Đánh giá khả năng chuyển đổi huyết thanh HBeAg của chế phẩm Diệp hạ châu (Diệp hạ châu ‐ Xuyên tâm liên ‐ Cỏ mực ‐ Bồ công anh) kết hợp Tenofovir trên bệnh nhân viêm gan B mạn đã điều trị có HBV ‐ DNA âm tính, HBeAg còn dương tính

Chia sẻ: Ro Ong Kloi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
26
lượt xem
5
download

Đánh giá khả năng chuyển đổi huyết thanh HBeAg của chế phẩm Diệp hạ châu (Diệp hạ châu ‐ Xuyên tâm liên ‐ Cỏ mực ‐ Bồ công anh) kết hợp Tenofovir trên bệnh nhân viêm gan B mạn đã điều trị có HBV ‐ DNA âm tính, HBeAg còn dương tính

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung của bài viết trình bày về hiệu quả của Diệp hạ châu trong điều trị viêm gan siêu vi B mạn, hiệu chuyển đổi huyết thanh HBeAg của chế phẩm Diệp hạ châu kết hợp với Tenofovir. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc kết hợp chế phẩm Diệp hạ châu và Tenofovir sau 6 tháng nghiên cứu bước đầu ghi nhận có hiệu quả tốt hơn dùng Tenofovir đơn thuần trong điều trị viêm gan siêu vi B mạn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đánh giá khả năng chuyển đổi huyết thanh HBeAg của chế phẩm Diệp hạ châu (Diệp hạ châu ‐ Xuyên tâm liên ‐ Cỏ mực ‐ Bồ công anh) kết hợp Tenofovir trên bệnh nhân viêm gan B mạn đã điều trị có HBV ‐ DNA âm tính, HBeAg còn dương tính

Nghiên cứu Y học <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014<br /> <br /> ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHUYỂN ĐỔI HUYẾT THANH HbeAg  <br /> CỦA CHẾ PHẨM DIỆP HẠ CHÂU (DIỆP HẠ CHÂU‐ XUYÊN TÂM LIÊN‐ <br /> CỎ MỰC‐ BỒ CÔNG ANH) KẾT HỢP TENOFOVIR TRÊN BỆNH NHÂN <br /> VIÊM GAN B MẠN ĐàĐIỀU TRỊ CÓ HBV‐DNA ÂM TÍNH,  <br /> HBeAg CÒN DƯƠNG TÍNH <br /> Lý Chung Huy*, Lê Trung Nam*, Cao Ngọc Nga**, Cao Thị Phi Oanh*** <br /> <br /> TÓM TẮT  <br /> Đặt  vấn  đề: Diệp hạ châu được nghiên cứu cho thấy có hiệu quả trong điều trị viêm gan siêu vi B mạn. <br /> Trong nghiên cứu này, chúng tôi muốn thấy hiệu quả của chế phẩm Diệp hạ châu (Diệp hạ châu‐ Xuyên tâm <br /> liên‐ Cỏ mực‐ Bồ công anh) kết hợp với Tenofovir trên bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn đã điều trị Tenofovir <br /> 12 tháng có HBV DND âm tính, HBeAg còn dương tính. <br /> Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu chuyển đổi huyết thanh HBeAg của chế phẩm Diệp hạ châu kết <br /> hợp với Tenofovir. <br /> Phương pháp: Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1, ngẫu nhiên, có đối chứng, 63 bệnh nhân viêm gan siêu vi <br /> B  mạn  được  chia  thành  2  nhóm:  Nhóm  1  dùng  chế  phẩm  Diệp  hạ  châu  kết  hợp  Tenofovir,  nhóm  2  dùng <br /> Tenofovir đơn thuần, dùng trong 6 tháng, đánh giá sự chuyển đổi huyết thanh HBeAg sau 3 tháng, sau 6 tháng <br /> nghiên. <br /> Kết quả: Nhóm dùng chế phẩm Diệp hạ châu kết hợp Tenofovir có tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh HBeAg sau <br /> 6 tháng cao hơn so với dùng Tenofovir đơn thuần. <br /> Kết luận: Việc kết hợp chế phẩm Diệp hạ châu và Tenofovir sau 6 tháng nghiên cứu bước đầu ghi nhận có <br /> hiệu quả tốt hơn dùng Tenofovir đơn thuần trong điều trị viêm gan siêu vi B mạn. <br /> Từ khóa: Viêm gan siêu vi B, Diệp hạ châu, Tenofovir, HBeAg. <br /> <br /> ABSTRACT <br /> ASSESSMENT OF HBEAG SEROCONVERSION EFFECT OF PRODUCT PHYLLANTHUS URINARIA  <br /> (PHYLLANTHUS URINARIA – ANDROGRAPHIS PANICUTATA – ECLIPTAE PROSTRATA – <br /> LACTUCAE INDICA) AND TENOFOVIR ON THE TREATED CHRONIC HEPATITIS B PATIENTS  <br /> WITH HBV DNA – NEGATIVE, HBEAG – POSITIVE. <br /> Ly Chung Huy, Le Trung Nam, Cao Ngoc Nga, Cao Thi Phi Oanh  <br />  * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 366 ‐ 371 <br /> Background/aim: Phyllanthus urinaria has been reported to effect in therapy the chronic hepatitis B. In this <br /> study, we want to show the effect of product Phyllanthus urinaria and Tenofovir on the treated chronic hepatitis <br /> B patients with HBV DNA‐ negative, HBeAg‐ positive. <br /> Objectives: To evaluate HBeAg seroconversion effect of product Phyllanthus urinaria and Tenofovir. <br /> Methods: The first period, accidental and controlled clinical trial, 63 chronic hepatitis B patients who were <br /> treated by Tenofovir in 12 months, HBV DNA – negative, HBeAg – positive. They were assigned into 2 groups: <br /> <br /> * Khoa Y học cổ truyền, Đại học Y Dược TP. HCM <br /> ** Bộ môn Nhiễm, Khoa Y, Đại học Y Dược TP.HCM <br /> *** Bệnh viện đa khoa Quận 2 <br /> Tác giả liên lạc: ThS. Lý Chung Huy  <br /> ĐT: 0989974868 <br /> Email: chunghuy83@gmail.com <br /> <br /> 366<br /> <br /> Chuyên Đề Nội Khoa <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014 <br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Group 1 was used product Phyllanthus urinaria and Tenofovir, group 2 was used pure Tenofovir for 6 months. <br /> To evaluate HBeAg seroconversion three months later and six months later. <br /> Result: HBeAg seroconversion patients 6 months later in group 1 were higher than group 2. <br /> Conclusion:  After  researching  in  6  months,  we  find  that  the  combination  of  the  product  Phyllanthus <br /> urinaria and Tenofovir exerts a better effect in treating chronic hepatitis B patients in comparison to using pure <br /> Tenofovir regading HBeAg seroconversion effect. <br /> Keywords: Chronic hepatitis B, Phyllanthus urinaria, Tenofovir, HBeAg <br /> chuyển  đổi  huyết  thanh  HBeAg  sau  6  tháng <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ <br /> điều  trị  bệnh  nhân  viêm  gan  B  mạn  chiếm <br /> Từ nhiều năm trước, các nhà khoa học thuộc <br /> 19%(3).Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào về việc <br /> lĩnh vực Y học cổ truyền đã sử dụng nhiều dược <br /> kết hợp thuốc YHCT với Tenofovir nên dựa vào <br /> thảo  trong  điều  trị  viêm  gan  siêu  vi  B  và  cũng <br /> kết  quả  nghiên  cứu  trên,  chúng  tôi  muốn  thực <br /> nhận xét có kết quả. Diệp hạ châu là một trong <br /> hiện  đề  tài  kết  hợp  chế  phẩm  Diệp  hạ  châu  và <br /> các dược thảo được sử dụng rộng rãi trong điều <br /> Tenofovir với mục đích xem xét vai trò của chế <br /> trị viêm gan siêu vi B mạn trong lĩnh vực Y học <br /> phẩm Diệp hạ châu (Diệp hạ châu ‐ Xuyên tâm <br /> cổ  truyền  hiện  nay,  với  tác  dụng  kháng  HBV, <br /> liên  ‐  Cỏ  mực  ‐  Bồ  công  anh)  kết  hợp  với <br /> điều hòa miễn dịch, hạ men gan và bảo vệ tế bào <br /> Tenofovir  trong  khả  năng  chuyển  đổi  huyết <br /> gan. Đây là dược phẩm đầu tiên trong hệ thống <br /> thanh HBeAg như thế nào đối với những bệnh <br /> của  Ấn  Độ  đã  được  cấp  bằng  chuẩn  hóa(1). <br /> nhân  viêm  gan  B  mạn  đã  điều  trị  Tenofovir  có <br /> Tenoforvir  là  thuốc  được  FDA  cho  phép  sử <br /> HBV  DNA  đã  âm  tính,  nhưng  HBeAg  vẫn  còn <br /> dụng trong điều trị viêm gan siêu vi B từ 8/2008 <br /> dương tính. <br /> và qua nhiều nghiên cứu cho thấy Tenofovir có <br /> Mục tiêu nghiên cứu <br /> hiệu  qủa  cải  thiện  mô  học,  ngay  cả  đột  biến <br /> kháng Lamivudine và Adeforvir, có thể làm mất <br /> Mục tiêu tổng quát <br /> HBsAg  và  chuyển  đổi  huyết  thanh  HBeAg.Và <br /> Xác  định  tỷ  lệ  chuyển  đổi  huyết  thanh <br /> trong  điều  trị  viêm  gan  B  mạn  thì  việc  mong <br /> HBeAg  của  chế  phẩm  Diệp  hạ  châu  (Diệp  hạ <br /> muốn  trong  điều  trị  tốt  nhất  là  mất  HBsAg <br /> châu ‐ Xuyên tâm liên ‐ Cỏ mực ‐ Bồ công anh) <br /> nhưng hiếm khi có được. Vì vậy đối với điều trị <br /> kết hợp với Tenofovir trên bệnh nhân viêm gan <br /> viêm  gan  siêu  vi  B  mạn  tính  có  HBeAg  dương <br /> siêu vi B mạn. <br /> tính thì mong mất HBeAg hoặc có sự chuyển đổi <br /> Mục tiêu cụ thể <br /> huyết  thanh  HBeAg,  xuất  hiện  AntiHBe  nhằm <br /> Xác  định  tỷ  lệ  chuyển  đổi  huyết  thanh <br /> làm  rút  ngắn  thời  gian  điều  trị  đặc  hiệu  cho <br /> HBeAg  sau  3  tháng,  6  tháng  điều  trị  bằng  chế <br /> bệnh nhân. Tuy nhiên trên bệnh nhân Việt Nam <br /> phẩm Diệp hạ châu kết hợp Tenofovir. <br /> thì tỷ lệ đáp ứng của Tenofovir theo nghiên cứu <br /> của Lê  Thanh  Phuông,  sau  12  tháng  điều  trị  có <br /> 64,4%  bệnh  nhân  đạt  HBV  DNA  dưới  400 <br /> copies/ml, nhưng tỷ lệ mất HBeAg chỉ chiếm có <br /> 4%.  <br /> Đã  có  nhiều  nghiên  cứu  kết  hợp  thuốc <br /> YHCT và Lamivudine trong điều trị viêm gan B <br /> mạn  và  chứng  minh  có  hiệu  quả  hơn  so  dùng <br /> Lamivudine  đơn  thuần.  Nghiên  cứu  của  Lý <br /> Chung  Huy  và  cộng  sự  khi  kết  hợp  chế  phẩm <br /> Diệp  hạ  châu  và  Lamivudine  thì  hiệu  quả <br /> <br /> Nhiễm<br /> <br /> Khảo  sát  các  tác  dụng  phụ  của  chế  phẩm <br /> Diệp  hạ  châu  kết  hợp  với  Tenofovir  sau  mỗi  3 <br /> tháng điều trị. <br /> <br /> ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU <br /> Thiết kế nghiên cứu <br /> Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng giai đoạn <br /> 1, mở có đối chứng sắp xếp ngẫu nhiên. Gồm 2 <br /> nhóm: nhóm 1 dùng chế phẩm Diệp hạ châu kết <br /> hợp  Tenofovir  và  nhóm  2  dùng  Tenofovir  đơn <br /> <br /> 367<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014<br /> <br /> Nghiên cứu Y học <br /> <br /> thuần. Được thực hiện tại bệnh viện Quận 2 và <br /> bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới. <br /> <br /> Dân số mẫu <br /> 60 bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn ở cả 2 <br /> phái  nam  và  nữ,  đã  điều  trị  Tenofovir  có  HBV <br /> DNA  âm  tính,  HBeAg  còn  dương  tính.  Chia <br /> thành 2 nhóm, mỗi nhóm 30 bệnh nhân. <br /> <br /> Phương tiện nghiên cứu  <br /> <br /> uống  rượu.  Các  bệnh  lý  nội  khoa  cấp  tính  và <br /> mãn tính khác như suy tim, suy thận, bệnh ác <br /> tính  hay  bệnh  gan  tiến  triển  nặng  hay  bệnh <br /> gan mất bù. <br /> Phụ nữ có thai, phụ nữ đang cho con bú. <br /> <br /> Biến số <br /> Biến số kiểm soát  <br /> Là các biến số cần làm trước khi nghiên cứu. <br /> <br /> Gồm hai loại thuốc <br /> Chế  phẩm  Diệp  hạ  châu  (Diệp  hạ  châu <br /> 800mg ‐ Xuyên tâm liên 200mg ‐ Cỏ mực 200mg <br /> ‐ Bồ  công anh 200mg) được bào chế dưới dạng <br /> viên nang và sản xuất bởi công ty Khang Minh ‐ <br /> Việt  Nam,  được  cấp  phép  của  Bộ  y  tế  và  được <br /> lưu hành  trên  toàn  quốc.  Liều  dùng:  2  viên  x  3 <br /> lần/ngày. <br /> Tenofovir  của  công  ty  STADA  Việt  Nam, <br /> viên uống với liều 300mg/ngày (ngày 1 lần)  <br /> <br /> Tiêu chuẩn chọn bệnh <br /> Bệnh nhân tỉnh táo, chịu hợp tác, bệnh nhân <br /> viêm gan siêu vi B mạn đã điều trị Tenofovir 12 <br /> tháng có HBV DNA âm tính nhưng HBeAg còn <br /> dương  tính.  Tuổi  >15,  không  phân  biệt  giới, <br /> đồng ý tham gia nghiên cứu. <br /> <br /> Tuổi (>15 tuổi), giới tính, mức ALT trước khi <br /> điều trị, các chỉ số đường huyết lúc đói, số lượng <br /> bạch  cầu,  hồng  cầu,  tiểu  cầu,  creatinin,  AST, <br /> GGT trước khi điều trị, các triệu chứng của bệnh <br /> trước khi điều trị.  <br /> <br /> Biến số độc lập  <br /> Gồm  2  nhóm,  nhóm  1:  kết  hợp  chế  phẩm <br /> Diệp  hạ  châu  với  Tenofovir  (DHC  ‐  TDF)  và <br /> nhóm  2:  Điều  trị  bằng  Tenofovir  đơn  thuần <br /> (TDF). <br /> <br /> Biến số phụ thuộc <br /> Gồm  ALT,  HBeAg,  Anti  HBe,  mật  độ  HBV <br /> DNA, công thức máu: số lượng bạch cầu, hồng <br /> cầu,  tiểu  cầu  Creatinine  máu,  đường  huyết  lúc <br /> <br /> Tiêu chuẩn loại trừ <br /> <br /> đói AST, GGT sau 3 tháng và 6 tháng điều trị, và <br /> <br /> Bệnh nhân đồng nhiễm HCV, HIV hay các <br /> bệnh  viêm  gan  do  các  nguyên  nhân  khác,  có <br /> <br /> các triệu chứng lâm sàng. <br /> <br /> KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN <br /> Đặc điểm dân số trước nghiên cứu. <br /> Bảng 1: Đặc điểm dân số trước nghiên cứu <br /> Đặc tính<br /> Giới<br /> Tuổi<br /> <br /> Nam<br /> Nữ<br /> 40<br /> <br /> ALT ban đầu(U/L)<br /> Công thức máu<br /> Creatinin máu (µmol/l)<br /> Đường huyết lúc đói<br /> (mmol/l)<br /> <br /> 368<br /> <br /> WBC (K/UL)<br /> RBC (M/UL)<br /> PLT (K/UL)<br /> <br /> Tổng cộng<br /> 37 (58,73%)<br /> 26 (41,27%)<br /> 7 (11,1%)<br /> 45 (71,4%)<br /> 11 (17,5%)<br /> <br /> TDF<br /> 18 (58,06%)<br /> 13 (41,94%)<br /> 3 (9,6%)<br /> 24(77,4%)<br /> 4 (12,9%)<br /> 36,87± 12,07<br /> 6,54 ± 1,40<br /> 4,36 ± 0,53<br /> 234,93 ± 67,08<br /> 94,0 ± 10,97<br /> <br /> TDF + DHC<br /> 19 (59,37%)<br /> 13 (40,63%)<br /> 4 (12,5%)<br /> 21 (65,6%)<br /> 7 (21,9%)<br /> 31,21 ± 13,05<br /> 6,32 ± 1,37<br /> 4,39 ± 0,54<br /> 230,53 ± 65,85<br /> 90,31 ± 13,06<br /> <br /> P<br /> <br /> P= 0,07<br /> P = 0,53<br /> P = 0,86<br /> P = 0,79<br /> P = 0,22<br /> <br /> 5,15 ± 0,40<br /> <br /> 5,26 ± 0,86<br /> <br /> P = 0,51<br /> <br /> >0,05<br /> >0,05<br /> <br /> Chuyên Đề Nội Khoa <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014 <br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> 63 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, trong đó <br /> có 32 bệnh nhân thuộc nhóm TDF + DHC và 31 <br /> bệnh  nhân  thuộc  nhóm  TDF.  Trong  quá  trình <br /> thực hiện, không có bệnh nhân nào bỏ  dở điều <br /> trị  hay  không  tuân  thủ  điều  trị.  Trong  đó,  giới <br /> nam  chiếm  đa  số  là  58,73%  và  nhóm  tuổi  chủ <br /> yếu từ 20 đến 40 tuổi chiếm 71,4%, nồng độ ALT <br /> ban đầu, của 2 nhóm cũng khác nhau không có <br /> ý nghĩa thống kê. Các chỉ số trước nghiên cứu về <br /> số  lượng  bạch  cầu,  hồng  cầu,  tiểu  cầu,  creatine <br /> máu, đường huyết lúc đói của cả 2 nhóm đều đa <br /> số  nằm  trong  giới  hạn  bình  thường  và  sự  khác <br /> biệt giữa 2 nhóm không có ý nghĩa thống kê. <br /> <br /> Khi  so  sánh  giữa  2  nhóm  thì  sau  3  tháng  nồng <br /> độ trung bình men ALT của nhóm nghiên cứu là <br /> 30,81 ± 11,43 IU/L và của nhóm chứng là 36,03 ± <br /> 11,83  IU/L  với  sự  khác  biệt  không  có  ý  nghĩa <br /> thống  kê  (p>0,05).  Sau  6  tháng  nồng  độ  trung <br /> bình  men  ALT  của  nhóm  nghiên  cứu  29,09  ± <br /> 11,80  IU/L  và  của  nhóm  chứng  là  31,06  ±  10,37 <br /> IU/L với sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê <br /> (p>0,05). Không có trường hợp nào có tình trạng <br /> tăng  men  ALT  đột  ngột,  chứng  tỏ  bệnh  nhân <br /> vẫn đang đáp ứng điều trị. <br /> <br /> Đặc điểm men ALT sau điều trị của 2 nhóm  <br /> <br /> Tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh từ HBeAg (+) <br /> sang HBeAg (‐) và xuất hiện Anti HBe (+) sau 3 <br /> tháng của nhóm điều trị bằng chế phẩm Diệp hạ <br /> châu kết hợp Tenofovir là 1/32 bệnh nhân chiếm <br /> 3,13%,  so  với  nhóm  chứng  điều  trị  bằng <br /> Tenofovir  có  tỷ  lệ  là  1/31  chiếm  3,25%  với  sự <br /> khác  biệt  không  có  ý  nghĩa  thống  kê.  Sau  6 <br /> tháng  điều  trị  tỷ  lệ  chuyển  đổi  huyết  thanh  từ <br /> HBeAg  (+)  sang  HBeAg  (‐)  và  xuất  hiện  Anti <br /> HBe  (+)  của  nhóm  nghiên  cứu  tăng  lên  là  5/32 <br /> bệnh nhân, chiếm 15,63%, so với nhóm chứng có <br /> tỷ  lệ  là  1/31  chiếm  3,25%  nhưng  sự  khác  biệt <br /> không có ý nghĩa thống kê (p0,05). <br /> <br /> Tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh của 2 nhóm <br /> sau 3 tháng, 6 tháng điều trị. <br /> <br /> Bảng 2: Tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh của 2 nhóm sau 3 tháng, 6 tháng điều trị <br /> Sau 3<br /> tháng<br /> Sau 6<br /> tháng<br /> <br /> Chuyển đổi huyết thanh HBeAg<br /> Có<br /> Không<br /> Có<br /> Không<br /> <br /> Tổng Số n (%)<br /> 2 (3,5%)<br /> 61 (96,5%)<br /> 6 (9,5%)<br /> 57 (90,5%)<br /> <br /> Ta  thấy  tỷ  lệ  %  có  chuyển  đổi  huyết  thanh <br /> của nhóm nghiên cứu cao hơn của nhóm chứng <br /> sau 6 tháng điều trị là 12,38%,  tuy  sự  khác  biệt <br /> không  có  ý  nghĩa  về  mặt  thống  kê  nhưng  có  ý <br /> nghĩa  về  mặt  sinh  học.  Điều  này  chứng  tỏ  khi <br /> kết hợp chế phẩm Diệp hạ châu và Tenofovir thì <br /> hiệu  quả  chuyển  đổi  huyết  thanh  có  phần  cao <br /> <br /> Nhiễm<br /> <br /> TDF n (%)<br /> 1 (3,2%)<br /> 30 (96,8%)<br /> 1 (3,2%)<br /> 30(96,8%)<br /> <br /> TDF -DHC n (%)<br /> 1 (3,1%)<br /> 31 (96,9%)<br /> 5 (15,6%)<br /> 27 (84,4%)<br /> <br /> P<br /> p >0,05<br /> p >0,05<br /> <br /> hơn khi dùng Tenofovir đơn thuần. Khi so sánh <br /> với nghiên cứu của Ngô Anh Dũng ‐ Phan Quan <br /> Chí Hiếu khi dùng thuốc nước Huỳnh kỳ ‐ Diệp <br /> hạ  châu  so  với  Diệp  hạ  châu  trên  bệnh  nhân <br /> viêm  gan  siêu  vi  B  mạn  trong  thời  gian  từ  4 <br /> tháng  đến  24  tháng  có  tỷ  lệ  chuyển  đổi  huyết <br /> thanh của nhóm dùng Huỳnh kỳ ‐ Diệp hạ châu <br /> là 27% cao hơn tỷ lệ của chúng tôi(5). Điều này có <br /> <br /> 369<br /> <br /> Nghiên cứu Y học <br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014<br /> <br /> thể  do  trong  nghiên  cứu  của  Ngô  Anh  Dũng <br /> ngoài  Diệp  hạ  châu  có  tác  dụng  chuyển  đổi <br /> huyết  thanh  thì  Huỳnh  Kỳ  cũng  có  tác  dụng <br /> chuyển  đổi  huyết  thanh(4)  và  nghiên  cứu  tiến <br /> hành đánh giá trong thời gian dài hơn từ 4 tháng <br /> đến  24  tháng,  tuy  nhiên  khi  so  với  nhóm  dùng <br /> Diệp hạ châu của Ngô Anh Dũng ‐ Phan Quan <br /> Chí  Hiếu  thì  tỷ  lệ  chuyển  đổi  huyết  thanh  là <br /> 17%(4) có phần tương đương với nghiên cứu của <br /> chúng tôi.  <br /> Khi  so  sánh  với  nghiên  cứu  của  Lý  Chung <br /> Huy và cộng sự, tuy nghiên cứu là kết hợp giữa <br /> Lamivudine và chế phẩm Diệp hạ châu. Ở nhóm <br /> kết hợp có tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh HBeAg <br /> là  19%  cao  hơn  nhóm  đơn  thuần  dùng <br /> Lamivdine(3) và ở nghiên cứu này của chúng tôi <br /> thì  thấy  nhóm  phối  hợp  giữa  Tenofovir  và  chế <br /> phẩm  Diệp  hạ  châu  cũng  có  tỷ  lệ  chuyển  đổi <br /> huyết  thanh  HBeAg  là  tương  đương  (15%).  Và <br /> so  sánh  với  nghiên  cứu  của  tác  giả  Lê  Thanh <br /> Phuông thì sau khi dùng Tenofovir 12 tháng tỷ <br /> lệ  chuyển  đổi  huyết  thanh  HBeAg  thấp  chỉ <br /> chiếm  4%.  Qua  đó  ta  thấy  khi  kết  hợp  với  chế <br /> phẩm  Diệp  hạ  châu  có  khả  năng  giúp  tỷ  lệ <br /> chuyển đổi huyết thanh HBeAg cao hơn so với <br /> khi  dùng  đơn  thuần  dù  tỷ  lệ  này  cũng  không <br /> cao nhưng do chúng tôi nghiên cứu với số lượng <br /> bệnh nhân còn ít (32 bệnh nhân) và chỉ trong 6 <br /> tháng. Ta có thể hi vọng nếu ta tiếp tục nghiên <br /> cứu  trong  thời  gian  lâu  hơn  thì  kết  quả  sẽ  khả <br /> quan hơn. <br /> <br /> Đặc điểm về nồng độ HBV DNA <br /> Bệnh  nhân  trước  nghiên  cứu  đã  điều  trị <br /> Tenofovir 12 tháng nên tất cả đều có HBV DNA <br /> dưới  ngưỡng  phát  hiện.  Và  sau  3  tháng  và  6 <br /> tháng nghiên cứu thì tải lượng HBV DNA ở tất <br /> cả  bệnh  nhân  tham  gia  nghiên  cứu  của  cả  hai <br /> nhóm cũng đều dưới ngưỡng phát hiện (chiếm <br /> 100%  HBV  DNA  0,05).  Còn  nồng  độ  AST  và  GGT  thì <br /> chế  phẩm  Diệp  hạ  châu  kết  hợp  với  Tenofovir <br /> không làm tăng trị số AST, GGT sau 3 tháng và <br /> 6  tháng  điều  trị  và  nhóm  dùng  Tenofovir  đơn <br /> thuần  cũng  không  làm  tăng  trên  nồng  độ  AST, <br /> GGT sau 3 tháng và 6 tháng điều trị. <br /> <br /> KẾT LUẬN <br /> Sau 6 tháng nghiên cứu bước đầu chúng tôi <br /> ghi  nhận  khi  dùng  chế  phẩm  Diệp  hạ  châu  và <br /> Tenofovir  có  tỷ  lệ  chuyển  đổi  huyết  thanh <br /> HBeAg không cao ở thời điểm sau 3 tháng điều <br /> trị chỉ chiếm 3,25%, nhưng tỷ lệ này tăng lên sau <br /> 6  tháng  điều  trị  là  15,63%  và  cao  hơn  so  với <br /> dùng  Tenofovir  đơn  thuần  tuy  nhiên  sự  khác <br /> biệt không có ý nghĩa thống kê. <br /> <br /> Chuyên Đề Nội Khoa <br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản