liệu của chúng tôi có cao hơn so với<br /> nghiên cứu của tác giả Nông Thị Tiến và cộng sự<br /> (2004) tại Phước Long, Bình Phước (ACPR:<br /> 97,6% và LPF: 2,4%; n = 42). Do vậy, thuốc CV-8<br /> vẫn còn khả năng dùng điều trị sốt rét do P.<br /> falciparum rất tốt, song vì trong thành phần có<br /> trimethoprime có khả năng gây tán huyết và hội<br /> chứng bong da dị ứng, nên dùng thận trọng.<br /> <br /> Hiệu quả phác đồ Artequick dạng viên nén<br /> và dạng cốm với sốt rét P.falciparum<br /> Artequick dạng viên, chỉ định trong 2 ngày<br /> uống, qua nghiên cứu và theo dõi tổng cộng 52<br /> ca sốt rét chưa biến chứng do P.falciparum, kết<br /> quả cho thấy hiệu quả điều trị rất cao, 100% đáp<br /> ứng tốt lâm sàng và ký sinh trùng (ACPR),<br /> không có trường hợp nào thất bại điều trị hoặc<br /> tái phát sớm (recrudescence); thời gian cắt sốt<br /> (FCT) trung bình 27.70 ± 9.90 giờ và cắt KSTSR<br /> trung bình (PCT) là 51,60 ±13,90.<br /> Artequick dạng cốm chỉ định dùng trên 107<br /> trẻ em mắc sốt rét do P. falciparum chưa biến<br /> chứng cho thấy hiệu lực cắt sốt và ký sinh trùng<br /> rất nhanh, thời gian cắt sốt (FCT) trung bình<br /> 28,40 ± 12,30 giờ và cắt KSTSR trung bình (PCT)<br /> là 47,30 ± 15,40 giờ, đặc biệt là tình trạng đáp<br /> ứng lâm sàng và ký sinh trùng đầy đủ cao với<br /> ACPR là 98,10% và một tỷ lệ nhỏ tái phát ký sinh<br /> trùng muộn (LPF) là 1,9%<br /> Nhiều nghiên cứu được tiến hành với nhóm<br /> thuốc ACTs trong nước và trên thế giới, tại Việt<br /> Nam như tại vùng sốt rét lưu hành nặng của<br /> Quảng Trị, một nghiên cứu dùng Artekin (n =<br /> 98) cho bệnh nhân sốt rét chưa biến chứng do P.<br /> falciparum cho kết quả ACPR là 100%(7) hoặc tại<br /> Ninh Thuận với Arterakin (n = 98) cũng cho<br /> ACPR 100%, các số liệu này phù hợp với kết quả<br /> nghiên cứu của chúng tôi. Riêng với thuốc<br /> Artequick dạng cốm trong nghiên cứu này<br /> chúng tôi có một tỷ lệ nhỏ thất bại lâm sàng<br /> muộn (LPF) là 1,9% và ACPR là 98,10%, dữ liệu<br /> này cũng tương đương với số liệu từ các tác giả<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2