intTypePromotion=1

Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất gò đồi huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên Huế

Chia sẻ: Kinh Kha | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:9

0
15
lượt xem
2
download

Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất gò đồi huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên Huế

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Để tiếp tục góp phần đánh giá hiện trạng quản lý và sử dụng đất đồi vùng Tây Thừa Thiên Huế làm cơ sở cho việc định hướng các bước tiếp theo cho việc khai thác tiềm năng vùng đất này trong phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất vùng gò đồi huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế".

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất gò đồi huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên Huế

  1. TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 21, 2004 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT GÒ ĐỒI  HUYỆN HƯƠNG TRÀ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ  Hồ Kiệt, Huỳnh Văn Chương và CTV Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế 1. MỞ ĐẦU 1.1. Lý do chọn đề tài:  Thừa Thiên Huế  là một tỉnh có tổng diện tích tự  nhiên là 505.400 ha, trong đó  đất chưa sử dụng mà hầu hết là đất đồi núi chiếm tỷ  lệ rất lớn (khoảng 39%). Đây  là khu vực có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội cũng  như  việc quản lý sử  dụng và bảo vệ  các nguồn tài nguyên vùng đồi núi của tỉnh.   Những nghiên cứu này là hết sức quý giá nhằm khắc phục những điều kiện tự nhiên   kinh tế  đang diễn ra bất lợi cho vùng, đồng thời đây cũng là những cơ  sở  khoa học   cho những nghiên cứu tiếp theo của vùng. Để tiếp tục góp phần đánh giá hiện trạng quản lý và sử dụng đất đồi vùng Tây   Thừa Thiên Huế  làm cơ  sở  cho việc định hướng các bước tiếp theo cho việc khai  thác tiềm năng vùng đất này trong phát triển kinh tế  xã hội của tỉnh, chúng tôi tiến   hành nghiên cứu đề  tài: "Đánh giá tình hình quản lý và sử  dụng đất vùng gò đồi   huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế". 1.2. Mục đích, nội dung, phương pháp nghiên cứu: Mục đích: Đánh giá các yếu tố tác động đến việc quản lý và sử dụng đất vùng  gò đồi bước đầu làm cơ  sở  khoa học cho việc quy hoạch sử  dụng đất và các quy  hoạch chuyên ngành, nhằm sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên vùng gò đồi phía  Tây Thừa Thiên Huế. Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi lãnh thổ  vùng nghiên cứu đó là vùng gò đồi   huyện Hương Trà là khu vực phía Tây tiếp giáp với thành phố  Huế. Trong đó chủ  yếu nghiên cứu các đối tượng tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình quản lý và  sử dụng đất. Nội dung đề tài bao gồm 1. Đánh giá các đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội có liên quan đến quản lý và sử  dụng đất vùng gò đồi huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên Huế 2. Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu  lực quản lý và hiệu quả sử dụng đất vùng gò đồi huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên  Huế  3. Đánh giá tổng quát về tiềm năng đất nông, lâm nghiệp khu vực nghiên cứu.
  2. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu các phương pháp chính được sử dụng là:  Nhóm các phương pháp thu thập số liệu: ­ Thu thập các số liệu sẵn có và các kết quả nghiên cứu trước tại khu vực có   liên quan đến vấn đề nghiên cứu. ­ Phỏng vấn các hộ  gia đình có sử  dụng đất theo phương pháp chọn ngẫu   nhiên trong nhóm đã định trước. ­ Điều tra thực địa  Phương pháp bản đồ ­   Sử dụng các phương pháp thành lập bản đồ  số  và phép overlay trên Mapinfo  6.0  Nhóm các phương pháp xử lý số liệu, phân tích đánh giá, dự báo ­ Xử lý số liệu và đánh giá các hiện tượng bằng các thuật toán thống kê. ­ Chẩn đoán dự  báo thông qua modul DIAGNOSTIC của phần mềm thống kê   STAGRAF ver. 7.0 2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 2.1. Kết quả đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế ­ xã hội tiểu vùng gò đồi   Hương Trà:  Vùng đất gò đồi phía Tây tỉnh Thừa Thiên Huế có tiềm năng kinh tế và có vị trí  quan trọng trong chiến lược  phát triển kinh tế  xã hội của tỉnh, phân bố  trong 6  huyện: Nam Đông, Phú Lộc, Hương Thủy, Hương Trà, Phong Điền và A Lưới. Có thể chia vùng gò đồi Thừa Thiên Huế thành những tiểu vùng bao gồm: tiểu   vùng Phong Điền, tiểu vùng Hương Trà, tiểu vùng Hương Thủy ­ Phú Lộc, tiểu vùng  Nam Đông. Tổng diện tích vùng gò đồi Hương Trà là 31.628 ha (60,7% tổng diện tích tự  nhiên của huyện), bao gồm 5 xã: Hương Thọ, Bình Thành, Bình Điền, Hương Bình   và Hồng Tiến.  Tiểu vùng gò đồi Hương Trà có địa hình dốc, cao dần từ  Đông sang Tây, với  chiều dài tới 20 km; có độ  cao trung bình từ  100m đến 200m, độ  dốc trung bình từ  15o ­ 20o, cục bộ  độ  dốc lớn hơn 25o. Sự  phân bố  phức tạp của hệ  thống thủy văn  làm cho địa hình của tiểu vùng bị  phân cắt mạnh cả  theo chiều đứng và mặt bằng.   Theo bản đồ  thổ  nhưỡng và kết quả  đánh giá thực địa, ở  vùng này chiếm ưu thế  là   các loại đất phát triển trên đá sét, đá granit, phù sa cổ và đá cát.  Qua kết quả đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có thể nhận xét chung   như sau: Thuận lợi ­ Có điều kiện tự  nhiên thích hợp cho phát triển nông, lâm nghiệp; khá thuận  lợi cho việc trồng cây công nghiệp dài ngày, phát triển kinh tế gia đình, kinh tế trang  trại. ­ Cơ cấu dân số trẻ, có lực lượng lao động đông. 6
  3. ­ Cơ  sở  hạ  tầng đủ  về  số  lượng các công trình cơ  bản như  điện, đường giao  thông, trường học, trạm y tế..., đáp ứng được ở mức độ nhất định nhu cầu phát triển  của vùng.  ­ Có tiềm năng về du lịch với những cảnh quan tự nhiên và các di tích lịch sử,   bước đầu có khả năng cung cấp cơ sở hạ tầng và các dịch vụ du lịch. Khó khăn ­ Lượng mưa tập trung theo mùa nên thường gây ra hạn hán, lũ lụt; điều kiện   địa hình phức tạp gây ảnh hưởng bất lợi đến sản xuất và đời sống. ­ Mặc dầu đã có những phát triển nhất định song cơ sở hạ tầng vẫn chưa thực   sự đáp ứng yêu cầu. Tỷ lệ tăng dân số cao, chất lượng dân cư còn hạn chế; thu nhập   thấp, thiếu vốn đầu tư  cho sản xuất, đặc biệt là cho việc chuyển dịch cơ  cấu kinh   tế, cơ cấu cây trồng, vật nuôi. ­ Quỹ đất lớn song sử dụng chưa hợp lý, còn để đất hoang hóa nhiều. ­ Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn cao, chất lượng dân cư còn hạn chế. 2.2. Đánh giá tình hình quản lý đất đai vùng gò đồi huyện Hương Trà: Năm 1994, bản đồ  địa chính được thành lập tại xã Hương Thọ  theo lưới toûa   độ chuẩn quốc gia. Ngoài ra, các xã thuộc vùng nghiên cứu chưa có bản đồ địa chính   đo vẽ theo quy phạm quốc gia. Đây là khó khăn lớn nhất của vùng trong việc quản lý   và sử dụng đất. UBND các xã đã phổ biến các chính sách của nhà nước về  các vấn đề  có liên   quan đến đất đai. Cán bộ địa chính xã có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu   lực của hệ thống pháp luật đất đai. Tuy vậy còn một bộ phận lớn nhân dân hoàn toàn  chưa hiểu hoặc còn mơ  hồ  về  các quyền và nghĩa vụ  của người sử  dụng đất đã   được pháp luật quy định (thể hiện ở bảng 1). Bảng 1: Trình độ văn hóa và hiểu biết luật đất đai của cư dân vùng nghiên cứu Trình độ văn hóa Hiểu biết luật đất đai Mức độ Tỷ lệ (%) Mức độ Tỷ lệ (%) Không biết chữ 12,5 Không biết 44,2 Đến tiểu học 18,3 Biết ít 27,5 Đến THCS 45,8 Biết 25,8 Đến PTTH 17,5 Hiểu rõ 2,5 Tốt nghiệp PTTH 5,8 (Tổng số mẫu điều tra là 150; Trình độ văn hóa được xác định  là trình độ cao nhất của chồng hoặc vợ chủ hộ) Như  vậy, có thể  thấy có đến trên 44% số  hộ  được điều tra hoàn toàn không   có hiểu biết về  Luật Đất đai; 27,5% có biết chút ít về  Luật Đất đai. Với số  lượng   lớn người dân có rất ít hiểu biết về  Luật Đất đai như  vậy, có thể  nói, đây là một  trong những nguyên nhân hết sức cơ  bản  ảnh hưởng tới việc thực hiện các chính   sách và pháp luật đất đai ở vùng nghiên cứu.  Kết quả cho đến năm 2001 đã giao được 1472,93 ha đất nông nghiệp cho hộ  gia đình và cá nhân (chiếm 76,56% diện tích đất nông nghiệp). Kết quả đó đã có tác   7
  4. dụng thiết thực trong việc nâng cao hiệu lực quản lý đất đai và hiệu quả  sản xuất   nông nghiệp. Việc đăng ký đất đai, lập hồ  sơ  địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử  dụng đất nông nghiệp theo nghị định 64/CP (ngày 27/9/1993 của Chính Phủ) diễn ra   rất chậm (đến năm 2001 mới chỉ  thực hiện đối với khoảng 33% đất nông nghiệp).   Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp mới dừng ở khâu kê  khai, lập hồ  sơ. (Riêng Hương Thọ, UBND xã đã xét đủ  điều kiện cấp giấy chứng   nhận cho 703/913 hộ). Đối với đất lâm nghiệp và đất  ở  việc cấp giấy chứng nhận  chưa triển khai thực hiện. Công tác thống kê kiểm kê đất trên  địa bàn vùng được thực hiện thường  xuyên, dựa trên cơ sở những ghi chép thay đổi tình hình sử dụng đất của các cán bộ  địa chính xã, báo cáo định kỳ 6 tháng một lần cho phòng địa chính huyện Hương Trà.   Tuy nhiên, do trình độ  nghiệp vụ  của cán bộ  địa chính các cấp còn hạn chế, điều   kiện tự nhiên trong vùng khá phức tạp, cơ sở dữ liệu, (đặc biệt là bản đồ) còn nghèo  nàn, thiếu chính xác, việc thực hiện các quy  định về  thống kê thiếu kịp thời và  nghiêm túc... dẫn đến kết quả thống kê hằng năm vẫn còn bỏ sót nhiều sự biến động   đất đai; công tác kiểm kê thực hiện khá vất vả và không đầy đủ số liệu.  Trong vùng chưa có phương án quy hoạch sử dụng đất cụ  thể. Công tác lập  kế  hoạch sử dụng đất nông nghiệp, bố trí cơ  cấu cây trồng, vật nuôi cũng đã được   tổ chức thực hiện nhưng không đồng bộ, dẫn đến việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng   không có hiệu quả. Trên địa bàn vùng hiện tượng tranh chấp khiếu nại ít xảy ra. Các vấn đề nảy  sinh thường được giải quyết thông qua công tác giải quyết của cán bộ địa chính xã. Các nguyên nhân cơ bản dẫn đến những hạn chế trong quản lý đất đai: Qua quá trình nghiên cứu thực tế và phân tích so sánh với các yêu cầu và nghiệp   vụ  quản lý đất đai, có thể  rút ra một số  nguyên nhân cơ  bản nhất  ảnh hưởng đến  hiệu lực công tác quản lý đất đai 5 xã tiểu vùng gò đồi Hương Trà như sau: ­ Điều kiện kỹ  thuật rất hạn chế: Toàn vùng hiện nay chưa có hệ  thống bản   đồ  địa chính được đo vẽ  đảm bảo yêu cầu. Các tài liệu xác định số  lượng và chất   lượng đất chưa được thành lập có căn cứ khoa học và tuân thủ quy định pháp luật ­ Cán bộ  địa chính xã là những người trực tiếp thực hiện và tham mưu cho  chính quyền các cấp về quản lý đất đai chưa được đào tạo, thiếu kiến thức, thường  biến động lại thêm điều kiện kinh tế chi phối nên hoạt động còn kém hiệu quả. ­ Các yếu tố  chi phối chính  ảnh hưởng đến công tác quản lý đất đai là mức   sống, trình độ văn hóa và mức độ hiểu biết pháp luật của dân cư địa phương. 2.3. Đánh giá tình hình sử dụng đất đai vùng gò đồi huyện Hương Trà Cơ cấu sử dụng đất tự nhiên theo mục đích sử dụng Tổng diện tích tự nhiên toàn vùng là 31628,0 ha, chiếm 12% diện tích vùng gò   đồi trọng điểm toàn tỉnh Thừa Thiên Huế, chiếm 60,7% so với tổng diện tích tự  nhiên của huyện Hương Trà. Cơ cấu các loại đất theo mục đích sử  dụng được trình   bày trong   bảng 2. 8
  5. Bảng 2: Tình hình  sử dụng đất phân theo mục đích sử dụng năm 2000  (ĐVT: ha) Diện tích đất theo mục đích sử dụng Tên xã Tổng DT Đất nông  Đất lâm  Đất chuyên  Đất thổ Đất chưa nghiệp nghiệp dùng cư sử dụng 31628,0 1923,9 12812,1 438,7 49,0 16404,3 Toàn vùng (100%) (6,08%) (40,51%) (1,39%) (0,15%) (51,87%) Hương Thọ 4714,0 376,2 2280,5 214,4 16,1 1826,8 Bình Thành 6502,0 221,8 2726,4 73,1 9,6 3471,1 Bình Điền 11910,0 455,7 6283,9 68,2 12,8 5089,4 Hương Bình 6337,0 800,4 772,3 71,3 8,7 4684,6 Hồng Tiến 2165,0 69,9 749,1 11,7 1,8 1332,4 Như  vậy, trong vùng nghiên cứu, tiềm năng đất đai có thể  khai thác cho mục   đích sản xuất nông lâm nghiệp là rất lớn. Tuy nhiên, diện tích đã khai thác cho sản  xuất nông nghiệp còn rất khiêm tốn. Đây là nguyên nhân của hiện tượng nông dân  sống chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp nhưng lại thiếu đất để sản xuất; do vậy họ  trở  thành những người tham gia vào các hoạt động khai thác rừng thiếu tổ  chức và   quy hoạch, làm  ảnh hưởng tiêu cực đến khả  năng phòng hộ  của cả  hệ  thống rừng   phòng hộ đầu nguồn rất quan trọng của cả tỉnh Thừa Thiên Huế. Biến động các loại đất chính giai đoạn 1995 ­ 2000, 2001 Đất nông nghiệp năm 2001 là 2.114,5 ha, tăng 358,8 ha so với năm 1995 và tăng  190,6 ha so với năm 2000. Đất nông nghiệp tăng chủ yếu từ đất chưa sử dụng và đất   lâm nghiệp. Trong đất nông nghiệp, diện tích đất cây hàng năm năm 2001 là 2.114,5 ha tăng   so với năm 1995 là 262,5 ha (bình quân mỗi năm tăng 112,5 ha). Đất nông nghiệp tăng   khá nhanh trong giai đoạn này do mở rộng diện tích trồng mía. So với năm 2000, đất   trồng cây hàng năm tăng chậm hơn nhiều, chỉ có 11,2 ha.  Đối với đất lúa và lúa màu trong giai đoạn 1995 đến 2000 chỉ  tăng 85,5 ha,  trong khi đó loại đất này tăng khá trong giai đoạn 2000 ­ 2001. Nguyên nhân là do sau   khi không thực hiện chương trình mía đường một số diện tích mía có điều kiện sản  xuất đã chuyển sang trồng lúa; một số diện tích lạc có điều kiện tưới nước đã được  chuyển thành đất trồng lúa. Đất trồng cây lâu năm vào năm 2001 là 578,2 ha tăng so với năm 1995 là 353,7   ha và so với năm 2000 là 69,7 ha. Diện tích loại đất này tăng một phần do thay đổi   định mức diện tích đất ở nên diện tích đất vườn trồng cây lâu năm được tách ra. Mặt  khác, do chương trình định canh, định cư, các chương trình phát triển kinh tế  trang   trại đã chuyển một phần đất lâm nghiệp thuận lợi cho sản xuất thành diện tích trồng  cây lâu năm (cao su, hồ tiêu...). Đất lâm nghiệp có rừng năm 2001 là 13.532,4 ha, tăng 2.208,4 ha so với năm   1995, tăng 720,3 so với năm 2000. Năm 2001 diện tích rừng trồng tăng 4.780,5 ha so  9
  6. với năm 1995. Việc tăng diện tích rừng là do tăng diện tích rừng trồng (chủ  yếu là  rừng phòng hộ), kết quả của việc thực hiện các chương trình trồng rừng. 2.4. Định hướng sử dụng đất 5 xã vùng gò đồi huyện Hương Trà: Sử dụng phép chồng lớp bản đồ về độ dày tầng đất và lớp bản đồ thổ nhưỡng   nhận được diện tích các loại đất theo nguồn gốc phát sinh, cấp độ  dốc và độ  dày  tầng đất. Việc phân loại diện tích đất theo nguồn gốc phát sinh, độ dốc là cơ sở cho  việc xác định tiềm năng đất nông lâm nghiệp trong các phương án quy hoạch phát   triển kinh tế xã hội của các địa phương. Dự kiến khả năng khai thác đất chưa sử dụng Căn cứ vào các yêu cầu của các mục đích sử dụng, so sánh với kết quả điều tra   đất đai, với sự  tham gia của các địa phương, có thể  dự  báo khả  năng khai thác đất   chưa sử dụng. Đất chưa sử dụng dự kiến khai thác cho việc trồng cây hàng năm là 294,52 ha.   Bao gồm 76,5 ha thuộc   Bình Điền; 212 ha thuộc Bình Thành và 87,02 ha thuộc   Hương Thọ. Dự kiến khai thác 100 ha đất đồi chưa sử  dụng ở xã Bình Thành để  trồng cây  lâu năm (cao su). Tại Bình Thành đã có dự  kiến phát triển 200 ha đất đồi chưa sử  dụng thành đồng cỏ chăn thả đại gia súc. Đa số  đất chưa sử  dụng có thể  khai thác được chủ  yếu cho mục đích lâm   nghiệp. Trong đó, trồng mới là 8.999,98 ha, phân bổ cụ thể cho các xã như sau: Bình   Thành   849   ha,   Bình   Điền   4.769.2   ha,   Hương   Thọ   1.540,77   ha   và   Hương   Bình  1.796.01 ha. Dành cho việc khoanh nuôi tái sinh rừng là 2.658.41 ha, phân bổ cho Bình  Thành là 1.852,82 ha và Hương Bình là 805,59 ha. Đất mặt nước có khả  năng khai thác cho nuôi trồng thủy sản (bao gồm ao hồ  nhỏ..) là 19,55 ha, tập trung ở xã Bình Thành.  Bảng 3: Khả năng khai thác đất chưa sử dụng trong vùng nghiên cứu Diện tích  Dự kiến đưa vào khai thác cho mục đích Loại đất  hiện  Nông nghiệp Lâm nghiệp Chưa sử dụng trạng Cây hàng  Cây lâu  Đồng  Thủy  Trồng  K/nuôi  (ha) năm năm cỏ sản mới tái sinh 1. Đất bằng 99.52 99.52 2. Đất đồi núi 15453.85 200.00 100.00 200.00 8999.98 2658.41  2.1. Cỏ, lau lách 5021.55 3448.97 46.00  2.2. Cây lùm bụi 5815.68 200.00 100.00 200.00 2787.81 1805.59 10
  7.  2.3. C.gỗ rải rác 4540.72 2687.30 806.82 3. Mặt nước 15.99 15.99 Tổng 294.52 100 200 15.99 8999.98 2658.11 3.4.2. Định hướng sử dụng các loại đất chính: Căn cứ  vào các lớp thông tin về  địa hình, thổ  nhưỡng, lớp phủ  thực vật, hiện   trạng sử  dụng đất, các yêu cầu của các mục đích sử  dụng đất, tiến hành xử  lý trên  hệ  thống thông tin GIS được kết quả  định hướng sử  dụng đất trong vùng. Kết quả  được trình bày trong bảng 4. Bảng 4: Định hướng sử dụng đất 5 xã vùng gò đồi Hương Trà                                               ĐVT: ha Loại đất Hiện trạng Định hướng theo mục đích sử dụng Diện tích Cơ cấu (%) Diện tích Cơ cấu (%) Tổng diện tích tự nhiên 31628 100 31628 100 1/ Đất nông nghiệp 2 114.5 6.68 2552.14 8.06 2/ Đất lâm nghiệp có  13 532.4 42.80 27757.43 87.76 rừng 3/ Đất chuyên dùng 454.2 1.44 373.81 1.18 4/ Đất ở 58.3 0.18 80.05 0.25 5/ Đất chưa sử dụng 15 468.6 48.91 864.57 2.73 3. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 3.1. Kết luận:  Khu vực 5 xã Hương Bình, Hương Thọ, Bình Điền, Bình Thành và Hồng Tiến  thuộc tiểu vùng Hương Trà có các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, đặc trưng cho   hầu hết vùng đồi phía Tây thành phố Huế. ­ Địa dốc, bị chia cắt, lượng mưa lớn phân bố  không đều theo thời gian, thảm   thực vật bị phá hủy nghiêm trọng là nguyên nhân gây nên xói mòn và làm giảm độ phì   nhiêu của đất.  ­ Mặc dầu các địa phương có nhiều cố  gắng nhưng nền kinh tế  trong vùng  kém phát triển; cơ  cấu cây trồng vật nuôi chưa hợp lý, năng suất thấp; cơ  sở  vật   chất kỹ thuật nghèo nàn là nguyên nhân gây nên đói nghèo và lạc hậu. a. Về công tác quản lý đất đai tại tiểu vùng Hương Trà: Các nội dung cơ bản của công tác quản lý Nhà nước về đất đai đã được triển   khai. Tuy nhiên, hiệu lực công tác quản lý còn nhiều hạn chế. Các nguyên nhân cơ  bản dẫn đến sự hạn chế đó là:  ­  Điều kiện kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý đất đai chưa đạt yêu cầu. ­ Trình độ  và và điều kiện làm việc của cán bộ  địa chính xã, huyện còn thiếu  và yếu. ­ Điều kiện kinh tế, trình độ văn hóa, hiểu biết về pháp luâtû của nhân dân còn   thiếu thốn. Điều đó dẫn đến trình độ văn hoá thấp và quan trọng hơn cả là sự thiếu   hiểu biết về pháp luật trong đó có luật đất đai. 11
  8. b. Về sử dụng đất tại tiểu vùng Hương Trà: ­ Đất đai của khu vực nghiên cứu chưa được sử dụng triệt để. Tỷ  lệ  sử  dụng  đất thấp song có xu hướng phát triển (năm 2000 là 48,13%, năm 2001 là 51,09%); tỷ  lệ  che phủ  đạt 42,11% vào năm 2000 và 44,61 % vào năm 2001, mặc dầu cao hơn   toàn huyện, nhưng vẫn chưa đạt yêu cầu.  ­ Việc sử  dụng đất  ở, đất chuyên dùng thiếu quy hoạch. Mặt khác, sự  thiếu   vốn, thiếu đầu tư  làm giảm tác dụng làm cơ  sở  và thúc đẩy và thúc đẩy quá trình  phát triển kinh tế, xã hội.  ­ Tỷ lệ sử dụng đất nông nghiệp chỉ đạt 6,69%. Trong khi đó tỷ lệ đất chưa sử  dụng lên tới 51,87%. Hiệu quả  sản xuất thấp do điều kiện sản xuất khó khăn và  thiếu đầu tư. Một số  chủ  trương phát triển kinh tế  xã hội không hợp lý cũng làm   giảm hiệu quả sử dụng đất. c. Căn cứ vào các lớp thông tin bản đồ xây dựng được về  khu vực nghiên   cứu và các yêu cầu của các mục đích sử dụng đất với sự hỗ trợ của GIS  đã đề  xuất được các định hướng sử dụng đất. Theo đó, nếu có các biện pháp sử dụng đất  hợp lý có thể  hình thành cơ  cấu sử dụng đất tiến bộ  hơn, cụ  thể  là: tỷ  lệ  sử  dụng   đất 97,27%, cơ cấu đất nông nghiệp 8,06%, cơ cấu đất lâm nghiệp đạt 87,76%. d. Bước  đầu  đã xây dựng  được các lớp thông tin  bản   đồ  về  khu vực  nghiên cứu.  Đây vừa là tài liệu chuyển tiếp sử  dụng như  công cụ  trong quá trình   nghiên cứu, vừa là các kết quả quan trọng của đề tài. 3.2. Hạn chế và đề xuất: Mặc dù đề  tài đã thực hiện được cơ  bản các mục tiêu đề  ra, song vẫn còn   nhiều hạn chế, đặc biệt là việc khảo sát đánh giá chất lượng đất cũng như bố trí thí   nghiệm các loại cây trồng để đánh giá thích nghi, phục vụ quy hoạch. Đề tài chỉ mới  xác định một số loại hình sử  dụng đất chủ  yếu, có hiệu quả  thiết thực đối với đời   sống kinh tế xã hội địa phương. Cần có những nghiên cứu tiếp theo (đặc biệt là tiếp tục hoàn thiện các lớp  thông tin bản đồ ở mức độ chi tiết hơn, tiến hành các nghiên cứu mang tính kỹ thuật   cụ thể) để có thể đề xuất được các loại hình sử  dụng đất thích hợp, góp phần nâng  cao hiệu lục quản lý và hiệu quả sử dụng đất. TÀI LIỆU THAM KHẢO  1. Dự án đầu tư xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn sông Hương.  UBND tỉnh Thừa  Thiên Huế, (1992). 2. Kế  hoạch phát triển kinh tế  xã hội 1996 ­ 2000 tỉnh Thừa Thiên Huế  ­  UBND  Tỉnh Thừa Thiên Huế (1995). 3. Hồ Kiệt, Đánh giá xói mòn và bồi lắng đất trên một số mô hình canh tác phổ biến   vùng đất dốc lưu vực sông Hương Thừa Thiên Huế, Luận án TSNN (2000) 4. Trần Đình Lý, Đào Trọng Hưng, Đỗ Hữu Thư,  Nghiên cứu cải tạo, sử dụng hợp   lý hệ  sinh thái vùng gò đồi Bình Trị  Thiên, Tài liệu hội thảo sử  dụng hợp lý tài  12
  9. nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường vùng Bình Trị Thiên,  nxb Nông nghiệp   (1996). 5. Các báo cáo của UBND Huyện Hương trà và UBND tỉnh Thừa Thiên Huế có liên  quan. ASSESSING THE CURRENT MANAGEMENT AND THE USE OF LAND  ON THE UPLAND OF HUONG TRA DISTRICT,  THUA THIEN HUE PROVINCE Ho Kiet, Huynh Van Chuong  College of Agriculture and Forestry, Hue University SUMMARY The   topography   of   the   upland   of   Huong   Tra   District   is   sloping   and   separated.   The   economic situation in the region is not well developed. The current management of the land and   its   use   is   still   limited.   The   main   causes   are   the   poor   cultural,   educational   and   economic   situation of the residents and the poor professional competance of the local land administration   staff. It’s also promoted the lines of further land use systems based on the digitalized special   subject ­ maps by “over ­ lay” method. 13

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản