BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP.HCM
CON NGƢỜI NHÂN VĂN
TRÊN THI ĐÀN VIỆT NAM
SƠ KỲ TRUNG ĐẠI
Mã số: B 2005.23.69
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. ĐOÀN THỊ THU VÂN
í
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2006
MỤC LỤC
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP
BỘ .............................................................................................................................................. 1
SUMMARY ................................................................................................................... 2
PHẦN MỞ ĐẦU............................................................................................................ 3
PHẦN NỘI DUNG ........................................................................................................ 5
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KHÁI NIỆM .................................................. 5
1. Khái niệm "nhân văn": ....................................................................................... 5
2. Khái niệm "con ngƣời nhân văn " ...................................................................... 6
3. Khái niệm "sơ kỳ trung đại" .............................................................................. 7
4. Vấn đề "con ngƣời nhân văn trên thi đàn Việt Nam sơ kỳ trung đại". ............ 10
CHƢƠNG 2. CON NGƢỜI NHÂN VĂN TRONG THƠ THỜI LÝ VỚI VẺ ĐẸP
MINH TRIẾT CỦA TRÍ TUỆ. ............................................................................................ 13
1. Vẻ đẹp của sự điềm tĩnh và thông tuệ - "dĩ bất biến ứng vạn biến " - của nhà
cầm quyền trị nƣớc .......................................................................................................... 13
2. Vẻ đẹp an nhiên tự tại của con ngƣời hiểu rõ quy luật tự nhiên và sống hòa
nhịp cùng quy luật. ........................................................................................................... 15
3. Vẻ đẹp của tinh thần tự do, "phá chấp": .......................................................... 18
CHƢƠNG 3. CON NGƢỜI NHÂN VĂN TRONG THƠ THỜI TRẦN VỚI VẺ
ĐẸP MẪN CẢM CỦA TÂM LINH .................................................................................... 21
1. Sự phản tỉnh nhƣ một nét đẹp tâm hồn từ Trần Thái Tông đến Trần Minh
Tông ................................................................................................................................. 23
2. Khát vọng tự do và những khoảng trời riêng trong thơ Trần Thánh Tông ...... 29
3. Một tấm lòng "mai hoa nhƣ tuyết" và những cảm thức đời ngƣời trong thơ
Trần Quang Khải.............................................................................................................. 34
4. Trần Nhân Tông với những rung cảm tế vi và nhạy bén của tâm hồn. ............ 39
5. Huyền Quang với tâm hồn nghệ sĩ chan chứa tình đời. ................................... 50
6. Trần Quang Triều với cảm hứng sông hồ và những trầm tƣ trƣớc cuộc đời. .. 54
CHƢƠNG 4: CON NGƢỜI NHÂN VĂN TRONG THƠ THỜI LÊ SƠ VỚI VẺ
ĐẸP TẬN TỤY CỦA Ý THỨC TRÁCH NHIỆM VÀ SỰ THANH CAO CỦA KHÍ TIẾT
KẺ SĨ. ................................................................................................................................... 61
* Nguyễn Trãi - con ngƣời biết tìm niềm vui sống. ............................................. 63
PHẦN KẾT LUẬN ...................................................................................................... 79
THƢ MỤC THAM KHẢO .......................................................................................... 81
1
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
Tên đề tài: CON NGƢỜI NHÂN VĂN TRÊN THI ĐÀN VIỆT NAM SƠ KỲ
TRUNG ĐẠI
Mã số: B 2005.23.69
Chủ nhiệm đề tài: Đoàn Thị Thu Vân Tel: 0918495982
E-mail: dtthuvan@hcm.fpt.vn
Cơ quan chủ trì đề tài: Trƣờng Đại học Sƣ phạm TP. HCM
Thời gian thực hiện: từ tháng 6 năm 2005 đến tháng 6 năm 2006.
Mục tiêu:
- Xác định sự có mặt "con ngƣời nhân văn" trong thơ ca Việt Nam sơ kỳ trung đại và
tìm hiểu xem nó đã đƣợc biểu hiện ở những phƣơng diện nào, với cách thức ra sao.
- Từ đó góp phần khẳng định thêm một giá trị thẩm mỹ đặc sắc của thơ ca Việt Nam
sơ kỳ trung đại.
Nội dung chính: Gồm 4 chƣơng
Chƣơng 1: Một số vấn đề về khái niệm.
Chƣơng 2: Con ngƣời nhân văn trong thơ thời Lý với vẻ đẹp minh triết của trí tuệ.
Chƣơng 3: Con ngƣời nhân văn trong thơ thời Trần với vẻ đẹp mẫn cảm của tâm linh.
Chƣơng 4: Con ngƣời nhân văn trong thơ thời Lê sơ với vẻ đẹp tận tụy của ý thức
Trách nhiệm và sự thanh cao của khí tiết kẻ sĩ.
Kết quả chính đạt đƣợc:
- Xác định đƣợc sự có mặt của "con ngƣời nhân văn" trong thơ ca Việt Nam sơ kỳ
trung đại cùng những nội dung biểu hiện phong phú và đa dạng của nó trong từng thời kỳ,
từng tác giả khác nhau.
- Từ đó khẳng định thêm một giá trị thẩm mỹ đặc sắc của thơ ca Việt Nam sơ kỳ trung
đại, cũng nhƣ những đóng góp của nó đối với những giá trị văn hóa và con ngƣời Việt Nam.
- Những kết quả này có thể ứng dụng vào việc giảng dạy chuyên đề ở cấp đại học và
sau đại học.
2
SUMMARY
Project Title: THE HUMANITARIAN IN VIETNAMESE EARLY MIDDLE AGE
POETRY
Code number: B2005.23.69
Coordinator: Đoàn Thị Thu Vân Tel: 0918495982
E-mail: dtthuvan@hcm.fpt.vn
Implementing Institution: HCMC University of Pedagogy
Du ration: From June, 2005 to June, 2006
Objectives:
- Define the existence of humanitarian in Vietnamese poetry of Early Middle Age and
find out in what aspects and what styles it manifested.
- From that point, contribute to affirm one more special aesthetic value of Vietnamese
Early Middle Age poetry.
Main contents:
Chapter 1. About concepts
Chapter 2. The humanitarian with the wisdom of intellect in poems of The Ly's
dynasty
Chapter 3. The humanitarian with the sensibility of spirit in poems of The Tran's
dynasty
Chapter 4. The humanitarian with the devoted sense of responsibility and the
intellectual's nobility in poems of The Early Le's dynasty.
Results obtained:
- The existence of humanitarian in Vietnamese Early Middle Age poetry has been
defined with its properous, multiform manifestations in each period from different authors.
- From that point, one more special aesthetic value of Early Middle Age poetry as
well as its contributions to Vietnamese culture and people has been affirmed.
- These results can be applied to teach as a major in undergraduate and postgraduate
levels.
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Văn học sơ kỳ trung đại (thế kỷ X - giữa thế kỷ XV) là giai đoạn đầu tiên của nền văn
học dân tộc thể hiện những giá trị đặc sắc của văn hóa và con ngƣời Đại Việt. Thơ ca, bộ
phận quan trọng nhất của văn học sơ kỳ trung đại, do đó cần đƣợc nghiên cứu từ nhiều
phƣơng diện để có thể giúp ngƣời đọc ngày nay đi sâu khám phá, tiếp cận ngày càng sâu sắc
hơn những thông điệp tinh thần của tiền nhân.
Tìm hiểu con ngƣời nhân văn trong thơ ca sơ kỳ trung đại là một trong những góc độ
nghiên cứu khả dĩ thiết lập đƣợc chiếc cầu nối giữa ngƣời xƣa và ngƣời sau để thế hệ hiện đại
có thể tìm thấy những gần gũi lạ kỳ trong suy tƣ, tình cảm, cảm xúc của ngƣời xƣa cách đây
hơn nửa thiên niên kỷ, những đồng cảm sâu sắc vƣợt thời gian về những vấn đề muôn thuở
của con ngƣời, từ đó giúp thế hệ trẻ hiểu cha ông mình nhiều hơn, vƣợt qua sự cách bức về
phƣơng diện hình thức (ngôn ngữ, thể loại, các biện pháp nghệ thuật trung đại...) để không
chỉ tự hào về những giá trị quý báu của văn học dân tộc mà còn có thể dùng những thể
nghiệm của ngƣời xƣa soi rọi vào cuộc sống hôm nay, lĩnh hội đƣợc nhiều điều thú vị, bổ ích
và có ý nghĩa.
2. Mục tiêu đề tài
- Xác định sự có mặt "con ngƣời nhân văn" trong thơ ca Việt Nam sơ kỳ trung đại và
tìm hiểu xem nó đã đƣợc biểu hiện ở những phƣơng diện nào, với cách thức ra sao.
- Từ đó góp phần khẳng định thêm một giá trị thẩm mỹ của thơ ca Việt Nam sơ kỳ
trung đại.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là thơ ca Việt Nam từ thế kỷ X đến khoảng giữa thế
kỷ XV, cụ thể là mở đầu với tác giả Pháp Thuận ở thời Tiền Lê và kết thúc với tác giả
Nguyễn Trãi ở đầu thời Hậu Lê.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những biểu hiện của "con ngƣời nhân văn" trong
các tác phẩm thơ ca nhƣ đã nêu. Đề tài không đi sâu
4
tìm hiểu nội dung triết học Thiền Tông, triết học Nho gia hay Lão Trang trong các tác phẩm.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi khảo sát toàn bộ các tác phẩm có liên quan đến phạm vi
nghiên cứu, sau đó chọn lọc, thống kê, phân loại. Phƣơng pháp cơ bản đƣợc vận dụng là phân
tích, sau đó so sánh để tìm ra những đặc điểm loại biệt về những biểu hiện "con ngƣời nhân
văn" ở từng tác gia quan trọng trong từng chặng đƣờng của tiến trình (đƣợc phân định bằng
triều đại - Lý, Trần, Lê sơ). Các đặc điểm tìm ra đƣợc tổng hợp thành một số đặc điểm lớn và
sắp xếp, hệ thông hóa, để cuối cùng, rút ra những kết luận có tính khái quát.
5. Kết cấu
Ngoài Phần mở đầu và Phần kết luận, Phần nội dung của đề tài bao gồm 4 chƣơng:
- Chƣơng 1: Một số vấn đề về khái niệm.
- Chƣơng 2: Con ngƣời nhân văn trong thơ thời Lý với vẻ đẹp minh triết của trí tuệ.
- Chƣơng 3: Con ngƣời nhân văn trong thơ thời Trần với vẻ đẹp mẫn cảm của tâm
linh.
- Chƣơng 4: Con ngƣời nhân văn trong thơ thời Lê sơ với vẻ đẹp tận tụy của ý thức
trách nhiệm và sự thanh cao của khí tiết kẻ sĩ.
5
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KHÁI NIỆM.
1. Khái niệm "nhân văn":
Nói đến "nhân văn", trƣớc hết không thể không quan tâm đến những thuật ngữ gần
nghĩa có liên quan mật thiết là "nhân bản" và "nhân đạo".
"Nhân bản" là lấy con ngƣời làm gốc. Chủ nghĩa nhân bản là chủ nghĩa coi trọng con
ngƣời với thực thể hiện hữu của nó - sự sống còn và bản chất ngƣời (bao gồm các bản năng
vốn có và những giá trị khác). Do vậy, có thể thấy, "chủ nghĩa nhân bản" nhấn mạnh đến khía
cạnh bản thể của con ngƣời.
"Nhân đạo" là đƣờng đi của con ngƣời. Con đƣờng đó còn gọi là đạo lý. Đó là đạo lý
phải tôn trọng quyền lợi chính đáng của con ngƣời, không đƣợc xâm phạm đến sinh mệnh,
thân thể, tự do tƣ tƣởng, tình cảm của con ngƣời. "Chủ nghĩa nhân đạo" đòi hỏi sự thƣơng
yêu, quý trọng và bảo vệ con ngƣời. Có thể thấy thuật ngữ này nhấn mạnh đến khía cạnh đạo
đức.
Về thuật ngữ "nhân văn", hiểu theo ý nghĩa từng từ tố, "nhân" là ngƣời, "văn" là vẻ
đẹp. "Nhân văn" có thể hiểu nhƣ là những giá trị đẹp đẽ của con ngƣời. Một tác phẩm văn
học có tính nhân văn là tác phẩm văn học thể hiện con ngƣời với những nét đẹp của nó, đặc
biệt là những giá trị tinh thần nhƣ trí tuệ, tâm hồn, tình cảm, phẩm cách... Tác phẩm đó
hƣớng đến khẳng định, đề cao vẻ đẹp của con ngƣời.
"Chủ nghĩa nhân văn", theo Từ điển thuật ngữ văn học, có thể hiểu ở hai cấp độ, cấp
độ thế giới quan và cấp độ lịch sử.
Ở cấp độ thế giới quan, "chủ nghĩa nhân văn là toàn bộ những tƣ tƣởng, quan điểm,
tình cảm quý trọng các giá trị của con ngƣời nhƣ trí tuệ, tình cảm, phẩm giá, sức mạnh, vẻ
đẹp. Chủ nghĩa nhân văn không phải là một khái niệm đạo đức đơn thuần, mà còn bao hàm cả
cách nhìn nhận, đánh giá con ngƣời về nhiều mặt (vị trí, vai trò, khả năng, bản chất...) trong các quan hệ với tự nhiên, xã hội và đồng loại" (1).
2004, tr, 88.
(1) Từ điển thuật ngữ văn học – Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi – NXB Giáo dục, HN,
6
Ở cấp độ lịch sử, "chủ nghĩa nhân văn là một trào lƣu văn hóa - tƣ tƣởng nảy sinh ở
Italia và một số nƣớc khác ở châu Âu thời Phục hƣng (thế kỷ XIV - XVI). Những ngƣời khởi
xƣớng trào lƣu này chủ trƣơng giải phóng văn học nghệ thuật nói riêng và văn hóa nói chung
khỏi sự bảo trợ của nhà thờ Cơ Đốc giáo và giải phóng cá nhân con ngƣời. Họ quan niệm
không phải thần linh mà là con ngƣời tự định đoạt lấy số phận của mình. Con ngƣời có khả
năng vô tận để hoàn thiện môi trƣờng của mình (...) Họ hƣớng văn học nghệ thuật vào sự
sáng tạo và ca ngợi cái đẹp trần thế, lành mạnh, tự nhiên, đề cao những khát vọng cao đẹp và niềm tin vào sức mạnh toàn năng của con ngƣời" (1).
Nhƣ vậy có thể thấy, từ thuật ngữ nƣớc ngoài có gốc La tinh là humanism, dịch sang
tiếng Việt có thể có những cách dịch khác nhau, tùy trƣờng hợp và mục đích sử dụng. "Chủ
nghĩa nhân bản" thiên về phạm trù triết học bản thể, "chủ nghĩa nhân đạo" thiên về phạm trù
đạo đức, còn "chủ nghĩa nhân văn" thiên về phạm trù văn hóa.
2. Khái niệm "con ngƣời nhân văn "
Thuật ngữ "con ngƣời" đƣợc dùng ở đây không phải để chỉ con ngƣời - sinh học, con
ngƣời - triết học, con ngƣời - nhân chủng học hay con ngƣời - xã hội học..., mà là con ngƣời -
nghệ thuật trong tác phẩm văn học, hay nói khác đi là hình tƣợng nghệ thuật về con ngƣời
trong tác phẩm văn học.
Từ đó, "con ngƣời nhân văn" đƣợc hiểu nhƣ là hình tƣợng nghệ thuật về con ngƣời
mang tính nhân văn, tức con ngƣời mang vẻ đẹp ngƣời (về trí tuệ, tâm hồn, nhân cách, bản
lĩnh...) đƣợc biểu hiện trong tác phẩm văn học. Đối tƣợng trung tâm của văn học là con
ngƣời, bất kể một tác phẩm văn học nào đó có bóng dáng của một con ngƣời cụ thể hay chỉ
có hoa cỏ, nƣớc mây hoặc những sinh vật khác. Trong thơ trữ tình, con ngƣời đó chính là tác
giả - chủ thể trữ tình của tác phẩm. Bằng sự biểu hiện những tâm trạng, tình cảm, cảm xúc,
suy tƣ..., nhân vật trữ tình trong tác phẩm thơ đã phô bày những tố chất con ngƣời của mình,
để lại dấu ấn về cá nhân tác giả, và cả dấu ấn chung của một dòng thơ hay một giai đoạn thơ
ca, vì nhà thơ nào cũng là con ngƣời cụ thể của một thời đại, có mối quan hệ mật thiết với
những vấn đề xã hội,
2004, tr, 89.
(1) Từ điển thuật ngữ văn học – Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi – NXB Giáo dục, HN,
7
tƣ tƣởng, văn hóa của thời đại đó. Tìm hiểu "con ngƣời nhân văn" trong thơ ca của một thời
đại là để thấy ở đó, các nhà thơ đã bộc lộ những vẻ đẹp - con ngƣời nhƣ thế nào và bộc lộ ra
sao. "Con ngƣời nhân văn" ấy đã đóng góp gì cho thơ ca thời đại và cho văn học cũng nhƣ
văn hóa dân tộc nói chung. Điều này cũng là một tiêu chí để đánh giá giá trị thơ ca của một
thời đại, đồng thời cho thấy thiên hƣớng nghệ thuật của thơ ca thời đại đó. Mặt khác, qua đó,
thơ ca cũng giúp ngƣời đọc hiểu thêm về thời đại, có thể góp phần lý giải những vấn đề xã
hội, chính trị, văn hóa, tƣ tƣởng có liên quan.
Thơ ca là nghệ thuật của cái đẹp, nên bản thân nó đã mang tính nhân văn (ngoại trừ
những gì chƣa đáng đƣợc gọi là thơ, chƣa đƣợc công chúng và thời gian khẳng định), thế
nhƣng không phải lúc nào vấn đề con ngƣời nhân văn cũng đƣợc đặt ra. Vậy vấn đề ở đây là
tại sao lại đƣa ra tìm hiểu "con ngƣời nhân văn trên thi đàn Việt Nam sơ kỳ trung đại"? Tại
sao khi nói đến thơ ca Việt Nam sơ kỳ trung đại lại đề cập đến "con ngƣời nhân văn" mà
không phải là một vấn đề gì khác. Điều này sẽ đƣợc lý giải sáng tỏ ở phần tiếp sau.
3. Khái niệm "sơ kỳ trung đại"
Văn học trung đại đã đƣợc hầu hết các nhà nghiên cứu thống nhất là bắt đầu từ thế kỷ
thứ X (thế kỷ bắt đầu mở ra kỷ nguyên độc lập tự chủ của đất nƣớc, và từ đó, bắt đầu hình
thành một nền văn học dân tộc) và kết thúc vào cuối thế kỷ XIX (cùng với việc chấm dứt
dùng văn tự Hán - Nôm với những thể cách truyền thống trong thi cử, sáng tác, cũng nhƣ
trong nhiều sinh hoạt xã hội nói chung, để thay bằng chữ quốc ngữ và những thể cách mới
ảnh hƣởng từ văn minh phƣơng Tây). Tuy nhiên, về phân kỳ văn học trung đại, trƣớc nay có
khá nhiều ý kiến khác nhau, về đại thể có thể kể ra nhƣ sau:
- Phân chia văn học trung đại làm 5 giai đoạn (theo bộ sách Văn học Việt Nam của
Trƣờng Đại học Tổng hợp Hà Nội và bộ sách Lịch sử văn học Việt Nam của Trƣờng Đại học
sƣ phạm Hà Nội)
1. Từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIV
2. Thế kỷ XV
3. Từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII
4. Từ giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX
5. Nửa cuối thế kỷ XIX
8
- Phân chia văn học trung đại làm 5 giai đoạn (theo bộ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam,
do Đinh Gia Khánh chủ biên tập II và Huỳnh Lý chủ biên tập III): giai đoạn 1, 2 và 5 giống
với giai đoạn 1, 2 và 5 trong cách chia trên, chỉ khác ở giai đoạn 3 và 4.
3. Từ thế kỷ XVI đến hết thế kỷ XVII
4. Từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX
- Phân chia văn học trung đại làm 4 giai đoạn (theo bộ Lịch sử văn học Việt Nam của
Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam)
1. Từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XV
2. Từ thế ky XVI đến giữa thế kỷ XVIII
3. Từ giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX
4. Nửa cuối thế kỷ XIX
- Phân chia văn học trung đại làm 2 giai đoạn (theo Đặc trƣng văn học Việt Nam của
Lê Trí Viễn):
1. Từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XV (Văn học thƣợng kỳ trung đại.
2. Từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX (Văn học hạ kỳ trung đại)
- Gần đây nhất, ở sách giáo khoa thí điểm Ngữ Văn 10, các tác giả ở bộ sách 1 và bộ
sách 2 lại có cách phân chia khác.
+ Bộ sách 1 phân chia văn học trung đại làm 4 giai đoạn:
1. Từ thế kỷ X đến hết thế ky XIV.
2. Từ thế ky XV đến hết thế kỷ XVII
3. Từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX
4. Nửa cuối thế kỷ XIX
+ Bộ sách 2 phân chia văn học trung đại làm 2 giai đoạn:
1. Từ thế kỷ X đến hết thế ky X VII
2. Từ thế ky XVIII đến cuối thế kỷ XIX
Mỗi cách phân kỳ trên đều có những lý do hợp lý riêng của nó. Suy nghĩ về cơ sở và
mức độ hợp lý của những cách phân kỳ trên, đồng thời kế thừa từ những đóng góp của ngƣời
đi trƣớc, trong tiểu luận này, ngƣời viết đề xuất một cách phân kỳ không quá đi vào chi li
nhƣng cũng không khái quát quá rộng - chia văn học trung đại làm 3 giai đoạn:
1. Sơ kỳ trung đại: Từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XV
2. Trung kỳ trung đại: Từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVIII
3. Hậu kỳ trung đại: Từ giữa thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX
9
Cách phân chia này dựa trên những biến chuyển tự thân của văn học, nhằm phù hợp
với yêu cầu phát triển của từng thời đại cũng nhƣ nhiệm vụ của từng giai đoạn lịch sử khác
nhau. Sơ kỳ trung đại là giai đoạn mở đầu của văn học trung đại với cảm hứng chủ đạo là
khẳng định dân tộc về quyền độc lập tự chủ, văn hóa, nội lực, bản lĩnh... Trung kỳ trung đại
là giai đoạn giữa của văn học trung đại, xuất hiện trong điều kiện lịch sử giai cấp phong kiến
đã trƣởng thành, già dặn kinh nghiệm để đƣa chế độ phong kiến phát triển đến đỉnh cao. Cảm
hứng chủ đạo của văn học giai đoạn này là khẳng định chế độ phong kiến với những kỷ
cƣơng, phép tắc và luân thƣờng đạo lý của nó. Cảm hứng khẳng định đó có lúc kết hợp song
hành giữa khẳng định triều đại phong kiến với niềm tự hào về sự phát triển cƣờng thịnh của
đất nƣớc (nửa cuối thế kỷ XV, dƣới triều Lê Thánh Tông), nhƣng cũng có lúc lại là nỗi bất
mãn trƣớc hiện thực nhiễu nhƣơng, phong hóa suy đồi, là lời kêu gọi giữ gìn đạo lý trong
khuôn khổ Nho gia (thế kỷ XVI, với Nguyễn Bỉnh Khiêm là đại biểu). Hậu kỳ trung đại là
giai đoạn cuối với cảm hứng chủ đạo là cảm hứng nhân đạo phản kháng lại những bất công
của chế độ phong kiến và những quy định khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến, phá vỡ những
quy phạm cố hữu mang tính cao nhã của thơ văn trung đại để tiếp cận cuộc sống hiện thực
đời thƣờng của những ngƣời dân thƣờng trong xã hội.
Vì sao ở cách phân kỳ này, giai đoạn sơ kỳ trung đại kết thúc ở giữa thế kỷ XV mà
không phải là cuối thế kỷ XIV nhƣ nhiều cách phân kỳ đã nêu? Có thể thấy văn học thời Lý
Trần chịu ảnh hƣởng một tinh thần cởi mở và tự do đặc biệt của dân tộc ở buổi đầu kỷ
nguyên tự chủ với chủ trƣơng Tam giáo đồng nguyên trong đó Phật giáo giữ vai trò chủ đạo.
Tuy từ giữa thế kỷ XIV trở đi, Nho giáo đã bắt đầu thắng thế và khi triều đại nhà Lê thành lập
ở đầu thế kỷ XV, Nho giáo đã thực sự bƣớc lên ngôi vị thống soái về tƣ tƣởng, nhƣng thế hệ
các nhà thơ cuối thế kỷ XIV cho đến thế hệ Nguyễn Trãi ở đầu thế kỷ XV vẫn còn giữ đƣợc
dƣ phong hào hùng, khoáng đạt của thời Lý Trần và khí vị tam giáo đồng nguyên hài hòa
trong cảm xúc thẩm mỹ về thiên nhiên, cuộc sống, cả trong cách sống cũng nhƣ trong những
quan niệm về nhiều mặt của đời sống. Tình hình bắt đầu đổi khác từ giữa thế kỷ XV trở đi,
với sự đăng quang của Lê Thánh Tông, một ông vua sùng thƣợng Nho học và biết tận dụng
những mặt mạnh của Nho giáo để củng cố vững chắc ngai vàng của triều đại, quyền lực của
chế độ phong kiến, đồng thời phát triển đất nƣớc cƣờng thịnh. Học phong, tƣ tƣởng từ đấy trở
đi
10
có khác với trƣớc, và do đó văn học cũng thế; nó bị chi phối nghiêm nhặt bởi quan niệm thẩm
mỹ về tôn ti trật tự, khuôn khổ và đẳng cấp.
Vì sao giai đoạn trung kỳ trung đại kết thúc ở giữa thế kỷ XVIII mà không phải là ở
cuối thế kỷ XVII nhƣ trong một số cách phân kỳ đã nêu? Có thể thấy những biến động dữ dội
của lịch sử ở nửa cuối thế kỷ XVIII (chế độ phong kiến mục nát và khủng hoảng trầm trọng,
nội chiến liên miên, nhân dân thống khổ nổi dậy ở khắp nơi tạo thành cao trào nông dân khởi
nghĩa) đã kéo theo những yêu cầu đổi mới sâu sắc về nội dung cũng nhƣ nghệ thuật của văn
học (cảm hứng nhân đạo chống phong kiến, đòi hỏi giải phóng con ngƣời về mặt tình cảm,
đấu tranh cho quyền sống hạnh phúc, tự do của ngƣời phụ nữ, thơ ca đòi hỏi vƣợt khỏi quy
phạm từ thể loại đến đề tài, ngôn ngữ, cách diễn đạt, giọng điệu...). Khúc ngâm của ngƣời
chinh phụ (Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Phan Huy ích diễn nôm)
xuất hiện ở giữa thế kỷ XVIII đã đánh dấu một bƣớc ngoặt quan trọng về cảm hứng nghệ
thuật, góp mặt trên thi đàn tiếng nói tâm tình riêng tƣ, khát vọng hạnh phúc lứa đôi của con
ngƣời - cá nhân thống thiết và mãnh liệt.
Trong một thời kỳ của một quá trình nào đó, giai đoạn ở giữa bao giờ cũng kết tinh
đậm đặc và cao độ những thuộc tính cơ bản của thời kỳ. Giai đoạn đầu là giai đoạn mới phát
sinh và đang đà phát triển, nó chƣa xuất hiện đầy đủ các thuộc tính. Giai đoạn cuối là giai
đoạn đã đi qua đỉnh cao của sự phát triển, và theo đúng quy luật vận động khách quan, các
thuộc tính trở nên tha hóa, tạo mâu thuẫn bên trong để thúc đẩy kết thúc chu kỳ và chuẩn bị
mở ra một thời kỳ mới. Văn học trung đại cũng thế, không nằm ngoài quy luật ba giai đoạn -
phát triển, trƣởng thành và dị hóa - tƣơng ứng với sơ kỳ, trung kỳ và hậu kỳ trung đại.
4. Vấn đề "con ngƣời nhân văn trên thi đàn Việt Nam sơ kỳ trung đại".
Tại sao lại đặt ra vấn đề tìm hiểu về con ngƣời nhân văn trên thi đàn Việt Nam sơ kỳ
trung đại?
Trƣớc hết cần nhìn lại bối cảnh lịch sử giai đoạn sơ kỳ trung đại. Đây là giai đoạn
củng cố và phát triển chế độ phong kiến ở Đại Việt. Các triều đại phong kiến tự chủ còn non
trẻ đã dựa vào dân để xây dựng sức mạnh cho mình, để phát huy nội lực dân tộc đánh lùi mọi
kẻ thù ngoại xâm hung hãn bảo vệ lãnh thổ và xây dựng đất nƣớc độc lập
11
tự cƣờng, có bản sắc, có tiếng nói và vị thế trong khu vực (Thực lực và vị trí đáng tự hào của
Đại Việt đƣơng thời đã đƣợc Nguyễn Trãi ghi lại khá rõ trong Dƣ địa chí). Lý Thái Tông
xuống chiếu xá thuế cho dân với quan niệm "Nếu trăm họ đều no đủ thì trẫm còn lo gì thiếu thốn?"(1). Lý Thánh Tông tỏ lòng yêu dân nhƣ con - "Ta yêu con ta cũng nhƣ những bậc cha
mẹ trong thiên hạ yêu con cái họ. Trăm họ vì thiếu hiểu biết nên tự phạm vào hình pháp, lòng
ta rất xót thƣơng! Cho nên từ nay về sau, không cứ tội nặng hay nhẹ, đều nhất luật khoan giảm"(2). Lý Nhân Tông viết Lâm chung di chiếu yêu cầu tiết kiệm, giản dị trong tang lễ vì
"Trẫm đã ít đức, không làm gì cho trăm họ đƣợc yên, đến khi chết đi lại bắt dân chúng mặc
xô gai, sớm tối khóc lóc, giảm ăn uống, bỏ cúng tế, để làm nặng thêm lỗi lầm của trẫm thì thiên hạ sẽ bảo trẫm là ngƣời nhƣ thế nào?"(3). Trần Nhân Tông xử kiện giữa đƣờng khi dân
đón xa giá kêu oan. Trần Quốc Tuấn trƣớc lúc sắp mất để lại lời nhắn nhủ vua nên "khoan
thƣ sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc". Nguyễn Trãi suốt đời đeo đuổi lý tƣởng nhân nghĩa,
trừ bạo để yên dân... Nhƣng điểm nổi bật của giai đoạn sơ kỳ trung đại không chỉ ở đƣờng lối
chính trị thân dân, sức mạnh đoàn kết toàn dân và những thành tựu rực rỡ có đƣợc từ đó, mà
còn ở tinh thần rộng mở đặc biệt khó gặp lại ở đời sau. Chƣa có một sự phân chia đẳng cấp
khắc nghiệt giữa vua quan, quý tộc và "trăm họ". Trong những lễ hội truyền thống, vua quan
và thứ dân cùng tham gia vui chơi. Hoàng Cự Đà vì không đƣợc ăn xoài vua ban, khi giặc
đến đã bỏ mặc vua không cứu nhƣng vẫn đƣợc Trần Thái Tông tha tội vì thấy đƣợc nguồn
gốc là lỗi ở mình. Khi có ngƣời tâu lên Trần Minh Tông trong dân gian có nhiều ngƣời du thủ
du thực, đến già vẫn không có hộ tịch, thuế má không nộp, sai dịch không theo. Vua nói:
"Không nhƣ thế thì sao có thể thành đời thái bình? Trách phạt họ thì liệu có đƣợc việc gì không?"(4). Các nhà sƣ tinh thông cả tam giáo và đắc đạo ngay trong chính cuộc đời thế tục
với tinh thần "bậc chí nhân hiện thân giữa cõi đời tất phải tế độ chúng sinh. Làm việc gì cũng phải đầy đủ, không việc gì không làm" (5). Quảng Nghiêm thiền sƣ khuyên mọi ngƣời "Làm
(1) Xá thuế chiếu – Lý Thái Tông – Thơ văn Lý Trần, tập I, Viện Văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 1977.
(2) Cố Động thiên công chúa, vị ngục lại – Lý Thánh Tông – Sđd. (3) Lâm chung di chiếu – Lý Nhân Tông – Sđd. (4) Đại Việt sử ký toàn thư, tập II – Viện Khoa học xã hội Việt Nam – NXB Khoa học xã hội, HN, 1998,
tr. 138.
(5) Thiền uyển tập anh – Phân viện Nghiên cứu Phật học – NXB Văn học, HN, 1990, tr. 93.
trai phải có chí xung thiên, không nên dẫm theo vết
12
mòn mà Phật tổ đã đi"(1). Trần Thái Tông thì xem ngôi vua chỉ nhƣ chiếc giày rách, thích tự
do, không muốn bị trói buộc nên nửa đêm bỏ ngai vàng, trốn khỏi cung điện lên núi ẩn cƣ.
Trần Nhân Tông biết trọng dụng ngƣời tài, dám tin dùng Trần Quốc Tuấn là con kẻ từng có
hiềm khích với gia đình mình. Hƣng Đạo Vƣơng viết hịch kêu gọi các tƣớng dốc lòng đánh
giặc Nguyên Mông cứu nƣớc lại dám đề cao những gƣơng sáng trung nghĩa ở ngay trong
hàng ngũ đối phƣơng. Trần Minh Tông dũng cảm tự hối về lỗi lầm của mình. Nhờ tinh thần
rộng mở đặc biệt đó mà các trí thức thời đại đã tiếp thu đƣợc những tinh hoa tƣ tƣởng nƣớc
ngoài để làm phong phú thêm cho văn hóa của mình mà vẫn không để mất bản sắc dân tộc.
Làm đƣợc điều này không phải dễ. Phải có bản lĩnh vững vàng và phải rất tự tin. Thời đại đặc
biệt ấy đã sản sinh ra một nền văn học giàu khí sắc, trong đó thơ ca đã để lại dấu ấn sâu sắc
về tác giả - những con ngƣời từng tự hào cùng với gió lộng, trăng cao "hợp thành ba thứ tuyệt diệu lạ lùng trong thiên hạ”(2). Tìm hiểu con ngƣời nhân văn trong đó không chỉ để hiểu hết
giá trị các tác phẩm thơ ca mà còn để hiểu về chủ thể sáng tạo với những khát vọng thẩm mỹ
về con ngƣời và cuộc sống của một thời; và trên cơ sở của những điều đó, tìm hiểu về một
phƣơng diện cống hiến đặc biệt của thơ ca sơ kỳ trung đại cho văn học trung đại nói riêng,
văn học dân tộc nói chung.
học xã hội, HN, 1988.
(1) Thị tịch – Quảng Nghiêm. (2) Vân Tiêu Am – Trần Anh Tông – Thơ văn Lý Trần, Tập II, quyển thượng, Viện Văn học, Nxb Khoa
13
CHƢƠNG 2. CON NGƢỜI NHÂN VĂN TRONG THƠ THỜI LÝ VỚI
VẺ ĐẸP MINH TRIẾT CỦA TRÍ TUỆ.
Phần lớn thơ thời Lý còn lại đến nay là thơ thiền. Điều này không lạ vì Phật giáo ở
thời Lý rất thịnh và có ảnh hƣởng trong mọi mặt sinh hoạt của xã hội. Đó là một đạo Phật của
Đại Việt trong thực tiễn và không xa rời cuộc sống. Nhiều thiền sƣ có học vấn uyên bác và
giữ địa vị quan trọng trong triều đình, đƣợc vua xem trọng và tham vấn quốc sự. Vua, quan,
hoàng tộc nhiều ngƣời mộ đạo, thậm chí có ngƣời xuất gia. Đạo Phật không chỉ có ảnh hƣởng
đến đƣờng lối chính trị (nội trị, ngoại giao) của nhà nƣớc mà còn thấm nhuần trong văn hóa,
nghệ thuật (phong tục, lễ hội, tín ngƣỡng, kiến trúc, điêu khắc...). Tuy nhiên nếu thơ thiền
bao gồm cả loại thơ triết lý (trực tiếp hoặc gián tiếp diễn giải về triết lý Thiền) và trữ tình
(bày tỏ cảm xúc mang ý vị thiền trƣớc cái đẹp của thiên nhiên, con ngƣời, cuộc sống hoặc
trạng thái tâm linh khi giác ngộ chân lý) thì ở thời Lý loại thứ nhất chiếm đa số. Có thể thấy ở
thơ thời Lý, mà đa số là thơ thiền, chất triết học, vẻ đẹp của trí tuệ nhƣ là một yếu tố trội nổi.
Ở đó có chiều sâu của sự suy tƣ từ cội nguồn sự vật kết hợp với sự linh mẫn của trực giác để
có cái nhìn xuyên thấu, khám phá bản chất sự vật.
1. Vẻ đẹp của sự điềm tĩnh và thông tuệ - "dĩ bất biến ứng vạn biến " - của
nhà cầm quyền trị nƣớc
Thơ thời Lý mở đầu với bài Quốc tộ (Vận nƣớc) của Pháp Thuận. Tuy tác giả là thiền
sƣ nhƣng đây lại là một bài thơ thế tục của một vị quốc sƣ trình bày với vua (Lê Đại Hành)
những nhận định của mình về vận nƣớc và đƣờng lối chính trị đúng đắn, phù hợp để đất nƣớc
đƣợc thái bình và bền vững dài lâu.
"Quốc tộ nhƣ đằng lạc,
Nam thiên lý thái bình.
Vô vi cƣ điện các,
Xứ xứ tức đao binh"
(Vận nƣớc nhƣ dây mây quấn quýt,
Trời Nam mở ra nền thái bình.
Thực hiện đƣờng lối "Vô vi" ở nơi điện các,
Khắp nơi tắt hết cảnh chiên tranh loạn lạc)
14
Mở đầu bài thơ là một hình ảnh so sánh độc đáo - "Vận nƣớc nhƣ dây mây quấn
quýt". Không cần nhiều lời mà ngƣời đọc vẫn hiểu đƣợc những ý nghĩa sâu xa muốn ẩn ngụ.
Vận nƣớc không đƣợc ví nhƣ cây to cội cả. Ví nhƣ thế e hơi khoa trƣơng mà không hợp với
một dân tộc đất không rộng ngƣời không đông. Vả lại, cây to trông cứng cáp khỏe mạnh
nhƣng lại dễ gãy. Dây mây là loại dây leo ở rừng, thân mềm dẻo nhƣng rất chắc và dai. Dây
mây tuy nhỏ nhƣng một khi quấn quýt thành bó to không dễ gì chặt đứt. Lúc đó nó có sức
mạnh và sự diệu dụng hơn cả cổ thụ. Vì nó không chỉ bền chắc mà còn uyển chuyển phù hợp
từng hoàn cảnh khác nhau. Đây là sức mạnh của nhu thắng cƣơng, nhƣợc thắng cƣờng. Dùng
hình ảnh dây mây quấn quýt để ví với vận nƣớc đƣơng thời thật là đắc địa. Nhà thơ không chỉ
nói lên đƣợc sự bền bỉ, lâu dài của vận nƣớc mà còn chỉ ra sự bền lâu đó chính là do sức
mạnh đoàn kết toàn dân, trên dƣới một lòng gắn bó, khác nào những sợi mây nhỏ quấn quýt
vào nhau tạo thành bó to vững chãi.
Vì nƣớc Nam, ngƣời Nam nắm giữ đƣợc nguyên lý đó nên nơi trời Nam mở ra nền
thái bình với cảnh sống an cƣ lạc nghiệp. Lời nhận xét về vận nƣớc không dấu đƣợc niềm tự
hào, niềm vui phơi phới về một vận hội tốt đẹp của nƣớc nhà đang mở ra. Đâu phải dễ dàng
mà nói đƣợc hai chữ "thái bình" khi nƣớc nhà không lâu vừa trải qua bao cơn binh lửa. Ngô
Vƣơng đuổi quân Nam Hán giành lại đƣợc độc lập chủ quyền chƣa lâu, đất nƣớc chƣa kịp hồi
phục sức lực sau mƣời thế kỷ bị ách nô lệ đè nặng thì đến nội loạn mƣời hai sứ quân. Nƣớc
nhà vừa đƣợc vua Đinh thống nhất một thời gian ngắn thì Tống triều lại dòm ngó và xua quân
sang xâm lƣợc. Vua Lê Đại Hành, với sự đồng lòng ủng hộ của tƣớng sĩ và toàn dân đã chiến
thắng vẻ vang. "Nam thiên lý thái bình" đƣợc khẳng định một cách đƣờng hoàng dõng dạc rõ
ràng là trên cơ sở của sức mạnh đoàn kết, nhờ bài học đoàn kết mà có. Và vì thế cho nên nhà
cầm quyền nhất thiết không đƣợc quên cách trị nƣớc phù hợp để đem lại đƣợc sức mạnh đoàn
kết đó.
Câu thơ thứ ba thoạt nhìn khá đơn giản - "Vô vi cƣ điện các" - nhƣng thật ra lại là một
đƣờng lối chính trị vô cùng khéo léo và sáng suốt. "Vô vi" theo Lão Tử là không làm gì trái
với tự nhiên. Cách sống "vô vi" là hiểu biết quy luật của tự nhiên, xã hội, và sống thuận theo
quy luật. Từ đó có thể hiểu chính trị "vô vi" là một nền chính sự giản dị, lấy ý muốn của dân
làm gốc, không làm gì phiền nhiễu cho dân, không đặt thêm thuế khóa, bắt dân phục dịch...
''Vô vi" theo nhà Phật còn có hàm ý nhƣ "vô ngã", tức không làm gì có ý riêng cho mình,
15
nhằm phục vụ lợi ích riêng. Để vận nƣớc lâu dài, cần có một thân cây vững chắc làm chỗ dựa
cho dây mây bám vào, cũng nhƣ trong nƣớc cần có một ông vua thực sự biết quên mình vì
dân, lấy lòng dân làm lòng mình, ý dân làm ý mình để làm trung tâm cho sự đoàn kết của
toàn dân. Với một ông vua thƣơng dân, nhân hậu và một đƣờng lối chính trị lấy dân làm gốc
nhƣ thế, tất yếu là dân sống yên ổn, no ấm và hạnh phúc. Dân vui thì làm gì còn loạn lạc. Và
"nhân" đã tạo ra "uy". Cả nƣớc đồng lòng thì đất nƣớc giàu mạnh, nội lực sung mãn, lân bang
kiêng nể, không ai dám dòm ngó. Vì thế mà "Xứ xứ tức đao binh". Không cần dẹp loạn mà
chiến tranh tự tắt, khắp nơi vui cảnh thái bình. Có thể thấy chính trị sáng suốt đã tạo ra uy lực
cho triều đại và cho tổ quốc. "Vô vi cƣ điện các" mới nghe thì dễ nhƣng để làm đƣợc một ông
vua nhƣ thế thật không đơn giản chút nào. Phải biết quên mình, vì biết quên mình mới nghe
đƣợc lòng dân, mới làm theo đƣợc công tâm để mỗi hành dộng đều quang minh chính đại,
khiến cho mọi ngƣời tâm phục, cái uy tự nhiên đến mà không cần dùng vũ lực. "Vô vi" ấy tức
là thực hiện cái tâm "ƣng vô sở trụ", từ đó có thể "dĩ bất biến ứng vạn biến". Đó là điều kiện
thiết yếu cho một vận nƣớc lâu dài, một nền thái bình vững chắc mà nhà thơ - quốc sƣ Pháp
Thuận muốn nhắc nhở vua hằng tâm niệm không quên.
Bài thơ chỉ ngắn gọn 20 chữ nhƣng mỗi lời đanh chắc, mạnh mẽ nhƣ chân lý ở đời.
Vừa tự hào, vừa trang trọng, uy nghiêm. Lời thơ giản dị không hoa mỹ nhƣng đạt độ hàm súc
cao với hình ảnh biểu trƣng dây mây quấn quýt thật ấn tƣợng và hàm ý sâu xa, với "vô vi"
nhƣ một triết lý chính trị đơn giản mà ảo diệu, bài học không chỉ cho một đời mà nhiều thế
hệ. Đó là vẻ đẹp của con ngƣời trong hành xử chính trị ở vị trí nắm giữ trọng trách quốc gia.
2. Vẻ đẹp an nhiên tự tại của con ngƣời hiểu rõ quy luật tự nhiên và sống
hòa nhịp cùng quy luật.
Hiểu rõ quy luật sinh - trụ - dị - diệt của thế giới tự nhiên và sinh - lão - bệnh - tử của
đời ngƣời, con ngƣời không còn bị cầm tù trong những vòng dây của đau buồn, lo sợ, tiếc
nuối về chuyện thịnh suy, đƣợc mất. Đó là chân lý tối hậu mà các thiền sƣ thời Lý ân cần trao
truyền lại cho thế hệ đi sau. Vạn Hạnh nói:
"Thân nhƣ điện ảnh hữu hoàn vô,
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô.
16
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy, Thịnh suy nhƣ lộ thảo đầu phô".
(Thị đệ tử)
(Thân ngƣời nhƣ ánh chớp, có rồi trở thành không,
Vạn cây cối mùa xuân thì tƣơi tốt, mùa thu lại khô héo. Mặc cho thịnh suy xoay vần, không lo sợ,
Thịnh và suy cũng chỉ nhƣ hạt móc phơi trên đầu ngọn cỏ).
(Dặn bảo đệ tử)
Ở đây, nhà thơ đứng ra bên ngoài để quan sát và chiêm nghiệm. Đời ngƣời mấy mƣơi năm, nhƣng khi ngoảnh nhìn lại, thấy ngắn ngủi không hơn một ánh chớp, mới có đã trở
thành không, con ngƣời trực nhận ra rằng những việc thịnh suy, đƣợc mất trong cuộc đời đó lại càng phù du biết bao, chẳng khác hạt móc mong manh buổi sớm sẽ tan biến không còn
dấu vết khi nắng lên. Thế thì sao lại hao tâm nhọc trí để theo đuổi những cái không có thực đó mà đánh mất đi những giây phút thực tại đáng giá của tâm tƣ hồn nhiên thanh thản. Thiền
Lão nhắc nhở mọi ngƣời:
"Đản tri kim nhật nguyệt,
Thùy thức cựu xuân thu".
(Nhật nguyệt)
(Chỉ biết những tháng ngày của hôm nay, Ai hay những mùa xuân mùa thu ngày trƣớc?)
(Ngày tháng)
Tháng ngày của hôm nay đáng giá biết chừng nào, đừng để nó trôi qua thành quá khứ
rồi lại dõi theo kiếm tìm và tiếc nuối. Không hiểu biết quy luật và sống thuận theo quy luật, con ngƣời sẽ mãi mãi là tù nhân trong tù ngục do mình dựng nên. Mãn Giác thiền sƣ cũng nói
về quy luật tất yếu ấy:
"Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai. Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tùng đầu thƣợng lai".
(Cáo tật thị chúng)
(Xuân qua, trăm hoa rụng, Xuân tới, trăm hoa tƣơi,
Trƣớc mắt việc đi mãi, Trên đầu già đến rồi)
(Có bệnh bảo mọi người)
17
nhƣng nhấn mạnh đến một cá biệt vƣợt thoát khỏi quy luật sinh hóa của muôn loài. Đó là
cành mai vẫn nở ở trƣớc sân đêm qua khi mùa xuân đã qua đi:
"Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai".
(Cáo tật thị chúng)
(Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua sân trƣớc một cành mai)
Có nhiều ý kiến giải thích về biểu tƣợng cành mai. Với tƣ cách là một bài kệ, nó là
biểu tƣợng cái chân tâm của ngƣời đã đạt đạo, an nhiên tự tại, vƣợt lên trên sinh diệt. Với tƣ
cách một bài thơ bình thƣờng, có thể hiểu đó là niềm tin vào sự sống vẫn không ngừng sinh
sôi nảy nở đến bất tận mặc dù cuộc sống của những sinh vật cụ thể thì hữu hạn và chóng tàn
phai, cũng có ý kiến cho rằng nó biểu tƣợng cho những giá trị tinh thần đẹp đẽ sẽ còn lại mãi
với thời gian. Cách hiểu nào cũng có lý lẽ riêng, sự đa nghĩa của hình tƣợng đã tạo sức hấp
dẫn và gợi mở vô hạn cho bài thơ trải qua nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, dù xét ở khía cạnh là một
bài thơ thiền hay bài thơ thế tục, vẫn thấy toát lên từ hình ảnh cành mai trong câu thơ cuối
một sự tự do tuyệt đỉnh. Tự do của tâm hồn con ngƣời đã giác ngộ quy luật cuộc sống, và từ
đó, hiểu rõ ý nghĩa cuộc sống. Con ngƣời này sẽ không sống một cách mù quáng, chạy theo
danh lợi phù du nhƣ một quán tính không thể cƣỡng lại. Mà là làm chủ mình, ung dung tự tại.
Nên không quy luật nào của thế giới hữu hạn có thể ràng buộc đƣợc. Tâm hồn tự do của con
ngƣời đó đã vƣợt lên khỏi luân hồi sinh diệt, mang sức sống tƣơi trẻ của mùa xuân vĩnh cửu.
Nó cũng thể hiện khát vọng vƣơn tới sự vĩnh hằng của con ngƣời. Hai câu thơ bảy chữ nhƣ
một bƣớc rẽ ngoặt bứt khỏi nhịp đều đặn tuần hoàn của bốn câu thơ năm chữ. Thiền sƣ có
bệnh, thân sẽ diệt đi theo đúng quy luật nhƣng cái tâm thiền an lạc trao truyền lại cho đời sau,
sống trong những thế hệ đi sau là cành mai tƣơi thắm vĩnh cửu.
Các nhà thơ thời Lý đã nhận ra rằng càng ra sức chống lại quy luật để vƣợt thoát quy
luật càng bị trói buộc nhiều hơn - "Dục cầu xuất ly, Giải phạc thiêm triền" (Muốn tìm cách thoát ra, Càng cởi ràng buộc lại càng nhận thêm ràng buộc)(1). Thái độ đó không phải là sáng
suốt và cũng không phải là dũng cảm mà chỉ là mù quáng. Con ngƣời chỉ có tự do thật sự khi
hiểu đƣợc cái tất yếu. Sáng suốt là biết chấp nhận quy
(1) Sinh lão bệnh tử - Diệu Nhân – Thơ văn Lý Trần, tập I, Sđd.
18
luật, tùy theo nó mà sống để phát huy đƣợc mặt tích cực của nó. Ấy là tinh thần "tùy ngộ nhi
an" linh hoạt và tích cực (khác với tùy thời, xu quyền phụ thế, đánh mất nhân cách), giúp tâm
luôn vững vàng và lạc quan trong cuộc sống.
3. Vẻ đẹp của tinh thần tự do, "phá chấp":
Không để mình bị vƣớng mắc vào bất kỳ một chỗ nào, một vật gì, dù đó là Phật pháp, Huệ Sinh nói: "Pháp vốn nhƣ không có pháp"(1). Bảo Giám cũng nói: "Ít khi dựa vào tu hành mà có thể đạt đến giác ngộ đích thực; Tu hành chỉ là giam cầm sự ƣu việt của trí tuệ"(2).
Quảng Nghiêm càng mạnh mẽ và quyết liệt hơn: "Kẻ làm trai tự mình có chí xung thiên; Đừng nên dẫm theo vết mòn mà Nhƣ Lai đã đi"(3). Vì vậy, chỉ ngƣời "mê" và "hoặc" mới đi
"cầu Phật", "cầu Thiền". Nhìn xuyên thấu bản chất sự vật, các nhà thơ chỉ ra rằng tất cả chẳng
qua là tên gọi, là quy ƣớc, là hình ảnh do con ngƣời tạo dựng nên, rồi tin vào đó đời này sang
đời khác. Mà đã là cái thuộc về thế giới tƣơng đôi thì sẽ thay đổi, sẽ mất đi. Cho nên "pháp" ấy "chẳng phải có mà cũng chẳng phải không"(4), và cũng có thể nói thêm: vừa là có, vừa là
không. Tất cả là "tùy" - tùy thời điểm, tùy cơ duyên, tùy góc độ nhìn, tùy quan niệm. Do đó không nên khƣ khƣ bám vào khái niệm "có" hay "không" -"Vật trƣớc hữu không không"(5).
Xƣa nay ngƣời ta thƣờng đề cao mặt tích cực của cái "có", các nhà thơ thời Lý chỉ ra sự diệu
dụng của cái trống không - có khoảng trống không thì mới chứa đƣợc mọi vật, một đầu óc đã
đầy ắp sao còn chỗ để thâu nhận cái mới, một con mắt có sẵn định kiến sẽ không thể nhìn sự
vật đúng-nhƣ-nó-là, một đƣờng lối chính trị "vô vi" mới có thể tùy theo lòng dân mà hành xử
phù hợp. Ấy chính là "chân không diệu hữu" - sự thống nhất biện chứng giữa các mặt đối lập
mà con ngƣời thời Lý đã chiêm nghiệm đƣợc. Đó là niềm tự hào của Tịnh Không "Ngày ngày gặt lúa trên đồng, Mà kho đụn vẫn thƣờng không có gì"(6) và lời cảnh tỉnh kẻ đi sau thoạt
nghe có vẻ nhƣ nghịch lý "Ngƣời khôn không ngộ đạo, Ngộ đạo kẻ ngu si". Sự phá chấp vào
(1) Đáp Lý Thái Tông tâm nguyên chi vấn - Huệ Sinh - Sđd. (2) Cảm hoài - Bảo Giám - Sđd (3) Thị tịch - Quảng Nghiêm - Sđđ. (4) Đáp Lý Thái Tông tâm nguyên chi vấn - Huệ Sinh - Sđd. (5) Hữu không - Đạo Hạnh - Sđd (6) Nhất nhật hội chúng - Tịnh Không - Sđd.
19
"có" và "không" giúp các thiền sƣ đời Lý ung dung hành đạo giữa cuộc đời, hành đạo trong khi đang giúp vua điều hành chính sự - "Trụ tích trấn vƣơng kỳ”(1), hay khi buông thả tâm hồn giữa "Trời xanh nƣớc biếc muôn trùng, Một thôn khói tỏa một vùng dâu đay”(2)
Tinh thần tự do, phá chấp của các thiền gia thời Lý không chỉ thể hiện trong cách
sống cởi mở, tinh thần nhập thế mà còn ở con đƣờng nhận thức và tƣ duy. Có thể thấy rõ
trong thơ thiền thời Lý chủ trƣơng phải buông bỏ thiên kiến nhị phân và con đƣờng mòn cố
hữu của tƣ duy mới vén đƣợc bức màn ngăn cách để hiển lộ trƣớc mắt một thế giới mới mẻ,
thế giới của chân lý "bất khả tƣ nghị". Ở đó, "viên ngọc đốt trên núi vẫn giữ đƣợc màu tƣơi nhuận, đóa sen thiêu trong lò lửa vẫn không bao giờ khô héo”(3), ở đó "mọi sinh vật và Phật đều nhƣ nhau”(4). Thấy và cảm đƣợc những điều này, con ngƣời đã vƣợt qua ranh giới của tƣ
duy logic thông thƣờng để đạt đến trí tuệ - bát nhã, thứ trí tuệ siêu việt đƣợc soi chiếu bằng
ánh sáng tâm linh sâu thẳm, không chƣớng ngại, không bờ bến.
Các nhà thơ luôn nhắc nhở mọi ngƣời rằng con ngƣời đang ở trong "thế giới hà sa"
nhƣng chỉ cần vƣợt qua sự phân biệt nhị nguyên là lập tức không khác đang ở trong cảnh giới
giải thoát, không phải tìm ở vạn trùng xa cách hay trải qua bao nhiêu kiếp ngƣời mới đến đƣợc - "Hà sa cảnh thị bồ đề đạo, Nghĩ hƣớng bồ đề cách vạn tầm”(5). Cảnh hà sa hay cõi bồ
đề chỉ là hai mặt của cùng một thể mà thôi. Cũng trong tinh thần nhận thức đƣợc sự vận động
và chuyển hóa giữa các mặt đối lập, các nhà thơ cảnh tỉnh mọi ngƣời: "Càn khôn tận thị mao đầu thƣợng, Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung”(6) (Trời đất hết thảy ở trên đầu sợi lông, Mặt trời mặt trăng gồm chứa trong hạt cải); hoặc "Tại quang tại trần, Thƣờng ly quang trần”(7) (Ở
nơi ánh sáng và bụi bặm, nhƣng thƣờng rời xa ánh sáng và bụi bặm). Không có gì gọi là to,
không có gì gọi là nhỏ, không có gì gọi là trong, không có gì gọi là ngoài. To, nhỏ, trong,
ngoài chỉ là trong quan hệ tƣơng đối. Ai bảo đầu một sợi lông, một hạt cải là vô cùng bé nhỏ?
Nó cũng là một vũ trụ của vô số sinh thể nhỏ bé hơn, và cứ nhƣ thế, nhƣ thế..., mãi mãi
không thể
(1) Truy tán Vạn Hạnh thiền sư - Lý Nhân Tông - Sdd. (2) Ngư nhàn - Không Lộ - Sđd. (3) Thị tịch - Ngộ Ấn - Sđd (4) Đáp Lý Thái Tông tâm nguyên chi vấn - Huệ Sinh - Sđd (5) Đáp Từ Đạo Hạnh chân tâm chi vấn - Trí Huyền - Sđd. (6) Đáp Pháp Dung sắc không, phàm thánh chi vấn - Khánh Hỉ - Sđd (7) Thị đạo - Trƣờng Nguyên - Sđd.
20
phân chia đến cùng tận, giống nhƣ ngày nay, khoa học phát hiện ra nguyên tử không phải là
hạt vật chất nhỏ nhất nhƣ trƣớc đây từng nghĩ, và sự phát hiện vẫn chƣa dừng ở đây. Những
điều này nói lên sự giới hạn của tƣ duy lý tính là những rào cản trói buộc tự do của con
ngƣời. Con ngƣời trong thơ thời Lý đã thể hiện khát vọng muốn tháo mở tất cả những rào cản
này để đem trí tuệ vƣợt lên khoảng không của tự do tuyệt đối, và do đó, sáng suốt tuyệt đối.
21
CHƢƠNG 3. CON NGƢỜI NHÂN VĂN TRONG THƠ THỜI TRẦN
VỚI VẺ ĐẸP MẪN CẢM CỦA TÂM LINH
Nếu thơ ca thời Lý, mà đa số là thơ thiền - vốn là những bài kệ, thiên về ý nghĩa triết
lý nhằm biểu đạt những quan niệm về tâm, đạo, bản thể, quy luật tuần hoàn trong cuộc sống,
cách sống và ứng xử minh triết, thì thơ ca thời Trần đã đƣa ngƣời đọc vào thế giới của thi ca
đích thực với phong vị trữ tình và dấu ấn của chủ thể trữ tình bàng bạc trong tác phẩm, ngay
cả đối với bộ phận thơ thiền. (Thơ thiền thời Trần không trực tiếp biểu đạt thiền lý nhƣ thơ
thiền thời Lý mà chứa đựng thiền vị sâu xa và tinh tế trong cách nhìn, cách cảm về thiên
nhiên, cuộc sống. Sự chuyển biến này có cội nguồn từ lịch sử: Thiền Tông đời Trần, mở đầu
từ Trần Thái Tông, đã rời bỏ phong cách uyên áo và thâm viễn vốn thích hợp với cung đình
và giới trí thức để một mặt dung hòa với Nho, Lão, một mặt kết hợp với Tịnh Độ - tông phái
Phật giáo phù hợp với tín ngƣỡng dân gian và đời sống quần chúng - với ý thức tự làm mới
và tạo bản sắc riêng cho mình, từ đó trở nên gần gũi với đại chúng và dẫn dắt triết học đi vào
lãnh địa của nghệ thuật một cách tự nhiên, đem đến một ý vị đặc biệt cho thơ ca thời này).
Nói thơ thời Trần thiên về ý vị trữ tình không có nghĩa là phủ nhận vẻ đẹp trí tuệ và ý
nghĩa triết học khá cô đọng ở một số bài thơ thiền của Trần Thái Tông hay Tuệ Trung chẳng
hạn, mà là để thấy rằng, ngay trong những bài thơ nhằm biểu đạt Thiền lý thì ở đó cũng
không chỉ hiện diện cái nghĩ của nhà thơ mà còn là cái cảm dạt dào, nhạy bén không khác bất
kỳ nhà thơ thế tục nào.
Trong thơ thời Trần có thể bắt gặp một con người thường xuyên tự phản tỉnh. Con
ngƣời ấy có khi hƣớng nội để tự xem xét về ý nghĩa của kiếp ngƣời, sự tồn tại của đời ngƣời.
Đó là sự phản tỉnh ở cấp độ con ngƣời - nhân loại mang ý nghĩa triết học. Cũng có khi con
ngƣời ấy hƣớng nội để tự soi xét hành vi của bản thân, để biết mình đã làm đƣợc gì, chƣa làm
đƣợc gì trong cuộc đời, để đánh giá chính mình, công minh và khách quan, và quan trọng hơn
cả, để tự hiểu mình. Đó là sự phản tỉnh ở cấp độ con ngƣời - cá thể mang ý nghĩa nhân sinh.
Ý thức phản tỉnh nơi nhà thơ thƣờng dẫn họ đến nỗi cô đơn thăm thẳm. Trong cõi cô
đơn ấy, chỉ có mình tự đối diện mình, giữa mênh mông vô tận của đất trời, giữa ngàn xƣa và
ngàn sau không bờ bến. Tuy nhiên, điều đáng nói, nỗi cô đơn ấy không triệt tiêu, không dìm
chết đƣợc con ngƣời, mà con ngƣời thấy đƣợc nó, hiểu đƣợc nó - nhƣ một
22
thuộc tính cơ bản của đời ngƣời - và chấp nhận nó để đối đầu hàng ngày, để dũng mãnh và
kiêu hãnh mang lấy nó đi suốt hành trình của kiếp ngƣời. Ý thức về sự cô đơn ấy đã trở thành
một giá trị, một trong những giá trị giúp con ngƣời phân biệt với các sinh vật khác, và nhƣ
vậy, nó cũng là một phạm trù của cái đẹp.
Tâm hồn khao khát tự do cũng là một nét đẹp nhân văn của con ngƣời thời Trần.
Không chỉ là tự do trong tƣ duy, trong nhận thức, dẹp bỏ thiên kiến nhằm thấu đạt chân lý,
mà tự do ở đây đã trở thành một nhu cầu tinh thần, một thôi thúc tự bên trong với khát vọng
muốn nâng con ngƣời vƣợt khỏi những giới hạn vốn có, đƣa tâm hồn con ngƣời đến một thế
giới mới, nơi đó con ngƣời có thể hòa vào sự vô thủy vô chung của đất trời và mang niềm vui
sống bất tận.
Nói đến những vẻ đẹp của con ngƣời trong thơ thời Trần không thể bỏ qua sự mẫn
cảm đặc biệt trong cảm nhận thiên nhiên. Thiên nhiên không hoàn toàn là một khách thể
bên ngoài mà còn là hình bóng của tâm linh. Có thể cảm hứng Thiền đã can dự vào đây ít
nhiều khi con ngƣời cảm nhận thiên nhiên trong tƣ thế buông thả tự do, để hồn mình tan hòa
vào vạn vật, không còn phân biệt nội tâm và ngoại giới, nhờ đó, trực cảm đƣợc cái hồn của
cảnh vật, và từ đó, trong trạng thái xuất thần, đã ghi lại điều mình sở đắc - thiên nhiên hiện ra
với những nét đẹp mới lạ nhƣ là một ấn tƣợng riêng trong tâm thức ngƣời sáng tạo. Đó là
hình ảnh "Phong đả tùng quan nguyệt chiếu đình; Tâm kỳ phong cảnh cộng thê thanh" trong thơ Trần Thái Tông(1), "Mộc tê hoa thƣợng nguyệt lai sơ" trong thơ Trần Nhân Tông(2) hay
"Sổ thanh ngƣ địch lô hoa ngoại; Nguyệt lạc ba tâm giang mãn sƣơng" trong thơ Huyền Quang(3)...
Ở thơ thời Trần không chỉ nổi bật lên sự mẫn cảm, tinh tế trong cảm nhận thiên nhiên
của con ngƣời mà còn hiện hữu sự mẫn cảm trong những nỗi niềm nhân sinh. Những nỗi
niềm nhân sinh ở đây không hạn hẹp ở tâm trạng ƣu thời mẫn thế, đau xót trƣớc cảnh dân
chúng cơ cực lầm than trong buổi suy loạn hoặc chán ngán thế thái nhân tình, mặc dù đó là
một nội dung quan trọng đậm đà chất nhân văn ở thơ ca thời vãn Trần. Nỗi niềm nhân sinh là
một vấn đề lớn và muôn thuở của con ngƣời, mang ý nghĩa triết học sâu sắc. Đó là sự thấu
Ký Thanh Phong am tăng Đức Sơn - Trần Thái Tông - Thơ văn Lý Trần. tập II, quyển thương, Sđd.
hiểu những giới hạn của con ngƣời và đời ngƣời, những bi kịch tất yếu của
(1) (2) Nguyệt - Trần Nhân Tông - Sđd. (3) Phiếm chu - Huyền Quang - Sđd.
23
kiếp ngƣời, để đối diện và hóa giải nó - lựa chọn một cách sống, cách hành xử phù hợp nhất.
Dƣới đây là những khía cạnh thể hiện khác nhau của con ngƣời nhân văn trong thơ
thời Trần với những nội dung cơ bản nhƣ đã nêu trên.
1. Sự phản tỉnh nhƣ một nét đẹp tâm hồn từ Trần Thái Tông đến Trần
Minh Tông
Ở cấp độ con ngƣời - nhân loại, hơn ai hết, Trần Thái Tông luôn thể hiện sự trăn trở
về thân phận con ngƣời. Quan niệm "Thân nhƣ điện ảnh hữu hoàn vô" đƣợc nhà thơ ngẫm
nghiệm và cảm nhận bằng nhiều hình ảnh, khi thì "Thân nhƣ băng gặp nắng trời, Mệnh tựa ngọn đèn trƣớc gió"(1), khi thì "Kiếp ngƣời nhƣ cây nấm cứ tuần tự hết thịnh rồi suy"(2), và trong cảnh "bóng ngả nƣơng dâu chiều sắp muộn"(2), thân ngƣời mới mong manh, đời ngƣời mới ngắn ngủi làm sao, chẳng khác "cỏ bồ, tơ liễu tạm bợ qua mùa thu”(3). Từ đó, nhà thơ
cảm thƣơng cho con ngƣời cứ "suốt đời làm ngƣời khách phiêu lạc trong gió bụi, ngày càng xa cách quê nhà ngàn vạn dặm"(2). Đành rằng đó là cảm nhận xuất phát từ góc độ Phật giáo,
nhƣng nó vẫn mang ý nghĩa nhân văn ở chỗ nhắc nhở mọi ngƣời quay đầu nhìn lại để sống
thế nào cho có ý nghĩa, tránh lãng phí cuộc đời với những thứ phù du. Tuệ Trung thƣợng sĩ,
dù đã luyện đƣợc một tâm thiền nhƣ "sen trong lò lửa" vẫn không tránh khỏi thốt lên lời cảm
khái:
"Đốt đốt phù vân hề, phú quý!
Hu hu quá khích hề, niên quang!"
(Phóng cuồng ngâm)
(Chà chà, giàu sang nhƣ áng mây nổi!
Chao ôi, năm tháng nhƣ bóng ngựa chạy qua khe cửa!)
(Bài ngâm cuồng phóng)
Trần Thánh Tông thì nói về sự thể nghiệm chân lý cuộc đời của chính bản thân mình:
"Tự mình đã thấu đƣợc nghĩa lý của năm điều huyền diệu, Mặc sức tung hoành trên con đƣờng bốn ngả"(4), vì thế có thể đạt đến tự do "Động nhƣ gió vang trong hang trống, Tĩnh nhƣ
trăng
(1) Sơ nhật vô thường kệ - Trần Thái Tông - Sđd. (2) Thứ thời vô thường kệ - Trần Thái Tông - Sđd. (3) Phổ nguyệt tứ sơn - Trần Thái Tông - Sđd. (4) Độc "Phật sự đại mi lục" hữu cảm - Trần Thánh Tông - Sđd.
24
lọt xuống đầm lạnh”(3). Nhƣng khúc nhạc huyền diệu trong lòng ấy cũng chỉ mình mình biết,
mình mình hay:
"Cá trung khúc phá vô nhân hội,
Duy hữu tùng phong họa thử âm".
(Tự thuật)
(Khúc nhạc trong lòng ta đã thành hình mà không ai hay biết,
Chỉ có gió trên cây tùng là hòa đƣợc âm thanh ấy)
Trần Nhân Tông, trong một lần lên thăm núi Bảo Đài, trƣớc thiên nhiên tịch mịch vừa
hiện thực ngay trƣớc mắt vừa xa vắng nhƣ tự ngàn xƣa - "Vân sơn tƣơng viễn cận, Hoa kính bán tình âm"(1) - đã thể nghiệm một nỗi cô đơn thẳm sâu không bờ bến:
"Vạn sự thủy lƣu thủy,
Bách niên tâm ngữ tâm".
(Đăng Bảo Đài sơn)
Mỗi con ngƣời là một thành viên, một phần hữu cơ của cộng đồng nhân loại, của dân
tộc, của xã hội mình đang sống. Mỗi ngƣời đều liên quan mật thiết với ngƣời khác và số phận
của mình gắn chặt với số phận của dân tộc, của nhân loại. Với tƣ cách con ngƣời - cộng đồng
đó, những con ngƣời thời Trần đã sống hết mình, chan hòa, cởi mở, yêu thƣơng, nhiệt huyết,
nhƣng với tƣ cách con ngƣời - cá thể, họ đã chiêm nghiệm sâu sắc nỗi cô đơn nhƣ một thuộc
tính, cho dù đang ở ngôi cao chín bệ hay làm kẻ dật dân chốn sơn lâm. Có thể ý thức về nỗi
cô đơn của con ngƣời không phải là một phát hiện gì mới, ngƣời xƣa đã nhắc đến rồi, nhƣng
sự nhận thức sâu sắc về nó của những con ngƣời ở vào một thời đại thịnh vƣợng, huy hoàng
của lịch sử, và từ những ông vua, những vị thân vƣơng quý tộc - đƣợc xem nhƣ chủ thể của
thời đại - có tất cả địa vị, quyền lực, danh vọng trong tay, thì là lại một điều có ý nghĩa không
nhỏ. Ngƣời ta vẫn quen cho rằng ở vào thời suy loạn mới xuất hiện những nhà thơ hiện thực,
mới có tiếng nói đau đời. Nhƣng thời thịnh Trần cho thấy những nỗi niềm nhân sinh là điều
các nhà thơ vẫn thƣờng trăn trở. Tất nhiên đó không phải là nỗi đau xót của Nguyễn Phi
Khanh về cảnh khốn đốn của ngƣời dân trƣớc nạn hạn hán và tệ vơ vét của bọn quan lại địa
phƣơng, nỗi day dứt của Trần Nguyên Đán vì không thực hiện đƣợc tấm lòng yêu dân của
một ngƣời trí thức hay tấm lòng chƣa thể nguội lạnh của Chu An trƣớc thời cuộc ở thời vãn
Trần. Đó không phải là nỗi niềm nhân sinh có tính chất thế sự mà
(1) Đăng Bảo Đài Sơn – Trần Nhân Tông – Sđd.
25
là nỗi niềm nhân sinh mang tính chất triết học - sự thấu hiểu những giới hạn của con ngƣời và
đời ngƣời. Sự thấu hiểu này giúp con ngƣời coi khinh phú quý, bình thản trƣớc thịnh suy.
Trần Nhân Tông trong bài Xuân vãn đã nói về giây phút phản tỉnh của mình:
"Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,
Nhất xuân tâm tại bách hoa trung.
Nhƣ kim khám phá Đông hoàng diện,
Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng".
(Tuổi trẻ chƣa từng hiểu rõ lẽ sắc không,
Mỗi lần xuân đến vẫn gửi lòng nơi trăm hoa.
Ngày nay khám phá ra bộ mặt thật của chúa xuân,
Ngồi trên đệm cỏ giữa tấm phản nhà chùa ngắm cánh hoa rụng)
Con ngƣời ấy thời tuổi trẻ lầm tƣởng thế gian là vĩnh cửu nên lòng xao xuyến mừng
vui khi xuân về hoa nở, xót xa tiếc nuối khi xuân đi hoa tàn, giờ đây hiểu đƣợc lẽ thật của
cuộc đời nên có thể an nhiên nhìn sự vật vần xoay. Cái lớn của nhà thơ là nhận thức sự hữu
hạn của đời ngƣời không phải để mang nặng bi kịch trong tâm tƣ mà là để chấp nhận nó nhƣ
một thực tế tự nhiên và có thể vui sống hết mình những thời khắc hiện tại. Giống nhƣ khi
Trần Quang Khải trở lại bến đò Lƣu Gia từng in dấu kỷ niệm thời trai trẻ, soi bóng xuống
dòng sông năm nào thấy mái tóc xanh đã thay màu bạc trắng, vẫn giữ đƣợc sự thƣ thái và
thanh thoát của tâm hồn vì không hối tiếc với những gì mình đang sống:
"Thi khách trùng lai đầu phát bạch,
Mai hoa nhƣ tuyết chiếu tình xuyên".
(Lưu Gia độ)
(Khách thơ trở lại mái đầu đã bạc,
Hoa mai trắng nhƣ tuyết soi bóng xuống dòng sông trong tạnh)
(Bến đò Lưu Gia)
Một bài thơ có tính chất ghi lại sự việc nhƣng khá đáng chú ý là Tây chinh đạo trung
của Trần Nhân Tông. Bài thơ làm trên đƣờng hành quân về biên giới phía Tây bộc lộ tâm
trạng và cảm nghĩ rất chân thật của nhà thơ. Ở đây là một ông vua, ngƣời lãnh đạo quốc gia,
nắm quyền lực cao nhất, nhƣng tâm trạng và cảm nghĩ đó lại là của một con ngƣời đời
thƣờng. Đi "chinh phạt" chẳng qua chỉ là bất đắc dĩ, vì chẳng đặng đừng, đó không phải là
lòng ham muốn, là sự hăm hở, niềm đam mê chinh phục. Bài thơ rất lạ ở chỗ viết về chuyện
đi đánh giặc, và là
26
ngƣời trực tiếp cầm quân, chỉ đạo đánh giặc, lại bộc lộ sự chán ghét chiến tranh và lòng
hƣớng về hòa bình:
"Thê lƣơng hành sắc thiêm cung mộng,
Liêu loạn nhàn sầu đáo tửu bôi.
Hán Vũ phiên chiêu cùng độc báng,
Nam nhi cấp cấp nhƣợc vi tai?"
(Tây chinh đạo trung)
(Cảnh đi đƣờng lạnh lẽo lại thêm vƣơng vấn giấc mơ cung nội,
Mối sầu vơ vẩn đến với chén rƣợu.
Hán Vũ Đế đã chuốc lấy lời chê "cùng binh độc vũ"
Thế thì kẻ làm trai vội vã về việc chinh chiến để làm gì?)
(Trên đường đi chinh phạt phía Tây)
Giấc mộng về nơi cung nội còn gì khác hơn lòng thƣơng nhớ vợ con, nỗi sầu mƣợn
chén rƣợu làm khuây chẳng lẽ lại không phải là nỗi sầu xa cách quê nhà? Tâm trạng một ông
vua cũng đâu khác gì tâm trạng một ngƣời lính. Vì thế câu hỏi "Kẻ làm trai cứ phải vội vã về
việc chinh chiến để làm gì?" thể hiện một sự phản tỉnh sâu sắc. Cầm quân đi chinh chiến mà
lại tự hỏi về ý nghĩa của việc chiến chinh. Đừng vội kết luận nhà vua không vững lập trƣờng,
sợ sệt, chùn nhụt, hay cho rằng nhà vua nhận thức cuộc chinh phạt của mình là phi nghĩa.
Chinh chiến là việc không thể không làm, khi cần thiết, để bảo vệ cõi bờ, lãnh thổ, dù ngƣời
cầm vũ khí tha thiết yêu hòa bình. Vua quan, tƣớng lĩnh và quân dân thời Trần đã làm nhƣ
thế, dũng cảm, hết mình, không tiếc máu xƣơng. Nên những con ngƣời ấy mới dám đƣờng
hoàng bộc lộ quan điểm của mình về chiến tranh nhƣ vậy. Câu hỏi Trần Nhân Tông đặt ra
cũng lạ nhƣ Trần Quốc Tuấn khi viết hịch kêu gọi các tƣớng đánh giặc lại dám nêu những
gƣơng trung thần nghĩa sĩ từ phía đối phƣơng. Ranh giới giữa mặt phải và mặt trái vấn đề
nhiều khi chỉ xê xích nhau sợi tóc. Nếu không có cái tâm vững vàng, trong sáng, con ngƣời
hẳn không làm đƣợc điều phi thƣờng đó, tự do trong nhận thức và hành động mà vẫn không
sợ đi sai đƣờng.
Tiêu biểu cho ý thức phản tỉnh ở góc độ con ngƣời - cá thể phải kể đến trƣờng hợp
của Trần Minh Tông với bài thơ khá đặc biệt - Dạ vũ (Mƣa đêm).
Đêm mƣa, đặc biệt đêm mƣa thu, là đề tài thƣờng gặp trong thơ trung đại. Phần nhiều
đó là những đêm mƣa thu trên đất khách, quê ngƣời, và ngƣời trong cảnh thƣờng là kẻ phiêu
dạt, long đong nơi "thiên nhai hải giác". Ngƣời đã buồn, cảnh càng làm tăng nỗi buồn, nhớ và
cô
27
đơn đến phải bật lên tiếng thơ để giải tỏa nỗi niềm. Nhƣng cảnh ngộ của Trần Minh Tông
trong bài thơ Dạ vũ thật khác. Nhà thơ không xa quê quán, không nhớ đến ngƣời thân mà
đang ở ngay tại quê nhà mình, trong chăn êm nệm ấm, không phải là kẻ thất chí, lỡ vận, mà là
một vị hoàng đế quyền uy tối thƣợng. Cũng không mang nỗi buồn thời thế, vì đất nƣớc đang
thanh bình, yên ổn. Vậy mà mƣa đêm đã để lại cho đời một tuyệt tác thấm đẫm nỗi buồn rất
riêng của một ông vua - thi sĩ đủ làm lay động trái tim nhiều thế hệ đi sau.
"Thu khí hòa đăng thất thự minh
Bích tiêu song ngoại đệ tàn canh
Tự tri tam thập niên tiền thác
Khẳng bả nhàn sầu đối vũ thanh".
Tạm dịch thơ:
Hơi thu mờ ánh ban mai,
Tàu tiêu điểm giọt song ngoài tàn canh.
Ba mƣơi năm biết lỗi mình,
Đành ôm sầu muộn một mình nghe mƣa...
Hơi thu hiu hắt hòa vào ngọn đèn lấn át cả ánh sáng buổi bình minh. Mở đầu bài thơ
nhƣ có một nỗi buồn nào đó đang lẫn khuất trong không gian, nó làm cho đêm cứ muốn kéo
dài thêm và ngày không sáng đƣợc. Ngọn đèn chƣa tắt, có lẽ ngƣời thao thức suốt đêm
chăng? Thì đây, câu thơ tiếp theo đã xác nhận điều đó - "Tàu chuối ngoài song cửa điểm giọt
canh tàn". Những giọt mƣa đọng trên tàu chuối đã rơi rả rích suốt đêm đến lúc tàn canh nhƣ
chiếc đồng hồ báo thời gian. Con ngƣời đã thức trắng để nghe nhịp thời gian đi, đều đặn liên
tục. Có gì khác lạ ở đây chăng? Tiếng giọt mƣa tàu chuối điểm tí tách trên sân hay trên những
tàu lá thấp hơn hẳn là rất khẽ, vậy mà ngƣời nằm bên song cửa đã nghe rõ từng giọt một. Quả
là ngƣời ấy đang hoàn toàn tỉnh thức để một mình đối diện với đêm dài. Với một tâm trí đang
thanh thản, những âm thanh đều đặn khe khẽ đó chắc hẳn sẽ dễ đƣa con ngƣời vào giấc ngủ
ngon lành. Nhƣng nếu có điều gì đó đang vƣớng bận tâm tƣ làm khó ngủ thì hẳn là cái nhịp
thời gian đều đặn kia phải khiến cho con ngƣời sốt ruột lắm, và cảm thấy bức bối nhƣ mình là
kẻ tù nhân đang bị một khung lƣới vô hình nào đó vây hãm không thể thoát ra. Câu thơ thứ
ba và thứ tƣ đến với ngƣời đọc vừa nhƣ một sự tiếp nối hiển nhiên, vừa cũng thật bất ngờ -
"Tự tri tam thập niên tiền thác, Khẳng bả nhàn sầu đối vũ thanh". Hiển nhiên, vì ngƣời đọc
hiểu cảnh ấy tất phải có tình này. Ngƣời thức cả đêm nghe tiếng mƣa rơi hẳn phải
28
có một nỗi niền gì u uẩn lắm. Nhƣng bất ngờ, vì nỗi niềm ấy là một sự tự nhận thức và hối
tiếc sâu sắc về lỗi lầm của một ông vua. Ba mƣơi năm về trƣớc, lúc còn tuổi trẻ, nhà vua đã
có lần nghe lầm lời cáo gian, giết oan một ngƣời vô tội. Giờ đây tất cả đều đã muộn. Quyền
uy thiên tử cũng đành bất lực trƣớc thời gian. Lời hối tiếc của nhà vua sao mà xót xa! Đến
đây ngƣời đọc càng thấm thía hơn cái nhịp thời gian của giọt mƣa tàu chuối. Nó đều đặn,
không ngừng, nhắc cho nhà vua luôn nhớ, luôn đối diện trƣớc một hiện thực phũ phàng khắc
nghiệt: thời gian vẫn không ngừng trôi đi và không ai có thể bƣớc lùi trở lại. Ba mƣơi năm
qua, không biết bao đêm Minh Tông đã thao thức đếm giọt mƣa tàu chuối để làm tội nhân
của chính lƣơng tâm mình, làm tù nhân trong vòng vây của thời gian và sự phản tỉnh bắt buộc
mình phải đối diện với một sự nuối tiếc muộn màng vô bổ để rồi tự xót xa dày vò khôn nguôi.
"Đành ngồi ôm mối sầu nhàn mà nghe tiếng mƣa rơi" là một hình phạt tinh thần nặng nề mà
nhà thơ đã tự dành cho mình. Khi đậu thuyền bên hồ Vịnh Sơn vào một đêm đông, Minh
Tông cũng mang cả vào lòng cái lạnh của hoa núi, của trăng soi để rồi suốt đêm không ngủ đƣợc, dõi nhìn bất lực vào "việc đã qua nhƣ trong khoảnh khắc"(1) mà mình "nên ngƣời thì đã ba mƣơi năm"(1). Và khi chợt tỉnh chỉ còn biết "tái tê ngồi lặng trƣớc bếp lò"(1) buổi sáng.
Đáng thƣơng và cũng đáng phục biết bao. Một ông vua đã dũng cảm nhận lỗi và dũng cảm
nhận lấy sự trừng phạt của lƣơng tâm: không lúc nào cho phép mình có thể thanh thản tâm tƣ
đƣợc nữa. Lời tự thú về sai lầm của một vị vua trong Dạ vũ quả là một thanh âm đặc biệt của
làng thơ. Nó nâng bài thơ lên một tầm cao nhân văn xứng với thời đại - một thời đại của hào
khí Đông Á sản sinh ra những con ngƣời thực sự vĩ đại không chỉ về tài năng mà còn về nhân
cách.
Dƣới thời phong kiến, những lỗi lầm của một vị hoàng đế trong quá trình cầm quyền
không phải là ít nhƣng sự nhận ra, và quan trọng hơn, dũng cảm thừa nhận và ăn năn về
những lỗi lầm đó lại không phải là nhiều, nếu không muốn nói là rất hiếm. Trần Minh Tông
là một ông vua đã làm đƣợc điều lớn lao đó, đặt lƣơng tâm con ngƣời lên trên lòng tự tôn và
quyền lực của một vị quân vƣơng để tự trói mình trong nỗi đau suốt đời. "Đối diện tiếng mƣa
rơi" là đối diện với bƣớc đi thời gian không quay trở lại. Tâm trạng "nhàn sầu" đối lập với
ngoại cảnh "vũ thanh". Tiếng mƣa càng rơi là thời gian càng chồng chất và nỗi sầu
(1) Thập nhất nguyệt quá bạc Vịnh Sơn hiểu trú - Trần Minh Tông - Sđd.
29
không phải nhạt đi theo thời gian mà càng day dứt thêm lên. Lòng sầu đến thế thảo nào chẳng
cảm nhận hơi thu át cả ánh sáng ban ngày và đêm sao nhƣ cứ dài ra mãi. Đầu và cuối bài thơ
đã có sự hô ứng về ý thơ thật chặt chẽ.
Cùng nghe mƣa đêm, lòng buồn, thao thức, nhƣng ở Thính vũ của Nguyễn Trãi,
những giọt mƣa cứ đứt nối cho đến trời sáng thể hiện sự thôi thúc bên trong hƣớng về tƣơng
lai, mong sớm làm đƣợc điều gì đó đạt thành chí nguyện. Còn ở Dạ vũ của nhà vua đời Trần
những giọt điểm canh tàn lại gợi về quá khứ sau bao năm dài vẫn chƣa ngủ yên dƣới lớp bụi
thời gian. Tiếng mƣa bên ngoài có lẽ đến một lúc nào đó đã ngừng hẳn, nhƣng âm thanh của
nó vẫn vang trong lòng tác giả nhƣ một nỗi ám ảnh. Tiếng mƣa ở cuối bài có thể chỉ là cái dƣ
hƣởng bên trong đó, nó là sự nhắc nhở không thôi của lƣơng tri, sự phân thân, nhị hóa để
không ngừng tự phán xét mình. Tiếng mƣa đêm trong lòng ấy đã trở thành một hình tƣợng
thẩm mỹ đặc biệt khác với tiếng mƣa đêm trong bất kỳ bài thơ nào khác, nó làm cho Dạ vũ
mang vẻ đẹp riêng với một sức ám ảnh thâm trầm nhƣng thật da diết khó quên.
2. Khát vọng tự do và những khoảng trời riêng trong thơ Trần Thánh
Tông
Là một minh quân đã viết tiếp trang sử thịnh trị của triều đại nhà Trần bằng đƣờng lối
chính trị khoan hòa và nhân ái, Trần Thánh Tông còn là nhà thơ đóng góp một phong cách
riêng đặc sắc cho làng thơ cổ điển Việt Nam. Mƣời hai bài thơ còn lại đến nay tuy không
nhiều nhƣng vừa chứa đựng tình yêu say đậm đà, tinh tế đối với con ngƣời và cuộc sống, vừa
là sự thể nghiệm Thiền học với những xúc cảm diệu kỳ và độc đáo.
Điều đầu tiên có thể cảm nhận ngay khi tiếp xúc với thơ Trần Thánh Tông là một
không khí tự do và khoáng đạt đến kỳ lạ. Ở bài thơ ghi lại cuộc đi chơi ở phủ An Bang (Hạnh
An Bang phủ), con ngƣời trong thơ mang trong mình hào khí của thời đại, sống hết kích
thƣớc cuộc sống, tự do giữa đất trời cao rộng và tự do trong cảm xúc nghệ thuật muôn màu
muôn vẻ:
"Triêu du phù vân kiệu
Mộ túc minh nguyệt loan"
(Sớm chơi núi mây nổi
30
Tối nghỉ bến trăng thanh(1))
Trƣớc cảnh sắc kỳ thú của thiên nhiên đất nƣớc, hứng thơ dào dạt trong lòng nên khi
cất bút thì cảm xúc tuôn trào tự nhiên không giới hạn:
"Hốt nhiên đắc giai thú
Vạn tƣợng sinh hào đoan "
(Bỗng dƣng đƣợc thú lạ Ngọn bút nảy muôn hình(1))
Không hề có một ông Lý, ông Đỗ nào ám ảnh hồn thơ, cũng không có "khói sóng
Tiêu Tƣơng" hay "giang phong ngƣ hỏa" của Đƣờng thi ràng buộc đầu ngọn bút.
Con ngƣời chỉ cảm thấy tự do khi tâm hồn thanh thản. Nghĩa là khi thấy mình sống
đúng, sống có ý nghĩa, làm đƣợc những điều cần làm, trong lòng không có điều gì ân hận,
vƣớng mắc. Đi chơi ở hành cung Thiên Trƣờng, nhà thơ nhìn thấy cảnh quê mình đẹp nhƣ
một trong mƣời hai cảnh tiên, với "trăm giọng chim hót véo von tạo thành một dàn hợp xƣớng không dứt, nghìn hàng cây quít xum xuê nhƣ cả đội quân hầu"(2). Tâm hồn phải rất an
nhiên thƣ thái mới có thể rộng mở hòa điệu cùng vạn vật nhƣ thế:
"Nguyệt vô sự chiếu nhân vô sự
Thủy hữu thu hàm thiên hữu thu"
(Hạnh Thiên Trường hành cung)
(Trăng vô sự chiếu ngƣời vô sự
Nƣớc chứa thu lồng trời chứa thu)
(Đi chơi hành cung Thiên Trường)
Ở đó có sự hội tụ cả niềm tự tin của bản thân và niềm tự hào dân tộc của một thời đại
chiến thắng, phục hƣng:
"Tứ hải dĩ thanh, trần dĩ tĩnh
Kim niên du thắng tích niên du"
(Bốn bể đã yên, bụi đã lặng
Cuộc chơi xƣa so cuộc này thua)
Cảm hứng tự do tuyệt diệu này đến với con ngƣời đang sống trên một đất nƣớc đã
sạch bóng quân thù sau bao nhiêu lao nhọc tâm trí, sức lực, mồ hôi xƣơng máu để đánh đổi
lấy một cách đáng tự hào. Điều ấy đã hẳn. Nhƣng sâu xa hơn, và mang dấu ấn cá nhân nhà
thơ còn là ở
(1) Bản dịch của Phan Võ. (2) Hạnh Thiên Trường hành cung - Trần Thánh Tông - Sđd.
31
chỗ con ngƣời ấy tự thấy mình đã thấu đạt đƣợc lẽ vi diệu của chân lý bản thể. Xúc
động thay là cái giây phút tự cảm nhận đƣợc sau "hơn bốn mƣơi năm giữ vẹn đƣợc một tấm lòng, đã có thể nhảy ra khỏi vạn tầng cửa tù ngục"(1). Đây đâu chỉ giản đơn là sự "ngộ đạo"
nhờ công phu nghiên cứu sách vở, kinh điển. Mà phải là sự trải nghiệm cuộc sống sâu sắc với
truyền thống từ vua cha - "lấy ý muốn của dân làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của dân làm tấm lòng của mình(2)" - ngƣời đã nghe theo lời của quốc sƣ Viên Chứng để quên đi cái
"ngã " của bản thân rời chốn núi rừng trở về triều đình cống hiến đời mình cho dân và nƣớc.
Thiền đã đƣợc vận dụng hiệu quả trong cuộc đời. Và hơn bao giờ hết, trong cuộc sống hết
mình và quên mình, ở cƣơng vị một ngƣời lãnh đạo quốc gia trong thời gian đất nƣớc liên tục
bị ngoại bang lớn mạnh gấp nhiều lần đe dọa, nhà thơ đã thể nghiệm sâu sắc triết lý của đạo
Thiền. Khi "năm điều huyền diệu trong sách vở đã lĩnh hội đƣợc thấu suốt" ("Cú lý ngũ huyền thân thấu đắc(3)") thì "bốn ngã đƣờng đời mặc sức dọc ngang" ("Lộ đầu thập tự nhậm tung hoành(1)" ) . Sống cuộc sống đẹp, có ý nghĩa cũng chính là thể hiện sự chứng ngộ Thiền
triệt để nhất. Có khác gì Tuệ Trung thƣợng sĩ - ăn chay ăn mặn đều thuận theo tự nhiên, "đi cũng thiền, ngồi cũng thiền(4)", thảnh thơi đọc sách ngâm thơ trong thời bình hay xông pha
ngoài trận mạc trong thời loạn cũng không ra ngoài lẽ ấy. Thật tự do tự tại biết bao. Mặc sức
dọc ngang cũng không sợ rơi vào chuyện "có" hay "không" mà kẻ học Thiền thƣờng gắng
công gìn giữ. Thiền ngay trong chính cuộc sống, với tinh thần nhập thế tích cực, với ý thức
công dân của quốc gia Đại Việt trong cuộc đời này, đó là tôn chỉ của các Thiền gia đời Trần,
trong đó có số không nhỏ là các bậc quân vƣơng và tƣớng lĩnh. Đó mới chính là sự quên
mình trọn vẹn nhất. Thời đại Lý Trần với những thành tựu rực rỡ phải chăng có sự góp phần
của thái độ biết sống hài hòa này? Sự minh triết đó đã để lại những hình ảnh con ngƣời tự do,
hào hùng, kỳ vĩ không phai mờ trong trí nhớ của bao thế hệ tiếp nối. Còn lời nào lột tả đƣợc
cái "diệu dụng" của con ngƣời "đạt đạo" này đắc địa hơn hai câu thơ sau:
"Động nhƣ không cốc phong xao hƣởng
Tĩnh nhƣợc hàn đàm nguyệt lậu minh"
(1) Độc Phật sự đại minh lục hữu cảm - Trần Thánh Tông - Sđd. (2) Thiền Tông chi nam tự - Trần Thái Tông - Sđd. (3) Độc Phật sự đại minh lục hữu cảm - Trần Thánh Tông - Sđd. (4) Phật tâm ca - Tuệ Trung - Sđd.
32
(Độc "Phật sự đại minh lục" hữu cảm)
(Động tựa hang không, lùa gió mạnh
Tĩnh nhƣ đầm lạnh, rọi trăng thanh)
(Cảm xúc khi đọc "Phật sự đại minh lục ")
Cái "động" của gió lùa vào hang trống thật mạnh mẽ, ào ạt khôn lƣờng. Và cái "tĩnh"
của trăng soi mặt đầm lạnh cũng thật vô biên vô tận. Đó là "diệu dụng" của cái trống không
và cái lặng lẽ. Nếu hang núi có vách ngăn thì không thể có tiếng gió dũng mãnh. Nếu mặt
đầm gợn sóng thì ánh sáng không thể thênh thang. Thánh Tông đã đạt đến chỗ kỳ diệu của
cái tâm đã vứt bỏ mọi bận bịu đa mang để nó trống không lặng lẽ mà vang âm những thanh
điệu diệu kỳ của vũ trụ. Bởi thế nhà thở đã có đƣợc trong tay vật quý là cây đàn không điệu:
"Chung nhật nhàn đàn bát điệu cầm
Nhàn môn vô sự khả quan tâm
Cá trung khúc phá vô nhân hội
Duy hữu tùng phong họa thử âm"
(Tự thuật)
(Suốt ngày nhàn gãy đàn không điệu
Chẳng việc chi là đáng bận tâm
Tuyệt khúc bên trong ai kẻ biết
Chỉ gió cành thông khéo họa âm)
Tại sao lại có thể khám phá đƣợc khúc nhạc diệu kỳ không ai nghe đƣợc? Đơn giản vì
cái tâm trống không mới có thể đón nhận và cộng hƣởng những âm thanh đó. Nếu cái tâm đã
đầy ắp mọi sự thì ví nhƣ cái cốc đã đựng đầy nƣớc, sao còn có thể rót vào thêm đƣợc nữa?
Với cái tâm "vô ý" này, con ngƣời hòa điệu cùng vạn vật một cách tự nhiên - không còn phân
biệt đâu là "ta" và đâu là "vật" - "chỉ có gió trên cây tùng là họa đƣợc âm thanh đó" - trong
một niềm hoan lạc tự do tự tại khôn tả xiết giữa một thế giới rất hiện thực nhƣng cũng rất
diệu kỳ mở ra vô hạn. Có lẽ đó cũng là niềm vui bên trong không ai hay biết mà vua cha Trần
Thái Tông đã có lần thể nghiệm trong bài thơ Ký Thanh Phong am tăng Đức Sơn. Bởi thế,
nếu có ai hỏi đến bí quyết của cuộc sống, nhà thơ có thể mỉm cƣời mà đáp một cách đầy ngẫu
hứng:
"Vân tại thanh thiên, thủy tại bình"
(Độc "Phật sự đại mình lục" hữu cảm)
(Mây trên trời biếc, nƣớc trong bình)
(Cảm xúc khi đọc "Phật sự đại minh lục")
33
Mây trên trời có thể to nhỏ, dày mỏng với những hình dáng khác nhau, có thể đi hay
dừng tùy lúc. Nƣớc trong bình có thể tròn hay dài, rộng hay hẹp tùy theo dáng vẻ, kích cỡ của
cái bình. Ngƣời ta cũng vậy, tùy lúc có thể làm mây tự do nhởn nhơ bay trên bầu trời, cũng
có khi ở vào khuôn khổ nhỏ bé của một chiếc bình. Những thay đổi đó là lẽ tự nhiên không
có gì đáng bận tâm. Hiểu biết quy luật và tùy duyên mà hành động cho phù hợp, đó chính là
bí quyết của cuộc sống. Nó đem lại tự do cho con ngƣời và chắp cánh cho sáng tạo nghệ
thuật.
Chính nhờ cái tâm tự do tự tại mà Thánh Tông có đƣợc những cảm hứng thơ trong
trẻo và tinh tế. Ở bài thơ Hạ cảnh, cảnh mùa hạ đƣợc cảm nhận bằng tất cả các giác quan.
Câu thơ nào cũng đầy sức gợi. Ngƣời đọc hình dung đƣợc bóng ngày dài của mùa hạ nơi nhà
hoa thăm thẳm, cảm nhận đƣợc hƣơng thơm hoa sen theo gió đƣa thấm mát tận tâm hồn.
Trƣớc mắt nhƣ thấy khu vƣờn sau mƣa cây lá đẫm nƣớc xanh tƣơi mơn mởn tựa hồ phủ một
tấm màn biếc. Và đâu đó chợt ngân lên mấy tiếng ve khuấy động vào cái yên tĩnh của buổi
chiều tà. Bức tranh mùa hạ thật ấn tƣợng với cái hồn sông động bên trong vẻ ngoài tĩnh
lặng...
Nhƣng nhà thơ với tâm thiền tự do "tung hoành bốn ngã " đó cũng lại là một ngƣời rất
có tình. Bài thơ Cung viên xuân nhật hoài cựu (Ngày xuân ở vƣờn trong cung nhớ ngƣời cũ)
hé lộ một khía cạnh khác của con ngƣời Thánh Tông - khía cạnh tình cảm dạt dào và sâu sắc.
Ở đó, nhà thơ không kể lể thở than mà chỉ miêu tả, nhƣng từng chi tiết nhỏ nhặt đƣợc quan
sát và ghi nhận lại vô cùng ý nghĩa và tự nó nói lên rất nhiều. Cửa cung bụi phủ, đƣờng đi rêu
mọc. Sự hiu quạnh càng tăng lên trong ngày dài chìm lặng, ít ngƣời qua lại. Có lẽ vì ngƣời ở
nơi cung này đã trở thành ngƣời của ngàn xƣa. Chỉ có thiên nhiên vẫn vô tình diễn tiến theo
quy luật - vƣờn hoa "muôn tía nghìn hồng" cứ đua nhau khoe sắc giữa mùa xuân. Đối lập
nghiệt ngã giữa mất - còn này đem đến cảm giác xót xa vô hạn trong câu hỏi ở cuối bài -
"Xuân hoa nhƣ hứa vị thùy khai?" (Hoa xuân tƣơi đẹp nhƣ kia vì ai mà nở?). Sự tƣơng phản
giữa "muôn tía nghìn hồng" và màu bụi, sắc rêu, "chìm chìm ngày bạc" là sự tƣơng phản giữa
hiện tại và quá khứ làm bật lên cái ngắn ngủi, mong manh vô thƣờng của đời ngƣời. Những
hoa xuân thắm tƣơi lộng lẫy kia sao tránh khỏi gợi liên tƣởng đến ngƣời xƣa trong những thời
khắc thanh xuân rực rỡ nhất? Để rồi quay trở về thực tại -một sự mất mát hụt hẫng chợt thấm
thía đến nao lòng. Đứng giữa mất - còn là một nỗi đau sâu sắc khôn nguôi mà câu hỏi tu từ
kia cứ xoáy mãi
34
vào tâm tƣ. Nỗi đau nhớ tiếc cố nhân da diết, xói buốt, và bao phủ trên đó còn là nỗi đau về
kiếp ngƣời phù du thấm đẫm, mông mênh... Con ngƣời mang cái tâm tự do, khoáng đạt và
hào hùng đó cũng nặng tình biết mấy! Ngƣời đã góp vào làng thơ cổ điển bài thơ tình có dƣ
vị ngậm ngùi nhƣ những giọt lệ chảy vào trong. Ngƣời đã góp phần hé lộ cho hậu thế biết
thêm nhiều điều về con ngƣời thời đại Đông A. Họ đã sống, đã yêu, đã nghĩ suy, cảm xúc,
hành động nhƣ thế... Và trong cuộc sống phong phú, trọn vẹn, hết mình đó, đã đạt tới một
tâm thái tự tại biểu hiện trong một hình ảnh thơ giàu ý nghĩa:
"Vân tại thanh thiên, thủy tại bình"
(Mây trên trời biếc, nƣớc trong bình)
3. Một tấm lòng "mai hoa nhƣ tuyết" và những cảm thức đời ngƣời trong
thơ Trần Quang Khải
Nhắc đến Trần Quang Khải, vị danh tƣớng đời Trần, không ai quên bài thơ ngũ ngôn
tứ tuyệt Phò giá về kinh rắn rỏi, đanh thép nhƣ những nét gƣơm chạm khắc chân lý bất di bất
dịch về nền tự chủ của nƣớc Nam vào vạn cổ. Chỉ một bài thơ hai mƣơi chữ đó đủ để nói lên
bao điều về tác giả, một con ngƣời tiêu biểu cho hào khí thời đại Đông A: hùng tài, dũng
lƣợc, ý chí hiên ngang và tinh thần cống hiến không mệt mỏi cho đất nƣớc và dân tộc.
Nhƣng Trần Quang Khải không chỉ viết thơ trên yên ngựa. Ông còn là một thi nhân
với hứng thơ dạt dào và hồn thơ phóng dật. Tính chất tiêu biểu cho con ngƣời thời đại của
Trần Quang Khải không chỉ thể hiện ở phong độ anh hùng mà còn ở quan niệm sống cống
hiến hết mình nhƣng coi nhẹ lợi danh. Nhà thơ yêu thích nếp nhà cất giữa cảnh đồng quê có "đào mận thơm tho bốn mùa đều xuân"(1), nơi đó đƣợc ngắm nhìn sự hòa điệu giữa con ngƣời
cùng thiên nhiên và hòa lẫn tâm hồn mình trong ánh trăng xanh, thung lũng biếc - "Một tiếng
sáo của trẻ chăn trâu cất lên làm xanh ánh trăng trên lầu; Mấy tấm áo tơi nhà nông nhuộm biếc đám mây dƣới lũng"(1). Ý thích ẩn dật đã bộc lộ trong bài thơ Đề dã thự (Đề ngôi nhà ở
đồng quê) khi nhà thơ miêu tả con đƣờng qua nhà tuy "ngoắt ngoéo ruột dê thông ra nơi dặm
tía" nhƣng khe suối tỏa nhiều dòng nhƣ đuôi chim yến đã "ngăn cách với chốn bụi hồng".
Nếu trong quan niệm của nhà Nho, đời ngƣời có hai giai đoạn cống hiến và nhàn lạc, thì ở
quan niệm của con ngƣời thời Lý Trần,
(1) Đề dã thự - Trần Quang Khải - Sđd.
35
cách xử thế linh hoạt và uyển chuyển hơn mà vẫn luôn đạt đến sự hài hòa, cân đối. Với chủ
trƣơng văn hóa "Tam giáo đồng nguyên" khá cởi mở trên một bản lĩnh dân tộc mạnh mẽ, các
nhà thơ thời Trần không đƣa ra một khuôn vàng thƣớc ngọc nào cho cách sống mà lấy tính
thần "tùy duyên" rất cơ động của Phật giáo Thiền tông làm phƣơng châm xử thế, nên có thể
vừa làm vua, làm tƣớng, đánh giặc, vừa tu Thiền, ngộ đạo. Vạn Hạnh "chống gậy nhà chùa lên trấn giữ kinh đô"(1), Tuệ Trung "đi cũng Thiền, ngồi cũng Thiền"(2), "vào xứ cởi trần thì vui vẻ bỏ áo"(3), Trần Thánh Tông có thể "động thì nhƣ gió vang trong hang trống, tĩnh thì nhƣ trăng soi xuống đầm lạnh"(4), Trần Nhân Tông "cƣ trần lạc đạo", "mình ngồi thành thị, nết dụng sơn lâm"(5). Cũng trong tinh thần đó, Trần Quang Khải, khi dẹp giặc xong, vui thú
điền viên bình dị với một khu vƣờn nơi khe nƣớc quanh co, ở đó, "khi nắng lên thì mời khách một tuần trà, lúc mƣa tạnh thì gọi trẻ sửa lại giàn cây thuốc"(6). Vui hƣởng nhàn nhƣng vẫn
không xao lãng một ý thức trách nhiệm thƣờng trực trong tâm tƣ, "nhìn về phía Nam không còn thấy khói biên phòng báo tin giặc đến"(6) mới yên lòng "đi vào giấc mộng an lành trên chiếc giƣờng con"(6). Có thể nói thơ Trần Quang Khải ở bất kỳ chủ đề nào - trữ tình, đề đền
miếu, hay xƣớng họa với sứ Bắc - đều thấy thể hiện tâm niệm dành cho đất nƣớc và nhân
dân. Tiễn sứ giả nhà Nguyên, ngoài những lời lẽ xã giao thù tạc, nhà thơ không quên khéo léo
nhắn nhủ "Dám mong bốn vị hiền tài có lòng yêu thƣơng rộng lớn, hãy che chở cho thƣơng sinh nƣớc Việt"(7). Đề đền Bạch Mã, sau khi ca ngợi công đức của thần, nhà thơ đã ân cần chí
thiết "xin nhờ dƣ uy của thần để phá tan giặc Bắc, làm cho đất nƣớc nhanh chóng trở lại thanh bình"(8). Nhƣng nhờ sống và làm việc hết mình mà tâm vô cầu nên con ngƣời ấy mới có
đƣợc cái phong thái an nhiên tự tại nhƣ khi trở lại bên đò Lƣu Gia, nơi từng ghi dấu kỷ niệm thời thanh niên hào hùng "Hỗ tụng đông hành tích bạc thuyền"(9). Cảnh vật đã trải qua những
tang thƣơng của ly loạn, những dâu bể của cuộc đời - "Cựu tháp giang đình thu thủy
(1) Truy tán Vạn Hạnh thiền sư - Lý Nhân Tông - Sđd. (2) Phật tâm ca - Tuệ Trung - Sđd. (3) Vật bất năng dung - Tuệ Trung - Sđd. (4) Độc Phật sự đại minh lục hữu cảm - Trần Thánh Tông - Sđd. (5) Cư trần lạc đạo phú - Trần Nhân Tông - Sđd. (6) Phúc Hưng viên - Trần Quang Khải - Sđd. (7) Tặng Bắc sứ Sài Trang Khanh, Lý Chấn Văn đẳng - Trần Quang Khải - Sđd. (8) Đề Bạch Mã từ - Trần Quang Khải - Sđd. (9) Xưa phò giá sang Đông, từng đỗ thuyền nơi đây - Lưu Gia độ - Trần Quang Khải - Sđd.
36
thƣợng; Hoang từ cổ trủng thạch lân tiền"(1) - con ngƣời cũng đổi thay hình vóc - "Thi khách trùng lai đầu phát bạch"(2) - nhƣng mái đầu bạc vẫn không hổ thẹn đối sánh với sắc trắng hoa
mai. "Mai hoa nhƣ tuyết" soi bóng xuống dòng sông trong vắt nhƣ hình chiếu của tâm hồn
trắng trong không hoen ố giữa cuộc đời. Nổi bật trên cái nền xám hắt hiu của những phế tích
trƣớc thời gian, của quy luật bể dâu nghiệt ngã là mái đầu bạc của khách thơ xƣa, là hoa mai
trắng tuyết, là hình ảnh phản chiếu của "bạch phát" - "mai hoa" soi bóng xuống dòng nƣớc
trong. Cái còn lại sau cùng là một sắc trắng thanh khiết của những giá trị vĩnh hằng không
phai tàn với thời gian. Đó chẳng phải là cái "tâm" trống không mà nồng đƣợm của con ngƣời
đã sống hết mình cho cuộc đời này đó sao?
Cũng giống nhƣ những nhà thơ cùng thời, ƣớc muốn "trở về" luôn thôi thúc trong
lòng Trần Quang Khải khi đất nƣớc đã sạch bóng quân thù. Trấn giữ ở Nghệ An, vùng đất
phên giậu phía Nam, nhà thơ không nguôi nhớ về quê cũ - "tấc lòng nhớ quê theo cánh chim bay mỏi"(3), nhƣng vì ơn nƣớc, nghĩa vua nhƣ biển rộng nên "làm chần chừ con cá muốn giƣơng vây"(1). Trong ngày xuân, trong lòng có nhiều cảm xúc, ông làm thơ, uống rƣợu và "vỗ thanh kiếm, vời vợi nhớ non xƣa"(4). Là con trai thứ ba của vua đầu nhà Trần, đƣợc
phong tƣớc Chiêu Minh Vƣơng, là trọng thần của triều đình trong cƣơng vị Thƣợng tƣớng
Thái sƣ, là dũng tƣớng văn võ kiêm toàn từng xông pha chiến trận lập công hiển hách trong
hai lần kháng chiến chống Nguyên, cuộc đời Trần Quang Khải có thể nói là thành công rực
rỡ. Nhƣng trong Cảm hứng ngày xuân, bên cạnh cái hào khí bình sinh lồng lộng có thể "đè nghiêng ngọn gió xuân ngâm lên một bài thơ"(1), đâu đó vẫn có phảng phất một nỗi buồn khiến nhà thơ phải nhờ đến ba chén rƣợu để làm khuây - "Khử sầu lại hữu tam bôi tửu"(2).
Nỗi sầu đó là gì? Mƣa xuân về "gội ƣớt cành mai", làm mơn mởn cây lá, một lần nữa thiên
nhiên thay hình đổi sắc thanh tân khiến con ngƣời chợt nhớ ra "nửa phần xuân sắc của mình đã vô tình trôi qua"(1) và "ở tuổi năm mƣơi tự biết mình đã suy yếu"(1). Khi "gió từ phƣơng Đông đến đột ngột khơi dậy cái rét mùa xuân"(2) đem theo mƣa xuân làm tƣơi nhuần vạn vật
cũng là lúc con ngƣời "giật
(1)
Tháp cũ, đình xƣa, trên dòng sông thu; đền hoang, mộ cổ, trƣớc dãy lân đá - Lưu Gia độ - Trần
Quang Khải - Sđd.
(2) Lưu Gia độ - Trần Quang Khải - Sđd. (3) Xuân nhật hữu cảm, I - Trần Quang Khải - Sđd. (4) Xuân nhật hữu cảm, II - Trần Quang Khải - Sđd.
37
mình thấy nét mặt hồng hào thuở xƣa đã úa phai”(2). Sinh diệt là quy luật của muôn đời, sự
ngắn ngủi, chóng tàn phai là bi kịch lớn của kiếp ngƣời không ai tránh khỏi, dù là dân dã hay
đế vƣơng. Lẽ nào con ngƣời của thời đại minh triết này lại không hiểu điều đó để phí sức đau buồn với chuyện "thịnh suy nhƣ lộ thảo đầu phô"(1)? Hẳn phải còn một nguyên nhân sâu xa
hơn của nỗi buồn man mác trong ngày xuân đó. Ở hai bài thơ Xuân nhật hữu cảm, Trần
Quang Khải hai lần nhắc đến "quê cũ", "non xƣa". Chi tiết này giúp ngƣời đọc hiểu ra do đâu
nhà thơ cảm nhận "Nửa phần xuân sắc đã hờ hững trôi đi" và "giật mình kinh sợ thấy nét mặt
hồng hào thuở xƣa đã không còn nữa". Thì ra những hoạt động, cống hiến cho đời bằng cả
sức lực thanh xuân từng là niềm tự hào dƣờng nhƣ vẫn chƣa là đủ. Vẫn còn thiếu một cái gì
đó khiến con ngƣời chƣa cảm thấy thỏa mãn. Một cái gì đó đem đến sự cân đối, hài hòa và an
lạc cho tâm hồn. Cái gì đó chính là nhu cầu của thế giới tâm linh. Nhà thơ hƣớng về quê cũ,
núi xƣa nhƣ một mái nhà thân thuộc của mẹ cha mà ai đi xa cũng khao khát trở về. Giống
nhƣ Nguyễn Trãi sau này mơ trở về Côn Sơn với thông xanh suối biếc để "làm nhà ở dƣới mây, múc nƣớc suối pha trà, gối đầu lên đá mà ngủ"(2). Ở đó, con ngƣời đƣợc hoàn toàn tự
do, có thể hòa mình giữa thiên nhiên, có thể vui chơi, có thể chiêm nghiệm về lẽ thực của đời
ngƣời... Nơi đó mãi là một hoài niệm khôn nguôi trong sâu thẳm của tâm hồn. Sự thôi thúc
của nhu cầu nội giới chƣa đƣợc thỏa mãn ấy khiến nhà thơ dù có tất cả trong tay vẫn cảm
thấy thiếu, và giữa tiết xuân tƣơi thắm của đất trời đã phải kìm chế nỗi buồn bằng cách dùng
hào khí bình sinh và đôi ba chén rƣợu để đè ngã gió Đông mà cao giọng ngâm thơ. Nhà Nho
thƣờng nói "ngũ thập tri thiên mệnh", ở tuổi năm mƣơi con ngƣời đã có đầy đủ tri thức và
kinh nghiệm sống để thấu hiểu tất cả về lẽ đời và khi thấy đƣợc cứu cánh của đời ngƣời, con
ngƣời mới nhận thức đƣợc tất cả sự vô nghĩa của những bon chen trần thế, những chạy vạy
tìm kiếm của ngƣời đời. Cùng thời với ông, Tuệ Trung từng thảng thốt nhận ra "Chà chà, giàu sang nhƣ đám mây nổi; Chao ôi, năm tháng nhƣ bóng ngựa chạy qua khe cửa"(3). Khi có
tất cả trong tay - danh vọng, quyền lực, bổng lộc - thì cảm thấy mừng vui, hạnh phúc; khi
không đƣợc gì trong cuộc sống thì cảm thấy đau buồn, chán nản, phẫn uất..., đó là tâm lý
chung của
Nghiên cứu quốc học, Nxb Văn học, 1999.
(3) Phóng cuồng ngâm - Tuệ Trung - Sđd.
(1) Thị đệ tứ - Vạn Hạnh - Sđd. (2) Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác - Nguyễn Trãi - Nguyễn Trãi toàn tập tân biên. tập I. Trung tâm
38
mọi ngƣời. Cái cảm xúc ngày xuân khác lạ này mới là nét riêng của Trần Quang Khải. Nỗi
buồn man mác trong ngày xuân đó hé lộ sự phong phú đầy mẫn cảm của tâm hồn nhà thơ.
Một nỗi buồn man mác lặng trầm nhƣng mang tầm nhân loại lớn lao bởi nó chứa những suy
tƣ, trăn trở muôn thuở về hạnh phúc đích thực của đời ngƣời, về sự xung đột giữa trách
nhiệm xã hội và nhu cầu riêng tƣ của cá nhân. Bằng hình ảnh sinh động tự nhiên, thơ Trần
Quang Khải đã nêu ra những xung đột chung - riêng mà con ngƣời thƣờng xuyên phải đối
mặt trong cuộc sống. Và hiển nhiên là ý tứ bài thơ cũng nhƣ cuộc đời nhà thơ đã cho thấy
hƣớng giải quyết của ông về mối xung đột ấy. Cái chung đã thắng cái riêng, để lẩn khuất lại
đâu đó trong tâm tƣ chút buồn riêng thầm lặng mà nhà thơ chấp nhận mang theo suốt đời và
mỗi độ xuân về lại chuốc chén rƣợu nồng, vỗ thanh gƣơm cũ nhƣ một niềm an ủi. Một lần
nữa thơ Trần Quang Khải dẫn dắt ngƣời đọc bƣớc vào thế giới bên trong của con ngƣời thời
đại. Họ không phải là những con ngƣời chỉ biết có đánh giặc dũng cảm, hào hùng, và mang
sự hƣng phấn sôi nổi của thời đại phục hƣng. Không chút nào đơn giản nhƣ thế. Họ đã không
ngừng phản tỉnh và nhìn thấu tận đáy sâu của tâm hồn nhiều khuất khúc để hiểu mình và lựa
chọn ứng xử phù hợp nhất. Đó là cái đẹp, cái cao thƣợng của nhân cách con ngƣời thời đại
mà Trần Quang Khải là một tiêu biểu. Trở lại bài thơ Phúc Hưng viên, giờ đây ngƣời đọc mới
hiểu hết sự chân thật, không màu mè, tô vẽ khi nhà thơ nói về mình "Trông về phƣơng Nam
không còn thấy khói biên phòng báo tin giặc đến; thảnh thơi trên chiếc giƣờng với giấc mộng
an lành". Một tâm tƣ thƣờng xuyên lo nghĩ đến chuyện an nguy của đất nƣớc, điều đó là rất
thật. Và những giây phút thảnh thơi với giấc mộng bình thƣờng trên chiếc giƣờng con cũng là
một hạnh phúc đời thƣờng chân thật, bình dị biết bao.
Trong số ít những bài thơ còn để lại của Trần Quang Khải, Lưu Gia độ là bài thơ cho
thấy một cảm thức thời gian khá độc đáo. Ở đó, có sự đối lập giữa cái dài lâu và cái ngắn
ngủi để lại một dƣ vị riêng khó quên. Mở đầu bài thơ là một bến đò Lƣu Gia vẫn nhƣ ngày
nào với những cây cổ thụ cao ngất trời - "Lƣu Gia độ khẩu thụ tham thiên". Nhƣng cái lần đỗ
thuyền nơi đây khi phò vua đi về Đông đã là quá khứ và chỉ còn trong ký ức - "Hỗ tụng đông
hành tích bạc thuyền". Nơi đây, dòng nƣớc êm đềm trầm lặng của mùa thu đã từng chứng
kiến bao lớp sóng phế hƣng. Và giây phút này đây, hình ảnh mà nó vô tƣ ghi lại là một ngọn
tháp đã cũ, một bến sông đã xƣa. Nơi đây dãy những con
39
lân bằng đá còn lại với thời gian cũng đã nhìn thấy trƣớc mắt chúng ngôi đền đã trở thành
hoang phế, nấm mộ đã in dấu điêu tàn. Sự đối lập giữa cái còn lại - nhân chứng - và cái đi
qua không chỉ thể hiện ở những gì trƣớc mắt mà còn đƣợc đẩy xa hơn trong suy tƣởng của
nhà thơ: "Bản đồ đất Thái Bình rộng mấy ngàn dặm; Cơ đồ nhà Lý tồn tại hai trăm năm".
Non sông là vĩnh cửu, triều đại chỉ nhất thời. Tuy một triều đại có thể kéo dài mấy trăm năm
hay lâu hơn nữa nhƣng so với đất đai sông núi thì vẫn chỉ là cái chớp mắt mà thôi. Từ chiêm
nghiệm đó mà quay trở lại với bản thân mới thấy con ngƣời càng bé nhỏ hữu hạn làm sao.
Thật vậy. "Khách thơ trở lại mái tóc đã bạc". Còn gì chóng tàn phai hơn sắc thân. Thế nhƣng
cũng không gì bất tử hơn cái đẹp của tâm hồn. "Mai hoa nhƣ tuyết chiếu tình xuyên". Ở trên
đã nói đến dòng sông mùa thu, cái thời khắc hiện tại mà nhà thơ qua bến đò này. Thế thì làm
gì có hoa mai trắng nở? Chỉ có "thi khách" và "tình xuyên". Nhƣng mái tóc trắng đã soi mình
phản chiếu thành sắc hoa thanh khiết của tâm hồn. Tất cả đều bừng sáng, trong trẻo đến tuyệt
vời. Phóng khoáng và tài hoa là ngọn bút thơ chỉ phác lên đôi nét bên ngoài nhƣng đã hiển lộ
đƣợc cả thần thái của thế giới bên trong. Nhà thơ chỉ có thể nhìn thấy sắc trắng của hoa mai -
tâm hồn ấy khi tự phản tỉnh và tự hiểu, tự tin với chính mình. Đây vẫn là con ngƣời của ngày
nào với một tấm lòng thành nguyên vẹn, không hao mòn, không vẩn đục. Nên ngƣời thơ có
thể thanh thản và tự hào mà đối diện trƣớc dòng sông trong vắt của ngày ấy - thƣớc đo của sự
vật và nhân chứng của thời gian. Bài thơ kết thúc với những hình ảnh đối lập nhƣng vận động
biện chứng - cái hữu hạn đã vƣơn lên phạm trù của cái vĩnh hằng. Điều đáng quan tâm là nhà
thơ cảm nhận đƣợc tất cả sự vô thƣờng của thế giới con ngƣời nhƣng đồng thời vẫn khẳng
định một niềm tin vào những điều bất tử cũng từ trong thế giới ấy. Cũng nhƣ "một cành mai"
của Mãn giác đời Lý, "đóa mai nhƣ tuyết trắng" của nhà thơ đời Trần đã để lại một dƣ âm đặc
biệt. Đàng sau sự đổi thay, tàn phai và hủy diệt, cái đẹp của tâm hồn vẫn còn lại mãi. Và cả
niềm khát khao vƣơn tới cái đẹp đầy ý nghĩa nhân văn...
4. Trần Nhân Tông với những rung cảm tế vi và nhạy bén của tâm hồn.
Tâm hồn tinh tế và mẫn cảm của con ngƣời thƣờng bộc lộ hết khía cạnh của nó khi
cảm nhận về thiên nhiên. Các nhà thơ đời Trần đã
40
có những vần thơ về thiên nhiên mới lạ và tƣơi đẹp với thần thái rất riêng, để lại một ấn
tƣợng khó nhầm lẫn với đời sau. Trong đó những bài thơ thiên nhiên của Trần Nhân Tông,
ông vua - thiền gia - thi sĩ có thể xem là đặc sắc vào loại bậc nhất.
Trần Nhân Tông cảm hứng và sáng tác về thiên nhiên khá nhiều - hoa mai, trăng,
cảnh xuân, buổi sớm mùa xuân, xuân muộn, chiều thu ở Vũ Lâm, cảnh chiều ở Lạng Châu,
phủ Thiên Trƣờng, buổi chiều ở Thiên Trƣờng trông ra xa, đề nhà thủy tạ ở chùa Phổ Minh,
lên núi Bảo Đài, đêm mƣời một tháng hai... Thƣởng thức thơ Trần Nhân Tông, nhiều ngƣời
đọc vì biết ông khi nhƣờng ngôi đã xuất gia, trở thành Trúc Lâm đệ nhất tổ của Thiền tông
Việt Nam, nên thƣờng cố tìm trong thơ ông dấu vết của triết lý Thiền và đôi khi khoác lên
một số bài thơ những ngụ ý Thiền học khá gƣợng ép. (Chẳng hạn hình ảnh "mục đồng địch lý
quy ngƣu tận" giàu chất thơ và đậm đà hƣơng vị buổi chiều quê thanh bình trong bài Thiên
Trường vãn vọng lại đƣợc nhìn ra là có ngụ ý diễn giải một giai đoạn trong tranh "thập mục
ngƣu đồ" của Thiền học nói về việc điều khiển cái tâm của con ngƣời). Nếu lột bỏ mọi thiên
kiến để lại bên ngoài trƣớc khi bƣớc vào thế giới thơ của Nhân Tông, có lẽ ngƣời đọc sẽ càng
đi sâu càng khám phá đƣợc những mới mẻ bất ngờ, và điều không ai có thể phủ nhận là cảm
quan nghệ thuật Thiền có can dự ít nhiều trong đó để làm cho thiên nhiên của nhà thơ thêm
sức thu hút kỳ diệu.
Điểm đầu tiên có thể nhận thấy là thiên nhiên trong thơ Trần Nhân Tông dù có nhiều
lúc thoạt nhìn tịch mịch và tĩnh lặng, nhƣng quan sát kỹ bao giờ cũng thấy nét lung linh dù là
rất nhẹ - nửa nhƣ hƣ nửa nhƣ thực, vừa xa vừa gần, lúc mờ lúc tỏ... Đó là cảnh thôn xóm ẩn
hiện trong ánh chiều tà, là mây và núi bồng bềnh khi xa khi gần, là con đƣờng hoa bên râm
bên nắng... Và vật thể, nhiều khi không đƣợc quan sát trực tiếp bằng chính nó, mà là qua hình
bóng của nó, có khi là ảnh đảo ngƣợc của chiếc cầu chạm vẽ vắt ngang lòng khe, là bóng
thềm của ngôi nhà chạm vẽ mây chiều bay ngang qua, là bóng hoa tràn ngập cửa sổ một đêm
sáng trăng đƣa ngƣời vào giấc mộng xuân, là bóng hoa trong vƣờn hƣớng cả về đông khi mặt
trời đã lặn về tây, là bên trong bóng cây đa già, cổng chùa đã đóng... Cũng thƣờng xuất hiện ở
đó hình ảnh của giấc mộng, có khi là mộng thật sự, nhƣng có khi con ngƣời nhƣ lạc vào thế
giới của giấc mơ vì thiên nhiên quá lộng lẫy hoặc quá u tịch, đến dƣờng nhƣ không có thực
nữa. Thử quan sát một vài hình ảnh đó:
41
* "Tịch tịch thiên sơn hồng diệp lạc, Thấp vân nhƣ mộng, viễn chung thanh".
(Vũ Lâm thu vãn)
(Ngàn núi vắng lặng, lá đỏ rơi,
Mây ƣớt giăng nhƣ mộng, tiếng chuông xa vẳng lại)
(Chiều thu ở Vũ Lâm)
* "Nhất thiên nhƣ thủy, nguyệt nhƣ trú, Hoa ảnh mãn song, xuân mộng trƣờng"
(Nhị nguyệt thập nhất nhật dạ)
(Trời trong nhƣ nƣớc, trăng sáng nhƣ ban ngày,
Bóng hoa tràn ngập cửa sổ, giấc mộng xuân dài miên man...)
(Đêm mười một tháng hai)
* "Nhất chi mê nhập cố nhân mộng, Giác hậu bất kham trì tặng quân".
(Tảo mai)
(Một cành (hoa mai) lạc vào giấc mộng cố nhân,
Tỉnh dậy không làm sao đem tặng cho ngƣời đƣợc)
(Hoa mai sớm)
* "Phổ Minh phong cảnh hồn nhƣ tạc, Phảng phất canh tƣờng nhập mộng nhiêu".
(Thiên Trường phủ)
(Phong cảnh chùa Phổ Minh vẫn y nhƣ trƣớc,
Phảng phất hình dáng vua cha đi vào giấc mộng nhƣ trông tƣờng thấy bóng, ăn
canh thấy hình).
(Phủ Thiên Trường)
Cảm giác lạc vào mộng, sống trong mộng hoặc man mác, lâng lâng nhƣ tan hòa vào
thiên nhiên, cùng vạn vật nhập làm một, không còn phân chia nội tâm, ngoại giới cũng là một cảm giác nhà thơ thƣờng trải nghiệm. Có khi là cùng bạn yên lặng tựa lan can ngắm màu
xanh biếc mênh mang ngút tầm mắt. Có khi một mình tựa lan can thổi sáo để ánh trăng tự do chảy tràn lồng ngực. Có khi chợt tỉnh giấc nửa đêm, trong cô tịch tuyệt đối chợt nhìn thấy
trăng vừa lên trên đầu bông hoa quế. Có khi thức giấc vào một buổi sớm, chƣa hay xuân đã về, bỗng nhìn thấy một đôi bƣớm trắng phấp phới lƣợn bên hoa và buông thả hồn mình vào
giây phút giao mùa xôn xao cả vũ trụ ấy. Có khi giữa nƣớc trong, núi vắng, mây tạnh, gió yên, lặng nhìn một cánh chim âu trắng bay qua, một cội cây lƣa thƣa lá đỏ. Có khi dƣới bóng
đa già, trƣớc cánh cửa chùa đóng im ỉm, nghe một tiếng ve ngân lên mà cảm nhận tứ
42
thu man mác lan tỏa khắp đất trời... Ở đó có thể có ảnh hƣởng của Thiền, của Lão Trang,
nhƣng trƣớc hết có thể thấy nhà thơ rất chú trọng những cảm thức tâm linh không thể soi rọi
bằng ánh sáng của lý tính và diễn giải tƣờng minh bằng lời. Ở đó chỉ có thể mƣợn thi liệu để
chuyển tải những ấn tƣợng đƣợc ghi nhận bằng trực cảm của tâm linh nhiều lúc đã trở thành
nhƣ những ám ảnh nghệ thuật. Điều đó cắt nghĩa vì sao nhà thơ thƣờng thích dùng không
gian mùa thu, núi non tịch mịch, làn nƣớc trong trẻo, ánh mặt trời chiều..., đặc biệt là ánh
trăng, mỗi lần xuất hiện một huyền diệu khác nhau. Đó là những vật thể mang tính âm, thiên
về tĩnh, nhẹ nhàng, điềm đạm, uyển chuyển và tinh tế. Thiên nhiên trong thơ Trần Nhân Tông
thƣờng u nhã, tịch liêu, đôi lúc dƣờng nhƣ man mác buồn nhƣng luôn luôn trong sáng và dạt
dào những cảm xúc bên trong.
Để cảm nghiệm rõ hơn về hồn thơ đặc biệt ấy, thử đến với ba bài thơ của Trần Nhân
Tông - một bài về thiên nhiên, một bài về tình ngƣời và một bài thơ thiền, bộc lộ cái vi diệu
của thế giới bên trong con ngƣời trong giây phút "chứng ngộ".
* XUÂN HIỂU
Thụy khởi khải song phi
Bất tri xuân dĩ quy
Nhất song bạch hồ điệp
Phách phách sấn hoa phi
Dịch nghĩa:
Buổi sáng mùa xuân
Ngủ dậy mở cánh cửa sổ
Không hay mùa xuân đã về
Một đôi bươm bướm trắng
Phất phới bay vào hoa
Dịch thơ:
Ngủ dậy ngỏ song mây
Xuân về vẫn chửa hay
Song song đôi bướm trắng
Phất phới cạnh hoa bay
(Ngô tất Tố dịch)
Bài thơ chỉ ngắn gọn có hai mƣơi chữ. Mở đầu là một hành động giản dị thƣờng ngày:
ngủ dậy mở cánh cửa sổ. Giản dị nhƣng rất gợi, rất thu hút. Ở bên ngoài kia là gì? Ngƣời đọc
háo hức muốn biết cái thế
43
giới vừa đƣợc vén lên ngoài kia cũng nhƣ bên trong tâm hồn tác giả. Câu thơ chỉ chừng ấy
nhƣng tiềm ẩn nhiều liên tƣởng có thể gợi lên trong trí ngƣời đọc. Sau giấc ngủ của một đêm
thƣờng là buổi sáng trong lành mát mẻ, nhất là buổi sáng ở bên ngoài cánh cửa sổ kia - nơi
một khu vƣờn hay một khoảng không thoáng đãng, không phải là không gian tù đọng giữa
bốn bức tƣờng. Và sau giấc ngủ, tâm trí con ngƣời cũng đƣợc lọc sạch tựa nhƣ dòng suối đầu
nguồn, nhẹ nhàng thƣ thái. Cái tâm sạch không đó đang sẵn sàng để chờ đón một ngày mới.
Bình dị mà thu hút lạ lùng là cái giây phút ấy - thiên nhiên, con ngƣời đến với nhau trong cái
trong sáng vô biên của cảnh, của lòng. Câu tiếp theo lại xuất hiện một cái lạ của tứ thơ:
"Không hay xuân đã về". Nghĩa là vào giây phút ấy, giữa không gian, thời tiết ấy, tâm hồn
bình lặng, yên ả kia vẫn chƣa cảm nhận ra bắt đầu có sự thay đổi của mùa. Cho nên một đôi
bƣớm trắng xuất hiện bên hoa mới là một bất ngờ thú vị, một niềm vui khám phá, một chi tiết
sống lung linh. Và bài thơ dừng lại ở cái khoảnh khắc bất chợt đó, nhƣ sự dang dở đầy ý vị
của một bài haiku xứ Phù Tang. Dừng lại nhƣng không đóng lại mà mở ra vô số làn sóng cảm
xúc lan tỏa nơi ngƣời đọc. Bài thơ đƣợc kết thúc bằng một tín hiệu mùa xuân, xác định sự
nhận ra mùa xuân đã về dù nhà thơ không hề phải nói đến điều ấy. Cái thi vị còn ở chỗ gót
chân mùa xuân êm nhẹ quá đến con ngƣời chƣa kịp hay. Mới giây phút trƣớc đó, chúa xuân
tựa hồ còn ẩn mặt mà giờ đây tình xuân dƣờng nhƣ đã mênh mang khắp đất trời... Mùa xuân
mới đến, non trẻ tinh khôi nhƣ hoa trong vƣờn chỉ mới một vài bông hé nụ, mùi hƣơng mong
manh dịu nhẹ chỉ vừa đủ cho một đôi bƣớm trắng hay tin. Nếu hơi xuân đậm đà đến vừa mở
cửa sổ đã cảm nhận đƣợc ngay thì hẳn không thể có hình ảnh một đôi bƣớm trắng phất phới
bên hoa mà thay vào đó sẽ là từng đàn bƣớm rộn rịp... Tinh tế, ý nhị hơn là con ngƣời trong
cảnh. Nếu "ngủ dậy mở cửa sổ, mới hay xuân đã về" thì nhà thơ đã trở thành ngƣời đứng
ngoài quan sát thiên nhiên vạn vật. "Không hay xuân đã về" là con ngƣời đang sống trong
nó, cùng với nó, hồn nhiên không ý thức. Ý vị Thiền của bài thơ đƣợc cảm nhận qua tín hiệu
này - cái "không hay" rất vô ý, giống nhƣ trạng thái "quên" thƣờng bắt gặp trong thơ Huyền
Quang đời Trần.
Mùa xuân không chỉ hiện diện nơi hoa và bƣớm mà cả ở nơi hình ảnh lứa đôi - một
đôi bƣớm bay lƣợn; không chỉ nơi vật thể mà cả nơi hoạt động của nó đƣợc tƣợng hình bằng
từ láy "phách phách". Tất cả gợi lên hƣơng vị của hạnh phúc lứa đôi, sum vầy đầm ấm. Đó
lại là một đôi bƣớm trắng. Nét chấm phá làm sáng lên cảnh sắc buổi sáng mùa
44
xuân và càng gợi cảm giác về mùa xuân mới đến trẻ tƣơi, thanh khiết dịu dàng. Những câu
thơ giản dị, tự nhiên nhƣ nét bút họa sĩ khi có cảm hứng vẽ đi một hơi không ngập ngừng,
cân nhắc, nghĩ suy. Nhƣng toàn bộ chất liệu của tác phẩm lại nhƣ đã đƣợc chọn lọc thật tinh
tế để đạt đến một sự hài hòa từ hình ảnh, màu sắc, đƣờng nét, hoạt động của ngƣời và vật cho
đến cả thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt kiệm lời tối đa.
Bài thơ nhƣ một kiến trúc nhìn bề ngoài là một khối đơn giản nhƣng càng đi vào càng
phát hiện nhiều tầng lớp ý nghĩa, cảm xúc ở cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Cái "thức dậy" ở đầu
bài thơ chỉ mới là thức dậy về sinh lý. Sự bất chợt cảm nhận đƣợc tín hiệu của mùa xuân, cao
hơn, mới là sự thức giấc của tâm hồn, của những rung cảm thẳm sâu hòa hợp với nhạc điệu
yêu đƣơng, giao cảm đang tràn ngập đất trời.
Sự quyến rũ, chất say ngƣời trong Buổi sáng mùa xuân của nhà thơ đời Trần còn ở
vẻ thanh tân lạ thƣờng của nó. Cảnh xuân ở đây không sáo mòn với những sắc màu rực rỡ
của trăm hoa, với chim ríu rít, hƣơng ngạt ngào, hay tâm trạng bồi hồi xao xuyến của ngƣời
trƣớc cảnh. Nó bình dị đến bất ngờ và nhƣ không hề dụng công. Nhà thơ chỉ miêu tả, không
phân tích, lý giải hay bình luận, trữ tình. Mảnh đất dành cho ngƣời đọc tham gia cộng hƣởng
cảm xúc và sáng tạo mở rộng vô giới hạn. Đó là sự tràn đầy của cái "vô ngôn" trong bài thơ
tứ tuyệt nơi nhà thơ có sức sống mãnh liệt đồng thời mang tâm hồn Thiền gia này.
* KHUÊ OÁN
Thụy khởi câu liêm khán trụy hồng
Hoàng l y bất ngữ oán đông phong
Vô đoan lạc nhật tây lâu ngoại
Hoa ảnh chi đầu tận hướng đông
Dịch nghĩa:
Nỗi oán chốn phòng khuê
Ngủ dậy cuốn rèm nhìn xem hoa rụng Chim oanh vàng bặt tiếng hót, oán gió xuân1(1) Không dưng mặt trời lặn ở ngoài lầu tây
Đầu cành bóng hoa hết thảy đều hướng về đông.
Nỗi niềm của ngƣời cung nữ chốn thâm cung từng lay động nhiều tâm hồn thi sĩ, và từ
những ngọn bút tài hoa, tiếng thở than bi thiết ấy đã trở thành những cung điệu bất tử vƣợt
thời gian. Điều đáng ngạc
(1) Nguyên văn “đông phong”, là gió từ hƣớng đông lại, tức gió xuân.
45
nhiên là trong số những tâm hồn thơ giàu trắc ẩn ấy, đã từng có một ông vua. Thử lắng nghe
xúc cảm của Trần Nhân Tông qua bức tranh tâm trạng của một khách phòng khuê trong buổi
chiều xuân muộn ấy.
Mở đầu bài thơ thấy xuất hiện một ngƣời - không qua miêu tả trực tiếp mà qua hành
động - thức dậy, cuốn rèm, xem hoa rụng. Ngƣời ấy, nhân vật trữ tình của bài thơ, tuy không
nói rõ nhƣng ngƣời đọc cũng hiểu, là ngƣời của phòng khuê.
Qua giấc ngủ êm đềm trong khuê các, thức dậy vẫn trong trƣớng gấm màn nhung,
ngƣời khuê phụ có lẽ vẫn chƣa ý thức rõ điều gì về ngoại cảnh và chính mình cho đến khi
cuốn bức rèm lên, một thế giới bên ngoài mở ra, tác động đến giác quan và tâm tƣ. Ngoài
vƣờn hoa thắm đang rơi rụng. Một tín hiệu báo mùa xuân sắp qua đi, đang qua đi. Và không
gian im ắng. Có lẽ khác lạ hẳn với khoảng thời gian trƣớc giấc ngủ của nàng. Nên nàng nhận
ra ngay: không còn tiếng oanh hót. Tiếng hót mừng đón tiết xuân ấm áp tỏa sức sống đến
muôn sinh vật. Nhƣng thái độ của con ngƣời trƣớc sự nhận bắt tín hiệu thứ hai này nhƣ có gì
đó không đƣợc bình thƣờng. Nếu ở câu đầu, "khán trụy hồng" chỉ đơn thuần là một cử chỉ
bình thƣờng chƣa biểu lộ cảm xúc gì (mặc dù cảnh "trụy hồng" cũng đã tiềm ẩn một mầm
mống bất trắc của tâm trạng), thì ở câu hai, tình cảm chủ quan của ngƣời trƣớc cảnh đã bộc lộ
rõ rệt. Tiếng chim ngƣng hót đƣợc nhìn nhận là vì chim oán gió xuân. Bởi gió xuân sao mà
đến rồi đi nhanh quá, vô tình quá! Chỉ trong chớp mắt cảnh tác động tới ngƣời và ngƣời đã
đem sắc màu của lòng mình nhuộm lên cảnh vật. Chỉ mới hai câu và sự việc bày ra nhƣ thể
tình cờ - xúc cảnh sinh tình - nhƣng khó lòng không nhận ra tâm trạng này đã có mầm mông
từ lâu dù con ngƣời không ý thức. Chim oanh là loài vật làm thế nào có đƣợc tình cảm oán
trách? Và gió xuân sao lại là đôi tƣợng oán trách? Rõ là mƣợn cảnh nói lòng. Đi vào câu thơ,
cả chim oanh và gió xuân không còn là thực thể nữa mà đã mang ý nghĩa biểu tƣợng. Gió
xuân trƣớc hết gợi nghĩ đến thời xuân, tuổi trẻ. Và con chim oanh biết oán trách kia còn gì
khác hơn là tâm trạng kinh sợ, đau buồn, oán trách của con ngƣời trƣớc thời gian vùn vụt trôi,
tuổi xuân lạnh lùng qua đi không luyến tiếc. Từ buổi chiều nay, ngƣời đẹp trong phòng khuê
sẽ không còn đƣợc sống trong bình yên vô tƣ nữa. Nàng đang chứng kiến và bắt đầu nhận
thức về sự tàn phai, hiu quạnh khi tiết xuân của đất trời và mùa xuân của đời ngƣời qua đi.
Nhƣng đó là quy luật chung của vạn vật mà không ai đƣợc đứng ngoài thì có gì đâu để là bi
kịch của riêng ai? Có gì đến phải chất chứa niềm oán giận - một tình
46
cảm thƣờng chỉ phát sinh từ những cảnh ngộ bất công? Hẳn còn một cái gì sâu xa hơn đã làm
nên cung bậc tình cảm khác thƣờng này. Cái gì đó đƣợc gợi lên từ mô-típ biểu tƣợng quen
thuộc: đông phong hay đông quân, cũng gọi là chúa xuân, trong thơ xƣa, vẫn đƣợc dùng ám
chỉ vị chúa tể tối cao đầy quyền lực đối với con ngƣời: nhà vua, thiên tử. Câu thơ hé mở thêm
một tầng ý nghĩa. Hoa xuân nào rồi cũng tàn phai đó là một quy luật. Nhƣng hoa xuân tàn
phai trong phí hoài mà không đƣợc biết đến lại là bất công của cuộc sống, và đó mới thật sự
là một bi kịch, một nỗi đau, niềm oán vô biên. Nào phải chỉ là tâm trạng thƣơng tiếc tuổi
xuân hay mong nhớ chồng của một ngƣời khuê phụ nào đó, mà nỗi niềm "khuê oán" ở đây
hẳn phải là "cung oán"! Những hình ảnh tiếp theo sẽ xác minh thêm điều đó. Không dƣng
mặt trời lặn ngoài lầu tây trong khi bóng hoa đầu cành tất cả đều hƣớng về đông! Một tứ thơ
khá mới mẻ bất ngờ. Trƣớc hết đây là một nét tả thực chân xác. Mặt trời lặn về phía tây là
quy luật khách quan, muôn đời nó cứ diễn biến nhƣ thế, không cần một nguyên cớ, chẳng tại
một lý do nào. Ngày tháng cứ lạnh lùng trôi đi. Nhƣ mặt trời cứ xế dần về tây một cách rất
đỗi vô tình. Trong khi con ngƣời - những ngƣời con gái đang xuân kia - vẫn chứa chan sức
sống và hết lòng khao khát sống, khao khát vƣơn tới hạnh phúc, không hề hay biết mình đang
rơi vào bi kịch của kiếp ngƣời ngắn ngủi không loại trừ một ai. Sự lạc lõng, chia lìa bày ra
giữa hai câu thơ cuối nhƣ gợi lên nỗi cô đơn thăm thẳm của con ngƣời trong dòng chảy của
thời gian bất tận và sự nghịch lý nghiệt ngã giữa lòng ham sống thiết tha muôn thuở với sự
hữu hạn của đời ngƣời. Nhƣng "nỗi oán của khách phòng khuê" phải đâu chỉ có nỗi buồn
nhân thế rất chung ấy mà hẳn phải còn những ẩn tình sâu kín khác nữa kia. "Vô đoan" miêu
tả trạng thái tự nhiên, khách quan của sự vật. Thế nhƣng ở lớp nghĩa tàng ẩn của câu thơ - nối
tiếp mạch nghĩa tàng ẩn của câu hai - thì nó là hai từ cốt tủy định hƣớng cho cả bài thơ. Nó
ứng hợp với nỗi "oán" ở trên, nặng chứa một lời trách móc. "Không dưng" - cái mặt trời lặn ở
ngoài lầu tây kia sao mà hờ hững, vô tâm đến vậy! Giống nhƣ đấng quân vƣơng chói ngời
sức thu hút nhƣng cũng rất đỗi vô tình! Lầu tây là ở đâu, biểu tƣợng cho cái gì, điều này khó
xác định rõ. Ý thơ có thể là nhà vua vừa khuất núi, có thể là nhà vua nhƣờng ngôi đi ẩn dật,
nhƣng cũng có khả năng là cái sự thƣờng tình - nhà vua riêng mê đắm một hậu cung nào đó.
Trong khi bao ngƣời đẹp khác trong cung nào hay biết vẫn cứ nhƣ hoa một mực ngóng trông
về hƣớng mặt trời, mỏi mòn chờ đợi quân ân. Tài tình là từ một hình ảnh hiện thực nắng xế
rọi
47
bóng hoa trong vƣờn, đã gợi liên tƣởng đến tình cảnh những bông hoa biết nói nơi cung cấm
để rồi tạo thành một tứ thơ độc đáo. Đối lập với "vô đoan " đầy hờ hững là "tận " mới chí
thiết làm sao, mà cũng hàm ý trách móc xót xa day dứt làm sao! Chỉ một từ nhƣng nặng chứa
cả tấm lòng trắc ẩn của nhà thơ.
Trên cái nền tả cảnh, tả sự, cái tình của ngƣời trong cảnh bộc lộ dạt dào, mãnh liệt qua
những từ ngữ thật tiết kiệm nhƣng sắc sảo và có sức gợi: oán - vô đoan - tận. Chúng nối kết
thành một hệ thống chặt chẽ biểu thị mạch tình cảm đƣợc thể hiện rất logic: Tên gọi tình cảm:
"oán". Nguyên do: khách thể vô tình - "vô đoan"; chủ thể chí thiết -"tận". Hệ thống hình ảnh
còn gợi cảm mạnh ở sự cách biệt, không bắt kịp nhau, để lỡ nhau: mùa xuân đã tàn, hoa đã
rời, chim thôi hót, gió bặt tăm, mặt trời lặn về tây, bóng hoa ngóng về đông vô vọng. Toàn bộ
gợi lên cảm giác về một sự muộn màng, dang dở, lỡ làng, không hòa đôi, không ăn nhịp...
Nhƣng có lẽ điều đọng lại sâu sắc nhất nơi ngƣời đọc sau khi đọc bài thơ vẫn là tấm
lòng của tác giả - một ông vua. Từ một buổi chiều bắt gặp hình ảnh một cung nữ vén rèm
ngắm xuân muộn rồi liên tƣởng đến số phận những ngƣời phụ nữ chốn cung son, hay từ một
hoàn cảnh nào khác, chúng ta không thể biết đích xác. Chỉ biết niềm cảm thông tinh tế và tấm
lòng nhân hậu với con ngƣời của nhà thơ từ một vị trí đứng trên tột đỉnh thật đáng để đời sau
nghiêng mình tâm lĩnh một bài học tình ngƣời sâu xa.
Và khép bài thơ lại, ngƣời đọc thật khó quên chuỗi hình ảnh đƣợc dùng làm chất liệu
thật đắc địa đã vẽ nên bức tranh tâm trạng của một con ngƣời, qua đó là nỗi niềm day dứt
muôn thuở của nhân loại về những phạm trù hữu hạn và vô hạn. Để từ đó dƣ vị bài thơ man
mác một nỗi buồn triết học thấm đẫm chất nhân văn còn mãi với thời gian.
* NGUYỆT
Bán song đăng ảnh, mãn sàng thư
Lộ trích thu đình, dạ khí hư
Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ
Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ
Dịch nghĩa:
Trăng
Nửa khung cửa sổ ánh đèn, đầy giƣờng sách
Móc rơi trên sân mùa thu, hơi đêm trống không
48
Thức giấc tiếng chày (đập vải) không còn nghe thấy
Trên hoa mộc tê, ánh trăng mới đến.
Mở đầu là quang cảnh tĩnh lặng - nửa khung cửa sổ ánh đèn đầy giƣờng sách. Thời
gian là đêm khuya, vắng vẻ đến nghe tiếng sƣơng đêm rơi trên sân, hơi đêm trống không
càng làm tăng cái mênh mông bát ngát của không gian. Hơi đêm tại sao lại đƣợc miêu tả là
"trống không" thay vì "lạnh lẽo", "mát mẻ" hay "trong trẻo"? "Hƣ" là tính từ biểu thị tính chất
chiều kích của không gian, không phải biểu thị sắc thái của đêm. Nhƣng ở đây, chính cái hƣ
không gợi lên sự trong trẻo và mát mẻ, bình lặng tự nhiên nhƣ đất trời xƣa nay - sự bình lặng
trống không của cội nguồn vũ trụ, là một không - thời gian rất phù hợp cho việc thanh lọc
tâm tƣ để tiến gần đến giác ngộ - hội nhập cái hồn nhiên trong trẻo của tâm hồn mình vào cái
hồn nhiên trong trẻo của vũ trụ. Nếu dùng "hàn" hay "lƣơng" hay "thanh" thì vẫn chƣa lột tả
đƣợc hết thần thái của đêm. Cái mát mẻ vẫn là cái mát mẻ có giới hạn, cái trong trẻo vẫn là
cái trong trẻo có giớn hạn - giới hạn ở chỗ ngƣời ta cảm nhận đƣợc nó ngay bằng giác quan
và nghĩa là chỉ có thế, vẫn còn một cái màn che ngăn cách tâm và cảnh, là chƣa đạt tới đƣợc
giây phút vi diệu mà sự cảm nhận cảnh đêm không phải thực hiện bởi giác quan bến ngoài.
Thức dậy tiếng chày đập vải không còn nghe thấy. Cái chợt tỉnh ở đây không phải vì
tiếng ồn đánh thức mà là cái tỉnh giấc tự nhiên có thể do sự trong trẻo thanh khiết của đêm,
của vạn vật đánh thức tâm hồn. Đây là giây phút để những cái "vô thƣờng" lùi sang một thế
giới khác không còn khuấy rộn tâm tƣ, chân lý hằng thƣờng hiện ra lồ lộ giản dị nhƣ vầng
trăng mới đến trên đầu hoa mộc tê nơi một tâm hồn đang khai mở trọn vẹn. Thì đấy vẫn là
vầng trăng đêm đêm thƣờng thấy, khóm hoa ngày ngày thƣờng thấy, cảnh rất bình thƣờng
nhƣng hiện giờ bỗng bừng lên ánh sáng huyền diệu của tâm thức giác ngộ. Có sự gắn bó và
thừa tiếp chặt chẽ giữa hai câu 3 và 4: "thụy khởi" -"nguyệt lai sơ" (thức giấc - trăng vừa
đến). Trăng mới lên giống nhƣ tâm hồn thanh khiết của ngƣời vừa thức giấc giữa đêm thu
trong mát. Khi "bụi trần" không còn che lấp giác quan ("châm thanh vô mịch xứ") thì trăng
trên hoa mộc tê mới tỏa sáng - ánh sáng của tâm hồn mới xuất hiện, nhƣ câu thơ quen thuộc
"Tâm địa nhƣợc không, tuệ nhật tự chiếu".
Thơ Trần Nhân Tông thƣờng đi theo dòng chuyển động của thời gian không phải là sự
chụp ảnh ngoại vật tại một thời điểm nhất định.
49
Đêm bắt đầu xuất hiện với ánh sáng hiu hắt của ngọn đèn bên cửa sổ và ánh sáng thế tục này
lùi dần để nhƣờng chỗ cho ánh trăng huyền diệu giữa đêm. Ánh trăng ở đây vừa hiện thực
vừa biểu tƣợng. Nó xuất hiện khi khung cảnh của một thế giới vật chất có ánh đèn, sách vở
tiếng chày... lùi khỏi tầm nhìn của một đôi mắt hồn nhiên chợt thức nửa đêm. Có một bƣớc
chuyển từ không gian hiện thực sang một không gian huyền ảo không phân định rõ hƣ hay
thực, hay nói cách khác từ không gian của thực tại vật chất sang không gian của thực tại tâm
linh. Không gian này không xác định bến bờ, mênh mông nhƣ bất chợt bắt gặp và sống trong
nó mà không biết ở đâu. Không có tín hiệu nào cho biết đây là cung điện hay núi rừng, chỉ có
ánh trăng trên hoa chiếm lĩnh tất cả - ngoại vật và tâm hồn. Thời gian cũng không xác định:
lúc thức giấc - Có lẽ nửa đêm? Cũng không rõ lắm là canh mấy? Chỉ thấy trăng đang sáng
nhƣ một thực tại hiện tiền - một khoảnh khắc hé lộ ra cái vĩnh cửu.
Sự đối lập biện chứng cũng thể hiện khá tinh tế trong bài thơ. Đêm càng thật trống
vắng, yên tĩnh, càng nghe rõ tiếng động rất khẽ của hạt sƣơng rơi trên sân. Và nhờ nghe đƣợc
tiếng động mỏng manh này mới biết rằng đêm cực tĩnh. Cái động nhờ tĩnh mà phát sinh. Cái
tĩnh nhờ động mà hiện hữu. Cũng vậy, khi thức giấc, giữa đêm thật yên tĩnh mới chợt hay
rằng tiếng chày đã lặng, có nghĩa là trƣớc đó có âm thanh tiếng chày. Nó hiện hữu từ lâu
nhƣng có lẽ vì nó đều đặn quá nên ngƣời ta không để ý rằng có nó. Cái động đã nhờ tĩnh mà
đƣợc phát hiện, cái tĩnh cũng nhờ động mà đƣợc phát hiện. Và hình ảnh cuối bài -ánh trăng
rọi sáng trên hoa. Cái khoảnh khắc ánh sáng diệu kỳ bừng chiếu giữa tâm linh vừa tĩnh lặng
vô bờ mà cũng vừa chấn động cả vũ trụ - cái động lớn lao không âm thanh chỉ ngƣời trong
cuộc mới nghe thấy. Động và tĩnh đã hòa nhập làm một, cái này cũng là cái kia, không còn
phân biệt.
Đây có lẽ là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất cho phong cách thiền bởi giọng
miêu tả bình đạm. Chỉ tả thực, không bình luận, không triết lý, không bày tỏ cảm xúc. Không
một từ ngữ nào biểu thị cái chủ quan của tác giả. Nó đã đạt tới tinh thần "vô ngôn" khi biểu
hiện cái "nhƣ thị", mặc dù vẫn phải tạm mƣợn phƣơng tiện của một bài tứ tuyệt nhƣ là "ngón
tay để chỉ mặt trăng".
Nhìn lại bài thơ với con mắt thế tục của một ngƣời thƣởng thức bình thƣờng, cũng có
thể cảm nhận đƣợc đúng cái thần thái của bài thơ. Không gian rất tĩnh lặng, trong nhẹ. Tâm
hồn con ngƣời cũng trong
50
lặng, sách đầy giƣờng nhƣng không đọc, ánh đèn bên song cửa sổ bị bỏ quên. Không chỉ
không gian tĩnh lặng mà lòng ngƣời cung tĩnh lặng mới nghe thấy đƣợc hạt sƣơng rơi. Trong
cái trƣờng giao cam vô biên giữa chủ thể và khách thể, tất cả nhƣ tan hòa trong ánh trăng. Cái
trong sáng, thuần khiết của ánh trăng mới lên là cái trong sáng, thuần khiết của mọi vật và
của tâm hồn ngƣời. Phút giây ấy, con ngƣời quên bỏ việc đời, công danh, địa vị, chỉ có cái
tâm của chính mình cùng vạn vật bình đẳng, chan hòa... Dƣ âm sau cùng để lại là một sự thƣ
thái tuyệt diệu của tâm hồn đang sống trọn vẹn.
Nguyệt vừa là một bài thơ miêu tả thiên nhiên tân kỳ, vừa là một bài thơ thiền ý vị.
Rất thơ và cũng rất thiền. Chất thiền và chất thơ đã hòa lẫn không tách biệt, cũng giống nhƣ
thiền là sống, ăn uống, hít thở, đi lại, làm việc hay thƣởng thức cái đẹp. Chính lẽ đó đã làm
cho Nguyệt trở thành một bài thơ thiền đặc trƣng.
5. Huyền Quang với tâm hồn nghệ sĩ chan chứa tình đời.
Một hiện tƣợng khá đặc biệt trong làng thơ thiền thời Trần là thiền sƣ - nghệ sĩ Huyền
Quang. Khác với ý vị tiêu dao tự tại "phóng cuồng" của Tuệ Trung ít nhiều mang ý vị triết
học, thi hứng của Huyền Quang ký thác nơi cuộc sống hiện thực quanh mình, đặc biệt là thiên
nhiên nơi nhà thơ sống và đặt bƣớc ngao du đến. Cảnh thiên nhiên trong thơ Huyền Quang
bình dị đơn sơ nhƣng để lại ấn tƣợng sâu sắc khó quên bởi đƣợc lọc qua tâm hồn nghệ sĩ
nhạy bén và giàu rung cảm. Một cảnh rất bình thƣờng nơi thôn dã là đi thuyền trên sông nƣớc
đã đƣợc ghi lại bằng bài thơ tứ tuyệt ý vị:
"Nhất diệp biển chu hồ hải khách,
Xanh xuất vi hàng phong thích thích.
Vi mang tứ cố vãn triều sinh,
Giang thủy liến thiên nhất âu bạch"
(Chu trung)
(Một lá thuyền con, một khách hải hồ,
Chèo khỏi hàng lau, tiếng gió xào xạc.
Bốn bề mịt mù, con nƣớc buổi chiều đang lên,
Một cánh chim âu trắng giữa khoảng nƣớc trời liền nhau)
(Trong thuyền)
Ấn tƣợng bài thơ để lại là sự tƣơng phản giữa cái một bé nhỏ (một lá thuyền con, một
khách hải hồ, một cánh chim âu trắng) và cái
51
mênh mông vô hạn của nƣớc liền trời, của gió chiều xạc xào bất tận. Cánh chim âu trắng nổi
bật giữa trời nƣớc xanh bát ngát ở cuối bài thơ để ngỏ một trƣờng liên tƣởng thú vị. Ở bài
Phiếm chu, cảnh thiên nhiên càng hữu tình bởi ngƣời đọc cảm nhận đƣợc cả tâm hồn ngƣời
trên thuyền chơi vơi cùng sóng nƣớc, man mác cùng hơi thu, hòa âm trong tiếng sáo thuyền
câu và mênh mang cùng lòng sông tràn ngập ánh trăng. Đó là một sự buông thả hết mình,
trọn vẹn:
"Thủy đỉnh thừa phong phiếm diễu mang,
Sơn thanh thủy lục hƣu thu quang.
Sổ thanh ngƣ địch lô hoa ngoại,
Nguyệt lạc ba tâm giang mãn sƣơng".
(Lƣớt gió thuyền con ruổi tít mù,
Non xanh nƣớc biếc, ánh trời thu,
Khuất lau sáo nổi vài ba tiếng, Sƣơng phủ, trăng chìm dƣới sóng sâu(1))
Thơ thiên nhiên của Huyền Quang trao gửi cho ngƣời đời sau chiếc chìa khóa để mở
vào thế giới sáng tạo không giới hạn. Đó là không đứng ngoài quan sát mà hòa nhập tâm vào
cảnh để cảm nhận đƣợc hết cái huyền diệu của thiên nhiên. Hãy nghe nhà thơ cƣời ngƣời
không biết thƣởng thức vẻ đẹp của hoa:
"Kham tiếu bất minh hoa diệu xứ,
Mãn đầu tùy đáo tháp quy lai"
(Cúc hoa, IV)
(Thật đáng cƣời kẻ không hiểu chỗ huyền diệu của hoa,
Đến đâu là hái hoa giắt đầy đầu mà về)
Những ngƣời ấy không biết rằng hoa chỉ có "thần" khi nó còn ở trên cành, lúc đó, hoa
đầy sức sống, lung linh, kỳ diệu, nhƣ nói, nhƣ cƣời. Thấy hoa đẹp bẻ về để riêng mình sở hữu
thì lúc ấy sẽ chỉ chiếm giữ đƣợc một vật vô tri mà thôi. Con mắt thiền đã giúp nhà thơ khám
phá ra đƣợc những lý lẽ vi diệu của sƣ vật. Trƣớc hết, cái đẹp tự nhiên (hoa) cũng nhƣ cái đẹp
do con ngƣời sáng tạo (thơ ca, nghệ thuật) không bao giờ là sở hữu của riêng ai. Kẻ nào càng
có tham vọng chiếm hữu, độc quyền cái đẹp, sẽ càng không bao giờ chạm tới đƣợc nó. Mặt
khác, để sáng tạo thiên nhiên có hồn mà chỉ đứng ngoài quan sát thì có khác nào bẻ cành hoa
cúc đem về cắm vào bình để nhìn ngắm. Chỉ vẽ đƣợc xác chứ không vẽ đƣợc hồn. Vì làm thế
nào có thể "thấy" đƣợc
(1) Bản dịch của Huệ Chi.
52
thần thái của hoa cúc? Phải hòa nhập trọn vẹn, hết mình cùng thiên nhiên mới có thể vƣợt qua
những hữu hạn của giác quan để cảm nhận đƣợc những sắc màu, âm thanh vi diệu mà thiên
nhiên hào phóng sẵn dành. Vì có thể buông thả để xóa bỏ ranh giới giữa ta và vật nên nhà thơ
đã có đƣợc những phút giây thể nhập vào cõi sống vô thủy vô chung của đất trời, vƣợt khỏi
dòng chảy của thời gian hữu hạn. Đó là những giây phút "quên", để sự hữu hạn của tƣ duy lý
tính đƣợc thay bằng ánh sáng sâu thẳm huyền điệu của tâm linh. Ngƣời đọc thƣờng gặp trong
thơ Huyền Quang những giây phút "quên" đó. Có khi nhà thơ trực tiếp nhắc đến nó:
"Vong thân, vong thế, dĩ đô vong,
Tọa cửu tiêu nhiên nhất tháp lƣơng".
(Cúc hoa, III)
(Quên mình, quên đời, đã quên tất cả,
Ngồi lâu trong hiu hắt, mát lạnh cả giƣờng)
Hay:
"Hoa tại trung đình, nhân tại lâu,
Phần hƣơng độc tọa tự vong ƣu".
(Cúc hoa, V)
(Hoa ở dƣới sân, ngƣời ở trên lầu,
Đốt hƣơng ngồi một mình, tự nhiên quên hết phiền muộn)
Nhƣng cũng có khi nơi "gian nhà đá, hòa lẫn cùng mây... sƣ ở trên giƣờng thiền, kinh ở trên án"(1) không còn để ý thời gian, đến khi chợt nhớ ra thì "lò tàn, củi lụi, mặt trời lên đã ba cây sào"(1). Có khi "một tấm lòng đã lặng" nên không biết "tiếng dế vì ai mà cứ nỉ non mãi"(2).
Trong số đó, có lẽ Tảo thu (Thu sớm) là bài thơ đáng để ý nhất:
"Dạ khí phân lƣơng nhập họa bình,
Tiêu tiêu đình thụ báo thu thanh.
Trúc đƣờng vong thích hƣơng sơ tận,
Nhất nhất tùng chi võng nguyệt minh"
(Hơi đêm tỏa mát vào bức bình phong vẽ,
Cây trƣớc sân xào xạc báo tiếng thu.
Dƣới mái tranh quên bẵng nén hƣơng vừa tắt,
Mấy khóm cây cành giăng lƣới vầng trăng sáng).
(1) Thạch thất - Huyền Quang - Sđd. (2) Sơn vũ - Huyền Quang - Sđd.
53
Trong bài thơ, hơi đêm mát lạnh, tiếng cây xào xạc báo âm thanh mùa thu, nén hƣơng
đang thắp là những yếu tố thƣớc đo của thời gian minh chứng sự hiện diện của thời gian hiện
thực. Nén hƣơng vừa tắt là một khắc thời gian nào đó vừa đi qua. Nếu hơi đêm lạnh, tiếng
cây lá thu nhắc nhở mọi ngƣời về sự hiện diện của thời gian đang trôi đi không ngừng, thì
trạng thái quên bẵng nén hƣơng vừa tắt bởi một sự hòa nhập trọn vẹn giữa tâm hồn ngƣời với
ánh trăng sáng tràn ngập cỏ cây cho thấy có một thời gian thƣờng tại, không trôi đi, một
khoảnh khắc cũng là mãi mãi. Thời gian hằng thƣờng ấy xuất hiện khi tâm con ngƣời hòa
nhập cùng "đại ngã". Lúc ấy sự lƣu chuyển của thời gian hiện thực dƣờng nhƣ trở nên không
có thực nữa mà chỉ cái khoảnh khắc hằng thƣờng kia mới là thực tại đích thực. Và lúc ấy cả
thế giới hiện thực giống nhƣ một bức màn giả tạo đƣợc vén lên để lộ chân lý tuyệt đối.
Giây phút quên đó của nhà thiền cũng chính là giây phút xuất thần của nhà thơ, vì
theo Nghiêm Vũ đời Tống, ngƣời chủ trƣơng lây Thiền để xét thơ vì giữa hai bên có chỗ
đồng điệu đặc biệt, thì "đạo Thiền cốt ở chỗ "diệu ngộ", đạo của thơ cũng cốt ở chỗ "diệu
ngộ"", và "thơ có thú riêng, không liên quan đến lý", thơ hay là "đạt đến chỗ kỳ diệu, thấu
triệt lung linh, không thể nắm bắt, nhƣ âm thanh trong không trung, sắc đẹp trên nét mặt, ánh trăng dƣới đáy nƣớc, hình ảnh ở trong gƣơng, lời có lúc hết mà ý vô cùng…”(1). Điều này cho
thấy không có sự mâu thuẫn giữa Thiền gia và nghệ sĩ xét về mặt cảm thức, và Huyền Quang
là một trƣờng hợp tiêu biểu cho sự hài hòa đó, đƣa Thiền vào hồn thơ, để cho thiền thấm đẫm
chất thơ, chan hòa cùng thế tục, nhƣ một ứng dụng nhuần nhuyễn từ quan điểm của Tuệ Trung trƣớc đó: "Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền; Trong lửa lò hồng một đoa sen”(2). Huyền
Quang trƣớc khi là thiền sƣ vẫn là một con ngƣời, hơn nữa một con ngƣời đƣợc phú bẩm tố
chất nghệ sĩ. Nên cốt cách nghệ sĩ thiên phú ấy gặp gỡ với Thiền học sau này nơi Huyền
Quang đã tạo nên một thiền sƣ - nghệ sĩ hiếm gặp trong văn học trung đại, ngƣời đã đƣa thiền
vào thơ và đƣa thơ thiền vào thế tục. Huyền Quang là vị tổ thứ ba của phái Thiền Trúc Lâm
Đại Việt khai sáng ở đời Trần và cũng có thể nói là vị tổ sau cùng khép lại phái Thiền danh
tiếng lừng lẫy một thời ấy. Sau ông Thiền Trúc Lâm không còn đƣợc nghe nhắc đến nữa.
Phải
(1)Từ điển văn học, Bộ mới, NXB Thế giới mới, 2004. (2) Phật tâm ca - Tuệ Trung - Sđd.
54
chăng có thể giải thích điều này từ hai lý do: Thứ nhất, tính chất nghệ sĩ của Huyền Quang
không thích hợp với chức trách của một vị giáo chủ ít nhiều phải bị ràng buộc trong việc tổ
chức môn phái, xiển dƣơng đạo pháp, trƣớc thuật sách vở, mà ngƣời tiền nhiệm của ông là
thiền sƣ Pháp Loa đã đảm nhiệm khá trọn vẹn. Bằng chứng là Huyền Quang đã từng bộc lộ
tâm sự:
"Đức bạc thƣờng tàm kế tổ đăng,
Không giao Hàn, Thập khởi oan tăng.
Tranh nhƣ trục bạn quy sơn khứ,
Điệp chƣớng trùng sơn vạn vạn tằng".
(Nhân sự đề Cứu Lan tự)
(Thƣờng thẹn mình đức mỏng mà đƣợc nối ngọn đèn tổ,
Luống để cho Hàn Sơn và Thập Đắc (hai vị cao tăng đời Đƣờng) phải sinh
niềm oán giận.
Sao bằng theo bạn về núi,
Sống giữa vạn tầng núi non trùng điệp).
(Nhân có việc, đề thơ ở chùa Cứu Lan)
Thứ hai, có thể Huyền Quang đã đi đến tận cùng tôn chỉ của Thiền nói chung và thiền
Trúc Lâm nói riêng bằng cách dùng "vô tự chân kinh" thay cho truyền đạo, giảng pháp, tức
để thiền hòa vào đời sống một cách tự nhiên, nhƣ ngƣời ta cần phải hít thở, ăn uống, đi lại...
Nhƣng dù là giải thích theo cách nào, vẫn không thể phủ nhận thơ thiền đến Huyền
Quang đã đạt tới chỗ vi diệu của ranh giới gặp gỡ giữa thiền và thơ. Ở đó, con ngƣời - thiền
sƣ đứng ngoài sự trói buộc của những thịnh suy, đƣợc mất, nhƣng vẫn để trái tim nhà thơ của
mình rung theo những nỗi niềm nhân thế.
6. Trần Quang Triều với cảm hứng sông hồ và những trầm tƣ trƣớc cuộc
đời.
Thơ thời Trần đƣợc xem là phóng khoáng, giàu ý vị và đậm đà chất nhân văn. Trong
thế giới thơ đó, nổi bật lên một hồn thơ đặc biệt nhạy cảm và tinh tế, một hứng thơ lạ, vừa
nồng hậu dạt dào, vừa đạm bạc tiêu sái, tài hoa phóng khoáng mà cũng lặng lẽ trầm tƣ trƣớc
cuộc đời. Trần Quang Triều, nhà thơ đƣợc xem nhƣ gạch nối giữa thịnh Trần và vãn Trần với
tiếng nói riêng của mình đã góp vào nền thơ Trung đại Việt Nam những nét độc đáo không
thể lẫn.
55
Tác phẩm Trần Quang Triều còn lại đến nay không nhiều chỉ vỏn vẹn 11 bài thơ
nhƣng đã định hình nên một phong cách. Thời của ông (cuối thế kỷ XIII - đầu thế kỷ XIV),
Nho đang thắng Thiền, xã hội đang thịnh trị, nhƣng đã bắt đầu manh nha mầm mống của sự
suy yếu và loạn lạc. Trần Quang Triều là một trí thức Nho học, nhƣng tƣ tƣởng vẫn mang gốc
rễ của Thiền đạo đã hơn ba thế kỷ thấm sâu vào văn hóa dân tộc, vừa mang lý tƣởng trung
quân ái quốc, trách nhiệm công dân của kẻ làm trai trên con đƣờng hành động, lại vừa sớm
chán ngán và khinh bạc chốn quan trƣờng giả dối, đầy cảnh tranh dành đoạt lợi. Thơ ông thể
hiện rõ những khắc khoải trong tâm tƣ và nổi bật hơn cả là sự mẫn cảm đặc biệt trƣớc thiên
nhiên và cuộc sống, sự mẫn cảm đã tạo nên cả một thế giới nghệ thuật tinh tế và đầy sức rung
động.
Thơ Trần Quang Triều không ít lần đƣợc sáng tác khi đang đi thuyền. Thế giới của
nhà thơ là thế giới của mênh mông sông nƣớc, biển, hồ - "Gió nhẹ miền sông hồ thật hợp với lòng ngƣời"(1). Hình ảnh sóng nƣớc hùng vĩ và âm thanh mái chèo khua nƣớc thƣờng tạo nên
nơi nhà thơ sự hƣng phân đặc biệt:
"Đồn lãng xuy triều thƣớng bích than
Lỗ thanh di nhập bích vân hàn"
(Điếu tẩu)
(Sóng cá đồn đẩy nƣớc triều lên dòng thác biếc
Tiếng mái chèo đƣa hơi lạnh vào mây xanh)
(Ông già câu cá)
Trên thuyền giữa sông hay giữa biển, nhƣ rồng gặp nƣớc, hứng thơ tuôn chảy dạt dào
tạo nên những hình ảnh thơ tân kỳ đột xuất mà hầu nhƣ chẳng dụng công. Nhà thơ luôn phát
hiện ra sự tƣơng tác và hài hòa của cảnh vật, yếu tố làm nên sức sống độc đáo của thiên
nhiên. Đi thuyền về một buổi chiều, nghe đâu đó tiếng chim kêu khuất trong đám cây lồng
khói, cảm thấy cánh buồm mang theo cả bóng chiều đi. Nhìn dáng núi cao và nghe hơi thu
lạnh, tƣởng tƣợng nhƣ hơi thu đang đẽo gầy dáng núi. Còn nƣớc triều dâng đầy trên sông lại nhƣ là mở ra một tấm gƣơng sáng bao la(2). Sự cảm nhận càng tinh tế hơn khi nhà thơ tƣởng
nhƣ làn khói thuyền chài chặn ngang bến làm giảm nhẹ đi âm hƣởng tiếng chuông ngân và bọt sóng mái chèo tung vỡ ghềnh nƣớc càng làm hơi đêm lạnh thấm không gian(3). Có khi
những hạt mƣa rơi
(1) Quá An Long - Trần Quang Triều - Sđd. (2) Ý thơ Quy chu tức sự - Trần Quang Triều - Sđd. (3) Ý thơ Quá An Long - Trần Quang Triều - Sđd.
56
thƣa nhặt không đều trên mui thuyền lại gợi liên tƣởng đến tình ngƣời lúc thân lúc sơ thay đổi, nƣớc triều vỗ vào bờ khi mạnh khi yếu gợi nhớ thói đời lúc thấp lúc cao(1).
Cảnh vật hiện ra trong mắt Trần Quang Triều thƣờng trong sáng. Dù có buồn, cũng là
một nét buồn nhẹ nhàng thanh thoát, man mác giữa không gian và mang một chiều sâu ý vị
gợi trực cảm sâu xa nơi ngƣời đọc mà không cần nhiều lời. Cảnh buồn nhƣng lúc nào cũng
đẹp vẻ hài hòa tự nhiên, nhuần nhị. Nếu dáng núi cao gầy trong hơi thu lạnh gợi lên một vẻ
trầm mặc quạnh hiu thì cạnh đó là tấm gƣơng sáng của nƣớc triều mênh mông thật bao la
khoáng đạt, và cảnh vật sống động hẳn lên, lộng lẫy hẳn lên khi mùa thu đã thông báo sự có mặt của nó qua màu lá đỏ rợp đầy khu vực ven sông(2). Khi con ngƣời có tâm trạng vui thì cỏ
hoa càng sinh động, duyên dáng, tinh nghịch nhƣ có mắt cƣời, tay vẫy. Đi thuyền về kinh,
nhà thơ để ý nghe cả tiếng gà gáy, chó sủa, nhìn thấy chim én biển chao lƣợn nhƣ giỡn bóng
dƣới mặt nƣớc buổi chiều, còn hoa bên sông thì nƣơng làn gió mà hƣớng theo ngƣời nhƣ
quyến luyến, lúa chín liền chân mây, tằm căng đầy nhựa sống... Cảnh vật hữu tình làm ngƣời thơ đa cảm cứ loanh quanh mãi trọn mƣời ngày chƣa về tới kinh đô(3).
Nhƣng phần nhiều thế giới sông nƣớc trong thơ Trần Quang Triều thƣờng gợi cảm
giác lạnh và buồn. Ánh trăng sáng trong đêm thăm thẳm rọi xuống mặt đầm lạnh nhƣ một mảnh lòng(4). "Nhất phiến tâm" ấy thật trong sáng nhƣng giá lạnh và cô đơn. Đây không chỉ
là nỗi cô đơn của riêng ngƣời đến thăm Phúc Thành từ đƣờng mà nó nhƣ tinh kết cái u tứ của
bao thế hệ tiền nhân đã khuất bóng. Tất cả gửi gắm trong một mảnh trăng sáng lặng lẽ nhƣ
tấm lòng trong sáng của ngƣời xƣa trao truyền đến thế hệ đi sau. Sự tƣơng cảm giữa xƣa - sau
đƣợc bộc lộ thật kín đáo, ý nhị, không bằng lời mà chỉ bằng hình ảnh - những giọt lệ mƣa
đọng trên hoa buổi tối nay, mảnh trăng sáng dƣới đầm tự ngàn xƣa và chim hạc trong cây
tùng từng nghe cung đàn ngày trƣớc, nhƣ một chứng nhân nối liền lịch sử. Tình ý, tâm hồn
ngƣời xƣa còn mãi giữa trăng nƣớc, cỏ hoa nhƣng bóng dáng ngƣời xƣa thì đã mông lung
giữa "hải khoát thiên cao" không còn tìm thấy. Tình cảm hoài cổ đã làm tăng nỗi cô đơn của
ngƣời viếng cảnh. Nỗi cô đơn càng đậm nét
(1) Ý thơ Chu trung độc chước - Trần Quang Triều - Sđd. (2) Ý thơ Quy chu tức sư - Trần Quang Triều - Sđd. (3) Ý thơ Giang thôn tức sự - Trần Quang Triều - Sđd. (4)
Ý thơ đề Phúc Thành từ đường - Trần Quang Triều - Sđd.
57
hơn khi nhà thơ ngồi thuyền một mình vào ngày thu hiu quạnh nơi miền biển xa xăm xa cách
gia đình, thƣ nhà không tới đƣợc. Không gian thật vắng lặng, chỉ có mƣa rơi và sóng biển, và
những giọt mƣa trên mui thuyền, những con sóng vỗ vào bờ bỗng mang đến cho đôi mắt
quan sát đầy trầm tƣ và trải nghiệm cuộc đời đó những liên tƣởng, phát hiện thật mới mẻ, ý vị
về thói đời, tình ngƣời. Để rồi những buồn vui của bản thân - buồn vì tùng cúc tri âm đã xa
cách, vui vì vẫn còn bạn sách đàn hợp điệu - bao nỗi niềm chồng chất trong lòng chỉ biết gửi vào chén rƣợu để giải khuây(1)...
Không chỉ có cảm hứng khi ngồi thuyền trên sông, ngay cả khi đi đƣờng bộ ngắm
cảnh vật, con mắt Trần Quang Triều cũng không bỏ qua hình ảnh một cánh buồm đang lƣớt ngoài mƣa thu - "Khách phàm thu vũ ngoại"(2) - Bức tranh đơn sơ mà gợi cảm bởi sự hài hòa
tuyệt mỹ giữa thiên nhiên và con ngƣời. Mƣa thu lất phất làm cho cảnh vật trông xa trở nên
mờ ảo, cánh buồm khách nhƣ ẩn nhƣ hiện giữa trời nƣớc không bến bờ, hòa nhập cùng vũ trụ
bao la. Ở đó còn bắt gặp một phong thái tự do phóng khoáng của con ngƣời giữa trời cao biển
rộng, thỏa chí hải hồ.
Sông nƣớc, biển, hồ, mƣa thu, chiều tà, hơi lạnh của đêm... là những hình ảnh xuất
hiện với tần số cao trong thơ Trần Quang Triều. Có lẽ không chỉ vì nhà thơ sống nhiều ở
miền sông nƣớc mà lý do quan trọng hơn là chí hƣớng thích ngao du. Con ngƣời mang chí
hƣớng đó phải là con ngƣời tự do, không thích bị trói buộc bởi công danh, quyền chức, lễ
nghi trong một không gian chật hẹp. Đó cũng là một con ngƣời đa cảm mà mƣa thu chỉ là cái
cớ, là chất xúc tác để đƣa tâm hồn nhà thơ hƣớng vọng về những dấu tích cũ, kỷ niệm xƣa
vào buổi đầu thịnh trị của triều đại. Ở Trường An hoài cổ, làn mƣa chiều hiu hắt nhƣ cầu nối
giữa xƣa và nay. Bên kia màn mƣa là cái hồn của quá khứ huy hoàng một thời còn phảng
phất trong cỏ thu ("Cựu thời vƣơng khí mai thu thảo"). Bên này màn mƣa là thực tại giản dị
và sống động - những cánh bƣớm đồng nội đang nhởn nhơ bay ("Mộ vũ tiêu tiêu dã điệp
phi"). Qua màn mƣa ở chùa hoang xóm Mai, nhà thơ cũng nhận thức đƣợc sự đối lập thầm
lặng giữa quá khứ phôi phai với mảnh bia tàn, tƣợng Phật cổ, tấm áo thiền sƣ đã cất sâu trong
gian nhà đá và thực tại sống động không ngừng trong phút giây này - mùi hƣơng đồng nội
đang
(1) Ý thơ Chu trung độc chước - Trần Quang Triều - Sđd. (2) Hoàng Châu đạo thượng túc - Trần Quang Triều - Sđd.
58
dâng đầy đài hoa - để rồi bản thân bị cuốn theo sự sống hồn nhiên của cuộc đời - "Ứng thân vô xứ sở; Dữ thế cộng hƣng vong"(1). Tâm trạng hoài cổ trong không ít bài thơ của Trần
Quang Triều đã hé lộ cho thấy dấu hiệu suy vi của một triều đại từng mang hào khí Đông A
lừng lẫy và là tiền thân cho giọng thơ hoài niệm tiếc nhớ của Chu An sau này. Bản thân Trần
Quang Triều cũng là một gạch nối giữa thời thịnh Trần và vãn Trần, từng chứng kiến một
thời huy hoàng đã và đang đi qua là kẻ sĩ của thời Nho học đang lên nhƣng tâm thức vẫn đậm
đà Thiền vị lòng dào dạt tình đời nhƣng lại nguội lạnh với lợi danh, say mê cái đẹp yêu mến
quê hƣơng nhƣng buồn nản về nhân tình thế thái. Nơi nhà thơ của am Bích Động có những
mặt tƣởng chừng mâu thuẫn tạo nên một sự phức tạp trong tâm trạng, tính cách, và đồng thời
một hồn thơ đa dạng đầy sức lôi cuốn. Độ nén ngôn từ cao tạo cho thơ một chiều sâu cảm xúc
thu hút ngƣời đọc cùng đi vào thế giới suy tƣởng của ngƣời sáng tác, đồng cảm với những gì
nhà thơ muốn bày tỏ qua hình ảnh, âm thanh, mùi hƣơng... và đƣợc cộng hƣởng, chia sẻ
những thú vị từ cả niềm vui lẫn nỗi buồn khó diễn giải thành lời.
Thơ Trần Quang Triều thƣờng mang cái lạnh man mác nhƣ hơi lạnh của không gian
chùa Gia Lâm buổi tối sau mƣa, trăng tỏa sáng nơi mặt ao tĩnh lặng, hơi lạnh của mặt đầm có
in một mảnh trăng ở từ đƣờng Phúc Thành, hơi lạnh theo tiếng mái chèo khua nƣớc thấu vào
tận mây xanh của ông già câu cá trên sông, hơi lạnh của đêm toát ra từ bọt sóng mái chèo
tung lên nhƣ mƣa đá làm vỡ ghềnh nƣớc khi đi qua An Long. Cái lạnh, trong và lặng lẽ của
tâm hồn nhà thơ là cái bình đạm, tịch tĩnh của tâm Thiền. Thể hiện tiêu biểu nhất là buổi tối ở
chùa Gia Lâm, khi mƣa tạnh, tất cả không gian trong vắt, tràn ngập ánh trăng giữa bầu trời
xanh biếc, giữa hơi lạnh của đêm và mùi hƣơng hoa thông rụng đầy mặt đất... Nhà thơ và nhà
sƣ trong chùa không ai nói lời nào vì ngoại vật đã nói hộ quá nhiều. Một cuộc "đàm tâm" thật
đủ đầy, súc tích.
Ngoại trừ bài thơ Giang thôn tức sự, có thể nói mƣời bài còn lại trong thơ Cúc Đƣờng
chủ nhân đều phảng phất một ý vị buồn nhẹ nhàng nhƣng sâu lắng. Những điều ghi chép về
cuộc đời Trần Quang Triều để lại không nhiều lắm nhƣng đủ cho thấy nhà thơ xuất thân quý
tộc này từng là võ tƣớng, lập nhiều công trận, đƣợc vua trọng đãi, nhƣng không ham công
danh phú quý mà chỉ thích ẩn dật, ngao du,
(1) Mai thôn phế tự - Trần Quang Triều - Sđd.
59
"hàng năm thâu lƣợm cảnh trăng gió thảnh thơi"(1), cùng bạn bè xƣớng họa. Trần Quang
Triều không gặp những trắc trở công danh, không rơi vào nghịch cảnh chốn quan trƣờng,
cũng không có những xung đột gì với bạn đồng liêu để phải mang vào lòng nỗi phẫn uất, cay
đắng với cuộc đời. Ông lại sinh vào giữa đời Trần, tuy không còn ở vào thời cực thịnh nhƣng
vẫn là một thời đại cởi mở, nhiều chất dân chủ và tự do. Vậy mà, khi đang làm việc, lòng nhà thơ vẫn "nguội lạnh với giấc mộng sừng sên"(2), xem "miếng mồi treo chuông vạc" nhẹ hơn "chiếc cần câu bên sông Đồng"(3) và "ý muốn trở về lại thêm man mác"(4). Cái buồn man mác
của nhà thơ quả đã vƣợt khỏi khuôn khổ của riêng tƣ, cá nhân, nó là cái buồn của một tâm
hồn cao thƣợng và minh triết, của sự thức tỉnh về đời ngƣời ngắn ngủi, công danh chỉ là phù
vân, khao khát hƣớng về những giá trị và hạnh phúc đích thực trong cuộc sống. Cái buồn của
nhà thơ, vì thế, đậm chất triết học và đồng thời in dấu thời đại, một thời đại bắt đầu có những
dấu hiệu suy vi. Chính vì vƣợt lên khuôn khổ của cá nhân và mang đƣợc những nỗi niềm
chung, những trở trăn muôn thuở của những ngƣời trí thức có lƣơng tri, có tâm hồn nên cái
buồn trong thơ Trần Quang Triều thật đậm đà chất nhân văn. Cái này còn cao hơn cả những
giá trị triết học, Thiền học mà ngƣời đọc có thể khoác cho ông. Nó thật đáng quý, nó gần gũi
và làm rung động lòng ngƣời. Chỉ có một lần thấy nhà thơ vui thực sự. Đó là lần ngắm cảnh
thôn xóm bên sông khi đi thuyền về kinh, thấy cảnh đẹp, hoa, chim hữu tình, và nhất là mùa màng sung túc gợi lên một viễn cảnh no ấm của ngƣời dân(5)… Những chi tiết đó đã đƣợc vẽ
nên bằng cảm xúc sung sƣớng tự hào, bộc lộ một tình cảm gắn bó thiết tha với quê hƣơng và
cuộc sống. Nốt nhạc tƣơi vui ấy nổi bật lên trong cung điệu bâng khuâng hoài cảm của thơ
Trần Quang Triều cho thấy ở nhà thơ không chỉ có một con ngƣời trầm lặng và yếm thế mà
còn có một con ngƣời dạt dào sôi nổi, đầy sức sống và đầy đam mê. Ngay cả khi đang mang
tâm trạng sầu nhớ, ông cũng không tránh khỏi bị thu hút và hào hứng ghi lại những hình ảnh
gợi cảm, căng đầy sức sống của thiên nhiên:
"Lục ám tang ma địa
Hồng minh quất dữu thiên"
(1) Đề Liêu Nguyên Long tống họa cảnh phiến - Trần Quang Triều - Sđd. (2) Gia Lâm tự - Trần Quang Triều - Sđd. (3) Ý thơ Điếu tẩu - Trần Quang Triều - Sđd. (4) Hoàng Châu đạo thượng túc - Trần Quang Triều - Sđd. (5) Ý thơ Giang thôn tức sự - Trần Quang Triều - Sđd.
60
(Giang thôn tức sự)
(Màu xanh che rợp đất dâu gai
Màu hồng chiếu sáng trời quít bƣởi)
(Tức cảnh thôn xóm bên sông)
Nhắc đến thơ đời Trần, ngƣời sau không thể quên ông, một hồn thơ độc đáo. Trần
Quang Triều không phải là nhà Nho hăng hái hành đạo, lập công danh nhƣ Phạm Sƣ Mạnh
hay buồn bã ƣu tƣ vì đạo của mình không thực hiện đƣợc nhƣ Chu An, Trần Nguyên Đán.
Ông cũng không phải là Thiền gia đạt đạo, siêu thoát nhƣ Tuệ Trung, Thánh Tông, Nhân
Tông "đã nhảy ra khỏi vạn tầng cửa tù ngục" có thể "tự do tung hoành" mà không rơi vào "có" hay "không"(1). Cuộc đời hành động của ông nhƣ một nhà Nho, thế giới tâm linh của ông
dào dạt vị Thiền, nhƣng trên hết, ông là một nhân cách rất riêng. Với tấm lòng trong sáng
cùng một tình yêu quê hƣơng đất nƣớc đậm đà sâu sắc, một tâm hồn đa cảm và mẫn cảm
thiên phú đi đôi với sự tinh tế trong cảm quan nghệ thuật, Trần Quang Triều đã để lại cho đời
một số lƣợng bài thơ tuy không nhiều nhƣng có thể xếp vào hàng danh tác. Ấn tƣợng bởi
những hình ảnh độc đáo, tân kỳ, vừa thật hồn nhiên vừa đầy dƣ vị lƣu lại mãi trong lòng
ngƣời đọc cái "ý ở ngoài lời"...
(1) Ý thơ Độc Phật sự đại minh lục hữu cảm – Trần Thánh Tông - Sđd.
61
CHƢƠNG 4: CON NGƢỜI NHÂN VĂN TRONG THƠ THỜI LÊ SƠ
VỚI VẺ ĐẸP TẬN TỤY CỦA Ý THỨC TRÁCH NHIỆM VÀ SỰ THANH
CAO CỦA KHÍ TIẾT KẺ SĨ.
Với chiến thắng quân Minh vẻ vang khôi phục lại độc lập chủ quyền cho đất nƣớc,
văn học nửa đầu thế kỷ XV viết tiếp trang sử chống ngoại xâm hào hùng thời Lý Trần trong khí thế tƣơi vui phấn khởi của dân tộc bƣớc vào vận hội mới.
Tuy lúc này Nho giáo đã "lên ngôi" nhƣng trong thơ văn của các trí thức Nho học ở đầu thế kỷ vẫn chƣa phai nhạt đi phong của thời Lý Trần: chân thành, nồng hậu và khoáng
đạt. Lớp nhà Nho mới nhƣ Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Nguyễn Mộng Tuân, Phan Phu Tiên, Vũ Mộng Nguyên, Nguyễn Thiên Tích, Trình Thanh... đã thể hiện trong thơ ca, phƣơng tiện
"ngôn chí" của mình, chí hƣớng tích cực giúp nƣớc, lo dân, ý thức đảm đƣơng trách nhiệm xã hội của ngƣời công dân. Phan Phu Tiên ân cần nhắc nhở thế hệ thiếu niên và bày tỏ tâm
nguyện chí thiết của mình:
"Vị đắc thăng đƣờng na nhập thất?
Bất tằng ôn cố hạt tri tân? Đản tƣơng lễ nhạc tòng tiên tiến,
Nguyện bả thi thƣ thục hậu nhân".
(Vi nhân cầu giáo)
(Chƣa bƣớc lên thềm sao có thể vào trong nhà?
Chƣa từng ôn cũ sao có thể biết mới? Chỉ đem lễ nhạc theo các bậc tiền bối,
Muốn mang thi thƣ dạy cho kẻ đời sau)
(Làm người nên học)
Đồng thời ca ngợi chí hƣớng, tài năng giúp đời của Nguyễn Trãi nhƣ một tấm gƣơng
sáng:
"Ấu học tráng hành, hành thị đạo, Sinh tri tiên giác, giác tƣ dân.
Diêm mai, đỉnh vạc điều hòa mỹ, Lễ nhạc, quy mô chế tác tân".
(Hạ Gián nghị đại phu Nguyễn Ức Trai)
(Lúc nhỏ học, lúc lớn làm, làm đạo ấy,
Sinh ra trên đời hiểu đƣợc rằng cần phải hiểu biết trƣớc, rồi giúp cho dân hiểu
biết.
Muối mơ, xanh vạc, (ông) rất khéo điều hòa,
62
Lễ nhạc, điển pháp, (ông) có nhiều sáng tạo)
(Mừng quan Gián nghị đại phu Nguyễn Ức Trai).
Nguyễn Mộng Tuân khi dạo chơi nơi nƣớc biếc non xanh vẫn canh cánh trách nhiệm
nƣớc nhà của kẻ sĩ:
"Hảo tƣơng quốc luận tƣ thâm ý, Hà tất Bồng Doanh nhập mộng hƣ".
(Du hồ)
(Nên đem việc nƣớc mà suy nghĩ về những ý nghĩa sâu xa, Việc gì lại phải mộng mơ đến những cõi thần tiên)
(Đi chơi hồ) Nguyễn Trãi thì luôn khẳng định tấm lòng hƣớng về dân trƣớc sau nhƣ một, nhƣ nƣớc
đổ về biển Đông, ngày đêm không vơi cạn: "Bui một tấc lòng ƣu ái cũ, Đêm ngày cuồn cuộn nƣớc triều Đông"
(Thuật hứng, V)
"Nhất phiến đan tâm duyên hống hỏa "
(Mạn hứng, II)
(Một tấm lòng son luôn hừng hực nhƣ lửa trong lò luyện đơn)
Nhƣng mặt khác nơi tâm tƣ những con ngƣời tích cực nhập thế ấy vẫn không tránh khỏi có lúc băn khoăn sợ công danh phú quý làm tổn hại đến "thiên chân" và trói buộc tinh thần tự do của con ngƣời. Lý Tử Tấn diễn đạt ý nghĩ đó bằng hình ảnh sinh động:
"Trĩ ế dĩ vũ thái, Quy chƣớc nhân xác linh. Tán tài tạ lƣơng đống, Chúc vĩ miễn hy sinh. Dụng xả tín hữu mệnh, Hồ vi lao kỳ sinh?..."
(Tạp hứng)
(Chim trĩ bị chết vì lông đẹp, Con rùa bị nƣớng vì mai thiêng. Cây gỗ tạp khỏi bị xẻ làm rƣờng cột, Trâu cụt đuôi khỏi bị đem làm vật tế lễ. Dùng hay bỏ, tin là có số mệnh, Cần gì phải hao tâm nhọc sức?)
Và câu hỏi "Ngƣời đời cớ sao phải vội vàng, Cứ rối rối rít rít trong trƣờng danh lợi?" ("Tá vấn nhân sinh vị để mang, Dao dao nhiễu nhiễu lợi danh trƣờng" - Mạn hứng) của Lý Tử Tấn hay sự cảm nghiệm
63
"Ngày xuân cứ thấm thoắt trôi qua, Sự nghiệp chỉ thành ra những lời than "chà chà..." ("Xuân
quang mạn nhĩ xâm xâm khứ, Sự nghiệp phiên thành đốt đốt thƣ" - Trạch thân cố viên) của
Lê Thiếu Dĩnh không khác gì tâm trạng Tuệ Trung đời Trần trong Bài ngâm cuồng phóng -
"Chà chà, giàu sang nhƣ áng mây nổi; Chao ôi, năm tháng nhƣ bóng ngựa chạy qua khe cửa"
("Đốt đốt phù vân hề, phú quý! Hu hu quá khích hề, niên quang! - Phóng cuồng ngâm)
Vũ Mộng Nguyên mƣợn hình ảnh cây tùng trong chậu để bộc lộ khát vọng tự do:
"Thốn căn di tự lĩnh vân thâm,
Thác tích bồn trung trƣởng lục âm.
Yến kiến đƣơng song tài sổ xích,
Sóc sâm xuất hạm nhạ thiên tầm..."
(Bồn tùng)
(Vốn là một đoạn gốc lấy từ núi cao đem về,
Gửi mình vào chậu, lớn lên trong bóng râm.
Thân bị tù hãm bên cửa sổ, mới có đƣợc vài thƣớc,
Mà cành đã vƣơn ra ngoài chấn song nhƣ muốn vƣợt nghìn tầm...)
(Cây tùng trong chậu)
Nguyễn Trãi vừa đau đáu tấc lòng nhân thế "thƣơng sinh tại niệm độc tiên ƣu " (Mạn
hứng, III) nhƣng cũng vừa không nguôi day dứt bởi tiếng gọi của tâm linh:
"Hà thời kết ốc vân phong hạ,
Cấp giản, phanh trà, chẩm thạch miên"
(Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác)
(Bao giờ mới đƣợc làm nhà dƣới núi mây,
Múc nƣớc khe pha trà, gối đầu lên đá mà ngủ)
(Sau loạn về Côn Sơn cảm tác).
Bởi thế, có thể nói ở thời Lê sơ, bên cạnh ý thức trách nhiệm, tinh thần sôi nổi nhập
thế, tấm lòng tận tụy vì đời của ngƣời Nho sĩ, vẫn luôn song hành những thôi thúc của tâm
linh hƣớng về một khung trời tự do tuy đã khá mờ xa nhƣng vẫn đầy sức thu hút.
* Nguyễn Trãi - con ngƣời biết tìm niềm vui sống.
Trong hàng ngũ trí thức đầu thế kỷ XV nổi bật lên Nguyễn Trãi nhƣ một đại biểu ƣu
tú mà cuộc đời và sự nghiệp văn chƣơng của ông là sự tinh kết những tinh hoa của dân tộc và
thời đại.
64
Nhắc đến Ức Trai, ngƣời ta thƣờng nhắc nhiều về tấm lòng "ái ƣu vằng vặc trăng in nƣớc", về lý tƣởng nhân nghĩa "trừ bạo yên dân" suốt đời ông theo đuổi cũng nhƣ về nhân
cách thẳng ngay cao thƣợng "phủ ngƣỡng tùy nhân tạ bất năng" của ông. Nguyễn Trãi là một ngƣời anh hùng, nhà chính trị, nhà văn hóa và nhà văn, nhà thơ lớn mà tên tuổi đã làm rạng
danh cho đất nƣớc. Tài và đức lớn lao của Nguyễn Trãi là một điều đã hiển nhiên, không cần phải bàn nhiều. Đây chỉ góp thêm về một đôi khía cạnh đáng chú ý của tâm hồn ông.
Nguyễn Trãi có một cuộc sống phong phú và toàn diện. Ông làm việc tích cực, cống hiến hết mình vì lợi ích của đất nƣớc và nhân dân. Nhƣng đồng thời cũng có một đời sống
riêng đầy hứng thú đem lại nguồn vui bất tuyệt cho tâm hồn. Nhà thơ là ngƣời biết đi tìm niềm vui sống. Cái vui trƣớc hết nằm ở bản thân sự làm việc, phục vụ, cảm thấy mình có ích.
Cái vui còn ở trong cách sống giản dị mà tự do phóng khoáng gần gũi thiên nhiên tƣơi đẹp, tận hƣởng kho báu trời cho:
"Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc Thuyền chở yên hà nặng vạy then"
(Thuật hứng XXIV)
giữa những con ngƣời lao động mộc mạc:
"Kể ngày con nƣớc toan triều lạc Bạn chúng thằng chài chác cá tƣơi".
(Tự thán VI)
và tự hào mình giàu có:
"Quê cũ nhà ta thiếu của nào, Rau trong nội, cá trong ao"
(Mạn thuật XIII)
Niềm vui cũng ở trong trong công việc lao động hàng ngày, dạy học trò, đánh đàn, đi
câu:
"Đạp áng mây, ôm bó củi
Ngồi bên suối, gác cần câu"
(Trần tình V)
trong sự tìm đến với thiên nhiên, không chỉ nhƣ cái đẹp để ngắm nhìn, thƣởng thức, mà còn nhƣ một đối tƣợng quan sát, suy nghiệm, phát hiện chân lý cuộc sống để thỏa mãn nhu cầu
tâm thức:
"Càn khôn kim cổ vô cùng ý
Khƣớc tại thƣơng lang viễn thụ yên"
(Quan hải)
(Ý tứ vô cùng của trời đất xƣa nay
65
Ở tại nơi đám khói trên chòm cây xa bên sóng nƣớc xanh kia)
(Đóng cửa biển)
Thiên nhiên với Ức Trai không chỉ là một ngƣời bạn cố tri thân thiết biết an ủi, chia sẻ
mà còn mang bóng dáng tâm hồn nhà thơ - là "một mảnh trăng trong sáng nhƣ băng treo trên vòm trời biếc"(1), là cây tùng "một mình lạt thuở ba đông"(2), là hoa mai thanh khiết "bóng thƣa ánh nƣớc động ngƣời vay, Thầm đƣa hƣơng một nguyệt hay"(3), là hoa dâm bụt bình dị "Ánh nƣớc hoa in một đóa hồng, Vện nhơ chẳng bén Bụt là lòng"(4)…
Cuộc sống của Nguyễn Trãi có sự cân đối giữa phục vụ và vui thú, tuy làm việc quan
vẫn không quên tu dƣỡng tâm hồn, nâng cao tri thức về thế giới chung quanh, khám phá
những điều mới lạ trong cuộc sống. Niềm vui tự tại trong cách sống ấy đã giúp nhà thơ vƣợt
qua những nghịch cảnh đáng buồn để trƣớc sau vẫn giữ vững một tấm lòng ƣu ái, một nhân
cách cao thƣợng. Và trong một cách sông hài hòa cân đối nhƣ vậy, Nguyễn Trãi khi đang làm quan vẫn giữ đƣợc một tinh thần ung dung thƣ thái nhƣ "ông tiên trong lầu ngọc"(5), một tấm
lòng trong sáng nhƣ băng của con ngƣời không cầu danh lợi; khi lui về vẫn tích cực làm việc
trong điều kiện sông của mình. Đó là cái tinh thần của ngƣời đại ẩn: "Ẩn cả lo chi thành thị
nữa; Nào đâu là chẳng đất nhà quan" (Ngôn chí, XVI). Đó cũng là sự kế thừa và phát huy tinh
thần nhân văn rộng mở thời Lý - Trần, tổng hợp cả Nho, Phật, Đạo trên cơ sở tƣ tƣởng Việt
Nam.
Những nét riêng của phong cách Ức Trai đƣợc thể hiện rõ nét trong thơ Nôm. Ở đó
ngƣời đọc bắt gặp không chỉ tâm hồn nồng hậu với thiên nhiên, con ngƣời, cuộc sống, những
xúc cảm tinh tế, nhạy bén mà còn một hồn thơ rất mực hào phóng. Có không ít câu thơ nhà
thơ tự nói, đúng hơn là tự trào về mình. Thử ngắm chân dung tự họa của Ức Trai qua hai câu
thơ sau:
"Ngõ tênh hênh nằm cửa trúc,
Say lểu thểu đứng đƣờng thông"
(Thuật hứng, XVI)
Lời khen của Nguyên Mộng Tuân trong bài thơ Tặng Gián nghị đại phu Nguyễn công.
(1) Văn hứng (2) Tùng (3) Mai (4) Mộc cận (5)
66
Cái cách để cửa mở tênh hênh mà nằm chơi mát trƣớc hiên mới vô tâm vô ý làm sao.
Hẳn là nhà cửa sơ sài không có vật gì đáng giá để phải lo toan gìn giữ. Và đây nữa, cái điệu
bộ của một ngƣời say đi đứng chệnh choạng trên con đƣờng làng, có lẽ vừa mới khe khá đâu
đó với bạn bè hàng xóm dăm ba chén rƣợu. Rõ là hình ảnh một ông già dân quê áo vải với
cuộc sống thật tự do tự tại. Không có gì trói buộc đƣợc. Không lệ thuộc khuôn khổ nào. Có ai
ngờ ngƣời đó từng là một vị quan đại thần của triều đình. Cũng không thấy cung cách của
một nhà nho "truyền thống" lúc nào cũng khăn áo chỉnh tề, đi đứng trang nghiêm. Nhà thơ
không quan tâm đến những thứ khuôn thƣớc vô nghĩa, ông hóm hỉnh nói về mình:
"Ai hay, ai chẳng hay thì chớ,
Bui một ta khen ta hữu tình"
(Tự thán, XIII)
hay:
"Chẳng bụt, chẳng tiên, ắt chẳng phàm"
(Tự thán, XXVII)
Nguyễn Trãi tự thấy mình không cần chạy theo ngƣời đời tìm kiếm Tiên hay Phật để
đƣợc đạt đến cảnh giới giải thoát, cực lạc mà vẫn khám phá đƣợc biết bao điều thú vị ngay
trong cuộc sống:
"Dầu Bụt, dầu Tiên ai kẻ hỏi,
Ông này đã có thú ông này"
(Mạn thuật, VI)
và thật hài lòng, thật đáng tự hào về những gì mình có:
"Ít nhiều tiêu sái lòng ngoài thế,
Năng một ông này đẹp thú này"
(Ngân chí, X)
"Thú này" là thú gì mà có thể làm Ức Trai yêu thích, say mê đến vậy? Thật đơn giản.
Đó không phải là ngồi thiền, luyện đơn hay làm mọt sách của thiên kinh vạn quyển. Mà là
làm những công việc ƣa thích của mình:
"Ao cạn vớt bèo cấy muống,
Đìa thanh phát cỏ ƣơng sen "
(Thuật hứng, XXIV)
"Một cày một cuốc thú nhà quê,
Áng cúc lan xen vãi đậu kê"
(Thuật hứng. III)
"Đạp áng mây, ôm bó củi,
67
Ngồi bên suối, gác cần câu"
(Trần tình, V)
"Ngòi thuở triều cƣờng chờ nguyệt mọc,
Cây khi ác lặn rƣớc chim về "
(Tự thán, XVIII)
Cách sống tự do tự tại này làm ngƣời đọc không thể không nhớ tới quan niệm của
Trần Nhân Tông trong Cƣ trần lạc đạo phú:
"Cƣ trần lạc đạo thả tùy duyên,
Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo hƣu tầm mịch,
Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền"
Chữ "tùy" hay quan niệm "tùy ngộ nhi an" (Tùy theo cảnh ngộ mà có cách ứng xử
phù hợp) này giúp con ngƣời lạc quan vui sống và sống có ý nghĩa trong mọi hoàn cảnh. Phải
là ngƣời có bản lĩnh vững vàng mới ứng dụng đƣợc nó. Nếu không có bản lĩnh và sự tự tin thì
sẽ chịu lệ thuộc vào hoàn cảnh và phải chạy vạy tìm kiếm một sức mạnh hỗ trợ bên ngoài để
giúp mình giải thoát. Từ đó có thể thấy Nguyễn Trãi đã thừa kế đƣợc cái nội lực hào hùng
mạnh mẽ của thời đại Lý Trần để viết tiếp dòng thơ của tinh thần tự do và khoáng đạt.
Nguyễn Trãi cũng tỏ rõ bản lĩnh mạnh mẽ khi ông để lại những dấu ấn về ý thức cá
nhân mình trong thơ. Không ít lần ông dùng những từ "ông", "ông này", "ta khen ta"... để nói
về mình, tất nhiên là một cách hóm hỉnh trào lộng chứ không phải tự đại. Đặc biệt trong
chùm thơ Tích cảnh, nhà thơ đã hè lộ ít nhiều về đời sống tâm tình riêng tƣ. Chỉ một đôi nét
nhẹ nhàng, kín đáo, ý nhị, nhƣng đủ cho ngƣời đọc cảm nhận đƣợc con ngƣời anh hùng ấy
cũng là một khách đa tình có tâm hồn si mê mãnh liệt và dạt dào rung động. Chỉ một tiếng
đàn du dƣơng đâu đó thoảng đến đủ cho "lòng xuân nhẫn động ắt khôn gìn", tha thiết muốn
cầm giữ mùa xuân ở lại; nhìn tơ liễu rủ những bâng khuâng luyến tiếc xuân qua:
"Thấy cảnh lòng thơ càng vấn vít
Một phen tiếc cảnh một phen thƣơng"
(Tích cảnh, VIII)
và muốn sống hết mình để khỏi phí hoài năm tháng:
"Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm,
Những lệ xuân qua tuổi tác thêm,
Chẳng thấy ngoài hiên tơ liễu rủ,
Một phen liễu rủ một phen mềm"
68
(Tích cảnh, VII)
Tinh thần cởi mở của Nguyễn Trãi không chỉ thể hiện trong cách sống mà còn trong
quan niệm giáo dục con ngƣời.
Khác với quan niệm hẹp hòi của nhà nho - "Gia hữu cầm nữ tắc dâm" - Nguyễn Trãi
nói: "Gia hữu cầm thƣ, nhi bối lạc" (Trong nhà có đàn và sách, con cái đƣợc vui) (Mạn
thành). Đàn cũng nhƣ sách, làm tâm hồn con ngƣời an nhiên, vui vẻ, hƣớng đến những cái
cao thƣợng tốt lành, là phƣơng tiện dƣỡng tâm tuyệt diệu. Ông hiểu rõ tác dụng sâu sắc của
âm nhạc, không những có thể góp phần làm cho cuộc sống yên lành hạnh phúc, mà còn làm
cho tâm hồn con ngƣời rộng mở, phong phú, thanh cao hơn, làm cho con ngƣời biết sống đẹp:
"Ngƣ ca tam xƣớng, yên hồ khoát
Mục địch nhất thanh, thiên nguyệt cao"
(Chu trung ngẫu thành, II)
(Tiếng hát của ông chài ba lần cất lên thì mặt hồ sƣơng khói nhƣ thêm rộng ra,
Tiếng sáo của trẻ chăn trâu vang lên thì mặt trăng trên trời nhƣ càng cao thêm)
(Trong thuyền ngẫu nhiên làm, bài II)
Ở đây âm nhạc dƣờng nhƣ đã làm thiên nhiên trở nên cao rộng hơn, mênh mang hơn,
và con ngƣời trong đó cũng đạt đến chỗ hài hòa tinh tế, vi diệu với đất trời, vũ trụ...
Thú chơi đàn, tác dụng của âm nhạc đối với tâm hồn, chí khí của con ngƣời phải đâu
nhƣ cách nhìn phiến diện một cách thô thiển của kẻ hủ nho. Lý Tử Tấn đã tỏ ra rất hiểu chí
hƣớng của bạn qua câu thơ đề vách nhà Ức Trai:
"Công dƣ thoái thực phần hƣơng tọa
Họa trục trƣơng cầm lạc tuế niên"
(Đề Ức Trai bích)
(Việc công xong, trở về nhà, đốt hƣơng ngồi
Cùng bức vẽ, cây đàn, vui với tháng năm)
(Đề vách nhà Ức Trai)
Giáo dục thế hệ đi sau, ông thƣờng nhắc nhở không nên xa hoa, lãng phí, chạy theo
những nhu cầu vật chất để trở thành kẻ "giá áo túi cơm":
"Xa hoa lơ đãng nhiều hay hết,
Hà tiện âu đƣơng ít hãy còn.
Áo mặc miễn là cho cật âm,
69
Cơm ăn chẳng lọ kén mùi ngon"
(Dạy con trai)
hay để bã vật chất cám dỗ mà thành ngƣời bất nghĩa:
"Cơm kẻ bất nhân, ăn ấy chớ
Áo ngƣời vô nghĩa, mặc, chăng thà" (Trần tình, III)
mà phải biết chăm học, chăm làm để có thể tự nuôi sống bản thân và trở thành ngƣời có ích cho xã hội:
"... Nghề nghiệp cầm tay ở mới kham. Nên thợ, nên thầy vì có học,
No ăn, no mặc bởi hay làm"
(Bảo kính cảnh giới, XLVI)
Tuy nhiên, ông cũng lƣu ý con ngƣời không nên sống quá khắc kỷ, khổ hạnh, chẳng
dám ăn, chẳng dám mặc, mà phải biết quý trọng bản thân:
"Đông hiềm giá lạnh chằm mền kép, Hạ lệ mồ hôi kết áo đơn.
Nằm có chiếu chăn cho ấm áp, Ăn thì canh cá chớ khô khan"
(Bảo kính cảnh giới, VII)
Đừng trở thành nô lệ cho của cải, tiền bạc:
"Phúc dầu hay đến trăm tuổi, Mình thác thì nên mọi của tan"
(Bảo kính cảnh giới, VII)
và luôn hƣớng đến sự hài hòa cân đối trong cuộc sống:
"Lấy khi đầm ấm pha khi lạnh, Giữ thuở khô khao có thuở dào"
(Thuật hứng, XXI)
Đặc biệt Ức Trai luôn nhấn mạnh sự tu dƣỡng đạo đức, sống nhân hậu, thủy chung:
"Tích đức cho con hơn tích của, Đua lành cùng thế mựa đua khôn"
(Tự thán, XLI)
"Kết bạn mựa quên ngƣời cố cựu
Yên nhà nỡ phụ vợ tao khang"
(Bảo kính cảnh giới, II)
ă n ngay ở thật:
70
"Nhiều khôn chẳng đã bề khôn thật Trăm chƣớc nào qua chƣớc khéo đầy"
(Bảo kính cảnh giới, XIIV) Để trở thành ngƣời có giá trị cần phải có ý thức tự tu dƣỡng, rèn luyện và phải có nghị
lực để tu dƣỡng, rèn luyện. Muốn thế, không đƣợc tránh né những chông gai, gian khó trong cuộc đời, mà nhiều lúc còn phải tìm đến với những thử thách ấy để tôi luyện mình:
"Khó khăn thì mặc có màng bao, Càng khó bao nhiêu chí mới hào"
(Thuật hứng, XXI)
"Khó bền mới phải ngƣời quân tử,
Mạnh gắng thì nên kẻ trƣợng phu"
(Trần tình, VII)
Nguyễn Trãi đã cống hiến hết mình nhƣng cuộc đời gặp nhiều nghịch cảnh. Thơ ông không tránh khỏi có lúc phảng phất nỗi buồn nhân tình thế thái, nỗi trăn trở vì chƣa trọn chí
"tiên ƣu". Nhƣng vƣợt lên tất cả vẫn là một cái tâm trong sáng, vững vàng của một con ngƣời biết sống, biết làm phong phú tâm hồn mình bằng những niềm vui trong cuộc sống.
Hãy thử đi sâu vào thế giới tâm hồn đó bằng hai bài thơ của Ức Trai, một bài tứ tuyệt giản dị tả cảnh một bến nƣớc ngày xuân và một khúc ca dài bộc lộ những cảm và nghĩ của
nhà thơ trƣớc cuộc đời.
* TRẠI ĐẨU XUÂN ĐỘ
Độ đầu xuân thảo lục như yên Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên
Dã kính hoang lương hành khách thiểu Cô chu trấn nhật các sa miên
Dịch thơ:
Bến đò xuân đầu trại
Cỏ xuân đầu bến xanh như khói Thêm có mưa xuân nước vỗ trời
Quạnh quẽ đường đồng thưa vắng khách Con đò gối bãi suốt ngày ngơi.
(Theo Khƣơng Hữu Dụng) Một bến đò xuân đầu trại - Một quang cảnh rất đời thƣờng nhƣng đã lọt vào "con mắt
xanh" của nhà thơ - nhà nghệ sĩ ức Trai. Bởi vì giây phút đi ngang qua đó là mùa xuân. Và bến đò là bến đò mùa xuân.
71
Để những chuyển mình của đất trời, của từng lá cây ngọn cỏ kịp thu vào cảm nhận tinh tế của
ngƣời ngắm cảnh...
Bài thơ mở ra với một không gian xanh ngan ngát của cỏ xuân đầu bến. "Xanh nhƣ
khói". Một màu sắc rất lạ, một cảm nhận rất lạ xƣa nay chƣa từng có. Chính cái lạ này đã làm
cảnh vật hiện ra đầy xao xuyến nhƣ trong thế giới của mộng mơ, vừa rất thực với dáng vẻ
tƣơi tắn, mới mẻ của thảm cỏ mùa xuân, vừa huyền ảo với độ nhòa của sắc màu khói biếc khi
thảm cỏ trải rộng mênh mang đến mút tầm mắt. Hòa vào màu xanh của cỏ là màu xanh của
nƣớc, của trời. Và xuất hiện rất dịu êm nhƣng đóng vai trò không kém quan trọng là mƣa
xuân. Sự phát hiện thật độc đáo - "Thêm có mƣa xuân, nƣớc vỗ trời" (Xuân vũ thiêm lai thủy
phách thiên). Trên sông xuân nƣớc đầy, mƣa xuân rơi nhẹ nhƣng đủ làm xao động mặt nƣớc,
tạo thành những gợn sóng lăn tăn nhƣ nƣớc khẽ vỗ nhịp vào da trời. Nhƣ trêu đùa. Nhƣ tinh
nghịch. Trời nƣớc thành một đôi - trẻ trung, hòa quyện. Không gian chƣa thấy bóng ngƣời đã
ấm áp, căng tràn sức xuân. Tình xuân dạt dào trên thảm cỏ non xanh, xôn xao trời nƣớc, hay
hồn xuân phơi phới trong tâm hồn ngƣời ngắm cảnh để đôi mắt đa tình nghệ sĩ nhận ra đƣợc
tình bên trong cảnh và kịp thời dùng ngòi bút thơ ghi lại cái "thần".
Ngày xuân không rộn rịp ngƣời, xe, lễ hội. Nơi đây là thôn quê vắng vẻ - "Quạnh quẽ
đƣờng đồng thƣa vắng khách" (Dã kính hoang lương hành khách thiểu). Nhƣng cái vắng lặng
này đã làm tôn lên một nét đặc sắc của bến đò xuân đầu trại - êm ả, thanh bình. Con đò
thƣờng ngày bận rộn đƣa khách ngƣợc xuôi buôn bán, sinh nhai, giờ đây có dịp nghỉ ngơi
nhàn hạ, gối đầu lên bãi cát đánh giấc ngon lành -"Cô chu trấn nhật các sa miên". Con đò
ngày xuân ung dung thƣ thái với giấc ngủ ngon nhƣ một con ngƣời thanh nhàn đang sống
những phút giây tuyệt vời nhất của đời thƣờng. Hạnh phúc thật bình dị mà gần gũi. Sự nhân
hóa con đò làm đối tƣợng trở nên duyên dáng, đáng yêu hơn. Và cũng làm nó trở thành linh
hồn của bến nƣớc mùa xuân. Đó là nét vẽ cuối cùng hoàn chỉnh bức tranh quê thanh bình thật
đơn sơ nhƣng đầy chất thơ. Vắng bóng ngƣời nhƣng vẫn ấm áp và thấp thoáng bóng dáng con
ngƣời sau cảnh. Không có tiếng nói nhƣng cả đất trời tràn đầy âm thanh siêu ngôn ngữ. Tiếng
rì rào của cỏ non xanh đang tranh nhau nảy nở, tiếng sóng nƣớc đùa nghịch lƣng trời và khúc
ca thanh bình của con đò gối bãi - tất cả hòa điệu thành một bản nhạc xuân diệu kỳ mà nhà
thơ đã lắng nghe đƣợc bằng cả tâm hồn giao cảm rộng mở...
72
Có ngƣời nhìn thấy nơi con đò lẻ loi nằm gối đầu lên bãi cát hình ảnh một Ức Trai cô đơn
phải sống cảnh nhàn bất đắc dĩ, và đã cho câu cuối bài thơ mang điệu buồn của tấm lòng
ngƣời trí thức cô trung. Hoài bão chƣa thực hiện đƣợc của Nguyễn Trãi, tâm sự của Ức Trai
tiên sinh, tất cả những điều đó không ai phủ nhận. Nhƣng ở phút giây dừng chân bên bến đò
xuân đầu trại, giữa màu xanh tƣơi trẻ, không gian trong sáng của thiên nhiên mùa xuân đang
tràn ngập tâm hồn, nhà thơ đã buông thả lòng mình theo tình yêu say cuộc sống để mình và
ngoại cảnh không còn ranh giới cách ngăn. Nếu cách bốn thế kỷ trƣớc, trong thơ Không Lộ
đời Lý có một con ngƣời ngủ giấc ngon lành trong tuyền giữa trời nƣớc mênh mông không ai
gọi thức, thì giờ đây là một con đò - thƣ nhàn tận hƣởng hƣơng vị của mùa xuân. Đó là cái
tâm hồn của bức tranh xuân, là điểm gặp gỡ, hài hòa giữa tâm và cảnh. Là ý vị của cuộc sống
mà chỉ có ngƣời trong cuộc mới cảm nhận trọn vẹn phút giây này...
Ai thử một lần buông mình thực sự giữa thiên nhiên, nhƣ nhà thơ của Côn Sơn từng
ngồi trên nệm đá rêu phơi, nằm giữa rừng thông bóng mát, để lắng nghe đâu đó tiếng suối
chảy "nhƣ tiếng đàn cầm bên tai", có lẽ sẽ khám phá ra rằng Ức Trai đâu chỉ là một nhà thơ
của những nỗi niềm u uẩn...
* CÔN SƠN CA
Côn Sơn hữu tuyền,
Kỳ thanh linh linh nhiên,
Ngô dĩ vi cầm huyền.
Côn Sơn hữu thạch,
Vũ tẩy đài phô bích,
Ngô dĩ vi đạm tịch.
Nham trung hữu tùng,
Vạn lý thúy đồng đồng,
Ngổ ư thị hồ yển tức kỳ trung.
Lâm trung hữu trúc,
Thiên mẫu ấn hàn lục,
Ngô ư thị hồ ngâm khiếu kỳ trắc.
Vấn quân hà bất quy khứ lai?
Bán sinh trần thổ trường giao cốc.
Vạn chung cửu đỉnh hà tất nhiên,
Ẩm thủy phạn sơ tùy phận túc.
73
Quân bất kiến Đổng Trác hoàng kim doanh nhất ổ, Nguyên Tải hồ tiêu bát bách hộc? Hưu bất kiến Bá Di dữ Thúc Tề, Thú Dương nga tử bất thực túc? Hiền ngu lưỡng giả bất tương mâu, Diệc các tự cầu kỳ sở dục. Nhân sinh bách tuế nội, Tất cánh đồng thảo mộc. Hoan bi ưu lạc diệt vãng lai, Nhất vinh nhất tạ hoàn tương tục. Khâu sơn hoa ốc diệc ngẫu nhiên, Tử hậu thúy vinh cánh thùy nhục? Nhân gian nhược hữu Sào Do đồ, Khuyến cừ thính ngã sơn trung khúc.
Dịch thơ:
Bài ca Côn Sơn Côn Sơn có suối, Tiếng nước chảy rì rầm, Ta coi là đàn cầm. Côn Sơn có đá, Mưa giội rêu phô xám, Ta coi làm chiếu, thảm. Trên đèo có thông, Muôn dặm biếc mông lung, Ta thảnh thơi nằm nghỉ bên trong. Giữa rừng có trúc, Nghìn mẫu xanh chen chúc, Ta đủng đỉnh ca ngâm dưới gốc. Hỏi ai sao chẳng sớm quay về? Nửa đời vùi mãi trong lầm đục. Muôn chung chín vạc để làm gì? Nước lã cơm rau hãy tri túc. Kìa chẳng thấy Đổng Trác vàng đầy một ổ, Nguyên Tải hồ tiêu tám trăm hộc. Lại chẳng thấy Bá Di cùng Thúc Tề, Nằm khô trong núi không ăn thóc. Hiền ngu tuy có khác nhau xa, Đều muốn thỏa riêng lòng sở dục.
74
Người sống trong trăm năm,
Khác đâu loài thảo mộc.
Vui buồn sướng khổ đổi thay nhau,
Một tươi một héo thường tiếp tục.
Đồi rậm lầu hoa cũng ngẫu nhiên,
Chết rồi hỏi ai vinh với nhục?
Nhân gian nếu có bọn Sào Do,
Khuyên hãy nghe ta hát một khúc.
(Trúc Khê Ngô Văn Triện)
Cũng thật lạ khi trong con ngƣời suốt đời tự nguyện dấn thân tích cực ấy lại vẫn luôn
mang niềm khao khát "trở về". Trở về với núi cũ Côn Sơn - không gian xanh của thời thơ ấu -
là hoài vọng thƣờng xuyên trong tâm khảm, khi Nguyễn Trãi đang còn trên bƣớc đƣờng lƣu
lạc cũng nhƣ khi đã lập công danh. Tuy nhiên sẽ không phải là mâu thuẫn nếu nhận ra rằng
"dấn thân" và "trở về" thuộc hai bình diện khác nhau, một là nhu cầu của con ngƣời xã hội,
con ngƣời công dân và một là nhu cầu của con ngƣời cá nhân cùng hiện diện trong nhân cách
đặc biệt ấy. Điều đó đã tạo cho Nguyễn Trãi một phong thái xƣa nay ít thấy - một ông quan
mà giống một "ông tiên" (theo lời nhận xét của Nguyễn Mộng Tuân, ngƣời cùng thời).
Bài ca Côn Sơn mở ra một khoảng không xanh tƣơi, trong trẻo, mát mẻ. Núi rừng
hùng vĩ nhƣng không bí ẩn, xa cách. Thiên nhiên mang vẻ đẹp hoang sơ, nguyên thủy mà thật
âm áp, thân tình. Con ngƣời đến đó không lắng nghe, nhìn ngắm bằng tai thƣờng, mắt thƣờng
mà bằng cái tâm đã lọc sạch bụi bẩn và rộng mở. Nhờ trống không và rộng mở nên đã tiếp
nhận toàn bộ cái "chân" của tạo vật. Thiên nhiên là một thế giới riêng có tâm hồn. Đem cái
tâm của mình hòa đồng cùng vạn vật, Nguyễn Trãi đã vận dụng đƣợc nguyên lý "vạn vật
đồng nhất thể" của triết học phƣơng Đông để vui niềm vui khám phá và phát hiện. Côn Sơn
thật sự trở thành ngôi nhà thân thuộc khi nhà thơ nghe đƣợc tiếng nói của suối, đá, thông,
trúc, có thể cùng nhau trò chuyện, cảm thông, có thể lấy nó làm đàn cầm, làm đệm chiếu êm
mƣợt, làm lọng biếc che mát để nằm nghỉ ngơi, làm tấm bình phong xanh để ngồi bên ngâm
vịnh.Thiên nhiên luôn hào phóng dành sẵn cho hƣơng sắc, thanh âm, xúc cảm giản dị mà
diệu kỳ đối với ai biết mở rộng giác quan của tâm hồn trƣớc nó. Khi con ngƣời mở cửa tâm
hồn, thiên nhiên cũng mở cửa kho tàng vô tận. Giọng thơ thật hào hứng khi nói "Côn Sơn có
suối", "Côn Sơn có đá", "trong núi có thông", "trong rừng có trúc"...
75
Giàu có biết bao! Ta là một phần trong tất cả và tất cả cũng chính là ta! Thực hiện đƣợc sự
hội nhập lớn lao này, con ngƣời đã mang đƣợc cái hồn vũ trụ, sự phong phú và vĩnh cửu của
vũ trụ, cũng từ đó giải phóng khỏi mọi loại tù ngục của quy ƣớc, giáo điều, thiên kiến trong
cách nhìn, cách nghĩ thông thƣờng để dùng con mắt nhìn của trẻ thơ ghi nhận cảnh vật và tái
hiện lại trong một thế giới thơ trong trẻo mà quyến rũ lạ thƣờng.
Từ góc độ của cái "chân" và sự vĩnh cửu của cả không gian, thời gian và tâm linh này,
nhìn lại mọi vật, mọi việc mới thấy hết những gì là giả tạm. Những ai "nửa đời giam buộc
mãi trong cát bụi" của cuộc sống đua chen danh lợi thực quả giống nhƣ kẻ lạc lối xa nhà mà
lời gọi "Hỡi người, sao chẳng về đi?" kia đã làm sực tỉnh. Hỏi ngƣời mà cũng là tự hỏi mình.
Thƣơng mình mà cũng là thƣơng xót biết bao con ngƣời cùng cảnh ngộ. Hiểu đƣợc hạnh
phúc đích thực, cũng nhƣ một thiền gia trong khoảnh khắc "đốn ngộ", nhà thơ của Côn Sơn
chợt cảm thấy "vạn chung cửu đỉnh" mới vô nghĩa làm sao và tất cả niềm vui mà bầu nƣớc lã,
bát cơm rau mang lại cho con ngƣời. "Uống nước trong, ăn cơm rau, tùy theo hoàn cảnh mà
tự thấy đủ" là lời sẻ chia kinh nghiệm thân tình đầy lòng nhân ái. Một kinh nghiệm giản dị
nhƣ chân lý bao giờ cũng giản dị nhƣng không phải ai cũng dễ dàng nhận ra. Mục đích của
đời ngƣời là đi tìm hạnh phúc cho cuộc sống, tuy cách quan niệm về hạnh phúc có khác nhau.
Và trong khi mọi ngƣời mải đi tìm những đƣờng vòng đến có lúc quên mất cả mục tiêu cần
tới thì Nguyễn Trãi đã chỉ ra cho họ con đƣờng ngắn nhất: hạnh phúc ở ngay trong thực tại,
trƣớc mắt, nơi những gì ta đang có. Thật nhân văn là ở chỗ này: quý trọng từng giây phút mà
mình đang sống, biết sống vui để không lãng phí cuộc đời. Nhân văn còn ở thái độ đối với
bản thân mình, không dày vò lao nhọc tâm trí và thân xác để đi tìm những vật ngoài thân nhƣ
"vàng đầy thành", "hồ tiêu tám trăm hộc", kể cả cái danh "tôi trung không thờ hai chúa" mà
Bá Di, Thúc Tề theo đuổi. Xét về mặt dƣỡng sinh, sống gần gũi thiên nhiên, trí ít lo âu toan
tính, lòng trong sáng cởi mở, ăn uống thanh đạm những gì sức mình lao động kiếm đƣợc là
cách sống đem lại sức khỏe, tuổi thọ và sự yêu đời. Đó cũng là khía cạnh thiết thực nhất của
quan niệm sống giàu chất nhân văn này.
Khi nghe qua ví dụ về Đổng Trác, Nguyên Tải rồi tiếp đến là Bá Di Thúc Tề, dễ có
cảm tƣởng nhƣ một bên đƣa ra là để phê phán, còn một bên là để ngợi ca. Thực ra, theo
Nguyễn Trãi, "hiền ngu hai đàng không so sánh được với nhau" nhƣng "mỗi đàng đều tự tìm
theo ý muốn
76
riêng của mình". Kẻ "ngu" dĩ nhiên không hiểu đƣợc chân lí của cuộc sống, nhƣng ngƣời
thƣờng đƣợc gọi là "hiền" kia cũng chƣa hẳn đã là biết sống. Chẳng phải họ đều chạy theo cái
lợi hão hoặc bị trói buộc bởi cái danh hão để phải làm tổn thƣơng đến hình hài và chân tính
của mình sao? Trong khi "đời người chỉ trong khoảng trăm năm, rốt cục đều nát cùng cây cỏ". Ở chỗ này, cũng nhƣ khi nói "mừng, buồn, lo, vui, cái nọ đi, cái kia đến; tốt tươi rồi khô héo cứ nối tiếp nhau", Nguyễn Trãi gợi nhớ đến câu thơ của Vạn Hạnh đời Lý:
"Thân nhƣ điện ảnh hữu hoàn vô,
Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô"
(Thị đệ tử)
(Thân nhƣ bóng chớp có rồi không,
Cây cối xuân tƣơi, thu não nùng)
(Dặn bảo đệ tử- Ngô Tất Tố dịch)
Quan niệm này vừa ảnh hƣởng từ Phật giáo - con ngƣời cùng vạn vật do "tứ đại"
duyên hợp mà thành, duyên hết lại trở về với những yếu tố vật chất ban đầu ấy; mọi sự tuần
hoàn, chuyển biến liên tục - mà cũng là từ triết học phƣơng Đông nói chung, trong đó có
Dịch lý uyên áo. Do vậy mà "núi gò hoang sơ" hay "cửa nhà lộng lẫy" đều là "ngẫu nhiên",
không có gì bền chắc; sau khi chết, sang và hèn đều trở thành vô nghĩa. Sự vận dụng quan
niệm này sẽ trở nên phiến diện, thậm chí có phần tiêu cực nếu xuất phát từ một ngƣời vốn
thích an nhàn cho riêng thân, không quan tâm đến xã hội, không có chí giúp đời hay vì bất
đắc chí mà trở thành yếm thế, bi quan. Với Nguyễn Trãi, khi ngẫm suy những điều này, ông
đã đứng trên tất cả những thất bại và thành công vinh quang nhất mình đã trải qua trong đời.
"Đời ngƣời trăm năm", nửa đời đã từng "mặn lạt no mùi thế tình" (Tự thán, X) nhƣng vẫn
kiên định một "tấc lòng ƣu ái cũ " (Thuật hứng, V), con ngƣời ấy khi triết lý về cuộc sống,
chắc không phải chỉ là những lời rỗng suông hay bắt chƣớc. Chiều sâu của tri thức, bề dày
của kinh nghiệm, độ chín của trí tuệ và sự linh mẫn của tâm hồn đã làm nên chất minh triết
cho quan niệm ây.
Tƣơng xứng với không gian mang tầm vũ trụ ở Côn Sơn ca là thời gian cũng không
hạn mức. Có khoảnh khắc của thực tại mà cũng có mở rộng ra cả một đời ngƣời và của cả
nhân gian. Những hình ảnh đƣợc gọi về từ những khoảng cách thời gian còn hình dung đƣợc
(Đổng Trác đời Hán, Nguyên Tải đời Đƣờng), rồi xa hơn nữa (Bá Di, Thúc Tề đời Ân), và xa
hơn nữa (Sào, Do đời Nghiêu, cổ đại)... Từ những đơn cử cụ thể
77
đã đi dần đến những đúc kết khái quát nhất mang tính quan niệm. Trên những quy luật chung
nhất này, và trong cõi nhân gian thật phù du ngắn ngủi, thiên niên kỷ chỉ nhƣ cái chớp mắt,
thì Sào, Do cách mấy ngàn năm và Nguyễn Trãi ở thế kỷ XV thật xiết bao gần gũi, có thể kết
bạn tri kỷ hoặc tranh luận cùng nhau về quan niệm sống, vì những vấn đề thuộc về con ngƣời
đều là muôn thuở. Bối cảnh không - thời gian trong khúc ca Côn Sơn mở rộng không giới
hạn, nội dung bài ca giản dị, nhẹ nhàng nhƣng là những chân lý tối hậu. Cái lớn của Côn Sơn
ca là ở đó. Một khúc ca chớ không phải bài thơ, lại càng không phải là một áng văn lý luận
đạo mạo. Nguyễn Trãi viết để ca lên, để làm vui mình và mời ngƣời cùng chia sẻ niềm an lạc
của tâm hồn. Nhƣng với đời sau Côn Sơn ca lại là một tổng hòa chất minh triết của trí tuệ,
lòng nhân ái nồng hậu với con ngƣời và chất thơ bay bổng, thanh thoát của một tâm hồn nghệ
sĩ. Ở đó, còn thấy đƣợc một ngòi bút nghệ thuật tài hoa. Bài ca đƣợc viết tự do, sảng khoái.
Những ý nghĩ có thể dồn đuổi nhau thành những câu hỏi liên tục đẩy những vấn đề về nhân
sinh lên đến mức bức xúc nhất, để rồi giãn ra sâu lắng thâm trầm sau lời lý giải giản dị và
điềm đạm.
Đằng sau Côn Sơn ca là cái nền của triết học và mỹ học phƣơng Đông đƣợc tổng hợp
một cách linh hoạt từ cả Nho, Phật và Đạo. Dung hòa đƣợc những nguồn tƣ tƣởng này đã là
sáng tạo. Nhƣng nếu chỉ có thể thì chƣa đủ để bài ca Côn Sơn có sức hấp dẫn bền lâu đến thế.
Điều đáng nói chính là cốt cách Việt Nam toát ra từ đó. Đó cũng là cốt cách của Nguyễn Trãi:
luôn quan tâm đến hạnh phúc của con ngƣời. "Cần gì phải muốn chung chín đỉnh; uống nước
lã, ăn cơm rau, tùy theo phận mình cũng cảm thấy đủ". Trong một bài thơ khác, Nguyễn Trãi
từng khuyên:
"Nằm có chiếu chăn cho ấm áp,
Ăn thì canh cá chớ khô khan.
Phúc dầu hay đến trăm tuổi,
Mình thác thì nên mọi của tan"
(Bảo kính cảnh giới, V I I )
Hai lời khuyên tuy có khác nhau nhƣng cùng một ý tứ: Nên biết quý và vui hƣởng
những gì mình có, không nên bỏ phí đời sống thực tại để chạy theo những cái ngoài tầm tay.
Hạnh phúc đích thực của đời ngƣời là điều nhà thơ luôn muốn nhủ khuyên, cảnh tỉnh mọi
ngƣời.
Tầm cao của Côn Sơn ca không chỉ ở sự thâm uyên về cái nhìn triết học mà chính là
sự thực hiện đại hòa điệu giữa "ta" và "vật" hồn
78
nhiên đầy minh triết. Đằng sau bài ca Côn Sơn còn là vô hạn một tấm lòng. Nét riêng của dân
tộc, của Nguyễn Trãi trong cái chung của phong cách phƣơng Đông là ở đó.
79
PHẦN KẾT LUẬN
Thơ ca sơ kỳ trung đại góp vào nền văn học dân tộc tiếng nói riêng của giai đoạn mở
đầu tràn đầy hào khí. Ở đó, hiện lên những con ngƣời mang nét đẹp riêng với những suy tƣ,
cảm xúc, quan niệm đã trở thành văn hóa của một thời đại và để lại ảnh hƣởng sâu sắc cho
nhiều thế hệ về sau.
Những con ngƣời ấy trƣớc hết biểu hiện một trí tuệ minh triết hiểu biết quy luật của
cuộc sống, biết sống đúng, sống đẹp và có ý nghĩa - cống hiến hết mình nhƣng không bận
tâm đến việc thịnh suy đƣợc mất. Trí tuệ sáng suốt ấy đi đôi với một bản lĩnh tự tin đặc biệt -
tự tin vào sức mạnh của chính mình và sức mạnh của dân tộc, không lệ thuộc cổ nhân, không
cầu viện ngoại lực mà quay về khơi dậy nội lực của chính mình. Hiểu biết thế giới trần thế và
kiếp ngƣời là hữu hạn, mong manh nhƣng đồng thời vẫn tin vào những giá trị vĩnh cửu mà
con ngƣời có thể đạt tới nhƣ khả năng của tâm linh vƣơn đến những chiều kích của đất trời,
huyền đồng cùng vũ trụ, hay mùa xuân bất tận của cái tâm an nhiên tự tại. Những nhà thơ
thời ấy đã tìm thấy nơi sự minh triết của trí tuệ con ngƣời vẻ đẹp của một cành mai tƣơi tắn
vƣợt thời gian.
Bên cạnh đó là vẻ đẹp của tâm hồn, một tâm hồn phong phú, dào dạt rung cảm trƣớc
thiên nhiên, cuộc sống, hƣớng đến con ngƣời, nhƣng chƣa phải đi vào từng cảnh đời, từng số
phận cụ thể, mà là kiếp ngƣời nói chung với những băn khoăn, trăn trở mang ý nghĩa nhân
sinh - triết học (thời thịnh Trần), hay tập thể những ngƣời "dân đen" (thƣơng sinh) chịu nhiều
thiệt thòi, đau khổ lúc đất nƣớc gặp phong ba (thời vãn Trần, Hồ và Lê sơ) với những ƣu tƣ
mang ý nghĩa nhân sinh - xã hội. Sự mẫn cảm trƣớc thiên nhiên đã giúp con ngƣời bộc lộ hết
những tế vi của tâm hồn mình trong thơ cũng nhƣ mở ra trƣớc ngƣời đọc một thế giới mới mẻ
và kỳ diệu của năng lực cảm xúc con ngƣời, vƣợt qua những rào cản của tri giác thông
thƣờng đƣợc điều khiển bởi tƣ duy lý tính để đi vào vùng đất vô giới hạn của trực cảm tâm
linh, nơi đó, những giá trị của không gian, thời gian hiện thực nhiều lúc không còn ý nghĩa và
khung trời của tự do sáng tạo rộng mở đến vô tận... Những nỗi niềm nhân sinh mang ý nghĩa
triết học xuất phát từ sự phản tỉnh của tâm thức dẫn dắt con ngƣời đi đến cảm nhận sâu sắc về
nỗi cô đơn cũng nhƣ những bi kịch tất yếu của kiếp ngƣời để chấp nhận nó và hóa giải nó
một cách "tùy duyên" bằng cái tâm trong sáng và an định. Những nỗi niềm nhân
80
sinh mang ý nghĩa xã hội xuất phát từ tấm lòng lo đời thƣơng dân mang đến cho con ngƣời
trong thơ vẻ đẹp của sự tận tụy và khát vọng cống hiến.
Cũng không thể không nhắc đến vẻ đẹp nhân cách con ngƣời thể hiện khá rõ nét trong
thơ ca sơ kỳ trung đại, một nhân cách cao thƣợng, khoáng đạt, hào hùng mà thơ Trần Thánh
Tông, Trần Nhân Tông, Nguyễn Ttrãi... là những minh chứng hùng hồn nhất.
Tựu trung lại, con ngƣời nhân văn trong thơ ca sơ kỳ trung đại đem đến cho ngƣời
đọc hình ảnh về những con ngƣời biết sống, sống đẹp và cuộc sống dồi dào ý nghĩa. Nó giúp
giải thích về một giai đoạn lịch sử có nội lực dân tộc hùng hậu và đạt đƣợc nhiều thành tựu
lớn lao nhất là về mặt đời sống tinh thần của con ngƣời. Trí tuệ, tâm hồn, nhân cách và bản
lĩnh của những con ngƣời ấy vẫn mãi toát ra một sức thu hút mới mẻ, kỳ lạ mỗi lần chúng ta
giở lại những trang thơ ngày trƣớc...
81
THƢ MỤC THAM KHẢO
1. A.J.A. Gurevich (Hoàng Ngọc Hiến dịch, 1996), Các phạm trù văn hóa Trung cổ, Nxb
Giáo dục, HN.
2. Băng Thanh, Ngọc Lan, 1993, Chu Văn An - con người và thơ, Tạp chí Văn học số 1,
1993.
3. Ban Phật học chuyên môn, 1992, Thiền học đời Trần, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam
ấn hành.
4. Bùi Duy Tân, 1998, Văn học chữ Nôm: Tinh hoa sáng tạo của văn học cổ điển Việt Nam
thời Trung đại, Tạp chí Văn học số 8 1998.
5. Bùi Văn Nguyên (chủ biên), 1995, Tổng tập văn học Việt Nam, tập IV, Nxb Khoa học xã
hội, HN.
6. Bùi Văn Nguyên (chủ biên), 1995, Tổng tập văn học Việt Nam, tập V , Nxb Khoa học xã
hội, HN.
7. Bùi Văn Nguyên, 1975, Bàn về một khía cạnh trong thơ trữ tình đời Trần, Tạp chí Văn
học số 1, 1975.
8. Bùi Văn Nguyên, 1978, Lịch sử văn học Việt Nam, tập II, Nxb Giáo dục, HN. 9. Bùi Văn Nguyên, 1984, Văn chương Nguyễn Trãi, Nxb Đại học và trung học chuyên
nghiệp, HN.
10. Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức, 1971, Thơ ca Việt Nam - hình thức và thể loại, Nxb
Khoa học xã hội, HN.
11. Bùi Văn Nguyên, Đào Phƣơng Bình, 1981, Thơ văn Nguyễn Phi Khanh, Nxb Văn học,
HN.
12. Cao Xuân Huy, 1995, Tư tưởng Phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu, Nxb
Văn học, HN.
13. D.T. Suzuki (Trúc Thiên dịch, 1971), Thiền luận, quyển thượng, Nxb An Tiêm, SG.
14. D.T. Suzuki (Tuệ Sĩ, 1971), Thiền luận, quyển trung, Nxb An Tiêm, SG. 15. D.T. Suzuki (Tuệ Sĩ dịch, 1973), Thiền luận, quyển hạ, Nxb An Tiêm, SG.
16. Dƣơng Quảng Hàm, 1968, Việt Nam thi văn hợp tuyển, Bộ Giáo dục, Trung tâm học liệu
xuất bản, SG.
17. Kiều Thu Hoạch, 1965, Tìm hiểu thơ văn của các nhà sư thời Lý Trần, Tạp chí Văn học
số 6, 1965.
82
18. Khuyết danh (Ngô Đức Thọ và Nguyễn Thúy Nga dịch và chú thích, 1990), Thiền uyển
tập anh, Nxb Văn học, HN.
19. La Kim Liên, 2005, Tìm hiểu quan niệm đạo đức của Nguyễn Trãi qua Quốc âm thi
tập, Tạp chí Văn học số 5, 2005.
20. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, 2004, Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb
Giáo dục, HN.
21. Lê Quý Đôn (Phạm Trọng Điềm dịch, 1962), Kiến văn tiểu lục, Nxb Sử học HN.
22. Lê Trí Viễn (chủ biên), 1978, Lịch sử văn học Việt Nam, Nxb Giáo dục, HN.
23. Lê Trí Viễn, 1982, Nguyễn Trãi, nhìn từ phía Lý Trần, trích trong Kỷ niệm 600 năm
sinh Nguyễn Trãi, Nxb Khoa học xã hội, HN.
24. Lê Trí Viễn, 1996, Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, HN.
25. Mai Quốc Liên (chủ biên), 1999, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập I, Trung tâm
Nghiên cứu quốc học, Nxb Văn học, HN.
26. Mai Quốc Liên (chủ biên), 1999, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập II, Trung tâm
Nghiên cứu quốc học, Nxb Văn học, HN.
27. Mai Quốc Liên (chủ biên), 2000, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập III, Trung tâm
Nghiên cứu quốc học, Nxb Văn học, HN.
28. Mai Quốc Liên, 1986, Một số các nhà thơ nổi tiếng đời Trần, trích trong Dưới gốc me
vườn Nguyễn Huệ, Tiểu luận văn học, Sở Văn hóa thông tin Nghĩa Bình.
29. Mai Quốc Liên, 1999, Tạp luận, Nxb Hội Nhà văn và Trung tâm Nghiên cứu quốc học.
30. Mai Trân, 1962, Tình yêu thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi, Tạp chí nghiên cứu văn
học số 9, 1962.
31. Miễn Trai, 1969, Vài suy nghĩ thêm về thơ văn Nguyễn Trãi, Tạp chí Văn học số 2,
1969.
32. Minh Chi, 1985, Phật giáo và triều đại Lý Trần, Tập văn Phật đản Phật lịch 2529, Ban
Văn hóa Trung ƣơng Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
33. Minh Chi 1985, Thơ thiền đời Lý, Tham luận tại Hội nghị "Văn thơ và nghệ thuật đời
nhà Lý" do Hội Văn nghệ Hà Bắc phối hợp với Viện Văn học và Viện Nghiên cứu mỹ
thuật Trung ƣơng tổ chức vào tháng 7/1985.
83
34. Đặng Thai Mai, 1974, Mấy điều tâm đắc khi đọc lại văn học của một thời đại, Tạp chí
Văn học số 6, 1974.
35. Đặng Thanh Lê, 1980, Nguyễn Trãi và đề tài thiên nhiên trong dòng văn học yêu nước
Việt Nam, Tạp chí Văn học số 4 1980.
36. Niculin, 1981, Đất nước và thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi Tạp chí Văn học số 1,
1981.
37. Đinh Gia Khánh (chủ biên), 1976, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (thế kỷ X - thế kỷ XVII),
Nxb Văn học, HN.
38. Đinh Gia Khánh (chủ biên), Bùi Duy Tân, Mai Cao Chƣơng 1978, Văn học Việt Nam thế
kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII, tập I, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, HN.
39. Đinh Gia Khánh (chủ biên), Bùi Duy Tân, Mai Cao Chƣơng, 1979, Văn học Việt Nam Thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII, tập II, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp,
HN.
40. Đỗ Văn Hỷ, 1975, Câu chuyện Huyền Quang và cách đọc thơ thiền, Tạp chí Văn học số
I, 1975.
41. Đỗ Văn Hỷ, 1981, Tính hàm súc trong thơ Ức Trai, Tạp chí Văn học số 4, 1981.
42. Đỗ Văn Hỷ, 1983, Cái hay trong thơ xưa dưới con mắt nhà thơ xưa, Tạp chí Văn học số
4, 1983.
43. Ngô Sĩ Liên (Ngô Đức Thọ dịch và chú thích, 1998), Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, Nxb
hoa học xã hội, HN.
44. Ngô Sĩ Liên (Hoàng Văn Lâu, 1998), Đại Việt sử kỷ toàn thư, tập II, Nxb Khoa học xã
hội, HN.
45. Ngô Tất Tố, 1947, Văn học đời Trần, Nxb Mai Lĩnh, HN. 46. Ngô Tất Tố, 1960, Văn học đời Lý, Nxb Khai Trí, SG. 47. Nguyễn Bá Thành, 1996, Tư duy thơ, Nxb Văn học, HN. 48. Nguyễn Công Lý, 1997, Bản sắc dân tộc trong văn học Thiền tông Lý Trần, Nxb Văn
hóa thông tin, HN.
49. Nguyễn Công Lý, 2002, Văn học Phật giáo thời Lý Trần - diện mạo và đặc điểm, Nxb
Đại học Quốc gia TP.HCM.
50. Nguyễn Duy Hinh, 1977, Yên Tử - vua Trần - Trúc Lâm, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số
2, 1977.
51. Nguyễn Duy Hình, 1992, Phật giáo với văn học Việt Nam, Tạp chí Văn học số 4, 1992.
52. Nguyễn Duy Hinh, 1998, Tuệ Trung - nhân sĩ, thượng sĩ, thi sĩ, Nxb Khoa học xã hội,
H N .
84
53. Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn và giới thiệu, 1999, Nguyễn Trãi -Về tác giả và tác phẩm,
Nxb Giáo dục, HN.
54. Nguyễn Hữu Sơn và nhiều tác giả khác, 1997, Về con người cá nhân trong văn học cổ
Việt Nam, Nxb Giáo dục, HN.
55. Nguyễn Huệ Chi, 1977, Trần Tung, một gương mặt lạ trong làng thơ thiền thời Lý
Trần, Tạp chí Văn học số 4, 1977.
56. Nguyễn Huệ Chi, 1978, Các yếu tố Phật, Nho, Lão được tiếp thu và chuyển hóa như
thế nào trong đời sống tư tưởng và văn hóa thời đại Lý Trần, Tạp chí Văn học số 6,
1978.
57. Nguyễn Huệ Chi, 1983, Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam, Nxb Tác phẩm mới, HN.
58. Nguyễn Huệ Chi, 1985, Vấn đề phân kỳ văn học sử Việt Nam, Tạp chí Văn học số 3,
1985.
59. Nguyễn Huệ Chi, 1987, Mãn Giác và bài thơ thiền nổi tiếng của ông, Tạp chí Văn học
số 5, 1987.
60. Nguyễn Huệ Chi, 1992, Trung tâm Phật giáo Quỳnh Lâm và hiện tượng hội nhập văn
hóa thời Lý Trần, Tạp chí Văn học số 8, 1998.
61. Nguyễn Đăng Điệp, 2002, Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học, HN.
62. Nguyễn Đăng Thục, 1967, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1, Bộ Văn hóa, SG.
63. Nguyễn Đăng Thục, 1967, Thiền học Việt Nam, Nxb Lá Bối, SG.
64. Nguyễn Đăng Thục, 1969, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập II, Phủ Quốc vụ khanh đặc
trách văn hóa, SG.
65. Nguyễn Đăng Thục, 1973, Thiền của Vạn Hạnh, Nxb Kinh Thi, SG.
66. Nguyễn Đăng Thục, 1996, Thiền học Trần Thái Tông, Nxb Văn hóa thông tin, HN.
67. Nguyễn Phạm Hùng, 1983, Về diễn tiến của thơ trữ tình thời Trần, Tạp chí Văn học số
4, 1983.
68. Nguyễn Phạm Hùng, 1992, Thơ thiền và việc lĩnh hội thơ thiền đời Lý, Tạp chí Văn học
số 4, 1992.
69. Nguyễn Phƣơng Chi, 1982, Huyền Quang, nhà sư thi sĩ, Tạp chí Văn học số 3/1982.
85
70. Nguyễn Tài Thƣ, 1993, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập I, Nxb Khoa học xã hội, HN.
71. Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Nhƣ Phƣơng, 1998, Lý luận văn học - vấn đề và suy nghĩ,
Nxb Giáo dục.
72. Nguyễn Văn Hoàn, 1975, Thơ văn Lý Trần và hào khí của một thời đại anh hùng, Tạp
chí Văn học số 1, 1975.
73. Nguyễn Văn Hoàn, 1980, Địa vị của Nguyễn Trãi trong quá trình phát triển của lịch sử
văn học Việt Nam, Tạp chí Văn học số 4, 1980.
74. Nhiều tác giả, 1963, Mấy vấn đề về sự nghiệp và thơ văn Nguyễn Trãi, Viện Văn học,
HN.
75. Nhiều tác giả, 2004, Từ điển Văn học, Bộ mới, Nxb Thế giới mới.
76. Phạm Ngọc Lan, 1986, Chất trữ tình trong thơ thiền đời Lý, Tạp chí Văn học số 4, 1986.
77. Phạm Ngọc Lan, 1992, Trần Nhân Tồng - cảm hứng Thiền trong thơ, Tạp chí Văn học
số 4, 1992.
78. Phạm Tú Châu, 1998, Tìm hiểu ý vị Thiền trong bài thơ Cây chuối của Nguyễn Trãi,
Tạp chí Văn học số 5, 1998.
79. Phạm Thị Tú, 1974, Về bài từ đầu tiên và tác giả của nó: sư Khuông Việt, Tạp chí Văn
học số 6, 1974.
80. Phan Huy Chú (Tổ phiên dịch Viện Sử học dịch, 1999), Lịch triều hiến chương loại chí,
Nxb Khoa học xã hột, HN.
81. Phƣơng Lựu (chủ biên), 1997, Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, HN. 82. Phƣơng Lựu, 1985, Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam, Nxb Giáo dục, HN.
83. Phƣơng Lựu, 1997, Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học trung đại Việt Nam,
Nxb Giáo dục, HN.
84. Tầm Vu, 1972, Tìm hiểu đặc điểm của tư tưởng Phật giáo Việt Nam trong thời đại Lý
Trần qua các tác phẩm văn học, Tạp chí Văn học số 2, 1972.
85. Tạ Ngọc Liễn, 1977, Vài nhận xét về thiền tông và phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần,
Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 4, 1977.
86. Tảo Trang, 1973, Chu Văn An, nhà thơ, Tạp chí Văn học số 2, 1973
86
87. Thanh Lãng, 1967, Bảng lược đồ văn học Việt Nam, quyển thƣợng, Nxb Trình bày, SG.
88. Thích Phƣớc An, 1992, Thiền sư Huyền Quang và con đường trầm lặng của mùa thu,
Tạp chí Văn học số 4, 1992.
89. Thích Thanh Từ, 1992, Thiền sư Việt Nam, Thành hội Phật giáo TP.HCM.
90. Trần Nghĩa, 1974, Quan niệm văn học thời Lý Trần, Tạp chí Văn học số 6, 1974.
91. Trần Ngọc Vƣơng, 1998, Văn học Việt Nam, dòng riêng giữa nguồn chung, Nxb Văn
học, HN.
92. Trần Nho Thìn, 2003, Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa, Nxb Giáo
dục, HN.
93. Trần Quốc Vƣợng, 1993, Bản ngã và cộng đồng trong và qua nền văn hóa - văn học
Việt Nam, Tạp chí Văn học số 6, 1993.
94. Trần Thái Tông (Đào Duy Anh giới thiệu, phiên dịch và chú giải, 1974), Khóa hư lục,
Nxb Khoa học xã hội, HN.
95. Trần Thị Băng Thanh, 1980, Ức Trai thi tập và thơ chữ Hán đời Trần, Tạp chí Văn học
số 4, 1980.
96. Trần Thị Băng Thanh, 1992, Thử phân định hai mạch cảm hứng trong dòng văn học
Việt Nam mang đậm dấu ấn Phật giáo thời Trung đại, Tạp chí Văn học số 4, 1992.
97. Trần Thị Băng Thanh, 1994, Huyền Quang và những trang đời nhiều huyền thoại,
những vần thơ nhiều hàm nghĩa, Tạp chí Văn học số 4, 1994.
98. Trần Văn Giàu, 1980, Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa
học xã hội, HN.
99. Trần Văn Giàu, 1988, Triết học và tư tưởng, Nxb TPHCM.
100. Trung tâm Nghiên cứu Hán Nôm, thuộc Viện Khoa học xã hội ở TP.HCM, 1993, Tuệ
Trung thượng sĩ với Thiền tông Việt Nam (Kỷ yếu hội thảo khoa học), TP.HCM.
101. Viện Sử học, 1981, Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý Trần, Nxb Khoa học xã hội, HN.
102. Viện Văn học, 1978, Thơ văn Lý Trần, tập I, Nxb Khoa học xã hội, HN.
103. Viện Văn học, 1978, Thơ văn Lý Trần, tập II, quyển thƣợng, Nxb Khoa học xã hội, HN.
87
104. Viện Văn học, 1978, Thơ văn Lý Trần, tập III, Nxb Khoa học xã hội, HN.
105. Vũ Đức Phúc, 1980, Tìm hiểu tâm sự bão táp của Nguyễn Trãi qua thơ văn ông, Tạp
chí Văn học số 5, 1980.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP.HCM
CON NGƢỜI NHÂN VĂN
TRÊN THI ĐÀN VIỆT NAM
SƠ KỲ TRUNG ĐẠI
Mã số: 8 2005. 23. 69
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. ĐOÀN THỊ THU VÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2006
1
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
Tên đề tài: CON NGƢỜI NHÂN VĂN TRÊN THI ĐÀN VIỆT NAM SƠ KỲ
TRUNG ĐẠI
Mã số: B 2005.23.69
Chủ nhiệm đề tài: Đoàn Thị Thu Vân Tel: 0918495982
E-mail: dtthuvan@hcm.fpt.vn
Cơ quan chủ trì để tài: Trƣờng Đại học Sƣ phạm TP. HCM
Thời gian thực hiện: Từ tháng 6 / 2005 đến tháng 6 / 2006
Mục tiêu:
- Xác định sự có mặt "con ngƣời nhân văn" trong thơ ca Việt Nam sơ kỳ trung đại và
tìm hiểu xem nó đã đƣợc biểu hiện ở những phƣơng diện nào, với cách thức ra sao.
- Từ đó góp phần khẳng định thêm một giá trị thẩm mỹ đặc sắc của thơ ca Việt Nam
sơ kỳ trung đại.
Nội dung chính: Gồm 4 chƣơng
Chƣơng 1: Một số vấn đề về khái niệm.
Chƣơng 2: Con ngƣời nhân văn trong thơ thời Lý với vẻ đẹp minh triết của trí tuệ.
Chƣơng 3: Con ngƣời nhân văn trong thơ thời Trần với vẻ đẹp mẫn cảm của tâm linh.
Chƣơng 4: Con ngƣời nhân văn trong thơ thời Lê sơ với vẻ đẹp tận tụy của ý thức
trách nhiệm và sự thanh cao của khí tiết kẻ sĩ.
2
Kết quả chính đạt đƣợc:
- Xác định đƣợc sự có mặt của "con ngƣời nhân văn" trong thơ ca Việt Nam sơ kỳ
trung đại cùng những nội dung biểu hiện phong phú và đa dạng của nó trong từng thời kỳ,
từng tác giả khác nhau.
- Từ đó khẳng định thêm một giá trị thẩm mỹ đặc sắc của thơ ca Việt Nam sơ kỳ trung
đại, cũng nhƣ những đóng góp của nó đối với những giá trị văn hóa và con ngƣời Việt Nam.
- Những kết quả này có thể ứng dụng vào việc giảng dạy chuyên đề ở cấp đại học và
sau đại học.
SUMMARY
Project Title: THE HUMANITARIAN IN VIETNAMESE EARLY MIDDLE AGE
POETRY
Code number: B 2005.23.69
Coordinator: Đoàn Thị Thu Vân Tel: 0918495982
E-mail: duhuvan@hcm.fpl.vn
Implementing Institution: HCMC Universiiy of Pedagogy
Duration: From June, 2005 to June, 2006
Objectives:
- Define the existence of humanitarian in Vietnamese poelry of Early Middle Age and
find out in what aspects and what styles il manifested.
- From that point, contribute to affirm one more special aesthelic valuc of Vietnamese
Early Middle Age poetry.
Main contents:
3
Chapter 1. About concepts
Chapter 2. The humanitarian with the wisdom of intellect in poems of The Ly's
dynasty
Chapter 3. The humanitarian with the sensibility of spirit in poems of The Tran's
dynasty
Chapter 4. The humanitarian with the devoted sense of responsibility and the
intellectual's nobility in poems of The Early Le's dynasty.
Results obtained:
- The existence of humanitarian in Vietnamese Early Middle Age poetry has been
defined with its properous, multiform manifestations in each period and from different
authors.
- From that point, one more special aesthetic value of Early Middle Age poetry as
well as its contributions to Vietnamese culture and people has been affirmed.
- These results can be applied to teach as a major in undergraduate and postgraduate
levels.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Văn học sơ kỳ trung đại (thế kỷ X - giữa thế kỷ XV) là giai đoạn đầu tiên của nền văn
học dân tộc thể hiện những giá trị đặc sắc của văn hóa và con ngƣời Đại Việt. Thơ ca, bộ
phận quan trọng nhất của văn học sơ kỳ trung dại, do đó cần đƣợc nghiên cứu từ nhiều
phƣơng diện để có thể giúp ngƣời đọc ngày nay đi sâu khám phá, tiếp cận ngày càng sâu sắc
hơn những thông điệp tinh thần của tiền nhân.
4
Tìm hiểu con ngƣời nhân văn trong thơ ca sơ kỳ trung đại là một trong những góc độ
nghiên cứu khả dĩ thiết lập đƣợc chiếc cầu nối giữa ngƣời xƣa và ngƣời sau để thế hệ hiện đại
có thể tìm thấy những gần gũi lạ kỳ trong suy tƣ, tình cám, cảm xúc của ngƣời xƣa cách đây
hơn nửa thiên niên kỷ, những đồng cảm sâu sắc vƣợt thời gian về những vấn đề muôn thuở
của con ngƣời, từ đó giúp thế hệ trẻ hiểu cha ông mình nhiều hơn, vƣợt qua sự cách bức về
phƣơng diện hình thức (ngôn ngữ, thể loại, các biện pháp nghệ thuật trung đại...) để không
chỉ tự hào về những giá trị quý báu của văn học dân tộc mà còn có thể dùng những thể
nghiệm của ngƣời xƣa soi rọi vào cuộc sống hôm nay, lĩnh hội đƣợc nhiều điều thú vị, bổ ích
và có ý nghĩa.
2. Mục tiêu đề tài
- Xác định sự có mặt "con ngƣời nhân văn" trong thơ ca Việt Nam sơ kỳ trung đại và
tìm hiểu xem nó đã đƣợc biểu hiện ở những phƣơng diện nào, với cách thức ra sao.
- Từ đó góp phần khẳng định thêm một giá trị thẩm mỹ của thơ ca Việt Nam sơ kỳ
trung đại.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là thơ ca Việt Nam từ thế kỷ X đến khoảng giữa thế
kỷ XV. Cụ thể là mở đầu với tác giả Pháp Thuận ở thời Tiền Lê và kết thúc với tác giả
Nguyễn Trãi ở đầu thời Hậu Lê.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những biểu hiện của "con ngƣời nhân văn" trong
các tác phẩm thơ ca nhƣ đã nêu. Đề tài không đi sâu tìm hiểu nội dung triết học Thiền Tông,
triết học Nho gia hay Lão Trang trong các tác phẩm.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi khảo sát toàn bộ các tác phẩm có liên quan đến phạm vi
nghiên cứu, sau đó chọn lọc, thống kê,
5
phân loại. Phƣơng pháp cơ bản đƣợc vận dụng là phân tích, sau đó so sánh để tìm ra những
đặc điểm loại biệt về những biểu hiện "con ngƣời nhân văn" ở từng tác gia quan trọng trong
từng chặng đƣờng của tiến trình (đƣợc phân định bằng triều dại - Lý, Trần, Lê sơ). Các đặc
điểm tìm ra đƣợc tổng hợp thành một số đặc điểm lớn và sắp xếp hệ thống hóa, để cuối cùng,
rút ra những kết luận có tính khái quát.
5. Kết cấu
Ngoài Phần mở đầu và Phần kết luận, Phần nội dung của đề tài bao gồm 4 chƣơng:
- Chƣơng 1: Một số vấn đề về khái niệm
- Chƣơng 2: Con ngƣời nhân văn trong thơ thời Lý với vẻ đẹp minh triết của trí tuệ.
- Chƣơng 3: Con ngƣời nhân văn trong thơ thời Trần với vẻ đẹp mẫn cảm của tâm
linh.
- Chƣơng 4: Con ngƣời nhân văn trong thơ thời Lê sơ với vẻ đẹp tận tụy của ý thức
trách nhiệm và sự thanh cao của khí tiết kẻ sĩ.
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KHÁI NIỆM.
1. Khái niệm "nhân văn":
Về thuật ngữ "nhân văn", hiểu theo ý nghĩa từng từ tố, "nhân" là ngƣời, "văn" là vẻ
đẹp. "Nhân văn" có thể hiểu nhƣ là những giá trị đẹp đẽ của con ngƣời. Một tác phẩm văn
học có tính nhân văn là tác phẩm văn học thể hiện con ngƣời với những nét đẹp của nó, đặc
biệt là những giá trị tinh thần nhƣ trí tuệ, tâm hồn, tình cảm, phẩm cách... Tác phẩm đó
hƣớng đến khẳng định, đề cao vẻ đẹp của con ngƣời.
6
"Chủ nghĩa nhân văn", theo Từ điển thuật ngữ văn học, có thể hiếu ở hai cấp độ, cấp
độ thế giới quan và cấp độ lịch sử. Liên quan đến đề tài là cách hiểu ở cấp độ thế giới quan,
theo đó, "chủ nghĩa nhân văn là toàn bộ những tƣ tƣởng, quan điểm, tình cảm quý trọng các
giá tri của con ngƣời nhƣ trí tuệ, lình cảm, phẩm giá, sức mạnh, vẻ đẹp. Chủ nghĩa nhân văn
không phải là một khái niệm đạo đức đơn thuần, mà còn bao hàm cả cách nhìn nhận. đánh giá
con ngƣời về nhiều mãi (vị trí, vai trò, khả năng, bản chất..) trong các quan hệ với tự nhiên,
xã hội và đồng loại"(1).
2. Khái niệm "con ngƣời nhân văn"
Thuật ngữ "con ngƣời" đƣợc dùng ở đây không phải để chỉ con ngƣời - sinh học, con
ngƣời - triết học, con ngƣời - nhân chủng học hay con ngƣời - xã hội học... mà là con ngƣời -
nghệ thuật trong tác phẩm văn học, hay nói khác đi là hình tƣợng nghệ thuậl về con ngƣời
trong tác phẩm văn học.
Từ đó, "con ngƣời nhân văn" đƣợc hiểu nhƣ là hình tƣợng nghệ thuật vẻ con ngƣời
mang tính nhân văn, tức con ngƣời mang vẻ đẹp ngƣời (về trí tuệ, tâm hồn, nhân cách, bản
lĩnh...) đƣợc biểu hiện trong tác phẩm văn học. Trong thơ trữ tình, con ngƣời đó chính là tác
giả - chủ thể trữ lình của tác phẩm. Bằng sự biểu hiện những tâm trạng, tình cảm, cảm xúc,
suy tƣ..., nhân vật trữ tình trong tác phẩm thơ đã phô bày những tố chất con ngƣời của mình,
để lại dấu ấn về cá nhân tác giả, và cả dấu ấn chung của một dòng thơ hay một giai đoạn thơ
ca, vì nhà thơ nào cũng là con ngƣời cụ thể của một thời đại, có mối quan hệ mật thiết với
những vấn đề xã hội, tƣ tƣởng, văn hóa của thời đại đó. Tìm hiểu "con ngƣời nhân văn" trong
thơ ca của một thời đại là
2004. tr. 88.
(1) Từ điển thuật ngữ văn học - Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi - NXB Giáo dục. HN.
7
để thấy ở đó, các nhà thơ đã bộc lộ những vẻ đẹp - con ngƣời nhƣ thế nào và bộc lộ ra sao.
"Con ngƣời nhân văn" ấy đã đóng góp gì cho thơ ca thời đại và cho văn học cũng nhƣ văn
hóa dân tộc nói chung. Điều này cũng là một tiêu chí để đánh giá giá trị thơ ca của một thời
đại. đồng thời cho thấy thiên hƣớng nghệ thuật của thơ ca thời đại đó. Mặt khác, qua đó, thơ
ca cũng giúp ngƣời đọc hiểu thêm về thời đại, có thể góp phần lý giải những vấn đề xã hội,
chính trị, văn hóa, tƣ tƣởng có liên quan.
3. Khái niệm "sơ kỳ trung đại"
Văn học trung đại đã đƣợc hầu hết các nhà nghiên cứu thống nhất là bắt đầu từ thế kỷ
thứ X (thế kỷ bắt đầu mở ra kỷ nguyên độc lập tự chủ của đất nƣớc, và từ đó, bắt đầu hình
thành một nền văn học dân tộc) và kết thúc vào cuối thế kỷ XIX (cùng với việc chấm dứt
dùng văn tự Hán - Nôm với những thể cách truyền thống trong thi cử, sáng tác, cũng nhƣ
trong nhiều sinh hoạt xã hội nói chung, để thay bằng chữ quốc ngữ và những thể cách mới
ảnh hƣởng từ văn minh phƣơng Tây). Tuy nhiên, về phân kỳ văn học trung đại, trƣớc nay có
khá nhiều ý kiến khác nhau. Mỗi cách phân kỳ đều có những lý do hợp lý riêng của nó. Suy
nghĩ về cơ sở và mức độ hợp lý của những cách phân kỳ đã đƣợc đƣa ra, đồng thời kế thừa từ
những đóng góp của ngƣời đi trƣớc, trong tiểu luận này, ngƣời viết đề xuất một cách phân kỳ
"không quá đi vào chi li nhƣng cũng không khái quát quá rộng - chia văn học trung đại làm 3
giai đoạn:
1. Sơ kỳ trung đại: Từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XV
2. Trung kỳ trung đại: Từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVIII
3. Hậu kỳ trung đại: Từ giữa thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX
8
Cách phân chia này dựa trên những biến chuyển tự thân của văn học, nhằm phù hợp
với yêu cầu phát triển của từng thời đại cũng nhƣ nhiệm vụ của từng giai đoạn lịch sử khác
nhau. Sơ kỳ trung đại là giai đoạn mở đầu của văn học trung đại với cảm hứng chủ đạo là
khẳng định dân tộc về quyền độc lập tự chủ, văn hóa, nội lực, bản lĩnh... Trung kỳ trung đại
là giai đoạn giữa của văn học trung đại, xuất hiện trong điều kiện lịch sử giai cấp phong kiến
đã trƣởng thành, già dặn kinh nghiệm để đƣa chế độ phong kiến phát triển đến đỉnh cao. Cảm
hứng chủ đạo của văn học giai đoạn này là khẳng định chế độ phong kiến với những kỷ
cƣơng, phép tắc và luân thƣờng đạo lý của nó. Cảm hứng khẳng định đó có lúc kết hợp song
hành giữa khẳng định triều đại phong kiến với niềm tự hào về sự phát triển cƣờng thịnh của
đất nƣớc (nửa cuối thế kỷ XV, dƣới triều Lê Thánh Tông), nhƣng cũng có lúc lại là nỗi bất
mãn trƣớc hiện thực nhiễu nhƣơng, phong hóa suy đồi, là lời kêu gọi giữ gìn đạo lý trong
khuôn khổ Nho gia (thế kỷ XVI với Nguyễn Bỉnh Khiêm là đại biểu). Hậu kỳ trung đại là
giai đoạn cuối với cảm hứng chủ đạo là cảm hứng nhân đạo phản kháng lại những bất công
của chế độ phong kiến và những quy định khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến, phá vỡ những
quy phạm cố hữu mang tính cao nhã của thơ văn trung đại để tiếp cận cuộc sống hiện thực
đời thƣờng của những ngƣời dân thƣờng trong xã hội.
4. Vấn đề "con ngƣời nhân văn trên thi đàn Việt Nam sơ kỳ trung đại".
Sơ kỳ trung đại là giai đoạn củng cố và phát triển chế độ phong kiến ở Đại Việt. Các
triều đại phong kiến tự chủ còn non trẻ đã dựa vào dân để xây dựng sức mạnh cho mình, để
phát huy nội lực dân tộc đánh lùi mọi kẻ thù ngoại xâm hung hãn bảo vệ lãnh thổ và xây
dựng đất nƣớc độc lập tự cƣờng, có bản sắc, có
9
tiếng nói và vị thế trong khu vực. Nhờ tinh thần rộng mở đặc biệt cùng với bản lĩnh tự tin, các
trí thức thời đại đã tiếp thu đƣợc những tinh hoa tƣ tƣởng nƣớc ngoài để làm phong phú thêm
cho văn hóa của mình mà vẫn không để mất bản sắc dân tộc. Thời đại đặc biệt ấy đã sản sinh
ra một nền văn học giàu khí sắc, trong đó thơ ca đã để lại dấu ấn sâu sắc về tác giả - những
con ngƣời từng tự hào cùng với gió lộng, trăng cao "hợp thành ba thứ tuyệt diệu lạ lùng trong
thiên hạ" (Vân Tiêu am - Trần Anh Tông). Tìm hiểu con ngƣời nhân văn trong đó không chỉ
để hiểu hết giá trị các tác phẩm thơ ca mà còn để hiểu về chủ thể sáng tạo với những khát
vọng thẩm mỹ về con ngƣời và cuộc sống của một thời; và trên cơ sở của những điều đó, tìm
hiểu về một phƣơng diện cống hiến đặc biệt của thơ ca sơ kỳ trung đại cho văn học trung đại
nói riêng, văn học dân tộc nói chung.
CHƢƠNG 2. CON NGƢỜI NHÂN VĂN TRONG THƠ THỜI LÝ VỚI
VẺ ĐẸP MINH TRIẾT CỦA TRÍ TUỆ.
Có thể thấy ở thơ thời Lý, mà đa số là thơ thiền, chất triết học, vẻ đẹp của trí tuệ nhƣ
là một yếu tố trội nổi. Ở đó có chiều sâu của sự suy tƣ từ cội nguồn sự vật kết hợp với sự linh
mẫn của trực giác để có cái nhìn xuyên thấu, khám phá bản chất sự vật.
1. Vẻ đẹp của sự điềm tĩnh và thông tuệ - "dĩ bất biến ứng vạn biến " - của
nhà cầm quyền trị nƣớc
Thơ thời Lý mở đầu với bài Quốc tộ (Vận nƣớc) của Pháp Thuận. Tuy tác giả là thiền
sƣ nhƣng đây lại là một bài thơ thế lục của một vị quốc sƣ trình bày với vua (Lê Đại Hành)
những nhận định của mình về vận nƣớc và đƣờng lối chính trị đúng đắn, phù hợp để đất nƣớc
đƣợc thái bình và bền vững dài lâu.
10
"Vô vi" là một đƣờng lối chính trị vô cùng khéo léo và sáng suốt. Đó là một nền chính
sự giản dị, lấy ý muốn của dân làm gốc, không làm gì phiền nhiễu cho dân. Dân yên vui thì
trên dƣới đồng lòng, nội lực đất nƣớc vững mạnh, khắp nơi không còn chiến tranh loạn lạc,
lân bang không dám dòm ngó. Chính trị sáng suốt đã tạo ra uy lực cho triều đại và cho tổ
quốc. Với chính tri "vô vi" nhà cầm quyền đã thực hiện cái tâm "ƣng vô sở trụ", từ đó có thể
"dĩ bất biến ứng vạn biến". Đó là điều kiện thiết yếu cho một vận nƣớc lâu dài mà nhà thơ
muốn nhắc nhở vua hằng lâm niệm.
2. Vẻ đẹp an nhiên tự tại của con ngƣời hiểu rõ quy luật tự nhiên và sống
hòa nhịp cùng quy luật.
Hiểu rõ quy luật sinh - trụ - dị - diệt của thế giới tự nhiên và sinh - lão - bệnh - tử của
đời ngƣời, con ngƣời không còn bị cầm tù trong những vòng dây của đau buồn, lo sự, tiếc
nuối về chuyện thịnh suy, đƣợc mất. Đó là chân lý tối hậu mà các thiền sƣ thời Lý ân cần trao
truyền lại cho thế hệ đi sau. Từ hình ảnh cành mai trong câu thơ cuối bài Cáo tật thị chúng
của Mãn Giác đã toát lên một tinh thần tự do tuyệt đỉnh. Con ngƣời chỉ có tự do thật sự khi
hiểu đƣợc cái tất yếu. Sáng suốt là biết chấp nhận quy luật, tùy theo nó mà sống để phát huy
đƣợc mặt tích cực của nó. Ấy là tinh thần "tùy ngộ nhi an" linh hoạt và tích cực, giúp tâm
luôn vững vàng và lạc quan trong cuộc sống.
3. Vẻ đẹp của tinh thần tự do, "phá chấp":
Nhìn xuyên thấu bản chất sự vật, các nhà thơ chỉ ra rằng tất cả chẳng qua là tên gọi, là
quy ƣớc, là hình ảnh do con ngƣời tạo dựng nên, rồi tin vào đó đời này sang đời khác. Mà đã
là cái thuộc về thế giới tƣơng đối thì sẽ thay đổi, sẽ mất đi. Do đó không nên khƣ khƣ bám
vào khái niệm. Tinh thần tự do, phá chấp của các thiền gia thời Lý không chỉ thể hiện trong
cách
11
sống cởi mở, tinh thần nhập thế mà còn ở con đƣờng nhận thức và tƣ duy. Có thể thấy rõ
trong thơ thiền thời Lý chủ trƣơng phải buông bỏ thiên kiến nhị phân và con đƣờng mòn cố
hữu của tƣ duy mới vén đƣợc bức màn ngăn cách để hiển lộ trƣớc mắt một thế giới mới mẻ,
thế giới của chân lý "bất khả tƣ nghị". Con ngƣời trong thơ thời Lý đã thể hiện khát vọng
muốn tháo mở tất cả những rào cản của tƣ duy lý tính hữu hạn để đem trí tuệ vƣợt lên khoảng
không của tự do tuyệt đối, và do đó, sáng suốt tuyệt đối.
CHƢƠNG 3. CON NGƢỜI NHÂN VĂN TRONG THƠ THỜI TRẦN
VỚI VẺ ĐẸP MẪN CẢM CỦA TÂM LINH
Nếu thơ ca thời Lý, mà đa số là thơ thiền - vốn là những bài kệ, thiên về ý nghĩa triết
lý nhằm biểu đạt những quan niệm về tâm, đạo, bản thể, quy luật tuần hoàn trong cuộc sống,
cách sống và ứng xử minh triết, thì thơ ca thời Trần đã đƣa ngƣời đọc vào thế giới của thi ca
đích thực với phong vị trữ tình và dấu ấn của chủ thể trữ tình bàng bạc trong tác phẩm ngay
cả đối với bộ phận thơ thiền.
Trong thơ thời Trần có thể bắt gặp một con người thường xuyên tự phản tỉnh. Con
ngƣời ấy có khi hƣớng nội để tự xem xét về ý nghĩa của kiếp ngƣời, sự tồn tại của đời ngƣời.
Đó là sự phản tỉnh ở cấp độ con ngƣời - nhân loại mang ý nghĩa triết học. Cũng có khi con
ngƣời ấy hƣớng nội để tự soi xét hành vi của bản thân, để biết mình đã làm đƣợc gì, chƣa làm
đƣợc gì trong cuộc đời, để đánh giá chính mình, công minh và khách quan, và quan trọng hơn
cả, để tự hiểu mình. Đó là sự phản tỉnh ở cấp độ con ngƣời - cá thể mang ý nghĩa nhân sinh.
Ý thức phản tỉnh nơi nhà thơ thƣờng dẫn họ đến nỗi cô đơn thăm thẳm. Trong cõi cô
đơn ấy, chỉ có mình tự đối diện
12
mình, giữa mênh mông vô tận của đất trời, giữa ngàn xƣa và ngàn sau không bờ bến. Tuy
nhiên, điều đáng nói, nỗi cô đơn ấy không triệt tiêu. không dìm chết đƣợc con ngƣời, mà con
ngƣời thấy đƣợc nó, hiểu đƣợc nó - nhƣ một thuộc tính cơ bản của đời ngƣời - và chấp nhận
nó để đối đầu hàng ngày, để dũng mãnh và kiêu hãnh mang lây nó đi suốt hành trình của kiếp
ngƣời. Ý thức về sự cô đơn ấy đã trở thành một giá trị, một trong những giá trị giúp con
ngƣời phân biệt với các sinh vật khác, và nhƣ vậy. nó cũng là một phạm trù của cái đẹp.
Tâm hồn khao khát tự do cũng là một nói đẹp nhân văn của con ngƣời thời Trần.
Không chỉ là tự do trong tƣ duy, trong nhận thức dẹp bỏ thiên kiến nhằm thấu đại chân lý, mà
tự do ở đây đã trở thành một nhu cầu tinh thần, một thôi thúc tự bên trong với khát vọng
muốn nâng con ngƣời vƣợt khỏi những giới hạn vốn có, đƣa tâm hồn con ngƣời đến một thế
giới mới, nơi đó con ngƣời có thể hòa vào sự vô thủy vô chung của đất trời và mang niềm vui
sống bất lận.
Nói đến những vẻ đẹp của con ngƣời trong thơ thời Trần không thế bỏ qua sự mẫn
cảm đặc biệt trong cảm nhận thiên nhiên. Thiên nhiên không hoàn toàn là một khách thể
bên ngoài mà còn là hình bóng của tâm linh. Có thể cảm hứng Thiền đã can dự vào đây ít
nhiều khi con ngƣời cảm nhận thiên nhiên trong tƣ thế buông thả tự do, để hồn mình tan hòa
vào vạn vật, không còn phân biệt nội tấm và ngoại, giới, nhờ đó, trực cảm đƣợc cái hồn của
cảnh vật, và từ đó, trong trạng thái xuất thần, đã ghi lại điều mình sở đắc - thiên nhiên hiện ra
với những nét đẹp mới lạ nhƣ là một ấn tƣợng riêng trong tâm thức ngƣời sáng tạo.
Ở thơ thời Trần không chỉ nổi bật lên sự mẫn cảm, tinh tế trong cảm nhận thiên nhiên
của con ngƣời mà còn hiện hữu sự
13
mẫn cảm trong những nỗi niềm nhân sinh. Những nỗi niềm nhân sinh ở đây không hạn hẹp
ở tâm trạng ƣu thời mẫn thế, đau xót trƣớc cảnh dân chúng cơ cực lầm than trong buổi suy
loạn hoặc chán ngán thế thái nhân tình, mặc dù đó là một nội dung quan trọng đậm đà chất
nhân văn ở thơ ca thời vãn Trần. Nỗi niềm nhân sinh là một vấn đề lớn và muôn thuở của con
ngƣời, mang ý nghĩa triết học sâu sắc. Đó là sự thấu hiểu những giới hạn của con ngƣời và
đời ngƣời, những bi kịch tất yếu của kiếp ngƣời, để đối diện và hóa giải nó - lựa chọn một
cách sống, cách hành xử phù hợp nhất.
1. Sự phản tỉnh nhƣ một nét đẹp tâm hồn từ Trần Thái Tông đến Trần
Minh Tông
Ở cấp độ con ngƣời - nhân loại, hơn ai hết, Trần Thái Tông luôn thể hiện sự trăn trở
về thân phận con ngƣời. Quan niệm "Thân nhƣ điện ảnh hữu hoàn vô" đƣợc nhà thơ ngẫm
nghiệm và cảm nhận bằng nhiều hình ảnh, tuy xuất phát từ góc độ Phật giáo, nhƣng vẫn
mang ý nghĩa nhân văn ở chỗ nhắc nhở mọi ngƣời quay đầu nhìn lại để sống thế nào cho có ý
nghĩa, tránh lãng phí cuộc đời với những thứ phù du. Tuệ Trung thƣợng sĩ, Trần Thánh Tông,
Trần Nhân Tông đều từng nói về sự thể nghiệm chân lý cuộc đời của bản thân mình, nhƣng
chính những phút giây "khám phá ra khúc nhạc diệu kỳ trong lòng mình" đó, con ngƣời cũng
đồng thời cảm nhận một nỗi cô đơn thẳm sâu không bờ bến... Tiêu biểu cho ý thức phản tỉnh
ở góc độ con ngƣời - cá thể phải kể đến trƣờng hợp của Trần Minh Tông với bài thơ Dạ vũ
khá đặc biệt. Ở đó, nhà vua đã dũng cảm tự thú về một lỗi lầm ba mƣơi năm trƣớc, và sự tự
giam mình trong nỗi ân hận dày vò khôn nguôi đã nâng con ngƣời ấy lên một tầm cao nhân
văn đáng cảm phục.
14
2. Khát vọng tự do và những khoảng trời riêng trong thơ Trần Thánh
Tông
Ấn tƣợng khó quên khi tiếp xúc với thơ Trần Thánh Tông là một không khí tự do và
khoáng đạt đến kỳ lạ, tự do giữa đất trời cao rộng và tự do trong cảm xúc nghệ thuật muôn
màu muôn vẻ (Hạnh An Bang phủ, Hạnh Thiên Trường hành cung...). Nhà thơ đã đạt đến
chỗ kỳ diệu của cái lâm đã vứt bỏ mọi bận bịu đa mang để nó trống không lặng lẽ mà vang
âm những thanh điệu diệu kỳ của vũ trụ. "Mây trên trời biếc, nƣớc trong bình" (Độc "Phái sự
đại minh lục" hữu cảm) là một lời đáp đầy ngẫu hứng của nhà thơ cho những ai muốn biết bí
quyết của cuộc sống. Đó không gì khác hơn là hiểu biết quy luật và tùy duyên mà hành động
Cho phù hợp, khi "động" có thể nhƣ "gió vang trong hang trống", khi "tĩnh" có thể nhƣ "trăng
soi mặt đầm lạnh". Nó đem lại tự do cho con ngƣời và chắp cánh cho sáng tạo nghệ thuật.
3. Một tấm lòng "mai họa nhƣ tuyết" và những cảm thức đời ngƣời trong
thơ Trần Quang Khải
Trần Quang Khải không chỉ là một anh hùng mà còn là một thi nhân với hứng thơ dạt
dào và hồn thơ phóng dật. Với nhà thơ, những hoạt động, cống hiến cho đời bằng cả sức lực
thanh xuân từng là niềm tự hào nhƣng dƣờng nhƣ vẫn chƣa là đủ. vẫn còn thiếu một cái gì đó
đem đến sự cân đối, hài hòa và an lạc cho tâm hồn. Đó chính là nhu cầu của thế giới tâm linh,
sự khao khát hƣớng về quê cũ, núi xƣa nhƣ một mái nhà thân thuộc của mẹ cha mà ai đi xa
cũng mong mỏi trở về. Nỗi buồn man mác lặng thầm trong ngày xuân ở bài thơ Xuân nhật
hữu cảm chứa những suy tƣ. trăn trở muôn thuở về hạnh phúc đích thực của đời ngƣời, về sự
xung đột giữa trách nhiệm xã hội và nhu cầu riêng tƣ của cá nhân. Và sắc trắng thanh khiết
của đóa hoa mai tâm
15
hồn khi soi bóng xuống dòng sông xƣa (Lƣu gia độ) lƣu lại vẻ đẹp bất tử trƣớc thời gian.
4. Trần Nhân Tông với những rung cảm tế vi và nhạy bén của tâm hồn.
Nhà thơ rất chú trọng những cảm thức tâm linh không thể soi rọi bằng ánh sáng của lý
tính và diễn giải tƣờng minh bằng lời. Ở đó chỉ có thể mƣợn thi liệu để chuyển tải những ấn
tƣợng đƣợc ghi nhận bằng trực cảm của tâm linh nhiều lúc đã trở thành nhƣ những ám ảnh
nghệ thuật. Điều đó cắt nghĩa vì sao Trần Nhân Tông thƣờng thích dùng không gian mùa thu,
núi non tịch mịch, làn nƣớc trong trẻo, ánh mặt trời chiều..., đặc biệt là ánh trăng, mỗi lần
xuất hiện một huyền diệu khác nhau. Đó là những vật thể mang tính âm, thiên về tĩnh, nhẹ
nhàng, điềm đạm, uyển chuyển và tinh tế. Thiên nhiên trong thơ Trần Nhân Tông thƣờng u
nhã, tịch liêu, đôi lúc dƣờng nhƣ man mác buồn nhƣng luôn luôn trong sáng và dạt dào
những cảm xúc bên trong.
5. Huyền Quang với tâm hồn nghệ sĩ chan chứa tình đời.
Đó là một thiền sƣ - nghệ sĩ hiếm gặp trong văn học trung đại, ngƣời đã đƣa thiền vào
thơ và đƣa thơ thiền vào thế tục. Thơ thiền đến Huyền Quang đã đạt tới chỗ vi diệu của ranh
giới gặp gỡ giữa thiền và thơ. Ở đó, con ngƣời - thiền sƣ đứng ngoài sự trói buộc của những
thịnh suy, đƣợc mất, nhƣng vẫn để trái tim nhà thơ của mình rung theo những nỗi niềm nhân
thế và bay bổng cảm hứng theo những vẻ đẹp của đất trời.
6. Trần Quang Triều với cảm hứng sông hồ và những trầm tƣ trƣớc cuộc
đời.
Trần Quang Triều là một gạch nối giữa thời thịnh Trần và vãn Trần, từng chứng kiến
một thời huy hoàng đã và đang đi qua, là kẻ sĩ của thời Nho học đang lên nhƣng tâm thức vẫn
đậm đà Thiền vị, lòng dào dạt tình đời nhƣng lại nguội lạnh với lợi
16
danh, say mê cái đẹp, yêu mến quê hƣơng nhƣng buồn nản về nhân tình thế thái. Nơi nhà thơ
của am Bích Động có những mặt tƣởng chừng mâu thuẫn tạo nên một sự phức tạp trong tâm
trạng, tính cách và đồng thời một hồn thơ đa dạng đầy sức lôi cuốn. Thơ ông thể hiện rõ
những khắc khoải trong tâm tƣ và nổi bật hơn cá là sự mẫn cảm đặc biệt trƣớc thiên nhiên và
cuộc sống, sự mẫn cam đã tạo nên cả một thế giới nghệ thuật tinh tế và đầy sức rung động.
CHƢƠNG 4. CON NGƢỜI NHÂN VĂN TRONG THƠ THỜI LÊ SƠ
VỚI VẺ ĐẸP TẬN TỤY CỦA Ý THỨC TRÁCH NHIỆM VÀ SỰ THANH
CAO CỦA KHÍ TIẾT KẺ SĨ.
Thời Lê sơ, bên cạnh ý thức trách nhiệm, tinh thần sôi nổi nhập thế, tấm lòng tận tụy
vì đời của ngƣời Nho sĩ, vẫn luôn song hành những thôi thúc của lâm linh hƣớng về một
khung trời tự do tuy đã khá mờ xa nhƣng vận đầy sức thu hút.
Nguyễn Trãi - con ngƣời biết tìm niềm vui sống.
Nhà thơ là ngƣời biết đi tìm niềm vui sống trong một cuộc sống hài hòa và phong
phú. Cái vui trƣớc hết nằm ở bản thân sự làm việc, phục vụ, cảm thấy mình có ích. Cái vui
còn ở trong cách sống giản dị, cởi mở, gần gũi thiên nhiên tƣơi đẹp, tận hƣởng kho báu trời
cho, trong trong công việc lao động hàng ngày, dạy học trò, đánh đàn, đi câu, trong sự tìm
đến với thiên nhiên, không chỉ nhƣ cái đẹp để ngắm nhìn, thƣởng thức, mà còn nhƣ một đối
tƣợng quan sát, suy nghiệm phát hiện chân lý cuộc sống để thỏa mãn nhu cầu làm thức.
Nguyễn Trãi đã kế thừa đƣợc cái nội lực hào hùng của thời đại Lý Trần để viết tiếp dòng thơ
của tinh thần tự do và khoáng đạt, đồng thời cũng để lại dấu ấn riêng của một bản lĩnh cá
nhân mạnh mẽ.
17
PHẦN KẾT LUẬN
Thơ ca sơ kỳ trung đại góp vào nền văn học dân tộc tiếng nói riêng của giai đoạn mở
đầu tràn đầy hào khí. Ở đó, hiện lên những con ngƣời mang nét đẹp riêng với những suy tƣ,
cảm xúc, quan niệm đã trở thành văn hóa của một thời đại và để lại ảnh hƣởng sâu sắc cho
nhiều thế hệ về sau.
Những con ngƣời ấy trƣớc hết biểu hiện một trí tuệ minh triết, hiểu biết quy luật của
cuộc sống, biết sống đúng, sống đẹp và có ý nghĩa - cống hiến hết mình nhƣng không bận
tâm đến việc thịnh suy, đƣợc mất. Trí tuệ sáng suốt ấy đi đôi với một bản lĩnh tự tin đặc biệt -
tự tin vào sức mạnh của chính mình và sức mạnh của dân tộc, không lệ thuộc cổ nhân, không
cầu viện ngoại lực mà quay về khơi dậy nội lực của chính mình.
Bên cạnh đó là vẻ đẹp của tâm hồn, một tâm hồn phong phú, dào dạt rung cảm trƣớc
thiên nhiên, cuộc sống, con ngƣời. Sự mẫn cảm trƣớc thiên nhiên đã giúp con ngƣời bộc lộ
hết những tế vi của tâm hồn mình trong thơ cũng nhƣ mở ra trƣớc ngƣời đọc một thế giới mới
mẻ và kỳ diệu của năng lực cảm xúc con ngƣời. Những nỗi niềm nhân sinh mang ý nghĩa triết
học xuất phát từ sự phản tỉnh của tâm thức dẫn dắt con ngƣời đi đến cảm nhận sâu sắc về nỗi
cô đơn cũng nhƣ những bi kịch tất yếu của kiếp ngƣời để chấp nhận nó và hóa giải nó một
cách "tùy duyên" bằng cái lâm trong sáng và an định. Những nỗi niềm nhân sinh mang ý
nghĩa xã hội xuất phát từ tấm lòng lo đời thƣơng dân mang đến cho con ngƣời trong thơ vẻ
đẹp của sự tận tụy và khát vọng cống hiến.
Cũng không thể không nhắc đến vẻ đẹp nhân cách con ngƣời thể hiện khá rõ nét trong
thơ ca sơ kỳ trung đại, một nhân cách cao thƣợng, khoáng đạt, hào hùng mà thơ Trần Thánh
18
Tông. Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi... là những minh chứng hùng hồn nhất.
Tựu trung lại, con ngƣời nhân văn trong thơ ca sơ kỳ trung đại đem đến cho ngƣời
đọc hình ảnh về những con ngƣời biết sống, sống đẹp và cuộc sống dồi dào ý nghĩa. Nó giúp
giải thích về một giai đoạn lịch sử có nội lực dân tộc hùng hậu và đạt đƣợc nhiều thành tựu
lớn lao nhất là về mặt đời sống tinh thần của con ngƣời. Trí tuệ, tâm hồn, nhân cách và bản
lĩnh của những con ngƣời ấy vẫn mãi toát ra một sức thu hút mới mẻ, kỳ la mỗi lần chúng ta
giở lại những trang thơ ngày trƣớc...

