intTypePromotion=1

Đánh giá hiệu quả sử dụng dysport trong điều trị co quắp mí mắt vô căn

Chia sẻ: Trần Thị Hạnh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
12
lượt xem
0
download

Đánh giá hiệu quả sử dụng dysport trong điều trị co quắp mí mắt vô căn

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng dysport trong điều trị co quắp mí mắt vô căn. Nghiên cứu tiến hành 48 bệnh nhân bị chứng co quắp mí mắt vô căn được tiêm thuốc dysport trong thời gian từ 2003 đến 2004 tại Bệnh viện Mắt thành phố Hồ Chí Minh và Bệnh viện Thống Nhất.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đánh giá hiệu quả sử dụng dysport trong điều trị co quắp mí mắt vô căn

Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011<br /> <br /> ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG DYSPORT<br /> TRONG ĐIỀU TRỊ CO QUẮP MÍ MẮT VÔ CĂN<br /> Đặng Trung Hiếu*<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả sử dụng Dysport trong điều trị co quắp mí mắt vô căn.<br /> Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 48 bệnh nhân bị chứng co quắp mí mắt vô căn được tiêm thuốc<br /> Dysport trong thời gian từ 2003 đến 2004 tại Bệnh viện Mắt thành phố Hồ Chí Minh và Bệnh viện Thống Nhất.<br /> Phương pháp: Mô tả - Tiến cứu - Cắt dọc.<br /> Kết quả: 48 bệnh nhân gồm 17 nam (35,42%), 31 nữ (64,58%), tuổi mắc bệnh trung bình 607; 38 bệnh<br /> nhân bị co quắp mí mắt, 10 bệnh nhân bị hội chứng Meige; thời gian thuốc Dysport bắt đầu có tác dụng liệt cơ<br /> sau 1 tuần; 95,83% bệnh nhân cải thiện sau 1 tháng; thuốc chỉ tác dụng trong khoảng thời gian từ 3 đến 5 tháng.<br /> Tác dụng phụ chỉ là tại chỗ, nhẹ và tạm thời, không có tác dụng phụ toàn thân.<br /> Kết luận: Dysport có hiệu quả trong điều trị co quắp mí mắt vô căn. Đây là phương pháp đơn giản, an toàn,<br /> có thể tiêm nhắc lại.<br /> Từ khóa: Dysport, Co quắp mí mắt vô căn.<br /> <br /> ABSTRACT<br /> EVALUATE THE EFFECTIVENESS OF TREATMENT OF BLEPHAROSPASM WITH DYSPORT<br /> Dang Trung Hieu* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 15 - Supplement of No 2 - 2011: 210 - 217<br /> Objective: To describe the long-term efficacy of treatment of blepharospasm with botulinum neurotoxin type<br /> A (Dysport).<br /> Materials and methods: A total of 48 patients with blepharospasm were treated by injections of botulinum<br /> toxin in the Ho Chi Minh city Eye Hospital and Thong Nhat Hospital from 2003 to 2004. Methods: Prospective,<br /> descriptive, longitudinal sectional study.<br /> <br /> Results: Fourty-eight patients (17 male, 31 female) with blepharospasm were included in the study,<br /> the ages were from 44 to 78 years with an average age of 60 years. Thirty-eight had essential blepharospasm,<br /> ten had Meige syndrome. All of the patients had an effect of toxin within the first 7 days. 95.83% reported<br /> improvement after 1 months from the injected. Benefits begin in 1-7 days after the treatment and last for an<br /> average of three to five months. Side-effects were local, mild, temporary; none of the 48 patients experienced<br /> any systemic or toxic reaction.<br /> <br /> Conclusions: Botulinum toxin therapy for blepharospasm can provide long-lasting relief and reduction of<br /> spasms in the majority of patients. This therapy has the advantages of being safe, simple, and repeatable.<br /> Keys word: Dysport, Essential blepharospasm.<br /> theo khó mở mắt.<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Co quắp mí mắt, một vấn đề thuộc lĩnh vực<br /> thần kinh nhãn khoa, là tình trạng loạn trương<br /> lực cơ khu trú ảnh hưởng đến cơ vòng xung<br /> quanh ổ mắt, gây nhắm mắt không chủ ý, kèm<br /> * Bệnh viện Thống Nhất Tp Hồ Chí Minh<br /> Tác giả liên lạc: BS.CKII. Đặng Trung Hiếu<br /> <br /> 210<br /> <br /> Về lâm sàng, chứng co quắp mí mắt có thể<br /> xuất hiện thành dạng nhắm mắt quá mức, hay<br /> thành dạng nhắm mắt bắt buộc bất chấp hoàn<br /> cảnh. Ở những trường hợp nặng, người bệnh<br /> <br /> ĐT: 0913716203<br /> <br /> Email:<br /> <br /> Chuyên Đề Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất 2011<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011<br /> gần như bị mù chức năng do mí bị co quắp lại.<br /> Do vậy, tình trạng co quắp mí mắt gây rất nhiều<br /> phiền toái cho người bệnh vì ảnh hưởng đến<br /> sinh hoạt, công việc, yếu tố thẩm mỹ, và người<br /> bệnh bị mặc cảm vì người khác nghĩ họ bị tật.<br /> Theo kinh điển co quắp mí mắt vô căn được<br /> điều trị bằng các thuốc kháng cholinergic như<br /> benztropine hoặc trihexiphenidyl gây nhiều tác<br /> dụng phụ làm hạn chế sử dụng thuốc. Các<br /> benzodiazepin gây giảm co thắt cơ, chúng có xu<br /> hướng an thần nên cũng gây hạn chế sử dụng.<br /> Các nghiên cứu ngoài nước cho thấy điều<br /> trị nội khoa thông thường chỉ cải thiện vừa<br /> phải khoảng 30% BN và thường có những tác<br /> dụng phụ nêu trên. Phẫu thuật bao gồm cắt<br /> cơ vòng mí mắt hay cắt chọn lọc một số<br /> nhánh của thần kinh mặt, các điều trị này<br /> cũng thường bị tái phát(5).<br /> Trên thế giới, toxin botulinum type A<br /> (Dysport) đã được các bác sỹ thần kinh và mắt<br /> sử dụng trong nhiều năm nay để điều trị chứng<br /> bệnh này chỉ ra một hướng điều trị mới. Các thử<br /> nghiệm khởi đầu với toxin botulinum type A cải<br /> thiện về chức năng 70% các trường hợp trong<br /> khoảng trung bình 2,5 tháng(11).<br /> Tại Việt nam việc tiêm Dysport bắt đầu được<br /> áp dụng nhưng chưa có công trình nào được<br /> báo cáo, nên tôi tiến hành nghiên cứu sử dụng<br /> Dysport trong điều trị co quắp mí mắt vô căn để<br /> đánh gía hiệu quả của chúng. Qua đó để góp<br /> phần vào công tác chẩn đoán và điều trị chứng<br /> co quắp mí mắt vô căn.<br /> <br /> Mục tiêu nghiên cứu<br /> Đánh giá hiệu quả sử dụng Dysport để điều<br /> trị co quắp mí mắt vô căn. Mục tiêu chuyên biệt:<br /> Mô tả đặc điểm lâm sàng của co quắp mí vô căn,<br /> đánh giá thời gian tác dụng của thuốc, đánh giá<br /> mức độ cải thiện co quắp mí mắt sau tiêm<br /> Dysport, khảo sát các tác dụng phụ của thuốc<br /> trong quá trình điều trị.<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> Đối tượng nghiên cứu<br /> 48 bệnh nhân (BN) bị chứng co quắp mí mắt<br /> vô căn biểu hiện dưới các thể lâm sàng: Co quắp<br /> mí mắt riêng lẻ, hội chứng Meige. Tuổi > 18.<br /> Đồng ý với trị liệu tiêm thuốc Dysport.<br /> <br /> Tiêu chuẩn loại trừ<br /> BN không đồng ý tiêm thuốc, đang mắc các<br /> bệnh nhiểm trùng, nhược cơ hay nghi ngờ<br /> nhược cơ, đã điều trị Dysport trước đó, đang<br /> dùng kháng sinh aminoglycosid hay curarine,<br /> có thai hoặc cho con bú.<br /> <br /> Phương pháp nghiên cứu<br /> Quan sát - Mô tả - Tiền cứu - Cắt dọc.<br /> <br /> Phương tiện nghiên cứu<br /> DYSPORT 500 ĐƠN VỊ SPEYWOOD của<br /> hảng Befour Ipsen, Ống tiêm 1ml, kim số 25, đèn<br /> pin, đèn soi đáy mắt, bảng thị lực Snellen, dung<br /> dịch sodium chloride 0,9%, bàn BN nằm, máy<br /> chụp hình kỹ thuật số, hồ sơ bệnh án BN ngoại<br /> trú, phiếu khám và theo dõi bệnh nhân.<br /> <br /> Các bước thực hiện<br /> Các BN bị co quắp mí mắt vô căn phù hợp<br /> với tiêu chuẩn lựa chọn tiến hành<br /> Khai thác bệnh sử, tiền căn<br /> Khám toàn thân, ghi dấu hiệu sinh tồn<br /> Khám chuyên khoa mắt, xác định các thể<br /> lâm sàng: Co quắp mí mắt riêng lẻ và hội<br /> chứng Meige.<br /> Tiêm thuốc: liều thuốc sử dụng cho co quắp<br /> mí riêng lẻ từ 60-80 đơn vị, liều thuốc sử dụng<br /> cho BN bị H/C Meige từ 80-100 đơn vị (chúng<br /> tôi chọn liều thuốc theo tác giả Pougnvarin).<br /> Theo dõi kết quả điều trị sau tiêm thuốc 1<br /> tuần, 2 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 5 tháng.<br /> Đánh giá kết quả dựa theo cách đánh giá của<br /> 3 tác giả dưới đây:<br /> <br /> Đánh giá theo S. Soulayrol(14)<br /> Bảng 1: Điểm số hiệu quả như sau<br /> Hiệu quả trên co thắt<br /> <br /> Chuyên Đề Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất 2011<br /> <br /> Tốt<br /> <br /> Điểm<br /> 2<br /> <br /> 211<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Thời gian hiệu quả<br /> <br /> Tác dụng phụ<br /> Kết quả<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011<br /> <br /> Trung bình<br /> Không<br /> Ít nhất 3 tháng<br /> Giữa 1 và 3 tháng<br /> Tối đa 1 tháng<br /> Không<br /> Có<br /> Cải thiện<br /> Cải thiện thất thường<br /> Không cải thiện<br /> <br /> 1<br /> 0<br /> 2<br /> 1<br /> 0<br /> 1<br /> 0<br /> 2<br /> 1<br /> 0<br /> <br /> Đánh giá theo J.S. Elston(11,8)<br /> Bảng 2: Điểm số đánh giá mức độ rối loạn thị giác<br /> như sau:<br /> Điểm số<br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> 5<br /> 6<br /> <br /> Chức năng thị giác<br /> Mù<br /> Lệ thuộc khi ra khỏi nhà<br /> Tự quản được nhưng chức năng yếu<br /> Tự quản được nhưng chức năng vừa phải<br /> Tổn thương nhẹ<br /> Bình thường<br /> <br /> Đánh giá theo Poungvarin N(14)<br /> <br /> Co quắp mí mắt riêng lẻ có 38/48 BN<br /> (79,16%), H/C Meige có 10/48 BN (20,84%).<br /> <br /> Các yếu tố thúc đẩy khởi phát cơn co giật<br /> Bảng 3: Phân bố tần số yếu tố thúc đẩy khởi phát cơn<br /> co giật<br /> Yếu tố thúc đẩy<br /> Tập trung làm việc<br /> Ngẫu nhiên<br /> Đọc sách, báo, xem tivi<br /> Khi ra ngoài trời<br /> <br /> Tần số<br /> 5<br /> 5<br /> 14<br /> 24<br /> <br /> Tỉ lệ<br /> 10,41%<br /> 10,41%<br /> 29,18%<br /> 50%<br /> <br /> Điều trị trước đó<br /> Bảng 4: Phân bố tần số điều trị trước tiêm thuốc<br /> Điều trị trước đó<br /> Không điều trị gì trước<br /> Châm cứu<br /> Dùng thuốc không rõ loại<br /> Dùng thuốc kết hợp châm cứu<br /> Tiền căn di truyền<br /> <br /> Tần số<br /> 2<br /> 14<br /> 10<br /> 20<br /> 2<br /> <br /> Tỉ lệ<br /> 4,17%<br /> 29,16%<br /> 20,84%<br /> 41,66%<br /> 4,17%<br /> <br /> Liều thuốc tiêm trung bình của các thể lâm<br /> <br /> Cải thiện tốt: mở mắt tự nhiên, hết co<br /> quắp mí.<br /> <br /> sàng: Co quắp mí riêng lẻ 70 đơn vị, H/C Meige<br /> <br /> Cải thiện khá: mở mắt được nhưng còn cố<br /> gắng, thỉnh thỏang còn co quắp mí, không ảnh<br /> hưởng đến chức năng thị giác.<br /> <br /> những BN bị H/C Meige (88 đơn vị) cao hơn liều<br /> <br /> Cải thiện trung bình: mở mắt còn khó khăn,<br /> còn co quắp mí, có ảnh hưởng ít đến chức năng<br /> thị giác.<br /> <br /> nghĩa thống kê p = 0,005.<br /> <br /> Không cải thiện: Không đáp ứng với thuốc,<br /> tình trạng co quắp mí không giảm.<br /> <br /> KẾT QUẢ<br /> Đặc điểm dịch tễ của mẫu nghiên cứu<br /> Giới<br /> Nam 17 ca (35,42%) ; nữ 31 ca (64,58%).<br /> <br /> Tuổi đời của mẫu nghiên cứu<br /> 60 ± 7 tuổi (nhỏ nhất: 44 tuổi, lớn nhất:<br /> 78 tuổi).<br /> <br /> Tuổi bệnh<br /> 1,8 ± 1,4 năm (thấp nhất 3 tháng, cao<br /> nhất 7 năm).<br /> Các thể lâm sàng<br /> <br /> 212<br /> <br /> 88 đơn vị. Liều thuốc tiêm trung bình cho<br /> thuốc tiêm trung bình cho những BN bị co quắp<br /> mí riêng lẻ (70 đơn vị). Sự khác biệt này có ý<br /> <br /> Điểm số RLTG trước tiêm thuốc (theo tác<br /> giả J.S. Elston).<br /> Bảng 5: Phân bố tần số điều trị trước tiêm thuốc<br /> Điểm số RLTG<br /> 1<br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> <br /> Tần số<br /> 10<br /> 24<br /> 9<br /> 5<br /> <br /> Tỉ lệ%<br /> 20,83%<br /> 50,00%<br /> 18,75%<br /> 10,42%<br /> <br /> Nhận xét: trước tiêm thuốc đa số BN có<br /> tình trạng chức năng thị giác rất thấp, bị mù<br /> chức năng và có tình trạng lệ thuộc khi ra<br /> khỏi nhà (70,83%).<br /> <br /> Một số kết quả điều trị sau tiêm thuốc<br /> Theo tiêu chuẩn đánh giá của tác giả J.S.<br /> Elston<br /> Tiến triển của điểm số rối loạn thị giác<br /> (RLTG) sau tiêm thuốc 1 tuần: không còn BN<br /> <br /> Chuyên Đề Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất 2011<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011<br /> nào bị mù chức năng so với trước tiêm, chỉ có 1<br /> BN bị lệ thuộc khi ra khỏi nhà (2,08%) so với<br /> trước tiêm 24 BN (50%). Tiến triển của điểm số<br /> RLTG sau tiêm thuốc 3 tháng: toàn bộ BN có<br /> tình trạng chức năng thị giác gần như bình<br /> thường với điểm 5 và điểm 6 (100%) so với sau<br /> tiêm thuốc 1 tháng (95,83%). Tiến triển của điểm<br /> số RLTG sau tiêm thuốc 5 tháng: 11 BN tái phát<br /> với điểm số RLTG thấp (22,92%), số BN có tình<br /> trạng chức năng thị giác bình thường giảm còn<br /> 77,08% so với sau tiêm thuốc 3 tháng (95,83%).<br /> <br /> Theo tiêu chuẩn đánh giá của S. Soulayrol<br /> Hiệu quả trên co thắt sau 3 tháng: cải thiện<br /> tốt có 48 BN (100%).<br /> Thời gian hiệu quả: trước 3 tháng không có<br /> BN nào tái phát trở lại, đến tháng thứ 5 có 11 BN<br /> tái phát. Vậy toàn bộ BN có thời gian kéo dài tác<br /> dụng của thuốc trên 3 tháng.<br /> Kết quả sau mũi tiêm: trong mẫu nghiên cứu<br /> có 40 BN cải thiện sau mũi tiêm đầu tiên, có 8<br /> BN sau tiêm 1 tuần điểm số RLTG vẫn như cũ.<br /> Theo tác giả S. Soulayrol những BN này coi như<br /> có kết quả sau tiêm không thay đổi (tác giả cho 1<br /> điểm đối với những BN có kết quả sau tiêm<br /> không thay đổi, cho 2 điểm đối với những BN<br /> có cải thiện sau nhiều mũi tiêm).<br /> Tác dụng phụ: 36 BN có tác dụng phụ, 12<br /> BN không có tác dụng phụ.<br /> <br /> Đánh giá kết quả điều trị<br /> Đánh giá kết quả điều trị theo tác giả S.<br /> Soulayrol<br /> Sau 2 tuần cải thiện được ghi nhận 79,17%<br /> BN, điểm 5-7 (8,33%). Sau 3 tháng cải thiện được<br /> ghi nhận 87,50% điểm 5-7 là 12,5%.<br /> Đánh giá kết quả điều trị theo tác giả J.S.<br /> Elston<br /> Điểm số RLTG trước và sau điều trị của mẫu<br /> nghiên cứu.<br /> Bảng 6: Phân bố tần số của điểm số RLTG trước và<br /> sau điều trị của mẫu nghiên cứu<br /> Điểm<br /> số<br /> 1<br /> <br /> Trước<br /> Sau tiêm<br /> tiêm 1 tuần 2 tuần 1 tháng 3 tháng 5 tháng<br /> 10<br /> 0<br /> 0<br /> 0<br /> 0<br /> 0<br /> <br /> 2<br /> 3<br /> 4<br /> 5<br /> 6<br /> <br /> 24<br /> 9<br /> 5<br /> 0<br /> 0<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> 1<br /> 36<br /> 10<br /> 0<br /> 1<br /> <br /> 0<br /> 0<br /> 24<br /> 20<br /> 4<br /> <br /> 0<br /> 0<br /> 2<br /> 13<br /> 33<br /> <br /> 0<br /> 0<br /> 0<br /> 2<br /> 46<br /> <br /> 7<br /> 4<br /> 0<br /> 0<br /> 37<br /> <br /> Đánh giá kết quả điều trị theo tác giả<br /> Poungvarin<br /> Bảng 7. Phân bố tần số kết quả cải thiện của mẫu<br /> nghiên cứu<br /> Cải<br /> 1 tuần<br /> 2 tuần 1 tháng<br /> thiện TS Tỉ lệ TS Tỉ lệ TS Tỉ lệ<br /> Tốt 1 2,08% 24 50% 46 95,83<br /> %<br /> Khá 10 20,83 24 50% 2 4,17%<br /> %<br /> TB 37 77,09 0 0% 0 0%<br /> %<br /> <br /> 3 tháng 5 tháng<br /> TS Tỉ lệ TS Tỉ lệ<br /> 48 100% 37 77,08<br /> %<br /> 0 0% 0 0%<br /> 0<br /> <br /> 0% 11 22,92<br /> %<br /> <br /> Tác dụng phụ<br /> Trong tuần đầu có 36/48 BN (75%) có tác<br /> dụng phụ; tác dụng phụ chiếm nhiều nhất là hở<br /> mí 33,33%, sụp mí 25%; chảy nước mắt, khô mắt,<br /> song thị chiếm tỉ lệ thấp 4-8%. Tác dụng phụ của<br /> mẫu nghiên cứu sau 1 tháng có 16/48 BN; tác<br /> dụng phụ chiếm nhiều nhất là hở mí 9 ca (25,00<br /> %) và sụp mí 6 ca (16,66%). Tác dụng phụ xuất<br /> hiện sớm sau tiêm 1 tuần có 36/48 BN (75%). Sau<br /> 1 tháng tác dụng phụ biến mất dần chỉ còn 16/36<br /> BN (44,45%). Sau 3 tháng tất cả BN không còn<br /> tác dụng phụ.<br /> <br /> Tái phát sau 5 tháng<br /> 11 BN ( 22,91%), trong đó có 7 BN bị co quắp<br /> mí riêng lẻ, 4 BN bị H/C Meige tái phát.<br /> <br /> BÀN LUẬN<br /> Một số bàn luận về đặc điểm dịch tễ học<br /> Giới<br /> Trong 48 BN của mẫu nghiên cứu: Nữ có 31<br /> BN (64,58%), Nam 17 BN (35,42%). Vậy tỉ lệ mắc<br /> bệnh của nữ cao hơn nam, sự khác biệt có ý<br /> nghĩa thống kê. Tỉ lệ nữ/nam = 1,82:1 phù hợp<br /> với y văn tức giới nữ bị chứng co quắp mí mắt<br /> nhiều hơn nam.<br /> Nghiên cứu của Poungvarin N, Devahastin<br /> V,<br /> Chaisevikul<br /> R,<br /> Prayoonwiwat<br /> N,<br /> <br /> Chuyên Đề Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất 2011<br /> <br /> 213<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011<br /> <br /> Viriyavejakul A: Khoa Y, Trường Đại học<br /> Mahidol, Bangkok, Thái lan(14).<br /> Các tác giả đã nghiên cứu 100 BN gồm thể<br /> lâm sàng co quắp mí mắt và hội chứng Meige<br /> được tiêm botulinum toxin type A từ năm 1989<br /> đến 1996. Kết quả về giới: nữ: 65/100 BN chiếm tỉ<br /> lệ 65%, cao hơn nam 35/100 BN với tỉ lệ 35%. Tỉ<br /> lệ nữ/nam = 1,86:1.<br /> Vậy nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp<br /> với các nghiên cứu của các tác giả ngoài nước: tỉ<br /> lệ nữ mắc bệnh cao hơn nam.<br /> <br /> Tuổi đời<br /> Tuổi đời trung bình của mẫu nghiên cứu là<br /> 60 ± 7,12 tuổi, tuổi đời nhỏ nhất là 44 tuổi và lớn<br /> nhất là 78 tuổi.<br /> Theo Thussa A, Barman nghiên cứu 43 BN bị<br /> chứng co quắp mí mắt vô căn: tuổi trung bình là<br /> 51,06 ± 10,48 tuổi.<br /> Theo Poungvarin N, Devahastin V,<br /> Chaisevikul R, Prayoonwiwat N, Viriyavejakul<br /> A: Khoa Y, Trường Đại học Mahidol, Bangkok,<br /> Thái lan(14).<br /> Các tác giả đã nghiên cứu 100 BN gồm thể<br /> lâm sàng co quắp mí mắt và hội chứng Meige<br /> được tiêm BTX-A từ năm 1989 đến 1996. Kết quả<br /> về tuổi trung bình: 53,3 tuổi.<br /> Vậy tuổi đời trong nghiên cứu của chúng tôi<br /> phù hợp với các nghiên cứu của tác giả ngoài<br /> nước. Tuổi đời của BN bị co quắp mí mắt đa số<br /> từ 50 tuổi trở lên.<br /> <br /> Tuổi bệnh<br /> Tuổi bệnh trung bình của mẫu nghiên cứu là<br /> 1,8 năm, tuổi bệnh thấp nhất là 3 tháng và cao<br /> nhất là 7 năm.<br /> Theo công trình nghiên cứu của các tác giả<br /> Thussu A, Barman CR, Prabhakar S(6) 43 BN bị<br /> co quắp mí mắt được tiêm Dysport có tuổi bệnh<br /> trung bình là 4,67 năm (độ lệch chuẩn là 3,7),<br /> tuổi bệnh nhỏ nhất là 3 tháng, tuổi bệnh lớn<br /> nhất là 17 năm.<br /> Tuổi bệnh trung bình trong mẫu nghiên cứu<br /> của chúng tôi nhỏ hơn tuổi bệnh trung bình<br /> <br /> 214<br /> <br /> trong mẫu nghiên cứu của các tác giả ngoài<br /> nước. Điều này có thể nói người dân chúng ta<br /> quan tâm đến bệnh của mình, tích cực tìm đến<br /> phương pháp điều trị mới để giải quyết tình<br /> trạng co quắp mí mắt có ảnh hưởng đến sinh<br /> hoạt và chức năng thị giác, cũng như để giải<br /> quyết yếu tố thẩm mỹ có ảnh hưởng rất lớn đến<br /> công việc giao tiếp hằng ngày.<br /> <br /> Thể lâm sàng<br /> 48 BN trong mẫu nghiên cứu: gồm 38 BN bị<br /> co quắp mí mắt riêng lẻ (79,16%) chiếm tỉ lệ cao<br /> hơn BN bị H/C Meige 10 BN (20,84%) cũng phù<br /> hợp với nghiên cứu của các tác giả ngoài nước.<br /> <br /> Các yếu tố thuận lợi<br /> Các yếu tố thuận lợi làm BN dễ khởi phát<br /> cơn co quắp hay làm bệnh nặng hơn đó là tập<br /> trung làm việc, nói chuyện, hay bị kích thích bởi<br /> ánh sáng mạnh. Trong nghiên cứu số BN bị kích<br /> thích bởi ánh sáng chiếm đa số (50%), tỉ lệ này<br /> phù hợp với số BN có chức năng thị giác lệ<br /> thuộc khi ra khỏi nhà 24/48 BN (50%) có điểm 2.<br /> Các yếu tố vừa ghi nhận được lên cũng được các<br /> tác giả K.P.Frei và D.D. Trương MD mô tả(12).<br /> <br /> Điều trị trước đó<br /> Đa số BN bị bệnh nhiều lần và đều có điều<br /> trị trước như: dùng thuốc không rõ loại có 10<br /> BN, châm cứu có 14 BN, vừa uống thuốc và<br /> châm cứu là 20 BN, chỉ có 2 BN không điều trị<br /> gì, 2 BN có tiền căn di truyền. Điều này nói lên<br /> chứng co quắp mí xảy ra nhiều đợt, BN tích cực<br /> điều trị và quan tâm đến bệnh của mình, đã có<br /> điều trị trước nhưng bệnh không giảm nên vào<br /> viện để tiêm thuốc.<br /> <br /> Liều thuốc tiêm<br /> Liều thuốc tiêm trung bình của BN bị H/C<br /> Meige là 88 đơn vị cao hơn liều thuốc tiêm trung<br /> bình của BN bị co quắp mí mắt riêng lẻ 70 đơn<br /> vị.<br /> Khảo sát liều thuốc tiêm của 2 nhóm, dùng<br /> phép kiểm chi bình phương cho giá trị p = 0,005<br /> (< 0,05) do đó sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.<br /> BN bị H/C Meige sử dụng lượng thuốc nhiều<br /> hơn.<br /> <br /> Chuyên Đề Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất 2011<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản