intTypePromotion=1

Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất bền vững tại xã Mỹ Yên, huyện Đại từ, tỉnh Thái Nguyên

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
42
lượt xem
3
download

Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất bền vững tại xã Mỹ Yên, huyện Đại từ, tỉnh Thái Nguyên

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mỹ Yên là một xã miền núi nằm ở phía Tây Nam huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên cách trung tâm huyện 10 km, tổng diện tích tự nhiên của xã là 3392,60 ha và chủ yếu là đất đồi núi, địa hình bị chia cắt, nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chính. Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Mỹ Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên có ý nghĩa quan trọng cho việc lựa chọn các loại hình sử dụng đất phù hợp nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất bền vững tại xã Mỹ Yên, huyện Đại từ, tỉnh Thái Nguyên

Trần Thị Mai Anh và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 107(07): 135 - 141<br /> <br /> ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ<br /> SỬ DỤNG ĐẤT BỀN VỮNG TẠI XÃ MỸ YÊN, HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN<br /> Trần Thị Mai Anh1, Nguyễn Thị Thu Hồng1,<br /> Hoàng Văn Hùng1*, Bùi Thanh Hải2<br /> 2<br /> <br /> 1<br /> Trường ĐH Nông Lâm - ĐH Thái Nguyên<br /> Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Mỹ Yên là một xã miền núi nằm ở phía Tây Nam huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên cách trung tâm<br /> huyện 10 km, tổng diện tích tự nhiên của xã là 3392,60 ha và chủ yếu là đất đồi núi, địa hình bị<br /> chia cắt, nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chính. Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp<br /> nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Mỹ Yên, huyện Đại Từ, tỉnh<br /> Thái Nguyên có ý nghĩa quan trọng cho việc lựa chọn các loại hình sử dụng đất phù hợp nhằm<br /> tăng hiệu quả sử dụng đất. Kết quả nghiên cứu cho thấy: toàn xã có 6 loại hình sử dụng đất (LUT)<br /> khác nhau, trong đó nhiều loại hình mang lại hiệu quả kinh tế cao bao gồm: loại hình sử dụng đất<br /> lúa – màu, 2 lúa – màu. Đây là hai loại hình sử dụng đất có nhiều tiềm năng và có thể đem nhiều<br /> triển vọng nhất cho xã, đặc biệt là cây rau. Kết quả nghiên cứu là hướng tiếp cận quan trọng cho<br /> việc lựa chọn các loại hình sử dụng đất có hiệu quả cho khu vực.<br /> Từ khóa: LUT, giải pháp, Mỹ Yên, nâng cao hiệu quả, sử dụng đất bền vững, thực trạng.<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ*<br /> Nông nghiệp là hoạt động sản xuất cổ nhất và<br /> cơ bản nhất của loài người. Hầu hết các nước<br /> trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh<br /> tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào<br /> khai thác các tiềm năng của đất, lấy đó làm<br /> bàn đạp phát triển các ngành khác[3]. Vì vậy<br /> việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai<br /> hợp lý, có hiệu quả theo quan điểm sinh thái<br /> bền vững đang trở thành vấn đề toàn cầu.<br /> Trong những năm qua nền nông nghiệp nước<br /> ta đã đạt được những thành tựu quan trọng,<br /> góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội của đất<br /> nước. Nông nghiệp cơ bản đã chuyển sang<br /> sản xuất hàng hóa, phát triển tương đối toàn<br /> diện và đạt được những thành tựu quan trọng.<br /> Sản xuất nông nghiệp không những đảm bảo<br /> an toàn lương thực quốc gia mà còn mang lại<br /> nguồn thu cho nền kinh tế với việc tăng hàng<br /> hóa nông sản xuất khẩu [2].<br /> Sự suy giảm về diện tích đất nông nghiệp do<br /> quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ,<br /> trong khi khả năng khai hoang đất mới lại rất<br /> hạn chế [6]. Do vậy, việc đánh giá tiềm năng<br /> đất đai để sử dụng hợp lý theo quan điểm sinh<br /> *<br /> <br /> Tel: 0989.372.386; Email: hvhungtn74@yahoo.com<br /> <br /> thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn<br /> đề cấp thiết với mỗi quốc gia, nhằm duy trì<br /> sức sản xuất của đất đai cho hiện tại và cho<br /> tương lai [5][4].<br /> Tuy nhiên, cũng như các huyện nông nghiệp<br /> khác xã Mỹ Yên, huyện Đại Từ đang đối mặt<br /> với hàng loạt các vấn đề như: sản xuất nhỏ,<br /> manh mún, công nghệ lạc hậu, chất lượng<br /> nông sản thấp, khả năng hợp tác liên doanh<br /> cạnh tranh còn yếu, sự chuyển dịch cơ cấu<br /> còn chậm [7]. Trong điều kiện diện tích đất<br /> nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do sức ép<br /> của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và<br /> gia tăng dân số thì mục tiêu nâng cao hiệu quả<br /> sử dụng đất nông nghiệp là hết sức cần thiết,<br /> tạo ra giá trị lớn về kinh tế, đồng thời tạo đà<br /> cho phát triển nông nghệp bền vững.<br /> VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP<br /> NGHIÊN CỨU<br /> Vật liệu nghiên cứu<br /> - Bản đồ hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp<br /> - Số liệu, tài liệu thu thập được: Thực trạng sử<br /> dụng đất nông nghiệp.<br /> - Phiếu điều tra nông hộ: 35 phiếu điều tra.<br /> Phương pháp nghiên cứu<br /> - Phương pháp thu thập số liệu và tài liệu<br /> sơ cấp:<br /> 135<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Trần Thị Mai Anh và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Thu thập dữ liệu, số liệu về điều kiện tự<br /> nhiên, các đặc điểm về kinh tế - xã hội, sau đó<br /> tiến hành xử lý nội nghiệp điều chỉnh bổ sung<br /> theo đúng thực tế.<br /> Điều tra ngẫu nhiên các hộ nông dân trong<br /> vùng nghiên cứu, các cá nhân có kinh nghiệm<br /> trong sản xuất.<br /> - Phương pháp thống kê, xử lý số liệu:<br /> Sử dụng phần mềm Microsoft office Excel để<br /> xử lý, tổng hợp, phân tích số liệu và đánh giá<br /> hiệu quả kinh tế.<br /> - Phương pháp tính hiệu quả các loại hình sử<br /> dụng đất:<br /> Hiệu quả sử dụng đất là tiêu chí đánh giá mức<br /> độ khai thác mức độ sử dụng đất và đánh giá<br /> thông qua một số chỉ tiêu sau: hiệu quả kinh<br /> tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.<br /> - Phương pháp đánh giá tính bền vững: bền<br /> vùng về kinh tế, xã hội và môi trường.<br /> KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU<br /> Kết quả phỏng vấn người dân về các loại<br /> hình sử dụng đất<br /> Kết quả điều tra nông hộ và bản đồ hiện<br /> trạng cho thấy trên địa bàn xã Cao Kỳ năm<br /> 2012, toàn xã có 6 loại hình sử dụng đất<br /> (LUT) với 16 kiểu sử dụng đất khác nhau. Là<br /> một xã miền núi có diện tích đất nông nghiệp<br /> rộng nên hệ thống cây trồng của xã tương đối<br /> đa dạng chủ yếu là các loại cây lương thực và<br /> cây ăn quả, mỗi kiểu sử dụng có quy mô, diện<br /> tích khác nhau, trong đó có 2 cây trồng chủ<br /> yếu là lúa và ngô.<br /> Loại sử dụng đất trồng cây lâu năm có đất<br /> trồng cây ăn quả (vải, nhãn v.v.). Các loại<br /> hình sử dụng đất xã Mỹ Yên năm 2012 thể<br /> hiện qua bảng 1.<br /> Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử<br /> dụng đất nông nghiệp<br /> Đánh giá hiệu quả kinh tế<br /> Hiệu quả kinh tế sử dụng đất sản xuất nông<br /> nghiệp được trình bày trong bảng 2.<br /> Trên cùng một điều kiện đất đai, khí hậu<br /> nhưng hiệu quả của các LUT là khác nhau<br /> như sau:<br /> - Loại hình sử dụng đất trồng cây hàng năm<br /> <br /> 107(07): 135 - 141<br /> <br /> Bảng 1: Các loại hình sử dụng đất tại xã Mỹ Yên<br /> <br /> + LUT 2L - M: LUT này có hiệu quả kinh tế<br /> cao. Công thức luân canh có hiệu quả kinh tế<br /> cao nhất là Lúa xuân - lúa mùa – rau đông,<br /> với thu nhập thuần là 98.574,04 nghìn đồng,<br /> giá trị ngày công lao động là 91,73 nghìn<br /> đồng. Công thức luân canh Lúa xuân - lúa<br /> mùa – ngô đông có hiệu quả kinh tế thấp nhất<br /> trong LUT này, với thu nhập thuần là<br /> 65.169,01 nghìn đồng hơn 2 lần thu nhập<br /> thuần của công thức 2 Lúa + rau đông, giá trị<br /> ngày công lao động là 76,83 nghìn đồng.<br /> + LUT 2L: Lúa là loại cây trồng quen thuộc,<br /> là loại lương thực chính và được ưu tiên hàng<br /> đầu trong canh tác tại xã Mỹ Yên. Đây là lý<br /> do mà các hộ nông dân hạn chế về nguồn lực<br /> dễ chấp nhận tuy thu nhập chỉ đạt mức trung<br /> bình. Thu nhập thuần trên 1 ha đạt 53.675,06<br /> nghìn đồng, giá trị ngày công lao động là<br /> 89,25 nghìn đồng/công, hiệu quả sử dụng vốn<br /> là 1,31 lần.<br /> + LUT 2M - 1L: Hiệu quả kinh tế của LUT<br /> này không cao và phụ thuộc vào công thức<br /> luân canh. Công thức luân canh cho hiệu quả<br /> cao nhất là Ngô xuân - lúa mùa – khoai lang<br /> với thu nhập thuần bình quân là 68.020,63<br /> nghìn đồng/ha, giá trị ngày công lao động là<br /> 79,59 nghìn đồng/công. Trong khi giá trị cây<br /> khoai lang ở vùng 3 cho thu nhập thuần là<br /> 39,34 triệu đồng/ha/vụ thì các khu vực khác<br /> chỉ đạt 11,46 triệu đồng/ha/vụ.<br /> <br /> 136<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Trần Thị Mai Anh và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 107(07): 135 - 141<br /> <br /> Bảng 2: Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất tính trên 1 ha<br /> <br /> + LUT 1L - 1M: Giữa các công thức luân<br /> canh có sự chênh lệch lớn về hiệu quả kinh tế.