intTypePromotion=1

Đào tạo nghề giải pháp quan trọng tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho vùng dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay

Chia sẻ: ViSamurai2711 ViSamurai2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
12
lượt xem
2
download

Đào tạo nghề giải pháp quan trọng tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho vùng dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đào tạo nghề được xem như là một giải pháp quan trọng gắn với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề thất nghiệp, thiếu việc làm cho người lao động. Trong công cuộc đổi mới đất nước, phát triển đào tạo nghề là giải pháp quan trọng thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng nông thôn, miền núi, nâng cao trình độ dân trí cho lao động nông thôn và lao động dân tộc thiểu số ở nước ta.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đào tạo nghề giải pháp quan trọng tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho vùng dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay

  1. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC ĐÀO TẠO NGHỀ GIẢI PHÁP QUAN TRỌNG TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CHO VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY (*) Vũ Thị Thanh Minh(1) Đ ào tạo nghề được xem như là một giải pháp quan trọng gắn với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề thất nghiệp, thiếu việc làm cho người lao động. Trong công cuộc đổi mới đất nước, phát triển đào tạo nghề là giải pháp quan trọng thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng nông thôn, miền núi, nâng cao trình độ dân trí cho lao động nông thôn và lao động dân tộc thiểu số ở nước ta Từ khóa: Đào tạo nghề; nguồn nhân lực chất lượng cao; vùng dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay; giải pháp quan trọng. Ngay từ khi nước nhà được độc lập, trong Trên cơ sở tổng kết thực hiện Nghị quyết TW 2 sách lược “diệt giặc đói và giặc dốt” cho đồng (khoá VIII) và cụ thể hoá văn kiện Đại hội Đảng bào cả nước, Đảng ta đã hết sức quan tâm đến toàn quốc lần thứ IX, Hội nghị TW 6 (khoá IX) phát triển hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó có đã kết luận những vấn đề rất quan trọng có đào tạo nghề. Đào tạo nghề được xem như là giải tính chất chủ trương, quan điểm để định hướng pháp gắn với phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói phát triển GD&ĐT, kể cả đào tạo nghề từ năm giảm nghèo, giải quyết vấn đề thất nghiệp, thiếu 2005 đến năm 2010. Đặc biệt, Nghị quyết Hội việc làm cho người lao động. Trong công cuộc nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa đổi mới đất nước, phát triển đào tạo nghề là giải XI1 đã đưa ra quan điểm chỉ đạo cụ thể GD&ĐT pháp quan trọng thúc đẩy nhanh quá trình chuyển trong điều kiện hội nhập quốc tế: “Chuyển mạnh dịch cơ cấu kinh tế vùng nông thôn, miền núi; quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức nâng cao trình độ dân trí cho lao động nông thôn sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất (LĐNT) và lao động dân tộc thiểu số (LĐDTTS) người học. Học đi  đôi với hành; lý luận gắn với ở nước ta. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo VIII của Đảng là dấu mốc quan trọng trong đổi dục gia đình và giáo dục xã hội” và “Ưu tiên đầu mới tư duy về phát triển và đào tạo nghề trong tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên hướng Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam. Nghị giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng quyết Hội nghị TW 2 (khoá VIII) và các Nghị chính sách. Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa quyết tiếp theo đã cụ thể hoá, đồng thời đề ra giáo dục và đào tạo”. Nghị quyết đã đưa ra mục các giải pháp để thực hiện các mục tiêu của tiêu cụ thể cho đào tạo nghề: Tập trung đào tạo Nghị quyết Đại hội VIII về lĩnh vực giáo dục và nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm đào tạo (GD&ĐT), trong đó có đào tạo lao động nghề nghiệp. Hình thành hệ thống giáo dục nghề kỹ thuật. Đó là những định hướng chiến lược nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào về phát triển GD&ĐT trong thời kỳ đổi mới. tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực một lần nữa khẳng định chủ trương, quan điểm 1 . Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT nói chung, đào tạo nghề nói riêng và giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều đặc biệt có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn sâu sắc. kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Ngày nhận bài: 25/4/2017; Ngày phản biện: 10/5/2017; Ngày duyệt đăng: 25/5/2017 Số 18 - Tháng 6 năm 2017 (1) Học viện Dân tộc; e-mail: vuthanhminh@cema.gov.vn
  2. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC kỹ thuật công nghệ của thị trường lao động trong hệ thống tổ chức giới thiệu việc làm (Nghị định nước và quốc tế”, đồng thời “Bảo  đảm cơ hội 19/2005/ NĐ-CP qui định thủ tục thành lập tổ cho mọi người, nhất là ở vùng nông thôn, vùng chức giới thiệu việc làm),... Chính sách về đào khó khăn, các đối tượng chính sách được học tập tạo nghề và hỗ trợ việc làm cho lao động giai nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng chuyên môn đoạn 2011-2015 gồm: Đề án Hỗ trợ phụ nữ học nghiệp vụ và chất lượng cuộc sống; tạo điều kiện nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010-2015, Chương thuận lợi để người lao động chuyển đổi nghề,...” trình mục tiêu quốc gia việc làm và dạy nghề giai Quan điểm của Đảng về GD&ĐT, đào tạo nghề đoạn 2012-2015; Chính sách hỗ trợ giải quyết đã được cụ thể hóa trong Chiến lược phát triển việc làm và đào tạo nghề cho người lao động bị kinh tế - xã hội giai đoạn 2011- 2020: Phấn đấu thu hồi đất nông nghiệp; Qui định mức hỗ trợ học hàng năm đào tạo khoảng 1 triệu lao động nông nghề đối với người lao động đang hưởng trợ cấp thôn, đưa tỷ lệ lao động được đào tạo nghề lên thất nghiệp; Luật Giáo dục nghề nghiệp,… khoảng 55% tổng lao động xã hội vào năm 2020. Thực hiện giáo dục quốc dân, đào tạo nghề Có chính sách thu hút những người được đào giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng lao tạo về làm việc ở nông thôn, nhất là miền núi và động, Đảng và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm vùng sâu, vùng xa. Phát triển mạng lưới dạy nghề đặc biệt đến công tác đào tạo nghề cho đồng bào theo hướng dân chủ hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa DTTS. Trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc nhằm từng bước nâng cao chất lượng dạy nghề lần thứ X, Đảng ta đã đưa ra định hướng rất cụ với phương châm hiệu quả, bền vững. thể: Về giáo dục đào tạo: Ưu tiên đầu tư phát Quan điểm, chủ trương của Đảng ta về triển giáo dục đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng phát triển lao động qua đào tạo nghề, về đào tạo đồng bào DTTS,... Về dạy nghề: Tổ chức dạy nghề đã được thể chế hoá trong Bộ luật Lao động nghề, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ sản xuất đầu tiên của Việt Nam (có hiệu lực từ 1/1/1995) phù hợp cho nông dân, đồng bào DTTS. và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Điều 36, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã Lao động (có hiệu lực từ 1/1/2003); trong Luật hội Chủ nghĩa Việt Nam (1992), quy định Nhà giáo dục (có hiệu lực từ 1/6/1999) và sửa đổi năm nước thực hiện chính sách ưu tiên bảo đảm phát 2005 và Luật dạy nghề (có hiệu lực từ 1/6/2007); triển giáo dục đào tạo ở miền núi, các vùng dân Luật Giáo dục nghề nghiệp (có hiệu lực từ tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn. Trong 1/7/2015); trong Chiến lược phát triển giáo dục Bộ Luật Lao động được Quốc hội thông qua ngày 2001-2010, Chiến lược phát triển giáo dục giai 23/6/1994, tại Điều 21 đã quy định: Cơ sở dạy đoạn 2011-2020 và trong nhiều chính sách, nghị nghề cho người DTTS được xét giảm, miễn thuế. định, thông tư hướng dẫn của Nhà nước. Ngoài Luật lao động, Luật Dạy nghề, giai đoạn 2005- Điều 10, Luật giáo dục (1998) quy 2010 còn có tới 8 chính sách về đào tạo nghề và định: Nhà nước ưu tiên, tạo điều kiện cho con hỗ trợ việc làm cho lao động nói chung và lao em dân tộc thiểu số, con em gia đình ở vùng có động nữ nói riêng: Chính sách hỗ trợ dạy nghề điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đối ngắn hạn cho lao động nông thôn; Chương trình tượng hưởng chính sách ưu đãi, người tàn tật và mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2007- đối tượng được hưởng chính sách xã hội khác 2010; Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập của mình. bền vững đối với 61 huyện nghèo (2008); Chính Tại Nghị định 139/NĐ-CP ngày 20/11/2006 của sách phát triển ngành nghề nông thôn (Nghị Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi định 66/2006/ NĐ-CP về phát triển ngành nghề hành Luật Giáo dục và Bộ Luật Lao động (sửa nông thôn); Chính sách khuyến nông, khuyến đổi) về dạy nghề cũng có 2 điều quy định chính ngư (Nghị định 56/2005 NĐ-CP về khuyến sách đối với DTTS: (1) Cơ sở dạy nghề cho người nông, khuyến lâm); Chính sách đền bù, hỗ trợ hộ dân tộc thiểu số được xét giảm miễn thuế (Điều gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp (Nghị định 22); (2) Người học nghề là người DTTS được hỗ 197/2004/ NĐ-CP về hỗ trợ hộ gia đình đào tạo trợ học nghề (Điều 24). Khoản 2 điều 7 Luật dạy nghề khi bị nhà nước thu hồi đất nông nghiệp); nghề (2005) khi nói về chính sách của Nhà nước Chính sách hỗ trợ việc làm; Chính sách phát triển đối với phát triển dạy nghề đã khẳng định “ Chú Số 18 - Tháng 6 năm 2017 19
  3. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC trọng phát triển dạy nghề ở các vùng có điều kiện hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”. Trong đó, Nhà nghèo; người DTTS; người tàn tật; người trong nước có chính sách đầu tư bảo đảm các điều kiện diện thu hồi đất canh tác; phụ nữ bị mất việc làm cho cơ sở dạy nghề tiếp nhận học sinh phổ thông trong các doanh nghiệp. dân tộc nội trú khi ra trường được vào học nghề Trong giai đoạn 2007- 2010, 2010-2015 (Điều 54). Học sinh tốt nghiệp trường Trung học và giai đoạn 2016-2020 chính sách dạy nghề cho cơ sở dân tộc nội trú, trường Trung học phổ thông nông dân, ngày càng được chú trọng. Trong đó, dân tộc nội trú, kể cả nội trú dân nuôi được tuyển có quan tâm đến học sinh, sinh viên thuộc hộ thẳng vào học trường trung cấp nghề. Học sinh nghèo, gia đình chính sách, phụ nữ. Quyết định số Trường phổ thông dân tộc nội trú khi chuyển 81/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 của Thủ tướng sang học nghề được hưởng chính sách như học Chính phủ về Chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn sinh trường phổ thông dân tộc nội trú (Điều 65). hạn cho lao động nông thôn chỉ rõ “Ưu tiên các Gần đây nhất Luật Giáo dục nghề nghiệp nhóm lao động bị mất đất sản xuất do Nhà nước cũng đã khẳng định người DTTS được hỗ trợ đào thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất; lao tạo nghề và giải quyết việc làm. Bên cạnh đó, một động thuộc diện chính sách, dân tộc thiểu số; lao số chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã động nữ và lao động chưa có việc làm”2. Quyết hội vùng Tây Bắc,Tây Nguyên, Tây Nam bộ của định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ Đảng và Nhà nước cũng có nội dung hỗ trợ đào tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án về Dạy nghề tạo nghề, chuyển đổi nghề, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn đến năm 2020” với mục cho đồng bào. Cụ thể như: Quyết định số 20/QĐ- tiêu tăng cường khả năng tiếp cận của các đối TTg ngày 20/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ tượng này đến hệ thống dạy nghề. Phụ nữ là đối về phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề vùng tượng hưởng lợi nhiều trong chính sách này. đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010; Quyết Trong các giai đoạn 2007-2010, bình quân định số 74/2008/QĐ-TTg ngày 09/6/2008 của Thủ mỗi năm đã hỗ trợ cho trên 300 nghìn lao động tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ giải nông thôn học nghề ngắn hạn và sơ cấp nghề3. quyết đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm Hàng năm, ngân sách nhà nước chi khoảng 4.400 cho hộ đồng bào DTTS nghèo, đời sống khó khăn tỷ đồng: miễn học phí (2.162 tỷ đồng); giảm học vùng ĐBSCL giai đoạn 2008 – 2010; Quyết định phí (383 tỷ đồng) và hỗ trợ chi phí học tập (1.856 số 1033/QĐ-TTg, ngày 30/6/2011 của Thủ tướng tỷ đồng), trong đó có hỗ trợ dạy nghề. Công bằng Chính phủ về phát triển giáo dục, đào tạo và dạy xã hội trong giáo dục đã được cải thiện, đặc biệt nghề vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn tăng cơ hội học tập cho trẻ em gái, trẻ em DTTS, 2011-2015. Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg ngày con em các gia đình nghèo và trẻ em khuyết tật. 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ về một số Hàng loạt chính sách xã hội ban hành trong thời chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở và giải quyết kỳ 2007-2010 đã quan tâm đến cung cấp tín dụng việc làm cho đồng bào DTTS nghèo, đời sống khó ưu đãi nhằm hỗ trợ việc làm cho các nhóm đối khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn tượng đặc thù như hộ nghèo, người DTTS, người 2013 – 2015,… khuyết tật, hộ bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp Nhìn tổng thể, chủ trương quan điểm của phải học nghề để chuyển đổi việc làm, thanh Đảng ta về đào tạo nghề không chỉ dừng lại ở niên, phụ nữ,... hệ tư tưởng, ở tầm định hướng chính sách mà Chương trình mục tiêu quốc gia về việc nó đã được thể chế hóa về mặt Nhà nước thành làm đã hỗ trợ tạo việc làm trong các cơ sở sản xuất hệ thống cơ chế, chính sách. Đó là một hệ thống kinh doanh (doanh nghiệp nhỏ và vừa, trang trại, chủ trương quan điểm nhất quán, toàn diện và làng nghề,…), tạo nhiều việc làm cho người lao không ngừng được hoàn thiện. Đối tượng thụ hưởng các chính sách này bao gồm cả nam giới 2 . Điều 1, Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 và phụ nữ. Một số chính sách còn dành ưu tiên của Thủ tướng Chính phủ về Chính sách hỗ trợ dạy nghề đối với phụ nữ, đặc biệt là các nhóm phụ nữ đặc ngắn hạn cho lao động nông thôn. thù như người thuộc diện được hưởng chính sách 3 . Tổng cục dạy nghề, Bộ Lao động-TBXH. Báo cáo tình ưu đãi, người có công với cách mạng; hộ nghèo; hình phát triển dạy nghề năm 2011. 20 Số 18 - Tháng 6 năm 2017
  4. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC động, hộ gia đình, hộ DTTS và các đối tượng đặc Cùng với hệ thống chính sách đào tạo nghề thù (người khuyết tật, lao động khu vực chuyển và hỗ trợ việc làm cho lao động của Nhà nước, đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp,…). Thời từng địa phương căn cứ vào điều kiện cụ thể cũng kỳ 2007-2010, mỗi năm Quỹ quốc gia giải quyết đã ban hành nhiều chính sách, xây dựng nhiều việc làm góp phần tạo việc làm cho khoảng 350 mô hình đào tạo hiệu quả, nhằm tạo điều kiện tối ngàn lao động, trong đó lao động nữ chiếm trên đa cho lao động được tiếp cận thông tin, được đào 40%.4 Hoạt động đưa lao động đi làm việc có thời tạo nghề, chuyển đổi nghề phát triển sinh kế. hạn ở nước ngoài là một trong những giải pháp Theo Viện Khoa học lao động và xã hội để tạo việc làm gắn với xóa đói giảm nghèo bền thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội vững. Số lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài (LĐTB&XH): Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động5 tăng đều hàng năm. cả nước tiếp tục tăng, đạt 78,1% vào năm 2015 Trong hệ thống luật pháp, chính sách về và dự báo đạt 78,6% vào năm 2020. Qui mô lực đào tạo nghề và hỗ trợ việc làm cho lao động nói lượng lao động cũng tiếp tục tăng, đạt 54,81 triệu chung và lao động nữ nói riêng, đáng quan tâm người, năm 2015 và dự báo là 58,23 triệu người nhất là sự ra đời của Luật Bình đẳng giới (ra đời vào 2020. Theo giới tính, lực lượng lao động nữ năm 2006, có hiệu lực năm 2007) và những điều đạt 26,15 triệu người năm 2015 và ước sẽ đạt khoản qui định của Luật. Theo đó, việc thực hiện 27,50 triệu người năm 2020. Lực lượng lao động bình đẳng giới trong giáo dục, đào tạo, dạy nghề nữ chiếm trên 47% tổng lực lượng lao động. Trước là hết sức quan trọng để nâng cao năng lực, vị nhu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh, nhưng phải thế của phụ nữ. Luật quy định cụ thể những nội giảm tốc độ tăng lực lượng lao động, đòi hỏi phải dung của bình đẳng giới trong giáo dục, đào tạo khai thác hiệu quả nguồn vốn và nâng cao chất như: Nam, nữ bình đẳng về độ tuổi tham gia đào lượng nguồn nhân lực, do vậy, nhu cầu lao động tạo, trong lựa chọn ngành, nghề đào tạo, trong qua đào tạo đã tăng nhanh. Mục tiêu tỷ lệ lao động thụ hưởng các chính sách về GD&ĐT. Một số qua đào tạo nghề trong tổng số lao động của từng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lĩnh vực sẽ là: Nông, lâm, ngư nghiệp (khoảng GD&ĐT, dạy nghề cũng được đề cập như: Quy 35%); công nghiệp - xây dựng (khoảng 63%); dịch định tỷ lệ nam nữ tham gia học tập, đào tạo; tỷ lệ vụ (khoảng 50%), đặt ra yêu cầu lớn cho công tác nữ được tạo việc làm, hỗ trợ lao động nữ nông dạy nghề, đặc biệt là dạy nghề cho lao động nông thôn học nghề,… Bình đẳng giới là xu thế phát thôn, cho đồng bào DTTS. Trong đó có nhu cầu triển tất yếu, vì phụ nữ ngày càng chứng tỏ vị đào tạo nghề cho xuất khẩu lao động. thế, khả năng đóng góp của họ cho gia đình và xã Nhìn chung, nội dung chủ yếu của chính hội. Tuy nhiên, ở những vùng sâu, vùng xa, vùng sách đào tạo nghề, đào tạo nghề cho LĐNN, đồng bào DTTS, công tác bình đẳng giới gặp khó LĐDTTS của chúng ta giai đoạn vừa qua tập khăn hơn. Phụ nữ DTTS phải gánh chịu nhiều trung vào những vấn đề sau: thiệt thòi, chưa được nam giới quan tâm, chia sẻ công việc gia đình; ít được tiếp cận các dịch vụ Thứ nhất, người lao động ở nông thôn được chăm sóc sức khỏe, kế hoạch hóa gia đình. Trước tham gia chương trình đào tạo nghề của Chính thực trạng đó, chiến lược quốc gia về bình đẳng phủ ban hành. Trong đó ưu tiên dạy nghề cho các giới giai đoạn 2011- 2020 tập trung vào đối tượng đối tượng là người có công với cách mạng, hộ phụ nữ nông thôn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng nghèo, người DTTS, người tàn tật, người bị thu bào DTTS. Mục tiêu là giúp chị em có quyền hồi đất canh tác, phụ nữ. bình đẳng với nam giới trên tất cả các lĩnh vực.  Thứ hai, kinh phí hỗ trợ đào tạo nghề được Thông qua các buổi tuyên truyền bình đẳng giới lấy từ ngân sách trung ương, địa phương, doanh về những vùng nông thôn, Ban vì sự tiến bộ phụ nghiệp. Trong đó, ngân sách trung ương đảm bảo nữ các cấp đã giúp chị em dần thay đổi những kinh phí để thực hiện chính sách hỗ trợ lao động định kiến, nâng cao nhận thức, trang bị những kỹ nông thôn học nghề, hoạt động đào tạo; các cá năng để nhận biết và dám đấu tranh cho quyền lợi nhân, doanh nghiệp tham gia công tác đào tạo chính đáng của mình. 5 . Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là tỷ lệ phần trăm số . Số liệu thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội 4 người tham gia lao động so với tổng nguồn lao động Số 18 - Tháng 6 năm 2017 21
  5. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC nghề được hưởng mức thuế ưu đãi theo đúng quy đồng bằng Sông Cửu Long. LĐNT, LĐDTTS chủ định của pháp luật. yếu tập trung vào lĩnh vực sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp (trên 70%), công nghiệp - xây dựng Thứ ba,  Các chính sách đã tạo điều (gần 10%), dịch vụ (khoảng 20%). Đời sống của kiện tối đa cho lao động nông thôn, vùng đặc đa số đồng bào DTTS còn nhiều khó khăn. Tỷ lệ biệt khó khăn (ĐBKK), lao động DTTS, lao hộ nghèo vùng dân tộc và miền núi (DT&MN) động nữ được đào tạo nghề để có việc làm cuối năm 2015 khoảng 16,8%, trong đó: các tỉnh phù hợp, có thu nhập, nâng cao đời sống. vùng Tây Bắc 34,52%, Đông Bắc 20,74%, duyên Đào tạo nghề luôn được gắn với giải quyết việc hải miền Trung 11,4%, Tây Nguyên 17,14% và làm cho người lao động. Đây là đặc điểm nổi bật đồng bằng sông Cửu Long 9,66%. Năm 2016, nhờ của đề án 1956 của Chính phủ về đào tạo nghề thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển kinh cho người lao động nông thôn, đặc biệt là hộ tế - xã hội, tỷ lệ hộ theo chuẩn nghèo tiếp cận đa nghèo người DTTS. Đối với khu vực Tây Nam chiều vùng dân tộc và miền núi ước giảm khoảng bộ, tỷ lệ nông dân và người DTTS chưa được đào 2% so với năm 2015 (cả nước giảm khoảng 1,3% tạo nghề còn chiếm tỷ lệ khá cao so với các vùng - 1,5%), riêng các huyện nghèo giảm 4%7. khác, nên công tác dạy nghề được đặc biệt chú trọng. Đề án 1956 của Chính phủ đã có những Kinh tế của đồng bào chủ yếu tự cung, đóng góp trực tiếp cho việc nâng cao chất lượng tự cấp, trình độ sản xuất còn lạc hậu. Nhiều hộ nguồn nhân lực, kỹ năng lao động cho người lao DTTS thiếu đất sản xuất, đất ở; nhiều làng nghề động, đặc biệt là phụ nữ DTTS. truyền thống bị mai một, đời sống bà con còn vô cùng khó khăn. Thực hiện chủ trương của Đảng Thứ tư, Các chính sách, đề án được xây về phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS và miền dựng trên cơ sở dạy nghề phù hợp với nhu cầu, núi thông qua nâng cao chất lượng đào tạo nghề khả năng thực tế của các nhóm dân cư, người cho lao động nông thôn, cho đồng bào DTTS, DTTS; đồng thời đảm bảo dạy nghề theo nhu cầu dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các Ban chỉ đạo Tây của thị trường lao động. Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ, Bộ LĐTB&XH Thứ năm, Các chính sách đào tạo nghề đều cùng các sở Ban ngành ở địa phương, công tác đào đề cao sự liên kết giữa các bên tham gia ở tất cả tạo nghề cho LĐNT, LĐDTTS ở vùng có đông các khâu của đào tạo nghề. Từ khâu tuyển sinh đồng bào sinh sống được chú trọng, Theo Báo đầu vào đến quá trình đào tạo và đầu ra phải có cáo của Hội đồng Dân tộc (Quốc Hội khóa 13), sự phối hợp ăn ý giữa chính quyền - đại diện cơ báo cáo về kết quả thực hiện chính sách đào tạo quan quản lý nhà nước; doanh nghiệp - đại diện nghề cho lao động nông thôn vùng DTTS từ năm tiếp nhận lao động qua đào tạo nghề; người lao 2010 đến 2013 (Quyết định 1956/QĐ-TTg, ngày động - đại diện bên hưởng thụ hỗ trợ. Trong đó, 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chính quyền quản lý đóng vai trò cầu nối trung Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến gian cho nhà tuyển dụng doanh nghiệp và người năm 2020 - gọi tắt là Đề án 1956: Tại 51 tỉnh có lao động, thường xuyên điều tra khảo sát nhu cầu DTTS, cư trú tập trung theo cộng đồng đã có 468 lao động của nhà tuyển dụng lao động và thông cơ sở đào tạo nghề (Trung tâm dạy nghề, hoặc tin rộng rãi đến các cấp và trực tiếp đến người lao Trường Trung cấp nghề công lập) được đầu tư cơ động, đặc biệt người lao động chưa có việc làm sở vật chất, thiết bị dạy nghề, với tổng kinh phí hoặc mới nghỉ việc. Những thay đổi không ngừng 2.311,6 tỷ đồng (ngân sách Trung ương 1.968,1 trong quá trình hội nhập và phát triển hiện nay đã tỷ, chiếm 85,2%; ngân sách địa phương và lồng đặt ra cho công tác đào tạo nghề không chỉ đào ghép các nguồn vốn khác 343,5 tỷ đồng, chiếm tạo một lần mà phải có kế hoạch đào tạo lâu dài, 14,8%). Ngoài ra, tại các tỉnh có đông LĐDTTS, đào tạo lại, đào tạo nâng cao mới đáp ứng được đã có 01 Trường Cao đẳng nghề thanh niên dân nhu cầu của thực tế. tộc Tây Nguyên và 10 Trường Trung cấp nghề Hiện nay, đồng bào DTTS của nước ta có Dân tộc nội trú (Phú Thọ, Thái Nguyên, Yên Bái, số dân là 13,39 triệu người, chiếm 14,6% dân số Bắc Giang, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam, cả nước6 sống tập trung chủ yếu ở vùng miền núi Phú Yên, An Giang, Kiên Giang); 02 khoa Dân phía Bắc, duyên hải miền Trung, Tây Nguyên và tộc nội trú tại Trường Cao đẳng nghề Hòa Bình 6 . Tổng cục Thống kê, Kết quả điều tra thực trạng phát triển 7 . Ủy ban Dân tộc, Báo cáo tổng kết công tác dân tộc năm kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số, năm 2015 2016 và triển khai nhiệm vụ năm 2017. 22 Số 18 - Tháng 6 năm 2017
  6. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC và Sóc Trăng; xây dựng ký túc xá, trang thiết bị quyết việc làm cho 6.600 lao động, trong đó xuất dạy nghề cho các trường trung cấp, cao đẳng khẩu 100 lao động. Năm 2014, Yên Bái tạo việc nghề của một số tỉnh. Tính đến tháng 6-2013, làm mới cho 18.174 lao động (xuất khẩu lao động Tổng số LĐNT được học nghề: 886.621 người, đạt 742 người)9. trong đó LĐDTTS 223.792 người, chiếm tỷ lệ Sơ kết 3 năm thực hiện Đề án 1956 ở Tây 25,24% so với tổng số lao động được đào tạo. Tỷ nguyên (đào tạo nghề cho lao động nông thôn), lệ LĐDTTS trong độ tuổi được đào tạo nghề theo Ban Chỉ đạo Tây Nguyên khẳng định: Các tỉnh Đề án 1956: 223.792/7.820.909 người, chiếm tỷ Tây Nguyên đã tuyển sinh dạy nghề cho gần lệ 2,86% (trong khi tỷ lệ lao động trong độ tuổi 90.000 lao động nông thôn. Chất lượng đào tạo được đào tạo nghề của của cả nước là 37,3%). nghề cũng từng bước được nâng lên. Cụ thể, chỉ Tổng số LĐNT sau học nghề có việc làm: 620.028 riêng từ năm 2010 đến năm 2013, tỷ lệ lao động người, đạt tỷ lệ 73,07% so với tổng số lao động nông thôn sau học nghề được các doanh nghiệp đã học xong nghề. Tỷ lệ LĐNT, LĐDTTS tự tạo tuyển dụng hoặc tự tạo việc làm tại chỗ đạt trên việc làm sau khi học nghề chiếm tỷ lệ cao 63,1%; 78%, trong đó có trên 2.000 hộ nghèo sau học đặc biệt lao động học nghề nông nghiệp tự tạo nghề có việc làm, thu nhập ổn định và đã thoát việc làm chiếm tỷ lệ rất cao (87,74%). Hơn 3 nghèo. Có 2.687 hộ sau học nghề đã đầu tư mở năm (2010-2013), có 16.000 LĐDTTS được thụ rộng sản xuất, thành lập các tổ sản xuất kinh hưởng chính sách xuất khẩu lao động, đã đi làm doanh dịch vụ và trở thành hộ có thu nhập khá việc có thời hạn ở nước ngoài,  trong đó 7.132 so với bình quân chung của địa phương. Hiện LĐDTTS  thuộc 62 huyện nghèo8. Đa số LĐDTTS nay, tỷ lệ lao động qua đào tạo của Tây Nguyên đi xuất khẩu lao động đều có việc làm, thu nhập đạt khoảng 37%, trong đó qua đào tạo nghề có ổn định. Thông qua đào tạo nghề và tìm việc làm khoảng 30%. Trong những năm qua, công tác dạy cho LĐDTTS, nhiều hộ gia đình DTTS đã thoát nghề ở Tây Nguyên đã phát triển theo hướng gắn nghèo, xây dựng được nhà cửa, mua sắm tài sản, với các chương trình về lao động, việc làm, xuất đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh hiệu quả. khẩu lao động, xoá đói, giảm nghèo, nên đã có Nhiều mô hình đào tạo nghề và mô hình nghề những hiệu quả rõ rêt. Mô hình đào tạo nghề rõ được áp dụng, được nhân rộng hiệu quả. nhất ở Tây Nguyên hiện nay là sự phối hợp, liên Theo Báo cáo của Bộ trưởng Bộ kết “4 nhà”, đó là nhà quản lý, nhà trường, nhà LĐTB&XH tại Hội nghị “Đánh giá thực trạng nông và nhà doanh nghiệp. thực hiện chính sách xuất khẩu lao động, dạy Toàn vùng đồng bằng Sông Cửu Long, nghề, giảm nghèo tại các huyện khó khăn vùng hiện đã có 364 cơ sở dạy nghề, trong đó có 39 Tây bắc” (1/2015): “Năm 2014, các địa phương cơ sở dạy nghề ngoài công lập (chiếm 22,16%). trong toàn vùng Tây Bắc đã tuyển sinh, đào tạo Trong giai đoạn 2011-2015, tổng số tuyển sinh cho hơn 243.000 người được học nghề, bằng học nghề là 1.238.643 người ở các trình độ đào 12% tổng số  người được đào tạo nghề cả nước, tạo nghề. Hiện có 9.556 hộ nghèo có người tham trong đó có hơn 71.000 người DTTS và hơn gia học nghề đã thoát được nghèo, trong tổng số 13.000 người thuộc hộ nghèo”. Dạy nghề và các 44.959 người nghèo tham gia học nghề; 8.293 hộ chính sách liên quan trực tiếp đến đào tạo nhân gia đình có người tham gia học nghề trở thành lực địa phương cũng được chú ý. Nguồn nhân lực hộ khá10. Kết quả điều tra phiếu hỏi của đề tài đã qua đào tạo của Tây Bắc cũng tăng dần qua “Nghiên cứu kết quả một số chủ trương, chính các năm. Hoà Bình và Điện Biên có tỷ lệ nhân sách đối với đồng bào Khmer và những vấn đề lực trên 15 tuổi đã qua đào tạo vượt mức trung đặt ra”11 cho thấy, đa số đồng bào Khmer và đồng bình cả nước. Tại Lai Châu, năm 2014, số lao động được đào tạo nghề và giải quyết việc làm 9 . Báo cáo tại Hội nghị Đánh giá thực trạng thực hiện chính tăng: đào tạo nghề cho 5.077 lao động, nâng tỷ sách xuất khẩu lao động, dạy nghề, giảm nghèo tại các huyện lệ lao động qua đào tạo, tập huấn lên 38%; giải khó khăn vùng Tây bắc (1/2015). 10 . Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, Báo cáo Sơ kết 3 năm năm triển 8 . Hội đồng Dân tộc Quốc Hội (khóa 13), Kết quả giám sát khai Quyết định 1956 của Thủ tướng Chính phủ về “Đào việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, năm 2013 thôn vùng dân tộc thiểu số, năm 2013. 11 . Ủy ban Dân tộc, Đề tài cấp bộ thực hiện năm 2016-2017. Số 18 - Tháng 6 năm 2017 23
  7. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC bào Kinh đều cho rằng: Trong điều kiện đất đai LĐNT, LĐDTTS chưa phù hợp, chưa đáp ứng vùng Tây Nam bộ hiện rất hạn hẹp và biến đổi nhu cầu đào tạo nghề tại địa phương, cụ thể: các khí hậu gây ngập mặn, hạn mặn như hiện nay, gây quy định về mức chi hỗ trợ tiền ăn, chi phí đi lại nhiều bất lợi cho sản xuất nông nghiệp thì đào tạo quá thấp, trong khi đó cơ sở đào tạo lại quá xa. nghề cho đồng bào Khmer và hỗ trợ chuyển đổi so với nơi ở của đồng bào. Các nghề mang tính nghề cho đồng bào là rất phù hợp và rất cần thiết kỹ thuật cao chưa phát triển. Trình độ người lao (208/360 ý kiến chủ hộ Khmer, chiếm 57,8% và động chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường 28/40 ý kiến chủ hộ Kinh, chiếm 70% cho là rất lao động. Việc xuất khẩu lao động còn nhiều hạn phù hợp và rất cần thiết). Nhưng đào tạo nghề chế. nên tránh đào tạo tràn lan mà đào tạo phải gắn Thực tế cho thấy, quá trình đào tạo nghề cho với giải quyết việc làm sau đào tạo nghề. Giai đồng bào DTTS, đặc biệt là đồng bào ở vùng sâu, đoạn 2016-2020, khu vực ĐBSCL phấn đấu vùng xa, vùng ĐBKK chưa đạt được hiệu quả như mỗi năm sẽ dạy nghề cho khoảng 300 nghìn mong muốn. Nguyên nhân là do nội dung, phương lao động trong vùng. Đồng thời phấn đấu đến pháp giảng dạy một số nơi chỉ mang tính ngắn hạn, năm 2020, có ít nhất 2 trường nghề đạt tiêu chí cung cấp kiến thức trong sản xuất nông nghiệp là trường nghề chất lượng cao, 3 trường nghề nội chính, trong khi đồng bào thiếu tư liệu sản xuất trú đảm bảo chất lượng đào tạo cho học sinh (đất); việc thu hút được các doanh nghiệp, trong đó DTTS nội trú, 100 lượt nghề trọng điểm ở các có doanh nghiệp đầu tư vào vùng DTTS rất ít, nên cấp độ đạt chuẩn tối thiểu. Theo báo cáo của rất khó khăn kết hợp được đào tạo nghề gắn với ngân hàng Chính sách Xã hội, 10 tháng đầu năm giải quyết việc làm tại chỗ. Nhiều lao động được 2016, cả nước đã hỗ trợ giải quyết việc làm cho đào tạo nhưng không có việc làm hoặc làm những 85.025 lao động, trong đó hơn 8.000 lao động là công việc không phù hợp với ngành nghề được người DTTS12. đào tạo hoặc gia công làm được các sản phẩm thủ Bên cạnh những thành tựu đạt được, công công mỹ nghệ nhưng gặp khó khăn trong tiêu thụ tác đào tạo nghề cho đồng bào DTTS vẫn còn sản phẩm, từ đó không thu hút được lao động học có những hạn chế nhất định. Công tác đào tạo nghề, ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực. nghề ở vùng DTTS mới chỉ đáp ứng được khoảng Bên cạnh đó, nhiều cơ sở đào tạo còn khó khăn về 1/5 nhu cầu học nghề của địa phương. Sau học cơ sở vật chất, thiếu nơi thực hành. Chương trình nghề, lao động được giải quyết việc làm, có thu đào tạo nghề còn nặng về lý thuyết, chưa thực sự nhập cao còn quá ít ỏi. Chưa có chính sách phù phù hợp với trình độ nhận thức của LĐNT, đặc biệt hợp để khuyến khích các cơ sở dạy nghề mở rộng là LĐDTTS. Hầu hết đối tượng học nghề ở nông quy mô tuyển sinh. Nhiều địa phương vùng sâu, thôn chỉ được đào tạo trình độ sơ cấp và dưới 3 vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn chưa có mô hình tháng. Đa số người lao động sau khi được đào tạo dạy nghề phù hợp cho từng đối tượng, nhất là nghề vẫn làm nghề cũ (nghề nông nghiệp chiếm cho phụ nữ DTTS. Công tác xã hội hóa giáo dục tỷ lệ trên 80%). Tỷ lệ LĐDTTS được đào tạo chưa được đẩy mạnh, chưa huy động được nguồn nghề rất thấp (dưới 3% so với LĐDTTS trong độ lực từ doanh nghiệp và nhân dân. Có nơi công tuổi)13. LĐDTTS vẫn ít có cơ hội được học nghề tác đào tạo nghề chưa phù hợp với thực tế nhu bài bản, thường chỉ theo các lớp dưới 3 tháng. cầu địa phương. Chất lượng đào tạo nghề chưa Hiện nay vùng DTTS &MN lại là nơi chịu ảnh cao do trình độ học vấn của người lao động, đặc hưởng nhiều nhất của biến đổi khí hậu (hạn hán biệt là chất lượng lao động vùng sâu, vùng xa, kéo dài ở Tây nguyên; hạn mặn và xâm mặn nặng vùng đồng bào DTTS không đồng đều, nên số lao ở Tây Nam bộ), cũng lại là nơi chịu ảnh hưởng động nông thôn tham gia học nghề chủ yếu là học của khủng hoảng kinh tế thế giới,... Những yếu những nghề đơn giản, hoặc bồi dưỡng kiến thức tố này đã ảnh hưởng rất nhiều đến thị trường lao ít ngày. Đặc biệt, thiếu các cơ chế, chính sách ưu động, việc làm. Bên cạnh đó là các nguyên nhân tiên đối với người học nghề là người DTTS. Một chủ quan: Sự phối hợp chưa đồng bộ của các Bộ, số quy định, định mức về hỗ trợ đào tạo nghề cho 13 . Hội đồng dân tộc Quốc Hội (khóa 13) Kết quả giám sát . Ủy ban Dân tộc, Báo cáo tổng kết công tác dân tộc năm 12 việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông 2016 và triển khai nhiệm vụ năm 2017. thôn vùng dân tộc thiểu số, năm 2013 24 Số 18 - Tháng 6 năm 2017
  8. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC ban ngành Trung ương trong thực hiện các chính đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư vào vùng sách dạy nghề cho LDDTTS, vùng DTTS. Nhiều DTTS, sử dụng lao động là người DTTS tại chỗ địa phương còn trông chờ ỷ lại vào Đảng, nhà vào làm việc tại doanh nghiệp. Đồng thời, khuyến nước mà ko có những chính sách dạy nghề đặc khích các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế, thù cho địa phương. Do bản tính rụt rè, thiếu tự các cơ sở đào tạo nghề ngoài công lập tham gia tin, ngại thay đổi môi trường sống, thay đổi cách đào tạo nghề gắn với thu hút lao động nông thôn, thức làm ăn, nên đồng bào chưa nhận thức đúng, lao động DTTS vào doanh nghiệp. chưa hiểu được tầm quan trọng của việc học nghề Thứ hai, Cần thực hiện hướng nghiệp nghề để lập nghiệp, nên chủ yếu tham gia các lớp ngắn cho học sinh DTTS ngay khi còn học phổ thông. hạn dưới 03 tháng và tập trung vào nghề nông, lâm Tăng cường công tác đào tạo nghề ở các trường nghiệp hoặc lao động giản đơn,… Nhiều lao động phổ thông Dân tộc nội trú để khi tốt nghiệp, nếu DTTS chưa coi trọng việc học nghề, chưa coi học không tiếp tục học Cao đẳng, Đại học thì khi nghề để xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giầu. trở về quê hương các em đã thạo một (hoặc hai) Bên cạnh đó, kinh phí bố trí cho công tác dạy nghề nghề, tự nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thấp, lại chủ yếu dành cho xây dựng cơ sở đào tạo, thời góp phần xây dựng quê hương. chi hỗ trợ cho người học còn hạn hẹp. Thứ ba, Trong chiến lược nâng cao chất Để nâng cao chất lượng học nghề và giải lượng nguồn nhân lực cho vùng DTTS&MN cần quyết việc làm cho đồng bào Khmer nói riêng đầu tư và hỗ trợ thỏa đáng hơn nữa cho công và đồng bào DTTS vùng Đồng bằng sông Cửu tác đào tạo nghề cho con em DTTS ít người, hộ Long nói chung cần tăng cường hơn nữa cơ chế nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng ĐBKK, nhằm chính sách thu hút doanh nghiệp, đặc biệt doanh bảo đảm sự công bằng về cơ hội đào tạo nghề nghiệp vừa và nhỏ đầu tư vào vùng DTTS, sử (hỗ trợ kinh phí đi lại, sinh hoạt cho đồng bào ở dụng lao động là người DTTS tại chỗ vào làm xa trung tâm đào tạo nghề; hoặc tổ chức đào tạo việc tại doanh nghiệp. Đồng thời, khuyến khích nghề tại thôn bản,…), giảm sự chênh lệch về tỷ lệ các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế, các đào tạo nghề, việc làm và thu nhập giữa các vùng, cơ sở đào tạo nghề ngoài công lập tham gia đào miền, các thành phần dân tộc, nhất là các đối tạo nghề gắn với thu hút lao động nông thôn, lao tượng thuộc hộ nghèo, DTTS, vùng ĐBKK với động DTTS vào doanh nghiệp. Với đồng bào ở mức trung bình của Trung ương và địa phương.. vùng sâu, vùng xa, vùng ĐBKK tham gia học nghề cần được hỗ trợ kinh phí đi lại, sinh hoạt Thứ tư, Các địa phương căn cứ vào điều cho đồng bào ở xa trung tâm đào tạo nghề; hoặc kiện phát triển kinh tế- xã hội của địa phương; tổ chức đào tạo nghề tại thôn/bản, khóm/ấp,… đến văn hóa, phong tục, tập quán của đồng bào; Các địa phương căn cứ vào điều kiện phát triển đến trình độ LĐNT, LĐDTTS của địa phương để kinh tế- xã hội của địa phương; đến văn hóa, xây dựng mô hình đào tạo nghề phù hợp, định phong tục, tập quán của đồng bào; đến trình độ danh nghề của địa phương và định hướng nghề LĐNT, LDDTTS của địa phương để xây dựng hiệu quả cho đồng bào. mô hình đào tạo nghề phù hợp, định danh nghề Thứ năm, Thực hiện xây dựng mô hình đào của địa phương và định hướng nghề hiệu quả cho tạo nghề cho lao động DTTS cần phải có sự phối đồng bào. Tùy từng độ tuổi, giới tính, thành phần hợp, liên kết chặt chẽ của 4 chủ thể: Cơ quan quản dân tộc, địa bàn cư trú, trình độ phát triển kinh tế lý (Bộ LĐTB&XH hoặc Sở Lao động, Thương - xã hội địa phương, để có chương trình đào tạo binh và Xã hội tỉnh hoặc Hội liên hiệp Phụ nữ nghề và có nghề được đào tạo thích hợp. tỉnh, Tỉnh đoàn thanh niên,…), cơ sở dạy nghề Thực tế công tác đào tạo nghề cho đồng (trong và ngoài quốc lập), Lao động nông thôn, bào vùng DTTS hiện nay, đặt ra cho chúng ta một lao động DTTS (được học nghề và có nhu cầu số vấn đề cần phải quan tâm giải quyết như sau: học nghề) và doanh nghiệp (cơ sở sử dụng lao động). Cơ quan quản lý đảm bảo thực hiện đầy đủ   Thứ nhất, Để phát triển đào tạo nghề hiệu các chính sách dạy nghề cho đồng bào. Cơ sở dạy quả cho vùng DTTS và miền núi cần tăng cường nghề có nhiệm vụ đào tạo các nghề theo nhu cầu, hơn nữa cơ chế chính sách thu hút doanh nghiệp, nguyện vọng của bà con có chất lượng. Đồng bào Số 18 - Tháng 6 năm 2017 25
  9. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC DTTS có nhu cầu, nguyện vọng học nghề, đào nông thôn; tạo các nghề được học nghề. Các doanh nghiệp [2] Tổng cục dạy nghề, Bộ Lao động, có thể sử dụng ngay lao động đã học nghề hoặc Thương binh và Xã hội, Báo cáo tình hình phát hỗ trợ bà con đã học nghề tìm việc làm ổn định. triển dạy nghề năm 2011; Thứ sáu, Về chương trình đào tạo nghề: [3] Ủy ban Dân tộc, Báo cáo tổng kết các Tùy từng độ tuổi, giới tính, thành phần dân tộc, chính sách dân tộc giai đoạn 2011-2015; địa bàn cư trú, trình độ phát triển kinh tế - xã hội địa phương, để có chương trình đào tạo nghề và [4] Ủy ban Dân tộc, Báo cáo tổng kết công có nghề được đào tạo thích hợp. Ví dụ, đối với tác dân tộc năm 2016 và triển khai nhiệm vụ năm phụ nữ DTTS các xã ĐBKK khu vực Tây Nam 2017. bộ, nên đào tạo nghề ngắn hạn (dưới 3 tháng), [5] Hội đồng Dân tộc Quốc Hội (khóa 13), đào tạo các nghề gắn với giải quyết việc làm, Kết quả giám sát việc thực hiện chính sách đào nhằm xóa đói giảm nghèo cho hộ gia đình. Hiện tạo nghề cho lao động nông thôn vùng dân tộc nay, các nghề đang được phụ nữ DTTS Tây Nam thiểu số, năm 2013; bộ quan tâm và có nhu cầu học nhiều là: Kỹ thuật trồng lúa chất lượng cao, chăn nuôi bò hoặc heo, [6] Ban Chỉ đạo Tây Bắc, Báo cáo tại Hội may công nghiệp, dệt thổ cẩm, trồng nấm, kết nghị Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách hạt cườm,… và một số nghề nhằm hỗ trợ phụ nữ xuất khẩu lao động, dạy nghề, giảm nghèo tại các xuất khẩu lao động. Đối với thanh niên DTTS huyện khó khăn vùng Tây Bắc (1/2015); nên hướng tới đào tạo nghề dài hạn (Cao đẳng [7] Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, Báo cáo Sơ hoặc Đại học nghề). Không những đào tạo các kết 3 năm triển khai Quyết định 1956 của Thủ nghề có trong danh mục nghề của quốc gia mà tướng Chính phủ về “Đào tạo nghề cho lao động nên đào tạo các nghề trong danh mục nghề quốc nông thôn đến năm 2020”, năm 2013; tế để hướng tới thị trường lao động việc làm trong nước của thời kỳ hội nhập quốc tế, hoặc xuất khẩu lao động. (*) Bài viết là sản phẩm của đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu mô hình đào tạo nghề Tài liệu tham khảo cho phụ nữ dân tộc thiểu số thuộc các xã đặc biệt [1] Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg ngày khó khăn khu vực Tây Nam Bộ” của Quỹ Khoa 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về Chính học và Công nghệ quốc gia NAFOSTED, năm sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động 2015 - 2017 VOCATIONAL TRAINING - IMPORTANT SOLUTION TO CREATE HIGH QUALITY HUMAN RESOURCES FOR ETHNIC MINORITY PEOPLE IN THE CURRENT PERIOD Abstract: Vocational training is seen as a solution to socio-economic development, poverty reduction, unemployment and unemployment. In the process of national renovation, vocational training development is an important solution to speed up the economic restructuring process in rural and mountainous areas, improve the intellectual level of rural and ethnic labors in our country. Keywords: Vocational training; Human Resources; high quality human resources; ethnic minorities in the current period; important solutions. 26 Số 18 - Tháng 6 năm 2017

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản