intTypePromotion=3

Đánh giá sự biến đổi các mediator viêm trong máu của chuột được gây mô hình gây viêm khớp bàn chân và điều trị bằng nọc ong

Chia sẻ: Ni Ni | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
19
lượt xem
0
download

Đánh giá sự biến đổi các mediator viêm trong máu của chuột được gây mô hình gây viêm khớp bàn chân và điều trị bằng nọc ong

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm đánh giá ảnh hưởng của điều trị bằng nọc ong lên mediator viêm trên chuột được gây viêm khớp bàn chân. Đối tượng nghiên cứu trên 60 chuột, chia thành 6 nhóm: nhóm chứng, nhóm gây viêm khớp (bằng dung dịch adjuvant complete) điều trị nước muối, nhóm gây viêm điều trị bằng nọc ong và nhóm gây viêm điều trị bằng mobic (liều 1 mg/kg).

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đánh giá sự biến đổi các mediator viêm trong máu của chuột được gây mô hình gây viêm khớp bàn chân và điều trị bằng nọc ong

T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 4-2017<br /> <br /> ĐÁNH GIÁ SỰ BIẾN ĐỔI CÁC MEDIATOR VIÊM<br /> TRONG MÁU CỦA CHUỘT ĐƯỢC GÂY MÔ HÌNH GÂY<br /> VIÊM KHỚP BÀN CHÂN VÀ ĐIỀU TRỊ BẰNG NỌC ONG<br /> Nguyễn Thị Hoa*; Cấn Văn Mão*<br /> TÓM TẮT<br /> Mục tiêu: đánh giá ảnh hưởng của điều trị bằng nọc ong lên mediator viêm trên chuột được<br /> gây viêm khớp bàn chân. Đối tượng và phương pháp: tiến hành trên 60 chuột, chia thành 6<br /> nhóm: nhóm chứng, nhóm gây viêm khớp (bằng dung dịch adjuvant complete) điều trị nước<br /> muối, nhóm gây viêm điều trị bằng nọc ong (3 liều khác nhau: 0,5 mg/kg, 1 mg/kg và 1,5 mg/kg<br /> tiêm vào huyệt Túc tam lý) và nhóm gây viêm điều trị bằng mobic (liều 1 mg/kg). Đánh giá<br /> mediator viêm ở thời điểm trước và sau điều trị. Kết quả: dung dịch adjuvant complete (liều 50 µl,<br /> 1 lần) gây tăng nồng độ IL-1, IL-6, TNF-α, giảm nồng độ IL-10 trong máu. Mobic liều 1 mg/kg và<br /> nọc ong (liều 0,5 mg/kg, 1 mg/kg và 1,5 mg/kg) có tác giảm nồng độ IL-1, IL-6, TNF-α và tăng<br /> nồng độ IL-10 trong máu sau 21 ngày điều trị. Nọc ong liều 1,5 mg/kg có tác dụng mạnh hơn<br /> các liều còn lại. Kết luận: nọc ong có tác dụng giảm viêm do có tác dụng giảm nồng độ IL-1, IL-6,<br /> TNF-α và tăng nồng độ IL-10.<br /> * Từ khóa: Nọc ong; Mediator viêm; Viêm khớp bàn chân.<br /> <br /> Anti-inflammatory Effects of Bee Venom in Experimental Arthritis Rat<br /> Summary<br /> Objectives: To access the effects of bee venom on inflammatory mediators on the arthritis<br /> animals. Materials and methods: 60 rats were divided into 6 groups: control group (saline<br /> injection), arthritis group (adjuvant injection) with saline treatment, three arthritis groups with bee<br /> venom treatments (doses: 0.5 mg/kg, 1 mg/kg and 1.5 mg/kg) respectively and arthritis group<br /> with mobic treatment (1 mg/kg), bee venom and mobic were administered in Zusalin<br /> acupuncture point in rat’s hind limb. Results: Complete adjuvant solution (50 µl) injected in rat’s<br /> hind limb (one time) induced increase concentration of IL-6, IL-1 and TNF-α and decrease IL-10<br /> concentration in blood. Bee venom (doses: 0.5 mg/kg, 1 mg/kg and 1.5 mg/kg) and mobic (1 mg/kg)<br /> reduced concentration of IL-6, IL-1 and TNF-α and raised IL-10 concentration in blood after 21<br /> days treatment. The inhibited inflammation mediator effects of 1.5 mg/kg dose is more effective<br /> than to other doses. Conclusion: Bee venom has anti-inflamation effects due to decrease in IL-1,<br /> IL-6, TNF-α concentration and increase in IL-10 concentration in peripheral blood.<br /> * Key words: Bee venom; Inflammatory mediator; Arthritis.<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Theo đông y, nọc ong (Bee Venom) từ<br /> lâu được sử dụng trong điều trị một số<br /> bệnh khá hiệu quả như u bã đậu (mà<br /> <br /> không cần phẫu thuật), cai nghiện ma túy,<br /> viêm khớp…, đã có nhiều nghiên cứu cho<br /> thấy tác dụng chữa bệnh của nọc ong như<br /> sử dụng làm các dạng cao xoa giảm đau,<br /> <br /> * Học viện Quân y<br /> Người phản hồi (Corresponding): Cấn Văn Mão (canvanmao2001@gmail.com)<br /> Ngày nhận bài: 20/01/2017; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 18/03/2017<br /> Ngày bài báo được đăng: 27/03/2017<br /> <br /> 54<br /> <br /> T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 4-2017<br /> chống viêm, cho ong đốt trực tiếp vào các<br /> huyệt tương ứng trên cơ thể… Hiệu quả<br /> chữa bệnh của nọc ong được thể hiện<br /> trên người và đông vật, một số nghiên<br /> cứu cho thấy cơ chế chống viêm của nọc<br /> ong là do một số hợp chất như: enzym<br /> A2 (phospholipases, hyaluronidase…),<br /> các phân tử protein peptid (melittin,<br /> secapin…) và một số chất có phân tử nhỏ<br /> (histamine, dopamine, norepinephrine…)<br /> [5].<br /> Có nhiều mô hình gây viêm khớp trên<br /> động vật thực nghiệm như: gây viêm<br /> khớp bằng adjuvant, carrageenan hay<br /> lipopolysaccharide (LPS), trong đó mô<br /> hình gây viêm khớp sử dụng dung dịch<br /> Freud’s adjuvant đã được nhiều tác giả<br /> áp dụng, đây có thể được coi là mô hình<br /> gây viêm khớp điển hình [2]. Đặc biệt,<br /> trong đánh giá tác dụng chống viêm giảm<br /> đau của nọc ong, mô hình này được sử<br /> dụng rất rộng rãi [7, 8]. Nghiên cứu đánh<br /> giá tác dụng chống viêm giảm đau của<br /> nọc ong được nhiều nhà khoa học trên<br /> thế giới thực hiện với cách thức sử dụng<br /> nọc ong khác nhau trên thực nghiệm như:<br /> tiêm dưới da, tiêm bắp, tiêm thủy châm<br /> huyệt… Tuy nhiên, một số nghiên cứu<br /> trước đây đã chỉ ra sử dụng nọc ong thủy<br /> châm vào các huyệt đạo có kết quả mạnh<br /> hơn các phương pháp khác [8, 10]. Hiện<br /> tại, trong nước chưa thấy có nhiều công<br /> trình nghiên cứu về tác dụng chống viêm<br /> giảm đau của nọc ong trên thực nghiệm<br /> và lâm sàng. Mục đích của nghiên cứu:<br /> Đánh giá tác dụng của nọc ong thủy<br /> châm huyệt Túc tam lý (Zusanli) lên biến<br /> đổi các mediator viêm trong máu động vật<br /> thực nghiệm được gây viêm khớp.<br /> <br /> ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP<br /> NGHIÊN CỨU<br /> 1. Đối tượng nghiên cứu.<br /> - Chuột cống trắng trưởng thành (cân<br /> nặng 150 - 200 g) do từ Ban Cung cấp<br /> Động vật thí nghiệm, Học viện Quân y<br /> cung cấp, chia thành 6 nhóm, mỗi nhóm<br /> 10 con.<br /> - Nhóm chứng: không gây viêm khớp,<br /> điều trị bằng dung dịch NaCl 0,9%.<br /> - Nhóm NaCl: gây viêm khớp, điều trị<br /> bằng dung dịch NaCl 0,9%.<br /> - Nhóm NO.0,5: gây viêm khớp, điều trị<br /> bằng nọc ong liều 0,5 mg/kg.<br /> - Nhóm NO.1: gây viêm khớp, điều trị<br /> bằng nọc ong liều 1 mg/kg.<br /> - Nhóm NO.1,5: gây viêm khớp, điều trị<br /> bằng nọc ong 1,5 mg/kg.<br /> - Nhóm mobic: gây viêm khớp, điều trị<br /> bằng mobic (Boehringer Ingelheim Ellas<br /> A.E, Hy Lạp, myloxicam 7,5 mg) liều<br /> 1 mg/kg.<br /> - Nọc ong được chiết xuất từ ong mật<br /> Apis mellifera, nuôi tại trang trại của ông<br /> Lê Minh Điền, ấp Đồng Nhơn, xã Lương<br /> Quới, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre<br /> bằng thiết bị thu thập nọc dựa trên cơ chế<br /> sốc điện. Chế phẩm được tác chiết và<br /> bảo quản dưới dạng toàn phần, sử dụng<br /> theo đưởng tiêm bắp.<br /> * Hóa chất nghiên cứu:<br /> - Dung dịch complete Freund's adjuvant<br /> (Sigma Aldrich).<br /> - Nọc ong dạng bột.<br /> - Thuốc mobic (Boehinger Ingelheim),<br /> dung dịch NaCl 0,9%.<br /> 55<br /> <br /> T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 4-2017<br /> <br /> Thuốc mobic<br /> <br /> Dung dịch complete Freund's adjuvant<br /> <br /> Hình 1: Thuốc mobic và dung dịch complete Freund's adjuvant.<br /> 2. Phương pháp nghiên cứu.<br /> * Phương pháp gây viêm khớp và sử dụng thuốc, nọc ong điều trị:<br /> - Dung dịch complete Freund's adjuvant (Sigma Aldrich) tiêm liều duy nhất (50 µl)<br /> dưới da vào bàn chân sau bên phải (chuột được gây mê bằng thiopentan) để gây viêm<br /> khớp cổ chân của chuột. Nhóm chứng tiêm nước muối sinh lý liều tương đương vào<br /> cùng vị trí [2].<br /> - Nọc ong ở dạng bột với các liều lượng khác nhau (0,5 mg; 1 mg; 1,5 mg) hòa tan<br /> trong nước muối tiêm vào đúng huyệt Zusanli (Túc tam lý, ở phía dưới gò chày ngoài<br /> gần khớp gối).<br /> - Nước muối sinh lý sử dụng tương ứng với thể tích nọc ong tiêm vào đúng huyệt<br /> Zusanli (Túc tam lý).<br /> - Nọc ong và nước muối sinh lý tiêm vào đúng huyệt Zusanli trong 3 tuần liên tục<br /> (1 lần/ngày).<br /> <br /> Huyệt Túc tam lý (Zusanli)<br /> trên người và chuột cống trắng<br /> <br /> Trên người: Zusanli<br /> <br /> Trên chuột cống: ST36<br /> <br /> Hình 2: Vị trí huyệt Túc tam lý trên người và chuột cống [6].<br /> * Đánh giá mức độ viêm toàn thân định lượng mediator viêm trong máu:<br /> Các cytokine liên quan đến quá trình viêm gồm: TNF-α, IL-1, IL-6 và IL-10 được<br /> đánh giá trong máu ngoại vi trước và sau 21 ngày điều trị. Lấy máu động vật vào cùng<br /> thời điểm trong ngày (8 giờ sáng) và bảo quản trong ống chứa dung dịch chống đông<br /> 56<br /> <br /> T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 4-2017<br /> EDTA. Kỹ thuật ELISA định lượng nồng độ mediator viêm (cytokine) theo quy trình<br /> hướng dẫn của nhà sản xuất, thực hiện tại Bộ môn Sinh lý Bệnh và Trung tâm Nghiên<br /> cứu Y Dược học quân sự, Học viện Quân y.<br /> * Phương pháp thống kê và xử lý số liệu:<br /> Số liệu nghiên cứu được xử lý và thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel 2007 và<br /> phần mềm SPSS version 20. Kết quả nghiên cứu về các thông số mediator viêm các<br /> nhóm gây viêm khớp điều trị bằng nọc ong và mobic được so sánh với nhóm chứng và<br /> nhóm chứng dương gây viêm không điều trị cùng một ngày, sử dụng phân tích<br /> phương sai 1 chiều (one way ANOVA),<br /> KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN<br /> 1. Biến đổi IL-6 trong máu.<br /> <br /> 80<br /> <br /> (pg/ml)<br /> ***<br /> <br /> 60<br /> <br /> ###<br /> ***<br /> <br /> ###<br /> ***<br /> <br /> ###<br /> **<br /> <br /> Nhóm<br /> Nhóm<br /> 3<br /> <br /> Nhóm<br /> Nhóm<br /> 4<br /> <br /> Nhóm<br /> Nhóm<br /> 5<br /> NO.1,5<br /> <br /> ###<br /> <br /> 40<br /> 20<br /> 0<br /> <br /> Nhóm<br /> Nhóm<br /> 1<br /> chứng<br /> <br /> Nhóm2<br /> Nhóm<br /> NaCl<br /> <br /> NO.0,5<br /> <br /> NO.1<br /> <br /> Nhóm<br /> Nhóm<br /> 6<br /> mobic<br /> <br /> Hình 3: Biến đổi IL-6 ở các nhóm chuột.<br /> (***: p < 0,001 **: p < 0,01: so với nhóm chứng, ###: p < 0,001 so với nhóm NaCl)<br /> Nồng độ IL-6 trong máu chuột tăng<br /> cao nhất ở chuột nhóm NaCl (gây viêm<br /> khớp điều trị bằng nước muối) so với các<br /> nhóm khác ở thời điểm 3 tuần sau tiêm<br /> thuốc gây viêm.<br /> IL-6 được sản xuất bởi một loạt các tế<br /> bào, bao gồm tế bào T, B, nguyên bào<br /> sợi, tế bào nội mạc, bạch cầu đơn nhân,<br /> tế bào sừng và một số tế bào khối u. IL-6<br /> là chất trung gian hóa học chính của phản<br /> ứng viêm ở giai đoạn cấp tính, có liên<br /> quan đến sinh bệnh học của nhiều tình<br /> <br /> trạng viêm như: viêm khớp hệ thống tự<br /> phát thiếu niên, bệnh Castleman và bệnh<br /> Crohn. Khả năng ức chế hoạt động của<br /> IL-6 được ứng dụng trong điều trị viêm và<br /> các rối loạn tự miễn dịch. Trong viêm<br /> khớp, nguồn chính tạo nên IL-6 từ tế bào<br /> giống nguyên bào sợi trong khoang khớp<br /> [7]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho<br /> thấy chuột được tiêm dung dịch adjuvant<br /> có nồng độ IL-6 trong máu tăng cao so<br /> với nhóm chứng, chứng tỏ quá trình viêm<br /> đã và đang xảy ra sau 3 tuần tiêm.<br /> 57<br /> <br /> T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 4-2017<br /> Một số tác giả trước đây cũng nhận<br /> thấy các chất có tác dụng ức chế hoạt<br /> động của IL-6 và đồng thời làm giảm tình<br /> trạng sưng đau, giảm phá hủy xương<br /> trong viêm khớp [7, 8]. Nghiên cứu của<br /> chúng tôi, điều trị bằng nọc ong và mobic<br /> làm giảm nồng độ IL-6 trên chuột được<br /> gây viêm khớp bàn chân, chứng tỏ nọc<br /> ong và mobic có tác dụng chống viêm<br /> khớp gây ra do tiêm dung dịch adjuvant.<br /> <br /> Chuột nhóm mobic (gây viêm khớp,<br /> điều trị bằng mobic liều 1 mg/kg) có nồng<br /> độ độ IL-6 trong máu thấp nhất và nhóm<br /> NO.1,5 (gây viêm khớp, điều trị bằng nọc<br /> ong liều 1,5 mg/kg) có chỉ số này thấp<br /> hơn các nhóm còn lại. Điều này chứng tỏ<br /> khả năng chống viêm qua cơ chế ức chế<br /> IL-6 của mobic (liều 1 mg/kg) mạnh nhất<br /> và nọc ong liều 1,5 mg/kg cao hơn so với<br /> nọc ong liều 0,5 mg/kg và 1 mg/kg.<br /> <br /> 2. Biến đổi nồng độ IL-10 trong máu.<br /> <br /> (pg/ml)<br /> 40<br /> <br /> ###<br /> ***<br /> <br /> 35<br /> 30<br /> <br /> ###<br /> ***<br /> <br /> ###<br /> **<br /> <br /> ###<br /> <br /> 25<br /> 20<br /> <br /> ***<br /> <br /> 15<br /> 10<br /> 5<br /> 0<br /> <br /> Nhóm<br /> Nhóm 1<br /> chứng<br /> <br /> Nhóm<br /> Nhóm 2 Nhóm<br /> Nhóm 3<br /> NO.0,5<br /> NaCl<br /> <br /> Nhóm<br /> Nhóm 4 Nhóm<br /> Nhóm 5 Nhóm<br /> Nhóm 6<br /> NO.1,5<br /> mobic<br /> NO.1<br /> <br /> Hình 4: Biến đổi IL-10 ở các nhóm chuột.<br /> (***: p < 0,001 **: p < 0,01: so với nhóm chứng, ###: p < 0,001 so với nhóm NaCl)<br /> Nồng độ IL-10 trong máu chuột giảm<br /> thấp nhất ở chuột nhóm NaCl (gây viêm<br /> khớp điều trị bằng nước muối) so với các<br /> nhóm khác ở thời điểm 3 tuần sau tiêm<br /> thuốc gây viêm.<br /> IL-10 là cytokine chống viêm, do tế<br /> bào lympho T, lympho B đã hoạt hóa và<br /> tế bào mono tiết ra [3]. IL-10 được chứng<br /> minh xuất hiện muộn so với TNF-α. Chức<br /> năng sinh học của IL-10 là kích thích tế<br /> bào lympho B phát triển và sản xuất<br /> kháng thể, kích thích tế bào Mast, ức chế<br /> hoạt tính của tế bào trình diện kháng<br /> 58<br /> <br /> nguyên, giảm trình diện kháng nguyên.<br /> Nó có tác dụng ức chế sản xuất cytokine<br /> tiền viêm IL-1, IL-6, IL-8, TNF-α... thông<br /> qua ức chế các tế bào sinh ra chúng.<br /> Nghiên cứu của một số tác giả trước đây<br /> cho thấy trên chuột khuyết thiếu IL-10,<br /> quá trình viêm khớp được tạo ra bằng<br /> dung dịch adjuvant hoặc collagen sẽ trở<br /> nên nặng hơn, có nhiều phá hủy hơn [3].<br /> Kết quả nghiên cứu này cho thấy sau 3<br /> tuần gây viêm bằng dung dịch adjuvant<br /> gây giảm nồng độ IL-10 nên dẫn đến quá<br /> trình viêm tiến triển mạnh.<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản