Đậu xanh giải thuốc?
HỎI: Cháu nghe nói Đậu xanh ăn vô sẽ giải thuốc, có đúng không? Khi
uống thuốc cần c Đậu xanh không? Ăn nhiều Đậu xanh nổi mn
không?
Quách Thu H. (Q.5, TP.HCM)
ĐÁP: Kinh nghim dân gian thường dùng Đậu xanh để làm thuốc giải độc
cho nhiều loại thuốc và thức ăn độc. Kinh nghiệm này đúng cho một số
trường hợp nhưng không đúng hoàn toàn.
hàng ngàn chất gây độc và phải biết đang bị ngộ độc chất gì, tính chất
của ra sao thì mới chọn được cách xử trí thích hợp. Việc giải độc trước hết là
ngưng không cho chất độc ấy vào thnữa hoặc lấy ra bằng cách móc họng
cho ói, dùng thuốc gây nôn… Ngộ độc cấp thì bác sĩ cho súc ruột và thgiải
độc bằng thuốc đối kháng tác dụng của chất độc…
những chất tính giải độc chung chung như nước, sữa (để pha loãng
chất độc), than hoạt tính, tinh bột, lòng trắng trứng (để hấp thu một số chất độc rồi
thải ra theo phân chứ không hấp thu vào thể)…
Đậu xanh cũng thuộc loại chung chung này nhưng chỉ giải độc nhẹ cho cơ
thể chứ không giải được chất gây ngộ độc vì nó được hấp thu vào cơ thể.
Đậu xanh giàu chất dinh dưỡng lại dễ tiêu hóa nên người bệnh, người yếu
thdùng được. Nhất là chứa nhiều kalium (1.116 mg/100 g Đậu xanh) tính
lợi tiểu giải độc nên giúp cơ thể loại thải chất độc ra khỏi cơ thể nhanh n.
Đặc tính giải độc này có làm mất tác dụng của thuốc không thì còn tùy từng
loại. Nếu là thuốc bổ thì không nên loại nó ra sớm. Ta biết rằng mỗi loại dược chất
đều một thời gian bán hủy riêng. Thí dụ, uống 1 viên paracetamol 325 mg, sau
30 - 60 phút s đạt nồng độ đỉnh (hầu hết lượng thuốc ấy được hấp thu hết vào
thvà lúc đó máu một nồng độ của paracetamol cao nhất, gọi là nồng độ đỉnh
P). thi gian bán hủy của paracetamol là 2 ginên sau 2 githì nồng độ đỉnh
ấy sẽ giảm còn phân nửa (còn 1/2 P); sau 2 gi nữa thì sẽ giảm 1/2 nữa, tức còn lại
1/4 P)… Cthế cho đến 24 giờ sau thì hầu hết paracetamol trong viên thuốc ấy
được loại thải khỏi cơ thể. Trong khi trị bệnh thì c4 giờ thầy thuốc lại cho uống
thêm 1 vn nữa, nên nồng độ paracetamol trong máu lúc này P + 1/4 PNhư
vậy, trong thời kỳ dùng thuốc thì trong dịch thể của ta lúc nào cũng được duy trì
một nồng độ thuốc nhất định đủ để tạo tác dụng trị bệnh. Nếu ta uống nhiều lần
hơn, thí dụ 2 giờ thay vì 4 gimột lần, thì sbị ngộ độc thuốc vì lượng thuốc tích
lũy quá cao so với nồng độ đỉnh cần thiết. Đồng thời trong nước tiểu hay đúng hơn
trong thận cũng một nồng độ chất chuyển hóa (thoái biến) của thuốc cần
được loại ra khỏi thể. Nếu ta uống đủ nước hoặc ăn nhiều chất lỏng, kể cả chè
đậu xanh chẳng hạn, thì sgiúp cho thận bài tiết nhanh các chất cần thải loại qua
thận mà thôi chứ không giải được thuốc còn ở trong máu và dịch thể khác.
Vậy Đậu xanh tính giải độc cho cơ thể chứ không làm dã (mất tác dụng)
thuốc. Đậu xanh tính lợi tiểu giải độc như vậy làm mát thể nên làm bớt
mụn nhọt chứ không gây mụn trừ khi bạn ăn quá nhiều chè đậu xanh (nhiều
đường). Dùng Đậu xanh nên để nguyên vỏ lụa sẽ bổ dưỡng hơn Đậu xanh đãi vỏ.
DS. DIỆU PHƯƠNG
Cây Tbà
Thứ bảy, 29/05/2010, 06:34 GMT+7
T bà một cây cho trái ngon, thuốc tốt, tên khoa học Eriobotrya
japonica (Thunb.) Lindl., thuộc họ hoa Hồng Rosaceae, được sử dụng hàng
ngàn năm qua trong đông y.
Tiểu mộc, cao 4 - 5 mét, nhiều cành nhánh. xoan ngược, dài 20 cm, láng
mặt trên và đầy lông mặt dưới. Hoa mọc thành chùm ttán, phủ đầy lông hoe.
Năm cánh hoa trắng, 20 tiểu phì trái tròn, to 3 - 4 cm, chín màu vàng, vchua
ngọt. Tbà mọc hoang Cao Bằng, Lạng n, trồng được Hà Nội, Lâm Đồng,
TP.HCM…
Bphận dùng: trái chín để ăn tươi, ngon, tác dụng an thần. Lá, lấy
bánh t(gần già) lau sạch lông và bụi, phơi khô trong mát, để dành làm thuốc.
Thành phần hóa học: saponin, vitamin B (độ 2,8 mg trong 1 g),
acid ursolic, acid oleanic và caryophylin…
Tính vị: vị đắng, tính bình, vào kinh phế và vị.
Tác dụng: thanh phế hòa vị, giáng khí hóa đờm.
Chtrị: trị tức ngực, ho suyễn do nhiệt (tẩm mật, sao); trị đau dạ dày, tr
nôn (tm gừng, sao), khát nước (dùng sống). Lá có tác dụng hạ đường huyết, dùng
trị tiểu đường type 2.
- Nhiệt phế biểu hiện như ho hen: dùng Tỳ bà diệp với Tang bạch bì,
Bạch tiền và Cát cánh.
- Nhiệt vị, biểu hiện như buồn nôn và nôn: dùng Tbà diệp với Trúc nhự
và Lô căn.
Liều dùng: ngày dùng 12 - 18 g lá khô/ngày.
DS. PHAN ĐỨC BÌNH - DS. THÙY DUNG