intTypePromotion=3

Đào tạo giáo viên theo phương thức vừa học vừa làm

Chia sẻ: Comam1902 Comam1902 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:12

0
8
lượt xem
0
download

Đào tạo giáo viên theo phương thức vừa học vừa làm

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết đề cập mô hình đào tạo giáo viên theo phương thức vừa học vừa làm xuất hiện ở nước ta những năm 1976-1987, phân tích và so sánh phương thức đào tạo vừa học vừa làm với phương thức đào tạo trên "lâm sàng " trong các trường phổ thông phát triển nghề (Professional devepment schools - PDS) đang phổ biến tại nhiều nước có nền giáo dục tiến tiến.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đào tạo giáo viên theo phương thức vừa học vừa làm

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE<br /> Social Science, 2018, Vol. 63, Iss. 2A, pp. 11-22<br /> This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn<br /> <br /> DOI: 10.18173/2354-1075.2018-0023<br /> <br /> ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN THEO PHƯƠNG THỨC VỪA HỌC VỪA LÀM<br /> Phan Trọng Ngọ<br /> Viện Nghiên cứu Sư phạm, Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội<br /> Tóm tắt. Bài báo đề cập mô hình đào tạo giáo viên theo phương thức vừa học vừa làm<br /> xuất hiện ở nước ta những năm 1976-1987; phân tích và so sánh phương thức đào tạo vừa<br /> học vừa làm với phương thức đào tạo trên "lâm sàng " trong các trường phổ thông phát<br /> triển nghề (Professional devepment schools - PDS) đang phổ biến tại nhiều nước có nền<br /> giáo dục tiến tiến. Mô hình đào tạo giáo viên theo phương thức vừa học vừa làm tại trường<br /> trung học phổ thông (THPT) không chỉ là giải pháp tích cực, sáng tạo trong đào tạo giáo<br /> viên theo nguyên lí giáo dục của Đảng, mà còn là mô hình đào tạo hiện đại, có nhiều điểm<br /> tương đồng với các mô hình đào tạo giáo viên hiệu quả trên thế giới. Vì vậy, trong bối cảnh<br /> hiện nay, mô hình này cần được hồi cứu, hoàn thiện và triển khai trong thực tiễn.<br /> Từ khóa: Đào tạo giáo viên, mô hình đào tạo giáo viên, mô hình đào tạo giáo viên theo<br /> phương thức "vừa học vừa làm", trường phổ thông phát triển nghề, mô hình đào tạo giáo<br /> viên theo phương thức "lâm sàng".<br /> <br /> 1.<br /> <br /> Mở đầu<br /> <br /> Từ những năm 1980 - 1990, cải cách giáo dục đã kéo theo đổi mới giáo dục giáo viên ở<br /> nhiều nước. Từ đó, xuất hiện nhiều mô hình đào tạo giáo viên [4] .Trong đó, đào tạo theo mô hình<br /> "lâm sàng" tại các trường phổ thông phát triển nghề xuất hiện những năm gần đây đang thu hút sự<br /> quan tâm của nhiều nhà khoa học và quản lí giáo dục [8].<br /> Điều thú vị là ngay từ những năm 1976 - 1986, ở Việt Nam xuất hiện mô hình đào tạo giáo<br /> viên theo phương thức vừa học vừa làm [12] mà Trường Đại học Sư phạm Hà Nội là nơi đầu tiên<br /> thử nghiệm, có rất nhiều điểm tương đồng với mô hình đào tạo tại các PDS. Tuy nhiên vì nhiều lí<br /> do, sau hơn 10 năm, phương thức này không được duy trì và phát triển.<br /> Trong xu thế đổi mới, nâng cao chất lượng giáo viên, mô hình đào tạo tại PDS đang rất đề<br /> cao trên thế giới [8]. Vì vậy, nảy sinh vấn đề hồi cứu phương thức đào tạo vừa học vừa làm ở Việt<br /> Nam; xác định giá trị khoa học, nguyên lí và tính khả thi của nó trong điều kiện mới, Từ đó có<br /> khuyến cáo bổ ích, góp phần giải quyết vấn đề phức tạp và khó khăn hiện nay ở nước ta: Phát triển<br /> và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên phổ thông, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và giảm<br /> thiểu sự lãng phí nhân lực xã hội, do hậu quả của việc dư thừa sinh viên sư phạm sau tốt nghiệp.