1313
ĐÁNH GIÁ VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN DIỆN VÀ BIỂU HIN
CẢM XÚC CỦA TRẺ MẪU GIÁO 3 - 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON
Nguyễn Thị Nhung1, Nguyễn Hồng Ngọc2
1 Đại học Y Đài Bắc, Đài Loan
2 Đại học Thủ đô Tokyo, Nht Bản
TÓM TẮT
Trong bài viết y, chúng tôi tổng hợp các nghiên cứu liên ngành tâm
- giáo dục - não bộ về Giáo dục năng lực xã hội cảm xúc - một khía cạnh quan
trọng trong sự phát triển toàn diện của trẻ. Chúng tôi cũng sử dụng phương pháp
khảo sát bộ khả ng gọi tên biểu hiện cảm xúc 243 trẻ mầm non, sử
dụng phương pháp phân tích phương sai ANOVA để đánh giá sự khác biệt về
mức độ biểu hiện các cảm xúc hành động liên quan giữa các nhóm. Kết qu
cho thấy, sự khác biệt trong năng lực này của trẻ các môi trường học tập
khác nhau các lứa tuổi khác nhau. Nghiên cứu cũng đưa ra đề xuất về việc
nghiên cứu và theo dõi sự phát triển của trẻ đa chiều với sự tham gia, hỗ trợ của
các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan.
Từ khóa: Giáo dục năng lực hội cảm xúc; tổng hợp các nghiên cứu
liên ngành; trẻ mầm non; khoa học não bộ
1. Giới thiu
1.1 Giáo dục năng lực xã hội và cảm xúc và giáo dục mầm non
Nhiều nghiên cứu đã trực tiếp khẳng định vai trò của giáo dục năng lực
hội cảm xúc cho trẻ lứa tuổi mầm non, ví dụ nghiên cứu về sự ảnh hưởng
tích cực đối với kết quả học tập của trẻ khả năng thực hiện các hành vi tốt của
trẻ (Alzahrani và cs., 2019; Nix cs., 2013); ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ
trong tương lai trên nhiều lĩnh vực giáo dục, việc làm, hoạt động tội phạm, việc
sử dụng chất gây nghiện sức khỏe tinh thần (Jones cs., 2015). Ngược lại,
nếu năng lực xã hội và cảm xúc của trẻ bị thiếu hụt mà không được nuôi dưỡng,
giáo dục, can thiệp phù hợp, trẻ có thể bộc lộ cảm xúc thành hành vi tiêu cực.
Schmidt cs. (2002) đã kết luận rằng những đứa trẻ m an toàn hơn sẽ hung
hăng hơn kém năng lực xã hội hơn ở trường mẫu giáo, và những đứa trẻ gặp
nhiều căng thẳng gia đình hơn trong những năm mẫu giáo sẽ hung hăng, lo lắng
và kém năng lực xã hội hơn ở trường mẫu giáo so với các bạn cùng lứa trải qua
ít căng thẳng gia đình hơn trong cùng những năm đó.
1314
Các nghiên cứu khoa học về não bộ cũng đã chỉ ra rằng, giai đoạn mầm
non giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất của não bộ (Leisman cs., 2015;
Shonkoff cs., 2000). Các kết nối thần kinh được hình thành củng cố với
tốc độ nhanh chóng, tạo nền tảng cho các kỹ năng duy, học tập giải quyết
vấn đề sau y. Do đó, việc giáo dục năng lực hội cảm xúc cần được tiến
hành từ sớm (giai đoạn giáo dục mầm non).
1.2. Tình hình nghiên cứu giáo dục năng lực xã hội và cảm xúc
Có thể nói, nghiên cứu về năng lực xã hội và cảm xúc của trẻ mầm non là
lĩnh vực nghiên cứu quan trọng, nhưng các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng đã
chỉ trích về sự mất vị thế của nghiên cứu về năng lực hội cảm xúc trong
chương trình đánh giá giáo dục (Denham, 2006). Chỉ tới vài năm gần đây,
nghiên cứu về năng lực hội cảm xúc mới nhận được nhiều sự chú ý
chúng rất quan trọng đối với sức khỏe tâm thần và sức khỏe tâm thần hiện tại
sau này cũng như thành công trong học tập của trẻ.
Tại Việt Nam, nghiên cứu về năng lực hội cảm xúc vẫn còn khá mới
mẻ, chưa thể hiện ng trong các quy định của chính sách, trong chuẩn nghề
nghiệp giáo viên mầm non trong chuẩn đầu ra của các chương trình đào tạo
giáo viên mầm non (Hoàng, 2023). Nhóm tác giả thấy rằng các nghiên cứu đánh
giá năng lực hội cảm xúc của trẻ mẫu giáo chưa được thực hiện. Các nghiên
cứu liên quan được thực hiện tại Việt Nam chủ yếu được thực hiện ở đối tượng
sinh viên sư phạm mầm non (Huyền, 2023), giáo viên mầm non (Huyền, 2021),
hoặc nghiên cứu về hoạt động giảng dạy trẻ mầm non (Trần & Nguyễn, 2023)…
Trong đó, tác giHoàng (2023) đã đặt ra vấn đề hiện nay chưa nghiên cứu
đánh giá toàn diện về thực trạng năng lực xã hội và cảm xúc của trẻ.
1.3. Mục đích nghiên cứu
Bài viết y nhằm: (1) Trình y tổng quan giáo dục mầm non tại Việt
Nam theo dòng lịch sử; và tổng quan các lý thuyết và nghiên cứu về năng lực xã
hội và cảm xúc cho trẻ mầm non t lăng kính não bộ - tâm lý học; (2) Trình bày
kết quả nghiên cứu sơ bộ về năng lực xã hội cảm xúc của trẻ mầm non và đề
xuất các định ớng nghiên cứu giải pháp phát triển năng lực hội cảm
xúc cho trẻ mầm non.
2. Giáo dục mầm non từ xưa đến nay ở Việt Nam
2.1. Giáo dục mầm non xưa
Tuy khái niệm năng lực hội cảm xúc mới được hình thành trong
giáo dục mầm non hiện đại, nhưng giáo dục mầm non xưa đã đề cập chú trọng
tới điều này. Nhận thức cảm xúc cũng được đề cập trong sách Tam tự kinh (cuốn
1315
sách dành cho trẻ 5-9 tuổi): Viết hỉ nộ, viết ai cụ, ái ố dục, thất tình cụ(mừng,
giận, bi thương, sợ, yêu, ghét, ham muốn bảy thái độ tình cảm mỗi một
người đều có). Ngoài Tam tự kinh, một số tài liệu như u học nngôn thi,
Thiên tự văn, Hiếu kinh, Trung kinh, Tam thiên tự, Khải đồng thuyết ước, Chu
tử gia chính cũng là những cuốn sách xây dựng nền tảng nghĩa lý, đạo đức quan
trọng cho trẻ (Tuấn Cường & Tú Mai, 2020). Trong hồi ký “Học vỡ lòng”, Đặng
Thai Mai (1985) cho biết, việc học chữnghĩa trong Tam tự kinh ban đầu đối
với trẻ con là rất khó khăn, tuy nhiên, việc học thuộc lòng từ một hai câu rồi học
nhiều dần rất hữu ích cho trí nhớ.
Trong giai đoạn bút chiến Đông - Tây những năm 1920, nhiều ý kiến phê
bình lối học xưa “văn cao xa, tnghĩa sâu sắc, đều những điều trẻ con
không thể hiểu được. Cho nên dù có công ba bốn năm đọc sách nhưng không có
cái học vấn ứng dụng trong cuộc sống.(Bài luận vu học của Nguyễn
Học, trong Tạp chí Nam Phong số 54, tháng 12/1921, trang 214-215, bản dịch
của Tuấn Cường & Tú Mai, 2020). Tuy nhiên, lời phê bình này không phải là sự
phủ định hoàn toàn vic dy triết học, đạo đức sâu xa cho trẻ lứa tuổi mầm non.
Đây là những phê bình gay gắt trong bối cảnh các học giả cho rằng nếu chỉ học
triết lý, đạo đức phương Đông thì không đủ để tổng hợp Đông - Tây.
Sau giai đoạn bút chiến Đông - Tây, các học giả đã đánh giá lại hiệu quả
của giáo dục xưa. Dương Quảng Hàm cho rằng, lúc nhỏ tuy trẻ em chưa hiểu hết
chữ và ý nghĩa những câu được dy, “nhưng đến lúc lớn, nhớ ra, ôn li, thi dn
dần cũng vỡ vạc thấm thía các nghĩa y mà coi những câu y như những câu
châm ngôn để tu thân xử thế, thật rất ảnh hưởng về đường tinh thần luân
vậy”. Trần Huy Liệu khẳng định giá trị của Tam tự kinh rất lớn đối vi giáo dc
nhân sinh quan hội quan cho trẻ nh: Bằng mấy câu “Nhân chi sơ, tính
bản thiện, tính tương cận, tập tương viễn”, người ta đã dạy cho chúng tôi cả một
thiên triết về nhân sinh quan hội quan”. Nguyễn (2004) cũng cho rằng
lối học kinh điển những hạn chế nhất định về nhận thức của người học, m
trngại một phần về việc tiếp thu kiến thức của học trò, nhưng việc hiểu biết
kinh điển từ từ thâm nhập vào tình cảm và trí tuệ con người. Như vậy, có thể nói
rằng giáo dục mầm non xưa cũng đã đặt những nền móng bản về giáo dục
năng lực xã hội và cảm xúc cho trẻ.
2.2. Phát triển giáo dục mầm non hiện đại
Khi chuyển từ giáo dục truyền thống sang giáo dục hiện đại, giáo dục
mầm non tập trung o phát triển toàn diện năng lực của trẻ. Nhung (2014) đã
nghiên cứu về sự phát triển của giáo dục mầm non qua các giai đoạn, tnhững
1316
năm 80 của thế kỉ XX, thể thấy rằng việc giáo dục tình cảm - hội bắt đầu
được đưa vào từ khoảng những năm 1995.
Bảng 1. Sự phát triển của giáo dục mầm non qua các giai đoạn (Nhung, 2014)
Giai
đoạn
Cơ sở lý thuyết/ Mục tiêu giáo dục
Nội dung/ Phương
pháp
1976 -
1986
Dựa trên khoa học giáo dục mầm non,
nhằm mục tiêu phát triển trí tuệ, ngôn
ngữ hình thành nhân cách ban đầu
cho tr
Hoạt động vui chơi phù
hợp với từng lứa tuổi
cũng bắt đầu được đưa
vào thực hiện
1987 -
đầu thập
kỉ 90
Kế tha thành tựu tiến bộ của nền giáo
dục Đông Âu và Liên Xô, kết hp
hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và
giáo dục để trphát triển toàn diện các
mặt: đức, trí, thể,
3 hoạt động: vui chơi, hc
tập lao động tự phc
vụ
1995 -
2002
Phát triển tổng thể các mặt: thể lực,
ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm, xã hội
Tích cực hóa hoạt động
duy của trẻ; Học qua
chơi, học qua thực hành
2009
đến nay
Chương trình dựa trên Luật Giáo dục
2009, kế thừa ưu điểm chương trình
cũ, hướng đến sự phát triển toàn diện
của trẻ, tạo điều kiện cho trẻ phát triển
liên tục
Phát triển thể chất, nhận
thức, ngôn ngữ, tình cảm
xã hội và thẩm
Như vậy, việc giáo dục tình cảm - hội bắt đầu được đưa vào chương
trình từ khoảng những năm 1995. Điều này cũng đặt ra mt câu hỏi: Liệu thế hệ
phụ huynh/ giáo viên mầm non sinh trước 1995 - giai đoạn chưa được bồi ỡng
kỹ năng cảm xúc hội từ lứa tuổi mẫu giáo, hgặp khó khăn trong vic
hỗ trợ con phát triển năng lực cm xúc xã hội hay không?
3. Phát triển năng lực xã hội và cảm xúc
3.1. Tổng quan về năng lực xã hội và cảm xúc
Năng lực xã hội và cảm xúc được định nghĩa là tập hợp các năng lực bao
gồm các knăng nhận thức về cảm xúc của bản thân người khác, quản cảm
xúc, khả năng xây dựng mối quan hệ tích cực, kỹ năng đưa ra quyết định
giải quyết vấn đề hiệu quả. Những knăng y không chỉ htrợ cho sự thành
công học thuật, còn ảnh hưởng đến sự thích nghi xã hội thành công nghề
nghiệp về lâu dài. Nhận thức về cảm xúc một khía cạnh quan trọng của ng
1317
lực xã hội và cảm xúc, nó đóng một vai trò thiết yếu trong khả năng của một
nhân để hiểu điều chỉnh cảm xúc của bản thân người khác. Nhận thức
về cảm xúc bao gồm khả năng nhận diện, đánh giá và phản ứng đối với cảm xúc
một cách hiệu quả. thể chia nhận thức về cảm xúc thành các cấp độ khác
nhau, từ bản đến phức tạp, mỗi cấp độ đều những yếu tquan trọng đối
với sự phát triển nhân hội (Lane cs., 2010). Nhóm nghiên cứu cho
rằng các nghiên cứu y tiền đề quan trọng để xây dựng chương trình phát
triển năng lực xã hội và cảm xúc.
Để phát triển năng lực xã hội và cảm xúc, Hoàng (2023) đưa ra 5 đề xuất
bao gồm: Phát triển các chương trình đào tạo năng lực cảm xúc - xã hội cho giáo
viên mầm non; y dựng môi trường giáo dục an toàn thân thiện; Thúc đẩy
sự tham gia của gia đình và cộng đồng; Nghiên cứu và áp dụng các mô hình giáo
dục tiên tiến; Đo lường và đánh giá hiệu quả các chương trình giáo dục cảm xúc
- xã hội. Tuy nhiên về nghiên cứu này chưa chỉ rõ được ứng dụng của các cấp độ
của nhận thức về cảm xúc nhận diện cảm xúc trong việc thực hiện các đề xuất
cho giáo dục cảm xúc cho trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo (3 - 6 tuổi).
3.2. Các cấp độ nhận thức về cảm xúc
Trong bài viết này, các cấp độ nhận thức về cảm xúc được chia thành 4
cấp độ như sau (Bajgar và cs., 2005):
Nhận diện cảm xúc: Đây cấp độ cơ bản nhất, chỉ khả năng nhận biết
cảm xúc của chính mình và người khác, bao gồm khả năng nhận ra các dấu hiệu
vật lý và biểu hiện cảm xúc qua khuôn mặt, giọng nói và ngôn ngữ cơ thể.
Hiểu cảm xúc: Cấp độ y mở rộng khả năng nhận diện bằng cách hiểu
nguyên nhân tại sao một cảm xúc xuất hiện tác động của các cảm xúc đến
hành vi.
Quản lý cảm xúc: Đây là khả năng điều chỉnh cảm xúc của mình và ảnh
hưởng đến cảm xúc của người khác một cách ý thức. Quản cảm xúc bao
gồm việc m ra cách thức để duy trì cảm xúc tích cực hoặc giảm bớt cảm c
tiêu cực, giúp cho các tương tác xã hội diễn ra suôn sẻ hơn.
S dụng cảm xúc để thúc đẩy hành động quyết định: Cấp độ cao
nhất của nhận thức về cảm xúc liên quan đến việc sử dụng hiểu biết về cảm xúc
để hỗ trợ quyết định và hành động. Cảm xúc có thể được sử dụng để định hướng
các mục tiêu nhân, thúc đẩy sự sáng tạo, ưu tiên hành động trong các tình
huống cụ thể.