<br /> Kiểu sử dụng đất cho giá trị ngày công lao<br /> động thấp nhất là lạc xuân - lúa mùa với<br /> 69,71 nghìn đồng/công. Lúa mùa - rau là công<br /> thức luân canh cho hiệu quả kinh tế cao nhất<br /> với thu nhập thuần là 71.685,18 nghìn<br /> đồng/ha, gấp 2,25 lần Ngô xuân - lúa mùa, giá<br /> trị ngày công lao động đạt 92,93 nghìn<br /> đồng/công. gấp 1,4 lần Lạc xuân - lúa mùa<br /> + LUT 1L: Thu nhập thuần là 26888,86<br /> nghìn đồng, đây là LUT cho hiệu quả kinh tế<br /> thấp nhất.<br /> + LUT chuyên rau, màu: Loại hình sử dụng<br /> đất này phân bố chủ yếu tại các khu vực ven<br /> sông, đất đai thích hợp cho trồng màu. Hiệu<br /> quả kinh tế có sự phân cấp rõ rệt giữa các<br /> kiểu sử dụng đất, từ rất thấp đến trung bình và<br /> cao. Cao nhất là kiểu sử dụng đất lạc xuân -<br /> <br /> ngô - rau, với thu nhập thuần là 76.982,61<br /> nghìn đồng/ha, giá trị ngày công lao động là<br /> 69,65 nghìn đồng/công, hiệu quả sử dụng vốn<br /> đạt 1,26 lần.<br /> - Loại hình sử dụng đất trồng cây ăn quả:<br /> Số liệu ở bảng cho thấy tùy từng loại cây trồng<br /> khác nhau cho hiệu quả kinh tế khác nhau.<br /> + Cây vải: Tổng giá trị sản xuất trung bình<br /> của toàn xã là 44.000 triệu đồng, tổng chi phí<br /> sản xuất là 12.250 triệu đồng, tổng thu nhập<br /> thuần 31.750 triệu đồng, hiệu quả sử dụng<br /> đồng vốn đạt 2,60 lần, giá trị ngày công lao<br /> động đạt 182,9 nghìn đồng/công lao động.<br /> + Cây nhãn: Tổng giá trị sản xuất trung bình<br /> của toàn xã là 32.100 triệu đồng, tổng chi phí<br /> sản xuất là 11.500 triệu đồng, tổng thu nhập<br /> thuần 20.600 triệu đồng, hiệu quả sử dụng<br /> đồng vốn đạt 1,80 lần, giá trị ngày công lao<br /> động đạt 132,7 nghìn đồng/công lao động.<br /> 137<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Trần Thị Mai Anh và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> + Cây chè: Tổng giá trị sản xuất trung bình<br /> của toàn xã là 137,80 triệu đồng, tổng chi phí<br /> về vật chất tính bình quân cho 1ha trên địa<br /> bàn là 37,422 triệu đồng, công lao động là<br /> 659 công, thu nhập thuần đạt 100,376 triệu<br /> đồng/ha/năm, giá trị ngày công lao động là<br /> 152,3 nghìn đồng/công, hiệu quả sử dụng vốn<br /> đạt 2,68 lần. Như vậy, hiệu quả kinh tế của<br /> LUT chè là cao so với các LUT khác.<br /> Đánh giá hiệu quả xã hội<br /> Hiệu quả xã hội của mỗi loại hình sử dụng đất<br /> được đánh giá thông qua các chỉ tiêu: thu hút<br /> lao động, đảm bảo đời sống xã hội, tỷ lệ giảm<br /> hộ đói nghèo, yêu cầu về vốn đầu tư, sản<br /> phẩm tiêu thụ trên thị trường, phù hợp với tập<br /> quán canh tác.<br /> Hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất<br /> được thể hiện qua bảng sau.<br /> * Đối với các LUT trồng cây hàng năm.<br /> LUT 2 lúa - màu, 2 màu - 1 lúa và chuyên<br /> màu có khả năng giải quyết công ăn việc làm<br /> cao hơn nhiều so với LUT 1 lúa - 1 màu và<br /> LUT 1 lúa. Trong các kiểu sử dụng đất thì<br /> công thức luân canh Lạc xuân - ngô hè thu –<br /> rau đông là cần nhiều lao động nhất do lạc và<br /> rau đều là cây trồng đòi hỏi nhiều công chăm<br /> <br /> 107(07): 135 - 141<br /> <br /> sóc, công thức luân canh này cũng cho thu<br /> nhập thuần và hiệu quả sử dụng đồng vốn khá<br /> cao, quay vòng vốn nhanh.<br /> Trong những năm qua, diện tích mía được mở<br /> rộng, thu hút được lao động. Rau màu giải<br /> quyết được việc làm ổn định cho người dân<br /> do cần nhiều công lao động trong khâu thu<br /> hoạch, chăm sóc và bán. Cây rau màu cho thu<br /> nhập cao và được coi là cây làm giàu cho<br /> người dân, góp phần quan trọng trong việc<br /> xoá đói giảm nghèo, đồng thời đóng góp tích<br /> cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương.<br /> * Đối với các LUT trồng cây lâu năm.<br /> Trong những năm qua, diện tích chè được mở<br /> rộng, thu hút được lao động trên địa bàn. Chè<br /> giải quyết được việc làm ổn định cho người<br /> dân do cần sử dụng nhiều công lao động trong<br /> khâu thu hoạch, chế biến.<br /> LUT cây ăn quả: đây là loại hình sử dụng đất<br /> góp phần tăng thu nhập đồng thời giải quyết<br /> việc làm cho người dân trong thời gian nông<br /> nhàn chờ thời vụ.<br /> Đánh giá hiệu quả môi trường<br /> Trong thực tế, tác động môi trường diễn ra<br /> rất phức tạp và theo nhiều chiều hướng<br /> khác nhau.<br /> <br /> Bảng 3: Hiệu quả xã hội của các LUT<br /> <br /> Ghi chú: Cao: 3 Trung bình: 2 thấp:1<br /> <br /> 138<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br /> Trần Thị Mai Anh và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> Trong quá trình sử dụng đất đã tác động đến<br /> môi trường ở một số mặt sau: Ô nhiễm đất,<br /> nước do việc sử dụng đất do việc sử dụng<br /> thuốc bảo vệ thực vật, các loại phân bón hóa<br /> học, giảm độ màu mỡ, xói mòn đất. Việc lạm<br /> dụng phân bón hoá học thay cho phân bón<br /> hữu cơ.<br /> Hướng lựa chọn các loại hình sử dung đất<br /> Từ kết quả đánh giá hiệu quả sử dụng đất tại<br /> xã Mỹ Yên về 3 mặt kinh tế - xã hội - môi<br /> trường là cơ sở để lựa chọn các loại hình sử<br /> dụng cho xã. Kết quả có 6 loại hình sử dung<br /> đất thích hợp và triển vọng là: 2 lúa, 2 lúa – 1<br /> màu, 2 màu – 1 lúa, chuyên rau màu và cây<br /> công nghiệp ngắn ngày, chè, cây ăn quả.<br /> Định hướng sử dụng đất nông nghiệp<br /> Đối với loại hình sử dụng đất 3 vụ 2 lúa - 1<br /> màu với kiểu sử dụng đất là: Lúa mùa - Lúa<br /> xuân – rau đông cần áp dụng các tiến bộ khoa<br /> học kỹ thuật đưa các giống có năng suất cao,<br /> chất lượng tốt tạo được thương hiệu cho vùng<br /> nhằm tăng hiệu quả kinh tế trên 1 đơn vị sử<br /> dụng đất.<br /> Đối vơi đất 2 vụ cần cải tạo hệ thống thủy lợi<br /> chuyển dịch cơ cầu để nâng diện tích này<br /> thành đất 3 vụ với các cây trồng cho năng<br /> suất cao chất lượng sản phẩm tốt như cây rau<br /> đông (cải bắp, xu hào…)<br /> Chuyển diện tích trồng màu 2 vụ sang đất<br /> trồng 3 vụ, tận dụng ưu thế về điều kiện của<br /> vùng tập trung trồng chuyên màu và cây công<br /> nghiệp ngắn ngày. Đây là loại hình đạt hiệu<br /> quả kinh tế cao, tuy nhiên hiện nay thị trường<br /> tiêu thụ chưa phát triển. Vì vậy, trong thời<br /> gian tới cần mở rộng diện tích theo hướng<br /> chuyên canh để nâng cao thu nhập cải thiện<br /> đời sống nhân dân.<br /> Đối với cây ăn quả: Đây là loại hình đạt hiệu<br /> quả kinh tế cao nhưng diện tích cây ăn quả có<br /> thị trường tiêu thụ chưa phát triển. Vì vậy<br /> trong thời gian tới cần mở rộng diện tích cây<br /> ăn quả bằng cách trồng mới hoặc xen canh<br /> những cây ăn quả khác để thu lại năng suất<br /> cao đối với diện tích hiện có.<br /> Đối với cây chè: Trong những năm tới, cần<br /> tận dụng diện tích đất có khả năng trồng chè<br /> <br /> 107(07): 135 - 141<br /> <br /> để mở rộng diện tích, tập trung nguồn lực để<br /> cải tạo và trồng mới lại những đồi chè bị<br /> xuống cấp do quá già hoặc do ảnh hưởng của<br /> thâm canh không đúng quy trình kỹ thuật. Sản<br /> xuất chè theo hướng chuyên sâu, tức là nâng<br /> cao chất lượng sản phẩm, xây dựng các khu<br /> vực chuyên canh chè.<br /> KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ<br /> Kết luận<br /> Kết quả nghiên cứu, đánh giá hiệu quả sử<br /> dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã<br /> Mỹ Yên đi đến một số kết luận sau:<br /> 1. Mỹ Yên là một xã trung du miền núi với<br /> nền sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, tổng<br /> diện tích đất tự nhiên của xã là 3392,60 ha,<br /> trong đó đất nông nghiệp là 2958,59 ha<br /> (chiếm 87,21%). Xã có vị trí địa lý, điều kiện<br /> đất đai, khí hậu, thủy văn thuận lợi cho phát<br /> triển sản xuất nông nghiệp, năng suất cây<br /> trồng đã đạt và vượt mức bình quân của<br /> huyện Đại Từ nhưng vẫn chưa tương xứng<br /> với tiềm năng sẵn có, đời sống của người dân<br /> còn nhiều khó khăn, sản xuất chưa đáp ứng<br /> được nhu cầu lao động tại địa phương.<br /> 2. Các loại hình sử dụng đất sản xuất nông<br /> nghiệp chính của xã là:<br /> * Đối với đất trồng cây hàng năm<br /> Có 6 loại hình sử dụng đất: 2L - M, 2M - 1L,<br /> 2L, 1L - 1M, 1L, chuyên rau, màu và cây<br /> công nghiệp ngắn ngày, với 15 kiểu sử dụng<br /> đất phổ biến. Trong đó, loại hình sử dụng đất<br /> 2 lúa - 1 màu cho hiệu quả cao nhất, LUT 1<br /> lúa cho hiệu quả thấp nhất.<br /> * Đối với đất trồng cây lâu năm<br /> Có 2 loại hình sử dụng đất chính là: Cây ăn<br /> quả, cây công nghiệp lâu năm (chè). Trong 2<br /> LUT này, LUT chè cho hiệu quả kinh tế cao,<br /> được coi là cây chủ lực trên đất trồng cây lâu<br /> năm, tuy nhiên LUT này có ảnh hướng xấu<br /> đến môi trường do sử dụng lượng thuốc BVTV<br /> lớn. LUT cây ăn quả chưa được chú trọng đầu<br /> tư, phát triển nhằm mục đích kinh tế.<br /> 3. Dựa trên kết quả đánh giá hiệu quả sử dụng<br /> đất sản xuất nông nghiệp, lựa chọn ra 6 loại<br /> hình sử dụng đất đai thích hợp và có triển<br /> vọng cho xã Mỹ Yên:<br /> 139<br /> <br /> Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên<br /> <br /> http://www.lrc-tnu.edu.vn<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2