<br /> Ngày nhận bài: 8/2/2018. Ngày sửa bài: 6/3/2018. Ngày nhận đăng: 14/3/2018.<br /> Liên hệ: Phan Trọng Ngọ, e-mail: ngotamly@gmail.com<br /> <br /> 11<br /> <br /> Phan Trọng Ngọ<br /> <br /> Bài viết giới thiệu và phân tích phương thức đào tạo vừa học vừa làm, có tham chiếu với mô hình<br /> đào tạo lâm sàng trong các PDS trên thế giới.<br /> <br /> 2.<br /> 2.1.<br /> <br /> Nội dung nghiên cứu<br /> Mô hình đào tạo giáo viên trung học phổ thông theo phương thức Vừa học<br /> vừa làm<br /> <br /> 2.1.1. Bối cảnh ra đời của phương thức đào tạo giáo viên Vừa học vừa làm<br /> Mô hình đào tạo giáo viên theo phương thức vừa học vừa làm do Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn<br /> Cảnh Toàn (1928 - 2017) đề xuất và thực nghiệm từ năm 1978 đến 1986. Sự ra đời của mô hình<br /> đào tạo này vừa là một tất yếu vừa là kết quả của ý tưởng sáng tạo khoa học sư phạm có tính chiến<br /> lược của Nguyễn Cảnh Toàn.<br /> Ngay từ những năm 1960, Đảng Cộng sản, Nhà nước Việt Nam đã xác định rõ nguyên lí<br /> giáo dục: học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã<br /> hội [6]. Trong thực tiễn, năm 1958, đã ra đời Trường Thanh niên Lao động Xã hội chủ nghĩa Hoà<br /> Bình, theo phương thức giáo dục phổ thông vừa học vừa làm, phù hợp với nguyên lí trên [13].<br /> Cũng chính tại trường này, sau đó vài năm đã mở ra hệ đào tạo cử nhân vừa học vừa làm các ngành<br /> nông nghiệp và lâm nghiệp. Những năm 1970, một số trường đại học vừa học vừa làm được thành<br /> lập, tuyển sinh đầu vào là học sinh tốt nghiệp THPT như hệ chính quy.<br /> Mặt khác, những năm 1976 - 1980, do sự phát triển đột biến của giáo dục, đặc biệt là trung<br /> học phổ thông, sau ngày thống nhất đất nước. Nhu cầu về số lượng giáo viên trở nên cấp bách, các<br /> trường sư phạm bị quá tải, vẫn không đáp ứng được yêu cầu. Nhiều học sinh phổ thông có nguyện<br /> vọng vào trường Đại học Sư phạm, nhưng không đủ điểm chuẩn. Bài toán có tính tình thế được đặt<br /> ra: Giải pháp nào cho việc đào tạo nhanh đội ngũ giáo viên, đáp ứng nhu cầu giáo dục phổ thông<br /> (đặc biệt là giáo viên THPT), mà vẫn đảm bảo chất lượng và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ?<br /> Về phương diện khoa học, qua trải nghiệm của bản thân cũng như khả năng "dự phóng"<br /> tương lai, Nguyễn Cảnh Toàn có niềm tin vững chắc về vai trò và tầm quan trọng của tự học, tự<br /> nghiên cứu của học sinh trong đào tạo và phát triển nghề. Từ đó, ông đưa ra giả thuyết: Thanh niên<br /> tốt nghiệp THPT có thể trở thành giáo viên bằng con đường tự học, tự nghiên cứu có hướng dẫn,<br /> ngay tại trường THPT [12]. Ông thấy có trách nhiệm phải thiết kế và thực nghiệm chứng minh tính<br /> khả thi và hiệu quả của phương thức tự đào tạo đó.<br /> Như vậy, mô hình vừa học vừa làm ra đời vừa là tất yếu, gắn với hoàn cảnh có tính lịch sử<br /> của giáo dục Việt Nam những năm 1976 - 1890, vừa là ý tưởng khoa học, được hình thành qua trải<br /> nghiệm của nhà khoa học.<br /> <br /> 2.1.2. Những điểm chính của mô hình đào tạo giáo viên Vừa học vừa làm<br /> Có thể tóm tắt mô hình vừa học vừa làm thành những điểm chính sau [12]:<br /> i) Mục tiêu đào tạo: Đào tạo giáo viên THPT trình độ đại học (trùng với mục tiêu đào tạo<br /> giáo viên hệ chính quy của các trường đại học sư phạm).<br /> ii) Tuyển sinh đầu vào: Học sinh tốt nghiệp THPT tham dự kì thi tuyển học đại học như các<br /> hệ đào tạo khác của trường đại học (Trong thực nghiệm mô hình, điểm tuyển sinh đầu vào thường<br /> thấp hơn so với hệ chính quy).<br /> 12<br /> <br /> Đào tạo giáo viên theo phương thức vừa học vừa làm<br /> <br /> iii) Chương trình đào tạo: Chương trình đào tạo giáo viên trình độ đại học hệ chính quy<br /> được ban hành.<br /> iv) Đánh giá tốt nghiệp: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức đánh giá chung với<br /> sinh viên hệ chính quy.<br /> v) Tổ chức đào tạo. Đây là điểm khác biệt lớn nhất, đồng thời là điểm được quan tâm nhất<br /> giữa hệ đào tạo chính quy và đào tạo vừa học vừa làm. Những điểm chính trong tổ chức đào tạo:<br /> - Thời gian đào tạo: 5 năm (nhiều hơn 01 năm so với đào tạo chính quy).<br /> - Cơ sở đào tạo: Tại mỗi tỉnh có 01 Trạm đại học. Sinh viên được lưu trú và học lí thuyết tại<br /> Trạm trong cả 5 năm. Suốt khoá học, sinh viên chỉ về trường ĐHSP trong các đợt ôn và thi cùng<br /> với sinh viên hệ chính quy.<br /> - Phương thức học tập của sinh viên: Tự học, tự nghiên cứu có hướng dẫn của giảng viên<br /> đại học sư phạm và giáo viên phổ thông có nhiều kinh nghiệm. Các môn lí thuyết sinh viên tự học,<br /> tự nghiên cứu tại Trạm đại học, do giảng viên ĐHSP và giáo viên phổ thông có năng lực hướng<br /> dẫn. Các kiến thức và kĩ năng nghiệp vụ sinh viên tự học qua trải nghiệm thực tiễn tại các trường<br /> THPT, do giáo viên giàu kinh nghiệm của trường hướng dẫn, kèm nghề.<br /> - Tổ chức học tập: Cả khoá học được chia thành 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 (1 năm đầu): Huấn<br /> luyện phương pháp và rèn thói quen học tập. Cốt lõi là phương pháp, kĩ thuật và thói quen tự học,<br /> tự nghiên cứu. Giảng viên ĐHSP/giáo viên phổ thông hướng dẫn SV cách học (tự học) các môn<br /> học trong chương trình đào tạo. Giai đoạn này, sinh viên chủ yếu làm việc tại Trạm, chỉ dành thời<br /> lượng nhỏ xuống trường phổ thông, làm quen với trường, lớp, với việc dạy học và các hoạt động<br /> giáo dục của trường. Giai đoạn 2: Tập dượt nghề nghiệp (năm thứ 2 và 3). Sinh viên dành 1/3 thời<br /> gian của năm làm việc theo nhóm ở trường THPT (15 - 20 người/ nhóm/ trường); 2/3 thời gian học<br /> tập tại trạm đại học, dưới sự hướng dẫn của giảng viên đại học/giáo viên phổ thông. Giai đoạn 3:<br /> Vừa học, vừa làm giáo viên (năm thứ 4 và thứ 5). Sinh viên chia thành các nhóm nhỏ (3-5 người)<br /> xuống trường THPT và đảm nhận các công việc giảng dạy, giáo dục học sinh thực, với khối lượng<br /> từ 1/3 đến 2/5 công việc của giáo viên thực thụ. Cũng trong 2 năm này, sinh viên hoàn thành khoá<br /> luận tốt nghiệp với nội dung gắn với hoạt động giảng dạy và giáo dục của mình.<br /> Như vậy, so với đào tạo chính quy, phương thức đào tạo vừa học vừa làm theo mô hình của<br /> Nguyễn Cảnh Toàn có nhiều điểm giống, nhưng cũng có nhiều khác biệt. Trong đó có 3 điểm nổi<br /> bật: Thời gian đào tạo của các khoá học chủ yếu ở trường THPT, sinh viên được thực làm các công<br /> việc gắn với nghề nhiều hơn; Phương pháp học tập nghề nghiệp chủ yếu là tự học, tự nghiên cứu<br /> có hướng dẫn và sinh viên tốt nghiệp có việc làm ngay, do đào tạo của trường sư phạm gắn với nhu<br /> cầu thực của địa phương về giáo viên. Bảng tham chiếu dưới đây cho thấy rõ điều đó.<br /> Bảng 1. Sự tương đồng và khác biệt giữa đào tạo truyền thống và hệ vừa học vừa làm<br /> Hệ vừa học vừa làm<br /> Hệ chính quy<br /> Tham số so sánh<br /> 1. Mục tiêu đào tạo. Giáo viên THPT<br /> Giáo viên THPT<br /> 2.Thời gian đào<br /> 5 năm<br /> 4 năm<br /> tạo.<br /> 3. Địa điểm chính<br /> Trường THPT và Trạm đại học<br /> Trường ĐHSP<br /> để học.<br /> <br /> 13<br /> <br /> Phan Trọng Ngọ<br /> <br /> 4. Phương pháp dạy<br /> và học nghề chủ<br /> yếu.<br /> <br /> 5. Giáo trình.<br /> 6. Đánh giá kết quả<br /> học tập cuối năm và<br /> tốt nghiệp.<br /> 7. Nghiên cứu khoa<br /> học giáo dục.<br /> 8. Địa chỉ đầu ra.<br /> <br /> Tự học, tự nghiên cứu của sinh<br /> viên, có hướng dẫn của giảng<br /> viên; giáo viên tại trường phổ<br /> thông; học qua nghiên cứu tác<br /> động thực tiễn, qua trải nghiệm<br /> nghề thường xuyên, học qua làm,<br /> tích hợp kiến thức lí thuyết với kĩ<br /> năng thực hành.<br /> Chức năng hướng dẫn học tự học<br /> được chú trọng.<br /> Theo hình thức tự học.<br /> - Đánh giá thường xuyên được<br /> chú trọng.<br /> - Đánh giá tốt nghiệp bằng các<br /> bài thi cùng với hệ chính quy.<br /> Bắt buộc, là điều kiện để thi tốt<br /> nghiệp.<br /> Gắn với địa phương và đáp<br /> ứng nhu cầu giáo viên của địa<br /> phương.<br /> <br /> Chủ yếu học tại trường sư<br /> phạm với các bài lên lớp của<br /> giảng viên; thực hành kĩ năng<br /> nghề nghiệp ở trường phổ<br /> thông chủ yếu tập trung 8 10 tuần cuối khoá học,tách<br /> rời học kiến thức với học thực<br /> hành nghề nghiệp.<br /> Chủ yếu cung cấp kiến thức;<br /> ít hướng dẫn tự học.<br /> Đánh giá cuối học kì.<br /> Đánh giá tốt nghiệp bằng bài<br /> thi viết.<br /> Không bắt buộc, có chọn lọc.<br /> Địa chỉ đầu ra không xác định<br /> ngay từ đầu khoá học.<br /> <br /> 2.1.3. Thực nghiệm mô hình đào tạo giáo viên trung học phổ thông theo phương thức vừa<br /> học vừa làm<br /> Việc thực nghiệm đào tạo giáo viên trung học phổ thông theo phương thức vừa học vừa làm<br /> được triển khai từ năm học 1976 - 1987, do GS Nguyễn Cảnh Toàn chủ nhiệm [12].<br /> Do tính lịch sử, việc thực nghiệm không hoàn toàn theo quy trình chặt chẽ của thực nghiệm<br /> khoa học trong phòng thực nghiệm. Quá trình thực nghiệm chủ yếu hướng đến những vấn đề có<br /> tính vĩ mô, còn các biện pháp cụ thể và việc đo đạc các thông số kĩ thuật của nó ít được chú ý.<br /> Dưới đây là một số điểm chính về thực nghiệm mô hình:<br /> (i) Đơn vị tổ chức đào tạo: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I (Đại học Sư phạm Hà Nội<br /> hiện nay) và Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc (Trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên<br /> hiện nay).<br /> (ii) Địa bàn thực nghiệm: Thực nghiệm được thực hiện tại gần 50 trường phổ thông cấp III<br /> (Phổ thông trung học hiện nay) thuộc 6 tỉnh: Hà Nam Ninh, Hải Phòng, Hải Hưng, Thanh Hoá,<br /> Hà Sơn Bình, Quảng Ninh.<br /> (iii) Số sinh viên được đào tạo: Tuyển sinh 8 khoá, hơn 2000 sinh viên. Mỗi khoá tuyển sinh<br /> khoảng 250 sinh viên thuộc 4 khoa: Sư phạm Toán, Sư phạm Văn, Sư phạm Sinh học và Sư phạm<br /> Kĩ thuật công nghiệp. Những khoá sau có thêm Khoa Sư phạm Lí, Sư phạm Hoá.<br /> (iv) Quy trình và nội dung thực nghiệm: Tuyển sinh và tổ chức đào tạo theo khung thời gian<br /> năm học của hệ chính quy. Nội dung và kế hoạch từng năm do trường đại học sư phạm kết hợp với<br /> trạm đại học, trường phổ thông xây dựng và triển khai phù hợp với phương thức vừa học vừa làm<br /> trong từng năm học.<br /> 14<br /> <br /> Đào tạo giáo viên theo phương thức vừa học vừa làm<br /> <br /> (v) Kết quả thực nghiệm: Các kết quả được rút ra sau 5 năm triển khai và quan sát khoá đầu<br /> tiên (1976 - 1981). Dưới đây là một số kết quả thực nghiệm [12].<br /> Số sinh viên tốt nghiệp khoá đầu tiên: 186 sinh viên dự thi, 154 sinh viên tốt nghiệp (83%<br /> ). Bảng 2 mô tả cụ thể tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp hệ đại học "vừa học vừa làm " và hệ chính quy của<br /> các khoa Toán, Văn, Sinh trường Đại học Sư phạm Hà Nội I.<br /> Bảng 2. Kết quả thi tốt nghiệp của sinh viên hệ vừa học vừa làm<br /> và đối chứng, khoá học 1976 -1981 trường Đại học Sư phạm Hà Nội I<br /> Hệ đào tạo<br /> Sinh viên Khoa<br /> Văn<br /> Toán<br /> Sinh<br /> Hệ vừa học vừa làm<br /> 100%<br /> 87%<br /> 77,6%<br /> Đối chứng ( Hệ chính quy)<br /> 100%<br /> 89%<br /> 88,3%<br /> Nguồn: Nguyễn Cảnh Toàn (2001), Tuyển tập tác phẩm. Tập 1. Trường Đại học Sư phạm<br /> Hà Nội, Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đồng Tây.<br /> Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn, tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp hệ vừa học vừa làm thấp hơn so với<br /> sinh hệ chính quy, nhưng không đáng kể, chấp nhận được. Các kết quả thực nghiệm đã khẳng định<br /> giả thuyết ban đầu là sinh viên có thể trở thành giáo viên THPT bằng phương thức tự học có hướng<br /> dẫn và vừa học vừa tập làm giáo viên tại trường phổ thông [12].<br /> <br /> 2.2.<br /> <br /> Một vài so sánh mô hình đào tạo giáo viên theo phương thức vừa học vừa<br /> làm ở trường phổ thông với phương thức đào tạo "lâm sàng" tại các trường<br /> phổ thông phát triển nghề<br /> <br /> 2.2.1. Một số điểm chính về mô hình đào tạo giáo viên theo phương thức "lâm sàng" tại<br /> các trường phổ thông phát triển nghề<br /> Theo Collins III & O’Brien, trường phổ thông phát triển nghề là một trường phổ thông đã<br /> thiết lập được sự cộng tác với một khoa hay trường đại học để góp phần cải tiến nhà trường và<br /> chương trình đào tạo giáo viên của trường đại học. Nhiệm vụ của những trường học này bao gồm<br /> cả việc phát triển những người đang học việc, cả bồi dưỡng tiếp tục cho các chuyên gia đã có kinh<br /> nghiệm, cả nghiên cứu và phát triển nghề dạy học” [5].<br /> So với các trường phổ thông thực hành sư phạm thông thường, PDS có nhiều ưu thế: Thứ<br /> nhất: Sự hỗ trợ của trường phổ thông trong đào tạo và phát triển giáo viên được mở rộng và sâu<br /> hơn nhiều. PDS không chỉ tham gia trực tiếp vào đào tạo giáo viên của trường đại học, mà còn là<br /> cơ sở để phát triển nghề nghiệp của giáo viên sau đào tạo, giống bệnh viện thực hành trong đào<br /> tạo bác sĩ. Thứ hai: Thực tiễn phổ thông trong mô hình PDS là mục tiêu, đối tượng để trường đại<br /> học nghiên cứu, học tập, phát hiện và giải quyết vấn đề, thành lí luận, điều chỉnh chương trình và<br /> tổ chức đào tạo giáo viên. Thứ ba: PDS còn trực tiếp tham gia vào đào tạo và nghiên cứu khoa<br /> học, phát triển nghề dạy học cùng với trường đại học, như một cơ sở đào tạo giáo viên. Như vậy sự<br /> cộng tác chặt chẽ giữa PDS với trường đại học sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cả hai bên trong đào<br /> tạo, nghiên cứu và phát triển nghề dạy học nói chung. Trong mô hình PDS ranh giới giữa trường<br /> phổ thông và trường đại học, bị mờ nhạt, đan xen, tích hợp với nhau. [16]. Vì thế, PDS được coi<br /> là một loại thiết chế giáo dục mới, tạo ra sự đổi mới không chỉ cho bản thân trường phổ thông, mà<br /> 15<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản