intTypePromotion=1
ADSENSE

Đánh giá nhanh tiềm năng kinh tế một số sản phẩm nông-lâm-ngư chủ yếu của tỉnh Hà Tĩnh

Chia sẻ: Kinh Kha | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:12

34
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết này trình bày kết quả đánh giá nhanh tiềm năng kinh tế cho 5 sản phẩm nông-lâm-ngư tiêu biểu của tỉnh Hà Tĩnh. Có thể thấy rằng tiềm năng kinh tế của các sản phẩm này chủ yếu thể hiện qua các mặt như: Tiềm năng tạo cơ hội cho người nghèo tham gia vào thị trường, giảm nghèo, cân bằng mối quan hệ và đầu tư giữa khu vực công cộng và tư nhân, rủi ro thấp, và khả năng nhân rộng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đánh giá nhanh tiềm năng kinh tế một số sản phẩm nông-lâm-ngư chủ yếu của tỉnh Hà Tĩnh

TAP CHI KHOA HOC, Đai hoc Huê, Sô 47, 2008<br /> ̣ ́ ̣ ̣ ̣ ́ ́<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> ĐÁNH GIÁ NHANH TIỀM NĂNG KINH TẾ MỘT SỐ SẢN PHẨM <br /> NÔNG­LÂM­NGƯ CHỦ YẾU CỦA TỈNH HÀ TĨNH <br /> Thái Thanh Hà<br /> Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> <br /> Bài viết này trình bày kết quả  đánh giá nhanh tiềm năng kinh tế  cho 5 sản phẩm  <br /> nông­lâm­ngư  tiêu biểu của tỉnh Hà Tĩnh. Có thể  thấy rằng tiềm năng kinh tế  của các sản  <br /> phẩm này chủ yếu thể  hiện qua các mặt như: tiềm năng tạo cơ  hội cho người nghèo tham  <br /> gia vào thị trường, giảm nghèo, cân bằng mối quan hệ và đầu tư giữa khu vực công cộng và  <br /> tư nhân, rủi ro thấp, và khả năng nhân rộng. Tuy nhiên, vẫn đang còn có sự ngăn cách giữa  <br /> người sản xuất và thương nhân về các nhân tố thành công chủ chốt trong chuỗi giá trị  của  <br /> các sản phẩm tiềm năng này. Đồng thời, vẫn đang còn một số trở ngại về điều kiện khung  <br /> pháp lý, tác động không thuận lợi nhằm phát huy một cách tối đa các tiềm năng này.<br /> <br /> 1. Đặt vấn đề <br /> <br /> Có thể  ví tiềm năng kinh tế  của một địa phương như  là nguồn lực tiềm  ẩn,  <br /> nếu được đánh giá một cách đúng đắn thì lợi thế  cạnh tranh của địa phương đó sẽ <br /> được phát huy tối đa. Đặc biệt, trong lĩnh vực nông nghiệp theo nghĩa rộng, tiềm  <br /> năng kinh tế nếu được khai thác tốt có thể phát huy một cách có hiệu quả những nỗ <br /> lực giảm nghèo, cải thiện sự tham gia vào thị  trường của người nghèo, hoặc tạo cơ <br /> hội cho họ có thêm thu nhập. Theo báo cáo “Triển vọng phát triển châu Á năm 2008” <br /> của ADB, sản lượng nông nghiệp Việt Nam sẽ chịu nhiều tác động bởi hạn hán, các  <br /> loại dịch bệnh gia súc và gia cầm, chỉ  tăng trưởng vào khoảng 3,4%, thấp hơn xu <br /> hướng hiện tại. Tuy mức đóng góp của ngành nông nghiệp đối với nền kinh tế nước  <br /> ta chưa đến 25%, nhưng đây vẫn là ngành tạo hơn một nửa tổng công ăn việc làm  <br /> của người dân. Điều này cho thấy việc đánh giá nhanh tiềm năng kinh tế đối với các <br /> sản phẩm nông nghiệp góp phần giúp định hướng đầu tư  nguồn lực một cách đúng <br /> đắn. Đây cũng là những  ưu tiên của dự  án về  cải thiện sự  tham gia thị  trường của <br /> người nghèo tại Hà Tĩnh (IMPP) do quỹ Phát triển Nông nghiệp (IFAD) tài trợ. Thêm <br /> nữa, để thực hiện tốt các hợp phần có liên quan đến việc xây dựng kế hoạch cơ hội  <br /> thị trường cấp xã, các thông tin có liên quan đến việc đánh giá tiềm năng kinh tế  và  <br /> cơ hội thị trường sản phẩm nông sản tại tỉnh Hà Tĩnh là rất cần thiết. Do đó, nghiên  <br /> cứu tiềm năng kinh tế đã được đưa vào kế hoạch thực hiện của dự án cho năm 2008.  <br /> Trường Đại học Kinh Tế, Đại học Huế được dự án IMPP lựa chọn làm cơ quan chủ <br /> chốt thực hiện nghiên cứu này tại tỉnh Hà Tĩnh do năng lực và kinh nghiệm thực hiện <br /> <br /> 5<br /> nghiên cứu cũng như sự hiểu biết về địa phương được ban điều hành dự án đánh giá <br /> cao. Trong phạm vi nghiên cứu đánh giá nhanh này, thì những sản phẩm được xem là  <br /> có tiềm năng kinh tế  nếu như  các sản phẩm đó phải đáp  ứng được những tiêu chí <br /> đánh giá, trong đó nhấn mạnh đến tiềm năng giảm nghèo và thúc đẩy sự tham gia thị <br /> trường của người nghèo, được sử dụng bởi nhiều tổ chức quốc tế như ADB, GTZ1.<br /> 2. Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của tỉnh Hà Tĩnh<br /> <br /> Hà Tĩnh nằm  ở  duyên hải Bắc trung bộ, phía Tây giáp Lào, phía Đông giáp <br /> biển đông, phía bắc giáp Thành phố Vinh, phía nam giáp tỉnh Quảng Bình. Hà Tĩnh có <br /> hai đô thị  (thành phố  Hà Tĩnh và thị  xã Hồng Lĩnh) và 10 đơn vị  hành chính cấp  <br /> huyện. Lợi thế  của Hà Tĩnh là tiếp cận với các thị  trường lớn trong nước như: Hà <br /> Nội, Vinh, Huế, và thành phố  Hồ  Chí Minh bằng các tuyến đường quốc lộ  1A, <br /> đường sắt Bắc ­ Nam, đường Hồ  Chí Minh, đặc biệt là tuyến đường 8A từ  thị  xã  <br /> Hồng Lĩnh chạy qua cửa khẩu quốc tế Cầu Treo sang thủ đô Viên Chăn ­ Lào và các  <br /> tỉnh Đông ­ Bắc Thái Lan. Hà Tĩnh có cảng nước sâu Vũng Áng ở phía nam tỉnh, phía  <br /> bắc có cảng Xuân Hải – Nghi Xuân. Tuy có những điều kiện tự nhiên thuận lợi như <br /> vậy, nhưng theo báo cáo của  “Sáng kiến cạnh tranh Việt Nam”  VNCI thì tỉnh Hà <br /> Tĩnh chỉ cải thiện khá khiêm tốn về thứ tự trên bảng xếp hạng về chỉ số cạnh tranh  <br /> cấp tỉnh PCI: từ  45,56 (trong năm 2007) so với 41,62 (năm 2006) và được xếp vào  <br /> nhóm “trung bình thấp”, hoặc nhóm “thấp”.  Với dân số  1,3 triệu người, gần 81%  <br /> sống tại các vùng nông thôn, nên sinh kế  chủ  yếu của người dân dựa vào nông  <br /> nghiệp. Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Hà Tĩnh, ngành nông lâm thủy sản đóng <br /> góp 43,47% trong tổng số GDP của tỉnh và đây là con số  không có nhiều thay đổi so  <br /> với năm 2005 (là 43,53%). Về  cơ  cấu giá trị  sản xuất của tỉnh Hà Tĩnh trong năm  <br /> 2006, trồng trọt vẫn chiếm vai trò chính với hơn 67%, kế đến là lĩnh vực chăn nuôi  <br /> chiếm gần 30%, còn lại là khu vực dịch vụ nông nghiệp chiếm 3% trong cơ cấu giá  <br /> trị sản xuất nông nghiệp tính theo giá hiện hành năm 2006. Tổng sản lượng thủy sản  <br /> trong năm 2006 đạt gần 61 ngàn tấn, tăng hơn 3% so với năm 2005.<br /> Kinh tế  thương mại dịch vụ  những năm gần đây phát triển khá, GDP của  <br /> ngành thương mại dịch vụ chiếm hơn 33% trong GDP toàn tỉnh Hà Tĩnh. Tổng mức  <br /> bán lẻ hàng hoá, dịch vụ thị trường xã hội năm 2006 là 3.913 tỷ VNĐ, tăng 14 %  năm  <br /> 2005 3.376 tỷ  đồng. Giá trị  xuất khẩu đạt 38,009 triệu USD, giảm 7% so với năm  <br /> 2005 (40,858 triệu USD). Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là khoáng sản và của ngành <br /> nông, lâm, ngư. Đặc biệt tại khu kinh tế  cửa khẩu quốc tế  Cầu Treo, khu công <br /> nghiệp cảng biển Vũng Áng, khu công nghiệp Gia Lách ­ Nghi Xuân, tỉnh đã có các  <br /> cơ chế chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến  <br /> liên doanh liên kết với các doanh nghiệp, thành phần kinh tế trong tỉnh để phát triển  <br /> thương mại ­ du lịch ­ dịch vụ đáp ứng với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.<br /> <br /> 1<br />  M4P – Making the value chains work better for the poor: a toolbook for practitioners of value chain analysis<br /> <br /> 6<br /> 3. Phương pháp nghiên cứu<br /> <br /> Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong đánh giá nhanh tiềm năng kinh tế chủ <br /> yếu dựa vào phân tích định tính kết hợp với phương pháp đánh giá nhanh thị trường  <br /> nông  thôn   kết   hợp  nhằm  phân  tích  những  nhân   tố  thành   công  chủ  chốt  (Critical  <br /> Success Factors) cho các sản phẩm được lựa chọn với công cụ  màn hình ra­đa (rada <br /> screen) để  từ  đó cho thấy sự  khác biệt giữa người sản xuất và người mua/thương  <br /> nhân. Cách tiếp cận với việc thảo luận nhóm trọng điểm cũng đã được sử  dụng để <br /> phát triển các nhân tố thành công chủ chốt CSF cho từng sản phẩm. Đồng thời việc  <br /> phỏng vấn cá nhân, sử dụng bảng câu hỏi mở, đối với những người có liên quan chủ <br /> chốt, có sự hiểu biết sâu về lĩnh vực sản phẩm nghiên cứu cũng đã được thực hiện  <br /> nhằm thu thập thông tin cho nghiên cứu. Việc điều tra hiện trường cũng đã được  <br /> thực hiện ở cả cấp quốc gia và cấp địa phương nhằm mục đích đánh giá nhanh tiềm  <br /> năng thị  trường cho các sản phẩm nghiên cứu. Bảng hỏi điều tra được thiết kế  để <br /> thu thập thông tin sơ cấp về các nhân tố  thành công chủ chốt CSF, cũng như những  <br /> điều kiện khung để khai thác tốt hơn những tiềm năng của từng sản phẩm dựa trên <br /> thang Li­kert 5 điểm.<br /> Nguồn số liệu thứ cấp là các thông tin của từ số liệu thống kê cấp tỉnh (Niên <br /> giám thống kê Hà Tĩnh 2006) và cấp quốc gia (Niên giám thống kê toàn quốc GSO <br /> 2006) cũng như  nguồn số  liệu của Trung tâm Thương mại Quốc tế, nguồn số  liệu  <br /> của Liên Hiệp Quốc (UNCOMTRADE) đã được sử  dụng trong quá trình lựa chọn <br /> các sản phẩm tiềm năng để  đánh giá tại tỉnh Hà Tĩnh cũng như  được tổng hợp và  <br /> phân tích sau này. Nhu cầu trên thế giới cũng như  xu hướng nhu cầu đối với những  <br /> sản phẩm cũng đã được phân tích. Các thông tin từ các nghiên cứu trước đây của các <br /> tổ  chức trong và ngoài nước cũng như  các báo cáo tổng kết chính thức của các cơ <br /> quan ban ngành có liên quan cung cấp cũng đã được sử dụng cho nghiên cứu. Cơ sở <br /> để  lựa chọn các sản phẩm để  thực hiện nghiên cứu đánh giá nhanh tiềm năng địa <br /> phương là dựa vào kết quả  hội thảo sơ bộ với các cơ  quan ban ngành cấp tỉnh, với  <br /> các doanh nghiệp, những người sản xuất và những người thu mua được xem là thành <br /> công tại địa phương. Dựa vào các tiêu chí cụ  thể, những sản phẩm được lựa chọn <br /> cho nghiên cứu đánh giá tiềm năng kinh tế tại tỉnh Hà Tĩnh gồm:<br /> Lạc; <br /> Song­mây; <br /> Nước mắm; <br /> Lợn thịt; <br /> Rau;<br /> <br /> <br /> 7<br /> Kết quả đánh giá sản phẩm tiềm năng đối với 5 sản phẩm nói trên được trình  <br /> bày tại hình 1, cho thấy các sản phẩm này đều đạt điểm số cao trên thang điểm của <br /> từng tiêu chí đánh giá. Thêm nữa, cả  5 sản phẩm này đều là những sản phẩm đại  <br /> diện cho các ngành: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư  nghiệp của tỉnh, do đó việc lựa  <br /> chọn các sản phẩm này làm đối tượng nghiên cứu đánh giá nhanh tiềm năng kinh tế <br /> là hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế địa phương. <br /> 4. Kết quả nghiên cứu<br /> 4.1 Đánh giá tiềm năng đối với 5 sản phẩm theo các tiêu chí của Ngân  <br /> hàng phát triển châu Á (ADB)<br /> Tổng số  người được phỏng vấn cho cả  5 sản phẩm là 120, trong đó sản  <br /> phẩm song­mây có số mẫu điều tra là 28; sản phẩm rau 14, nước mắm là 24 người,  <br /> sản phẩm lợn thịt là 16 người, và sản phẩm cây lạc là 38 người. Với cơ  cấu mẫu  <br /> như  được thể  hiện trong hình 1 thì có thể  cho rằng lượng mẫu là đủ  lớn cho việc  <br /> phân tích thống kê mô tả. Hơn nữa, trong điều kiện giới hạn về thời gian và yêu cầu <br /> của phương pháp đánh giá nhanh thị trường nông thôn, cũng như phạm vi nghiên cứu <br /> thì số mẫu và cơ cấu mẫu như vậy là hoàn toàn chấp nhận được2.<br /> <br /> Đánh giá tiềm năng 5 sản phẩm<br /> <br /> 7.8<br /> Nằm trong khuôn khổ chiến lược quốc gia và của vùng miền 6.9<br /> 7.5<br /> Trung (max 9 điểm) 8.6<br /> 8.5<br /> 8.5<br /> Có nhiều người tham gia vào sản suất sản phẩm (max 9 7.4<br /> 8.2<br /> điểm) 7.3<br /> 8.4<br /> 7.1<br /> 7.1<br /> Tính bền vững về môi trường (max 9 điểm) 8.3<br /> 6.8<br /> 7.7<br /> 7.5<br /> 5.9<br /> Rủi ro thấp (max 9 điểm) 8.7<br /> 7.4<br /> 7.2<br /> 9.5 Song-Mây (n=28)<br /> Rào cản tham gia (vốn, kiến thức) đối với người nghèo thấp 8.6<br /> 10.2<br /> (max 12 điểm) 7.8 Rau (n=14)<br /> 9.0<br /> Nước mắm (n=24)<br /> 10.4<br /> 9.3 Lợn (n=16)<br /> Tiềm năng thúc đẩy đẩu tư (max 12 điểm) 11.2<br /> 9.8<br /> 11.1 Lạc (n=38)<br /> 7.3<br /> 7.3<br /> Tiềm năng của sản phẩm đối với giảm nghèo (max 9 điểm) 6.9<br /> 8.0<br /> 8.1<br /> 7.9<br /> 7.2<br /> Khả năng nhân rộng (max 9 điểm) 8.2<br /> 6.8<br /> 8.0<br /> 8.3<br /> 7.1<br /> Tiềm năng tăng trưởng của sản phẩm (max 9 điểm) 8.9<br /> 8.1<br /> 8.4<br /> 12.1<br /> Thể hiện sự hội nhập thị trường của người nghèo (max 14 10.2<br /> 12.0<br /> điểm) 8.9<br /> 12.9<br /> <br /> 0.0 2.0 4.0 6.0 8.0 10.0 12.0 14.0<br /> <br /> <br /> <br /> Hình 1<br /> 2<br />  Kaplinsky  and Morris (2001). “a Handbook for Value Chain Research”. Brighton, United Kingdom, Institute of Development <br /> Studies, University of Sussex.<br /> <br /> 8<br /> Kết quả tại Hình 1 cho thấy các sản phẩm nói trên đều đạt gần mức điểm tối <br /> đa trong tất cả 10 tiêu chí đánh giá. Điểm nổi bật là các sản phẩm này đều cho thấy  <br /> tiềm năng khá lớn tạo cơ hội để  người nghèo tại Hà Tĩnh có thể  hội nhập và tham <br /> gia vào thị  trường trong nỗ  lực giảm nghèo và tạo thu nhập và thu hút nhiều người <br /> tham gia vào sản xuất sản phẩm. Trong đó sản phẩm lạc thể  hiện tiềm năng này là  <br /> lớn nhất đạt 12,9 điểm trên thang điểm 14. Trong khi đó sản phẩm nước mắm có <br /> tiềm năng thu hút lao động là người nghèo vì tiêu chí rào cản tham gia thấp đạt thang  <br /> điểm 10/12. <br /> 4.2. Đánh giá nhân tố  thành công chủ  chốt CSF cho các sản phẩm tiềm  <br /> năng<br /> Nhân tố thành công chủ chốt là một thuật ngữ trong kinh doanh, là những khía <br /> cạnh chính yếu và cần thiết để  cho một sản phẩm thành công trên thị  trường. Khái <br /> niệm này đã được Daniel lần đầu tiên công bố  nghiên cứu của mình trên tạp chí  <br /> Harvard Business Review vào năm 1961 và được sử  dụng bởi nhiều tổ  chức, nhiều  <br /> công ty trong quá trình khai thác tiềm năng nhằm phát huy lợi thế  cạnh tranh. Kết  <br /> quả tại các hình dưới đây cho thấy sự khác biệt về tầm quan trọng của các nhân tố <br /> thành công chủ chốt CSF cho từng sản phẩm nghiên cứu:<br /> a. Sản phẩm song mây<br /> Có 6 nhân tố  được xem là chủ  yếu mang lại thành công đối với sản phẩm  <br /> song­mây. Người sản xuất cho rằng những nhân tố  như: chất lượng song­mây, loại <br /> mây, công nghệ chế biến mây, và giá cả của mây là quan trọng hơn so với quan điểm  <br /> của người thu mua/thương nhân trên thang Li­kert 5 điểm. Trong khi đó người thu <br /> mua/thương nhân lại cho rằng khả  năng mà người sản xuất có thể  đảm bảo cung <br /> ứng cho họ  với số  lượng lớn (để  đảm bảo tính lợi ích kinh tế  nhờ  quy mô) lại là  <br /> nhân tố  chủ yếu mang lại thành công cho việc kinh doanh của họ. Sự khác biệt này  <br /> cho thấy, người sản xuất phải quan tâm và đối phó với nhiều vấn đề  hơn trong sản <br /> xuất và kinh doanh so với người thu mua sản phẩm song mây trong chuỗi giá trị sản  <br /> phẩm tại Hà Tĩnh. <br /> Màn hình Ra-đa các nhân tố thành công chủ chốt CSF cho sản phẩm song-mây tại Hà Tĩnh<br /> <br /> Chất lượng<br /> 5.00<br /> 4.33<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 4.00<br /> <br /> Công nghệ chế biến mây loại mây<br /> 3.67 3.83<br /> <br /> 3.60<br /> <br /> 3.40<br /> <br /> <br /> 0.00<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 4.20<br /> <br /> 4.00<br /> Độ tin cậy lẫn nhau giá cả<br /> 3.67 4.50<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 4.60<br /> Khả năng cung ứng với số lượng lớn Người Sản Xuất<br /> Người Thu Mua- Thương Nhân<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 9<br /> Hình 2<br /> <br /> <br /> b. Sản phẩm lợn thịt <br /> Những nhân tố  thành công chủ  chốt đối với sản phẩm này bao gồm 6 khía <br /> cạnh như  có thể  được thấy trong hình 2. Trong khi người sản xuất lại xem những <br /> nhân tố như: vệ sinh thực phẩm, xuất xứ lợn và quy trình chăn nuôi giết mổ lại quan  <br /> trọng hơn so với người thu mua và thương nhân xét về  mặt điểm số  trên thang Li­<br /> kert 5 điểm, thì người thu mua/thương nhân lại cho rằng giá cả  thu mua lợn, giống <br /> lợn và vấn đề về dịch bệnh lại là vấn đề then chốt, có tính quyết định đến sự thành <br /> công trong kinh doanh của họ. Vì vậy, để phát triển một cách tốt nhất tiềm năng sản <br /> phẩm lợn thịt cần phải thu hẹp sự khác biệt về  các nhân tố  thành công giữa người  <br /> sản xuất và người thu mua<br /> <br /> Màn hình ra đa các nhân tố thành công chủ chốt CSFcho sản phẩm lợn thịt tại Hà Tĩnh<br /> <br /> <br /> Giá cả<br /> 5.00<br /> 4.60<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 3.67 4.20<br /> Vệ sinh thực phẩm Giống lợn<br /> 3.83<br /> 3.60 4.00<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 0.00<br /> <br /> <br /> 3.33<br /> 3.80<br /> <br /> 4.00<br /> Xuất xứ lợn Dịch bệnh<br /> 4.33<br /> 3.00<br /> <br /> <br /> 4.17<br /> Quy trình chăn nuôi giết mổ<br /> <br /> Người sản xuất<br /> Người thu mua-thương nhân<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 3<br /> c. Sản phẩm lạc <br /> Có 6 nhân tố  thành công chủ  chốt đối với sản phẩm lạc tại Hà Tĩnh. Trong  <br /> khi người sản xuất cho rằng nhân tố  giống lạc là nhân tố  quyết định đối với việc <br /> sản xuất lạc (điểm số 4,67 trên thang điểm Li­kert 5 điểm thì người thu mua/thương <br /> nhân lại cho rằng các nhân tố như chất lượng lạc, giá cả lạc, công nghệ bảo quản và  <br /> độ  tin cậy lẫn nhau trong quá trình kinh doanh lại là những nhân tố  thành công chủ <br /> chốt đối với việc kinh doanh của họ. Điều này cho thấy, thương nhân có nhiều mối  <br /> <br /> 10<br /> quan tâm hơn trong chuỗi giá trị  sản phẩm cây lạc so với người sản xuất để  có thể <br /> đảm bảo sự thành công trong việc kinh doanh của chính mình.<br /> <br /> <br /> Màn hình Ra-đa các nhân tố thành công chủ chốt CSF cho sản phẩm lạc tại Hà Tĩnh<br /> <br /> Chất lượng<br /> 5.00<br /> 4.80<br /> <br /> <br /> 4.17<br /> 4.33<br /> 4.60<br /> Độ tin cậy lẫn nhau giá cả<br /> 4.50<br /> 4.40<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 0.00<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 4.40 4.67<br /> 4.00<br /> Khả năng cung ứng với số lượng lớn Giống lạc<br /> <br /> 3.83<br /> <br /> <br /> <br /> 4.20<br /> Công nghệ bảo quản<br /> Người sản xuất<br /> Người thu mua - thương nhân<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 4<br /> d. Sản phẩm rau<br /> Sự  khác biệt về  các nhân tố  thành công chủ  chốt được trình bày tại hình 5. <br /> Xét về mặt điểm số trên thang Li­kert 5 điểm, thì trong số các nhân tố này, người sản <br /> xuất đánh giá cao những nhân tố  như  độ  an toàn của rau, giá cả  sản phẩm rau, khả <br /> năng cung  ứng với số  lượng lớn, sự  tươi mới của rau, độ  tin cậy về  vệ  sinh thực  <br /> phẩm, giá cả  sản phẩm rau thì người thu mua/thương nhân lại chỉ  quan quan tâm <br /> nhiều đến yếu tố  chất lượng rau. Tương tự  như  các sản phẩm khác, cần phải thu  <br /> hẹp sự khác biệt này để có thể khai thác tốt tiềm năng trong chuỗi giá trị  sản phẩm  <br /> cây lạc tại tỉnh Hà Tĩnh bằng cách hướng nhiều hơn sự tập trung về mặt chính sách  <br /> cho quá trình lưu thông sản phẩm mà  ở  đó người thu mua/thương nhân trong chuỗi  <br /> giá trị sản phẩm.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 11<br /> Màn hình Ra-đa các nhân tố thành công chủ chốt CSF sản phẩm rau tại Hà Tĩnh<br /> <br /> Chất lượng<br /> 5.00 4.67<br /> <br /> <br /> <br /> 4.33<br /> <br /> <br /> Độ an toàn của rau Giá cả sản phẩm rau<br /> 3.67<br /> 4.33 3.83<br /> 3.83<br /> <br /> <br /> <br /> 0.00<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 3.00<br /> <br /> 3.83<br /> 4.00<br /> 3.67<br /> Khả năng cung ứng với số lượng lớn Độ tin cậy về vệ sinh thực phẩm<br /> <br /> 4.00<br /> <br /> <br /> <br /> 4.33<br /> Sự tươi mới của rau<br /> <br /> Người sản xuất<br /> Người Thu Mua-Thương Nhân<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 5<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 12<br /> e. Sản phẩm nước mắm <br /> Đối với sản phẩm nước mắm Hà Tĩnh, có 8 nhân tố  được xem là đóng vai trò  <br /> chủ  chốt đối với sản phẩm này. Trong khi người sản xuất nước mắm lại cho rằng <br /> những nhân tố  như  loại cá để  làm nước mắm, độ  tươi sống của sản phẩm nguyên  <br /> liệu, là hai nhân tố then chốt đóng vai trò quyết định thì người thu mua/thương nhân lại <br /> cho rằng những nhân tố  còn lại như  độ  đạm, màu sắc và hương vị  nước mắm, thời <br /> hạn bảo quản, phân khúc thị  trường tiêu thụ  và độ  tin tưởng lẫn nhau trong quá trình  <br /> kinh doanh lại là những nhân tố thành công chủ chốt đối với quá trình kinh doanh của  <br /> họ. Điều này cho thấy, trong các mắt xích chuỗi giá trị người thu mua/thương nhân là <br /> những người đóng vai trò quan trọng hơn trong chuỗi giá trị  sản phẩm. Vì vậy, các  <br /> điều kiện khung về  mặt chính sách cần phải hướng trọng tâm để  giải quyết sự  bất  <br /> cập này.<br /> <br /> Màn hình Ra-đa các nhân tố thành công chủ chốt CSF của sản phẩm nước mắm tại Hà Tĩnh<br /> <br /> Độ đạm<br /> 5 5<br /> <br /> 5<br /> 5<br /> Thời hạn bảo quản 4.4 màu sắc & hương vị<br /> <br /> 4.6<br /> <br /> <br /> 3.6<br /> <br /> 4.2<br /> 5<br /> Khu vực tiêu dùng 0 4.2 Loại cá<br /> 4<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 4.6<br /> 4.2<br /> 3.4 4.4<br /> <br /> Độ tin tưởng độ tươi sống của sản phảm<br /> 4.8<br /> 4<br /> <br /> Khả năng cung ứng với số lượng lớn<br /> <br /> Người sản xuất<br /> Người thu mua - thương nhân<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Hình 6<br /> 5. Đánh giá điều kiện khung chính sách để phát huy hết tiềm năng của các  <br /> sản phẩm nghiên cứu<br /> <br /> Kết quả đánh giá những ảnh hưởng của điều kiện khung pháp lý đối với việc  <br /> phát huy tiềm năng của các sản phẩm cho thấy những vấn đề về thiết chế chính sách,  <br /> sự  hỗ  trợ  của Nhà nước và khả  năng tiếp cận công nghệ  vẫn là những vấn đề  lớn, <br /> cần được chú ý vì đại đa số  người được phỏng vấn đều cho thấy mức đánh giá của <br /> họ khá thấp trên thang Li­kert 5 điểm. Những vấn đề khác như tập huấn kỹ năng, khả <br /> năng tiếp cận vốn và chất lượng của các doanh nghiệp kinh doanh cũng là những <br /> trọng tâm về mặt khung chính sách cần phải giải quyết để phát huy hết tiềm năng của <br /> các sản phẩm nghiên cứu.<br /> <br /> Đánh giá điều kiện khung chính sách ảnh hưởng đến việc phát huy tiềm năng sản phẩm<br /> <br /> 5<br /> <br /> <br /> <br /> 4.0 4.0<br /> 4 3.8 3.9<br /> 3.6<br /> 3.4 3.4 3.3<br /> 3.2<br /> 3.0<br /> 3 2.9<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 2<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 1<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 0<br /> Cơ sở hạ Dịch vụ hậu Thủ tục hải Thủ tục Tập huấn kỹ Khả năng Khả năng Lao động Chất lượng Thể chế Hỗ trợ của<br /> tầng cần vận quan hành chính năng tiếp cận vốn tiếp cận của các đơn chính sách, nhà nước<br /> chuyển công nghệ vị kinh sáng kiến<br /> doanh thúc đẩy<br /> đầu tư riêng<br /> do tỉnh ban<br /> hành<br /> <br /> <br /> <br /> Hình 7<br /> 6. Kết luận và đề xuất<br /> <br /> Căn cứ  vào kết quả  nghiên cứu, một số  kết luận và đề  xuất sau đây có thể <br /> được rút ra và nên được xem xét:<br /> Các sản phẩm nghiên cứu là những sản phẩm có tiềm năng kinh tế xét về  các  <br /> tiêu chí mà các tiêu chí này rất được các tổ  chức trong nước và quốc tế  quan  <br /> tâm. Vì vậy, hoàn toàn có đủ  cơ  sở  để  đưa các sản phẩm này để  triển khai <br /> trong chương trình của tỉnh Hà Tĩnh và của dự án IMPP.<br /> Trong số các tiềm năng này thì tiềm năng thể hiện sự hội nhập của thị trường  <br /> của người nghèo là một trong những điểm nổi bật của các sản phẩm nghiên <br /> cứu. Điều này còn được thể hiện ở chỗ các sản phẩm này còn cho phép nhiều  <br /> người nghèo hơn tham gia vào chuỗi giá trị  sản phẩm. Tuy nhiên, cần phải có <br /> các nghiên cứu sâu hơn về  chuỗi giá trị  của các sản phẩm nghiên cứu để  tạo  <br /> điều kiện cho bộ phân người dân vùng nông thôn Hà Tĩnh tham gia vào những  <br /> mắt xích gia tăng giá trị cao, để từ đó tạo thêm thu nhập cho chính họ.<br /> Kết quả cũng cho thấy các sản phẩm nghiên cứu có nhiều tiềm năng thúc đẩy  <br /> đầu tư để từ đó phát huy tính hiệu quả cho những nỗ lực giảm nghèo của tỉnh  <br /> Hà Tĩnh. Thêm nữa, những sản phẩm này có rủi ro đầu tư  thấp cho nên điều <br /> này làm cho việc khai thác có hiệu quả các tiềm năng của các sản phẩm này có  <br /> tính khả thi cao.<br /> Vẫn đang còn những khác biệt giữa người sản xuất và người thu mua/thương  <br /> nhân trong chuỗi giá trị  sản phẩm khi đề  cập đến các nhân tố  thành công chủ <br /> chốt CSF. Đặc biệt một số sản phẩm có tiềm năng như lạc hoặc lợn thịt thì sự <br /> khác biệt này phần lớn xuất phát từ  người thu mua/thương nhân, là những <br /> người đóng vai trò rất quan trọng trong chuỗi giá trị sản phẩm. Vì vậy, mối liên  <br /> kết giữa nhà sản xuất, người thu mua, thị trường, và người tiêu dùng cần phải <br /> được thiết lập để  tạo ra các kênh thông tin thông suốt nhằm thu hẹp cách biệt <br /> đối với các nhân tố thành công chủ  chốt CSF này đối vớ  từng sản phẩm tiềm <br /> năng.<br /> Một số  điều kiện khung pháp lý vẫn đang còn là những trở  ngại để  phát huy <br /> tốt hơn tiềm năng của các sản phẩm nghiên cứu, chủ yếu là ở những khía cạnh  <br /> có liên quan đến khả năng tiếp cận công nghệ, chất lượng của các đơn vị kinh <br /> doanh trong lĩnh vực sản phẩm tiềm năng, và sự  hỗ  trợ  của Nhà nước, tập <br /> huấn kỹ năng, khả năng tiếp cận vốn.<br /> <br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> 1. ADB, Triển vọng phát triển châu Á năm 2008. <br /> 2. Niên giám thống kê tỉnh Hà Tĩnh năm 2006.<br /> 3. Niên giám thống kê toàn quốc năm 2006.<br /> 4. Báo cáo tổng kết của Sở  Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Hà Tĩnh  <br /> năm 2007.<br /> 5. Báo cáo tổng kết của Chi cục phát triển lâm nghiệp Hà Tĩnh năm 2007.<br /> 6. Hội Phụ  nữ tỉnh Hà Tĩnh, Báo cáo nghiên cứu thị trường sản phẩm nước mắm  <br /> Hà Tĩnh, 2007.<br /> 7. Sở Thuỷ sản Hà Tĩnh, Đề án phát triển ngành thuỷ sản tỉnh Hà Tĩnh, 2006­2010.<br /> 8. Quy hoạch cây trồng vật nuôi chủ lực của Tỉnh từ 2006 – 2010 và định hướng  <br /> đến năm 2020.<br /> 9. Kaplinsky,   Raphael   and   Mike   Morris,  A   Handbook   for   value   chain   research, <br /> Institute of Development Study.<br /> 10. Schmitz, Hubert and Peter Knorringa. Learning from Global buyers. IDS working <br /> paper.<br /> 11. VNCI., The Vietnam provincial competitiveness index 2007, Measuring economic <br /> governance for private sector development, 2007. <br /> 12. Hair et. al, Multivariate Data Analysis, 9ed Prentice Hall, 2004. <br /> 13. CSF.COM: <br /> http://www.rapidbi.com/created/criticalsuccessfactors.html#DefinitionsofCSFs.<br /> 14. UNCOMTRADE: http://comtrade.un.org.<br /> 15. http://www.agroviet.gov.vn/pls/portal.<br /> <br /> <br /> RAPID  ASSESSMENT OF REGIONAL ECONOMIC POTENTIALS <br /> FOR AGRO­FORESTRY AND AQUACULTURAL PRODUCTS IN HA TINH <br /> PROVINCE: THE FINDINGS AND ITS IMPLICATIONS<br /> Thai Thanh Ha<br /> College of Economics , Hue University<br /> <br /> SUMMARY<br /> This article presents some findings from the rapid assessment of the economic potentials  <br /> for   5   agro­forestry   and   aquacultural   products   in   Ha   Tinh   province.   It   revealed     that   these  <br /> potentials   boiled   down   to   such   dimensions   as:   the   integration   of   the   poor   into   the   market;  <br /> effective poverty reductions; leveraging the public­privat partnership and investment; low risk;  <br /> and the possibility for scaling up and so on. However, there still exist some gaps, along the value  <br /> chain,   between   the   producers   and   traders   with   regard   to   the   Critical   Success   Factors   for  <br /> respective products. Also, the conditional policy framework exerts some un­favorable impact on  <br /> the exploitation of full potentials among studied products on the aspects of access to capital,  <br /> better technology as well as institutional supports on the part of the government.<br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2