Đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản theo phương pháp tán sỏi bằng holmium laser tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang

Chia sẻ: Hạnh Lệ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
4
lượt xem
0
download

Đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản theo phương pháp tán sỏi bằng holmium laser tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản theo phương pháp tán sỏi bằng laser holmium qua nội soi niệu quản tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang. Nghiên cứu tiến hành trên các bệnh án của những bệnh nhân sỏi niệu quản được điều trị theo phương pháp tán sỏi bằng laser holmium qua nội soi niệu quản từ tháng 4 năm 2015 đến tháng 5 năm 2015.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản theo phương pháp tán sỏi bằng holmium laser tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 19 * Số 4 * 2015<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SỎI NIỆU QUẢN THEO PHƯƠNG PHÁP<br /> TÁN SỎI BẰNG HOLMIUM LASER TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA<br /> TỈNH BẮC GIANG<br /> Đoàn Tiến Dương*, Vũ Nguyễn Khải Ca**, Nguyễn Văn Đồng*, Trần Nhật Hùng*, Chu Mạnh Long*,<br /> Lưu Thành Sơn*, Nguyễn Văn Nguyên*, Nguyễn Văn Nam*, Trần Minh Phương*, Kiều Thanh Giang*,<br /> Dương Trung Hiếu*, Nguyễn Văn Hùng*, Đoàn Sơn Tùng*, Nguyễn Văn Hiếu*,<br /> Dương Quang Tiến*, Chu Văn Lâm**, Nguyễn Ngọc Thái***<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản theo phương pháp tán sỏi bằng laser<br /> Holmium qua nội soi niệu quản tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang.<br /> Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu tiền cứu mô tả trên các bệnh án của những bệnh nhân<br /> sỏi niệu quản được điều trị theo phương pháp tán sỏi bằng laser Holmium qua nội soi niệu quản từ tháng 4 năm<br /> 2015 đến tháng 5 năm 2015.<br /> Kết quả nghiên cứu: Tổng số 32 bệnh nhân được tán sỏi bằng laser Holmium trong đó có 12 bệnh nhân<br /> nam (37,5%) và 20 bệnh nhân nữ (462,5%). Sỏi niệu quản có thể ở bên phải, bên trái hoặc cả hai bên với tỉ lệ<br /> tương ứng là 53,1% (17/32), 40,6% (13/32), và 6,25% (2/32). Thời gian nằm viện trung bình là 2,9 ±1,5 ngày,<br /> kết quả tốt đạt 81,3%, trung bình đạt 15,6%. Tỷ lệ sạch sỏi sau 01 tháng đạt 96,9%. Không có biến chứng nặng.<br /> Kết luận: Phương pháp tán sỏi niệu quản bằng laser Holmium qua nội soi niệu quản là phương pháp có hiệu<br /> quả và an toàn. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy đây là phương pháp ít sang chấn và nên được lựa<br /> chọn để điều trị sỏi niệu quản.<br /> Từ khóa: sỏi niệu quản, tán sỏi, nội soi niệu quản<br /> <br /> ABSTRACT<br /> ASSESSMENT RESULTS OF TREATMENT METHOD URETERAL STONE LITHOTRIPSY<br /> BY HOLMIUM LASER IN BAC GIANG PROVINCE HOSPITAL<br /> Doan Tien Duong, Vu Nguyen Khai Ca, Doan Tien Duong, Nguyen Van Dong,Tran Nhat Hung,<br /> Chu Manh Long, Luu Thanh Son, Nguyen Van Nguyen, Nguyen Van Nam, Tran Minh Phuong,<br /> Kieu Thanh Giang, Duong Trung Hieu, Nguyen Van Hung, Doan Son Tung, Nguyen Van Hieu,<br /> Duong Quang Tien, Chu Van Lam, Nguyen Ngoc Thai<br /> * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 19 - No 4 - 2015: 270 - 276<br /> Objectives: To evaluate the outcomes of ureteroscopic Holmium-laser lithotripsy for ureteric calculi in Bac<br /> Giang General Hospital.<br /> Methods: We reviewed the records of patients with radiopaque ureteral calculi treated by ureteroscopic<br /> Holmium-laser lithotripsy from April 2015 to May 2015. The success rates, complications and the length of<br /> hospital stay were evaluated.<br /> Results: A total of 32 patients were treated for ureteral calculi including 12 male patients (37.5%) and 20<br /> female patients (62.5%). The stone sides were the right, left and bilateral side, accounting for 53.1% (17/32),<br /> * Bệnh viện đa khoa Bắc Giang<br /> ** Bệnh viện Việt Đức, Hà Nội<br /> Tác giả liên lạc: PGS.TS. Vũ Nguyễn Khải Ca<br /> ĐT: 0913201845<br /> <br /> 270<br /> <br /> *** Đại Học Y Dược Tp.HCM<br /> Email: cakhanh2006@yahoo.com<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 19 * Số 4 * 2015<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> 40.6% (13/32) and 6.25% (2/32), respectively. The mean of hospital staying period was 2.9 ± 1.5 days. The good<br /> and moderate results were 81.3% and 15.6%, respectively. The stone clearance rate after 1 month is 96,9%.<br /> No critical complications were seen in our study.<br /> Conclusions: Ureteroscopic Holmium-laser lithotripsy is safe and effective and associated with low<br /> complications. The results of our study showed that this is an invasive and reasonable treatment option for<br /> ureteral calculi.<br /> Key words: ureteric calculi, lithotripsy, ureteroscopic<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> <br /> - Không có nhiễm khuẩn tiết niệu.<br /> <br /> Điều trị sỏi niệu quản bằng các phương pháp<br /> ít sang chấn đã được sử dụng trên thế giới cũng<br /> như ở Việt Nam. Đó là tán sỏi ngoài cơ thể, tán<br /> sỏi nội soi ngược dòng bằng xung hơi, thủy điện<br /> lực, siêu âm, laser, mổ nội soi sau phúc mạc lấy<br /> sỏi… Trong các loại tán sỏi nội soi ngược dòng<br /> thì tán sỏi nội soi ngược dòng bằng năng lượng<br /> laser đang ngày càng chiếm ưu thế và phổ biến<br /> tới các bệnh viện tỉnh. Bệnh viện đa khoa tỉnh<br /> Bắc Giang đã tán sỏi nội soi ngược dòng bằng<br /> laser từ năm 2013 nhưng đến nay chưa có đề tài<br /> nào tổng kết, đánh giá tính hiệu quả, an toàn của<br /> phương pháp điều trị này.<br /> <br /> - Không có dị dạng đường tiết niệu và hẹp<br /> niệu đạo.<br /> <br /> Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài<br /> Đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản theo phương<br /> pháp tán sỏi bằng Holmium Laser tại bệnh viện đa<br /> khoa tỉnh Bắc Giang” nhằm mục tiêu sau:<br /> <br /> - Tiến hành tán sỏi như những trường hợp<br /> tán sỏi thông thường.<br /> <br /> Xác định hiệu quả và tính an toàn của<br /> phương pháp tán sỏi bằng laser Holmium trong<br /> điều trị sỏi niệu quản.<br /> <br /> TƯLIỆU -PHƯƠNGPHÁP NGHIÊNCỨU<br /> Tư liệu<br /> 32 bệnh nhân chẩn đoán sỏi niệu quản được<br /> điều trị bằng phương pháp tán sỏi Hand made<br /> (Mỹ-Trung) hợp tác tại khoa Ngoại tổng hợp- BV<br /> Đa khoa tỉnh Bắc Giang từ tháng 4/2015 đến<br /> tháng 5/2015.<br /> <br /> Phương pháp nghiên cứu<br /> Tiến cứu mô tả.<br /> <br /> Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân<br /> - Bệnh nhân có sỏi niệu quản đoạn 1/3 dưới<br /> và 1/3 giữa.<br /> - Kích thước sỏi 5mm – 15mm.<br /> <br /> Phương tiện<br /> - Hệ thống hình ảnh: nguồn sáng, camera<br /> của hãng Karl_Stozt.<br /> - Ống nội soi niệu quản bán cứng, có 2 kênh<br /> cỡ 9,5 Fr.<br /> - Hệ thống tưới rửa: guide các loại, pince lấy<br /> sỏi, rọ Dormia.<br /> <br /> Phương pháp tán sỏi<br /> - Bệnh nhân được gây tê tủy sống<br /> - Bệnh nhân nằm tư thế sản khoa.<br /> <br /> Đánh giá kết quả<br /> - Chúng tôi chia ra 3 loại:<br /> + Tốt: tán hết sỏi, không có tai biến và biến<br /> chứng.<br /> + Trung bình: Tán vụn viên sỏi nhưng chưa<br /> lấy hết sỏi kèm theo thương tổn nhẹ niêm mạc<br /> niệu quản, chảy máu ít.<br /> + Xấu: sỏi chạy lên thận, có tai biến và biến<br /> chứng như chảy máu nhiều, thủng niệu quản.<br /> - Ngoài ra: tính thời gian tán sỏi, thời gian<br /> nằm viện,các biến chứng và tai biến sau tán sỏi.<br /> <br /> KẾT QUẢ<br /> Tuổi- Giới<br /> - Giới: 32 bệnh nhân: Nam 12 bệnh nhân<br /> (37,5%).<br /> Nữ: 20 bệnh nhân (62,5%).<br /> -Tuổi bệnh nhân: Cao nhất: 73 tuổi.<br /> <br /> 271<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 19 * Số 4 * 2015<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Hình thái niệu quản<br /> Viêm, phù nề<br /> Có polyp<br /> Ngoằn ngèo<br /> <br /> Nhỏ nhất: 23 tuổi.<br /> Tuổi trung bình: 46,35 ± 13,25.<br /> <br /> Chẩn đoán<br /> - Vị trí sỏi: Niệu quản P: 17 bệnh nhân<br /> (53,1%).<br /> Niệu quản T: 13 bệnh nhân (40,6%).<br /> Niệu quản 2 bên: 02 bệnh nhân (6,3%).<br /> Bảng 1: Vị trí sỏi niệu quản:<br /> Vị trí<br /> NQ P<br /> NQ T<br /> NQ 2 bên<br /> <br /> P<br /> T<br /> <br /> Đoạn chậu<br /> 16<br /> 13<br /> 1<br /> 0<br /> <br /> Tỷ lệ %<br /> 25<br /> 25<br /> 9,4<br /> <br /> Bảng 6: Hình dạng sỏi<br /> Hình dạng sỏi<br /> Xù xì, di động<br /> Xù xì và găm chặt vào NQ<br /> Nhẵn tròn di động<br /> <br /> BN<br /> 15<br /> 13<br /> 4<br /> <br /> Tỷ lệ %<br /> 46,9<br /> 40,6<br /> 12,5<br /> <br /> Kết quả tán sỏi<br /> Đoạn thắt lưng<br /> 1<br /> 0<br /> 0<br /> 1<br /> <br /> Trong 32 bệnh nhân chỉ có 2 bệnh nhân là sỏi<br /> đoạn thắt lưng.<br /> <br /> Tiền sử bệnh tật<br /> Trong 32 bệnh nhân:<br /> <br /> Bảng 7: vị trí sỏi<br /> Vị trí<br /> Niệu quản P<br /> Niệu quản T<br /> Niệu quản hai bên<br /> <br /> Tốt<br /> 14<br /> 10<br /> 2<br /> <br /> Trung bình<br /> 2<br /> 3<br /> 0<br /> <br /> Xấu<br /> 1<br /> 0<br /> 0<br /> <br /> Bảng 8: Đặt ống thông niệu quản<br /> Loại đặt<br /> Đặt thông JJ<br /> Đặt ống thông nhựa<br /> <br /> Số bệnh nhân<br /> 6<br /> 26<br /> <br /> Tỷ lệ %<br /> 22,9<br /> 78,1<br /> <br /> - 5 bệnh nhân đã mổ sỏi thận cùng bên.<br /> <br /> Thời gian tán sỏi<br /> <br /> - 10 bệnh nhân đã tán sỏi NCT.<br /> <br /> Thời gian tán sỏi được tính từ khi đặt máy<br /> soi niệu quản đến khi rút máy soi niệu quản<br /> kết thúc việc tán sỏi.<br /> <br /> - 25 bệnh nhân có tiền sử điều trị lá nam.<br /> <br /> Chẩn đoán hình ảnh<br /> <br /> Bảng 9: Thời gian tán sỏi<br /> <br /> Việc đánh giá nhận định được ghi nhận lại<br /> trong quá trình soi niệu quản khi tiếp cận sỏi.<br /> Bảng 2: Mức độ ứ nước thận qua siêu âm.<br /> Mức độ<br /> Không ứ nước<br /> Ứ nước độ I<br /> Ứ nước độ II<br /> Ứ nước độ III<br /> <br /> Số bệnh nhân<br /> 04<br /> 05<br /> 15<br /> 8<br /> <br /> Tỷ lệ %<br /> 12,5<br /> 15,6<br /> 46,9<br /> 25<br /> <br /> Bảng 3: Chức năng thận trên niệu đồ tĩnh mạch.<br /> Thận bài tiết<br /> Tốt (15-30 phút)<br /> Trung bình (sau 30 -60 phút)<br /> Kém (>60 phút)<br /> <br /> Số bệnh nhân Tỷ lệ %<br /> 23<br /> 71,9<br /> 8<br /> 25<br /> 1<br /> 3,1<br /> <br /> Bảng 4: Kích thước, số lượng viên sỏi dựa trên phim<br /> X-quang.<br /> Kích thước < 5 mm 5 – 10 mm 10 – 15 mm<br /> Số lượng<br /> 1 viên<br /> 3<br /> 15<br /> 8<br /> > 2 viên<br /> 4<br /> 2<br /> <br /> Bảng 5: Hình thái niệu quản<br /> Hình thái niệu quản<br /> Bình thường<br /> <br /> 272<br /> <br /> Số bệnh nhân<br /> 8<br /> 8<br /> 3<br /> <br /> Số bệnh nhân<br /> 13<br /> <br /> Tỷ lệ %<br /> 40,6<br /> <br /> Thời gian<br /> < 20 phút<br /> 20 – 30 phút<br /> 30 phút<br /> <br /> Bệnh nhân<br /> 16<br /> 13<br /> 3<br /> <br /> Tỷ lệ %<br /> 50<br /> 40,6<br /> 9,4<br /> <br /> Bảng 10: Tai biến và biến chứng<br /> Loại<br /> Sỏi chạy lên thận<br /> Thủng niệu quản<br /> Chảy máu<br /> Sốt cao sau tán<br /> <br /> Bệnh nhân<br /> 1<br /> 0<br /> 0<br /> 5<br /> <br /> Tỷ lệ %<br /> 3,1<br /> 0<br /> 0<br /> 15,6<br /> <br /> Thời gian nằm viện trung bình là 2,9 ±1,5<br /> ngày, dài nhất 5 ngày, ngắn nhất 2 ngày.<br /> Khám lại sau 01 tháng có 31 bệnh nhân sạch<br /> sỏi (96,9%) 1 bệnh nhân có mảnh sỏi nhỏ chạy<br /> lên thận được chỉ định tán sỏi ngoài cơ thể thành<br /> công.<br /> <br /> BÀN LUẬN<br /> Đặc điểm bệnh nhân<br /> - 32 bệnh nhân được tán sỏi có độ tuổi trung<br /> bình 46,35 ±13,25. Người cao tuổi nhất là 73 tuổi,<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 19 * Số 4 * 2015<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> ít nhất là 23 tuổi cho thấy độ tuổi này nằm trong<br /> độ tuổi còn đang lao động, điều kiện để sỏi thận<br /> di chuyển xuống niệu quản. Vì việc phát hiện sỏi<br /> niệu quản thường sau một cơn đau quặn thận,<br /> bệnh nhân đến viện được phát hiện có sỏi niệu<br /> quản. Nhận định này cũng giống như các tác giả<br /> như: Nguyễn Minh Quang (2003), Dương Văn<br /> Trung (2000)(3,9).<br /> <br /> - Ngay cả những trường hợp chức năng<br /> thận bình thường nhưng trên chẩn đoán hình<br /> ảnh nhiều khi không quan sát và phát hiện<br /> được do sỏi nhỏ, sỏi nằm sát cột sống, ở khung<br /> chậu và sỏi không cản quang thì chỉ định chụp<br /> CT là cần thiết.<br /> <br /> - Trong nghiên cứu có 5 bệnh nhân có tiền sử<br /> mổ sỏi thận trước đó, 10 bệnh nhân đã có tán sỏi<br /> ngoài cơ thể. Do vậy tán sỏi niệu quản có thể là<br /> nguyên nhân thứ phát sau các lần can thiệp này<br /> (Nguyễn Kỳ - 1994)(8). Sỏi niệu quản gặp ở những<br /> bệnh nhân được tán sỏi ngoài cơ thể là những sỏi<br /> nhỏ có thể đức khuôn ở một đoạn niệu quản, có<br /> thể nằm rải rác nếu lòng niệu quản hẹp, phù nề<br /> sẽ là khó khăn khi tiếp cận sỏi và tán sỏi khi<br /> dùng máy tán sỏi bằng xung hơi (Nguyễn Minh<br /> Quang – 2003)(7). Tuy nhiên lại thuận lợi nếu<br /> dùng tán sỏi laser.<br /> <br /> tốt.<br /> <br /> - Ghi nhận trong nghiên cứu có 25 bệnh<br /> nhân đã điều trị lá nam nhưng không kết quả<br /> được điều trị tán sỏi laser có thể việc sỏi niệu<br /> quản kết hợp với polyp niệu quản hoặc niệu<br /> quản viêm dày phù nề đã làm giảm hiệu quả của<br /> điều trị nội khoa bằng lá nam.<br /> <br /> Đặc điểm cận lâm sàng<br /> - Chẩn đoán sỏi niệu quản chủ yếu dựa vào<br /> chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, X-quang, UIV<br /> (Bùi Văn Lệnh-2004), Trần Quán Anh (2007)(2,11)<br /> được đặt ra trước bệnh tình bệnh nhân có cơn<br /> đau quặn thận, đái máu, đái buốt và những bệnh<br /> nhân đã có tiền sử điều trị sỏi thận, sỏi niệu<br /> quản. Tuy nhiên, sỏi niệu quản gặp ở những phụ<br /> nữ có thai việc chẩn đoán lại chủ yếu dựa vào<br /> siêu âm(3).<br /> - Đối với bệnh nhân đến với bệnh cảnh suy<br /> thận, ure máu cao, vô niệu, ngoài việc chụp hệ<br /> tiết niệu không chuẩn bị, siêu âm có thể định<br /> hướng cho chụp cắt lớp có dựng hình không<br /> bơm thuốc cản quang cho thấy về hình ảnh sỏi<br /> niệu quản, vị trí, kích thước và mức độ ảnh<br /> hưởng của nó lên thận.<br /> <br /> - Ghi nhận trong nghiên cứu (32 bệnh nhân).<br /> + Có 23 bệnh nhân (71,9%) chức năng thận<br /> + 8 bệnh nhân (25%) thận bài tiết chậm.<br /> + 1 bệnh nhân (3,1%) thận bài tiết kém.<br /> - Trên kết quả siêu âm đánh giá mức độ ứ<br /> nước của thận: có 15 bệnh nhân (46,9%) thận ứ<br /> nước độ 2, và 25 bệnh nhân (78,1 %) thận ứ nước<br /> độ 3.<br /> - Đại đa số bệnh nhân đến trong giai đoạn<br /> thận ứ nước độ 3. Điều này chứng tỏ việc tiếp<br /> cận điều trị sớm sỏi niệu quản còn chưa tốt phù<br /> hợp với tỷ lệ đã điều trị nội khoa bằng lá nam<br /> không kết quả lên tới 75%.<br /> - Đối với những bệnh nhân đã có tiền sử<br /> điều trị sỏi thận niệu quản trước đó, việc quyết<br /> định tán sỏi niệu quản ngược dòng là ưu tiên số<br /> 1 nhằm hy vọng cứu vãn, phục hồi chức năng<br /> thận, khi mà đã giải quyết được sự lưu thông và<br /> nhiễm trùng tiềm tàng(7). Trong nghiên cứu có 17<br /> BN có sỏi niệu quản P (53,1%) có 13 BN có sỏi<br /> niệu quản T (40,6%) có 2 BN (6,25%) có sỏi niệu<br /> quản 2 bên. Việc tính kích thước của sỏi cũng<br /> giống các tác giả khác như Nguyễn Minh Quang<br /> (2003), Trần Lê Linh Phương (2008)(9) là dựa vào<br /> việc đo chiều dài lớn nhất của viên sỏi. Ghi nhận<br /> có 7 BN só sỏi < 5mm, 17 BN có sỏi từ 5-10mm,<br /> và 8 BN có sỏi > 10-15mm. Việc triển khai mới kỹ<br /> thuật này do vậy trong nghiên cứu không tiến<br /> hành ở những sỏi lớn > 15mm.Viên sỏi kích<br /> thước lớn đòi hỏi kéo dài thời gian tán do đó mà<br /> khả năng tai biến sẽ nhiều hơn và tỷ lệ thất bại<br /> có thể sẽ cao hơn.<br /> <br /> Những nhận xét về quá trình tán sỏi<br /> Hình thái của niệu quản có sỏi<br /> Ghi nhận thấy có 13 BN (40,6%) niêm mạc<br /> <br /> 273<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> niệu quản bình thường. Trường hợp gặp ở<br /> những BN đến sớm, trẻ và có cơn đau quặn thận<br /> điển hình được chẩn đoán sớm, sỏi thường nhỏ<br /> theo hướng điều trị trước đây là có thể điều trị<br /> nội khoa. Có 3 BN trong quá trình nội soi thấy<br /> niệu quản dài gấp khúc sẽ là khó khăn khi soi<br /> niệu quản mà không có dây dẫn đi trước và đặt<br /> ống soi quá thô bạo dễ gây lạc đường và thủng<br /> niệu quản. Cũng như khi tiếp cận được sỏi mà<br /> không để lại dây dẫn, việc rút máy ra sẽ là rất<br /> khó khăn mới tìm được sỏi nhất là dùng máy tán<br /> sỏi bằng xung hơi. Việc dùng máy tán sỏi bằng<br /> laser thì không cần rút máy hoặc rút dây dẫn vì<br /> với máy nội soi 2 kênh thì ngoài dây dẫn có thể<br /> luồn kênh bên dây laser để tán sỏi quá đó có thể<br /> luồn dây dẫn và thông Dormia lên trên sỏi để<br /> giữ sỏi và làm đường chỉ dẫn khi phải đặt lại<br /> máy soi(7,10).<br /> Có 8 BN sỏi niệu quản kết hợp với hiện<br /> tượng viêm phù nề niệu quản nơi viên sỏi<br /> nằm biểu hiện niệu quản viêm nề, phù ở lỗ<br /> niệu quản và thành bàng quang hay gặp ở sỏi<br /> niệu quản đoạn thành bàng quang và sát lỗ<br /> niệu quản. Việc tìm lỗ niệu quản và đặt dây<br /> dẫn nếu là phẫu thuật viên mới làm là khó<br /> khăn. Khi tìm và nong lỗ niệu quản có hai<br /> hình thái viêm phù nề trong lòng niệu quản<br /> đoạn sỏi nằm. Đó là niệu quản có sỏi tạo thành<br /> các polype hình cầu, đôi khi có những polype<br /> rủ xuống như xúc tu che khuất 1 phần sỏi hoặc<br /> toàn bộ sỏi. Mặt khác có trường hợp dạng<br /> polype ở đoạn thành niệu quản ôm bao bọc<br /> lấy sỏi và dính vào niệu quản. Trường hợp<br /> polype dạng xúc tu hình cầu là thuận lợi ngay<br /> cho cả trong trường hợp tán sỏi bằng máy<br /> xung hơi, nhưng sẽ là thuận lợi cho việc tán<br /> sỏi bằng laser do năng lượng laser có khả<br /> năng cắt 1 cách nhanh chóng các polype này<br /> để hiện rõ hòn sỏi niệu quản giúp việc tán sỏi<br /> dễ dàng(3,7,10).<br /> Trường hợp sỏi niệu quản được bao bọc bởi<br /> niêm mạc niệu quản thì việc tán sỏi bằng xung<br /> hơi rất khó khăn, tán lâu dễ chảy máu, dễ lạc<br /> đường, thủng niệu quản, sỏi chạy lên thận,<br /> <br /> 274<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 19 * Số 4 * 2015<br /> ngược lại tán sỏi bằng laser thuận lợi hơn nhiều<br /> do năng lượng mạnh, chính xác và không gây<br /> chảy máu(7).<br /> <br /> Hình thái của sỏi niệu quản<br /> Có 15 BN (46,9%) sỏi niệu quản xù xì và di<br /> động đây là loại sỏi mà các phẫu thuật viên thấy<br /> dễ chịu khi tán sỏi gắp sỏi bằng pince hay bằng<br /> rọ Dormia.<br /> Có 8 BN (25%) có sỏi niệu quản xù xì và có<br /> polype kèm theo. Đây là những trường hợp<br /> bệnh nhân đến muộn, kèm có nhiễm trùng<br /> đường tiết niệu nhiễm trùng.<br /> Có 8 BN sỏi niệu quản nhẵn tròn, di động<br /> việc tiếp cận với sỏi dễ nhưng do tính dễ di<br /> động nên trong quá trình bơm nước và di<br /> chuyển máy soi niệu quản và đầu tán có thể<br /> vô tình làm sỏi chạy lên thận. Với việc dùng<br /> dây dẫn được đưa lên phía trên sỏi hoặc dùng<br /> rọ Dormia giữ sỏi ở phía trên hoặc dùng pince<br /> gắp sỏi xuống cố định vào thành niệu quản là<br /> các phương pháp hạn chế sự di chuyển của sỏi<br /> và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tán sỏi<br /> niệu quản(4).<br /> Tán sỏi tròn hoặc nhẵn là sự đánh giá tính<br /> thành thạo và chuyên nghiệp gia của các phẫu<br /> thuật viên vì sỏi tròn nhẵn dễ di dộng lại cứng<br /> nên nếu tán sỏi bằng xung hơi sẽ rất khó nếu<br /> viên sỏi không được gìm lại trong thành niệu<br /> quản hay trong rọ Dormia. Ngược lại việc tán<br /> sỏi bằng laser do sự hấp thụ năng lượng của<br /> sóng laser làm sỏi vỡ ra một cách nhanh<br /> chóng, sỏi vỡ vụn nhỏ, ít tạo các mảnh sỏi lớn<br /> như tán sỏi bằng xung hơi. Tán sỏi bằng laser<br /> thì sỏi nào cũng vỡ do mức năng lượng lớn tạo<br /> ra trên bề mặt viên sỏi và khả năng đâm<br /> xuyên của sóng laser(5,12).<br /> Trong nghiên cứu có 26 BN có 1 viên sỏi, chỉ<br /> có 6 BN có sỏi niệu quản từ 2 viên trở lên. Kích<br /> thước của sỏi cũng là yếu tố liên quan đến kết<br /> quả tán sỏi. Nghiên cứu có 17 BN có sỏi niệu<br /> quản kích thước từ 5 – 10mm rất thuận lợi cho<br /> tán sỏi laser. Có 8 BN có sỏi 10-15mm đặt ra việc<br /> tán sỏi phải lâu hơn, kỹ hơn, việc tán cũng cần<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản