intTypePromotion=1
ADSENSE

Đánh giá tâm bệnh thanh thiếu niên bằng APS – SF

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

19
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Về mặt tâm lí, lứa tuổi thanh thiếu niên là giai đoạn có những rối loạn nhất định. Một trong những trắc nghiệm được sử dụng để đánh giá tâm bệnh của trẻ là trắc nghiệm APS-SF (Adolescent Psychopathology Scale - Short Form), được thiết kế ngắn gọn, có tiêu chuẩn hợp lệ và có tính thực tiễn cao, với 115 item đo được nhiều rối nhiễu về tâm lí trên một cá nhân hoặc nhóm về vấn đề học tập hay hành vi. Công trình nghiên cứu "Đánh giá tâm bệnh thanh thiếu niên bằng APS – SF" thể hiện kết quả thực nghiệm với 300 khách thể ở một số trường phổ thông ở Hà Nội và Ninh Bình.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đánh giá tâm bệnh thanh thiếu niên bằng APS – SF

  1. KỈ YẾU HỘI NGHỊ SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2013-2014 ĐÁNH GIÁ TÂM BỆNH THANH THIẾU NIÊN BẰNG APS – SF Tập thể lớp K61B, Khoa Tâm lí - Giáo dục GVHD: ThS. Phạm Thanh Bình Tóm tắt: Về mặt tâm lí, lứa tuổi thanh thiếu niên là giai đoạn có những rối loạn nhất định. Một trong những trắc nghiệm được sử dụng để đánh giá tâm bệnh của trẻ là trắc nghiệm APS-SF (Adolescent Psychopathology Scale - Short Form), được thiết kế ngắn gọn, có tiêu chuẩn hợp lệ và có tính thực tiễn cao, với 115 item đo được nhiều rối nhiễu về tâm lí trên một cá nhân hoặc nhóm về vấn đề học tập hay hành vi. Công trình thể hiện kết quả thực nghiệm với 300 khách thể ở một số trường phổ thông ở Hà Nội và Ninh Bình. Từ khoá: Trắc nghiệm APS – SF, công cụ đánh giá tâm lí, thanh thiếu niên. I. MỞ ĐẦU 1. Về mặt lí luận Tuổi thanh thiếu niên là lứa tuổi có nhiều biểu hiện bồng bột, nhất thời, buồn vui vô cớ, tính khí nắng mƣa thất thƣờng, cƣ xử nông nổi, hay làm phức tạp hóa mọi vấn đề… Đồng thời, lứa tuổi này có khả năng gặp nhiều “rủi ro”, vì các em chƣa đủ kiến thức và kinh nghiệm sống để tự giải quyết đƣợc những vấn đề của mình, nhƣng lại luôn muốn khẳng định bản thân nhƣ một ngƣời từng trải và bản lĩnh. Về mặt tâm lí, lứa tuổi thanh thiếu niên là giai đoạn có những rối loạn nhất định. Đời sống của thanh thiếu niên nhiều khi chứa đựng không ít điều kỳ dị, một em có thể gia nhập băng nhóm, lao vào các tệ nạn, hoặc gặp các vấn đề tâm bệnh khác nhau... Vấn đề tâm bệnh không chỉ có nguyên nhân từ khủng hoảng của lứa tuổi thanh thiếu niên mà còn do nguyên nhân từ di truyền hay những khủng hoảng thời thơ ấu nhƣng không đƣợc phát hiện sớm, để lại những hậu quả khi lớn lên, ảnh hƣởng đến sức khỏe cũng nhƣ sự phát triển của trẻ. Theo định nghĩa về sức khỏe của tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải chỉ là không có bệnh hay không có tật”. Thực tế, hầu nhƣ không ai đạt đƣợc lý tƣởng này. Đặc biệt đối với ngƣời Việt Nam, đa phần thƣờng quan niệm: Khỏe mạnh, bình thƣờng là không có bệnh tật, không ốm yếu... Nhƣ vậy mới chỉ nói đến một khía cạnh nhỏ của sức khỏe đó là sức khỏe thể chất-sinh học. Vì vậy mà trẻ em thƣờng không đƣợc chẩn đoán các vấn đề sức khỏe tâm thần từ nhỏ để kịp thời khắc phục. Tâm bệnh là các rối loạn về chức năng của não bộ, gây ra những thay đổi về suy nghĩ, nhận biết, tâm trạng, tính tình hoặc hành vi của ngƣời bệnh. Các thay đổi này không phù hợp với quan niệm bình thƣờng của mọi ngƣời. Những dấu hiệu của tâm bệnh không đƣợc phát hiện để ngăn ngừa và can thiệp kịp thời sẽ dẫn đến những hậu quả đáng tiếc cho các em. Vì vậy, việc đánh giá tâm bệnh là rất quan trọng trong quá trình phát triển của trẻ. Một trong những trắc nghiệmđƣợc sử dụng để đánh giá tâm bệnh của trẻ là trắc nghiệm APS-SF (Adolescent Psychopathology Scale - Short Form) đƣợc rút gọn từ trắc nghiệm APS. Đây là một trắc nghiệmđƣợc thiết kế ngắn gọn, có tiêu chuẩn hợp lệ và có tính thực tiễn cao, với 115 item đo đƣợc nhiều rối nhiễu về tâm lítrên một cá nhân hoặc nhóm về vấn đề học tập hay hành vi. Ngoài việc kiểm định trắc nghiệmAPS-SF, nghiên cứu muốn giúp các nhà tâm líhọc đƣờng trong việc sàng lọc, phát hiện và chẩn đoán bệnh học tâm lícủa học sinh 286
  2. KỈ YẾU HỘI NGHỊ SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2013-2014 2. Về mặt thực tiễn Hiện nay, số thanh thiếu niên mắc các chứng về tâm bệnh ngày càng gia tăng và có nguy cơ trẻ phạm tội ngày càng lớn và nghiêm trọng. Theo trung tâm Nghiên cứu tội phạm học và phòng ngừa tội phạm (Học viện Cảnh sát nhân dân) đã nghiên cứu về tội phạm giết ngƣời trong giai đoạn từ tháng 1-2009 đến 9-2010 ở 4000 phạm nhân đang thụ án tại 4 trại giam thuộc Bộ Công an quản lí. Kết quả cho thấy: 14% đối tƣợng có độ tuổi từ 14 - dƣới 18, 41% có độ tuổi từ 18 - dƣới 30, 34% có độ tuổi từ 30 - dƣới 45,8% các độ tuổi còn lại. Còn theo kết quả điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam năm 2008 cũng cho thấy, trong hơn 10.000 thanh thiếu niên thì trên 73% ngƣời từng có cảm giác buồn chán, hơn 4% từng nghĩ đến chuyện tử tự. So với số liệu cuộc điều tra trƣớc đó vào năm 2003, các chuyên gia nhận thấy tỉ lệ thanh thiếu niên trải qua cảm giác buồn chán đã tăng lên. Đáng chú ý, tỉ lệ nghĩ đến chuyện tự tử tăng lên khoảng 30%. Đó là những con số báo động và chiếm tỉ lệ ngày càng cao trong cơ cấu tội phạm. Để cải thiện trực trạng đó, ngoài sự vào cuộc của các cơ quan chức năng thì đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của gia đình, nhà trƣờng, gia đình và xã hội trong việc quản lí, giáo dục trẻ vị thành niên nhắm tạo cho con em có chỗ dựa vững chắc để bƣớc vào đời một cách trọn vẹn theo đúng nghĩa. Từ lí luận và thực tiến trên, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài “Đánh giá tâm bệnh thanh thiếu niên bằng trắc nghiệm APS-SF”. II. NỘI DUNG 1. Giới thiệu về trắc nghiệm APS-SF (1) Trắc nghiệm tâm bệnh thanh thiếu niên-mẫu ngắn là bộ trắc nghiệm để tìm hiểu, đo lƣờng và đánh giá về: những hành vi xã hội, tình cảm, những thông tin về sức khỏe tâm thần, những rỗi nhiễu của thanh thiếu niên. Từ đó giúp các chuyên gia, các bác sĩ nhận dạng sớm các vấn đề về sức khỏe tâm thần, các rối nhiễu của thanh thiếu niên để có cách can thiệp sớm và hiệu quả. (2) Trắc nghiệm tâm bệnh thanh thiếu niên - mẫu ngắn bao gồm 12 trắc nghiệm lâm sàng và 2 trắc nghiệm giá trị. Các nội dung của thang đo: rỗi nhiễu đạo đức, rỗi nhiễu ƣơng bƣớng và chống đối, rỗi nhiễu, rỗi nhiễu lạm dụng chất kích thích, thiên hƣớng tức giận/ bạo lực, rỗi nhiễu lo âu lan tỏa, rỗi nhiễu căng thẳng sau sang chấn, trầm cảm nặng, rối nhiễu ăn uống, tự tử, tự đánh giá, các vấn đề về học tập, vấn đề liên nhân cách, tính phòng vệ, tính nhất quán. (3) Các câu hỏi của phiếu trắc nghiệm đƣợc thiết kế dựa theo các rỗi nhiễu trong trắc nghiệm hƣớng dẫn chẩn đoán và thống kê các triệu chứng rỗi nhiễu tâm thần (DSM-IV): Rối nhiễu lo âu, rối nhiễu đạo đức, trầm cảm nặng, rối nhiễu căng thẳng sau chấn thƣơng, rối nhiễu ƣơng bƣớng và chống đối, và rối nhiễu lạm dụng chất gây nghiện. Sáu trắc nghiệm lâm sàng APS-SF khác không liên quan đến rối nhiễu trong DSM-IV. Tuy nhiên, chúng đánh giá các lĩnh vực quan trọng về các vấn đề tâm líxã hội của tuổi vị thành niên. Tính phòng vệ và tính nhất quán là hai trắc nghiệm chứng tỏ giá trị của bộ trắc nghiệm. (4) Phiếu trắc nghiệm của trắc nghiệm tâm bệnh thanh thiếu niên bao gồm 115 câu hỏi. Sử dụng với đối tƣợng: thanh thiếu niên từ 12- 19 tuổi tại các trƣờng học, tại các cơ sở cải huấn. (5) APS-SF là trắc nghiệm đƣợc rút gọn từ trắc nghiệm APS. Nội dung của trắc nghiệm đƣợc thiết kế dựa trên nội dung của trắc nghiệm hƣớng dẫn chẩn đoán và thống kê các triệu chứng rỗi nhiễu tâm thần (DSM-IV). (6) Đặc điểm của APS: Số lƣợng câu lớn, thời gian làm dài. + Gồm 346 mục. 287
  3. KỈ YẾU HỘI NGHỊ SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2013-2014 + Thời gian làm: 45- 60 phút + Nội dung bao gồm: 40 thang đo. (7) APS đã đƣợc yêu cầu rút gọn cho phù hợp. APS đƣợc rút gọn bằng cách: Một số trắc nghiệm có nội dung tƣơng đồng đƣợc kết hợp lại và một số nội dung đã đƣợc sửa đổi tạo nên một trắc nghiệm tổng quát và toàn diên, thời gian ngắn hơn, độ bao quát rộng, số lƣợng câu hỏi ngắn gọn hơn. Ví dụ: + Trắc nghiệm về chứng biếng ăn và trắc nghiệm về chứng ăn vô độ trong thang APS, với số câu hỏi cho 2 trắc nghiệm là 17, đƣợc kết hợp tạo nên trắc nghiệm về rối nhiễu trong ăn uống (EAT) trong APS-SF với số câu hỏi là 8. + Trắc nghiệm tức giận và trắc nghiệm sự tấn công trong APS, với số câu hỏi cho hai trắc nghiệm là 19,đƣợc kết hợp tạo nên trắc nghiệm về thiên hƣớng tức giận bạo lực trong APS-SF. Với số câu hỏi là 14. (8) Độ tin cậy của thang đo: + Phiên bản ban đầu APS đã đƣợc xem xét kĩ lƣỡng bởi một nhóm các chuyên gia, sau đó có sự thử nghiệm thực tế với một mẫu nhỏ “thanh thiếu niên nội trú và ngoại trú”. Các mục, ý nghĩa cụ thể của các mục, nội dung giá trị của các mục đó đƣợc xem xét kĩ lƣỡng bởi các chuyên gia. + Sau đó, một mẫu gồm chín thanh thiếu niên sẽ đƣợc rút ra khỏi mẫu nhỏ đã hoàn thành phiên bản đặc biệt này, sau đó họ sẽ đƣợc phỏng vấn về tính toàn diện của các mục và hƣớng dẫn. Các mục này sau đó đƣợc giảm hoặc sửa đổi cho phù hợp. + Trong khi lựa chọn trắc nghiệm để đƣa vào APS- SF, một cuộc khảo sát yêu cầu thông tin về trắc nghiệm hợp lí nhất đã gửi tới hơn 1.000 nhà tâm líhọc và các chuyên gia sức khỏe tâm thần. Tiêu chuẩn, cấu trúc và sự xác nhận có đủ giá trị của trắc nghiệm đánh giá tâm bệnh thanh thiếu niên (mẫu ngắn) bao gồm các mẫu tiêu chuẩn của hơn 3.300 cá nhân từ các trƣờng học và bệnh nhân nội trú và ngoại trú vị thành niên từ các điểm lâm sàng. + Tổng số mẫu dùng để nghiên cứu tại các trƣờng là 2.834 thanh thiếu niên cƣ trú tại tám bang Arizona, California, Georgia, Michigan, Minnesota, Texas, Wisconsin và Washington. Mẫu đƣợc thay đổi theo các đặc điểm nhƣ: Tình trạng kinh tế xã hội, dân tộc, giới tính, lớp và nơi cƣ trú (đô thị, ngoại ô, nông thôn hoặc trang trại). Các mẫu lâm sàng đã đƣợc tạo thành từ 506 thanh thiếu niên từ 22 tiểu bang và 31 cơ sở y tế. + Sau khi đƣợc xử lí các mẫu thử nghiệm xác định, APS-SF đã đƣợc nghiên cứu trên một mẫu chuẩn là 1827 học sinh. Cụ thể: nam (n = 900), nữ ( n = 927), thanh thiếu niên từ 12 đến 14 tuổi (n = 749), thanh thiếu niên 15-19 tuổi (n = 1076), nhóm giới tính theo độ tuổi cũng nằm trong mẫu này. 2. Kết quả nghiên cứu thực trạng 2.1. Vài nét về khách thể và địa bàn nghiên cứu 2.1.1. Khách thể nghiên cứu - Khách thể (sau đây đƣợc gọi là nghiệm thể vì tham gia vào việc thực hiện trắc nghiệm APS-SF) chúng tôi lựa chọn nghiên cứu bao gồm thanh thiếu niên là học sinh, sinh viên thuộc 3 cấp học: Học sinh THCS (từ 12-15 tuổi), Học sinh THPT (từ 16-18 tuổi), Sinh viên năm nhất (19 tuổi) trên hai địa bàn Hà Nội và Ninh Bình. 288
  4. KỈ YẾU HỘI NGHỊ SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2013-2014 - Trên lí thuyết, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 600 nghiệm thể, tuy nhiên, trong quá trình thu thập và xử lí phiếu, chỉ có 559 phiếu hợp lệ : trong đó có 208 nam và 351 nữ. Hà Nội có 276 ngƣời trong đó có 109 nam và 167 nữ. Ninh Bình có 283 trong đó có 99 nam và 184 nữ. 2.1.2. Địa bàn nghiên cứu Đề tài đƣợc tiến hành nghiên cứu ở Hà Nội và Ninh Bình. Cụ thể: + Tại Hà Nội: 300 khách thể đƣợc nghiên cứu bao gồm 200 học sinh cấp 2, 3 - Trƣờng Nguyễn Bỉnh Khiêm – Cầu Giấy – Hà Nội và 100 sinh viên năm thứ nhất – Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội. + Tại Ninh Bình: 300 khách thể đƣợc nghiên cứu bao gồm 100 học sinh Trƣờng THCS Yên Mạc, Yên Mô; 100 học sinh Trƣờng THPT Tạ Uyên – Yên Mô; 100 sinh viên Trƣờng Đại học Hoa Lƣ – Ninh Bình. 2.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng tâm bệnh của thanh thiếu niên bằng APS-SF Quá trình nghiên cứu tâm bệnh học của thanh thiếu niên bằng trắc nghiệm APS- SF tại hai địa bàn Hà Nội và Ninh Bình đƣợc thực hiện trên 3 đối tƣợng: học sinh THCS, học sinh THPT, sinh viên Cao đẳng - Đại học năm nhất. Kết quả thu đƣợc đƣợc thể hiện ở biểu đồ sau: Biểu đồ 1. Thực trạng tâm bệnh của thanh thiếu niên qua trắc nghiệm APS-SF Trong đó: 1. Thang đo rối loạn hạnh kiểm 7. Thang đo Rối loạn căng thẳng hậu 2 .Thang đo chống đối xã hội chấn thƣơng (PTS) 3. Thang đo rối loạn lạm dụng chất kích thích 8. Thang Trầm cảm nặng 4. Thang đo thiên hƣớng tức giận/ bạo lực 9. Thang rối loạn ăn uống (EAT) 5. Thang đo các vấn đề học tập 10. Thang đo tự tử 6. Thang đo Rối loạn lo âu 11. Thang đo tự đánh giá 12. Thang đo vấn đề liên cá nhân 289
  5. KỈ YẾU HỘI NGHỊ SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2013-2014 Kết quả thu đƣợc từ bảng số liệu và biểu đồ cho thấy: Tiến hành đo lƣờng trên 12 thang đo, kết quả các thang đo đều cho tỉ lệ nghiệm thể ở mức Bình thƣờng (BT) và lớn hơn 50% (chiếm phần trăm lớn nhất trong 5 mức độ). Tiếp đến là các mức Cận lâm sàng (CLS), Lâm sàng nhẹ (LSNh) và Lâm sàng trung bình (LSTB). Tỉ lệ nghiệm thể đạt mức Lâm sàng nặng (LSN) là rất nhỏ (từ 0%-2%). Thang rối loạn lạm dụng chất kích thích có tỉ lệ nghiệm thể đạt tỉ lệ mức độ bình thƣờng cao nhất trong 12 thang (94.3%). Có 4 thang đo: Thang đo vấn đề học tập (62.8%); thang đo rối loạn lo âu (63,5%), thang đo rối loạn căng thẳng hậu chấn thƣơng (58.5%), thang đo vấn đề liên cá nhân (65.5%) là các thang đo có tỉ lệ nghiệm thể đạt mức độ BT thấp nhất. Nhƣ vậy: phần lớn thanh thiếu niên trong mẫu nghiên cứu khi đo bằng thang đo này đều ở mức độ BT (không có những biểu hiện, triệu chứng cần phải can thiệp). Tuy nhiên, vẫn còn một tỉ lệ nhỏ thanh thiếu niên đang cần phải trợ giúp và can thiệp sâu. Tỉ lệ thanh thiếu niên có dấu hiệu triệu chứng Lâm sàng bình thƣờng (LSTB) và nặng rất thấp. Những đối tƣợng này rất cần sự trợ giúp từ các chuyên viên tâm lí học trƣờng học. 2.3. Kết quả đánh giá tâm bệnh của thanh thiếu niên theo từng thang đo 2.3.1. Thang đo rối loạn hạnh kiểm THANG RỐI LOẠN HẠNH KIỂM 1% 5% 6% Bình Thường 9% Cận Lâm Sàng Lâm sáng nhẹ Lâm sàng TB 79% Lâm sàng nặng Biểu đồ 2. Biểu đồ số liệu thang rối loạn hạnh kiểm của TTN cả 2 tỉnh 2.3.2. Thang đo chống đối xã hội Thang đo chống đối xã hội 100 80 60 40 20 0 Trung Bình Cận lâm sàng Lâm sàng nhẹ Lâm sàng Tb Lâm sàng nặng Biểu đồ 3. Về thang đo chống đối xã hội 2.3.3. Thang đo rối loạn lạm dụng chất kích thích 290
  6. KỈ YẾU HỘI NGHỊ SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2013-2014 Thang đo rối loạn lạm dụng chất kích thích (SUB) bao gồm chín mục với các đánh giá về: rƣợu, thuốc kích thích, ma túy, gây ảo giác, thôi miên, thuốc để hít, cần sa, thuốc an thần, lạm dụng thuốc giải lo âu. Mỗi câu hỏi cho một chất. Rƣợu đƣợc đánh giá bởi hai câu hỏi về việc sử dụng của bia và rƣợu mạnh. Các chất này đƣợc đánh giá với tần số sử dụng trong vòng 6 tháng qua: không bao giờ, vài lần một tháng, mỗi tuần một lần, vài lần một tuần, gần nhƣ mỗi ngày. Kết quả nghiên cứu theo thang đo này trên thanh thiếu niên chúng tôi thu đƣợc biểu đồ: Biểu đồ 4. Về thang đo rối loạn lạm dụng chất kích thích 2.3.4. Thang đo thiên hướng tức giận/ bạo lực Biểu đồ 5. Về thang đo thiên hướng tức giận/bạo lực 2.3.5. Thang đo các vấn đề học tập Biểu đồ 6. Về thang các vấn đề học tập Thang đo Rối loạn lo: 291
  7. KỈ YẾU HỘI NGHỊ SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2013-2014 Biểu đồ 7. Về thang đo Rối loạn lo Nhận xét chung: Kết quả từ thang đo rối loạn lo âu cho thấy, phần đông TTN ở mức BT. Tuy nhiên vẫn còn một tỉ lệ không nhỏ TTN ở mức nguy cơ, có vấn đề về tâm bệnh, đặc biệt là số TTN đạt mức từ LSNh đến LSN ở Hà Nội đều nhiều hơn ở Ninh Bình. Các em có thể đang phải đối mặt với nhiều vấn đề gây lo âu căng thẳng trong cuộc sống. 2.3.6. Thang đo Rối loạn căng thẳng hậu chấn thương (PTS) Biểu đồ 8. Về thang rối loạn căng thẳng hậu chấn thương 2.3.7. Thang trầm cảm nặng Thang Trầm cảm nặng (DEP) 80 71,9 60 40 20 15,2 7,3 4,7 0 0,7 Trung Bình Cận Lâm Sàng Lâm Sàng Nhẹ Lâm SÀng Trung BìnhLâm Sàng Nặng Biểu đồ 9. Kết quả thang trầm cảm nặng Nhận xét chung: Kết quả thang đo trầm cảm nặng cho thấy phần lớn các nghiệm thể đều đang ở mức BT chỉ có một số ít là có dấu hiệu trầm cảm, giữa các cấp bậc thì tỉ lệ ở các mức độ có sự tƣơng đƣơng nhau. Tuy nhiên, ở Hà Nội tỉ lệ có dấu hiệu triệu chứng ở một số mức 292
  8. KỈ YẾU HỘI NGHỊ SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2013-2014 độ cao hơn Ninh Bình ở trên cả 3 cấp, đặc biệt là cấp THPT có tỉ lệ TTN ở mức độ CLS trở lên (có dấu hiệu) có khoảng 40%. Đây là một điểm đáng lƣu ý và cần đƣợc các nhà tâm líquan tâm, các nhà giáo dục, các giáo viên và các nhà hữu trách lƣu tâm. 2.3.8. Thang rối loạn ăn uống (EAT) Thang 10 Rối loạn ăn uống (EAT) 80 69 60 40 20 9,8 11,98 6,97 0 1,3 Bình Thường Cận Lâm Sàng Lâm Sàng Nhẹ Lâm Sàng Trung Lâm Sàng Nặng Bình Biểu đồ 10. Về thang 10 rối loạn ăn uống Nhận xét chung: Từ kết quả trên cho thấy, trong thang đo rối loạn ăn uống này, hầu hết các TTN đều đang ở mức BT. Tuy nhiên vẫn còn một số ít TTN vẫn có dấu hiệu rối loạn ăn uống, đặc biệt là trên địa bàn Hà Nội. Đây là một điều mà các nhà tâm lícần xem xét và quan tâm. 2.3.9. Thang đo tự tử THANG TỰ TỬ 2% 4% 7% Bình Thường 7% Cận lâm sàng Lâm sàng nhẹ Lâm sàng TB 80% Lâm sàng nặng Biểu đồ 11. Về thang đo tự tử Nhận xét chung: Kết quả từ thang đo tự tử cho thấy, đa số TTN ở mức BT. Tuy nhiên, trong cấp THPT Hà Nội có tỉ lệ đáng báo động TTN ở mức LSTB và LSN, tức có vấn đề tâm bệnh. Đây là điều đáng quan tâm của các nhà tâm líhọc đƣờng, các nhà giáo dục cả nƣớc nói chung và Hà Nội nói riêng trong việc trợ giúp TTN vƣợt qua và ứng phó với tình trạng tâm bệnh hiện tại. 2.3.10. Thang đo tự đánh giá 293
  9. KỈ YẾU HỘI NGHỊ SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2013-2014 THANG TỰ ĐÁNH GIÁ 100 80 79,8 60 40 20 10,7 7,7 6,1 0 0,4 Bình Thường Cận lâm sàng Lâm sàng nhẹ Lâm sàng TB Lâm sàng nặng Biểu đồ 12. Về thang tự đánh giá Nhận xét chung: Kết quả từ thang đotự đánh giá cho thấy, đa số TTN ở mức BT, tỉ lệ ở mức LSTB và LSN khá thấp. Tuy nhiên, đó vẫn là những con số thể hiện sự lo ngại nhất định về TTN ở mức nguy cơ, có vấn đề tâm bệnh. Đây cũng là điều đáng quan tâm của các nhà tâm líhọc đƣờng, các nhà giáo dục, dạy học trong việc trợ giúp TTN vƣợt qua và ứng phó với tình trạng tâm bệnh hiện tại. 2.3.11. Thang đo vấn đề liên cá nhân Biểu đồ 13. Về thang đo vấn đề liên cá nhân III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Sau quá trình nghiên cứu đánh giá tâm bệnh thanh thiếu niên bằng APS-SF ta thấy rằng đa số nghiểm thể đạt mức độ bình thƣờng (không có dấu hiệu triệu chứng lâm sàng) và chỉ có một tỉ lệ nhỏ các nghiệm thể ở mức CLS, LSNh, LSTB, LSN. Những số liệu này vô cùng có ý nghĩa đối với những cán bộ TLHTH, nó là một kênh thông tin giúp cán bộ TLHTH có thể sàng lọc tìm ra những đối tƣợng có vấn đề và cần phải hỗ trợ, can thiệp. Đề tài đã góp phần lớn trong việc kiểm định trắc nghiệm APS-SF trong việc đánh giá tâm bệnh thanh thiếu niên, từ đó làm nền tảng cho việc tiến hành chuẩn hóa trắc nghiệmAPS-SF tại Việt Nam. 294
  10. KỈ YẾU HỘI NGHỊ SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM HỌC 2013-2014 Qua việc đánh giá thực trạng các vấn đề tâm bệnh của thanh thiếu niên bằng trắc nghiệm APS-SF, chúng tôi đề xuất biện pháp hỗ trợ để giải quyết những rỗi nhiễu tâm lí này ở các học sinh. 2. Kiến nghị 2.1. Với các nhà TLHTH - Các cán bộ TLHTH cần hỗ trợ, can thiệt kịp thời đối với các nghiệm thể có những triệu chứng lâm sàng. Tuy tỉ lệ này rất nhỏ nhƣng nếu không kịp thời hỗ trợ nó có thể ảnh hƣởng lớn đến tƣơng lai các cá nhân đó. - Ngoài việc thu thập thông tin, thu thập dữ liệu của học sinh bằng quan sát, phỏng vấn cha mẹ, bạn bè, giáo viên...Cán bộ tâm líhọc trƣờng học cần có những công cụ hỗ trợ khác nhƣ bộ trắc nghiệm APS-SF để có thể thu đƣợc những thông tin chính xác hơn và bổ trợ cho những thông tin đã có từ trƣớc. - Khi nghiên cứu ta thấy có đến hơn 50% các nghiệm thể đạt mức độ bình thƣờng trên cả 12 thang. Tuy nhiên các NTLHTH không nên chủ quan mà bỏ qua các đối tƣợng này. Họ có thể xây dựng các chƣơng trình phòng ngừa để giúp các đối tƣợng này có thêm những kĩ năng hiểu biết để giúp mình tránh khỏi những căng thẳng. 2.2. Với các cơ quan giáo dục - Các cơ quan giáo dục cần hợp tác với cán bộ TLHTH thực hiện các chƣơng trình phòng ngừa cũng nhƣ những can thiệt, hỗ trợ trực tiếp để giúp các học sinh có thể phát triển toàn diện hơn. - Các cơ quan giáo dục cần đầu tƣ các công cụ hỗ trợ trong qua trình làm việc của cán bộ tâm líhọc đƣờng để giúp nâng cao hiệu quả của công việc. - Cần phải tuyển dụng các cán bộ TLHTH vào trong trƣờng học để họ có thể giúp đỡ các em học sinh cũng nhƣ giúp đỡ nhà trƣờng cũng phát triển toàn diện và bền vững. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Dƣơng Diệu Hoa (chủ biên), Giáo trình Tâm lí học phát triển, NXB Đại học Sƣ phạm, 2008. [2] Nguyễn Công Khanh, Phương pháp thiết kế công cụ, đo lường và đánh giá trong giáo dục, NXB Đại học Sƣ phạm, 2009. [3] Nguyễn Công Khanh, Đánh giá và đo lường trong khoa học xã hội, NXB Chính Trị Quốc Gia, 2004. [4] Nguyễn Văn Nuôi, Phạm Văn Trụ, Lê Quốc Nam, Lƣơng Mạnh Dũng (Biên dịch), Sổ tay thống kê và chẩn đoán các rỗi loạn tâm thần rút gọn-IV, Bệnh viện tâm thần Tp Hồ Chí Minh, 2000. [5] Nguyễn Thị Nhƣ Mai, Tâm bệnh học trẻ em lứa tuổi mầm non, NXB Đại học Sƣ phạm, 2011. [6] Nguyễn Văn Siêm, Tâm bệnh học trẻ em và thanh thiếu niên, NXB Đại học Quốc Gia. [7] http://diginole.lib.fsu.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1316&context=etd [8] http://www.ajol.info/index.php/sajpsyc/article/viewFile/68842/56919 295
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2