intTypePromotion=1
ADSENSE

Đánh giá vai trò của nghiệm pháp Lasix trong phẫu thuật nội soi sau phúc mạc điều trị hẹp khúc nối bể thận niệu quản

Chia sẻ: ViAchilles2711 ViAchilles2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

21
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết đánh giá vai trò của test Lasix trong phẫu thuật nội soi sau phúc mạc điều trị hẹp khúc nối bể thận-niệu quản tại Khoa Tiết niệu, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đánh giá vai trò của nghiệm pháp Lasix trong phẫu thuật nội soi sau phúc mạc điều trị hẹp khúc nối bể thận niệu quản

t¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 6-2019<br /> <br /> ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA NGHIỆM PHÁP LASIX TRONG<br /> PHẪU THUẬT NỘI SOI SAU PHÚC MẠC ĐIỀU TRỊ<br /> HẸP KHÚC NỐI BỂ THẬN-NIỆU QUẢN<br /> Nguyễn Đức Minh1; Nguyễn Huy Hoàng1<br /> Hoàng Long1; Vũ Nguyễn Khải Ca1<br /> TÓM TẮT<br /> Mục tiêu: đánh giá vai trò của test Lasix trong phẫu thuật nội soi sau phúc mạc điều trị hẹp<br /> khúc nối bể thận-niệu quản tại Khoa Tiết niệu, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Đối tượng và<br /> phương pháp: mô tả tiến cứu trên 60 bệnh nhân được mổ nội soi sau phúc mạc điều trị hẹp<br /> khúc nối bể thận-niệu quản từ tháng 8 - 2012 đến 8 - 2017, trong đó, 20 bệnh nhân cần sử<br /> dụng test Lasix trong mổ. Kết quả: bệnh nhân nam chiếm 65% và nữ chiếm 35%. Độ tuổi trung<br /> bình 32,4 ± 15,7 (16 - 57 tuổi). Can thiệp bên phải 9 bệnh nhân và bên trái 11 bệnh nhân.<br /> Thời gian mổ trung bình 105,42 ± 21,67 phút (55 - 130 phút). Tiêm tĩnh mạch lasix 1 ống 20 mg,<br /> thời gian chờ đợi tác dụng của lasix trung bình 15 phút (8 - 30 phút). Lượng máu mất trong mổ<br /> trung bình 33,15 ml (10 - 90 ml). Thời gian nằm viện trung bình 3,8 ± 1,3 ngày (3 - 6 ngày).<br /> 14 trường hợp phát hiện hẹp khúc nối do nguyên nhân nội tại bên trong tại vị trí nối bể<br /> thận-niệu quản cần phải cắt nối và tạo hình JJ, 6 trường hợp do mạch máu nhỏ bất thường<br /> chèn ép sau khi cắt mạch bất thường không phải cắt nối niệu quản tạo hình. Giải phẫu bệnh<br /> đoạn hẹp sau mổ ở 14 bệnh nhân cắt nối: 100% có viêm xơ hẹp đoạn khúc nối. Kết luận:<br /> test Lasix cần thiết trong một số trường hợp nhất định, giúp phẫu thuật viên xác định nguyên<br /> nhân gây hẹp, đánh giá chính xác vị trí hẹp, từ đó có thái độ xử trí phù hợp.<br /> * Từ khóa: Hẹp khúc nối bể thận-niệu quản; Phẫu thuật nội soi sau phúc mạc; Test Lasix.<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ trung niên hoặc thậm chí muộn hơn [3].<br /> Điều trị hẹp khúc nối BT-NQ bằng phẫu<br /> Hẹp khúc nối bể thận-niệu quản (BT-NQ) thuật mở dựa trên nguyên tắc tạo hình<br /> là dị tật bẩm sinh, nguyên nhân do giải<br /> theo phương pháp Anderson - Hynes<br /> phẫu hoặc chức năng gây chít hẹp khúc<br /> được biết đến với tỷ lệ thành công > 90%<br /> nối làm cản trở lưu thông nước tiểu từ bể<br /> [1]. Tuy nhiên, bệnh nhân (BN) phải chịu<br /> thận xuống niệu quản, gây hiện tượng ứ<br /> nước thận, lâu dài dẫn đến suy giảm vết mổ lớn, gây ảnh hưởng về thẩm mỹ,<br /> chức năng thận. Hiện nay, các phương sang chấn lớn về tâm lý do phẫu thuật<br /> pháp chẩn đoán sớm trước sinh phát mở và thời gian hậu phẫu kéo dài.<br /> triển đã cải thiện tỷ lệ phát hiện bệnh ở Bên cạnh đó, phẫu thuật nội soi niệu<br /> trẻ em nhưng phần lớn các trường hợp quản xẻ rộng khúc nối hẹp cũng được sử<br /> bệnh diễn biến âm ỉ nên triệu chứng dụng để điều trị bệnh lý này nhưng tỷ lệ<br /> bệnh lý thường biểu hiện ở tuổi thanh niên, thành công thấp hơn mổ mở 10 - 20%,<br /> <br /> 1. Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức<br /> Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Đức Minh (hienminh28bvvd@gmail.com)<br /> Ngày nhận bài: 25/06/2019; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 28/07/2019<br /> Ngày bài báo được đăng: 05/08/2019<br /> <br /> 77<br /> T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 6-2019<br /> <br /> đặc biệt đối với trường hợp thận ứ nước xác định chính xác vị trí hẹp và nguyên<br /> đài bể thận giãn to hoặc chức năng thận nhân gây hẹp là gì, từ bên trong hay bên<br /> giảm nhiều. Ngoài ra, phương pháp này ngoài. Và nghiệm pháp Lasix đã giúp<br /> còn chống chỉ định trong trường hợp có chúng tôi giải quyết 2 vấn đề trên một cách<br /> mạch máu bất thường chèn ép do nguy hiệu quả. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu<br /> cơ chảy máu trong và sau mổ. này nhằm:<br /> Năm 1993, Schuessler và Kavoussi - Đánh giá vai trò của nghiệm pháp<br /> lần đầu mô tả phẫu thuật nội soi ổ bụng Lasix trong điều trị bệnh lý hẹp khúc nối<br /> tạo hình hẹp BT-NQ [6, 7]. Năm 1996, BT-NQ bằng phẫu thuật NSSPM.<br /> Janetschek G báo cáo lần đầu tiên sử - Chỉ định tạo hình khúc nối BT-NQ<br /> dụng nội soi sau phúc mạc (NSSPM) tạo trong mổ NSSPM.<br /> hình BT-NQ [4]. Ngày nay, phương pháp<br /> này được áp dụng rộng rãi trên thế giới<br /> ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP<br /> và là một lựa chọn tốt thay thế phương<br /> NGHIÊN CỨU<br /> pháp mổ mở truyền thống [2, 10].<br /> 1. Đối tượng nghiên cứu.<br /> Kỹ thuật mổ NSSPM điều trị hẹp<br /> khúc nối BT-NQ được thực hiện tại Khoa 60 BN được chẩn đoán hẹp khúc nối<br /> Tiết niệu, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ BT-NQ với đầy đủ dữ liệu về lâm sàng và<br /> năm 2007 và thu được thành công ban được đánh giá mức độ tổn thương bệnh<br /> đầu đáng khích lệ. Trong quá trình thực lý bằng chụp cắt lớp vi tính 64 dãy dựng<br /> hiện phẫu thuật cho nhiều BN, chúng tôi hình, điều trị bằng kỹ thuật mổ NSSPM,<br /> nhận thấy 2 vấn đề phát sinh. Thứ nhất, trong đó 20 BN có sử dụng test Lasix<br /> một số BN trên phim chụp CT trước mổ trong mổ.<br /> bể thận có giãn nhưng không nhiều, khi * Tiêu chuẩn loại trừ: BN hẹp khúc nối<br /> phẫu tích thấy trục BT-NQ thẳng, sau khi BT-NQ có chống chỉ định mổ NSSPM hoặc<br /> giải phóng tổ chức xơ sau phúc mạc và hẹp BT-NQ do mắc phải sau phẫu thuật.<br /> cắt mạch máu nhỏ bất thường chèn ép<br /> quan sát thấy bể thận không giãn nữa, 2. Phương pháp nghiên cứu.<br /> thời điểm đó chúng tôi cho rằng hẹp do Mô tả tiến cứu 20 BN hẹp BT-NQ điều<br /> nguyên nhân bên ngoài và quyết định chỉ trị phẫu thuật NSSPM sử dụng test Lasix<br /> gỡ dính hoặc cắt mạch máu và không trong mổ tại Khoa Tiết niệu, Bệnh viện<br /> tạo hình. Theo dõi những BN này về sau, Hữu nghị Việt Đức từ 8 - 2012 đến 8 - 2017.<br /> chúng tôi thấy phần lớn phải đặt JJ<br /> * Quy trình thực hiện:<br /> ngược dòng sớm sau mổ, sau đó đa<br /> phần phải mổ mở lại để cắt nối tạo hình - Đánh giá trước mổ: tuổi, giới, bên khúc<br /> BT-NQ. Thứ hai, một số BN bể thận giãn nối BT-NQ bị hẹp.<br /> rõ ràng hơn một chút, nhưng do trục - Quy trình phẫu thuật NSSPM: BN<br /> BT-NQ thẳng rất khó phát hiện chính xác nằm nghiêng 90o về phía đối diện, độn gối<br /> ranh giới giữa đoạn lành và đoạn hẹp dưới hố thắt lưng. Gây mê nội khí quản.<br /> để tiến hành cắt bỏ. Từ hai vấn đề trên Phẫu thuật viên và người phụ đứng sau<br /> chúng tôi nhận thấy cần có biện pháp lưng BN.<br /> <br /> 78<br /> t¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 6-2019<br /> <br /> Đặt trocar thứ nhất 10 mm trên đường (8 - 30 phút), nhanh hay chậm tùy từng BN.<br /> nách giữa, cách mào chậu 1 cm. Tạo khoang Sau đó quan sát những thay đổi hình thái<br /> sau phúc mạc bằng ngón tay găng bơm của bể thận. Trong mổ ghi nhận về thời<br /> 500 - 800 ml, bơm hơi áp lực 12 mmHg. gian mổ, mạch máu bất thường, lượng<br /> Sau đó đặt tiếp trocar thứ 2 (5 mm) trên máu mất và các biến chứng trong mổ.<br /> đường nách trước ở giữa mào chậu và - Đánh giá kết quả trong mổ:<br /> bờ sườn. Đặt trocar thứ 3 (10 mm) ở bờ<br /> + Nếu bể thận giãn to sau khi cho lasix<br /> dưới xương sườn 12, có thể đặt trocar<br /> thấy rõ vị trí hẹp, quyết định cắt nối và tạo<br /> thứ 4 ở góc xương sườn 12. Bộc lộ BT-NQ<br /> hình, cắt niệu quản ở phần thấp dưới vị<br /> ở bờ ngoài cơ thắt lưng chậu.<br /> trí được nhận định là hẹp, sau khi cắt<br /> Khi phẫu tích vào tìm bể thận và niệu<br /> quan sát lưu lượng nước tiểu thấy qua<br /> quản ở 20 BN này, chúng tôi nhận thấy<br /> chỗ hẹp mặc dù bể thận giãn rất căng,<br /> bể thận ngay từ đầu không giãn tương<br /> nhưng nước tiểu gần như không chảy<br /> xứng như trên phim chụp hoặc giãn rất ít,<br /> qua chỗ cắt hoặc chỉ chảy từng giọt. Như<br /> rất khó nhận thấy chỗ hẹp rõ ràng. Sau<br /> vậy, đã xác định chính xác có hẹp và vị trí<br /> khi giải phóng niệu quản, cắt tổ chức xơ<br /> hoặc dây chằng, cắt mạch bất thường hẹp (BN 1, 2). Cắt đoạn hẹp gửi làm giải<br /> (nếu có), bể thận vẫn không có nhiều thay phẫu bệnh.<br /> đổi. Tiêm tĩnh mạch 1 ống lasix 20 mg + Nếu hình thái của bể thận không<br /> cho BN, đồng thời cho truyền dịch nhanh thay đổi, không giãn, chờ tối đa 30 phút<br /> huyết thanh mặn 9%, chờ trung bình 15 phút và quyết định không tạo hình (BN 3).<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> BN 1: Trước tiêm lasix. Sau tiêm lasix.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> BN 2: Trước tiêm lasix. Sau tiêm lasix.<br /> <br /> 79<br /> T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 6-2019<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> BN 3: Trước tiêm lasix. Sau cắt mạch vắt ngang và tiêm lasix.<br /> <br /> - Đánh giá kết quả sau mổ: - Mạch bất thường 16 BN (21,7%).<br /> Sau mổ, BN được sử dụng kháng sinh, - Dải xơ chèn ép 4 BN (3,3%).<br /> rút thông tiểu và ra viện sau 3 - 5 ngày.<br /> - Can thiệp bên phải 9 BN và bên trái<br /> Đánh giá về thời gian nằm viện, thời gian<br /> 11 BN.<br /> đặt dẫn lưu ổ mổ, biến chứng sau mổ,<br /> - 14 BN sau khi tiêm lasix từ 8 - 15 phút,<br /> thời gian rút ống thông JJ.<br /> bể thận giãn to rất rõ, vị trí hẹp thể hiện<br /> Hẹn khám lại kiểm tra lần đầu 1 tháng<br /> chính xác, chúng tôi cắt nối và tạo hình<br /> sau mổ. BN được siêu âm hệ tiết niệu,<br /> BT-NQ, 6 BN sau khi đợi 30 phút, hình<br /> chụp niệu đồ tĩnh mạch, trường hợp cần<br /> thái bể thận không thay đổi, không giãn<br /> thiết có thể chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp<br /> thêm, chúng tôi quyết định chỉ gỡ dính và<br /> NQ-BT ngược dòng để kiểm tra. Khám lại<br /> không cắt nối tạo hình.<br /> lần 2 sau mổ 3 tháng. Khám lại lần 3 sau<br /> mổ 12 tháng. - Giải phẫu bệnh sau mổ: 14 BN (100%)<br /> có viêm xơ hẹp đoạn khúc nối.<br /> Phẫu thuật đạt kết quả tốt khi BN hết<br /> - Thời gian phẫu thuật trung bình 105,42 ±<br /> triệu chứng lâm sàng, siêu âm kiểm tra<br /> 21,67 phút (55 - 130 phút).<br /> giảm độ giãn đài bể thận, chụp phim thấy<br /> thuốc cản quang xuống niệu quản và cải - Lượng máu mất trong mổ trung bình<br /> thiện hình thể chức năng thận trên chụp 33,15 ± 18,72 ml (10 - 90 ml). Không gặp<br /> cắt lớp vi tính đa dãy. trường hợp nào chảy máu sau mổ.<br /> - Không có BN nào sốt sau mổ.<br /> KẾT QUẢ - Thời gian rút dẫn lưu hố thận trung<br /> - Trong 60 BN mổ NSSPM, 20 BN phải bình 2,5 ngày (2 - 4 ngày).<br /> sử dụng test Lasix trong mổ. - Thời gian nằm viện trung bình 3,8 ±<br /> - Nghiên cứu có 13 BN nam (65%) và 1,3 ngày (3 - 6 ngày).<br /> 7 BN nữ (35%). - Tất cả BN đều được khám lại sau<br /> * Đặc điểm và kết quả phẫu thuật của 1 tháng, cho kết quả ban đầu tốt trên siêu<br /> 20 BN sử dụng test Lasix: âm và rút ống thông JJ.<br /> - Độ tuổi trung bình 32,4 ± 15,7 - 20 BN được khám lại sau 3 tháng,<br /> (16 - 57 tuổi). trong đó kết quả tốt 95%, BN hết triệu<br /> <br /> 80<br /> t¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 6-2019<br /> <br /> chứng lâm sàng, siêu âm bể thận nhỏ thẩm mỹ, nhưng tỷ lệ thành công theo<br /> hơn trước mổ, cắt lớp vi tính đa dãy thấy nhiều báo cáo tương tự phẫu thuật mở.<br /> thuốc lưu thông qua chỗ nối BT-NQ và Ngoài ra, theo dõi sau thời gian khá dài tỷ<br /> thận cải thiện chức năng, 1 BN không có lệ thành công vẫn được duy trì [5, 8, 10].<br /> triệu chứng lâm sàng nhưng siêu âm và Phẫu thuật nội soi ổ bụng điều trị hẹp<br /> chụp cắt lớp vi tính thận còn giãn. khúc nối BT-NQ bắt đầu áp dụng từ năm<br /> - 19/20 BN được khám lại sau 12 tháng, 1993 và ngày càng được sử dụng rộng<br /> trong đó kết quả tốt 95%, BN hết triệu chứng rãi. Đa số các báo cáo thời kỳ đầu đều đề<br /> lâm sàng, siêu âm thận có kết quả tốt. cập đến nội soi qua phúc mạc do khoang<br /> thao tác rộng, góc nhìn mở rộng. Tuy nhiên,<br /> BÀN LUẬN thao tác trong phúc mạc có nguy cơ gây<br /> Cho đến nay phẫu thuật mở điều trị tổn thương các tạng trong ổ bụng, đặc<br /> hẹp khúc nối BT-NQ vẫn được áp dụng biêt là ruột, khó khăn hơn khi bộc lộ bể<br /> khá rộng rãi với tỷ lệ thành công cao thận do đi vào từ phía trước có động -<br /> (khoảng 95%) [3] và được xem là tiêu tĩnh mạch thận. Hơn nữa, nếu có biến<br /> chuẩn vàng trong điều trị bệnh lý này. chứng rò nước tiểu sau mổ, hậu quả và<br /> Tuy nhiên, BN sẽ phải chịu vết mổ lớn cách xử trí sẽ khó khăn hơn nhiều.<br /> gây ảnh hưởng về thẩm mỹ, sang chấn NSSPM được áp dụng từ năm 1996. Mặc<br /> lớn về tâm lý do phẫu thuật và thời gian dù khoang làm việc sau phúc mạc hạn chế,<br /> hậu phẫu kéo dài. Phẫu thuật nội soi niệu nhưng cho phép tiếp cận trực tiếp với BT-NQ,<br /> quản xẻ rộng khúc nối có ưu điểm thời do đó rút ngắn thời gian phẫu thuật.<br /> gian phẫu thuật và thời gian nằm viện ngắn,<br /> nhưng tỷ lệ thành công của phương pháp Thời gian phẫu thuật trung bình trong<br /> này thấp hơn mổ mở 10 - 20%. Ngoài ra, nghiên cứu của chúng tôi là 95 phút,<br /> biến chứng chảy máu sau mổ có thể gặp tương đương kết quả của một số tác giả<br /> trong trường hợp có mạch máu bất thường. khác [8, 10] và ngắn hơn so với mổ theo<br /> Sau thời gian theo dõi xa, tỷ lệ thành đường phẫu thuật nội soi qua phúc mạc [5].<br /> công thấp hơn do nguy cơ tái phát cao. Tại sao chúng tôi phải dùng lasix trong<br /> Chỉ định của phương pháp này theo mổ?. Điều này hoàn toàn xuất phát từ<br /> chúng tôi cũng như một số tác giả khác thực tiễn. Đa số BN hẹp khúc nối BT-NQ<br /> nên áp dụng cho BN già yếu, có chống<br /> sau khi bộc lộ rõ bể thận và niệu quản<br /> chỉ định với mổ nội soi ổ bụng, đặc biệt<br /> đều thấy bể thận phía trên giãn to tương<br /> những trường hợp hẹp khúc nối BT-NQ<br /> xứng trên phim chụp CT 64 dãy dựng<br /> tái phát. Phương pháp mổ nội soi ổ bụng<br /> hình và/hoặc góc gấp tạo bởi giữa trục bể<br /> điều trị hẹp khúc nối BT-NQ ra đời và<br /> phát triển nhằm khắc phục nhược điểm thận và niệu quản là góc nhọn, những BN<br /> của các phương pháp trên. Phẫu thuật này được cắt nối và tạo hình ngay mà<br /> nội soi qua phúc mạc hoặc sau phúc mạc không cần dùng test Lasix. Sau khi phẫu<br /> có đầy đủ ưu điểm của phẫu thuật ít xâm tích, một số BN bể thận không giãn rõ<br /> lấn như giảm đau sau mổ, thời gian nằm ràng và trục giữa bể thận và niệu quản<br /> viện ngắn, khắc phục được vấn đề về thẳng hàng, sau khi giải phóng BT-NQ,<br /> <br /> 81<br /> T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 6-2019<br /> <br /> cắt mạch máu nhỏ bất thường hoặc tổ tốt chúng tôi quyết định không tạo hình.<br /> chức xơ sau phúc mạc, hình thái bể thận Như vậy, vai trò của lasix trong những trường<br /> vẫn không thay đổi hoặc thay đổi rất ít. hợp này vô cùng cần thiết và rõ ràng.<br /> Thời gian đầu, chúng tôi cho rằng nguyên Ngoài ra, test Lasix còn chỉ định cho<br /> nhân do tác nhân bên ngoài chèn ép và trường hợp không phải tạo hình trong<br /> không cắt nối tạo hình, khám lại sau mổ phẫu thuật, làm rút ngắn đáng kể thời<br /> cho những BN này đa số đều phải đặt lại gian phẫu thuật.<br /> JJ sớm sau mổ và phải mổ mở lại để cắt Chúng tôi không gặp biến chứng chảy<br /> nối tạo hình. Điều này đặt ra vấn đề phải máu trong và sau phẫu thuật, lượng máu<br /> có nguyên nhân chính nào khác gây hẹp, mất trong mổ đều < 100 ml. Biến chứng<br /> cụ thể phải từ bên trong thành BT-NQ nhiễm khuẩn tiết niệu gặp 1 trường hợp,<br /> chứ không chỉ đơn thuần từ bên ngoài. chỉ cần điều trị nội khoa. Không gặp<br /> Nếu có nguyên nhân từ bên trong thì tại trường hợp nào rò nước tiểu sau mổ.<br /> sao bể thận lại không giãn?. Vấn đề này Điểm qua các nghiên cứu khác, theo dõi<br /> được giải thích, tất cả BN mắc hội chứng trong và sau phẫu thuật điều trị hẹp khúc<br /> nối qua nội soi ít khi xảy ra biến chứng<br /> hẹp khúc nối BT-NQ đều hẹp không hoàn<br /> nặng. Theo một số tác giả, biến chứng<br /> toàn, vẫn có lưu thông nước tiểu xuống<br /> thường gặp là rò nước tiểu kéo dài (12 -<br /> niệu quản, nhưng tốc độ chậm và dòng<br /> 20%) [4].<br /> chảy nhỏ so với bình thường. Tuy nhiên,<br /> Kết quả phẫu thuật được đánh giá<br /> mức độ hẹp nhiều hay ít tùy từng trường<br /> thành công khi BN hết triệu chứng lâm<br /> hợp, BN có bể thận giãn to ngay sau khi<br /> sàng, siêu âm giảm độ giãn đài bể thận<br /> phẫu tích thường do hẹp rất khít và không<br /> và thấy thuốc cản quang xuống được<br /> có gì phải bàn cãi về vấn đề cắt nối hay niệu quản hoặc cải thiện hình thái và<br /> gỡ dính bảo tồn. Những BN còn lại do chức năng thận trên chụp cắt lớp vi tính<br /> mức độ hẹp ít hơn, lưu thông tốt hơn nên đa dãy.<br /> với lưu lượng nước tiểu được tạo ra bình Chúng tôi khám lại sau 1 tháng,<br /> thường thể hiện không rõ. Chúng tôi sử 3 tháng và 12 tháng cho tất cả BN, thu<br /> dụng lasix 20 mg tiêm tĩnh mạch cho được kết quả bước đầu thành công ở<br /> những trường hợp này, kết hợp truyền 19/20 BN (95%). Theo các tiêu chí trên,<br /> nhanh natriclorit 0,9%, chờ trung bình kết quả này tương đương với một số tác<br /> 15 phút (8 - 30 phút). 14 BN sau khi tiêm giả khác [8].<br /> lasix bể thận giãn to rất rõ, thấy được chỗ<br /> chít hẹp, chúng tôi quyết định cắt nối và KẾT LUẬN<br /> tạo hình. Kết quả giải phẫu bệnh sau mổ Kết quả nghiên cứu cho thấy vai trò<br /> cho thấy 100% BN có viêm xơ hẹp đoạn của việc sử dụng lasix là cần thiết trong<br /> khúc nối. 6 BN có mạch bất thường chạy phẫu thuật NSSPM tạo hình hẹp khúc nối<br /> qua, được cắt mạch bất thường và tiêm BT-NQ. Phẫu thuật NSSPM đạt kết quả<br /> lasix, sau khi chờ 30 phút hình thái bể thận điều trị tương đương phẫu thuật mở, đồng<br /> không thay đổi, lưu lượng nước tiểu qua thời vẫn giữ được đầy đủ mọi ưu điểm<br /> <br /> 82<br /> t¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 6-2019<br /> <br /> của phẫu thuật ít xâm lấn. Đây là phương 5. Jarrett T.W, Chan D.Y, Charambura<br /> pháp nên lựa chọn chỉ định đầu tiên điều T.C, Fugita O, Kavoussi L.R. Laparoscopic<br /> trị hẹp khúc nối BT-NQ và có thể áp dụng pyeloplasty: The first 100 cases. J Urol. 2002,<br /> rộng rãi trong điều kiện hiện nay. 167, pp.1253-1256.<br /> 6. Kavoussi L.R, Peters C.A. Laparoscopic<br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO pyeloplasty. J Urol. 1993, 150, pp.1891-1894.<br /> 1. Anderson J.C, Hynes W. Retrocaval 7. Shuessler W.W, Grune M.T, Tecuanhuey<br /> ureter: A case diagnosed preoperatively and L.V, Preminger G.M. Laparoscopic dismembered<br /> treated successfully by a plastic operation. pyeloplasty. J Urol. 1993, 150, pp.1795-1799.<br /> Br J Urol. 1949, 21, pp.209-211.<br /> 8. Soulie M, Salomen L, Patard J.J, Mouly<br /> 2. Davenport K, Minervini A, Timoney A.G, P.A, Manunta A.N et al. Extraperitoneal<br /> Keeley F.X Jr. Our experience with retroperitoneal<br /> laparoscopic pyeloplasty: A multicenter studyof<br /> and transperitoneal laparoscopic pyeloplasty<br /> 55 procedures. J Urol. 2002, 166, pp.48-50.<br /> for pelvi-ureteric junction obstruction. Eur Urol.<br /> 2005, 48, pp.973-977. 9. Van Cangh P.J, Wilmart J.F, Opsomer R.J,<br /> Abi-Aad A, Wese F.X et al. Long-term results<br /> 3. Jacob J.A et al. Ureteropelvic junction<br /> and late recurrence after endoureteropyelotomy:<br /> obstruction in adults with previously normal<br /> pyelograms: A report of 5 cases. J Urol. 1979, A critical analysis of prognostic factors. J Urol.<br /> 121, p.242. 1994, 151, pp.934-937.<br /> <br /> 4. Janetschek G, Peschel R, Altarac S, 10. Zhang X, Li H.Z, Wang S.G, Ma X,<br /> Bartsch G. Laparoscopic and retroperitoneoscopic Zheng T, Fu B et al. Retroperitoneal laparoscopic<br /> repair of ureteropelvic junction obstruction. dismembered pyeloplasty: Experience with<br /> Urology. 1996, 47, pp.311-316. 50 cases. Urology. 2005, 66 (5), pp.14-17.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 83<br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2