TP CHÍ KHOA HC VÀ CÔNG NGH, ĐẠI HC ĐÀ NNG - S 5(40).2010
153
DY VÀ HC VĂN HC NƯỚC NGOÀI CÁC KHOA NGOI NG
BC ĐẠI HC – MT S TRI NGHIM VÀ SUY NGHIM TIÊU ĐỀ
FOREIGN LITERATURE TEACHING AND LEARNING AT THE TERTIARY
LEVEL IN DEPARTMENTS OF FOREIGN LANGUAGES
Phm Th Anh Nga
Trường Đại hc Ngoi ng, Đại hc Huế
TÓM TT
Nhm góp thêm mt tiếng nói liên quan đến vic dy văn hc trong nhà trường, bài báo
này cung cp mt góc nhìn khác vi hy vng b sung mt s thông tin hu ích cũng như nhng
suy nghim v vn đề dy và hc văn hc hin nay, da trên nhng tri nghim v dy văn hc
Pháp cho sinh viên ngoi ng Pháp Vit Nam
ABSTRACT
Aiming at contributing some ideas to the literature teaching, this paper provides a view
which is rather different from the other views with the hope to supplement some useful
information and thought about the issue of literature teaching and learning at present, based on
the author’s experience in French literature teaching to students of French as a foreign
language in Vietnam.
1. Văn hc nước ngoài trong lp hc ngoi ng bc đại hc
1.1 Thc tế dy và hc Văn hc Pháp
Khác vi nhiu môn hc khác, t xưa đến nay, Văn hc nước ngoài là mt môn
hc hu như luôn luôn có mt trong chương trình ging dy ca các khoa ngoi ng
Vit Nam, trong các trường Đại hc Văn khoa, Khoa hc Xã hi, Ngoi Ng hay Sư
Phm (ngoi tr trong các ngành đào to chuyên bit, thuc lĩnh vc ngoi giao, hp tác
quc tế...). Trong đào to ngoi ng Pháp Vit Nam, nếu có nơi và có lúc Văn hc
Pháp được dy cho sinh viên ngoi ng Pháp bng tiếng Vit (chng hn Hà Ni vào
nhng năm 80 ca thế k trước), thì trường Đại Hc Sư Phm Huế, ngay t đầu ngôn
ng được dùng để dy Văn hc Pháp cho sinh viên Pháp văn vn luôn là tiếng Pháp,
cũng như ĐH Ngoi Ng Huế hin nay (t 2004)1. Thm chí sinh viên cũng đã có lúc
được hc văn hc Pháp trc tiếp vi các ging viên người Pháp (trước 1975). Cũng có
mt giai đon (khong 1985), sinh viên được hc b sung v Văn hc Phương Tây và
Tng quan văn hc Pháp bng tiếng Vit, nhưng ni dung chính ca Văn hc Pháp (văn
hc s, tác phm...) vn được dy bng tiếng Pháp.
1 Trường ĐH Ngoi Ng (ĐH Huế) được thành lp năm 2004 trên cơ s quy t tt c các đội ngũ ging
viên và sinh viên các khoa Ngoi Ng thuc các trường thành viên ca ĐH Huế. Khoa Tiếng Pháp (có lúc
gi là Khoa Pháp) đảm nhn nhim v đào to v ngoi ng Pháp.
TP CHÍ KHOA HC VÀ CÔNG NGH, ĐẠI HC ĐÀ NNG - S 5(40).2010
154
V đội ngũ ging dy, ngoài nhng ging viên văn hc thuc thế h trước, nay
đã ngh hưu, do trong mt thi gian dài không có kế hoch đào to đội ngũ kế tc v
dy văn hc, nên khi các thy giáo đầu đàn ln lượt v hưu thì khoa (Tiếng) Pháp ĐH
Sư Phm (nay là ĐH Ngoi Ng) đã thiếu ht trm trng v ging viên văn hc. Cũng
may trong nhiu năm các thy dy văn hc t trước, dù đã ngh hưu, vn nhn dy thnh
ging cho khoa. Có th nói, dù chưa đến mc b “xoá s” trong kế hoch đào to, nhưng
có lúc môn Văn hc Pháp cũng đã chu tác động ca thi thế, đặc bit vi s lên ngôi
trong đào to ngoi ng ca các phương pháp Nghe-Nói, Nghe-Nhìn, cũng như phương
pháp Giao tiếp thi k đầu: mi n lc đào to các ging viên tr v tiếng Pháp ch yếu
tp trung vào các chuyên ngành Ngôn ng hc, Giáo hc pháp ngoi ng, Văn minh,
Dch..., riêng môn Văn hc gn như b b rơi. Ch mi mươi năm tr li đây, Khoa
(Tiếng) Pháp mi có ging viên được đào to chuyên sâu v Văn hc Pháp, hoc nghiên
cu v phương pháp ging dy văn hc, nhưng khi bt đầu dy văn hc thì các ging
viên này cũng đã gn đến tui ngh hưu!
V ni dung chương trình, so vi nhng thp niên đầu tiên được dy, ni dung
Văn hc Pháp nhng năm sau này có xu hướng ngày càng gim nh v liu lượng (do
s gi dành cho văn hc gim đáng k), cũng như v yêu cu. Đa s sinh viên ngày
càng cm thy nhc nhn hơn trong tiếp cn văn hc và ít gn bó vi môn này, ngoi tr
mt thiu s có trình độ ngoi ng ban đầu khá tt đồng hi có khuynh hướng yêu thích
văn chương. V phương pháp dy / hc2, ngoài vic gii quyết các nhim v hc tp
trên lp (v văn hc s, ging văn, bình ging...), có lúc sinh viên còn được yêu cu đọc
nguyên mt tác phm văn hc, và đọc din cm (trong nguyên bn tiếng Pháp) ni dung
các bài thơ đã phân tích. Qua các thi k, các ging viên đã n lc tìm nhiu phương
thc dy hc để va đảm bo khi lượng ni dung (ti thiu), va đảm bo tính va
sc, tc tính kh thi so vi trình độ thc tế ca sinh viên.
Cho đến nay, hiu qu vic dy / hc Văn hc Pháp vn chưa th gi là kh
quan, vn còn nhiu điu đáng bàn. Nhìn chung, có th nói t trước đến nay môn Văn
hc Pháp vn tn ti các khoa tiếng Pháp như mt l t nhiên. Cho đến mt lúc nào
đó, s tn ti tưởng nhưđương nhiên” đó ca môn Văn hc đã đưa đẩy thy và trò đến
trước mt tình hung “khó x”, vi nhng khó khăn ngày càng nhiu. Và ý thc v tình
hung có vn đề ngày càng rõ nét.
Nguyên nhân d dàng nhn ra nht là do trình độ ngoi ng ca sinh viên ngày
nay rt thp, không còn như cách đây nhiu thp niên, trong khi môn hc được tiến
hành bng ngoi ng, và sinh viên phi hc và phân tích tác phm văn hc trong nguyên
bn tiếng Pháp. Vi đầu vào đại hc có xu hướng ngày càng thp (ngoi tr mt thiu
s rt ít như đã đề cp trên, thường đến t các lp song ng hay chuyên tiếng Pháp
2 Cách ghi “dy / hc” này th hin s thng nht và tương tác ca hai mt hot động không th tách ri
trong lp hc, gia thy và trò, theo quan đim ca R.Galisson, đối lp vi các hot động “dy”, “dy và
hc”.
TP CHÍ KHOA HC VÀ CÔNG NGH, ĐẠI HC ĐÀ NNG - S 5(40).2010
155
ph thông), ngày nay nhiu sinh viên vn rt kém v các năng lc giao tiếp bng ngoi
ng (nghe nói đọc viết), thm chí có em đến hết năm cui bc đại hc vn không nói
hay viết được mt câu bng tiếng Pháp mà không có li. Vi vn ngoi ng có hn như
thế, vic tiếp xúc vi Văn hc cũng như vi mi môn hc khác đều là nhng tình hung
rt có vn đề.
Nhưng thc ra, trình độ sinh viên không phi là nguyên nhân duy nht khiến cho
hiu qu vic dy và hc văn hc có nhiu hn chế như hin nay. Do nhiu lý do khách
quan và ch quan, ging viên dy văn hc các khoa ngoi ng Pháp không hoc chưa
ý thc hết v nhng s khác nhau rt cơ bn gia nhim v ca h, là dy văn hc Pháp
cho sinh viên Vit Nam ngành Ngoi ng Pháp (Sư Phm, Biên Phiên dch...), vi các
nhim v đào to khác:
(1) dy văn hc Pháp cho sinh viên Pháp ngành Văn chương,
(2) dy văn hc Pháp cho sinh viên Vit Nam ngành Ng văn,
(3) dy văn hc Vit Nam cho sinh viên Vit Nam ngành Ng văn.
Mc tiêu ging dy s khác đối vi mi loi đối tượng (chuyên ngành văn
chương hay không), mi loi văn hc (văn hc “m đẻ” hay văn hc “nước ngoài”). Ni
dung, yêu cu, phương pháp, hot động lp hc và nhim v hc tp theo đó cũng s
khác.
1.2 Giáo hc pháp ging dy văn bn văn chương trong lp hc ngoi ng
V mt lý lun, ngay t nhng năm 80 ca thế k 20, nhà giáo hc pháp người
Pháp J.Peytard đã đề cp đến “Giáo hc pháp ging dy văn bn văn chương trong lp
hc ngoi ng Pháp” (Didactique du texte littéraire en français langue étrangère)
(1982). Theo ông, có my xu hướng nhn định văn bn văn chương (VBVC) như sau:
(1) VBVC như mt khía cnh đặc thù, “thiêng liêng”, b sung cho ngôn ng được dy,
trong các giáo trình ngoi ng Pháp (FLE3); (2) VBVC trong tương quan vi người dy
và người hc trong lp hc ngoi ng, cũng như vi nhng người bn ng trong xã hi,
th hin qua các thái độ “chi b” (dénégation) hay tôn sùng, “linh hoá” (sacralisation);
(3) VBVC như mt “khách th-sn phm” (objet-produit) vi nhng đặc trưng ca nó,
như tính đa nghĩa, tính đa thanh... cho phép có nhiu cách đọc đa dng khác nhau.
Tương ng vi các nhn định trên v VBVC, J.Peytard (1982) phân bit ba xu hướng s
dng văn hc và VBVC trong lp hc ngoi ng:
- Xu hướng th nht quan nim VBVC là nhng “thí d v câu được un nn
mt cách ngh thut”, xut phát t “truyn thng” ca người Pháp trong vic đề cao vai
trò văn hoá xã hi ca văn hc, và xem nó là mu mc ca ngôn ng (bon usage). Ngôn
ng được hc vô hình trung b gii hn trong th loi ngôn ng văn chương, không đại
din cho tính đa dng ca ngôn ng.
3 FLE: Français langue étrangère (Tiếng Pháp như mt ngoi ng)
TP CHÍ KHOA HC VÀ CÔNG NGH, ĐẠI HC ĐÀ NNG - S 5(40).2010
156
- Xu hướng th hai, có tính đại hc hơn, xem VBVC như mt loi văn bn đặc
thù, da vào nó để khai tâm và đào to v văn hc s, văn minh văn hoá, v nhng k
thut phê bình văn hc (kiu Pháp), nhm đào to nhng giáo viên ging dy văn hc.
Ngôn ng lp hc thường là siêu ngôn ng, có khi s dng c tiếng m đẻ ca người
hc. Đây là xu hướng hoàn toàn thích ng trong đào to giáo viên dy chuyên ngành
văn hc.
Theo J.Peytard (1982), c hai xu hướng nói trên đều là s chuyn dch ca các
cách tiếp cn văn hc Pháp t trong nhà trường ca Pháp, cp tiu hc, trung hc hay
đại hc, vi các đối tượng là hc sinh và sinh viên Pháp, nhưng áp dng cho đối tượng
là người nước ngoài trong lp hc ngoi ng thì s không phù hp.
- Xu hướng th ba chính là cách tiếp cn có th thích ng vi đối tượng là người
nước ngoài trong lp hc ngoi ng, mc dù nó cũng xut phát t mt phương thc tiếp
cn văn hc Pháp trong bi cnh tiếng Pháp là tiếng m đẻ. Theo D.Coste, vic tiếp xúc
và cm th văn hc Pháp và VBVC Pháp người hc tiếng Pháp như mt ngoi ng
cũng như đối vi hc sinh Pháp “ch có th hình dung được mt khi nn tng v ngôn
ng nói và viết thông dng đã được thiết lp mt cách chc chn” (J.Peytard (1982)
trích dn).
Như vy, có th nói vic dy / hc văn hc Pháp trong khuôn kh tiếng Pháp
như mt ngoi ng nên tránh hai xu hướng đầu và cn được tiến hành sao cho tương
ng vi xu hướng hay cách tiếp cn th ba này, nghĩa là tiếp cn và cm th văn hc và
VBVC mt khi người hc đã đạt được mt trình độ cơ bn v ngoi ng đang hc.
2. Mt s khái nim v nghiên cu và ging dy văn hc và văn bn văn chương
2.1 Đặc trưng ca văn bn văn chương
a. Trước tiên VBVC là mt văn bn thc (document authentique), thm chí nó còn
thc hơn c các loi “văn bn thc” đã được phương pháp Giao tiếp đề cao,
nhng loi văn bn trong mt thi gian dài đã gi v trí độc tôn trong lp hc
ngoi ng (văn bn thông tin báo chí, tin vt, qung cáo, tin nhn, truyn đơn,
áp phích...). V mt ngun gc, cũng ging như các loi văn bn trên VBVC
được sn sinh trong mt tình hung thc ch không phi ch để dùng trong lp
hc. Nhưng khác vi các loi văn bn kia, VBVC hướng ti mi người, mi nơi
mi lúc, không gii hn, và vic tiếp nhn nó trong lp hc ngoi ng hay mt
tình hung nào khác tht ra vn không vượt ra ngoài nhng gì mà người viết có
th hình dung hay mong đợi. Ngược li, đối tượng mà mt tài liu qung cáo
hay mt tin vt ca Pháp nhm đến ch là nhng người bn ng đang sng
trong xã hi Pháp hay nhng người s dng tiếng Pháp trong cng đồng Pháp
ng, nhm thúc đẩy vic mua bán hay thông tin v nhng vic xy ra. S dng
chúng trong lp hc ngoi ng thì tình hung s dng s không còn là thc na.
V khía cnh này, nhiu nhà giáo hc pháp FLE (ngoi ng Pháp) đã kêu gi
phi nhn định li khái nim “tính cht thc” (authenticité) ca văn bn, vn đã
TP CHÍ KHOA HC VÀ CÔNG NGH, ĐẠI HC ĐÀ NNG - S 5(40).2010
157
b ng nhn, nhm hiu nó mt cách thu đáo hơn, theo chiu hướng hoàn toàn
có li cho VBVC.
b. VBVC còn được xem là mt biu hin ca văn hoá. Theo cách phân loi ca
R.Galisson (1998) v văn hoá trong nhà trường, thì văn hc s thuc v văn
hoá-ý nim (culture-vision) hay văn hoá bác hc, được truyn đạt thông qua trí
tu (l’esprit), theo phương pháp suy din (déductive), còn VBVC thuc v văn
hoá-hành động (culture-action) hay văn hoá thông dng, hoc là văn hoá nhân
loi hc, được xây dng thông qua cơ th (le corps) theo phương pháp quy np
(inductive), vi nhng rèn luyn v ng x, tri nghim ca bn thân người hc,
và nhng môn hc như ging văn, đóng kch... Hai bình din này ca văn hoá
(và văn hc) có mi tương quan khăng khít và b tr cho nhau.
c. Mt đặc trưng khác ca VBVC là nó có chc năng thi ca (fonction poétique) và
chc năng siêu ngôn ng (fonction métalinguistique) đặc bit ni bt, so vi các
chc năng khác, theo cách phân loi các chc năng ngôn ng ca R.Jakobson,
nht là so vi chc năng qui chiếu hay biu vt (fonction référentielle). VBVC
chính là kết tinh t lao động ca nhà văn hay nhà thơ v ngôn ng và kết qu
lao động này li được th hin qua ngôn ng. Nói như M.Proust (“Lettre à
Madame Strauss”, 1908), vic đọc VBVC giúp ta khám phá ra tác gi là người
“to ra ngôn ng ca mình”, không phi bng cách lưu gi nó, mà bng cách
“không tuân th” nó (J.Peytard 1988). Liên quan đến đặc trưng này ca VBVC,
J.Peytard còn đưa ra mt câu khng định đầy tính thách thc, đó là: “chiu sâu
ca mt VBVC nht thiết phi nm b mt ca nó” (la profondeur d’un texte
littéraire est nécessairement dans sa surface).
d. VBVC không phi là mt loi linh vt, được ct gi trong đền thiêng dành riêng
cho mt thiu s ít i nhng nhà nghiên cu văn hc hay hot động trong
chuyên ngành văn chương. Trước thái độ sùng bái hay “linh hoá”
(sacralisation) đối vi VBVC, các nhà nghiên cu trong lĩnh vc dy / hc văn
hc và VBVC đã kêu gi “phi linh hoá” (désacralisation) VBVC. Nếu VBVC
dng thc cui cùng ca nó (dng cui cùng được công b) thường được đề
cao, được xem là mu mc v dng t dng ngôn, được chuyên tâm nghiên cu,
thì s tiếp cn đó vn chưa thc s toàn din, vì đã b sót quá trình lao động
mày mò, trăn tr, th nghim, gch xoá... ca nhà văn hay nhà thơ. Mt khác,
VBVC cũng cn được nghiên cu trong tương quan vi cuc sng xã hi, trong
s hin hu ca nó (quá trình in n, xut bn tác phm văn hc...). Mt khác,
nhà văn hay nhà thơ cũng là mt con người thc sng trong xã hi, thi đim
hin ti hay quá kh. Tác gi, tác phm văn hc đều thuc v cuc sng, ch
không là nhng thc th ch tn ti trong thế gii siêu nhiên, huyn o nào khác,
hay nhng hình nh tru tượng ch tn ti trong chương trình hc trong
nhà trường.