Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

intTypePromotion=1
ADSENSE

Đánh giá tổng hợp về mối quan hệ tự do hóa thương mại – đói nghèo nông thôn - Môi trường trong nghề nuôi tôm tại tỉnh Cà Mau

Chia sẻ: Tiểu Vũ Linh Hoa | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

10
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết "Đánh giá tổng hợp về mối quan hệ tự do hóa thương mại – đói nghèo nông thôn - Môi trường trong nghề nuôi tôm tại tỉnh Cà Mau" cho thấy sự cần thiết phải có môi trường chính sách khuyến khích nuôi tôm bền vững, cơ chế chia sẻ công bằng lợi ích của tự do hóa thương mại và khuyến khích nuôi tôm như một chiến lược giảm nghèo. Mời các bạn cùng tham khảo chi tiết nội dung!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đánh giá tổng hợp về mối quan hệ tự do hóa thương mại – đói nghèo nông thôn - Môi trường trong nghề nuôi tôm tại tỉnh Cà Mau

  1. Thẩm Ngọc Diệp, Đánh giá tổng hợp về mối quan hệ tự do hoá thương mại - đói nghèo nông thôn - môi trường trong nghề nuôi tôm tại tỉnh Cà Mau ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP VỀ MỐI QUAN HỆ TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI – ĐÓI NGHÈO NÔNG THÔN - MÔI TRƯỜNG TRONG NGHỀ NUÔI TÔM TẠI TỈNH CÀ MAU Thẩm Ngọc Diệp Tóm tắt Nuôi  tôm  gần  đây  tăng  trưởng  nhanh  tại  Việt  Nam  nhờ  định  hướng  về  tự  do  hóa  thương  mại và các chính sách phát triển sản xuất xuất khẩu. Quỹ Quốc tế Bảo vệ Động vật hoang dã  (WWF) Việt Nam và Ngân hàng Thế giới (WB) phối hợp với các cơ quan trong nước đã tiến  hành đánh giá tác động kinh tế, xã hội và môi trường của tự do hóa thương mại đối với nghề  nuôi tôm ở Cà Mau. Từ tỉnh chuyên trồng lúa, Cà Mau đã chuyển đổi mạnh sang nuôi tôm  xuất khẩu, góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế địa phương. Tuy nuôi tôm mang lại  nguồn sinh kế hấp dẫn hơn nhưng đòi hỏi đầu tư lớn và có rủi ro cao nên người nghèo, với ít  đất và nguồn lực tài chính bị hạn chế hơn trong việc tham gia và hưởng lợi từ nuôi tôm. Tính  bền  vững  của  nghề nuôi  tôm  đang  bị  đe  dọa do  sự  kém ổn  định  và chưa  phù  hợp  về  mặt  sinh thái của một số mô hình nuôi tôm. Sự phát triển nuôi tôm tác động nghiêm trọng đến  môi trường như sự xâm nhập mặn ở đất trồng lúa chuyển đổi, sự suy giảm rừng ngập mặn,  đa dạng sinh học và chức năng của hệ sinh thái, sự ô nhiễm môi trường nước… Ngoài ra còn  có những vấn đề xã hội đáng cảnh báo như sự gia tăng khoảng cách về thu nhập và sử dụng  đất giữa các nhóm xã hội, sự gia tăng tỷ lệ hộ cận nghèo và tái nghèo… Kết quả nghiên cứu  cho thấy sự cần thiết phải có môi trường chính sách khuyến khích nuôi tôm bền vững, cơ chế  chia sẻ công bằng lợi ích của tự do hóa thương mại và khuyến khích nuôi tôm như một chiến  lược giảm nghèo.   1. Phương pháp luận và công cụ nghiên cứu 1.1. Phương pháp luận Nghiên cứu sử dụng khung khái niệm Đánh giá hệ sinh thái thiên niên kỷ làm định hướng  cho nghiên cứu. Khung khái niệm này được hiểu như sau: tự do hóa thương mại là nguyên  nhân gián tiếp dẫn đến việc thay đổi sử dụng đất và nước để tạo ra các hàng hóa và dịch vụ  phục vụ thương mại và sự thịnh vượng của con người và sự thay đổi sử dụng công nghệ,  đầu  tư,  tài  nguyên  đất  và  nước  cho  NTTS  là  các  tác  nhân  trực  tiếp  làm  thay  đổi  các  chức  năng và dịch vụ của các hệ sinh thái cung cấp cho con người.       1.2. Công cụ nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích các số liệu thống kê (từ nguồn số liệu thống kê  của  tỉnh,  Tổng  cục  Thống  kê,  khảo  sát  mức  sống  hộ  gia  đình  năm  2002  với  số  lượng  670  mẫu…),  phân  tích  số  liệu  thứ  cấp  (từ  các  báo  cáo  của  tỉnh,  huyện,  xã,  các  cơ  quan  nghiên  cứu…), đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của cộng đồng, điều tra hộ gia đình dựa  trên phiếu điều tra thu thập từ 120 hộ được tiến hành trong quá trình khảo sát thực địa.    Khảo sát thực địa được tiến hành tại các địa điểm đại diện cho ba mô hình nuôi tôm phổ biến  nhất tại Cà Mau: mô hình tôm – rừng, lúa – tôm và đa dạng hóa loài nuôi (với tôm là chủ yếu  kết hợp nuôi cua, cá) thuộc ba huyện Cái Nước, Đầm Dơi và Năm Căn.  Kỷ yếu Hội thảo quốc gia "Phát triển bền vững ngành thuỷ sản Việt Nam: Các vấn đề và cách tiếp cận" 191
  2. Thẩm Ngọc Diệp, Đánh giá tổng hợp về mối quan hệ tự do hoá thương mại - đói nghèo nông thôn - môi trường trong nghề nuôi tôm tại tỉnh Cà Mau 2. Kết quả thảo luận 2.1. Tự do hóa thương mại và ngành thủy sản Tự do hóa thương mại ở Việt Nam trải qua một quá trình phát triển lâu dài, bắt đầu từ cuối  những năm 1980 với những cải cách về cơ chế quản lý kinh tế và được thúc đẩy vào những  năm  1990  tập  trung  vào  việc  tự  do  hóa  các  chính  sách  thương  mại,  khuyến  khích  đầu  tư  nước ngoài và hố trợ xuất khẩu. Ngành thủy sản là một trong những ngành được hưởng lợi  từ quá trình tự do hóa thương mại ở Việt Nam, chủ yếu nhờ sự mở rộng thị trường, đặc biệt  với những cơ hội tiếp cận các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Châu Âu, Đông Nam Á,  v.v...  Chính  phủ  Việt  Nam  cũng  ban  hành  nhiều  chính  sách  mạnh  dạn  để  khuyến  khích  NTTS như một ngành sản xuất hàng hóa xuất khẩu bao gồm các chính sách quan trọng như  Chương trình 773 khởi xướng năm 1994 nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng NTTS, Chương trình  224  về  phát  triển  NTTS  giai  đoạn  1999‐  2010,  Nghị  định  09  của  Chính  phủ  ban  hành  năm  2000 cho phép chuyển đổi đất nông nghiệp sản xuất kém hiệu quả sang NTTS v.v... và một  số chính sách gián tiếp hỗ trợ NTTS.       NTTS  là  một  trong  những  ngành  tăng  trưởng  nhanh  nhất  tại  Việt  Nam  trong  những  năm  gần đây, trong đó nuôi tôm đóng vai trò quan trọng. Trong khoảng thời gian từ năm 2001  đến 2005, diện tích nuôi tôm trên cả nước tăng từ 210.000 đến 604.480  ha và sản lượng tăng  từ  163.000  đến  310.000  tấn.  Giá  trị  xuất  khẩu  của  sản  phẩm  tôm  khoảng  1,26  tỷ  USD,  năm  2004, chiếm tới 52,5% sản phẩm thủy sản xuất khẩu. Lao động NTTS tiếp tục gia tăng, năm  2003 có khoảng 2,5 triệu người  trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng có diện tích  và sản lượng nuôi tôm nước lợ cao nhất, chiếm 59%.       2.2. Vai trò của sự phát triển NTTS đối với nền kinh tế của tỉnh Cà Mau Nghiên cứu cho thấy cả sự mở rộng thị trường xuất khẩu cho sản phẩm tôm và sự thay đổi  giá sản phẩm cũng như các chính sách của Chính phủ nhằm thúc đẩy ngành NTTS, kể cả các  chính  sách  cấp  tỉnh  chỉ  đạo  việc  sử  dụng  kênh  mương  trong  khu  vực  rừng  ngập  mặn,  chuyển đổi đất trồng lúa sang NTTS và chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2000‐2010 coi  thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn, đã khuyến khích sự phát triển của nghề nuôi tôm ở Cà  Mau.     Sự  phát  triển  của  nghề  nuôi  tôm  có  những  ảnh  hưởng  quan  trọng  đối  với  nền  kinh  tế  của  tỉnh.  Từ  năm  2001  đến  2003,  GDP  từ  sản  phẩm  thủy  sản  của  tỉnh  tăng  2,21  lần,  tỷ  lệ  tăng  trưởng kinh tế hàng năm khá cao, khoảng 11‐12%. Cũng trong thời gian này, tỉnh có 58.000  việc làm mới chủ yếu trong ngành thủy sản. Thu nhập bình quân của các hộ tăng đáng kể  với 57,8% thu nhập từ nuôi tôm trong tổng thu nhập của các hộ NTTS. Tỷ lệ nghèo đói giảm  từ 15,48% năm 2001 xuống 7,8% năm 2004.                     192 Kỷ yếu Hội thảo quốc gia "Phát triển bền vững ngành thuỷ sản Việt Nam: Các vấn đề và cách tiếp cận"
  3. Thẩm Ngọc Diệp, Đánh giá tổng hợp về mối quan hệ tự do hoá thương mại - đói nghèo nông thôn - môi trường trong nghề nuôi tôm tại tỉnh Cà Mau 500000 450000 400000 350000 300000 250000 200000 150000 100000 50000 0 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 DiÖn tÝch nu«i t«m (ha) 104371 106102 90511 153373 217898 239398 248028 247510 S¶n l−îng t«m nu«i (tÊn) 18932 16817 19720 49232 55330 60619 62241 85912 Kim ng¹ch XK (1000 USD) 150178 232051 251862 307768 412026 451000   Diện tích nuôi tôm, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu tôm của Cà Mau năm 1997 – 2004   Tuy nhiên, do nuôi tôm trở thành ngành kinh tế lớn nhất của tỉnh, lại phụ thuộc nhiều vào  thị trường quốc tế, nền kinh tế của tỉnh và đời sống của rất nhiều người nuôi tôm và những  người kiếm sống bằng các nghề liên quan đến nuôi tôm cũng bị ảnh hưởng lớn khi có những  trở ngại về thương mại như trường hợp thất bại trong việc bán tôm sang thị trường Châu Âu  trong năm 2002 và vụ kiện bán phá giá tôm của Hoa Kỳ năm 2004.    2.3. Sự liên quan giữa nghề nuôi tôm và chiến Chuyển đổi rừng ngập mặn sang nuôi tôm ở Cà Mau 1983-1998 lược sinh kế của các nhóm xã hội 140000 Nhờ có những tín hiệu thị trường tích cực, nghề  120000 nuôi tôm trở thành một nguồn sinh kế hấp dẫn  100000 đối  với  nông  hộ  hơn  việc  canh  tác nông  nghiệp  80000 60000 truyền thống hoặc thu hoạch sản phẩm từ rừng.  40000 Tuy  nhiên,  để  có  thể  nuôi  tôm,  cần  phải  có  20000 những tài sản nhất định, do vậy chiến lược sinh  0 1983 1988 1990 1991 1993 1995 1998 kế  của  người  dân  địa  phương  trước  những  tín  hiệu  thị  trường  lại  rất  khác  nhau.  Các  hộ  nông  dân  nghèo  có  ít  đất  (diện  tích  mặt  nước)  và  nguồn tài chính hạn chế thường khó có thể mở rộng diện tích nuôi tôm và nâng cao mức độ  thâm canh để có nguồn thu lớn hơn từ nuôi tôm. Trong khi đó, các nông hộ khá giả có nguồn  tài chính ổn định vì họ có một diện tích đất đủ lớn và đáp ứng được yêu cầu về thế chấp của  ngân hàng để đầu tư vào nuôi tôm ở quy mô lớn hơn và kỹ thuật tiên tiến hơn, giúp giảm  thiểu được rủi ro do dịch bệnh và có nguồn thu lớn hơn. Những người nghèo không có đất  thường  khó  có  thể  tiến  hành  nuôi  tôm  mà  chỉ  có  thể  kiếm  sống  bằng  những  công  việc  lao  động theo mùa vụ hoặc công nhật.         Kỷ yếu Hội thảo quốc gia "Phát triển bền vững ngành thuỷ sản Việt Nam: Các vấn đề và cách tiếp cận" 193
  4. Thẩm Ngọc Diệp, Đánh giá tổng hợp về mối quan hệ tự do hoá thương mại - đói nghèo nông thôn - môi trường trong nghề nuôi tôm tại tỉnh Cà Mau 2.4. Tính bền vững của nghề nuôi tôm Nghề nuôi tôm không chỉ bị rủi ro do sự thay đổi giá cả và các thỏa thuận thương mại mà  còn do dịch bệnh, thời tiết và các vấn đề môi trường. Nhìn chung, nuôi tôm mang lại thành  công trong một số vụ đầu nhưng tính bền vững của hoạt động sản xuất này đang bị đe dọa,  đặc biệt khi người nuôi tôm cố gắng tăng mức độ thâm canh thì khả năng gây suy thoái môi  trường đất và nước cũng như sự lan truyền dịch bệnh cũng tăng lên. Trên toàn tỉnh, 50‐60%  diện tích nuôi tôm bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh bùng phát năm 2003. Kết quả từ khảo sát hộ  gia  đình  và  đánh  giá  nhanh  nông  thôn  trong  Diễn biến diện tích trồng lúa và nuôi tôm khuôn  khổ  của  nghiên  cứu  này  cũng  cho  thấy  ở Cà Mau 1997-2004 sự  gia  tăng  của  hiện  tượng  thất  thu  tôm  ở  các  300000 mô hình rừng‐ tôm và lúa‐tôm trong năm 2004  250000 diễn  ra  trên  diện  rộng  hơn  so  với  các  năm  200000 trước.        150000   100000 2.5. Các tác động môi trường do nuôi tôm 50000 Sự  gia  tăng  sản  lượng  tôm  nuôi  chủ  yếu  là  do  0 1997 2000 2001 2002 2003 2004 gia  tăng  diện  tích  hơn  là  sự  gia  tăng  về  năng  Diện tích trồng lúa Diện tích nuôi tôm suất.  Ở  Cà  Mau,  việc  chuyển  đổi  sử  dụng  đất  đã    diễn  ra  rất  mạnh  mẽ  thậm  chí  còn  vượt  cả  chỉ tiêu đặt ra trong kế hoạch phát triển của tỉnh. Sự mở rộng nuôi tôm trong rừng ngập mặn  dù ở quy mô nhỏ hay lớn đều dẫn tới sự mất một diện tích rất lớn rừng ngập mặn. Từ năm  1983  đến  năm  1998,  việc  nuôi  tôm  theo  kiểu  kết  hợp  rừng‐tôm  đã  dẫn  tới  việc  chuyển  đổi  120.000 ha rừng (trong đó 72.529 ha rừng ngập mặn, 41.204 ha mặt nước nuôi tôm bao gồm  cả 25.000 ha đất bờ liếp không thể trồng rừng được). Ngoài ra, việc chuyển đổi đất trồng lúa  sang nuôi tôm đã đóng góp cho sự gia tăng diện tích nuôi tôm từ 153.300 ha lên tới 247.510  ha trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2004. Những thay đổi về sử  dụng đất, cả theo  quy hoạch lẫn tự phát, đều gây ảnh hưởng lớn tới môi trường đất, nước và các hệ sinh thái  ven biển.     Việc chuẩn bị các ao nuôi tôm trong vùng rừng ngập mặn và việc dẫn nước mặn vào ruộng  lúa đã làm đất bị mặn hóa. Điều này dẫn đến nguy cơ không thể cải tạo đất trở lại và mất đất  nông nghiệp. Ở những vùng đất trồng lúa được chuyển đổi thành các vuông tôm theo mô  hình lúa‐ tôm, những năm gần đây lúa thường xuyên bị mất mùa  và người dân dường như  không thể trồng cây ăn quả hay các loại cây khác do độ mặn của đất quá cao.     Chất lượng nước giảm do chuẩn bị ao nuôi, nước và chất thải từ ao nuôi và các nhà máy chế  biến, v.v. .. là điều có thể nhận thấy rõ ràng. Độ đục cao, nồng độ sắt cao và thậm chí cao hơn  tiêu chuẩn môi trường đến hàng trăm lần, hàm lượng chất rắn lơ lửng cao đặc biệt vào đầu  tháng 9, khi ao tôm được nạo vét để chuẩn bị cho vụ mới và vào cuối tháng 4 khi nước trong  ao được xả ra ngoài để thu hoạch, hàm lượng DO thấp, pH thấp, vv… Một số chỉ số không  đạt tiêu chuẩn nước NTTS, điều này đe dọa sự thành công của nuôi tôm trong tương lai.             194 Kỷ yếu Hội thảo quốc gia "Phát triển bền vững ngành thuỷ sản Việt Nam: Các vấn đề và cách tiếp cận"
  5. Thẩm Ngọc Diệp, Đánh giá tổng hợp về mối quan hệ tự do hoá thương mại - đói nghèo nông thôn - môi trường trong nghề nuôi tôm tại tỉnh Cà Mau   Sự suy giảm đáng kể tính đa dạng sinh học  Chất thải từ nuôi tôm (triệu m3 ) đã được ghi nhận do sự suy thoái và chia cắt  300 sinh cảnh. Nhiều sân chim, một số loài chim  quý hiếm và một số  loài thực vật đã không  200 còn tồn tại ở địa phương.   Các  dịch  vụ  hệ  sinh  thái  bị  suy  giảm,  đặc  biệt là chức năng cung cấp của hệ sinh thái.  100 Qua khảo sát hộ gia đình và đánh giá nhanh  nông  thôn  nhận  thấy  việc  khai  thác  các  sản  0 phẩm  tự  nhiên  như  đánh  cá  và  thu  hoạch  1999 2000 2001 2002 2003 các  sản  phẩm  rừng  (củi,  mật  ong,  chim…)  trước  đây  đã  mang  lại  nguồn  sinh  kế  nhất  định  cho  người  nghèo  nhưng  hiện  nay  nguồn thu từ hoạt động này không đáng kể nên chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ các hộ tham gia khai  thác sản phẩm tự nhiên.     2.6. Các tác động xã hội của nghề nuôi tôm Nghiên cứu đã phát hiện ra sự chênh lệch lớn  về thu nhập giữa các hộ tham gia nuôi tôm và  25.17% không nuôi tôm, giữa nhóm hộ nghèo và giàu  35.24% (trong ngũ vị phân chi tiêu), giữa hộ không có  đất và hộ có đất từ tính toán dựa trên kết quả  khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam 2002.  Nếu nhìn vào thu nhập từ nuôi tôm nói riêng,  thu nhập của hộ nghèo thấp hơn 3 lần so với  các  nhóm  hộ  khác,  theo  kết  quả  đánh  giá  17.15% 10.64% nhanh nông thôn ở một số xã.     11.80% Xu hướng tích tụ đất cũng khá rõ trong vòng 5  Không có đất 1-5000m2 2 2 5000-10000m 10000-20000m năm  trở  lại  đây  ở  các  vùng  nuôi  tôm  ở  Cà  > 20000m2 Mau,  làm  gia  tăng  tỷ  lệ  hộ  không  có  đất.  Sự  Phân loại hộ gia đình theo diện tích chênh  lệch  về  sử  dụng  đất  cũng  được  ghi  sử dụng đất ở Cà Mau năm 2002 nhận với 35,2% hộ không có đất và 25% hộ có  trên 2 ha đất [5]. Điều này dẫn đến sự gia tăng  số lượng người làm thuê.    Tỷ  lệ  hộ  cận  nghèo  khá  cao  so  với  vùng  đồng  bằng  sông  Cửu  Long  và  cả  nước.  Tỷ  lệ  tái  nghèo có xu hướng gia tăng ở Cà Mau. Có nhiều lý do nhưng lý do cơ bản là các hộ thoát  nghèo trước đây bị thất bại trong nuôi tôm và phải bán đất và thay đổi sinh kế.              [5] Diện tích đất trung bình của các hộ có đất ở Cà Mau là 20.000 m2, trong khi con số này ở đồng bằng sông Cứu  Long là 10.800 m2, và cả nước thấp hơn 8.000 m2  Kỷ yếu Hội thảo quốc gia "Phát triển bền vững ngành thuỷ sản Việt Nam: Các vấn đề và cách tiếp cận" 195
  6. Thẩm Ngọc Diệp, Đánh giá tổng hợp về mối quan hệ tự do hoá thương mại - đói nghèo nông thôn - môi trường trong nghề nuôi tôm tại tỉnh Cà Mau   Tỷ lệ tái nghèo ở Cà Mau năm 2003 Huyện Tỷ lệ hộ nghèo Tỷ lệ hộ tái nghèo/tổng số hộ nghèo U Minh 12,9 15,83 Thới Bình 10,44 10,78 Trần Văn Thời 11,02 22,49 thành phố Cà Mau 3,4 13,95 Cái Nước 13,19 16,63 Đầm Dơi 8,16 27,11 Ngọc Hiển 7,8 12,43 Tổng 9,41 17,66 Hiện tượng vay nợ lớn cũng gắn liền với nghề nuôi tôm vì nó đại diện cho sự chuyển đổi từ  sản xuất nông nghiệp với đầu tư, lợi nhuận và rủi ro thấp sang NTTS với đầu tư, lợi nhuận  và rủi ro cao. Phần lớn người nuôi tôm trông chờ vào vụ thu hoạch để trả nợ nhưng nghề  nuôi tôm hiện nay gặp nhiều rủi ro dẫn tới tình trạng dư nợ và nợ quá hạn lớn.     Ngoài ra, còn có một số vấn đề xã hội nữa liên quan đến nghề nuôi tôm như sự thay đổi lối  sống và sự giảm tỷ lệ trẻ em tới trường, v.v…    3. Kết luận Từ nghiên cứu có thể thấy rõ rằng nghề nuôi tôm mang lại những lợi ích kinh tế đáng kể cho  địa phương. Tuy nhiên, nghề nuôi tôm cũng gắn với những rủi ro lớn hơn. Để nuôi tôm tiếp  tục mang lại những lợi ích, cần phải đảm bảo rằng sự tăng trưởng của nghề nuôi tôm không  hủy  hoại  môi  trường.  Áp  dụng  phương  thức  sản  xuất  phù  hợp  với  điều  kiện  sinh  thái  sẽ  đảm bảo tương lai lâu dài cho nghề nuôi tôm. Những kết quả đạt được từ nghiên cứu cũng  cho thấy cần phải xác định một cơ chế để giải quyết vấn đề chia sẻ công bằng lợi ích từ tự do  hóa thương mại và cần khuyến khích nuôi tôm như một chiến lược cho giảm nghèo. Nhìn  chung, nghiên cứu cũng đã nhấn mạnh sự cần thiết có một môi trường chính sách cho nuôi  tôm bền vững cũng như các biện pháp để giải quyết những hạn chế về kỹ thuật trong các mô  hình nuôi tôm.   Tài liệu tham khảo 1.  Cục Thống kê Cà Mau. Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau 2000, 2001, 2002 và 2003  2.  Cục Thống kê Cà Mau (1997). Số liệu kinh tế xã hội tỉnh Cà Mau giai đoạn 1991‐1996  3.  Đặng  Công  Bửu  và  Đỗ  Xuân  Phương  (1999).  Trung  tâm  nghiên  cứu  rừng  ngập  mặn  Minh Hải  4.  Phạm Đình Đôn (2004). Môi trường nước trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất lúa‐tôm ở  Cà Mau. Hội thảo khoa học: Sự chuyển đổi hiện trạng sử dụng đất và nước do tác động  của con người vùng bán đảo Cà Mau  5.  Sở  NN  và  PTNT  Cà  Mau.  Báo  cáo  tổng  kết  kế  hoạch  nông  nghiệp  và  phát  triển  nông  thôn năm 2001, 2002, 2003 và 2004.   6.  Sở  Thủy  sản  Cà  Mau.  Báo  cáo  tình  hình  thực  hiện  kế  hoạch  năm  2001,  2002,  2003  và  2004.        196 Kỷ yếu Hội thảo quốc gia "Phát triển bền vững ngành thuỷ sản Việt Nam: Các vấn đề và cách tiếp cận"
  7. Thẩm Ngọc Diệp, Đánh giá tổng hợp về mối quan hệ tự do hoá thương mại - đói nghèo nông thôn - môi trường trong nghề nuôi tôm tại tỉnh Cà Mau Lưu ý: Các số liệu và nôi dung trong bài viết được thu thập và tổng hợp từ các báo cáo hợp  phần và báo cáo tổng hợp của Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tự do hóa thương mại, đói  nghèo và môi trường do WWF và WB cùng các cơ quan trong nước thực hiện trong khuôn  khổ Dự án Tự do hóa thương mại, Đói nghèo nông thôn và Môi trường do Chính phủ Hà  Lan và Cộng đồng Châu Âu tài trợ.   GENERAL REVIEW OF INTERRELATIONS ON TRADE LIBERALIZATION, POVERTY AND ENVIRONMENT: A CASE STUDY IN SHRIMP FARMING IN CA MAU PROVINCE Abstract Shrimp aquaculture is growing in Viet Nam thanks to trade liberalization and export‐led  growth policies. WWF Viet Nam and the World Bank, with financial support from Dutch  Government  and  the  EU  carried  out  an  integrated  assessment  named  Trade  Liberalization, Rural Poverty and the Environment. The project studied social, economic  and environmental impacts of trade liberalization on shrimp aquaculture in Ca Mau. Ca  Mau  initially  specialized  in  rice  cultivation,  but  switched  massively  to  shrimp  aquaculture.  The  move  contributed  to  the  countryʹs  exports  and  the  rapid  economic  growth  of  the  province.  Though  shrimp  aquaculture  is  an  attractive  field  with  large  interest,  it  requires  large  investment  as  well,  not  to  mention  high  risk  due  to  weather,  disease or trading policy. Hence the poor with little access to land, financial resources or  information  found  it  extremely  difficult  to  engage  in  the  industry  or  gain  any  financial  benefit  from  it.  On  the  other  hand,  the  developing  shrimp  aquaculture  affects  the  environment significantly in terms of salinization of the converted rice fields; degradation  of mangrove area, biodiversity and functions of ecosystems; water pollution, etc. Along  with the development of shrimp farming are some alarming social problems such as the  increasing income gap, land use gap between different social groups, the increase of the  near  poor  ratio,  migration.  Thus  a  supportive  policy  environment  is  a  must  for  sustainable shrimp farming, a mechanism to address fair beneficial distribution of trade  liberalization and promotion of shrimp aquaculture as a strategy for poverty alleviation  is also needed.  Kỷ yếu Hội thảo quốc gia "Phát triển bền vững ngành thuỷ sản Việt Nam: Các vấn đề và cách tiếp cận" 197
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2