1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

---------------------------------- PHAN VĂN KIẾN

DIEÄN MAÏO KINH TEÁ AN GIANG

TRONG CAÙC THEÁ KYÛ XVII - XX

Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam

Mã số : 60 22 54

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :

TS. TRẦN THỊ THANH THANH

Thành phố Hồ Chí Minh - 2007

2

MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

An Giang là một tỉnh ở miền Tây Nam Bộ thuộc Đồng bằng sông Cửu Long.

Cách đây hơn 300 năm, khi người Việt đặt chân đến vùng này, về cơ bản, đây là một

vùng đất hoang vu chưa được khai phá, sình lầy, sông rạch chằng chịt, cây rừng rậm

rạp, với hàng nghìn trâu rừng tụ họp. Nhưng không đầy ba thế kỷ sau, An Giang trở

thành một vùng đất trù phú, một vựa lúa lớn của cả nước. Việc dựng lại diện mạo kinh

tế An Giang trong các thế kỷ XVII - XX có ý nghĩa quan trọng đối với việc tìm hiểu sự

phát triển kinh tế An Giang ngày nay.

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, dưới sự lãnh đaọ của Đảng Cộng sản Việt

Nam, kinh tế An Giang đạt được rất nhiều thành tựu quan trọng, nhất là sản lượng

lương thực trong những năm gần đây luôn luôn đứng đầu cả nước. Tìm hiểu kinh tế An

Giang trong các thế kỷ XVII - XX có ý nghĩa quan trọng, giúp cho địa phương vạch ra

những chính sách, định hướng, giải pháp phát triển kinh tế An Giang trong giai đoạn

công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay.

Trong những năm qua, có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về tình hình

kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long, góp phần không nhỏ trong việc nhận thức lại

quá khứ, cung cấp những cơ sở khoa học cho việc quy hoạch phát triển kinh tế của

vùng. Một hệ thống đề tài về kinh tế của mỗi tỉnh trong các thế kỷ XVII - XX vẫn là

mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.

Mặt khác, đề tài này còn góp phần giáo dục thế hệ trẻ lòng yêu quê hương,

con người An Giang cần cù và sáng tạo trong lao động sản xuất, anh dũng, kiên cường

trong chống giặc ngoại xâm; từ đó có thái độ và trách nhiệm trong việc góp phần xây

dựng quê hương An Giang giàu đẹp.

3

Mục đích của luận văn là dựng lại bức tranh lịch sử về kinh tế An Giang trong

các thế kỷ XVII - XX, tập trung nghiên cứu tất cả các mặt hoạt động kinh tế nông

nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp, ngư nghiệp, thương nghiệp và giao thông vận

tải. Qua đó, thấy được những biến đổi của kinh tế An Giang trong các thế kỷ XVII -

XX. Trên cơ sở nghiên cứu các mặt hoạt động của kinh tế An Giang, tác giả rút ra được

một số đặc điểm cơ bản về kinh tế An Giang. Tìm ra thế mạnh của kinh tế An Giang,

góp phần vào việc hoạch định chính sách kinh tế của tỉnh. Đồng thời nêu được những

tác nhân kìm hãm sự phát triển kinh tế, ảnh hưởng của chúng đến đời sống nhân dân

An Giang trong các thế kỷ XVII - XX, từ đó có những kiến nghị cho việc phát triển

kinh tế An Giang trong giai đoạn hiện nay.

Tôi sinh ra, lớn lên và công tác tại An Giang, việc nghiên cứu kinh tế An

Giang trong các thế kỷ XVII - XX sẽ giúp tôi giảng dạy tốt lịch sử địa phương, cũng

như việc biên soạn tài liệu dạy học lịch sử địa phương An Giang cho các trường phổ

thông hiện nay. Việc nghiên cứu này còn góp phần bổ sung nguồn tư liệu tham khảo

cho giáo viên giảng dạy lịch sử địa phương An Giang.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Chủ đề của luận văn là Diện mạo kinh tế An Giang trong các thế kỷ XVII -

XX. Tác giả đi sâu tìm hiểu các hoạt động kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, thủ công

nghiệp, ngư nghiệp, thương nghiệp và giao thông vận tải, cũng như những tác động của

những hoạt động đó tới đời sống nhân dân An Giang trong bốn thế kỷ qua.

Về không gian, vùng đất An Giang từ thời chúa Nguyễn cho đến khi thực dân

Pháp chiếm Nam Kỳ có địa giới rất rộng, bao gồm An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang,

Sóc Trăng, một phần Đồng Tháp và Bạc Liêu ngày nay. Luận văn chỉ nghiên cứu

những vấn đề lịch sử thuộc phạm vi không gian địa giới tỉnh An Giang ngày nay. Khi

4

giới hạn phạm vi nghiên cứu, tác giả có tính đến sự thay đổi về địa giới hành chính qua

các thời kỳ lịch sử.

Về thời gian, luận văn giới hạn trong các thế kỷ XVII - XX. Cụ thể là từ năm

1620, là năm vua Chân Lạp Chey Chetta II xin cưới công nương Ngọc Vạn, con của

chúa Nguyễn Phúc Nguyên, từ đây, vua Chân Lạp tạo điều kiện thuận lợi cho người

Việt đến khai phá đất đai và định cư sinh sống ở vùng đất Nam Bộ, trong đó có An

Giang; và đến năm 2000, là năm kết thúc thế kỷ XX, bước sang kỷ nguyên mới, cũng

là năm An Giang đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực chính trị,

kinh tế, văn hoá, xã hội sau hơn 10 năm tiến hành công cuộc đổi mới.

3. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Khi thực hiện đề tài “Diện mạo kinh tế An Giang trong các thế kỷ XVII -

XX”, tác giả kế thừa nghiêm túc và có chọn lọc các kết quả nghiên cứu trước đây liên

quan đến đề tài, bao gồm các nội dung về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, yếu tố

con người và các nhân tố khác có tác động đến kinh tế An Giang. Trước hết là những

công trình được ghi chép của nhà Nguyễn.

Quyển Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1726 - 1783) được viết vào khoảng

năm 1776, thời điểm đang diễn ra cuộc khẩn hoang, mở rộng lãnh thổ về phía Nam. Do

vậy, tác phẩm có những tư liệu quý về cảnh quan, môi trường thiên nhiên, những biến

động kinh tế và chính trị vùng sông Tiền, sông Hậu nói riêng, vùng đất Nam Bộ nói

chung.

Tác phẩm Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1765 - 1825) được

viết vào thời vua Gia Long (1802 - 1820). Đây là quyển địa phương chí đầu tiên đề cập

một cách khái quát về địa giới, khí hậu, vùng đất, con người, sản vật, núi sông, phong

tục và tình hình kinh tế vùng đất Nam Bộ nói chung, trong đó có vùng đất An Giang

nói riêng ở các thế kỷ XVIII - XIX.

5

Bộ Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn, được vua Minh Mạng

cho biên soạn vào năm 1821, gồm hai phần : Đại Nam thực lục tiền biên ghi chép giai

đoạn lịch sử từ khi Nguyễn Hoàng vào Nam (1558) đến đời chúa Nguyễn Phúc Thuần

(1777); Đại Nam thực lục chính biên ghi chép Nguyễn Ánh bôn ba tìm cách khôi phục

lại quyền lực (1777) đến năm vua Đồng Khánh mất (1889). Đây là bộ tư liệu ghi chép

khá đầy đủ về vùng đất An Giang trong các thế kỷ XVII - XIX trên các phương diện

kinh tế, chính trị, xã hội. Ngoài ra, Đại Nam thực lục còn khắc hoạ đậm nét về xã hội

Việt Nam từ 1858 đến năm 1867, trong đó có vùng đất An Giang.

Trong Quốc triều chánh biên toát yếu của Quốc sử quán triều Nguyễn, có

đoạn miêu tả công việc đào kênh làm thuỷ lợi, công cuộc khẩn hoang lập đồn điền và

sơ lược về sở hữu đất đai của một số làng thuộc vùng đất An Giang trước khi thực dân

Pháp chiếm An Giang vào năm 1867.

Địa bạ Nam Kỳ lục tỉnh được lập năm 1836 dưới thời vua Minh Mạng, gồm

484 tập. Trong đó, Địa bạ An Giang có 43 tập bao gồm An Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng

và một phần tỉnh Đồng Tháp. Đây là tài liệu miêu tả sinh động, chính xác về các đơn vị

hành chính, các loại đất đai, tình hình phân bố ruộng đất, thuế, cơ cấu cây trồng và các

vấn đề xã hội khác ở tỉnh An Giang trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX.

Bộ sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, được biên

soạn vào năm Tự Đức thứ 29 (1875) và hoàn thành vào khoảng năm 1881. Trong tập

Thượng của bộ sách có nhiều ghi chép về tình hình môi trường tự nhiên, kinh tế An

Giang thế kỷ XIX. Đây là tư liệu quý khái quát phần nào bức tranh về tự nhiên, kinh tế

An Giang dưới triều Nguyễn.

Như vậy, thư tịch cổ viết về kinh tế An Giang khá phong phú, nhưng còn rời rạc

và đan xen với nhiều sự kiện khác. Cho đến nay, việc nghiên cứu vùng đất An Giang

trong các thế kỷ XVII - XIX nói chung, kinh tế An Giang nói riêng vẫn còn thiếu, rất

cần tài liệu nghiên cứu chuyên khảo đề cập một cách hoàn chỉnh, có hệ thống về kinh

6

tế An Giang. Do đó, các tư liệu trên vẫn là nguồn chính cho việc tham khảo và đối

chiếu trong quá trình nghiên cứu.

Trong thời thực dân Pháp cai trị và trở lại xâm lược (1867 - 1954) có một số

sách địa phương chí về tỉnh Long Xuyên, tỉnh Châu Đốc do người Pháp biên soạn như:

Đặc khảo về tỉnh Châu Đốc (năm 1902), Đặc khảo về tỉnh Long Xuyên (năm 1905),

Các tỉnh Nam Kỳ - Long Xuyên (năm 1907), Địa phương chí tỉnh Long Xuyên năm

1953, Địa phương chí tỉnh Châu Đốc năm 1953,... đề cập các mặt hành chính, kinh tế,

văn hoá, xã hội. Đồng thời, năm 1941, công trình khai hoang ở An Giang đã được nhắc

đến trong bài viết Mảnh sử liệu việc khai hoang ở Nam Kỳ dưới triều Nguyễn của tác

giả Tiên Đàm (Báo Tri Tân, số 21).

Thời kỳ 1954 - 1975 có nhiều công trình nghiên cứu về Nam Bộ, vùng đất An

Giang hoặc có đề cập đến kinh tế An Giang được công bố.

Dưới chính quyền Sài Gòn, Ban nghiên cứu Toà hành chính An Giang còn cho

biên soạn các quyển địa phương chí như : Địa phương chỉ tỉnh Long Xuyên 1956, Địa

phương chí tỉnh Châu Đốc 1956, Địa phương chí An Giang 1959, Địa phương chí An

Giang 1961, Địa phương chí An Giang 1963, Địa phương chí tỉnh An Giang 1967, Địa

phương chí tỉnh Châu Đốc 1968, Địa phương chí tỉnh An Giang 1973,… đã đề cập một

cách tổng quát về lịch sử, danh lam thắng cảnh, điều kiện tự nhiên, hành chính, kinh tế,

văn hoá, xã hội của tỉnh.

Quyển Tân Châu xưa của Nguyễn Văn Kiềm và Huỳnh Minh được biên soạn

vào năm 1964 đã đề cập đến một phần đất An Giang. Đây là loại sách chuyên khảo viết

về nơi định cư sinh sống sớm nhất của người Việt ở An Giang, sự quản lý của chúa

Nguyễn ở vùng đất mới tiếp quản này. Ngoài ra, tác giả còn trình bày diện mạo vùng

đất Tân Châu từ 1757 - 1965 qua các mặt kinh tế, địa phận, văn hoá, tín ngưỡng,....

Tác phẩm Việt sử xứ Đàng Trong của Phan Khoang được viết vào những năm

1970. Tác phẩm này viết về quá trình Nam tiến của dân tộc Việt Nam dưới thời các

7

chúa Nguyễn, quá trình xác lập chủ quyền ở vùng đất Nam Bộ, trong đó có đề cập đến

tình hình các mặt ở vùng đất An Giang.

Thoại Ngọc Hầu và công cuộc khẩn hoang vùng Hậu Giang của Nguyễn Văn

Hầu được xuất bản năm 1973. Tác giả viết về công trình đào kênh, mở đường, khẩn

hoang lập làng ở An Giang của Thoại Ngọc Hầu vào giai đoạn cuối thời vua Gia Long

đầu thời vua Minh Mạng.

Quyển Lịch sử khẩn hoang miền Nam của Sơn Nam xuất bản năm 1973, cũng

đã cung cấp những tư liệu về cuộc khẩn hoang lập làng ở vùng đất Nam Bộ nói chung,

An Giang nói riêng vào thế kỷ XVIII - XIX.

Người Chàm Hồi giáo miền Tây Nam phần Việt Nam của Nguyễn Văn Luận

xuất bản năm 1973. Tác giả đề cập đến quá trình lịch sử, sinh hoạt kinh tế và đời sống

văn hoá - xã hội của người Chăm ở An Giang trước năm 1975.

Quyển Người Việt gốc Miên của Lê Hương xuất bản 1969, đã miêu tả sinh

động về sinh hoạt xã hội, tôn giáo, văn hoá, giáo dục và kinh tế của người Khmer ở

đồng bằng sông Cửu Long nói chung, trong đó có sinh hoạt kinh tế của người Khmer

An Giang.

Ngoài ra, trong tác phẩm Gia Định xưa, nhà văn Sơn Nam đã đề cập đến vấn

đề đất đai, thiên nhiên, phong thổ, phong tục, tập quán của vùng đất Nam Bộ và công

cuộc khẩn hoang vùng biên giới Tây Nam.

Từ sau năm 1975, có nhiều công trình nghiên cứu về đồng bằng sông Cửu Long

và An Giang, với những vấn đề sâu hơn.

Tác phẩm Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ do Huỳnh Lứa chủ biên, đã góp

phần tìm hiểu sâu hơn về quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ, trong đó có An Giang.

Các tác giả đã khái quát quá trình di chuyển dân cư, khai hoang lập đồn điền, tổ chức

sản xuất nông nghiệp, những biến đổi về mặt xã hội, .…

8

Quyển Những trang về An Giang của Trần Thanh Phương xuất bản 1984. Đây

là quyển sách địa chí, đã đề cập đến thiên nhiên, con người, kinh tế, văn hoá, giáo dục,

y tế An Giang trong các thế kỷ XVIII - XX.

Trong Lịch sử An Giang của Sơn Nam được xuất bản vào năm 1988, tác giả

đã đề cập đến những biến đổi về mọi mặt của vùng đất An Giang từ khi hoà hợp vào

lãnh thổ nước ta đến thời Pháp thuộc.

Quyển Văn hoá và cư dân đồng bằng sông Cửu Long của Nguyễn Công Bình,

Lê Xuân Diệm, Mạc Đường xuất bản năm 1990 đã nghiên cứu về các tộc người đang

sinh sống trên mảnh đất Đồng bằng sông Cửu Long. Các tác giả đã đề cập đến mọi mặt

trong sinh hoạt về mặt kinh tế - xã hội của cư dân đã từng sinh sống ở vùng đất này.

Tác phẩm Về dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long xuất bản năm 1991 đã đề

cập khá chi tiết về sinh hoạt kinh tế của các dân tộc Khmer, Chăm, Hoa đang sinh sống

ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, vùng đất An Giang nói riêng.

Chế độ công điền công thổ trong lịch sử khẩn hoang lập ấp ở Nam Kỳ lục tỉnh

của Nguyễn Đình Đầu được xuất bản năm 1992. Tác phẩm cung cấp những tư liệu quý

về quá trình khai hoang lập ấp, chế độ công điền công thổ ở An Giang từ khi lưu dân

người Việt có mặt cho đến khi Pháp xâm chiếm vùng này vào năm 1867.

Quyển Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX của

Huỳnh Lứa xuất bản năm 2000. Tác giả có đề cập đến quá trình xác lập chủ quyền lãnh

thổ, khai hoang lập ấp, công cuộc đào kênh, các hoạt động kinh tế ở An Giang trong

hai thế kỷ XVIII - XIX.

Bên cạnh đó còn có các tác phẩm Đồng bằng sông Cửu Long nghiên cứu và

phát triển do Nguyễn Công Bình chủ biên, Nghề nông Nam Bộ của Trần Xuân Kiêm

biên soạn năm 1992, Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam của Vũ Minh Giang chủ

biên.

9

Ngoài ra, các bài viết trong các Kỷ yếu hội thảo khoa học như Nam Bộ và

Nam Trung Bộ những vấn đề lịch sử thế kỷ XVII - XIX do Trường Đại học Sư phạm

thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, Lịch sử phát triển kinh Vĩnh Tế, Lịch sử hình thành

vùng đất An Giang do Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ An

Giang và Sở Khoa học Công nghệ Môi trường tỉnh An Giang đã phối hợp với Viện

Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh tổ chức,... ; các bài viết trên các báo

chuyên ngành được công bố thường xuyên có liên quan đến kinh tế An Giang.

Những nội dung vừa được đề cập ở trên chưa có tính hệ thống, chưa có tính

liên tục, chưa được đi sâu, trong đó có kinh tế. Nhìn chung, cho đến nay chưa có công

trình nghiên cứu chuyên sâu về đề tài Kinh tế An Giang từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX.

Như vậy, chủ đề này vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra cho giới nghiên cứu.

4. NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1. Nguồn tài liệu

Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi nghiêm túc kế thừa không chỉ tư

liệu mà cả về lý luận của các công trình đi trước có liên quan đến đề tài. Nguồn tư liệu

bao gồm : sách, báo, tạp chí có ở Thư viện Khoa học Xã hội, Thư viện Khoa học Tổng

hợp, Thư viện Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện An Giang, Thư

viện Cần Thơ. Bên cạnh đó còn có các bản báo cáo, tập địa chí được lưu trữ tại Ban

Tuyên giáo Tỉnh uỷ An Giang, Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang, Cục Thống kê tỉnh An

Giang, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II; các luận văn cao học và phó tiến sĩ lưu lại tại

Thư viện Khoa học Xã hội, Thư viện Khoa học Tổng hợp.

Ngoài ra, chúng tôi còn thu thập tài liệu điền dã để có thêm cơ sở nhận định về

kinh tế An Giang trong các thế kỷ XVII - XX.

10

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, tác giả vận dụng phương pháp lịch sử và phương pháp

logic : Đây là những phương pháp cơ bản sử dụng trong luận văn. Trong đó, phương

pháp lịch sử đóng vai trò chủ đạo.

Phương pháp hệ thống hoá : Hệ thống lại những vấn đề được viết tản mạn, rải

rác trong các tư liệu và nhiều nguồn tư liệu khác nhau có liên quan đến kinh tế An

Giang trong các thế kỷ XVII - XX. Phương pháp hệ thống hoá là cơ sở để trình bày

những nội dung trong luận văn.

Phương pháp so sánh : Dùng phương pháp này để đối chiếu kinh tế An Giang

ở các vùng địa phương trong tỉnh hoặc với các tỉnh khác trong vùng.

Phương pháp liên ngành : Trong quá trình thực hiện đề tài, kết hợp chủ yếu

các loại tài liệu và kế thừa thành tựu nghiên cứu của các ngành khác nhau như địa lý,

kinh tế, thống kê,…

Phương pháp khảo sát điền dã : Tác giả luận văn đã tiếp xúc với những người

trồng lúa ở Long Kiến, nghề mộc ở Long Điền A (huyện Chợ Mới), nghề dệt ở huyện

Tân Châu, nghề gốm ở huyện Tri Tôn, nghề đá ở Núi Sập, nghề sản xuất gạch ngói ở

huyện Châu Thành, làm mắm ở thị xã Châu Đốc,… Đồng thời còn thu thập tài liệu

điền dã để có thêm cơ sở nhận định về kinh tế An Giang trong bốn thế kỷ đã qua.

5. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

Luận văn góp phần hệ thống hoá và làm phong phú khối lượng tư liệu liên

quan đến tiến trình phát triển kinh tế An Giang trong các thế kỷ XVII - XX. Nguồn tư

liệu này được bổ sung vào tư liệu nghiên cứu kinh tế Nam Bộ nói chung.

Luận văn còn đóng góp một số kết luận cụ thể về những thuận lợi và khó khăn

của kinh tế An Giang trong bốn thế kỷ đã qua, rút ra những đặc điểm cơ bản kinh tế An

11

Giang trong các thế kỷ XVII - XX. Từ đó có những đề xuất và giải pháp nhằm phát

triển kinh tế An Giang trong giai đoạn hiện nay.

6. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Luận văn gồm 207 trang, trong đó phần mở đầu 10 trang, nội dung chính 168

trang, kết luận 10 trang, tài liệu tham khảo 7 trang, phụ lục 12 trang. Luận văn được

chia làm 3 chương.

Chương 1 : Môi trường tự nhiên - điều kiện cơ bản của diện mạo kinh tế An Giang.

Chương 2 : Diện mạo kinh tế An Giang trong các thế kỷ XVII - XX.

Chương 3 : Cư dân An Giang - chủ thể làm nên diện mạo kinh tế An Giang.

12

Chương 1 : MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN - ĐIỀU KIỆN

CƠ BẢN CỦA DIỆN MẠO KINH TẾ AN GIANG

1.1. Vị trí, địa hình

1.1.1. Vị trí

An Giang là một tỉnh ở miền Tây Nam Bộ thuộc Đồng bằng sông Cửu Long,

nằm giữa sông Tiền, sông Hậu và có một phần diện tích nằm trong vùng Tứ giác Long

Xuyên. Mặt khác, An Giang còn là một tỉnh biên giới vừa có đồng bằng, vừa có đồi

núi, có nhiều tôn giáo và thành phần dân tộc Việt, Khmer, Hoa, Chăm sinh sống.

Tỉnh An Giang có diện tích tự nhiên là 3.406,23 km2, dân số năm 2006 là

2.218.403 người [10, tr.19], đứng đầu các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long và đứng

thứ 6 trên tổng số 64 tỉnh, thành phố. Tỉnh An Giang có 11 huyện, thị, thành phố trực

thuộc gồm thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc và các huyện Châu Thành, Châu

Phú, Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên, An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Chợ Mới; với 154

xã, phường, thị trấn.

Phía bắc và tây bắc giáp Vương quốc Campuchia với đường biên giới dài 104

km, phía đông giáp với tỉnh Đồng Tháp 107,628 km, phía nam và đông nam giáp với

thành phố Cần Thơ 44,734 km, phía tây nam giáp với tỉnh Kiên Giang 69,789 km.

Chiều dài nhất của tỉnh An Giang theo hướng Bắc - Nam là 86 km và hướng Đông -

Tây là 87,2 km, nơi hẹp nhất ở phía bắc là 20 km.

Là tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, nằm liền kề với thành phố Cần Thơ, cách

Thành phố Hồ Chí Minh 190 km. An Giang có hệ thống giao thông thuỷ bộ rất thuận

lợi. Quốc lộ 91 nối liền với quốc lộ 2 của Vương quốc Campuchia qua cửa khẩu quốc

tế Tịnh Biên (huyện Tịnh Biên); Tỉnh lộ 956 với Campuchia qua cửa khẩu quốc tế

13

Khánh Bình (huyện An Phú); sông Hậu, sông Tiền và mạng lưới kênh rạch là những

tuyến giao thông thủy quốc tế quan trọng nối tỉnh An Giang với các tỉnh ở Đồng bằng

sông Cửu Long và Campuchia qua cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương (huyện Tân Châu).

Đây là điều kiện thuận lợi để An Giang phát triển và hội nhập kinh tế với các tỉnh trong

khu vực, với nước ngoài, nhất là khu vực Đông Nam Á.

1.1.2. Địa hình

An Giang có địa hình thấp dần từ biên giới Việt Nam - Campuchia xuống đến

lộ Cái Sắn và từ bờ sông Tiền qua đến giáp ranh tỉnh Kiên Giang. An Giang có 2 dạng

địa hình chính là đồng bằng và đồi núi.

Địa hình đồng bằng chiếm 87% diện tích tự nhiên của tỉnh, có 2 loại chính

đồng bằng phù sa và đồng bằng ven núi.

Đồng bằng phù sa là do phù sa sông Tiền và sông Hậu bồi đắp hàng năm, rất

bằng phẳng và có nhiều dạng. Dạng cồn bãi (còn gọi là cù lao), ở giữa cao và thấp dần

sang hai bên như “cù lao Mỹ Hoà Hưng, cù lao Tiên, cồn Phó Ba (thành phố Long

Xuyên), Bà Hoà (huyện Châu Thành), Bình Thuỷ, Khánh Hoà (huyện Châu Phú), Vĩnh

Trường (huyện An Phú) trên sông Hậu; và cù lao Giêng (huyện Chợ Mới), cù lao Tây,

cù lao Ma, Cái Vừng (huyện Tân Châu) trên sông Tiền” [79, tr.104]. Dạng lòng chảo,

địa hình ở hai bên bờ sông cao hơn, thấp dần vào trong đồng ruộng, đó là khu vực giữa

sông Tiền và sông Hậu, rõ nét nhất là huyện Phú Tân, vì nơi đây có ba mặt sông bao

bọc. Dạng hơi nghiêng, ở phía hữu ngạn sông Hậu thuộc vùng trũng Tứ giác Long

Xuyên, địa hình cao ở gần bờ sông Hậu rồi thấp dần vào trong đồng ruộng cho đến tận

ranh giới tỉnh Kiên Giang. Dạng gợn sóng là một dạng phụ nằm trong khu vực dạng

lòng chảo, được hình thành do sự kết nối đan xen các bãi bồi ven các sông nhánh và

các rạch tự nhiên đã bị phù sa sông bồi lấp, tập trung chủ yếu ở cù lao Vĩnh Trường

(huyện An Phú), các xã Vĩnh Hòa và Vĩnh Xương của huyện Tân Châu.

14

Đồng bằng phù sa ở An Giang ngày nay có nhiều thay đổi so với cách đây

hơn 200 năm, những cánh đồng tràm mênh mông với vô số đàn ong xây tổ làm mật,

những cánh đồng um tùm, đầy lau sậy hoang vu xưa kia, nay đã được khai thác hết để

trồng lúa và cây hoa màu, cây ăn quả và cây công nghiệp ngắn ngày, từ một vụ đến hai,

ba vụ mỗi năm. Đồng bằng còn bị chia cắt bởi hệ thống kênh đào, các tuyến giao thông

đường bộ và các khu dân cư tập trung đông đúc.

Đồng bằng ven núi tập trung chủ yếu quanh các chân núi ở 2 huyện Tri Tôn,

Tịnh Biên. Dạng đồng bằng này có nhiều bậc thang ở những độ cao khác nhau, nhưng

ở mỗi bậc thang thì khá bằng phẳng, không có độ nghiêng; chênh lệch độ cao giữa các

bậc thang không lớn. Cách đây hơn 200 năm, trên những cánh đồng này là những thảm

thực vật phủ xanh với nhiều chủng loài. Nhưng ngày nay được khai phá hết để trồng

lúa, hoa màu và cây ăn quả, dẫn đến nguy cơ bị xói mòn dần và sa mạc hóa, đòi hỏi

việc đa dạng hóa cây trồng, nhất là cây ăn quả.

Địa hình đồi núi thấp chiếm 13% diện tích tự nhiên, tập trung chủ yếu ở 3

huyện Tri Tôn, Tịnh Biên và Thoại Sơn; có hàng chục ngọn núi khá lớn, nhỏ, cao, thấp

khác nhau. Đồi núi An Giang chia làm 2 dạng chính : dạng núi cao và dốc, dạng núi

thấp và thoải. Dạng núi cao và dốc như núi Cấm, núi Cô Tô, núi Dài,… Dạng núi thấp

và thoải, phần lớn các núi thấp nằm liền hoặc nằm kề các núi lớn như núi Nam Qui, Sà

Lon, núi Đất,…

Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức viết trước năm 1820 ghi

chép về đồi núi ở An Giang gồm 19 núi, đó là : núi Thụy Sơn, núi Bảo Sơn (thuộc cụm

núi Sập huyện Thoại sơn ngày nay), núi Ba Thê, núi Tà Chiếu, núi Trà Nghinh (thuộc

cụm núi Ba Thê huyện Thoại Sơn ngày nay), núi Tượng Sơn, núi Cà Âm, núi Nam Sư,

núi Khê Lạp, núi Toái Sơn, núi Tà Biệt, núi Ba Xui, núi Ngật Sum, núi Nam Vi, núi

Đài Tốn, núi Chân Sum, núi Sâm Đăng, núi Đại Bà Đê và núi Tiểu Bà Đê (phần lớn

các núi này nằm trên địa bàn 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên ngày nay [17, tr.49-52].

Tuy nhiên, sách Đại Nam nhất thống chí biên soạn hoàn thành vào năm 1882 đã đề cập

15

đến danh từ Thất Sơn, Bảy Núi và ghi bổ sung thêm 4 núi là Tô Sơn, Ốc Nhẫm, Tà

Biệt và Nhân Hòa.

Ngoài núi Sập, núi Ba Thê (huyện Thoại Sơn), núi Sam (thị xã Châu Đốc),

An Giang còn có một dãy núi nằm nối đuôi nhau chạy dài giáp vùng biên giới Việt

Nam - Campuchia, gọi là Bảy Núi hoặc Thất Sơn, với 7 núi chính : núi Nước (Thủy

Đài Sơn), núi Cô Tô (Phụng Hoàng Sơn), núi Két (Anh Vũ Sơn), núi Dài (Ngọa Long

Sơn), núi Cấm (Thiên Cấm Sơn), núi Tượng (Liên Hoa Sơn), núi Năm Giếng (Ngũ Hồ

Sơn). Trong đó, một số núi khá lớn như núi Dài, núi Cô Tô có độ cao trên 500 mét và

núi có đỉnh cao nhất là núi Cấm (Thiên Cấm Sơn) 705 mét. Theo Gia định thành thông

chí, đồi núi An Giang được mô tả : “Vách dốc ngậm mây, suối cong tắm ngọc, có

những thứ giáng hương, tốc hương; cây cối um tùm, chim muông béo tốt” [17, tr.50].

Còn Đại Nam nhất thống chí ghi lại núi Sập : “Cách sông Thụy Hà 18 dặm rưỡi về

phía tây, cao 30 trượng, chu vi 3 dặm, ba ngọn núi chồng chất, cây cối xanh um, cấm

chặt cây” [60, tr.195]; hay núi Nam Vi “ ở cách huyện Hà Dương 8 dặm về phía tây

nam, cao 30 trượng, chu vi hơn 8 dặm, cây cối um tùm, cấm chặt cây, khe sâu cỏ rậm,

rất nhiều hươu nai hổ báo” [60, tr.196].

Theo Địa chí An Giang (năm 2000), tỉnh An Giang có 37 núi :

TT Tên núi Độ cao (mét) Chu vi (mét) Vị trí núi (xã, huyện)

1 Núi Sập 3800 Thị trấn Núi Sập, Thoại Sơn 85

2 Núi Nhỏ 2200 Thị trấn Núi Sập, Thoại Sơn 76

3 Núi Bà 280 Thị trấn Núi Sập, Thoại Sơn 55

4 Núi Cậu 240 Thị trấn Núi Sập, Thoại Sơn 34

5 Núi Ba Thê 221 4220 Thị trấn Óc Eo, Thoại Sơn

6 Núi Nhỏ 700 Thị trấn Óc Eo, Thoại Sơn 63

7 Núi Tượng 970 Xã Vọng Đông, Thoại Sơn 60

8 Núi Trọi 400 Xã Vọng Đông, Thoại Sơn 21

16

9 Núi Chóc 550 Xã Vọng Đông, Thoại Sơn 19

10 Núi Nổi 320 Xã Phú Hữu, huyện An Phú 10

11 Núi Sam (Học Lãnh Sơn) 5200 Núi Sam, thị xã Châu Đốc 228

12 Phú Cường (Bạch Hổ Sơn) 9500 An Nông, huyện Tịnh Biên 282

13 Núi Dài (Ngũ Hồ Sơn) 8751 An Phú, huyện Tịnh Biên 265

14 Núi Két (Anh Vũ Sơn) 5250 Thới Sơn, huyện Tịnh Biên 266

15 Núi Rô 2250 An Cư, huyện Tịnh Biên 149

16 Núi Trà Sư (Kỳ Lân Sơn) 1750 Nhà Bàng, huyện Tịnh Biên 146

17 Núi Bà Vải 1400 Nhơn Hưng, huyện Tịnh Biên 146

18 Núi Đất Lớn 2120 Nhơn Hưng, huyện Tịnh Biên 120

19 Núi Bà Đắt 1075 Văn Giáo, huyện Tịnh Biên 103

20 Núi Cậu 1900 Thị trấn Tịnh Biên, Tịnh Biên 100

21 Núi Đất Nhỏ 450 Nhơn Hưng, huyện Tịnh Biên 80

22 Núi Mo Tấu 270 Nhơn Hưng, huyện Tịnh Biên 80

23 Núi Chùa 380 Nhơn Hưng, huyện Tịnh Biên 60

24 Núi Tà Nung 1450 Thị trấn Tịnh Biên, Tịnh Biên 59

25 Núi Cấm (Thiên Cấm Sơn) 28600 An Hảo, huyện Tịnh Biên 705

26 Núi Bà Đội 6075 Tân Lợi, huyện Tịnh Biên 261

27 Núi Nam Qui 8875 Châu Lăng, huyện Tri Tôn 213

28 Núi Bà Khẹt 1380 Chi Lăng, huyện Tịnh Biên 129

29 Núi Tà Lọt 870 Châu Lăng, huyện Tri Tôn 69

30 Núi Ba Xoài 550 An Cư, huyện Tịnh Biên 58

31 Núi Cà Lanh 1225 An Hảo, huyện Tịnh Biên 41

32 Núi Dài (Ngọa Long Sơn) 21625 Lê Trì, huyện Tri Tôn 554

33 Núi Tượng (Liên Hoa Sơn) 3825 Ba Chúc, huyện Tri Tôn 145

34 Núi Sà Lon 2325 Lương Phi, huyện Tri Tôn 102

35 Núi Nước (Thủy Đài Sơn) 1070 Ba Chúc, huyện Tri Tôn 54

36 Núi Cô Tô (Phụng Hoàng Sơn) 614 14375 Cô Tô, huyện Tri Tôn

17

37 Núi Tà Pạ 102 10225 An Tức, huyện Tri Tôn

Nguồn : [79, tr.107]

Tóm lại, do môi trường sinh thái có nhiều biến đổi hơn 200 năm qua, từ chỗ

rừng rậm rạp, khe suối có nhiều nước đến chỗ rừng cạn kiệt và các khe suối khô như

hiện nay, địa hình đồi núi ở An Giang có nhiều thay đổi. Các hoạt động khai thác đá

xây dựng trong suốt nhiều năm qua ở núi Sam, núi Sập, núi Cô Tô,…. đã khoét sâu vào

chân núi, sườn núi, làm cho hình dạng của các núi này thay đổi, mất vẻ đẹp tự nhiên và

tác động xấu đến môi trường xung quanh. Những năm gần đây, An Giang có nhiều

biện pháp tích cực để khắc phục thực trạng trên bằng cách đình chỉ mọi hoạt động khai

thác đá, cát tại núi Sam, núi Sập; trồng cây gây rừng trên các đồi núi, xây dựng các hồ

chứa nước,… trên vùng đồi núi Tri Tôn và Tịnh Biên.

Khác với các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long, An Giang là tỉnh không chỉ có

địa hình đồng bằng mà còn có đồi núi. Địa hình đồng bằng tương đối bằng phẳng, do

phù sa bồi đắp hàng năm. Đất ở đây rất thích hợp cho việc trồng lúa và hoa màu. Còn

đất ở địa hình đồi núi thì thích hợp với việc trồng cây ăn quả và trồng rừng. Ngoài ra,

đồi núi An Giang không chỉ là thắng cảnh đẹp mà còn là nguồn tài nguyên lớn về

khoáng sản, cây công nghiệp, là nơi có nhiều loại cây thuốc quí. Đá núi Sập, núi Sam,

núi Cô Tô,… được dùng trong xây dựng và dụng cụ gia đình trong và ngoài tỉnh. Địa

hình đồi núi An Giang còn là bức tường thành chống giặc ngoại xâm, bảo vệ biên giới

Tây Nam của Tổ quốc.

1.2. Sông, rạch, kênh và hồ

1.2.1. Sông

An Giang là một trong hai tỉnh đầu nguồn sông Mê Kông. Sông Mê Kông bắt

nguồn từ Tây Tạng (Trung Quốc), chảy theo hướng nam qua các nước Trung Quốc,

Myanma, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Khi vào địa phận nước ta, sông Mê

18

Kông chia làm hai nhánh : nhánh ở phía đông gọi là sông Tiền và nhánh ở phía tây gọi

là sông Hậu.

Sông Tiền chảy qua Tân Châu, Sa Đéc, Vĩnh Long và đổ ra Biển Đông bằng 6

cửa : Cửa Tiểu, Cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu. Đoạn chảy qua

địa phận tỉnh An Giang dài khoảng 80 km, chiều rộng phía trên Vàm Nao lớn hơn

1.000 mét và phía dưới Vàm Nao từ 800 - 1.100 mét [74, tr.15]; độ sâu trung bình

khoảng 20 mét và có nơi sâu khoảng 45 mét như tại khu vực thị trấn Tân Châu. Trịnh

Hoài Đức đã ghi lại lợi ích của sông này : “…nước ngọt rưới nhuần bừa ruộng mạ,

được thóc kể cả trăm lần…; ngòi rạch thì đầy rẫy cá tôm cua lươn, nhà tự đi bắt lấy để

ăn” [17, tr.52]. Ngày nay, sông Tiền còn là ranh giới của 2 tỉnh An Giang, Đồng Tháp.

Sông Tiền là trục giao thông thuỷ quan trọng, tàu thuỷ có thể chạy từ thành phố Hồ Chí

Minh trên tuyến sông này lên đến Phnôm Pênh và ngược lại; là nguồn cung cấp nước

tưới và phù sa cho các cánh đồng ở huyện Tân Châu, Phú Tân, Chợ Mới. Bên cạnh đó,

sông Tiên còn có nhiệm vụ tải lũ và cung cấp nguồn thuỷ sản lớn cho tỉnh An Giang.

Sông Hậu chảy song song với sông Tiền qua Châu Đốc, Long Xuyên, Cần

Thơ và đổ ra Biển Đông bằng 3 cửa là Định An, Bát Xắc, Tranh Đề. Đoạn chảy qua

tỉnh An Giang dài gần 101 km, trong đó chảy qua hai trung tâm đô thị lớn của tỉnh :

thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc; chiều rộng phía trên sông Vàm Nao từ 500 -

900 mét, còn phía dưới Vàm Nao từ 800 - 1.200 mét; độ sâu trung bình khoảng 13 mét

và có nơi sâu khoảng 45 mét như tại khu vực cửa đổ vào sông Vàm Nao. Sông Hậu là

trục giao thông thuỷ xuyên suốt trung tâm của tỉnh từ thượng nguồn về hạ lưu; là

nguồn cung cấp nước tưới, phù sa hầu hết đất đai sản xuất ở vùng trũng bờ tây sông

Hậu (vùng Tứ giác Long Xuyên) bằng hệ thống kênh mương. Bên cạnh đó, sông Hậu

còn cung cấp nguồn thuỷ sản chủ yếu của tỉnh An Giang.

Sông Vàm Nao là con sông nối liền giữa sông Tiền và sông Hậu, chảy ven

giữa thị trấn Phú Mỹ, xã Tân Hòa (huyện Phú Tân) và xã Kiến An, Mỹ Hội Đông

(huyện Chợ Mới). Trước kia, người Việt gọi là kênh Vàm Nao bởi “còn hẹp, cạn, bãi

19

bùn. Hai bên bờ cây cối um tùm, cảnh vật sầm uất tối tăm, không ngớt vang lên những

âm thanh rừng rú… Bây giờ những ngọn cây tre rừng hay những cành cây lớn hai bên

bờ sông giao tiếp nhau, người có thể leo lên đu qua được. Lòng sông không sâu, rong,

cỏ, nhất là lục bình từ thượng nguồn đổ xuống tấp vào, cá tôm theo đó dựa vào đây

sinh sống. Do đó các loài cá lớn như cá sấu, cá mập, cá đao, rắn,… nom theo bắt mồi”

[27, tr.18]. Vào đầu thế kỷ XIX, sách Gia Định thành thông chí ghi về con sông này :

“Cửa trên ở phía nam sông Tiền Giang rộng 8 tầm, sâu 2 tầm, chảy về phía nam 75

dặm rưỡi, đến cửa dưới hợp với sông Hậu, bờ tây có sở thủ ngự, ven sông dân Kinh

khai khẩn ruộng vườn, rừng rậm ở phía sau là sóc, sách của dân Cao Mên” [17, tr.57].

Trải qua thời gian, bờ dưới, phía Chợ Mới bị nước từ thượng lưu chảy xuống mạnh

(nhất là mùa lũ) làm cho đất đứt chân, lở sụp từng mảng lớn. Mặt khác, nước tràn ồ

sang hữu ngạn thành những con sóng khổng lồ, nước chảy xiết và xoáy cuộn tròn đã

làm đánh đắm nhiều thuyền bè qua lại nơi đây. Cứ lâu ngày, đất càng bị sụp lở nhiều

hơn, sông rộng lớn ra, từ đó “kinh Vàm Nao” được người ta gọi là “sông Vàm Nao”.

Ngày nay, sông Vàm Nao rộng lớn rất nhiều so với thế kỷ XVIII, chiều dài

của sông trên 6 km, rộng khoảng 700 mét, sâu khoảng 17 mét, có tác dụng làm cân

bằng dòng chảy giữa sông Tiền và sông Hậu đoạn dưới Vàm Nao. Nhờ vậy, sông Vàm

Nao hiền hoà hơn xưa, tàu bè tấp nập qua lại suốt ngày đêm, dưới sông không còn cá

sấu; dọc hai bên bờ sông dân cư đông đúc, các cánh đồng lúa và vườn cây ăn quả

quanh năm tươi tốt.

Sông Bình Di và sông Châu Đốc, tại thị trấn Long Bình (huyện An Phú), sông

Hậu chia hai nhánh, nhánh hữu hẹp hơn gọi là sông Bình Di dài 10 km. Sông Bình Di

chảy đến Vĩnh Hội Đông rồi gặp sông Tà Keo và sông Châu Đốc. Từ ngã ba này, sông

Châu Đốc chảy dài cho đến thị xã Châu Đốc thì hội tụ với sông Hậu, dài 18 km, rộng

bình quân 150 mét, sâu trung bình 7 mét (có chỗ sâu 25 mét).

Những con sông trên đóng vai trò rất quan trọng đối với đời sống kinh tế của

nhân dân An Giang trong các thế kỷ qua, nhất là cung cấp nước ngọt cho sản xuất nông

20

nghiệp, thức ăn cá, tôm, cua, ốc,… và điều hoà khí hậu. Đồng thời, nó có một vị trí

quan trọng trong hệ thống giao thông đường thuỷ, tạo mối giao lưu văn hoá giữa các

vùng trong và ngoài vùng đất An Giang. Mặt khác, chế độ thủy văn ở An Giang phụ

thuộc chặt chẽ vào chế độ nước sông Mê Kông, hằng năm đều phải ngập lụt 1 - 2,5

mét. Đây là trở ngại lớn, ảnh hưởng rất lớn quá trình phát triển kinh tế - xã hội của

vùng đất An Giang.

1.2.2. Rạch

Bên cạnh các con sông lớn, trên địa bàn An Giang còn có một hệ thống rạch tự

nhiên. Theo Địa chí An Giang ghi : “Trải qua thời gian dài, một số rạch bị phù sa sông

Tiền và sông Hậu chảy vào bồi đắp lâu ngày thành ruộng, một số được con người đào

cải tạo thành các con kênh thẳng, nên số còn lại hiện nay không nhiều. Những rạch lớn

ở An Giang hiện có là Mương Khai, Cái Đầm, Cái Tắc (huyện Phú Tân), Ông Chưởng,

Cái Tàu Thượng (huyện Chợ Mới), rạch Long Xuyên (thành phố Long Xuyên), Chắc

Cà Đao, Mặc Cần Dưng (Châu Thành) và rạch Cần Thảo (Châu Phú)” [79, tr.115].

Rạch Ông Chưởng có hình uốn khúc như một con rồng, là con rạch góp phần

điều tiết nước từ sông Tiền chảy qua sông Hậu. Năm 1700, khi quan quân đóng tại Chợ

Mới ngày nay, Nguyễn Hữu Cảnh quyết định: “Cho quân sĩ vét sâu, khơi rộng thêm

nhánh sông Tiền rẽ ngang xuống sông Hậu, từ vàm Thủ Ngự Hùng Sai đến vàm Cái

Hố” (tức rạch Ông Chưởng ngày nay) [25, tr.106]. Sông sâu, lòng rộng thuyền bè đi lại

dễ dàng, nhất là dòng nước ngọt quý giá cho con người và trồng trọt. Theo Gia Định

thành thông chí, sở dĩ rạch có tên Ông Chưởng là do “…phía tây bờ sông ở cửa trên có

miếu thờ Khâm sai Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Công (tức Nguyễn Hữu Cảnh),

đó là để dân cư nhớ ơn ông là người đầu dẹp nước Cao Mên để mở mang đất ấy mà

làm miếu để thờ,…; lấy tên ông để đặt tên sông, là muốn cho người đời nghĩ đến công

ơn ông mà không quên được” [17, tr.57].

21

Vào những năm giữa thế kỷ XIX, rạch Ông Chưởng được sách Đại Nam

nhất thống chí ghi lại như sau : “Cửa trên của sông rộng 4 trượng, sâu 8 thước, phía

trước có bãi nhỏ cũng gọi theo tên sông, cách đạo Đông Khẩu cũ chừng 90 dặm về phía

tây, chảy về phía nam 60 dặm rưỡi đến cửa dưới của sông vào sông Hậu Giang” [60,

tr.201]. Ngày nay, rạch Ông Chưởng có độ rộng rất nhiều so với trước, rạch có chiều

dài 20 km, độ rộng khoảng 100 mét, sâu hơn 8 mét. Con rạch này là tuyến giao thông

đường thuỷ rất quan trọng nối sông Tiền với sông Hậu, tàu thuyền qua lại tấp nập suốt

ngày đêm; là trục nước tưới tiêu chính cho những cánh đồng lúa và hoa màu của huyện

Chợ Mới. Hai bên bờ con rạch dân cư ở rất đông đúc.

Rạch Long Xuyên là con rạch lớn nhất so với các con rạch khác ở An Giang.

Rạch bắt nguồn từ sông Hậu tại thành phố Long Xuyên, chảy theo hướng Đông Bắc -

Tây Nam, nối với kênh Thoại Hà tại xã Vĩnh Trạch (huyện Thoại Sơn), đi qua núi Sập

rồi nối với sông Kiên đổ ra cửa biển Rạch Giá.

Do lòng rạch cạn, tàu bè chỉ có thể qua lại được vào mùa nước lớn, năm 1902,

thực dân Pháp tiến hành cải tạo rạch Long Xuyên, “chiều rộng từ 30 mét lên 50 mét,

chiều sâu từ 3,5 mét lên 5 mét” [30, tr.32]. Con rạch được cải tạo đã đem lại thuận lợi

về mặt giao thông, tàu bè có thể qua lại quanh năm; mặt khác, việc cải tạo con rạch này

còn góp phần tăng lượng nước tưới dồi dào hơn trước cho các cánh đồng ruộng.

Ngày nay, con rạch này có độ rộng khoảng 100 mét, sâu 8 mét, trở thành

tuyến giao thông đường thủy quan trọng nối sông Hậu với biển Rạch Giá, và là một

trong những con rạch cung cấp nước tưới tiêu cho các cánh đồng ruộng của vùng Tứ

giác Long Xuyên.

Rạch Cái Tàu Thượng (huyện Chợ Mới) có chiều dài 14 km, nối sông Tiền

(xã Hội An) với sông Hậu (Vàm Cống). Đại Nam nhất thống chí ghi lại con rạch này :

“Cách huyện Vĩnh An 55 dặm về phía tây bắc, lại có tên nữa là kênh Thương Thuyền,

thượng lưu rộng 1 dặm rưỡi, sâu 19 trượng, cửa sông đối diện với bãi Tùng Sơn và bãi

22

Doanh Châu, nước chảy về phía nam 55 dặm rưỡi đến chỗ ngã ba, lại chảy về phía nam

24 dặm rưỡi đến sông Cường Thành, đổ vào sông Hậu Giang” [60, tr.201-202]. Rạch

Cái Tàu Thượng không chỉ cung cấp nước tưới cho những cánh đồng lúa, hoa màu mà

còn là ranh giới giữa hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp.

Rạch Cái Đầm thuộc huyện Phú Tân, dài 9 km, rộng 50 mét, ăn thông với

kênh Thần Nông từ xã Phú Vĩnh huyện Tân Châu.

Rạch Cái Tắc, vàm tại thị trấn Phú Mỹ có chiều dài 9 km, rộng 30 mét, ăn qua

xã Hiệp Xương (huyện Phú Tân).

Rạch Chắc Cà Đao (huyện Châu Thành) dài 20 km, rộng 30 mét nối từ sông

Hậu đến kênh Bốn Tổng và rạch Long Xuyên, nhận nước từ sông Hậu chảy vào các

cánh đồng vùng Tứ giác Long Xuyên, thông với các kênh rạch khác trong vùng.

Rạch Cần Thảo (huyện Châu Phú) dài 20 km, rộng 30 mét, nhận nước từ

sông Hậu chảy vào các cánh đồng thuộc vùng Tứ giác Long Xuyên, thông với các kênh

rạch khác trong vùng.

1.2.3. Kênh

An Giang có khoảng 21 kênh đào như kênh Vĩnh Tế, Thoại Hà, Vĩnh An, Trà

Sư, Thần Nông, Vàm Xáng, Tri Tôn, Ba Thê, Mặc Cần Dưng, Kênh Mới,…

Kênh Thoại Hà

Năm 1817, khi làm Trấn thủ Vĩnh Thanh, Nguyễn Văn Thoại chú ý đến việc

khai hoang vùng đất An Giang và thấy được việc giao thông thương mại ở vùng đất

này gặp nhiều khó khăn, “ngòi sông nhỏ bùn lầy, cây cỏ đầy lấp, thuyền bè không đi lại

đươc” [17, tr.59] nên mọi trao đổi hàng hoá giữa sông Hậu và vùng duyên hải Hà Tiên

đều phải đi vòng qua đường biển. Ông nghĩ đến việc đào kênh và kiến nghị lên vua.

Năm 1818, ông được vua Gia Long giáng chỉ cho đào kênh Đông Xuyên -

Rạch Giá. Kênh đào theo lạch nước cũ, nối rạch Long Xuyên tại Vĩnh Trạch dài theo

hướng tây nam ngang qua chân núi Sập, tiếp với sông Kiên, đổ ra biển Tây tại cửa

23

Rạch Giá. Số nhân công lên đến 1.500 người, đào hơn 1 tháng là xong. Kênh dài

12.410 tầm, rộng 20 tầm, “luôn luôn ghe thuyền qua lại tiện lợi” [23, tr.171]. Công việc

hoàn tất, Nguyễn Văn Thoại cho vẽ “hoạ đồ” và lên sớ tâu vua. Vua Gia Long khen, ra

lệnh lấy tên người mà đặt cho tên kênh là Thoại Hà và ban tên núi Sập là Thoại Sơn để

biểu dương công trạng của quan Trấn thủ.

Việc đào kênh Thoại Hà ngay từ đầu chỉ nhằm phục vụ giao thông, quốc

phòng. Nói đúng hơn là nhằm cho việc tiện liên lạc đồn binh giữa Long Xuyên và Rạch

Giá. Nhưng về sau, kênh Thoại Hà trở thành nơi thu hút dân chúng đến định cư, lập

nghiệp. Trải qua nhiều lần cải tạo, kênh Thoại Hà rộng lớn hơn. Ngày nay, kênh Thoại

Hà không những cung cấp nước tưới, phù sa bồi đắp cho vùng Tứ giác Long Xuyên,

mà còn là con đường giao thông thủy vận chuyển hàng hóa rất quan trọng nối thành

phố Long Xuyên với Rạch Giá.

Kênh Vĩnh Tế

Năm 1816, khi thành Châu Đốc vừa đắp xong, Trấn thủ Vĩnh Thanh là Lưu

Phước Tường tâu lên, vua Gia Long xem địa đồ xứ Châu Đốc rồi truyền cho các thị

thần rằng : “Xứ nầy nếu mở đàng lũy thông với Hà Tiên, thời nông thương đều lợi cả;

ngày sau dân ở càng đông, đất mở càng rộng, sẽ trở thành một trấn to” [62, tr.129].

Nhưng vua chưa ra lệnh đào ngay, vì vùng đất mới khai mở, nhân dân còn nhiều cơ

cực, bắt dân làm xâu khổ sở sợ lòng dân không yên.

Song, vua Gia Long rất chú ý đến vùng đất biên giới An Giang từ Châu Đốc

đến Hà Tiên giáp với Chân Lạp (Campuchia), là vùng đất có vị trí chiến lược quan

trọng ở biên giới Tây Nam nước ta. Địa hình vừa có núi có sông, vừa có đồng bằng,

dân cư thưa thớt và đường liên lạc Hà Tiên - Châu Đốc gặp rất nhiều khó khăn. Nhằm

giải quyết nhu cầu quốc phòng lúc bấy giờ, theo đề nghị của Nguyễn Văn Thoại,

“tháng 9 năm Kỷ Mão, vua truyền cho Gia Định thành lo việc đào kênh và quan Trấn

24

thủ Nguyễn Văn Thoại được lệnh chỉ huy dân binh tiến đến Châu Đốc để khởi công

vào ngày rằm tháng chạp” [79, tr.117].

Trước khi đào kênh, vua Gia Long ra chỉ dụ cho Thống chế Thoại Ngọc Hầu

Nguyễn Văn Thoại, cùng với Chưởng cơ Tuyên Quan hầu Phan Văn Tuyên huy động

dân binh khắp Vĩnh Thanh, mỗi phiên 5.000 người, thêm 500 binh đồn Uy Viễn (Vĩnh

Long). Chiêu Thuỳ nước Cao Miên là Tôn La A Toàn Phù tức Nguyễn Văn Tồn huy

động dân quân người Khmer, mỗi phiên 5.000 người. Kênh Vĩnh Tế được khởi công

vào ngày 15 tháng 12 năm 1819.

Kênh được đào chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn đầu, “ trừ Náo Khẩu 4.075

tầm (khoảng 10 km) không phải đào thêm công, thực lực phải đào là 26.279 tầm (67

km), lường tính công đất, khó dễ, sức người nặng nhẹ, lấy từ cửa hào cho đến Náo

Khẩu, đất khô cứng có 7.575 tầm (19 km) thì chia cho dân Kinh làm, đất bùn ẩm

18.740 tầm (47 km) thì chia cho dân Cao Mên; bề ngang sông 15 tầm (38 mét), sâu 6

thước (2,798 mét), nhà nước cấp cho mỗi người tiền 6 quan, gạo 1 phương (tương

đương 1 giạ)” [17, tr.58]. Đến ngày 15 tháng 3 năm 1820, kênh đào xong giai đoạn 1.

Sau thời gian không tiến hành được, tháng 10 năm 1822, vua Minh Mạng ra

lệnh cho Tổng đốc Gia Định tiếp tục bắt dân đinh ở các đồn Uy Viễn, Vĩnh Thanh,

Định Tường. Số người lên đến 39.000 người Việt và 16.000 người Khmer, chia làm 3

phiên. Trong đợt này, ngoài sự chỉ huy của Nguyễn Văn Thoại và Phan Văn Tuyên,

còn có Trần Công Lại. Đến tháng 3 năm sau, do hạn hán công việc bị đình lại.

Tháng 2 năm 1824, triều đình Nguyễn huy động thêm Phó Tổng trấn Vĩnh

Thanh là Trần Văn Năng huy động số dân binh 25.000 người, trong đó có người

Khmer, làm việc suốt ngày đêm. Tháng 5 năm 1824, kênh đào xong, “dài 205 dặm rưỡi

(91 km), rộng 7 trượng 5 thước (25 mét), sâu 6 thước (3 mét)” [23, tr.181-187]. Tổng

số người huy động lên đến 80.000 người kể cả người Việt và người Khmer.

25

Sau khi đào xong, vua Minh Mạng ghi công, như bia Vĩnh Tế ghi lại : “Lại hạ

cố vợ thần là Châu Thị Tế, rằng có đức dầy trong vòng lễ giáo, bên trong biết giúp đỡ

chồng, một lòng chân thành bền chặt, có chút công lao, nên xuống lệnh ban cho tên núi

Sam là núi Vĩnh Tế … Đất đặt tên cho họ, núi đặt tên cho người” (Bia Vĩnh Tế).

Về lợi ích của kênh Vĩnh Tế, sách Đại Nam nhất thống chí của triều Nguyễn

ghi : “Từ đấy đường sông mới thông, việc biên phòng và việc buôn bán được hưởng

mối lợi vô cùng” [60, tr.207]. Năm Minh Mạng thứ 17 (1836), triều đình cho lệnh đúc

Cửu Đỉnh (9 đỉnh đồng lớn ở sân Thái Miếu nhằm thể hiện uy vũ của nhà vua và để ghi

tác các công trình lớn ở nước ta lúc bấy giờ, trong đó trên Cao đỉnh có chạm hình kênh

Vĩnh Tế.

Kênh Vĩnh Tế là một công trình thuỷ lợi lớn nhất Nam Bộ lúc bấy giờ. Lúc

đầu, mục đích của việc đào kênh là phục vụ giao thông, quốc phòng. Triều Nguyễn

thấy cần thiết phải tìm một con đường thủy, tiện lợi cho việc di chuyển, đi lại, giao

dịch, thuận lợi cho việc lưu thông, vận chuyển lúa gạo hàng hóa. Bên cạnh đó, kênh

Vĩnh Tế còn có mục đích quân sự quốc phòng. Hà Tiên - Châu Đốc là vùng đất biên

cương Tây Nam của Tổ quốc mà kẻ thù xung quanh thường xuyên dòm ngó, để làm

bàn đạp thôn tính vùng đất phía Nam. Kênh Vĩnh Tế hình thành là đường chuyển quân

quan trọng khi hữu sự và trở thành tuyến phòng thủ quốc phòng chắc chắn canh giữ

vùng biên giới Tây Nam. Tuy nhiên, sự ra đời của kênh Vĩnh Tế đã phát sinh ra những

lợi ích mới nhưng lại rất to lớn và quan trọng có ảnh hưởng đặc biệt lâu dài tới ngày

nay. Đó là “sản xuất nông nghiệp thêm nhiều thuận lợi. Nó góp phần làm giảm áp lực

lũ lụt tàn phá đồng bằng, đưa được một phần lũ thoát ra biển phía Tây, tiêu đỡ úng lụt

cho vùng Tứ giác Long Xuyên” [63, tr.67]. Mặt khác, kênh Vĩnh Tế còn đưa nước ngọt

từ sông Hậu vào tháo chua rửa mặn, cải tạo đất đai, cung cấp phù sa cho đồng ruộng,

vừa là trục tưới tiêu có vai trò quyết định trong việc khẩn hoang ruộng đất của vùng Tứ

giác Long Xuyên và vùng đồi núi An Giang.

Kênh Vĩnh An

26

Năm 1843, triều Nguyễn cho đào con kênh Vĩnh An lấy nước từ sông Tiền bổ

sung cho sông Hậu và tạo trục giao thông thuận lợi giữa hai trung tâm Tân Châu và

Châu Đốc, thông nối các vị trí quân sự và kinh tế chiến lược của biên cương từ Hà Tiên

qua Châu Đốc đến Tân Châu. Theo Sơn Nam : “Dân phu đào kênh từ Vĩnh Long đến,

hiệp với An Giang. Kênh đào gấp, lúc này chiến sự giữa ta và Xiêm đang hồi căng

thẳng, nhằm đưa chiến thuyền từ sông Tiền qua sông Hậu, hoặc ngược lại được nhanh

chóng hơn” [46, tr.186-187]. Kênh Vĩnh An đào trong 3 năm thì xong, dài 17 km, rộng

30 mét, sâu 6 mét. Kênh đào xong, các thuyền to nhỏ qua lại tấp nập. Nhưng do cửa đổ

của kênh vào sông Hậu đúng chỗ giáp nước nên dòng chảy rất yếu, làm cho phù sa ứ

đọng và bồi đắp lòng kênh. Sau vài chục năm, vào mùa nước lớn thì thuyền bè có thể

qua lại được, còn vào mùa khô thì kênh trở nên cạn. Song, kênh Vĩnh An là nguồn

nước tưới tiêu cho các cánh đồng thuộc xã Châu Phong, Lê Chánh, Phú Vĩnh, Long

Phú của huyện Tân Châu.

Kênh Trà Sư

Kênh Trà Sư được đào trong khoảng thời gian 1830 - 1850, dựa trên cơ sở

khai thông con rạch nhỏ có sẵn chạy từ cầu Trà Sư (nằm trên lộ Châu Đốc đi thị trấn

Nhà Bàng) đến cầu Sắt 13 (nằm trên Lộ tẻ Mặc Cần Dưng đi Tri Tôn), với chiều dài 23

km và độ sâu trên 2 mét. Kênh đào với mục đích ngăn lũ núi, thau chua rửa phèn và

dẫn nước lũ phù sa từ sông Hậu vào để phục vụ khai thác các cánh đồng hoang hoá

thuộc khu vực Thới Sơn - Văn Giáo (huyện Tịnh Biên) lúc bấy giờ.

Việc đào các con kênh dưới triều Nguyễn không những thuận lợi giao thông

thương mại, an ninh quốc phòng vùng biên cương, khai phá các vùng hoang hoá mà

còn là cơ sở qui dân lập ấp, dân số và sản xuất lúa gạo của An Giang tăng lên.

Kênh Thần Nông

Năm 1882, Pháp cho phóng tuyến đào kênh Thần Nông đi suốt dọc giữa

huyện Phú Tân hiện nay, bắt đầu từ xã Phú Vĩnh (huyện Tân Châu) nối liền kênh Vĩnh

27

An kéo dài đến rạch Cái Đầm đi qua các xã Long Phú, Phú Vĩnh (huyện Tân Châu),

Long Sơn, Phú Lâm, Phú An, Hòa Lạc, Bình Thạnh Đông (huyện Phú Tân). Kênh

được đào nhằm mục đích tiêu nước vào mùa mưa và lấy nước tưới vào mùa khô cho

toàn huyện Phú Tân ngày nay. Kênh có chiều dài 25 km, rộng 6 mét và sâu 3 mét.

Kênh Vàm Xáng

Để khắc phục nhược điểm bị bồi lắng ở kênh Vĩnh An, từ năm 1914 đến 1918,

thực dân Pháp cho đào kênh Vàm Xáng cách kênh Vĩnh An 4 km về thượng lưu, lấy

nước sông Tiền bổ sung cho sông Hậu, đồng thời tạo ra trục giao thông thuỷ nối liền

giữa Tân Châu và Châu Đốc thay cho kênh Vĩnh An. Ban đầu kênh dài 9 km, rộng 30

mét và sâu 6 mét. Do có cửa đổ nước sông Hậu ở vị trí thuận lợi về thế nước và địa

hình tạo ra được độ dốc có dòng chảy lớn, đến nay kênh có độ rộng trên 100 mét và sâu

trên 20 mét.

Như vậy, sau sông Vàm Nao, kênh Vàm Xáng trở thành tuyến kênh quan

trọng trong việc điều hoà lượng nước từ sông Tiền bổ sung cho sông Hậu, tạo lập trục

giao thông thuỷ nối liền hai sông này nên tàu thuyền lớn nhỏ qua lại nơi đây một cách

dễ dàng quanh năm suốt tháng.

Kênh Mặc Cần Dưng

Để làm tăng giá trị của vùng đất hoang hóa, nhất là vùng đất rộng lớn ở Tứ

giác Long Xuyên, chính quyền thực dân Pháp cho đào kênh Mặc Cần Dưng (nay thuộc

huyện Châu Thành) vào năm 1922. Kênh có chiều dài 42,2 km, rộng 20 mét, sâu 4 mét.

Con kênh này được đào sâu vào vùng hoang hóa của tổng Định Thành (quận Châu

Thành) tạo ra những vùng canh tác mới ở xã Bình Hòa, An Hòa, Cần Đăng, Vĩnh

Hanh.

Kênh Cái Sắn

Kênh được đào bằng xáng bắt đầu từ năm 1922 đến năm 1923 thì hoàn thành.

Con kênh có chiều dài 55,8 km, rộng 30 mét, sâu 4 mét. Đây là con kênh được đào dài

28

nhất của tỉnh Long Xuyên lúc bấy giờ. Con kênh này hoàn thành có tác dụng tạo ra

vùng canh tác mới của 2 tổng Định Phước (quận Châu Thành) và Định Mỹ (quận Thốt

Nốt). Ngày nay, kênh Cái Sắn không chỉ cung cấp nước tưới tiêu, phù sa cho các cánh

đồng, mà còn là trục giao thông đường thủy quan trọng nối liền sông Hậu với biển (qua

tỉnh Kiên Giang).

Tiếp đó, từ năm 1918 - 1930, thực dân Pháp cho đào các kênh Tám Ngàn, kênh

Tri Tôn, kênh Ba Thê nhằm mục đích khai phá vùng đất hoang hoá bờ trong sông Hậu

(vùng Tứ giác Long Xuyên). Điều này chứng tỏ rằng, Pháp quyết tâm khai thác vùng

đất còn hoang hoá ở An Giang. Bên cạnh đó, trong suốt 10 năm (1910 - 1920), thực

dân Pháp còn cho đào nhiều kênh phụ, làm nhiệm vụ dẫn nước sâu vào các cánh đồng :

Chiều dài (km) Rộng (mét) Sâu (mét) Tên các kênh phụ

1,5 2,0 2,0 2,0 2,0 1,5 2,0 3,0 3,0 3,0 3,0 1,5 3,0 2,0 1,5 10 8 8 5 5 3 10 8 10 10 10 8 8 5 8 6,0 11,0 10,0 9,7 9,0 5,0 7,4 14,0 2,0 12,0 2,3 4,0 3,0 2,0 1,3 Tân Đức Cà Mau Cái Gút Cà Dao Bà Chiêu Cái Sao Bo Bo Trà Bông Núi Sập Ba Thê Bùng Binh Long Hồ Cái Soài Cái Dầu Cột Buồm

Nguồn : [90, tr.17]

29

Từ năm 1931 - 1945, thực dân Pháp tiếp tục dự án phát triển thuỷ lợi trong

vùng trũng Tứ giác Long Xuyên gồm nạo vét và mở rộng kênh Mặc Cần Dưng; nạo vét

và đào thông nối kênh Tám Ngàn, kênh Tri Tôn và kênh Ba Thê với kênh Mặc Cần

Dưng và với sông Hậu; đào thêm kênh Đào, kênh Cần Thảo, kênh Bốn Tổng. Song dự

án này không hoàn thành theo đúng kế hoạch, mãi đến năm 1942 mới nạo vét được

kênh Tri Tôn kéo dài đến kênh Mặc Cần Dưng đến sông Hậu, đào xong kênh Đào,

kênh Cần Thảo và kênh Bốn Tổng.

Từ năm 1957 đến năm 1960, dưới thời chính quyền Sài Gòn, trên địa bàn An

Giang đào thêm được Kênh Mới nối kênh Vĩnh Tế với kênh Tám Ngàn tại Lò Gạch, là

trục kênh tạo nguồn chuyển nước từ kênh Vĩnh Tế vào vùng Bắc Hà Tiên.

Sau ngày miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước 1975, chính quyền cho

đào thêm kênh T15 để nối kênh Cần Thảo với kênh Mạc Cần Dưng tại cầu Sắt 15 và

kéo dài đến giáp ranh tỉnh Kiên Giang, kênh 10 Châu Phú, kênh núi Chóc Năng Gù,

kênh Bảy Xã, kênh Cà Mâu, kênh Kátambong …, đồng thời tiến hành nạo vét, mở rộng

hoặc kéo dài tất cả các trục kênh tạo nguồn có trước năm 1975, để đáp ứng yêu cầu

ngày càng gia tăng của sản xuất nông nghiệp, phòng chống thiên tai, giao thông và

phân bố dân cư.

Sau những trận lũ lớn liên tục từ năm 1994 - 1996, đáp ứng yêu cầu chống lũ,

hệ thống công trình thoát lũ ra biển Tây được hình thành, trong đó có trục kênh T4, T5,

T6 chuyển nước từ kênh Vĩnh Tế băng qua vùng Bắc Hà Tiên đổ vào kênh Rạch Giá -

Hà Tiên nhằm để thoát lũ ra biển Tây. Với công trình này, vấn đề lũ, ngập lụt, mặn và

chua phèn của vùng Tứ giác Long Xuyên cơ bản được giải quyết; nhờ vậy mà sản xuất

được hai, ba vụ lúa mỗi năm, nâng cao năng suất sản xuất.

Nhìn chung, sau gần 200 năm phát triển, tính đến giữa năm 1999, hệ thống

kênh trên địa bàn An Giang có tổng chiều dài 5.171 km, gấp 3 lần so với trước năm

1975. Mạng lưới kênh rạch ở An Giang phân bố tương đối đồng đều, kết hợp với các

30

sông chính tạo ra mạng lưới giao thông thủy hoàn chỉnh. Với hệ thống sông, rạch và

kênh chằng chịt, địa hình An Giang lại thấp, hai bên bờ sông lớn không có đê bao ngăn

lũ, lại ở vị trí đầu nguồn nên hằng năm khi mùa mưa đến, lũ sông Mê kông đổ về, An

Giang là một trong những tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long bị úng lụt nặng nề nhất.

Nhưng mặt khác, lũ cũng mang lại nhiều lợi ích cho việc phát triển nông nghiệp. Lũ về

làm ngập hầu hết diện tích đất đai của tỉnh, khi lũ rút đi thì đất được thau chua, rửa

phèn, đồng ruộng được bồi đắp phù sa, thêm chất đạm cho lúa, hoa màu phát triển, ao,

hồ, đầm lầy có thêm nguồn thuỷ sản.

1.2.4. Hồ

Hồ ở An Giang có 2 loại : hồ tự nhiên và hồ nhân tạo. Hồ tự nhiên gồm có hồ

Búng Bình Thiên Lớn và Búng Bình Thiên Nhỏ (huyện An Phú), hồ Nguyễn Du (thành

phố Long Xuyên). Nguồn nước hồ Búng Bình Thiên Lớn và Bính Bình Thiên Nhỏ là

do sông Hậu và sông Bình Di cung cấp. Vào mùa khô, diện tích mặt hồ Búng Bình

Thiên Lớn là 193 ha, độ sâu trung bình 6 mét; còn Búng Bình Thiên Nhỏ là 10 ha, sâu

5 mét. Bên cạnh cung cấp nguồn thủy sản tự nhiên, trong tương lai 2 hồ này sẽ là nơi

tham quan du lịch của tỉnh. Còn hồ Nguyễn Du được hình thành từ một nhánh của sông

Hậu kéo dài 1.500 mét. Hiện nay, hồ có chiều dài 350 mét, độ rộng 50 mét. Hồ Nguyễn

Du là một nơi vui chơi giải trí, còn là thắng cảnh đẹp góp phần cải tạo môi trường sinh

thái của thành phố Long Xuyên.

Hồ nhân tạo được xây dựng ở vùng đồi núi Tri Tôn, Tịnh Biên vào những năm

1986 đến 1994 như hồ Soài So (huyện Tri Tôn), Ô Tức Xa, Cây Đuốc, An Hảo (huyện

Tịnh Biên), nhằm mục đích cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân và phần cải tạo môi

trường vùng đất vốn thường xảy ra hạn kiệt. Bên cạnh đó, các hồ này còn cung cấp

nước tưới cho hàng trăm ha cây hoa màu, phục vụ cho công tác trồng rừng phủ kín đồi

trọc, phòng chống cháy rừng và tạo ra điểm du lịch hấp dẫn của tỉnh.

1.3. Khí hậu, thuỷ văn

31

1.3.1. Khí hậu

0

Cũng giống như các tỉnh ở Nam Bộ, An Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa

0

0

cận xích đạo, nhiệt độ trung bình năm khá cao và ổn định từ 26 - 28 C, nhiệt độ trung

bình tháng cao nhất là 29,5 C và nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 24 C. Biên độ

0

nhiệt giữa các tháng trong năm thấp. Nhiệt độ cao nhất năm thường xuất hiện vào

0

tháng 4, dao động trong khoảng 36 - 38 C; nhiệt độ thấp nhất trong năm thường xuất

hiện vào tháng 12, chưa có năm nào xuống dưới 18 C.

Khí hậu ở An Giang chia làm 2 mùa rõ rệt. Mùa khô, từ tháng 12 đến tháng 4,

có gió mùa đông bắc, thời tiết trong sáng, ít mưa, thiếu nước trầm trọng cho cây trồng

và sinh hoạt, việc canh tác gặp nhiều trở ngại. Mùa mưa, từ tháng 5 đến tháng 11, có

gió tây nam, mưa nhiều, chiếm đến 90% lượng mưa cả năm, tập trung cao nhất vào

tháng 8, 9 và 10.

Do An Giang là tỉnh nằm sâu trong đất liền của Nam Bộ nên ít chịu ảnh hưởng

của gió bão, bão ở đây thường xuất hiện vào cuối mùa nên tốc độ không mạnh, phạm

vi hoạt động nhỏ, ít gây ra tác hại lớn. Lượng mưa trung bình ở An Giang hàng năm từ

1.400 - 1.500mm. Thường lượng mưa lớn vào mùa mưa lại trùng vào mùa nước lũ của

sông Mê Kông dồn về hạ lưu, do đó tạo nên tình trạng ngập lụt ở An Giang, chi phối

nhiều hoạt động kinh tế và đời sống xã hội.

Nói chung, khí hậu ở An Giang tương đối ôn hòa, dễ chịu, nắng nhiều, mưa

trung bình, ít thiên tai, thời tiết ít thất thường, hầu như không có bão và sương mù xảy

ra. Đây là những thuận lợi cơ bản cho việc trồng trọt, chăn nuôi, khai thác thuỷ sản và

các ngành kinh tế khác. Tuy nhiên, cũng như các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long, An

Giang cần có những giải pháp đối phó với việc thiếu nước vào mùa khô, lũ vào mùa

mưa để tận dụng các nguồn lợi to lớn của lũ mang lại như bồi đắp phù sa, nguồn lợi

thủy sản, mà vẫn sống chung với lũ.

1.3.2. Thuỷ văn

32

An Giang nằm vào vị trí trung tâm của hạ lưu sông Mê Kông, lại có hệ thống

sông ngòi và kênh rạch chằng chịt, do đó bị tác động rất lớn của quá trình thuỷ văn.

Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 5, lượng mưa ít, mực nước sông hạ thấp dần.

Tháng 4 là tháng có mực nước thấp nhất, làm cho tình hình khô cạn tự nhiên ở các

cánh đồng trở nên căng thẳng, thiếu nước trầm trọng cho cây trồng và sinh hoạt, thậm

chí đất đai bị nứt nẻ do hạn hán, việc canh tác gặp nhiều trở ngại. Chính vì vậy, việc

mở rộng diện tích trồng lúa cao sản, diện tích trồng lúa 2, 3 vụ/năm thời gian qua cũng

gặp nhiều khó khăn, trở ngại. Mùa lũ bắt đầu vào tháng 6 đến tháng 11, từ tháng 8 đến

tháng 10 là giai đoạn cao của con lũ và hình thành “mùa nước nổi” với mực nước cao

thấp hằng năm khác nhau. Năm 1904, “mực nước cao nhất là 4 thước 14. Các nhà lá

ngập lụt trên 2 thước và dân chúng sống trên gác phải trổ nóc nhà làm cửa ra vào. Tại

tỉnh lỵ, chỉ lưu thông bằng thuyền bè. Mười chín năm sau, năm 1923, tỉnh Long Xuyên

phải trải qua một mùa lũ tàn khốc nữa. Lần này mực nước chỉ thấp hơn mực nước năm

1904 là 34 phân” [51, tr.24].

Ở thế kỷ XX vừa qua, lũ lớn nhất xảy ra ở An Giang vào năm 1961, với mực

nước đỉnh lũ tại Tân Châu là 5,11 mét và nhỏ nhất vào năm 1998 là 2,81 mét. Tuy

chênh lệch nhau không lớn, nhưng do địa hình An Giang khá bằng phẳng và lại là tỉnh

nằm đầu nguồn sông Cửu Long nên hậu quả tàn phá của lũ lớn gây ra cho An Giang rất

nặng nề. Thiệt hại của lũ lớn năm 1961 được chính quyền Sài Gòn ghi lại “chết 68

người; 4.491 nhà sập và nhà ngập hư; 82.437 mẫu ruộng lúa, 169 mẫu hoa màu và 188

mẫu vườn cây ăn trái bị hư hại nặng; 6.554 con gia súc bị chết; 295,135 km đường lộ

và 125 cầu bị phá huỷ” [83, tr.31] hay trận lũ năm 1996, “trên địa bàn An Giang có 37

người chết, các thiệt hại về cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội lên tới hơn 400 tỷ đồng, đó

là chưa kể thiệt hại về môi trường sinh thái” [79, tr,137].

Những năm lũ lớn, nước trong đồng rút muộn làm cho thời vụ xuống giống

đông xuân phải lùi lại dẫn đến thời vụ xuống giống hè thu cũng chậm trễ, do đó vào

cuối vụ rất dễ bị ngập lụt bởi lũ đầu mùa. Ngược lại, những năm lũ nhỏ thì trước đây

33

lúa mùa có năng suất thấp do nước ngập lũ nông và thời gian ngập lụt không đủ kéo dài

theo yêu cầu sinh lý của cây lúa nổi.

Sau năm 1975, nhân dân cùng với chính quyền địa phương thực hiện nhiều

công trình thủy lợi nhằm hạn chế tác hại của lũ lụt gây ra, dần dần tiến tới “sống chung

với lũ” một cách chủ động.

Song song với những thiệt hại do lũ gây ra, mùa lũ ở An Giang cũng có những

mặt tích cực. Nó đem lại một khối lượng thuỷ sản thiên nhiên khổng lồ với đầy đủ các

loại tôm, cá…, đặc biệt đã mang lại một lượng phù sa làm cho đất thêm màu mỡ.

1.4. Địa chất, khoáng sản và thổ nhưỡng

1.4.1. Địa chất

Cấu tạo địa chất ở An Giang gồm tầng đất đỏ hoặc xám, tầng sét và tầng bùn.

Tầng đất đỏ hoặc xám được hình thành trong điều kiện trầm tích của phù sa

sông Cửu Long hiện nay, nằm trên cùng. Nơi nào thế đất cao thì nơi đó có tầng đất đỏ

dày, cũng có nơi tầng đất này bị bóc mòn gần hết do hiện tượng xói mòn. Tầng đất này

chiếm bộ phận nổi của địa hình.

Tiếp theo tầng đất đỏ là tầng đất sét lam, có bề dày đều đặn, bình quân từ 1,8 -

2,2 mét. Tầng lớp này chứa nhiều gốc Sulphát là nhân tố chủ yếu phát sinh làm hóa

chua đất. Đặc tính của đất tầng sét lam là ngăn thấm rất tốt.

Dưới tầng sét lam là tầng bùn có biên độ cở hạt rất rộng từ sỏi, cát đến hạt bột

và sét, nhưng nó có đặc tính chung là ở dạng bùn, có tính chất phân ly trong nước rất rõ

rệt. Tầng bùn rất mềm yếu và thấm nước mạnh. Bề dày tầng bùn thay đổi rất nhiều từ

vài mét đến vài chục mét.

1.4.2. Khoáng sản

Vùng đất An Giang rất phong phú về khoáng sản, chia làm các nhóm sau :

34

- Nhóm vật liệu xây dựng gồm đá xây dựng, cát sông, sét gạch ngói. Đá xây

dựng dùng để trải đường, đá xây, đổ bê tông. Đá xây dựng có hai nhóm đá : loại đá granit, trữ lượng ước tính 11 triệu m3, được phân bố ở núi Trà Sư, núi Két, núi Bà Đội

(huyện Tịnh Biên), núi Sập, núi Ba Thê nhỏ, núi Tượng, núi Chóc, núi Trọi (huyện

Thoại Sơn), núi Cô Tô (huyện Tri Tôn); loại đá phun trào, chủ yếu ở núi Dài (thuộc xã Châu Lăng, Tri Tôn), núi Phú Cường, núi Sà Lon, trữ lượng ước tính 28,6 triệu m3.

Cát xây dựng có 2 loại cát núi và cát sông. Cát núi nằm theo triền hoặc trong

các trũng giữa núi Cấm và núi Dài thuộc xã An Cư, Thới Sơn (huyện Tịnh Biên); hiện

nay việc khai thác cát núi ở An Giang còn ít vì nhu cầu sử dụng chưa cao lắm. Cát sông

nằm ở sông Tiền và sông Hậu với tổng sản lượng khai thác hàng năm gần 2 triệu khối.

Đất sét gạch ngói : các vùng đất nông nghiệp ở huyện Châu Thành, Châu Phú

đều thích hợp cho việc sản xuất gạch ngói. Chỉ cần khai thác ở lớp đất bề mặt có bề

dày 0,2 - 0,3 mét là có thể cung cấp cho hơn 400 nhà máy sản xuất gạch ngói lớn nhỏ trong toàn tỉnh, trữ lượng ước tính 40 triệu m3. Đất sét ở An Giang dùng làm gạch ống,

gạch thẻ, ngói lợp, gạch tàu.

- Nhóm vật liệu trang trí gồm đá ốp lát, đá aplite. Đá ốp lát chủ yếu là các

nhóm đá granite, granodiorite, rhyolite có nhiều màu sắc rất được ưa chuộng trong

trang trí cao cấp. Còn đá aplite ở An Giang được khai thác để cung cấp cho nhà máy

sản xuất gạch ceramic Đồng Tâm và một số nhà máy khác ở thành phố Hồ Chí Minh.

- Than bùn được phân bố chủ yếu ở khu vực Bảy Núi thuộc 2 huyện Tri Tôn

và Tịnh Biên, trữ lượng ước tính khoảng 16,4 triệu tấn. Các mỏ than bùn An Giang

được phân bố chủ yếu ở các xã Núi Tô, Châu Lăng, Lương Phi, Ba Chúc, An Tức,

Vĩnh Gia thuộc huyện Tri Tôn. Ngoài sử dụng làm chất đốt, than bùn An Giang có

thành phần rất phù hợp cho việc chế biến phân hữu cơ vi sinh phục vụ cho sản xuất

nông nghiệp và axit humic.

35

- Mỏ vỏ sò được hình thành trong vùng các cửa sông, được phân bố thành

những khối với bề mặt đáy bằng phẳng, vách dốc. Diện tích khu mỏ tổng cộng 21,7 ha

và trữ lượng dự báo khoảng 808.691 tấn. Trước đây, vỏ sò ở An Giang được khai thác

và chế biến làm phân NPK.

- Đất sét cao lanh có trữ lượng 2,5 triệu tấn, tập trung chủ yếu ở huyện Tri

Tôn, không chỉ dành cho sản xuất sành sứ mà còn dùng làm khung xương gạch men

cao cấp, sản xuất bột sơn. Ngoài ra, ở An Giang còn có đất sét betntonite dùng làm chất

tẩy rửa và hút nhờn, được tìm thấy ở Lê Trì (huyện Tri Tôn) với trữ lượng khá lớn.

- Đá quý và ngọc có ở núi Nam Qui, Tà Pạ.

- Quặng kim loại gồm có quặng molipden và quặng mangan, được phân bố ở

núi Trà Sư, núi Két, Tà Lọt nhưng không nhiều.

- Nước khoáng thiên nhiên có ở núi Cô Tô, núi Dài, núi Cấm, núi Phú Cường,

núi Két.

- Diatomite có ở Lê Trì (Tri Tôn), nằm cách mặt đất 1,8 - 2,2 mét, bề dày bình

quân khoảng 1,7 - 2 mét, trữ lượng dự báo khoảng từ 800.000 đến 1 triệu tấn.

Diatomite được dùng rộng rãi trong công nghiệp như lọc bia, rượu, dầu ăn.

Tất cả loại tài nguyên khoáng sản trên đều được khai thác bắt đầu từ thời Pháp

thuộc. Nhìn chung, nguồn khoáng sản của An Giang không nhiều so với các tỉnh trong

nước, nhưng lại là nguồn tài nguyên quí đối với một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu

Long. Nếu khai thác đúng hướng sẽ góp phần phát triển kinh tế chung của tỉnh.

1.4.3. Thổ nhưỡng

Đặc tính đất ở An Giang giàu chất oxýt sắt và oxýt nhôm, tầng phù sa dày,

màu đỏ và chất xám sáng. Đất đai ở An Giang có thể phân chia thành 3 nhóm chính :

nhóm đất đồi núi, đất phù sa và đất phèn.

Đất đồi núi ở An Giang chủ yếu phân bố ở hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên và

một phần nhỏ của huyện Thoại Sơn (vùng Ba Thê). Tổng diện tích đất đồi núi khoảng

36

29.320 ha, chiếm khoảng 8,6% tổng diện tích đất của tỉnh An Giang. Đất được sử dụng

chủ yếu vào mùa mưa, khi có nước; cây trồng chủ yếu là lúa 1 vụ/năm, một số nơi có

thể trồng được cây hoa màu, khoai mì.

Đất phù sa do phù sa sông Tiền và sông Hậu bồi đắp, chiếm 44,27% tổng diện

tích đất của tỉnh với khoảng 156.507 ha, phân bố chủ yếu ở các huyện Châu Thành,

Châu Phú, An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Chợ Mới, Thoại Sơn, một phần của thành phố

Long Xuyên và thị xã Châu Đốc. Đây là nhóm đất dùng để sản xuất nông nghiệp, chủ

yếu là trồng cây lúa, bao gồm các nhóm đất sau :

- Đất cồn bãi phân bố chủ yếu ven sông Tiền và sông Hậu và một phần nhỏ

trên sông Vàm Nao. Đất do phù sa sông Tiền và sông Hậu bồi đắp, hàm lượng dinh

dưỡng cao. Qua thống kê, “trên sông Tiền có 8 cồn và cù lao, trên sông Hậu có 14 cồn

và cù lao” [79, tr.172] như cồn Tào, cồn Cỏ Găng, cồn Béo (xã Vĩnh Hòa, Tân Châu),

cồn Cả (xã Phú An, Phú Tân, cù lao Giêng (xã Tấn Mỹ, Mỹ Hiệp, Bình Phước Xuân,

thuộc huyện Chợ Mới), cồn Én (xã Tấn Mỹ, Chợ Mới), cồn Phước (Mỹ Luông, huyện

Chợ Mới), cồn Cũ (xã Bình Phước Xuân, Chợ Mới), cù lao Vĩnh Lộc (xã Vĩnh Lộc, An

Phú), cù lao Bắc Nam (xã Quốc Thái, An Phú), cù lao Ba, cù lao Cỏ Túc, cù lao Hà

Bao (xã Vĩnh Trường, An Phú), cồn Khánh Bình (xã Khánh Bình, Khánh An thuộc

huyện An Phú), cù lao Ka Tam Bong (xã Khánh Hòa, Châu Phú), cù lao Bình Thủy

(Châu Phú), cù lao Bà Hòa (xã Bình Thạnh, Châu Thành), cù lao Ông Hổ, cồn Phó Ba,

cồn Tiên (xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên), cồn Phó Quế (phường Mỹ Long,

Long Xuyên), cồn An Thạnh (xã Hòa Bình, Chợ Mới),… Đất ở đây thích hợp cho việc

trồng lúa, cây hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn trái.

- Đất phù sa xám nâu được bồi, ít hữu cơ, chiếm một diện tích khá lớn ở 4

huyện cù lao An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Chợ Mới và cánh đồng ven sông Hậu thuộc

Châu Phú, Châu Thành, khoảng 24.455 ha, dùng để trồng lúa 2 vụ là chủ yếu. Một số

nơi ở Châu Phú, An Phú , đất có thể trồng một vụ lúa, một vụ màu như mè, đậu, dưa,…

37

- Đất phù sa xám nâu ít được bồi, được phân bố ở địa hình thấp và thường ở

sâu trong nội đồng, cách xa sông Tiền, sông Hậu. Nhóm đất này chiếm diện tích

khoảng 44.525 ha, tập trung nhiều ở vùng ven các xã Ô Long Vĩ, Đào Hữu Cảnh,

Thạnh Mỹ Tây (huyện Châu Phú), Tân Lập (huyện Tịnh Biên), Vĩnh An, Tân Phú,

Vĩnh Nhuận (huyện Châu Thành), Vĩnh Phú, Tây Phú (huyện Thoại Sơn) và một phần

nhỏ ở huyện Chợ Mới, thị xã Châu Đốc. Đất ở đây được trồng lúa 2 vụ/năm.

- Đất phù sa có phèn, được phân bố chủ yếu ở các huyện Châu Thành, Châu

Phú, Thoại Sơn, Tri Tôn, với tổng diện tích 84.872 ha, chiếm 24,7% diện tích đất trồng

của tỉnh. Đất được sử dụng chủ yếu là trồng lúa 2 vụ/năm.

- Đất phù sa cổ, có tổng diện tích khoảng 94.446 ha, chiếm 27,68% tổng diện

tích đất của tỉnh, phân bố chủ yếu những nơi có địa hình cao thuộc 2 huyện Tri Tôn và

Tịnh Biên. Do ảnh hưởng của phù sa mới sông Hậu qua các đợt lũ tràn về đã tạo thành

tầng tích tụ mùn khá dày, thích hợp cho cây trồng. Đất ở đây được trồng lúa 2 vụ là chủ

yếu, một số còn canh tác lúa mùa.

Đất phèn ở An Giang chiếm 23% tổng diện tích [5, tr.137], được phân bố

nhiều ở vùng giáp ranh tỉnh Kiên Giang, thuộc huyện Tri Tôn, Tịnh Biên và một phần

của huyện Châu Phú. Ở những vùng có đất phèn nhiều, trước đây chủ yếu trồng tràm,

nhưng sinh trưởng yếu, phần lớn là bỏ hoang với thực vật cỏ năn, hiện nay ở một số

nơi được cải tạo trồng mì hoặc lúa nhưng năng suất thấp. Những nơi đất phèn ít, trước

đây canh tác một vụ, một số bỏ hoang và hiện nay nhờ hệ thống kênh mương nên đã

chuyển sang làm lúa 2 vụ.

Tóm lại, đất đai An Giang được phân bố trên 3 vùng :

Vùng cù lao giữa sông Tiền và sông Hậu, thuộc 4 huyện An Phú, Tân Châu,

Phú Tân, Chợ Mới, với diện tích đất là 73.150 ha, chiếm 21,4% diện tích toàn tỉnh.

Đây là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi, hầu hết diện tích được phù sa sông bồi đắp

hằng năm.

38

Vùng trũng Tứ giác Long Xuyên, nằm ở bờ hữu sông Hậu kéo đến giáp ranh

tỉnh Kiên Giang. Đất ở đây khá phức tạp với nhiều nhóm đất, tổng diện tích 239.203

ha, chiếm 69,87% diện tích toàn tỉnh.

Vùng đồi núi, thuộc 2 huyện Tri Tôn, Tịnh Biên và một phần nhỏ Ba Thê

(huyện Thoại Sơn), có diện tích gần 30.000 ha.

1.5. Thực vật, động vật

1.5.1. Thực vật

Về thực vật tự nhiên, xưa kia, đồi núi An Giang chủ yếu ở vùng Bảy Núi

(thuộc 2 huyện Tri Tôn, Tịnh Biên) có rừng rậm rạp, với nhiều loại gỗ quý. Đến thế kỷ

XVII, nơi đây vẫn còn là vùng đất hoang vu, chưa được khai phá bao nhiêu và còn là

một vùng rừng nguyên sinh. Theo Gia Định thành thông chí, “ở núi Đài Tốn sản vật có

trầm hương, tốc hương, sa nhân, gỗ sao, giáng hương, xam, trúc các thứ xanh tốt rậm

rạp” [17, tr.51]. Mặt khác, rừng ở đồi núi An Giang thuộc loại rừng kín nửa rụng lá, ẩm nhiệt đới trung bình năm 20 - 250C, nhiệt độ tháng lạnh nhất trung bình từ 15- 200C;

có cấu trúc ba tầng rõ rệt : tầng cây gỗ, tầng cây bụi và tầng thân thảo, phong phú về

chủng loại, “vùng Thất Sơn có rất nhiều cây gỗ quý như cà chất, căm xe, cẩm lai, giá tị,

trắc, sến, nu, sao… Những rừng rú điệp điệp trùng trùng lại còn cung cấp vô số củ nâu,

dây trại dây mây và vô số dược liệu như dầu khấu, sa nhơn, chỉ xác, đổ trọng,…” [64,

tr.42]. Do sự hủy diệt của bom đạn, chất độc hoá học trong chiến tranh ; đồng thời do

nhu cầu về lương thực vì dân số gia tăng, con người đã trồng cây hoa màu, cây ăn quả,

phần lớn rừng cây ở đây đã bị tàn phá nhiều. Năm 1993, tỉnh trồng được 10.000 ha

rừng trên núi và 7.000 ha rừng đồng bằng.

Theo điều tra năm 1993 của Chi cục Kiểm lâm An Giang, thảm thực vật ở

vùng Bảy Núi có 187 loài. Cây gỗ lớn gồm có dầu con gái, kiền kiền, sao đen, bằng

lăng ổi, băng lăng nhiều hoa, cẩm lai, căm xe, gõ mật, nỉnh, cẩm lai đen, xây, bách

39

bệnh, xoan đậu, lòng mang, tra bồ đề, sung mù u, bàng nước, bưa, trường, gáo vàng,

cầy, sơn, bã đậu,… Cây gỗ trung bình có bình linh, me, móng bò, diệp rang, chưng

bầu, vông nem, so đũa, me keo, bời lời Cam-pốt, bời lời nhớt, bời lời vàng, hubasoi, co

keo bù lót, câm bông,… Các loài cây nhỏ và cây bụi như lục lạp, trảng quả dẹp, táo,

sâm ngọt, sâm núi, hoàng tiên, sò đo, đinh lăng, đủng đỉnh, tầm vông, thầu dầu, cánh

kiến,… Các loài cây thân thảo và cỏ như chuối, sa nhân, rong giềng, riềng rừng, cỏ

mực, ngải cứu, ớt hiểm, cỏ sữa, cỏ tranh, cỏ đuôi chồn, cỏ lá tre, lau, sậy, củ chuối, lá

lốt, rau má, rau ngổ,… Các loài dây leo và phụ sinh như hà thủ ô, trinh nữ móc, gia

trinh nữ, dây móng bò, dây khoai rừng,… Các loài cây thuốc như dây bìm bịp, dây cứt

quạ, dây kim luông, cối xay, ké đầu ngựa, ké bông hồng, sâm nam, sả, hoài nhơn,

huyết dụ, trầm hương, ngũ linh chi, cát căn bạch truật, cam thảo, sa nhân, bí kỳ nam,

bách bệnh, ráng bay,…

Bên cạnh đó, do An Giang là vùng đất trũng nên còn có rừng tràm, lau sậy, cỏ,

năn, mồm móc, bòng bong, móp gai, bàng, rau bợ… Cách đây gần một thế kỷ, “tràm

mọc thành rừng, phủ kín cả vùng đồng bằng” [72, tr.16]. Song do con người khai thác

bừa bãi nên hiện nay rừng tràm bị thu hẹp dần, chỉ còn ở huyện Tri Tôn và Tịnh Biên.

Ngoài ra còn có các loại cây trồng như lúa, dừa, cam, xoài… Những năm gần

đây có thêm cây khoai mì để chế biến tinh bột, bắp lai dùng trong công nghiệp chế biến

thức ăn, đậu nành rau để xuất khẩu; cùng với nhiều loại hoa màu, cây thực phẩm, cây

công nghiệp ngắn ngày để phục vụ lương thực, thực phẩm cho nhân dân.

Để tạo sự cân bằng về sinh thái, điều hòa khí hậu, cải tạo đất, tạo nguồn nước

ngọt và hạn chế lũ lụt, An Giang cần phải khôi phục lại rừng tràm và phủ xanh đồi núi

trọc của vùng núi Tri Tôn và Tịnh Biên.

1.5.2. Động vật

Đến thế kỷ XIX, vùng đồi núi An Giang còn rừng chiếm diện tích lớn nên

chứa nhiều loại thú rừng như cọp, trâu rừng, heo rừng, nai, sấu, khỉ, nhím, chồn, sóc.

40

Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức ghi, “ở núi Nam Vi hổ báo hươu

nai, nhởn nhơ ra vào ở nơi cỏ ngon, suối ngọt” [17, tr.51] hay “ở núi Sam có cây cối

sầm uất và thú rừng như heo rừng, khỉ,…[82, tr.16]. Trải qua thời gian các động vật

hiếm này dần dần biến mất.

An Giang xưa còn có các loài cá lớn như cá sấu, cá mập, cá đao… tập trung

chủ yếu ở sông Vàm Nao. Người ta có thể bắt cá sấu về nuôi hoặc xẻ thịt bán. Theo

Trịnh Hoài Đức ghi lại “cá sấu nhỏ tầm thường thì người ta thường câu bắt được, ở

dưới nước thì buộc vào bè, ở trên cạn thì nhốt vào cũi, đem bán cho hàng thịt, da nó có

thể phơi khô, răng nó làm chuỗi dao” [17, tr.173].

Rắn thì có nhiều loại như rắn bông súng, rắn nước, rắn ri voi, rắn râu, rắn mối,

rắn trun, rắn hổ, rắn lục, rắn mái gầm,… Ở An Giang còn có trăn. Da trăn là mặt hàng

xuất khẩu, còn mật trăn, xương trăn, mỡ trăn được dùng trong y dược. Những năm gần

đây nghề nuôi trăn ở An Giang khá phát triển.

Ngoài ra còn có chuột, dơi, quạ, chim,… An Giang cũng là nơi quy tụ nhiều

loài chim như chim sẻ, chim mào, chim chòe, chim sậu, cồng cọc, le le, vịt trời,…; các

loại cò như cò trắng, cò ma,… và diệc, cuốc, trích. Theo cuộc điều tra mới đây vào

tháng 7 năm 1999, “ở rừng tràm Trà Sư (Tri Tôn) có 62 loài chim với hơn 5.000 cá thể

đã tụ tập về đây sinh sống” [79, tr.195].

Các động vật sinh sống ở dưới nước chủ yếu là các loài tôm, cá. Theo

Monographie de la province de Chau Doc năm 1905 ghi nhận, ở Châu Đốc có ít nhất

82 loài tôm cá khác nhau như cá bông, cá rô, cá lóc, cá trê, cá dây tho, cá sặc diệp, cá

sặc bướm, cá bả trâu, cá vược. cá chẽm, cá sú, cá duồn, cá cóc, cá cáy, cá tra sóc, cá

cháy, cá hô, cá ngựa, cá phèn, cá long tong dá, cá lòng tong bay, cá he, cá mè, cá dảnh,

cá ét, cá mại, cá lành canh, cá linh, cá trao trảo, cá rắm, cá thiểu, cá hồng vện, cá lìm

kìm, cá mang giỗ, cá nhái, cá mè bột, cá trê dừa, cá trê trắng, cá bông lao, cá hột mít,

cá lòng tong mương, cá hường, cá rô phi, cá chạch lá tre, cá nóc, cá nanh heo, cá ong,

41

cá cơm mớn, cá rô biển, cá tra lốp, cá tra bầu, cá tra dầu, cá vồ đém, cá vồ chó, cá vồ

cờ, cá tra hú, cá sát, cá dừa, cá lăng, cá ngát, cá chốt chuộc, cá chốt giấy, cá chốt bông,

cá chốt sọc, cá sơn, cá út, cá đuối, cá mập lát, cá nhám, cá đao, cá nược, cá lưỡi trâu, cá

bóng tượng, cá bóng các, cá mọi, cá thu, cá leo, cá kết, cá chèm bầu, cá ốp, cá mối, cá

rựa, cá bẹ, cá lép, cá mồng gà, cá giải áo, cá còm, cá nàng hai, cá thát lác. Ngoài ra còn

có tôm càng, tôm lóng, tôm lửa, tôm đất, tôm châu, tép muối, tép rong,… Theo điều tra

năm 1992, ở An Giang có 13 họ cá phân bố với 48 loài, chủ yếu là cá tra, cá ba sa, cá

bông lao, cá cơm, cá thát lác, cá chạch, cá linh, cá cóc, cá ngựa, cá lòng tong bay, cá ét,

cá thiểu, cá dảnh, cá he, cá kết, cá chốt, cá lăng, cá sặc rằn, cá lóc,… Đồng ruộng An

Giang rất phong phú về chủng loại thủy sản khác như cóc, nhái, ếch, ểnh ương, cua

đồng, ốc, còng lửa,…

Như vậy, so với đầu thế kỷ XX, một số loài cá hiện nay không còn nữa.

Ngày nay do rừng bị thu hẹp làm cho động vật tự nhiên không còn nữa, cá tôm cũng ít

hẳn đi.

Ngoài ra, động vật nuôi ở An Giang còn có trâu, bò, heo, vịt, gà, ngựa,…

Thủy sản là thế mạnh của An Giang, nên những năm gần đây nghề nuôi cá bè, nghề

nuôi cá ao hầm và nuôi cá trong chân ruộng lúa, trong ao vườn cũng phát triển với

những giống cá nước ngọt như cá tra, cá ba sa, cá chép, cá lóc bông, cá lóc, cá mè

trắng, cá mè vinh, cá rô phi, cá sặc rằn, cá bống tượng, cá tai tượng, cá hường, cá trê

lai. Nghề nuôi lươn, ếch, tôm càng xanh cũng có bước phát triển.

Tóm lại, với điều kiện tự nhiên nêu trên, An Giang có những thuận lợi và khó

khăn cho việc phát triển kinh tế.

Thuận lợi : Trước hết, về vị trí địa lý kinh tế, An Giang là một tỉnh nằm ở

phía Tây Nam của nước Việt Nam, giữa 2 con sông Tiền và sông Hậu thuộc hệ thống

sông Mê Kông, có hệ thống các đường giao thông thủy, bộ thuận tiện nối với các tỉnh

42

Đồng bằng sông Cửu Long và Vương quốc Campuchia. Mặt khác, An Giang lại là một

tỉnh có những đặc trưng riêng biệt, vừa có đồng bằng, có rừng và núi, có nguồn tài

nguyên khoáng sản. Hai nhánh sông Tiền và sông Hậu, cùng với các con sông, kênh,

rạch tạo ra mạng lưới giao thông thủy rất thuận tiện, đồng thời là nguồn cung cấp nước

ngọt vô cùng quý giá cho sản xuất và sinh hoạt đời sống của nhân dân. Hơn nữa, trong

mùa lũ hằng năm, lũ vẫn đem lại nhiều lợi ích như làm vệ sinh đồng ruộng, thay chua

rửa phèn, bồi lắn hàng triệu mét khối phù sa, cung cấp hàng vạn tấn thủy sản,…. Như

vậy, về vị trí địa lý, địa hình của An Giang thuận lợi cho tỉnh phát triển một nền kinh tế

thị trường đa dạng, mở rộng giao lưu kinh tế với bên ngoài.

Về tài nguyên thiên nhiên, theo đặc điểm thổ nhưỡng, phần lớn đất đai An

Giang rất màu mỡ do phù sa sông Tiền và sông Hậu bồi đắp hằng năm, độ thích nghi

khá rộng, phù hợp với nhiều loại cây lương thực, cây ăn trái, cây công nghiệp nhiệt

đới. Vùng núi An Giang thích nghi cho việc chăn nuôi bò, dê; phát triển lâm nghiệp và

du lịch. Hơn nữa, khi sản xuất lương thực được đẩy mạnh thì hoàn toàn có khả năng

đẩy mạnh việc sản xuất chế biến thức ăn gia súc và phát triển chăn nuôi, thủy sản. Mặt

khác, An Giang còn có tài nguyên rừng góp phần quan trọng trong việc duy trì môi

trường sinh thái ổn định.

Khó khăn : An Giang là tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, hằng năm đều bị ảnh

hưởng của thiên tai lũ lụt. Lũ ngập kéo dài trên 3 tháng, theo chu kỳ khoảng 4 - 5 năm

có một con lũ lớn làm thiệt hại tính mạng, mùa màng, cơ sở hạ tầng, nhà ở dân cư,…

Mặt khác, do địa hình có nhiều núi và nằm sát biên giới, tình hình an ninh thường

không ổn định, hạn chế thu hút nguồn nhân lực đến khai phá.

43

Chương 2 : DIỆN MẠO KINH TẾ AN GIANG

TRONG CÁC THẾ KỶ XVII - XX

2.1. Hoạt động sản xuất nông nghiệp

2.1.1. Quá trình khai khẩn đất đai và lập làng

Trước khi người Việt đến sinh sống, vùng đất này vẫn còn “quạnh hiu, hoang

nhàn”. Đến thế kỷ XVII, vùng đất An Giang vẫn còn hoang vu, chưa được mở mang

khai phá bao nhiêu. Vùng núi rộng lớn của tỉnh vào thời đó còn là một vùng rừng

nguyên sinh, được miêu tả : “Cách huyện Tây Xuyên 61 dặm về phía nam và cách sông

Thuỵ Hà 18 dặm rưỡi về phía tây, ba ngọn núi chồng chất, cây cối xanh um, cấm chặt

cây, mặt trước trông ra chằm, bùn cỏ lầy lội”. Hoặc “cách huyện Hà Dương 24 dặm về

phía nam, cây cối um tùm, khe sâu cỏ rậm” [60, tr.195-196].

Đến thế kỷ XVII, cư dân người Việt từ miền ngoài do nhiều nguyên nhân

không thể sống nổi ở quê hương, buộc phải di cư vào vùng đất mới xa xôi để lập

nghiệp. Khi đặt chân đến An Giang, người dân thường cư trú ở những giồng đất cao,

dần dần hình thành một số cụm dân cư thưa thớt ở vùng ven sông Tiền và sông Hậu.

Nhưng về cơ bản chưa có hoạt động khai phá nào ở đây, bởi lẻ “hoạt động kinh tế cho

đến lúc này chưa phải canh tác nông nghiệp, mà chỉ là sự khai thác thô theo phương

thức săn bắt, đánh cá, hái lượm các nguồn lợi trong rừng và dưới nước” [7, tr.33].

Năm Đinh Sửu 1757, để tạ ơn cứu giúp, vua Chân Lạp là Nặc Ông Tôn dâng

đất Tầm Phong Long cho chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn Phúc Khoát tiếp nhận, liền sai

Trương Phước Du và Nguyễn Cư Trinh “đem xứ Sa Đéc đặt làm đạo Đông Khẩu, xứ

cù lao ở Tiền Giang đặt làm đạo Tân Châu, xứ Châu Đốc ở Hậu Giang làm đạo Châu

44

Đốc” [17, tr.80]. Sau khi tiếp quản vùng đất Tầm Phong Long (1757), chính sách khẩn

hoang của Nguyễn Cư Trinh ở An Giang được thực hiện nhưng kết quả còn hạn chế vì

nhiều lý do, trong đó có điều kiện khí hậu khắc nghiệt, lực lượng lao động quá ít. Vì

vậy chỉ có một vài khu vực nhỏ ở cù lao quanh các đồn binh dọc sông Tiền, sông Hậu

được khai phá. Theo Nguyễn Văn Hầu, chỉ có “các thôn ấp lẻ tẻ từ đó bây giờ cũng

được lập lên chung quanh các doanh trại, các đồn bảo gần các bờ rạch, ven sông. Các

khu tập trung : Châu Đốc, Hồng Ngự, Tân Châu, Sa Đéc” [24, tr.12]. Theo Lê Quý

Đôn, vào những năm 70 của thế kỷ XVIII, ruộng đất khai phá ở châu Định Viễn (Vĩnh

Long, An Giang) hơn 7.000 thửa [16, tr.141] (thửa hoặc sở là đơn vị tính ruộng đất lúc

bấy giờ, đơn vị tính rất mơ hồ, không rõ là bao nhiêu mét vuông).

Năm 1802, triều Nguyễn được thiết lập. Để củng cố vững chắc vương triều,

ngay buổi đầu lên ngôi vua, Gia Long gấp rút tiến hành khai hoang đất đai nhằm giải

quyết phần nào tình trạng kinh tế - xã hội đang gặp nhiều khó khăn. Theo Vũ Huy

Phúc, từ năm 1802 đến 1855, “triều Nguyễn đã ban hành 25 quyết định việc tổ chức

khai hoang trên toàn quốc. Trong đó, đã có 16 quyết định đã áp dụng ở Nam Bộ, 2 ở

miền Bắc, 1 ở Kinh Kỳ và 6 có ý nghĩa toàn quốc” [50, tr.125].

Lúc này, An Giang thuộc trấn Vĩnh Thanh, cư dân thưa thớt, đất hoang còn

nhiều, nhất là vùng hữu ngạn sông Hậu. Trước năm 1815, trên địa bàn tỉnh An Giang

ngày nay có một số nơi định cư và khai phá như ở Chợ Mới thì có các thôn Cựu Hội

(Hội An), Mỹ Long (Mỹ Luông), Tân Điền (Long Điền),… và cù lao Giêng có các

thôn Toàn Đức, Toàn Đức Đông, Mỹ Chánh, Mỹ Hưng (thuộc xã Tấn Mỹ, Mỹ Hiệp và

Bình Phước Xuân); vùng Phú Tân có các thôn Tân Hoà, Mỹ Lương, Tân Phú Lâm,

Long Sơn,…; vùng Châu Đốc có các thôn Bình Thạnh Tây, Bình Trung, Bình Lâm,…

và vùng Long Xuyên thì có thôn Bình Đức, Mỹ Phước và Mỹ Thạnh.

Để đẩy mạnh việc khai hoang, triều Nguyễn đưa ra nhiều biện pháp khác nhau

để khuyến khích người dân đi khai phá đất hoang.

45

Trước hết, triều Nguyễn dành cho mọi người đi khai hoang các thủ tục dễ dãi,

“người dân tự lựa chọn nơi khai phá” [42, tr.98].

Triều Nguyễn còn cho phép thành lập làng mới với quy chế dễ dàng và cho

miễn thuế người đi khai phá đất hoang với thời hạn là 3 năm hoặc lâu hơn nữa như

“quận Kim Sơn và Tiền Hải được miễn 5 năm, và vùng biên giới Miên - Việt được

miễn 10 năm” [2, tr.149-150]. Đơn cử như trường hợp làng Phú Cường, tách ra từ làng

An Nông : “Tháng 3 năm 1831, Trương Văn Nghĩa đứng đơn, xin khẩn vùng đất hoang

từ chân núi Tầm Lon đến núi Trà Béc, bấy giờ thuộc làng An Nông. Lúc đầu, Trương

Văn Nghĩa và đồng bọn 11 người đến khai phá, sau chiêu mộ được 4 người nữa, đã có

nền tảng để lập làng mới lấy tên là Phú Cường. Cả bọn xin đến năm thứ 17 (1836) sẽ

đóng đủ thuế, khi mộ thêm dân và lập bộ” [45, tr.87-88]. Bên cạnh đó, triều Nguyễn

còn đặt ra lệ thưởng cho người tổ chức việc khai hoang : “Năm 1841, vua Tự Đức

quyết định lại ai lập ấp mộ đủ 30 người khai hoang ở vùng biên giới Việt - Miên thì

được tha thuế và miễn dịch suốt đời, ai mộ được 50 người trở lên thì được chánh cửu

phẩm bá hộ” [2, tr.150].

Mặt khác, triều Nguyễn còn cho dân mượn hay cấp cho họ nông cụ, thóc

giống, trâu bò. Chỉ dụ năm 1802 của vua Gia Long ghi rõ : “Người nào không có điền

sản thì đem ruộng hoang cấp cho và cho vay thóc giống, đợi khi thu hoạch xong sẽ trả

lại cho nhà nước” hay Chỉ dụ của vua Minh Mạng năm 1837 cũng qui định : “Nếu

người đi khẩn hoang, thiếu trâu cày, điền khí và lúa giống thị các quan phải cấp phát”

[42, tr.98-99].

Bên cạnh việc đưa ra các biện pháp khuyến khích dân đi khai hoang, triều

Nguyễn còn đứng ra tổ chức dân chúng, binh lính, tù phạm,… tiến hành khai hoang

qua hình thức đồn điền và lập ấp; còn chủ trương đào kênh như kênh Thoại Hà, kênh

Vĩnh Tế,…

46

Mục tiêu của chính sách này là nhằm mở mang đất đai canh tác, để phát triển

sản xuất lương thực, đảm bảo nguồn lợi thuế má, đồng thời cũng bảo vệ quốc phòng

vùng biên giới, phát triển giai cấp địa chủ để làm chỗ dựa cho chính quyền. Triều

Nguyễn đưa dân đến cư ngụ khẩn hoang, lập làng, nếu có chiến tranh thì đây là nguồn

nhân lực bổ sung vào quân đội.

Với chủ trương, biện pháp và mục tiêu khai hoang, lập ấp của triều Nguyễn

vào thế kỷ XIX, rõ ràng triều Nguyễn rất quan tâm đến công việc khai hoang ruộng đất

hoang hóa để mở rộng diện tích sản xuất và ổn định xã hội.

Công cuộc khẩn hoang đất đai, lập làng ở An Giang dưới triều Nguyễn diễn ra

nhiều hình thức. Trước hết là công cuộc khẩn hoang do nhân dân tự tiến hành. Do

nghèo khổ và chiến tranh nên người dân ở các tỉnh miền Trung đi vào vùng đất An

Giang tự tìm đất khai phá và sinh sống. Cũng trong thời kỳ này còn có những người

trốn tránh việc cấm đạo hay nghi kỵ tôn giáo của chính quyền triều Nguyễn. Vào nửa

đầu thế kỷ XIX, “nhiều tín đồ đạo Thiên Chúa lần lượt chạy đến định cư ở Năng Gù

(trên bờ sông Hậu) để khẩn hoang làm ruộng lập thành làng xóm” [24, tr.14]. Ở Châu

Đốc, năm 1851, để tránh sự nghi kỵ của chính quyền địa phương, cụ Đoàn Minh

Huyên chia nhỏ nhiều nhóm tín đồ của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương đi đến những

vùng xa xôi Hưng Sơn, Xuân Sơn (huyện Tịnh Biên), Láng Linh, Cái Dầu (huyện

Châu Phú) để khai hoang thành những “trại ruộng”.

Tiếp theo, đó là công cuộc khẩn hoang do nhà nước tổ chức, dưới hình thức

đồn điền và đưa tù phạm đến khai hoang đất đai. Bên cạnh đó còn có dân nghèo tham

gia trong việc thành lập đồn điền. Các đồn điền được lập dù binh lính, tù phạm hay dân

thường “sau một thời gian 6 hay 10 năm ruộng đất đã thành thục rồi, đã lập thành địa

bạ hẳn hoi, số lớn dân đồn điền đã ở thành dân cố định rồi, hình thức đồn điền sẽ bỏ đi,

dân cư ở đây sẽ chuyển thành thôn ấp, lập thành tổng xã” [71, tr.51].

47

Trên thực tế, vào nửa đầu thế kỷ XIX, nơi biên giới An Giang diện tích khai

hoang không đáng kể. Công việc tiến hành rất khó khăn do thiếu vốn, công cụ và khí

hậu cũng khắc nghiệt, người đến chưa quen phong thổ. Số người mới đến cũng nhiều,

song số người bỏ đi cũng không ít. Theo Đại Nam nhất thống chí, tính đến năm 1832,

ngạch hộ đinh ở An Giang là 25.615 người, giảm còn lại 15.065 người vào năm 1840

[60, tr.149]. Đến năm 1830, “Châu Đốc mới lập được 41 xã, thôn, phường; dân đinh

chỉ được hơn 800 người, địa lợi chưa khai khẩn hết” [15, tr.87]. Như vậy, bình quân

mỗi xã chỉ có 20 dân đinh đăng tịch và đất đai còn rất rộng.

Ngoài người Việt, vùng đất An Giang còn có người Khmer, Hoa, Chăm đến

khai khẩn. Người Khmer định cư ở những nơi đất gò cao và chân núi của 2 huyện Tri

Tôn, Tịnh Biên, nên “những chỗ gò hoang đất trống đã được khai khẩn thành ruộng

vườn trồng tỉa” [45, tr.75]. Người Chăm đến định cư ở Châu Giang (huyện Tân Châu).

Ngoài ra, công cuộc khẩn hoang đất đai ở An Giang còn diễn ra dưới hình

thức khai hoang lập ấp. Khi đào xong kênh Thoại Hà (1818), một số thôn ấp vùng núi

Sập được thành lập như Phú Hoà, Vĩnh Chánh, Thoại Sơn,… Thôn Mỹ Phước (nay

thuộc thành phố Long Xuyên) ngày càng trù phú khi có thêm người Hoa từ Rạch Giá,

Hà Tiên về đây cư trú.

Tháng 9 năm 1819, Nguyễn Văn Thoại điều động dân binh khắp trấn Vĩnh

Thanh đến Châu Đốc tiến hành đào kênh Vĩnh Tế. Sau khi đào xong kênh Vĩnh Tế, Gia

Long cũng chú ý đến việc khai hoang lập ấp vùng biên giới. Qua lời tâu của Trấn thủ

Vĩnh Thanh, triều đình Nguyễn ra chỉ dụ : “Xứ Châu Đốc đất tốt mà người ít, có nghe

quan An Phủ Chân Lạp là Diệp Hội (người Tàu làm quan bên Chân Lạp) là người mẫn

cán, xử việc gì dân cũng bằng lòng, liền cho Diệp Hội làm Cơ phủ Châu Đốc, khiến

chiêu tập người Việt, người Khơ-me, người Tàu đến đó cho đông, hễ có biết nghề

trồng cây, nuôi các thứ súc vật, buôn bán hay là làm nghề gốm, cho tuỳ nghề mà làm,

người nào thiếu vốn thời nhà nước cho vay” [46, tr.181].

48

Công việc khai phá bước đầu đạt được một số thành quả thì một biến cố xảy ra

đã gần như quét sạch tất cả. Năm 1833, mượn tiếng giúp Lê Văn Khôi, quân Xiêm tràn

sang Việt Nam, chúng chiếm An Giang. Cả vùng Vĩnh Tế đều nằm trong tay quân

Xiêm. Người dân trong vùng phải bỏ cả ruộng vườn, nhà cửa mới tạo lập để đi lánh

nạn. Sau khi chiếm Châu Đốc, quân Xiêm vượt sông Vàm Nao đánh Đông Khẩu và

Long Hồ (Vĩnh Long). Trương Minh Giảng lợi dụng rừng rậm phức tạp hai bên bờ

sông Vàm Nao chặn đánh quân Xiêm và giành thắng lợi. Ta tiếp tục truy kích quân

Xiêm ra khỏi Châu Đốc, Hà Tiên. Sau khi quân xâm lược bị quét sạch, một phần dân

cư trở lại chốn cũ nhưng công cuộc khai phá trở lại những bước đầu. Theo kiểm kê

ruộng đất của triều Nguyễn vào năm 1836, ven kênh Vĩnh Tế còn những thôn nguyên

đất bỏ hoang mới bắt đầu khai khẩn như thôn An Thạnh (thị trấn Tịnh Biên), Hưng An,

Long Thạnh, Vĩnh Thạnh (xã An Phú), Phú Cường (xã An Nông), Thân Nhơn Lý, Thới

Hưng, Vĩnh Bảo [14, tr.246-252]. Như vậy, số thôn giảm đi rất nhiều, diện tích ruộng

vườn quá ít ỏi và ở nhiều thôn, việc khai phá đất hoang chỉ mới bắt đầu.

Như vậy, An Giang đất rộng, dân thưa, chính sách khai hoang đất đai, lập ấp

dưới triều Nguyễn tuy không thành công lắm ở An Giang nhưng dù sao cũng có một số

kết quả nhất định, nhiều thôn mới ra đời như Bình Trung, Bình Lâm (thuộc Châu Phú),

Bình Đức, Mỹ Phước (thuộc thành phố Long Xuyên). Dọc bờ kênh Vĩnh Tế các thôn

mới được thành lập: Vĩnh Tế, Nhơn Hòa, An Quới, Thân Nhơn, Vĩnh Bảo, Long

Thạnh, Toàn Thạnh, Vĩnh Gia, Vĩnh Lạc. Tính đến năm 1819, ruộng đất toàn Nam Bộ

là 23.660 sở, với 97.100 dân đinh, trong đó trấn Vĩnh Thanh (gồm Vĩnh Long, An

Giang) có 9.000 sở và 37.000 dân đinh, chiếm 38,1% [15, tr.136].

Vào năm 1832, Nam Kỳ Ngũ Trấn đổi thành Lục Tỉnh. Trấn Vĩnh Thanh xưa

được chia làm 2 tỉnh Vĩnh Long và An Giang. Riêng An Giang gồm có 2 phủ, 4 huyện.

Phủ Tuy Biên gồm huyện Tây Xuyên và Phong Phú (Cần Thơ); còn phủ Tân Thành

gồm 2 huyện Đông Xuyên và Vĩnh An (Sa Đéc). Do có sự tách và nhập nhiều lần qua

49

các thời kỳ lịch sử nên diện tích đất đai của tỉnh An Giang ngày nay gần khớp với địa

bàn 2 huyện Đông Xuyên và Tây Xuyên dưới triều Nguyễn.

Đến nửa đầu thế kỷ XIX, công cuộc khai phá ở Nam Bộ nói chung, An Giang

nói riêng phát triển khá mạnh so với thế kỷ trước và đạt được nhiều thành quả đáng kể.

Theo kết quả đo đạc năm 1836, toàn tỉnh An Giang xưa có diện tích 47.675 ha, với 146

thôn và bình quân mỗi thôn là 326,5 ha. Còn diện tích khai phá ở An Giang theo sách

Đại Nam nhất thống chí cho biết là 43.235 ha [59, tr.194]. Diện tích khai phá chủ yếu

là ở huyện Đông Xuyên (với 12.323 ha trên diện tích toàn huyện là 12.330 ha), một số

thôn có diện tích canh tác nhiều như Mỹ Hội Đông 631,9 ha, Toàn Đức 660,6 ha, Toàn

Đức Đông 353,2 ha, Mỹ Chánh 527,1 ha, Kiến Thạnh 393,2 ha, Kiến Long 314,8 ha

(nay thuộc huyện Chợ Mới), Tấn An 353,3 ha (xã Tân An, Tân Châu) [14, tr.225-241];

còn phần đất nằm bên kia sông Hậu của An Giang việc khai hoang trồng trọt còn rất

hạn chế.

Tuy nhiên, công cuộc khai phá của triều Nguyễn ở An Giang còn có những

hạn chế nhất định là vấn đề sở hữu ruộng đất khai hoang được lại thuộc về nhà nước.

Những người dân sau bao nhiêu năm khai hoang gian khổ để biến vùng hoang vu, đầm

lầy thành ruộng đất canh tác thì không được nhà nước cho hưởng quyền sở hữu tư nhân

về ruộng đất mà họ khai phá. Họ chỉ được quyền sử dụng và số ruộng đất đó bị biến

thành công điền; và do đó nhà nước không khuyến khích, động viên họ tiếp tục bám trụ

lâu dài trên mảnh đất công điền. Đã vậy, nhà nước không có chính sách thuế khóa nhẹ

hơn đối với vùng đất biên giới An Giang đầy khó khăn trong quá trình khai phá, mà

đều nhất loạt giống nhau về thời gian bắt đầu phải nộp thuế cho nhà nước là 3 năm, kể

từ khi người khai hoang báo với quan trên xin khai khẩn; mặc dù đã có một vài triều

thần đề nghị với nhà nước bắt đầu tính thuế đối với ruộng đất mới khai hoang được là 6

năm, chứ không phải là 3 năm. Bởi vậy, cùng với những khó khăn khác, công cuộc

khẩn hoang, lập ấp của triều Nguyễn mặc dù rất phù hợp với nguyện vọng của nhân

dân lúc đó nhưng vẫn không thu hút đông đảo mọi người tham gia. Cũng vì thế mà

50

song song với quá trình khai hoang, tình trạng nông dân lưu tán, ruộng đất bỏ hoang

hoá vẫn tiếp tục diễn ra phổ biến, nghiêm trọng. Năm 1851, An Giang có 34.784 mẫu

(17.024 ha) ruộng đất bị bỏ hoang hoá [69, tr.63]. Số đinh lưu tán vào nửa đầu thế kỷ

XIX cũng ngày càng nhiều. Năm 1832, tỉnh An Giang có 25.645 đinh, đến năm 1847

chỉ còn lại 22.998 đinh.

Do thực trạng đất đai ở An Giang còn bỏ hoang nhiều, triều Nguyễn tiếp tục

thực hiện chủ trương khai hoang phục hóa xây ấp, lập đồn điền. Năm 1850, khi nhận

chức Kinh lược sứ 6 tỉnh Nam Kỳ, Nguyễn Tri Phương đã đề nghị : “Hợp lòng dân làm

đồn điền để giúp sinh kế” [36, tr.18]. Chủ trương của ông được triều đình Huế đồng

tình. Tự Đức đã ban bố nhiều biện pháp khuyến khích khẩn hoang. Sau 4 năm thực

hiện, số người đến khai hoang ở An Giang không nhiều. Triều Nguyễn lại tiếp tục

tuyển mộ thêm dân từ Bình Thuận trở ra, đưa họ vào vùng Vĩnh Tế, Tịnh Biên thuộc

tỉnh An Giang. Công việc lập đồn điền ở An Giang có kết quả, năm 1854, theo báo cáo

của Nguyễn Tri Phương lập được 21 cơ đồn điền toàn Nam Bộ, trong đó An Giang có

2 cơ : An Vũ, An Dũng. Riêng vùng kênh Vĩnh Tế có đến 4 cơ đồn điền thành lập :

Ninh Biên Nhất, Nhị, Tam, Tứ. Mỗi cơ đồn điền, về nguyên tắc, có 500 dân đinh,

nhưng trên thực tế “phần đông các cơ đồn điền không quá 300 người” [42, tr.123]. Như

thế, vùng Vĩnh Tế có 4 cơ thì có khoảng 1.200 dân đinh trong các đồn điền. Về lập ấp,

tổng số thôn, ấp mới thành lập ở địa bàn An Giang là 23 đơn vị trên 129 thôn ấp mới

thành lập ở Nam Kỳ [42, tr.128].

Sau khi chiếm Nam Kỳ, Pháp chia tỉnh An Giang xưa thành 5 tỉnh: Châu Đốc,

Long Xuyên, Sa Đéc, Cần Thơ và Sóc Trăng với tình trạng khá ổn định [14, tr.94].

Năm 1917, tỉnh Châu Đốc có 4 quận (Châu Thành, Tri Tôn, Tịnh Biên, Tân Châu), 12

tổng, 98 xã; tỉnh Long Xuyên có 3 quận (Châu Thành, Chợ Mới, Thốt Nốt), 8 tổng, 58

xã. Tương ứng với địa bàn An Giang ngày nay chỉ có 6 quận (nay Thốt Nốt thuộc Cần

Thơ). Năm 1930, tỉnh Châu Đốc nhận thêm quận Hồng Ngự (nay thuộc tỉnh Đồng

Tháp).

51

Ngay từ đầu thực dân Pháp đã chú ý đến nông nghiệp, chính quyền thực dân

nhận định : “Nông nghiệp là ngành chỉ cần đầu tư ít vốn nhưng lợi nhuận thu được thì

rất cao, bởi ruộng đất là vốn cơ bản nhất trong sản xuất nông nghiệp đã nằm trong tay

Pháp, có thể sử dụng nguồn nhân công rẻ mạt vào hoạt động sản xuất. Mặt khác sản

phẩm của nông nghiệp không sợ cạnh tranh với hàng hoá chính quốc, trái lại nói sẽ

cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chính quốc và là nguồn lợi lớn nhất cho xuất

khẩu” [30, tr.30-31]. Trên cơ sở chính sách chung, tuỳ theo điều kiện tự nhiên, thế

mạnh của từng vùng, tỉnh mà có những chính sách cụ thể khác nhau. So với các tỉnh

Nam Kỳ, An Giang có diện tích hoang hoá khá cao. Tổng diện tích canh tác Long

Xuyên và Châu Đốc chỉ có 16.443 ha chiếm 5,5% diện tích canh tác ở Nam Kỳ lúc đó

là 298.175 ha. Vì vậy, việc khai hoang để tăng diện tích canh tác ở Long Xuyên, Châu

Đốc là mục tiêu đầu tiên của chính quyền thực dân trong việc đề ra chính sách khai

thác kinh tế của 2 tỉnh này.

Để thực hiện điều này, chính quyền thực dân tiến hành các công trình giao

thông, thuỷ lợi nhằm phục vụ cho việc khai thác và làm tăng giá trị của đất. Năm 1902,

công việc cải tạo kênh Long Xuyên (chảy từ Long Xuyên đến Rạch Giá) đã hoàn thành

và rạch Ông Chưởng vào năm 1905. Bên cạnh việc cải tạo các kênh rạch có từ trước,

Pháp còn cho đào một số kênh rạch mới như kênh Xáng Tân An (1914 - 1918) dài 9

km nối từ sông Tiền với sông Hậu, kênh Thần Nông (1916 - 1922) dài 25 km nối từ

kênh Vĩnh An (xã Phú Vĩnh, Tân Châu) đến rạch Cái Đầm (xã Bình Thạnh Đông, Phú

Tân), kênh Mặc Cần Dưng (1920), kênh Tri Tôn (nối kênh Mạc Cần Dưng với Tám

Ngàn), kênh Tám Ngàn (nối kênh Tri Tôn với kênh Rạch Giá - Hà Tiên), kênh Cái Sắn

(1922 - 1923, nối Long Xuyên - Rạch Sỏi dài 60 km), kênh Ba Thê - Cái Sắn, kênh

Bốn Tổng (nối Cái Sắn với Mặc Cần Dưng), kênh Xáng Vịnh Tre (1939),…[55, tr.24].

Cũng như các nơi khác ở Nam Kỳ, chính quyền thực dân không đứng ra tổ

chức khẩn hoang như chính quyền phong kiến đã từng làm, vì cho rằng : “Đây là công

52

việc phức tạp, phải chiêu mộ nhiều người và rất tốn kém, vượt ra ngoài khả năng của

chính quyền thực dân” [30, tr.37].

Với những cố gắng của chính quyền trong việc tạo ra cơ sở hạ tầng như kênh

rạch, đường xá, cầu cống…, công cuộc khai hoang ở Long Xuyên - Châu Đốc có nhiều

bước phát triển. Tổng diện tích khai hoang ở Châu Đốc năm 1872 là 832 ha lên đến

134.000 ha vào năm 1921. Còn ở Long Xuyên, từ năm 1899 - 1929, đã có 142.960 ha

đất được khai hoang trên tổng diện tích của tỉnh là 261.000 ha [30, tr.39].

Song song đó, thực dân Pháp còn đẩy mạnh việc chiếm hữu đất đai thông qua

nhiều Nghị định về chuyển nhượng đất. Việc bán đất không giới hạn diện tích, tư nhân

được quyền mua nhưng phải có khả năng khai thác và đóng thuế đầy đủ. Tư nhân có

điều kiện mua đất để khai thác phần lớn là người Pháp, những người nhập quốc tịch

Pháp, còn dân bản xứ thì rất ít.

Năm 1929, diện tích đất chuyển nhượng hoặc để lập các đồn điền ở Long

Xuyên là 64.000 ha trên tổng 139.498 ha trồng trọt, chiếm tỉ lệ 1/3; còn ở tỉnh Châu

Đốc là 123.000 ha. Diện tích trung bình của mỗi đồn điền ở Long Xuyên là 16,10 ha vì

nơi đây diện tích đất hoang còn nhiều; còn ở Châu Đốc do địa thế xa xôi gần biên giới

và đất chua phèn còn nhiều, nên bình quân mỗi đồn điền có khoảng 3,10 ha. Toàn tỉnh

Long Xuyên có 11.478 địa chủ, sở hữu 139.449 ha ruộng đất [30, tr.47-48], trong đó

chỉ có số ít đại địa chủ là trực tiếp canh tác, có tới 80% ruộng đất của địa chủ đem cho

các tá điền lĩnh canh.

Chính sách của Pháp về nông nghiệp như đào kênh, khai hoang, chiếm hữu

ruộng đất,… đã làm thay đổi khá nhiều diện mạo của vùng đất hoang hoá Long Xuyên-

Châu Đốc. Nông dân nhiều nơi về đây, người có tiền thì mua đất trở thành trung nông,

phú nông; người không tiền chấp nhận làm tá điền mưu sinh theo thời vụ.

Từ năm 1945 - 1954, chính sách ruộng đất của Pháp cũng không có gì thay đổi

so với trước. Đối với chính quyền kháng chiến, tháng 5 năm 1950, Chính phủ Việt

53

Nam Dân chủ Cộng hoà ban hành 2 sắc lệnh với nội dung tạm giao ruộng đất của địa

chủ chạy vào vùng địch tạm chiếm và trưng thu tất cả ruộng đất bị bỏ hoang, tạm cấp

cho nông dân cày cấy. Ở An Giang phần lớn số địa chủ chạy vào vùng địch tạm chiếm,

ruộng đất được chia cấp và tạm giao cho nông dân nghèo. Với chính sách tạm cấp

ruộng đất của Đảng, nhiều vùng hoang vu đã trở thành khu dân cư đông đúc như

Lương An Trà, Tám Ngàn (tỉnh Long Châu Hà),…

Sau năm 1954, chính quyền Sài Gòn liên tiếp thực hiện các chính sách về “cải

cách điền địa”, và “vấn đề ruộng đất luôn được coi như hàng quốc sách nhằm đưa nông

thôn vào quĩ đạo chính trị, kinh tế của chế độ thực dân mới” [79, tr.283]. Ngày 22 - 10

- 1956, chính quyền Sài Gòn ra dụ số 57, quy định “mọi địa chủ ở miền Nam không

được chiếm hữu quá 100 ha (không kể 15 ha làm ruộng hương hỏa). Số 115 ha này địa

chủ được tùy ý lựa chọn trong tổng điền sản của mình. Ai có sở hữu quá 100 ha thì áp

dụng chế độ “truất hữu”, tức Chính phủ mua lại số phụ trội đó theo hiện giá. Số tiền

mua này được trả trước 10%. Phần còn lại, 90% giá trị ruộng đất được trả bằng một trái

phiếu hữu danh, có quốc gia đảm bảo với mức lãi 5%/năm trong 12 năm. Số ruộng

“truất” này được nhà nước bán lại cho nông dân theo giá tương đương giá tiền mà

Chính phủ bồi thường cho người bị truất hữu đất. Nhưng có phần được ưu ái hơn nông

dân trả dần trong 6 năm và trong 6 năm đó không tính lãi. Mỗi nông dân được mua

dưới 5 ha. Số tiền trả được chia đều 6 phần, mỗi năm trả 1 phần, trong 6 năm thì trả

hết. Trong vòng 10 năm, số ruộng đất đó không được cho thuê hoặc đem bán lại” [49,

tr.253-254]. Tiếp theo, ngày 26 - 3 - 1970, Nguyễn Văn Thiệu còn ban hành luật

“Người cày có ruộng”. Tại An Giang, trong 3 năm thực hiện luật “Người cày có ruộng”

(1970 - 1972) đã có 98.329 ha đất của địa chủ được kê khai và được chính quyền

Nguyễn Văn Thiệu bồi thường 1,161 tỷ đồng. Có 38.369 nông dân nộp đơn xin cấp đất

với diện tích 62.885 ha [86, tr.55-56]. Mục tiêu của chính sách này là nhằm xóa bỏ

thành quả ruộng đất của chính quyền Cách mạng, làm cho nông dân xa rời cách mạng

và tạo lập cơ sở kinh tế xã hội cho chính quyền Sài Gòn.

54

Mặt khác, sau năm 1954, do chính sách an ninh, quốc phòng, kinh tế của chính

quyền Sài Gòn, địa giới hành chính có nhiều thay đổi. Năm 1956, tỉnh An Giang trên

cơ sở tỉnh Châu Đốc và Long Xuyên trước đây thời Pháp nhập lại, tỉnh lỵ đặt tại Long

Xuyên. Năm 1964, tỉnh An Giang tách ra thành 2 tỉnh : An Giang và Châu Đốc. Tỉnh

Châu Đốc có 5 quận Châu Phú, An Phú, Tân Châu, Tri Tôn, Tịnh Biên; và tỉnh An

Giang như tỉnh Long Xuyên cũ thời Pháp gồm 4 quận Châu Thành, Chợ Mới, Thốt

Nốt, Huệ Đức (tháng 5 - 1961, quận Núi Sập đổi tên thành quận Huệ Đức).

Song song đó, địa bàn dân cư cũng có nhiều thay đổi theo, “có nơi phát triển

rộng nhưng có nơi trở lại thời kỳ chưa khai phá” [56, tr.9]. Những nơi phát triển là do

sự bố trí các căn cứ quân sự của chính quyền Sài Gòn ở An Giang như thị trấn An Phú

(quận An Phú) lập năm 1959, chợ Chắc Cà Đao thuộc làng Hoà Bình Thạnh (nay thị

trấn An Châu),… hay do chính sách quy khu dồn dân của chính quyền Sài Gòn với các

hình thức khu dinh điền, khu trù mật, ấp chiến lược, ấp tân sinh như dinh điền Bà Bài

(xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Đốc) năm 1956,… Ngược lại, một số nơi dân cư lâu đời, bị

bom đạn tàn phá ruộng vườn không canh tác được biến thành vùng trắng không dân

như ven núi Dài lớn, núi Tô, núi Phú Cường, núi Cấm.

Có thể nói, giai đoạn từ 1954 - 1975, công cuộc khai thác vùng đất An Giang

không đạt được nhiều kết quả. Diện tích bỏ hoang còn nhiều, nhất là quận Tri Tôn và

Huệ Đức (nay là huyện Thoại Sơn). Tổng diện tích gieo trồng ở An Giang là

317.702,79 ha, nhưng đất bỏ hoang là 19.844,57 ha, tập trung ở vùng Châu Đốc, do

công tác dẫn thuỷ nhập điền và thoát nước trị phèn chưa được đầu tư.

Về phía cách mạng, do chiến tranh ác liệt nên vùng giải phóng bị thu hẹp dần

từ chỗ có dân trở thành không dân. Ruộng đất giành lại được trong phong trào “Đồng

khởi” năm 1960 - 1961 ở cánh đồng Năm Xã (Châu Thành - Thoại Sơn), Hội An (Chợ

Mới), Phú Hữu (An Phú), Lương Phi, Cô Tô, Ô Lâm, Lương An Trà (Tri Tôn),… bị

bom đạn tàn phá và bỏ hoang hoá rất nhiều.

55

Sau năm 1975, địa giới hành chính tiếp tục có sự điều chỉnh. Năm 1976, tỉnh

An Giang có các huyện, thị xã : Châu Thành, Huệ Đức (Thoại Sơn), Châu Phú, Tri

Tôn, Tịnh Biên, Phú Tân, Chợ Mới, Phú Châu (tách thành huyện Tân Châu, An Phú

vào năm 1991) và thị xã Long Xuyên, Châu Đốc. Mặt khác, tình hình đất đai và dân cư

ở An Giang có nhiều biến động, do chiến tranh biên giới Tây Nam và lũ lụt đã làm hơn

70.000 ha đất bỏ hoang, hàng trăm nghìn đồng bào ở vùng biên giới phải lùi sâu vào

trong nội địa. Từ sau năm 1980, đồng bào Khmer từ Sóc Trăng, Campuchia trở về, tình

hình dân cư vùng Bảy Núi dần dần ổn định. Mặt khác, chính sách xây dựng vùng

“Kinh tế mới” đã điều động một số dân nghèo ở thành thị vào canh tác ở cánh đồng

Năm Xã (Thoại Sơn - Châu Thành), Ô Long Vĩ (huyện Châu Phú), Lương An Trà

(huyện Tri Tôn),… đã làm tăng thêm dân số nơi này. Song, do không quen với ruộng

đồng nên họ lần hồi bán đất, bỏ đất về nơi cũ. Đặc biệt, do chính sách tập thể hoá máy

móc và tình trạng quản lý sản xuất nông nghiệp theo địa giới hành chính nên ruộng đất

bị bỏ hoang hoá ngày càng nhiều. Đến năm 1987, An Giang vẫn còn 20.000 ha ruộng

đất bỏ hoang hoá.

Quán triệt những quan điểm đổi mới, Đảng bộ An Giang ban hành nhiều chủ

trương, chính sách táo bạo, sáng tạo nhằm đẩy mạnh toàn diện công cuộc khai phá

vùng đất An Giang, với nội dung là đưa ruộng đất, máy móc nông nghiệp về hộ nông

dân, lấy hộ nông dân làm đơn vị sản xuất cơ bản. Vì vậy, An Giang cơ bản giải quyết

tình trạng đất bỏ hoang hoá ngay trong những năm 1988 - 1989. Tiếp theo trong những

năm 1997 - 1999, tỉnh tiếp tục khai hoang hơn 42.000 ha, chuyển vụ trên 110.000 ha,

diện tích đê bao ngăn lũ lên đến 87.000 ha, trong đó đảm bảo sản xuất triệt để vụ 3 là

60.000 ha. Có lẽ thắng lợi lớn nhất trong tiến trình khai phá vùng đất An Giang là việc

khai hoang tăng vụ khu Tứ giác Long Xuyên đã đưa vùng hoang hoá bao đời nay trở

thành vựa lúa lớn nhất của tỉnh, cùng với hệ thống giao thông tương đối hoàn chỉnh đã

làm cho bộ mặt nông thôn An Giang có nhiều thay đổi.

2.1.2. Hoạt động sản xuất nông nghiệp

56

2.1.2.1. Việc trồng lúa

Vào thế kỷ XVII - đầu thế kỷ XVIII, để biến đồng hoang cỏ dại thành đất đai

canh tác, việc làm đầu tiên của người nông dân là khai hoang mở đất, “những người di

cư ra sức chặt cây cối, cắt cỏ rậm, mở mang đất đai thành những vùng đất bằng phẳng

phì nhiêu” [42, tr.44]. Phương thức khai hoang mỗi vùng không giống nhau. Ở địa bàn

An Giang, người ta phát cỏ lác, cào cỏ đắp bờ, gieo mạ rồi cấy. Mỗi nông dân trong

một năm có thể khai hoang từ 1,5 đến 2 ha. Việc khai hoang thường diễn ra dưới hình

thức tập thể, mấy gia đình nhỏ, có quan hệ họ hàng hoặc là những người cùng quê có

thể kết hợp với nhau. Ban đầu họ tìm đến những khu đất cao, có đầy đủ nguồn nước

ngọt để tưới hoa màu hoặc dùng cho đời sống của con người và gia súc. Do thiếu công

cụ sản xuất và trâu bò cày kéo, người nông dân chỉ có thể khai thác những diện tích

nhỏ, lấy quảng canh thay cho thâm canh, đây là đặc trưng phổ biến ở nhiều nơi chứ

không chỉ riêng ở An Giang.

Vùng đất An Giang có 2 loại ruộng : ruộng núi (còn gọi là sơn điền) và ruộng

thấp hay ruộng cỏ (thảo điền). Theo Gia Định thành thông chí, “ruộng núi thì khi mới

khai khẩn thì đẵn chặt cỏ cây, đợi cho khô đốt thành tro, đến khi mưa xuống cứ thế mà

gieo thóc, không phải cày bừa…; ruộng thấp thì cỏ lác, cỏ năn và bùn lầy, ngày nắng

ráo thì đất rạn nẻ…., đợi đến khi cuối mùa hạ sang mùa thu, nước mưa đầy tràn, chặt

phá cỏ lác cỏ năn, bừa cỏ đi, be đắp thành bờ, trang đất cắm mạ” [17, tr.155].

Lúc mới khai hoang, người nông dân chỉ gieo trồng mỗi năm một vụ vào mùa

mưa. Tuỳ thuộc chân ruộng cao hay thấp mà làm sớm hay làm muộn. Ở An Giang,

“ruộng sớm tháng 4 gieo mạ, tháng 6 cấy, tháng 10 gặt; ruộng muộn thì tháng 5 gieo

mạ, tháng 7 cấy và tháng 11 gặt” [17, tr.155]. Để đảm bảo canh tác có hiệu quả, ngoài

việc áp dụng một số kinh nghiệm về kỹ thuật gieo trồng sao cho phù hợp với từng loại

đất. Người nông dân An Giang còn biết chọn những giống thích hợp với mỗi vùng.

57

Khi dân cư còn ít, định cư còn phân tán, nông dân làm những công trình thuỷ

lợi nhỏ, vừa sức mình. Trong điều kiện nhân lực không nhiều, vốn liếng thiếu, người

nông dân An Giang vẫn đào được một số kênh mương nhỏ dẫn nước vào các cánh

đồng, bước đầu thực hiện biện pháp rửa phèn, cải tạo đất. Những hoạt động trên bước

đầu đem lại hiệu quả, biến một số vùng đất khô hoặc ngập úng thành những cánh đồng

xanh tốt. Hoạt động nông nghiệp dần dần trở thành ngành kinh tế chủ đạo của vùng đất

An Giang trong bước đầu khai phá.

Đầu thế kỷ XIX, cùng với việc mở rộng diện tích khai hoang là việc xúc tiến

sản xuất nông nghiệp. Cây lúa là cây trồng chủ lực trong sản xuất nông nghiệp ở An

Giang. Theo kết quả ghi trong địa bạ năm 1836, toàn tỉnh An Giang xưa có 35.489 ha

trồng lúa. Diện tích ấy được phân chia thành 2 loại ruộng : ruộng nước, ruộng thấp gọi

là thảo điền và ruộng núi, ruộng gò hay ruộng cao gọi là sơn điền. Thảo điền có 1.273

ha, chiếm 3,6 % diện tích ruộng lúa toàn tỉnh; còn sơn điền là 34.193 ha, chiếm 93,3 %

[14, tr.167]. Như vậy, loại ruộng gò cao chiếm tuyệt đại đa số diện tích trồng lúa ở An

Giang xưa. Có những huyện, sơn điền chiếm diện tích 100% diện tích trồng lúa như

Đông Xuyên có 8.220 ha đất trồng lúa hoàn toàn là sơn điền; được trồng nhiều ở các

thôn Kiến Long 143 ha, Kiến Thạnh 364,6 ha, Mỹ Chánh 218,1 ha, Toàn Đức Đông

231,9 ha, Mỹ Hội Đông 364,9 ha (nay thuộc huyện Chợ Mới) [14, tr.221-241]. Huyện

Tây Xuyên cũng thế, diện tích trồng lúa là 3.753 ha thì có 99,49 % là sơn điền; lúa

được trồng nhiều ở thôn Mỹ Phước 310,5 ha, Mỹ Thạnh 187,7 ha, Bình Đức 432,6 ha

(nay thuộc thành phố Long Xuyên), Vĩnh Chánh 109,7 ha (Thoại Sơn), Bình Hòa

Trung 94,2 ha (Châu Thành) [14, tr.243-261]. Điều này cũng phù hợp với thực tế của

địa hình 2 huyện Đông Xuyên và Tây Xuyên đã có diện tích nằm trên gò đất cao, núi

đồi, còn khu vực thấp trũng thì ngập phèn, không thể trồng lúa được. Hệ thống kênh,

rạch vào thời này chưa có nhiều, chưa phát huy tác dụng của thuỷ lợi như tưới tiêu, rửa

phèn, dẫn nước ngọt hoặc xả lũ về mùa mưa, giữ nước ngọt vào mùa khô,....

58

Trong canh tác, người nông dân sử dụng các công cụ thô sơ, tự làm đất, phát

cỏ, sục bùn, gặt. Mỗi năm chỉ làm được một vụ vào mùa mưa. Mùa màng trong năm

dựa hẳn vào khí hậu, thời tiết, thuỷ văn. Nhiều nơi sản xuất theo lối du canh, cứ sau

“ba hay năm năm lại đổi trồng chỗ khác” [17, tr.155]. Như vậy, người nông dân lại bỏ

ruộng cũ đi tìm chỗ khác khai khẩn, làm lại từ đầu.

Các giống lúa được trồng ở An Giang đều là giống lúa địa phương và giống

lúa miền Bắc, miền Trung của nông dân đem theo khi vào đây sinh sống. Theo Gia

Định thành thông chí, đến nửa đầu thế kỷ XIX, “ lúa có nhiều thứ, đại khái có hai thứ

lúa tẻ và lúa nếp, hai loại này khác nhau ở chỗ có dẻo hay không. Tẻ là thứ lúa không

dính, hạt nhỏ, chất mềm rất thơm, hạt thóc có râu. Nếp là thứ lúa có nhựa dính, hạt tròn

mà to” [17, tr.153]. Một số giống lúa được mang vào từ miền Bắc và miền Trung như

lúa tào, thóc sá, móng tay, móng chim, mo cải cà dong, cà nhe, sẻ nhất, chàng cô,

“nhưng về ngon thơm thì lúa tào là nhất, mà lúa cà nhe là nhì” [17, tr.154]. Nếp thì có

các giống nếp than, nếp ván, nếp hương.

Đến giữa thế kỷ XIX, các giống lúa và nếp được gieo trồng ở An Giang và các

tỉnh Nam Bộ phong phú hơn trước. Theo Đại Nam nhất thống chí, ở Nam Bộ, “hai thứ

lúa tẻ và lúa nếp rất nhiều danh loại không sao kể xiết” [60, tr.292]. Nhiều giống lúa rất

quen thuộc các tỉnh phía Bắc cũng được gieo trồng ở Nam Bộ như lúa thơm, lúa móng

chim, lúa chiêm, lúa man, lúa héo trắng, lúa cánh, lúa ba trăng, lúa bát ngoạt, lúa trăng,

lúa dung, lúa đen, lúa chày chày; hoặc các loại nếp voi, nếp cao, nếp bò, nếp vằn, nếp

bụt, nếp kỳ lân, nếp hương bầu, nếp cút, nếp cò, nếp cái, nếp than, nếp lứa, nếp trứng,

nếp sáp.

Thời vụ gieo trồng lúc bấy giờ đợi mùa mưa xuống mới gieo trồng, nên gieo

mạ vào tháng 6, cấy vào tháng 8 và thu hoạch vào tháng 12, tháng 1. Cũng như nông

dân các tỉnh khác, nông dân An Giang chưa dùng phân bón cho ruộng mà chỉ nhờ vào

nước mưa và chất dinh dưỡng tự nhiên của đất như : lượng phù sa màu mỡ được bồi

đắp hàng năm sau mùa nước nổi; tro được đốt từ cỏ, rơm, rạ bỏ lại ruộng, … Vào đầu

59

thế kỷ XIX, vùng đất An Giang có năng suất và sản lượng lúa cao hơn các vùng khác,

“một hộc thóc giống, thì thu được 300 hộc thóc” [17, tr.155], trong khi đó các nơi khác

ở Nam Bộ chỉ được 100 lần nhiều hơn số lúa giống.

Tuy năng suất khá cao so với nhiều nơi khác, nhưng do gieo trồng phụ thuộc

nhiều vào nước mưa, hạn hán dẫn đến mất mùa đói kém như “nạn hạn hán năm 1865

khiến nông dân hai tỉnh Vĩnh Long, An Giang phải bỏ ruộng hoang” [42, tr.141].

Sau khi chiếm Nam Bộ, thực dân Pháp bắt tay ngay vào việc khai thác để xuất

khẩu lúa gạo. Lúc bấy giờ, gạo Nam Bộ không cạnh tranh nổi với gạo Miến Điện

(Mianma), Nhật Bản, Ấn Độ nên Pháp du nhập vào Nam Bộ một số giống mới từ Miến

Điện, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Ma Rốc, Achemtina, Trung Quốc,…để trồng thực

nghiệm, nhưng năng suất lại thấp hơn lúa nội vì không thích hợp với loại đất. Tuy

nhiên, đến đầu thế kỷ XX, ở Nam Bộ có “511 giống lúa gồm 162 giống lúa sớm, 195

giống lúa mùa, 87 giống lúa muộn” [33, tr.54].

Diện tích trồng lúa chiếm tỉ lệ 80 - 90% diện tích canh tác trong toàn tỉnh.

Hầu hết diện tích khai hoang trong thời kỳ này đều được đưa vào trồng lúa nhằm sản

xuất lúa gạo cho chính quyền thực dân. Giống lúa là các giống lúa mùa, lúa nổi và nếp

địa phương.

Nếp có 2 loại. Loại nếp cấy vào đầu tháng 5, sau 6 tháng mới thu hoạch là

giống nếp đùm Peychlo và nếp Pomtia. Nếp này có nguồn gốc từ Campuchia. Loại nếp

cấy vào tháng 5, sau 7 tháng mới thu hoạch như giống nếp Kramuôn, nếp Ván, nếp

Móng Chim, nếp Than.

Lúa tẻ được chia làm 2 nhóm :

Nhóm giống lúa mùa sớm, từ lúc gieo trồng đến khi thu hoạch kéo dài 3 - 4

tháng như giống lúa giáng (hạt gạo đỏ), có thời gian sinh trưởng 3 tháng, được gieo

trồng vào tháng 11 hằng năm; các giống Nàng Mẹt, Nàng Kôk, Nàng Sô, Nàng Phok,

60

lúa Parith, có thời gian sinh trưởng 4 tháng, được gieo trồng từ tháng 5 hàng năm.

Ngoài ra còn có lúa Nàng Dài, lúa Thơm cũng được gieo trồng vào tháng 5.

Nhóm giống lúa mùa muộn, từ lúc gieo trồng đến thu hoạch kéo dài 6 - 7

tháng, được gieo trồng trong tháng 5, 6 như lúa Vài Vai, lúa Nha - prom, lúa Nàng

Phược, lúa Cánh Tẻ, lúa Nàng Kong - phluc, lúa Phear - krasang, lúa Contrey, lúa Cà

Đung, lúa Bát Rotés, lúa Móng Chim, lúa Nàng Sáp, lúa Sậy, lúa Thâm Đưng

[35,tr.65].

Ngoài ra còn có giống lúa nổi (người Pháp gọi là riz flottant) được du nhập từ

Campuchia vào năm 1891 [90, tr.40]. Theo Theo tờ Gia Định báo ra ngày 15 - 11 -

1901 đăng tin : “Chủ tỉnh Châu Đốc Doceuil báo tin lúa nổi do ông Phan Văn Vàng

(Đa Phước) khám phá và trồng thử nghiệm tại Phước Hưng, Hà Bao, Châu Phú” [52,

tr.97]. Giống lúa này “có khả năng tăng trưởng nhanh và chịu được tình trạng ngập sâu,

chiều cao từ 3 mét đến 5 mét” [33, tr.81]. Lúa nổi có 2 loại : loại thân ngắn gọi là giống

Nàng Tây được gieo trồng từ tháng 5, 6 và thu hoạch vào tháng 12; loại có thân dài hơn

gọi là giống Tàu Binh có thời gian sinh trưởng muộn hơn, thường thu hoạch vào tháng

1, 2 năm sau. Lúc này, giống Nàng Tây thường được gieo trồng ở những địa hình ít

ngập sâu như Long Xuyên; còn giống Tàu Binh thường được gieo trồng ở địa hình

ngập sâu, nhiễm phèn hoặc vùng trũng sát biên giới Châu Đốc.

Nhờ cây lúa nổi mà diện tích canh tác ở An Giang tăng lên nhanh chóng. Năm

1872, diện tích trồng lúa ở Long Xuyên là 10.443 ha, vùng Châu Đốc do còn ngập sâu

nên chỉ trồng được 832 ha; năm 1888, diện tích canh tác trồng lúa tăng lên 50.111 ha,

trong đó ở Long Xuyên 39.776 ha và Châu Đốc 10.335 ha [42, tr.206]. Đến năm 1908,

do có các công trình đào kênh mương của chính quyền Pháp nên diện tích canh tác

trồng lúa ở An Giang tăng lên gấp đôi, từ 50.111 ha lên 104.314 ha, trong đó Long

Xuyên tăng 1,75 lần (69.717 ha) và Châu Đốc tăng 3,3 lần (34.597 ha) [42, tr.206].

61

Từ năm 1910 đến 1930, diện tích trồng lúa tăng gần gấp đôi, nhờ việc du nhập

các giống lúa nổi thích nghi với điều kiện ngập sâu ở Long Xuyên, Châu Đốc. Đến

năm 1930, diện tích canh tác tăng lên 278.800 ha (Long Xuyên 147.500 ha và Châu

Đốc 131.500 ha); với sản lượng lúa 347.780 tấn (Long Xuyên 199.700 tấn, Châu Đốc

148.080 tấn) [57, tr.227].

Tuy nhiên, kỹ thuật canh tác lúa mùa, lúa nổi trong thời gian này rất đơn sơ;

phần lớn dựa vào nước mưa, nông dân rất ít hoặc hầu như không sử dụng phân hóa

học. Vì vậy, năm nào bất ngờ xảy ra lũ lụt hoặc hạn hán, thì năm đó dễ bị mất mùa,

nông dân rơi vào cảnh nghèo đói. Lũ lụt năm 1904 (đỉnh lũ 4,14 mét) và 1923 (3,80

mét) đã làm cho mùa màng thiệt hại nặng. Năm 1922, sản lượng lúa ở Long Xuyên là

114.326,4 tấn, ở Châu Đốc là 142.660 tấn; thì năm 1923, sản lượng lúa ở Long Xuyên

còn là 64.800 tấn, ở Châu Đốc là 125.000 tấn [30, tr.69].

Do kỹ thuật canh tác đơn sơ, năng suất lúa bấy giờ rất thấp, bình quân chỉ đạt

từ 1 - 1,3 tấn/ha. Năng suất các loại lúa được ghi nhận vào năm 1929 sau :

Lúa sớm : 1 tấn/ha Lúa mùa lỡ : 1,2 tấn/ha Lúa mùa muộn : 1,6 tấn/ha Lúa nổi : 1 tấn/ha [90, tr.42] Từ năm 1930 đến 1954, diện tích trồng lúa ở An Giang chỉ ở mức từ 250.000

ha đến 270.000 ha. Năm 1954, diện tích lúa ở An Giang là 272.250 ha, trong đó Long

Xuyên 122.250 ha và Châu Đốc 150.000 ha. Sản lượng lúa ở An Giang cao nhất đạt

trên 300.000 tấn/năm trong thời gian 1930 - 1954 [79, tr.378].

1872

Diện tích canh tác lúa ở An Giang từ năm 1872 - 1954 (tính theo đơn vị : ha) 1908 34.597 69.717

1930 87.200 105.600

1921 134.000 75.000

1879 1.325 13.757

1888 10.335 39.776

832 10.443

1946 48.000 82.000

1954 150.000 122.250

Tỉnh Châu Đốc Long Xuyên

An Giang

11.275

15.082

50.111

104.314

209.000

192.800

130.000

272.250

62

Nguồn : [42, tr.206-207]

Đến năm 1959, diện tích trồng lúa ở An Giang là 292.840 ha. Ở Châu Đốc có

19.884 ha đất bỏ hoang vì chưa có các công trình thuỷ lợi dẫn nước tháu phèn có hiệu

quả. Sản lượng lúa đạt 439.260 tấn. Trong số 292.840 ha trồng lúa thì có 269.460 ha

gieo sạ các giống lúa nổi (chiếm 92%). Còn 8% gieo cấy các loại lúa ngắn ngày hơn ở

những vùng đất cao của Châu Đốc. Sản lượng cả năm đạt 439.260 tấn [56, tr.10].

Lúa nổi chia thành 3 loại : giống lúa sớm như lúa Chuối, Nàng Quớt; giống

lúa lỡ như Nàng Tây, Nàng Lên, Nàng Kiểu; giống lúa muộn như Nàng Rừng, Nam

Vang, Tàu Binh, Thâm Đưng, Trung Hưng, lúa Xanh, Cao Giàn, Đuôi Trâu,… Lúa cấy

cũng chia 4 loại: các giống nếp gồm nếp Tràm, Thằng Chệt, nếp Ruồi, nếp Vàng, nếp

Keo, nếp Mè, nếp Than, nếp Già, nếp Mỡ, nếp Mướp,…; các giống lúa sớm như

Casada…; các giống lúa lỡ như lúa Hai Trăm, Nàng Quệt, Bông Dừa, Móng Chim,

Nàng Voi, Nàng Kôk, Nàng Nhen…; các giống lúa muộn như Tàu Cụt, lúa Thơm,

Baso,…

Kỹ thuật trồng cây lúa nổi cũng rất đơn giản, “lúa gieo liền trên đất được cày

bừa vào đầu mùa mưa. Lúc lúa cao độ 40 - 50 phân thì nước sông bắt đầu lên và cứ tiếp

tục lên cao mãi. Cây lúa cũng phát triển được theo mực nước. Lúa nổi có thể chịu được

từ 1,50 đến 5 mét bề sâu nếu mực nước mỗi ngày không cao quá 10 phân” [20, tr.115].

Đến khi nước rút hết trong ruộng là vào lúc thu hoạch. Thời gian sinh trưởng của cây

lúa nổi từ 180 - 240 ngày. Thường không sử dụng phân bón và thuốc sâu nên chi phí

trồng lúa nổi rất ít. Do đó, năng suất cũng thấp chỉ đạt trên dưới 1 tấn/ha. Tuy nhiên, do

kỹ thuật canh tác lúa nổi phụ thuộc vào thiên nhiên, năm nào có lũ lớn hay hạn hán thì

cũng dễ bị mất mùa, nông dân dễ rơi vào cảnh nghèo đói. Năm 1966, ở An Giang, “lũ

đã làm thiệt hại 42% diện tích lúa nổi, có 60.420 ha các quận Châu Thành, Chợ Mới,

Huệ Đức, Thốt Nốt bị mất trắng” [79 tr.390].

63

Đến năm 1967, các giống lúa Thần Nông cao sản ngắn ngày của Viện nghiên

cứu lúa quốc tế IRRI được nông dân An Giang gieo trồng, với 2 giống lúa đầu tiên là

Thần Nông 8 (TN8) và Thần Nông 5 (TN5), đã thay thế một phần diện tích lúa nổi.

Năm 1968, An Giang có 2.500 ha trồng lúa TN8, năng suất bình quân 5 tấn/ha, gấp 3 -

4 lần năng suất cây lúa nổi lúc bấy giờ. Từ năm 1970, diện tích canh tác lúa Thần Nông

tăng lên nhanh, từ 31.000 ha năm 1970 lên 47.100 ha vào năm 1972, chủ yếu ở vùng

Chợ Mới, Phú Tân. Nhưng nếu so với diện tích trồng lúa cả tỉnh khoảng 275.000 ha

(1969) thì diện tích trồng lúa Thần Nông còn rất ít. Đến năm 1975, An Giang vẫn còn

hơn 180.000 ha trồng lúa nổi.

Phương pháp trồng lúa Thần Nông ngắn ngày lúc bấy giờ là cấy. Lúa Thần

Nông làm 2 vụ trong năm; vụ mùa khô cấy vào tháng 12 - 1, thu hoạch tháng 4 - 5; vụ

mùa mưa cấy tháng 5 - 6 và thu hoạch vào tháng 8 - 9. Ngoài TN8, TN5 còn có thêm

các giống TN20, TN22, TN 24.

Sản xuất lúa ở An Giang (Long Xuyên và Châu Đốc) thời kỳ 1954 - 1975

1955

1967

1969

Đơn vị

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Năng suất (T/ha)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Năng suất (T/ha)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Năng suất (T/ha)

Châu Đốc

136.250

147.000

1,07

97.000

164.900

1,70

115.000

188.6000

1,64

Long Xuyên

135.634

191.530

1,41

156.800

282.200

1,80

160.000

276.800

1,73

Nguồn : [14, tr.151-152]

Từ năm 1976 - 1986, An Giang tập trung phát triển nông nghiệp, coi nông

nghiệp là mặt trận hàng đầu, đặc biệt là tập trung cho việc chuyển đổi một vụ lúa nổi

thành 2 vụ lúa cao sản ngắn ngày. Diện tích trồng lúa 2 vụ tăng từ 36.469 ha năm 1976

lên 103.115 ha vào năm 1986. Do đó, diện tích trồng cây lúa nổi thu hẹp dần và đến

64

1999 chỉ còn 14.801 ha. Năm 1976, sản lượng lúa 496.286 tấn tăng lên 848.150 tấn

năm 1986 [8, tr.90].

Bên cạnh các giống lúa Thần Nông có trước năm 1975, từ năm 1978 nông dân

An Giang còn sử dụng các giống lúa cao sản có khả năng kháng rầy cao như giống

IR36, NN4A, HT6, IR17433, MTL42, MTL58, IR66, OM576-18, IR50404,…; đặc biệt

từ năm 1995, nông dân An Giang chuyển sang trồng các giống lúa có chất lượng phục

vụ xuất khẩu như IR64, OM997, MC13399, TN128,…; các giống lúa thơm như

Jasmine, KDBM21,… Thời gian sinh trưởng của các giống lúa này 90 - 100 ngày. Tuy

nhiên, từ những năm 1990 trở đi, kỹ thuật trồng lúa ở An Giang chủ yếu là sạ thẳng với

mật độ 150 - 250kg lúa giống/ha. Ngoài ra, nông dân An Giang còn áp dụng sạ ngầm

vụ lúa đông xuân nhằm tiết kiệm được xăng dầu bơm nước ra, hạn chế được cỏ dại.

Bên cạnh đó, An Giang còn có loại lúa ruộng trên (còn gọi là lúa nước) của

người Khmer ở vùng Bảy Núi thuộc 2 huyện Tri Tôn. Diện tích canh tác ở đây trên

7.000 ha và cho sản lượng 20.000 tấn. Phần lớn các giống lúa ruộng trên có nguồn gốc

từ Campuchia như giống ăng lưa, ba thiệt, ba bụi, ba lê, bông dừa, catus, chon ho, col

trây, cletalât, khơ lanh, khơ nhe, kung sa lách, nàng ke, nàng nhen, nàng nhen đỏ, nàng

noul, nàng già, nàng soi, nàng soi, nàng xanh, nàng uốt, nhiêu lư, nộp vuông, lá tím,

pohin, sa nách, sa nách đỏ, so thum, tà am,… [79, tr.418]. Các giống này có năng suất

từ 3 - 4 tấn/ha và có đặc tính chịu hạn, ít sâu bệnh. Lúa ruộng trên thường được người

Khmer gieo vào đầu mùa mưa, khoảng tháng 5, 6 và cấy vào tháng 7, 8 dương lịch. Kỹ

thuật canh tác hầu như không tưới mà sử dụng nước mưa, ít sử dụng phân bón. Lúa chủ

yếu dựa vào nước mưa nên năm nào hạn hán thì mất trắng.

Từ năm 1987 đến 1999, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, An Giang tiếp

tục tăng cường đầu tư cho thuỷ lợi và khai thác các vùng còn hoang hoá,… đặc biệt là

khai thác vùng Tứ giác Long Xuyên nên nông nghiệp An Giang có bước phát triển

mới. Năm 1987, diện tích trồng lúa 261.090 ha tăng lên 477.062 ha năm 1999, trong đó

có 32.033 ha trồng lúa vụ 3 do nhiều nơi trong tỉnh tiến hành làm đê bao như huyện

65

Chợ Mới. Sản lượng lúa tiếp tục tăng từ 884.726 tấn năm 1987 lên đến 2.364.260 tấn

năm 1999, sản lượng lương thực bình quân trên đầu người là 1.151kg/ người [8, tr.90-

92]. An Giang là tỉnh có sản lượng lương thực luôn dẫn đầu cả nước.

Sản xuất lúa ở các huyện, thị, thành phố thuộc tỉnh An Giang năm 1999

Đơn vị Bình quân đầu người (kg) Năng suất (tấn/ha)

Long Xuyên Diện tích (km2) 106,19 Diện tích Lúa (ha) 13.722 Sản lượng (tấn) 68.294 4,977 274

Châu Đốc 100,59 15.067 80.670 5,354 763

An Phú 208,02 27.308 146.874 5,378 872

Tân Châu 161,10 25.346 135.325 5,339 888

Phú Tân 307,07 52.758 284.379 5,390 1.220

Châu Phú 426,33 72.271 381.032 5,272 1.615

Tịnh Biên 337,00 32.655 127.035 3,890 1.186

Tri Tôn 598,35 56.406 197.535 3,502 1.764

Chợ Mới 355,71 51.328 270.505 5,270 764

Châu Thành 347,18 55.377 294.863 5,325 1.839

Thoại Sơn 458,69 74.824 377.748 5,48 2.148

Tổng cộng 3.406,23 477.062 2.364.260 4,956 1.151

Nguồn : [8, tr.92-96]

2.1.2.2. Việc trồng các loại cây khác

Ngoài cây lúa, nông dân An Giang còn trồng nhiều loại nông sản khác. Ở

những vùng đất trũng, nông dân đào đắp thành liếp cao để trồng nhiều cây lương thực,

cây hoa màu và các loại cây ăn trái.

66

Cây bắp là cây lương thực có thế mạnh thứ hai sau cây lúa ở An Giang. Vào thế

kỷ XVIII - XIX, bắp được trồng chủ yếu trên những giồng của hai con sông Tiền, sông

Hậu. Theo Gia Định thành thông chí, vùng đất An Giang trồng chủ yếu có 3 loại : bắp

vàng, bắp trắng, bắp lẫn vàng trắng [17, tr.154]. Loại bắp trắng có trái dài và lớn, dày

hạt; khi ăn có mùi thơm dẻo. Bắp được trồng vào tháng 4 và đến tháng 7 thu hoạch [17,

tr.157].

Đến đầu thế kỷ XX, do hậu quả của những năm mất mùa liên tiếp, đặc biệt là

lũ năm 1904 đã đưa đến nạn đói trầm trọng. Pháp đã ý thức được phần nào về tình

trạng độc canh cây lúa, nên khuyến khích người dân Nam Kỳ trồng bắp; mặt khác cũng

muốn tận dụng các dải gò cao hoặc các giồng của sông Tiền và sông Hậu. Ngoài ra,

“Pháp cũng muốn phát triển loại nông sản này vì lý do xuất khẩu” [42, tr.214]. Chính

vì vậy, bắp là cây trồng đứng thứ hai sau cây lúa.

Năm 1905, diện tích trồng bắp ở An Giang là 1.205 ha (Long Xuyên 780 ha,

Châu Đốc 425 ha), đến năm 1921 tăng lên 7.945 ha (Long Xuyên 1.500 ha, Châu Đốc

6.445 ha) [77, tr.381]. Nhưng sang năm 1922 thì diện tích bắp của An Giang giảm còn

3.700 ha (Long Xuyên 700 ha, Châu Đốc 3.000 ha) và tiếp tục giảm vào năm 1929

(Long Xuyên còn 538 ha) [90, tr.40].

Nguyên nhân của sự giảm sút diện tích trồng bắp ở An Giang là do chính sách

khai thác thuộc địa của chính quyền thực dân ở Nam Kỳ chỉ chú trọng cây lúa. Chính

quyền thực dân muốn đầu tư tập trung khai thác lúa gạo để xuất khẩu nên mọi khâu

phát triển lúa ở Nam Kỳ đều được quan tâm từ diện tích, giống, kỹ thuật, tiêu thụ sản

phẩm…; trong khi đó, đối với cây bắp thì chính quyền thực dân không có biện pháp gì,

để mặc cho nông dân trồng bắp bấp bênh; với giá thu mua sản phẩm giảm dần, “giá

một thùng bắp 60 kg vào năm 1915 là 1,7 đồng, vào năm 1917 tụt xuống còn 0 đồng 49

xu” [42, tr.217]. Thu nhập bắp không bằng lúa nên nông dân lựa chọn chuyển sang

trồng cây khác.

67

Đến năm 1938, diện tích bắp trong 2 mùa vụ ở An Giang tăng đến 46.970 ha

(Long Xuyên 2.590, Châu Đốc 44.380), trong đó có 41.380 ha gieo trồng vào mùa mưa

(Châu Đốc 39.260 ha, Long Xuyên 2.120 ha). Long Xuyên, Châu Đốc trở thành vùng

có diện tích trồng bắp lớn nhất Nam Kỳ. Toàn Nam Kỳ khi ấy là 51.520 ha bắp [42,

tr.216].

Tuy diện tích trồng bắp lớn nhất Nam Kỳ, chiếm 91% nhưng diện tích thu

hoạch khá bấp bênh do chính quyền thực dân chưa quan tâm đến các biện pháp thuỷ lợi

nên thường thiếu nước trong mùa khô, bị úng ngập trong mùa mưa. Năm 1938, “chỉ

thu hoạch được 19.690 ha, chiếm 42% diện tích bắp trồng, với sản lượng 23.950 tấn,

bình quân năng suất chỉ đạt 1,21 tấn/ha; còn lại 58% diện tích bị mất trắng” [79, tr.381]

Mùa khô :

Tỉnh

Diện tích gieo trồng

Diện tích thu hoạch

Sản lượng

Châu Đốc 5.120 hécta 1.800 hécta 1.550 tấn

Long Xuyên 470 hécta 470 hécta 200 tấn

Sa Đéc 460 hécta 50 hécta 40 tấn

Rạch Giá 70 hécta 20 hécta 10 tấn

Tổng cộng 6.120 hécta 2.340 hécta 1.800 tấn

Mùa mưa :

Tỉnh

Diện tích gieo trồng

Diện tích thu hoạch

Sản lượng

Bà Rịa 2.010 hécta 2.010 hécta 2.200 tấn

Bến Tre 220 hécta 200 tấn 220 hécta

Biên Hoà 630 hécta 800 tấn 630 hécta

Cần Thơ 150 hécta 160 tấn 250 hécta

Châu Đốc 39.260 hécta 15.340 hécta 19.500 tấn

Gò công 10 hécta 10 tấn 10 hécta

Hà Tiên 10 hécta 10 tấn 10 hécta

Long Xuyên 2.120 hécta 2.080 hécta 2.700 tấn

68

100 hécta 100 hécta 120 tấn Mỹ Tho

70 hécta 70 hécta 70 tấn Rạch Giá

720 hécta 720 hécta 600 tấn Sa Đéc

Tổng cộng 45.400 hécta 21.340 hécta 26.370 tấn

Nguồn : [42, tr.216]

Vào những 50 - 70 của thế kỷ XX, bắp là cây trồng được nông dân ưa chuộng

nhất. Bắp trồng tập trung nhiều nhất ở Châu Đốc, với loại giống bắp đỏ, chiếm 2/3 diện

tích; ở Long Xuyên chủ yếu trồng bắp trắng, chiếm 1/3 diện tích. Năm 1961, diện tích

trồng bắp ở An Giang 2.444 ha, năng suất trung bình 1,3 tấn/ha [82, tr.44]. Bắp sản

xuất ra tuy chất lượng không được tốt lắm nhưng dễ tiêu thụ vì nông dân chở lên Sài

Gòn bán cho các chủ vựa. Bắp được nông dân trồng chủ yếu ở đất cồn, đất ruộng kế

cận các sông, kênh, rạch và được phân bố ở các xã Bình Long, Bình Thủy, Bình Thạnh

Đông, Vĩnh Thạnh Trung (quận Châu Phú), Long Phú, Phú Vĩnh, Long Sơn, Tân An,

Vĩnh Xương (quận Tân Châu), Khánh An, Khánh Bình, Nhơn Hội, Vĩnh Lộc (quận An

Phú), Mỹ Hòa Hưng, Bình Hòa (quận Châu Thành), Long Điền, Long Kiến, Kiến An,

Mỹ Hội Đông (quận Chợ Mới).

Sau năm 1975, cây bắp vẫn là cây lương thực có thế mạnh đứng sau cây lúa,

chủ yếu trồng cây bắp đỏ. Diện tích trồng hàng năm tăng từ 5.000 - 8.000 ha, năm

1994 cao nhất là 12.422 ha.

Năm 1992, giống bắp lai được sử dụng rộng rãi ở An Giang, với giống bắp lai

DK888 (nhập từ Thái Lan), giống bắp lai Kép Pacific 11 và nhiều loại giống bắp lai

khác nhập từ nước ngoài như DK999, Cargill, Bioseed 9670… Bắp được trồng trên các

vùng chuyên canh ở xã Phú Vĩnh, Châu Phong (Tân Châu), Đa Phước, Vĩnh Lộc, Vĩnh

Hậu (An Phú), Kiến An, Kiến Thành, Long Điền A, Long Điền B (Chợ Mới) và nhiều

xã của huyện Châu Thành, Châu Phú, Phú Tân; năng suất đạt từ 8 - 10 tấn/ha. Hiệu quả

trồng bắp lai gấp 2 - 3 lần so với trồng lúa.

69

Từ năm 1996 trở đi, diện tích trồng bắp giảm dần, do giá cả không ổn định.

Năm 1997, toàn tỉnh chỉ trồng 4.787 ha. Những năm gần đây, nông dân An Giang đầu

tư sản xuất bắp thu trái non để xuất khẩu, với giống Pacific 421. Diện tích trồng

khoảng 200 ha, năng suất đạt 9,5 - 12 tấn/ha và cho hiệu quả kinh tế cao. Ngoài ra,

nông dân còn trồng các giống bắp địa phương làm thực phẩm như bắp nếp, bắp nù,

năng suất thấp đạt 600 - 1.000 kg/ha.

Sản xuất bắp ở An Giang từ năm 1922 - 1999

1922

1938

1955

1962

1980

1999

Diện tích (ha)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

3.700

8.200

46.970

23.950

541

1.048,5

3.196

4.744

2.035,4

3.867,3

2.506

9.701

Nguồn : [8], [29], [41], [50] ,[79], [80]

Cây khoai được trồng khá phổ biến ở An Giang. Thế kỷ XVIII - XIX, ở vùng

đất cao An Giang, đặc biệt 2 huyện Đông Xuyên và Tây Xuyên rất phù hợp trồng

khoai. Ngoài diện tích trồng lúa, toàn tỉnh có 11.774 ha trồng các loại cây khác, trong

đó có 3.073 ha trồng khoai, đậu, chiếm 26,10 % [14, tr.136]. Hai huyện Đông Xuyên

và Tây Xuyên có 2.321 ha đất trồng khoai (Đông Xuyên 2.579,2 ha, Tây Xuyên 741,8

ha) [14, tr.221-242]. Khoai được trồng nhiều ở các thôn Bình Thạnh Đông, Mỹ Hội

Đông (tổng An Lương), Long Sơn, Phú Lâm, Tân An (tổng An Thành), Kiến Long,

Mỹ Chánh, Toàn Đức, Toàn Đức Đông (tổng An Toàn) của huyện Đông Xuyên. Khoai

có nhiều loại : khoai ngọt, khoai sáp, khoai hồng, khoai từ, khoai lang. Có loại khoai

trồng vào tháng 4, đến tháng 10 thu hoạch; nhưng có loại khoai trồng vào tháng 4 đến

tháng 7 thu hoạch.

Năm 1929, An Giang trồng được 1.187 ha khoai lang (Châu Đốc 965 ha, Long

Xuyên 222 ha). Khoai lang được trồng vào đầu mùa mưa và thu hoạch vào tháng 8

hàng năm; năng suất đạt rất thấp, chỉ hơn 1 tấn/ha. Những năm sau đó, diện tích trồng

70

khoai ở An Giang giảm dần. Năm 1955, Long Xuyên có 89 ha khoai lang với sản

lượng 122 tấn, khoai mì 14 ha (54 tấn) [80, tr.7]; còn ở Châu Đốc có 64 ha khoai lang

với sản lượng 218 tấn, 35 ha khoai mì (54 tấn) [81, tr.7].

Nhưng đến năm 1961, diện tích trồng khoai lang trong tỉnh là 880 ha tăng lên

913 ha năm 1962, với tổng sản lượng 6.391 tấn. Còn khoai mì trồng 440 ha năm 1961

tăng lên 580 ha năm 1962 với tổng sản lượng 4.640 tấn [83, tr.51]. Nguyên nhân tăng

diện tích trồng là sau lũ lụt năm 1961, trồng khoai để bổ sung thức ăn cho người và gia

súc. Khoai được trồng nhiều ở quận Chợ Mới và Tân Châu.

Sau năm 1975, diện tích trồng khoai mì từ 2.000 - 3.000 ha. Từ năm 1998, cây

khoai mì phát triển mạnh ở Tri Tôn, Tịnh Biên. Các giống khoai mì cho năng suất cao

trên 35 - 40 tấn/ha, có hàm lượng tinh bột khá như mì KM60, KM94, KM95,…

Sản xuất khoai (khoai lang và khoai mì) ở An Giang từ năm 1929 - 1999

1929

1955

1962

1966

1986

1999

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

1.187

202

438

1.493

11.031

1.990

21.200

1.441

13.478

1.649

28.996

Nguồn : [8], [9 ], [76], [79], [80], [83], [84]

Cây đậu là cây trồng rất quen thuộc của nông dân An Giang. Thế kỷ XVIII -

XIX, đậu được trồng phổ biến ở An Giang; chủ yếu là đậu xanh, đậu nành, đậu đen,

đậu ván, đậu trắng, đậu đũa, đậu rựa, đậu nành heo, đậu phụng nhãn, đậu hương đại,

đậu phộng. Đậu được trồng ở những gò cao ven sông Tiền, sông Hậu; đậu trồng vào

tháng 4 và đến tháng 7 thu hoạch. Đậu được trồng nhiều ở các thôn của huyện Đông

Xuyên như Bình Thạnh Đông, Mỹ Hội Đông, Long Sơn, Phú Lâm, Tân An, Kiến

Long, Mỹ Chánh, Toàn Đức, Toàn Đức Đông.

Sang đầu thế kỷ XX, diện tích trồng đậu ở An Giang tăng. Năm 1905, ở Châu

Đốc có 2.439 ha và Long Xuyên là 1.808 ha, năng suất đạt 360 kg/ha [90, tr.42]. Tuy

71

nhiên, từ năm 1929, diện tích trồng đậu ở mỗi tỉnh tăng giảm khá lớn. Năm 1955, trong

khi diện tích đậu ở Châu Đốc tăng lên 3.533 ha với sản lượng 1.062 tấn [81, tr.7], thì ở

Long Xuyên lại giảm còn 62,5 ha với sản lượng 59 tấn [80, tr.7].

Năm 1962, diện tích trồng cây đậu xanh 4.450 ha, với sản lượng 3.337 tấn,

năng suất trung bình 750kg/ha [83, tr.51]. Đậu xanh được trồng nhiều ở Bình Long,

Hoà Lạc, Vĩnh Thạnh Trung (quận Châu Phú); còn các nơi khác như Tân An, Vĩnh

Xương (quận Tân Châu), Vĩnh Trường, Vĩnh Lộc, Khánh An, Khánh Bình (quận An

Phú), mỗi gia đình trồng 2 - 3 công để làm bánh hoặc lấy hạt bán ở chợ. Riêng cây đậu

nành, diện tích trồng năm 1961 là 199 ha tăng lên 552 ha năm 1962, là do sự khuyến

khích của Ty Nông vụ [83, tr.51]. Đậu nành được trồng nhiều ở quận Chợ Mới, An Phú

và Châu Phú.

Sau năm 1975, nông dân An Giang trồng cây đậu xanh mỡ có chất lượng tốt,

năng suất 600 - 700 kg/ha. Từ năm 1985, nông dân bắt đầu sử dụng đậu xanh mới cho

năng suất cao hơn từ 1,2 - 1,5 tấn/ha như ĐX102a, ĐX113, ĐX135, ĐX136, ĐX208,

V7, V8,… Diện tích đậu xanh hàng năm từ 6.000 - 9.000 ha. Cũng như đậu xanh, cây

đậu nành có thể trồng luân canh với lúa nổi vào vụ đông xuân bằng cách sạ lang hoặc

tỉa theo hàng. Các giống đậu nành địa phương trước đây như Nam Vang, Palmetto

được thay thế bằng những giống có năng suất cao hơn khoảng 2 - 3 tấn/ha như giống

đậu nành MTĐ10, MTĐ22, MTĐ89,… Diện tích trồng cây đậu nành ở An Giang hàng

năm từ 3.000 - 5.000 ha.

Đến năm 1996, nông dân An Giang bắt đầu trồng cây đậu nành rau để xuất

khẩu. Giống đậu nành rau Emandane 305 có nguồn gốc Đài Loan, được trồng nhất ở

huyện Chợ Mới, Châu Phú, Châu Thành và cho năng suất trái tươi từ 10 - 15 tấn/ha.

Sản xuất đậu ở An Giang từ năm 1905 - 1999

1905

1929

1955

1962

1986

1999

Diện tích

Sản lượng

Diện tích

Sản lượng

Diện tích

Sản lượng

Diện tích

Sản lượng

Diện tích

Sản lượng

Diện tích

Sản lượng

(ha)

(tấn)

(ha)

(tấn)

(ha)

(tấn)

(ha)

(tấn)

(ha)

(tấn)

(ha)

(tấn)

72

4.247

1.528

2.530

910

3.595

1.121

5.002

3.810,8

21.154

25.528

9.787

15.652

Nguồn : [8], [9], [30], [79], [80], [81] [83]

Cây mè được trồng rất ít ở An Giang vào trước năm 1975. Theo Địa phương chí

Long Xuyên năm 1956 ghi lại : “Diện tích trồng mè ở tỉnh Long Xuyên là 2 ha, sản

xuất được 0,8 tấn” [80, tr.7].

Sau năm 1975, cây mè được người nông dân An Giang trồng khá phổ biến.

Năm 1984, diện tích trồng mè là 15.000 ha, năng suất bình quân 500 - 600 kg/ha. Các

giống mè thường trồng là giống mè vàng, mè đen. Mè vàng có loại 2, 3, 4, 5, 6 múi.

Nông dân thường chọn trồng giống mè vàng 4, 5 múi. Mè được trồng chủ yếu ở huyện

Châu Phú.

Mè được trồng luân canh với lúa nổi vào vụ đông xuân. Khi cây lúa nổi được

thay thế dần bởi cây lúa cao sản tăng vụ, cây mè cũng mất dần vị trí. Những năm gần

đây, cây mè chỉ còn vài trăm ha và được trồng trên các vùng đất chuyên canh màu.

Cây mía cũng được trồng khắp nơi. Theo Địa bạ triều Nguyễn, An Giang có diện

tích đất trồng mía là 19,1 ha, chiếm 0,16 % diện tích đất trồng của tỉnh; trồng nhiều

nhất ở tổng Định Khánh, huyện Vĩnh Định [14, tr.136]. Như vậy, so với vùng đất An

Giang hiện nay thì việc trồng mía của nhân dân trong những thế kỷ XVIII- XIX rất hạn

chế. Chỉ có thôn Phú Lâm của tổng An Thành (huyện Đông Xuyên, nay thuộc huyện

Phú Tân) có một chủ duy nhất trồng được 0,97 ha [14, tr.234].

Sang những năm đầu thế kỷ XX, diện tích trồng mía ở An Giang tăng nhanh.

Năm 1905, tỉnh Long Xuyên có 2.942 ha mía, nhưng sau đó diện tích giảm mạnh. Năm

1929 chỉ còn 150 ha chủ yếu trồng ở vùng cù lao Giêng (Chợ Mới) ít bị ngập lụt [30,

tr.73], thời vụ đặt hom vào tháng 11 hàng năm và thu hoạch vào tháng 8 năm sau.

Từ năm 1950 - 1970, An Giang có diện tích trồng mía hàng năm từ 900 - 1.000

ha, năng suất trung bình từ 20 - 22 tấn/ha. Mía trồng chủ yếu là để ăn tươi như mía huê

73

kỳ, mía tây, mía gạo, mía gò cáo; chưa có giống mía đường như các tỉnh miền Đông.

Đường sản xuất ra thường là đường tán, đường thẻ, đường hủ, phẩm chất đường thấp

nên bán không chạy. Các lò đường ít hoạt động vào mùa lũ vì không đủ mía. Lò đường

tập trung chủ yếu ở xã Long Điền, Long Kiến, Kiến An, Mỹ Hội Đông (quận Chợ

Mới); số lượng lò đường còn hạn chế, “độ 50, nhưng chỉ có 2 lò máy (1 tại Hoà Bình

và 1 tại Long Điền), còn lại 48 lò kia điều làm tay hoặc đạp mía bằng trâu bò” [82,

tr.47]. Sau năm 1975, diện tích trồng mía ở An Giang từ 500 - 2.000 ha.

Cây dâu, ở thế kỷ XVIII - XIX, nghề trồng dâu nuôi tằm cũng phát triển ở tỉnh

An Giang, diện tích đất trồng dâu là 380 ha, chiếm 3,32 % diện tích đất trồng của tỉnh

[14, tr.136], tập trung nhiều ở hai huyện Đông Xuyên và Tây Xuyên. Huyện Đông

Xuyên trồng khoảng 207 ha ở các thôn Tân Hưng (tổng An Lương), Tấn An, Vĩnh Lạc

(tổng An Thành), chiếm 54,3 % diện tích dâu của tỉnh. Huyện Tây Xuyên trồng khoảng

100 ha, chiếm 26,3 %, được trồng ở các thôn Vĩnh Ngươn, Vĩnh Thành (tổng Châu

Phú), Thoại Sơn, Vĩnh Phú (tổng Định Phước), Bình Lâm, Bình Mỹ (tổng Định

Thành). Đây là huyện được khai phá sau, nhưng đất đai màu mỡ, mỗi năm thu hoạch

nhiều vụ lá dâu, tạo điều kiện phát triển nghề tơ tằm.

Trước năm 1904, nghề trồng dâu nuôi tằm ở An Giang rất nổi tiếng. Dâu được

trồng tập trung nhiều ở Vĩnh Hoà, Vĩnh Xương, Tân An, Long Phú (quận Tân Châu),

Chợ Mới. Riêng Long Kiến (quận Chợ Mới) đã trồng 100 ha. Giống dâu được trồng

phổ biến là dâu bầu trắng, bầu tía, Hà Bắc, dúi phụng, dúi rách và một số giống địa

phương khác. Trong đó, dâu bầu trắng và dâu Hà Bắc được trồng nhiều hơn cả vì năng

suất đạt 40 - 60 tấn lá/năm, chịu ngập tốt, ít sâu bệnh và khả năng tái sinh cao. Dâu

được trồng bằng hom, thời vụ trồng thường vào tháng 11, 12.

Đến năm 1929, diện tích trồng dâu giảm do nghề tơ tằm suy thoái, “khắp thị

trường nước ta đều nhập hàng vải Âu châu và Nhật Bổn nên hàng trong xứ bị loại” [34,

tr.58]; nhiều người trồng cây dâu đốn bỏ để trồng cây khác. Diện tích trồng dâu chỉ còn

74

trên dưới 30 ha, năng suất chỉ đạt bình quân 680 kg/ha; được trồng chủ yếu ở rạch Ông

Chưởng, chợ Thủ, Cù lao Giêng (Chợ Mới) và vùng Châu Đốc.

Từ năm 1936 - 1965, diện tích trồng dâu có lúc tăng lên đến 10.000 ha, gieo

trồng dọc theo 2 bờ sông Tiền, sông Hậu, từ Hội An (quận Chợ Mới) lên tận biên giới

Campuchia. Nhưng từ năm 1965 trở đi, nghề trồng dâu gặp nhiều khó khăn do cạnh

tranh không lại hàng tơ bóng nylon vừa đẹp, vừa rẻ nên diện tích trồng dâu giảm dần.

Năm 1966, tỉnh Châu Đốc có 500 ha, năm 1967 còn lại 450 ha [86, tr.66]. Dâu trồng

nhiều ở các xã Phú Vĩnh, Tân An, Vĩnh Hoà, Long Phú, Long Sơn (quận Tân Châu).

Sau năm 1975, tỉnh An Giang có chủ trương phục hồi nghề trồng dâu nuôi

tằm, diện tích trồng dâu trong những năm 1985 - 1987 có trên 300 ha mỗi năm. Tuy

nhiên, do nghề tơ tằm tiếp tục suy thoái nên diện tích trồng dâu trong những năm gần

đây chỉ còn lại vài chục ha.

Cây đay (cây bố và cây ki-náp) là cây trồng có tập quán lâu đời ở An Giang.

Dưới thời Pháp thuộc, bố được trồng nhiều ở Nam Bộ. Sau năm 1945, cây bố được

trồng chút ít ở Long Xuyên, Châu Đốc do nhu cầu địa phương. Năm 1955, Long

Xuyên có 15 ha, sản lượng 12 tấn [80, tr 7]. Đa số nông dân An Giang trồng giống bố

địa phương, dùng để dệt chiếu, làm dây buộc hoặc bó lúa; thời gian sinh trưởng khá dài

khoảng 140 ngày, năng suất 1 - 1,5 tấn chỉ sợi/ha.

Vào tháng 8 năm 1957, Trung tâm thực nghiệm bố và ki - náp được thành lập

tại xã Mỹ Thới (quận Châu Thành), với diện tích 4 ha nằm cặp sông Hậu. Lúc đầu các

giống bố có nguồn gốc từ Thái Lan, Brazil, Đài Loan, Ấn Độ, Trung Quốc. Một số

giống bố có năng suất cao hơn giống bố địa phương được trồng rộng rãi trong tỉnh như

giống Rofa, Branca của Brazil, bố Đài Loan Halmaheira, Việt Viên 4,… Nhưng trồng

phố biến nhất là giống đay Hải Hưng vì chịu ngập rất tốt, cho năng suất sợi khá cao từ

2 - 2,5 tấn chỉ sợi/ha và chất lượng sợi tốt, bền. Bố và ki-náp được trồng vào đầu mùa

mưa.

75

Song song đó, chính quyền Sài Gòn lập ra nhiều hợp tác xã trồng bố giúp

nông dân vay tiền và hướng dẫn kỹ thuật. Bố được trồng nhiều ở Mỹ Hoà Hưng, Hoà

Bình Thạnh (quận Châu Thành), Long Kiến, Hoà Bình (quận Chợ Mới), Mỹ Đức, Vĩnh

Thạnh Trung, Thạnh Mỹ Tây (quận Châu Phú), Phú Hội (quận An Phú). Năm 1960,

diện tích trồng bố được 600 ha, sản xuất được từ 1.000 - 1.200 tấn bố [82, tr.47].

Sau năm 1975, do sản xuất lúa gạo tăng nhanh, nhu cầu về bao bì lớn nên diện

tích trồng bố và ki-náp cũng tăng nhanh theo. Năm 1983, diện tích trồng hơn 1.700 ha,

tập trung chủ yếu ở huyện Thoại Sơn và Châu Phú. Tuy nhiên, do không cạnh tranh lại

được với các loại bao nylon, nhiều nhà máy, cơ sở dệt bao đóng cửa hoặc giảm sản

xuất. Từ năm 1994 - 1999, diện tích trồng bố và ki-náp chỉ còn trên vài trăm ha.

Ngoài ra, vùng đất An Giang còn thích hợp trồng cây tre, cau, thuốc lá, dừa…

Các loại cây trồng khác :

1955 Loại cây Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

1962 Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

1999 Diện tích (ha) 171 604

Sản lượng (tấn) 309 28.956

70 136

Mè Mía Dâu Thuốc lá Đay 2 367 16,5 15 0,8 356 19 12 661 400 888 810 16.525 1.800 943 1.457

1986 Diện tích (ha) 8.672 1.374 384 1.226 637

Sản lượng (tấn) 4.897 64.011 5.119 2.964 974

Nguồn : [8], [9] ,[80], [81], [83]

Cây ăn trái rất phong phú về chủng loại như chuối, cam, xoài, nhãn, khế, mận,

thanh lựu, trầu,… Chuối có giống chuối kim tiêu, chuối già hương, chuối hồng, chuối

mật, chuối hột; riêng chuối ngự, chuối cam rất thơm ngon. Xoài có xoài thanh ca, xoài

tượng, xoài chua, xoài cơm, xoài nếp…

Dưới thời Pháp thuộc, diện tích trồng cây ăn trái ở An Giang không ổn định vì

vùng này luôn bị ảnh hưởng lũ lụt hàng năm nên nông dân ít chú ý trồng cây ăn trái.

76

Năm 1905, Long Xuyên có 787 ha [89, tr16], nhưng đến năm 1929 thì còn lại có 100

ha [90, tr.42]. Từ năm 1954 - 1975, diện tích trồng cây ăn trái ở An Giang trên dưới

1.200 ha.

Sau năm 1975, diện tích cây ăn trái ở An Giang có hơn 6.000 ha. Theo kết quả

điều tra của Trường Đại học Cần Thơ ở An Giang vào năm 1995 cho thấy, An Giang

có 17 loài cây ăn trái chủ yếu là bơ, cam sành, chuối xiêm, lựu, mãng cầu ta, mãng cầu

xiêm, mít, ổi, nhãn, quít đường, quít tiêu, sầu riêng, táo, sa bô, sơ ri, xoài. Nhưng tập

trung nhiều nhất là xoài, nhãn, mãng cầu ta, táo, ổi, sa bô [79, tr.422].

Trong những năm gần đây, nông dân đã được hướng dẫn áp dụng những tiến

bộ của khoa học kỹ thuật trong trồng trọt, chất lượng và năng suất các vườn cây ăn trái

được tăng lên. Tuy nhiên, do địa hình An Giang thường xuyên bị ngập lũ nên việc phát

triển cây ăn trái cũng còn rất hạn chế.

2.1.2.3. Chăn nuôi.

Ngoài các loại cây lúa và nông sản, ở An Giang còn có nghề chăn nuôi gia súc,

gia cầm, góp phần phục vụ đời sống hằng ngày; còn là hàng hoá để trao đổi buôn bán

với nhau.

Con heo được nuôi bằng thức ăn tận dụng từ cám, gạo. Năm 1905, An Giang có

hơn 52.125 con heo (Long Xuyên 37.125 con, Châu Đốc 15.000 con) [30, tr.75]. Số

lượng heo được người dân An Giang nuôi càng tăng. Năm 1955, toàn tỉnh có 147.000

con heo (Long Xuyên 80.000, Châu Đốc 67.000), đến năm 1960, tăng lên 164.296 con

heo [82, tr.50].

Năm 1970 trở đi, ngành chăn nuôi ở An Giang phát triển mạnh do nhập các

giống heo, gà ngoại quốc, đồng thời nhân dân biết cho ăn thức ăn hỗn hợp và chích

ngừa cho gia súc, đặc biệt là chương trình gieo giống nhân tạo được thực hiện. Hàng

năm gieo tinh nhân tạo cho 300 - 400 con heo để cung cấp 2.300 - 3.000 con heo con

cho người nuôi.

77

Sau năm 1975, đàn heo ở An Giang hằng năm trên dưới 70.000 con. Từ năm

1990 - 1999, đàn heo có ở mức 150.000 - 180.000 con, trong đó đàn heo nái 20.000-

30.000 con. Tuy nhiên, những năm lũ lớn, đàn heo nuôi giảm trầm trọng, năm 1978 chỉ

có 58.409 có và năm 1991 chỉ nuôi có 84.966 con. Sản lượng xuất chuồng hàng năm

tăng dần, năm 1995 là 14.383 tấn thì đến năm 1997 lên đến 18.442 tấn. Heo được nuôi

nhiều nhất ở huyện Chợ Mới, Thoại Sơn và Châu Phú.

Giống heo phân thành ba nhóm chính : nhóm heo bông địa phương, nhóm heo

trắng địa phương và nhóm heo ngoại, trong đó giống heo Yorkshire là chủ yếu. Các trại

giống heo của tỉnh ở Mỹ Thới (Long Xuyên), Vĩnh Khánh (Thoại Sơn) là nơi cung cấp

giống tốt và kỹ thuật nuôi cho nhân dân. Kỹ thuật nuôi heo và chăm sóc trong nhân dân

còn đơn giản. Ở những vùng sâu, vùng miền núi, nhân dân còn tập tục nuôi heo thả

rong, một số ít nuôi chuồng hoặc cầm cột.

Con vịt, dưới thời Pháp thuộc, được người dân An Giang nuôi rất nhiều nhưng

không thống kê được. Đến năm 1960, An Giang có 435.365 con vịt [82, tr.50].

Sau năm 1975, con vịt vẫn được tiếp tục nuôi dưới dạng chạy đồng, với những

giống vịt ta, vịt tàu hoặc vịt xiêm. Vịt ta có các loại vịt sen, vịt ô, vịt cà cuống, mỗi

năm đẻ từ 100 - 110 trứng. Vịt tàu có nguồn gốc từ Trung Quốc, là vịt nuôi chủ yếu để

lấy trứng, mỗi năm đẻ từ 180 - 220 trứng; vịt tàu có nhiều loại như vịt tàu cò, vịt tàu

rằn, vịt tàu ô, vịt tàu phèn, vịt tàu mốc. Vịt xiêm có nguồn gốc từ châu Mỹ, có nhiều

loại như xiêm trắng, xiêm đen, xiêm xám, xiêm nổ, xiêm lưỡng, xiêm bông. Ngoài ra,

nhân dân còn sử dụng các loại giống vịt nhập từ nước ngoài như vịt Kali-Campell

(nhập năm 1958), vịt Bắc Kinh (nhập năm 1960), vịt Hà Lan (nhập năm 1968), vịt Anh

Đào (nhập sau năm 1975).

Hằng năm, An Giang có khoảng 1- 2 triệu con. Những năm gần đây tuy số

lượng vịt giảm, nhưng trọng lượng vịt xuất chuồng cao vì nhân dân chọn các giống vịt

có năng suất cao để nuôi như vịt Bắc Kinh, vịt Anh Đào, vịt Kali-Campell,…

78

Với diện tích nông nghiệp An Giang khá lớn, trên những cánh đồng số lượng

lúa rơi rớt là nguồn thức ăn quan trọng cho đàn vịt chạy đồng. Nhờ tận dụng thức ăn

rơi rớt trên những cánh đồng mà chi phí nuôi vịt thấp. Tuy nhiên, việc cho vịt chạy từ

cánh đồng này qua cánh đồng khác, phải qua nhiều kênh rạch đã gây ô nhiễm môi

trường sống của con người.

Con gà được nuôi phổ biến ở An Giang. Hầu như mỗi gia đình ở nông thôn đều

có nuôi gà nhằm góp phần cải thiện đời sống. Cũng giống như con vịt, do nuôi nhiều

nên dưới thời Pháp thuộc chưa thống kê được.

Tháng 9 năm 1958, Trại nuôi gà giống Mỹ Thới được thành lập nhằm cung

cấp các giống gà tốt cho tỉnh như giống gà Rhode Island, Nagoya, Sussx, Plymouth,

Leghorn cho người nuôi. Giống gà Rhode Island là gà điều, chân vàng, lớn con, nhiều

thịt, đẻ sai và trứng lớn; còn giống gà Nagoya là gà vàng, chân xám, lớn con, nhiều

thịt, đẻ sai và trứng khá lớn. Năm 1960, tổng số gà hiện có của trại là 320 con. Năm

1960, tư nhân có hai ông Nguyễn Văn Ơn, Trần Thoại Đồng ở xã Long Kiến (quận

Chợ Mới) có trại gà nuôi quy mô lớn 400 con [82, tr.52]. Trại giống ra đời không

những phân phối giống gà tốt mà còn giúp nhân dân học hỏi để áp dụng những phương

pháp chăn nuôi mới. Năm 1960, An Giang có 587.213 con gà [82, tr.50].

Sau năm 1975, số lượng gà được nuôi tăng, chủ yếu là gà công nghiệp. Năm

1980, tổng số đàn gà của tỉnh là 617.000 con, thì đến năm 1999 là 1.541.224 con [8,

tr.116].

Con trâu, bò được nuôi để dùng vào việc cày cấy. Năm 1905, An Giang có

8.865 con trâu (Long Xuyên 3.865 con, Châu Đốc 5.000 con) và 7.142 con bò (Long

Xuyên 142 con, Châu Đốc 7.000 con) . Đến năm 1929, riêng ở Long Xuyên có 12.654

con trâu và 9.390 con bò, còn ở Châu Đốc số trâu bò tăng lên nhiều lần [30, tr.75].

Từ năm 1954 - 1975, do nhu cầu sản xuất nông nghiệp, trâu, bò ngày càng được

nuôi nhiều hơn. Năm 1955, An Giang có 7.595 con trâu (Long Xuyên 4.421, Châu Đốc

79

5.000) và 62.139 con bò (Long Xuyên 24.265, Châu Đốc 37.874); đến năm 1966 số

lượng tăng lên là 11.910 con trâu, 104.220 con bò (Long Xuyên có 6.910 con trâu và

39.220 con bò [84, tr.38] Châu Đốc 5.000 con trâu và 65.000 con bò [85, tr.67]).

Sau năm 1975, số lượng trâu ở An Giang giảm, năm 1980 còn 1.506 con, nuôi

chủ yếu ở huyện Phú Tân. Trong khi đó, số lượng bò tăng nhanh chóng có 81.128 con

bò, chiếm 38% tổng đàn bò vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Sự phát triển nghề chăn

nuôi ở An Giang trong những năm sau lên xuống thất thường. Năm 1980, còn 58.190

con. Nhờ chính sách đổi mới nông nghiệp, năm 1986 tăng lên 66.414 con và lên 81.800

con vào năm 1989. Nhưng sau đó lại giảm nghiêm trọng, năm 1992 còn 38.902 con và

từ đó đến nay đàn bò ở An Giang chỉ ở mức trên dưới 35.000 con. Nguyên nhân giảm

sút là do cơ giới hoá trong nông nghiệp tăng và điều kiện chăn nuôi thả bị hẹp dần.

Đa số bò được người dân Khmer ở 2 huyện miền núi Tri Tôn, Tịnh Biên nuôi

chủ yếu, chiếm 2/3 đàn bò trong tỉnh. Giống bò lai Sind là giống bò lai giữa bò cái ta

vàng và bò đực Sind Ấn Độ. Đến năm 1998, An Giang có 4.581 con bò lai Sind. Ngoài

việc dùng làm sức kéo, bò còn được nuôi để lấy thịt. Hiện nay, do xu hướng cơ giới

đang tăng nhanh, nông dân chuyển nuôi bò cày kéo sang chăn nuôi bò lấy thịt, sản

lượng thịt hàng năm 1.000 tấn/năm. Hiệu quả nuôi bò năm 1998 khá cao, một đôi bò

sinh sản sau 3 năm thu lãi bình quân 8 - 9 triệu đồng, một đôi bò thịt một năm có thể

thu lãi hơn 2 triệu đồng.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm ở tại gia đình là truyền thống lâu đời của nhân dân

An Giang, vừa góp phần cải thiện đời sống, vừa là hàng hóa để trao đổi buôn bán. Vào

thế kỷ XVIII - XIX, nông dân An Giang đã nuôi gia súc, gia cầm tại nhà, sử dụng thức

ăn thừa hoặc là thả tự nhiên, tận dụng những cánh đồng cỏ để nuôi gia súc, gia cầm.

Các vùng đồi núi rất phù hợp việc nuôi trâu, bò, ngựa; còn những nơi ven sông rạch tự

nhiên thì phù hợp cho việc chăn nuôi gà, vịt.

80

Đầu thế kỷ XX, ở An Giang chưa có trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm mà

chỉ nuôi theo hộ gia đình, tùy theo hộ gia đình giàu hay nghèo mà số lượng nuôi gia

súc, gia cầm nhiều hay ít. Nhưng sau năm 1905, số lượng gia súc, gia cầm ở An Giang

tăng rất nhanh, mà nguyên nhân chủ yếu là do lượng heo, gà ở Nam Kỳ được tiêu thụ

mạnh ở Pháp, Nhật; mặt khác là do diện tích canh tác và sản lượng lúa tăng nên sau thu

hoạch thì lúa rơi rụng rất nhiều, người nông dân chăn thả gà, vịt vào khu vực đó.

Đến những năm 1950, chăn nuôi gia súc, gia cầm của An Giang có số lượng

tăng nhanh, đặc biệt là sau khi chính quyền Sài Gòn cho thành lập chợ trâu bò ở Núi

Sam vào năm 1953 và Trại gà giống Mỹ Thới 1958, không những góp phần vào việc

cày cấy ruộng đất bỏ hoang, mà còn cung cấp sản xuất gia súc, gia cầm cho nhu cầu

của tỉnh nói chung và Nam Bộ nói riêng.

Vào những năm cuối thế kỷ XX, chăn nuôi gia súc, gia cầm ở An Giang giảm

do cơ giới hoá nông nghiệp tăng và điều kiện chăn nuôi thả hẹp dần, việc chăn nuôi

dưới dạng công nghiệp bắt đầu phổ biến.

Số lượng gia súc gia cầm ở An Giang qua các năm :

1905

1955

1962

1966

1975

1986

1992

1999

8.865 7.142

1.766 61.070 56.762

2.586 66.519 112.936

5.074 38.902 142.285

Trâu Bò Heo Gà Vịt

11.910 12.178 7.595 62.139 119.686 104.220 52.000 147.500 226.323 193.520 632.800 563.000 471.250 440.500

/ /

/ /

3.330 35.027 165.481 390.290 1.242.000 1.370.403 1.541.224 327.723 1.000.000 1.254.163 1.355.947

Nguồn : [8], [30], [80], [81], [83], [84], [85]

Qua ba thế kỷ khai phá, những người nông dân mang theo truyền thống văn

minh lúa nước đã đứng chân được và làm giàu có cho vùng đất An Giang vốn là vùng

đất mới được bồi tụ, chứa đựng trong tự thân những tìm năng to lớn để phát triển toàn

diện nông nghiệp. Trên cái nền thiên nhiên hào phóng nhưng cũng không kém phần

81

khắc nghiệt, với đức tính dũng cảm, cần cù, đầu óc đổi mới, nhạy bén đầy sáng tạo,

người nông dân An Giang ngay từ đầu đã biến vùng đất hoang vu, rừng rậm thành

những cánh đồng lúa phì nhiêu. An Giang trở thành một tỉnh có sản lượng lương thực

dẫn đầu cả nước, góp phần bảo đảm lương thực quốc gia và xuất khẩu trên thị trường

thế giới. Nông nghiệp An Giang không chỉ vươn lên bằng cây lúa. Đất đai An Giang

còn thích hợp cho nhiều cây lương thực, cây hoa màu và cây ăn trái có giá trị kinh tế

cao như bắp, đậu, mè, dâu, đay,… Đồng thời, An Giang còn là tỉnh trọng điểm chăn

nuôi của cả nước về bò, gà, vịt, trọng điểm về cá nước ngọt và tôm. Tuy nhiên, do sự

độc canh cây lúa, năm nào có hạn hán, lũ lụt lớn thì mất mùa, đời sống nhân dân gặp

rất nhiều khó khăn.

2.2. Thủ công nghiệp

2.2.1. Nghề tằm tơ

Nghề tằm tơ phát triển rất sớm ở An Giang. Dưới triều Nguyễn, nghề trồng

dâu nuôi tằm ở Tân Châu (huyện Đông Xuyên) đã nổi tiếng khắp Nam Kỳ lục tỉnh, với

danh xưng “xứ tằm tang” và “lụa Tân Châu đã nổi tiếng trong Nam ngoài Bắc” [51,

tr.128]. Hàng lụa Tân Châu được thương gia người Hoa, người Miên rất ưa chuộng.

Sách Nam Kỳ phong tục nhân vật diễn ca ca ngợi :

Cái Vừng thổ sản rất xinh

Xứ làm tơ lụa có danh Nam Kỳ

[28, tr.209]

Sau khi chiếm xong Nam Kỳ, một trong những nghề thủ công nghiệp truyền

thống mà chính quyền thực dân Pháp quan tâm nhất là nghề tằm tơ. Qua khảo sát nhiều

nơi ở Nam Kỳ, Pháp đã chọn Tân Châu (tỉnh Châu Đốc) là nơi trọng điểm tiến hành

phát triển nghề tằm tơ với mục đích “từ Tân Châu rồi cả Nam Kỳ trở thành nơi cung

82

cấp tằm tơ cho chính quốc” [79, tr.459]. Chính vì vậy, tháng 8 - 1907, chính quyền

Pháp cho thành lập Viện tằm tơ ở Tân Châu.

Sau khi thành lập, Viện tằm tơ tiến hành tuyển chọn, phân phối các giống tằm

cho các cơ sở nuôi tằm vùng Tân Châu và các tỉnh lân cận. Năm 1909, chính quyền

thực dân còn thành lập các nhà nuôi tằm kiểu mẫu ở Tân Châu, miễn thuế cho các diện

tích trồng dâu, tổ chức các cuộc thi tuyển giống tằm, có khen thưởng cho những người

đoạt giải cao. Năm 1910, thành lập nhà nuôi tằm ở Nhà Bàng (quận Tịnh Biên, tỉnh

Châu Đốc) và nhà nuôi tằm Chợ Mới (tỉnh Long Xuyên) vào năm 1912.

Trồng dâu, nuôi tằm ở Tân Châu rất phát triển vì đất đai, khí hậu ở đây rất phù

hợp cho loại cây trồng này. Công việc trồng dâu, nuôi tằm được tiến hành quanh năm

và có sự hình thành phân công tự nhiên như có gia đình chuyên trồng dâu, thu hoạch lá

dâu bán cho nhà tằm, có gia đình chuyên nuôi tằm và hình thành các trại tằm, có gia

đình chuyên nghề ươm tơ, có gia đình chuyên nghề dệt thủ công. Tuy nhiên cũng có

gia đình vừa trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa. Xung quanh Tân Châu đã hình thành

những làng nghề chuyên sống bằng nghề ươm tơ như Long Phú, Long Thuận, Long

Khánh, cù lao Ma,...

Lụa Tân Châu không những nổi tiếng trong nước, mà còn nổi tiếng ở một số

nước lân cận như Thái Lan, Lào, Campuchia, Hồng Kông, Singapore, Malaysia,… với

những mặt hàng lụa Cẩm Tự, Mỹ A. Lụa Tân Châu nổi tiếng nhờ dệt bằng tơ tằm, có

hoa văn đẹp, màu sắc không phai.

Lúc đầu, nông dân nuôi những giống tằm kén vàng, sau đó nhờ ứng dụng kỹ

thuật, nông dân chuyển sang nuôi những giống tằm lưỡng hệ trắng và các cặp lai của

nó. Những giống tằm này cho năng suất, chất lượng kén cao hơn.

Sau khi xử lý kén thì đến giai đoạn ươm tơ. Kén được cho vào nồi nước sôi,

xong kéo mối tơ quấn vào bánh xe quay. Người thợ ươm tơ khuấy đôi đũa liên hồi vào

nồi nấu kén, tay quay đều đầu bánh xe để cuộn tròn các sợi tơ. Quay mãi cho đến khi

83

trong nồi chỉ còn lại xác con tằm. Về sau, nông dân cải tiến khâu ươm tơ, sử dụng xa

ươm tơ bông sen và cơ giới hóa để nâng cao nâng suất, chất lượng tơ. Tơ thô được tháo

ra từ các bó để xe nhiều sợi lại thành sợi to, sợi tơ được xe hay kéo sẽ được dệt thành

vải tơ và nhuộm màu.

Đến năm 1929, thực dân Pháp đã không đạt được mục đích xuất khẩu tơ từ

thuộc địa Nam Kỳ. Nghề tằm tơ ở Tân Châu dần dần giảm sút. Viện tằm tơ Tân Châu

cũng chấm dứt hoạt động.

Từ năm 1935 - 1965, nghề tằm tơ ở An Giang có bước phát triển cực thịnh.

Năm 1936, “diện tích trồng dâu nuôi tằm ở An Giang đạt đến đỉnh cao nhất 10.000 ha”

[51, tr.126]. Đến những năm đầu 60, Tân Châu có tất cả 60 nhà dệt lớn nhỏ, gần 344

khung dệt. Những nhà dệt danh tiếng được nhiều người biết đến : Đỗ Phước Hoà, Trần

Văn Tôn, Trịnh Thế Nhân, Trần Ngọc Linh… [67, tr.41]. Nhưng sau đó, từ năm 1965 -

1975, diện tích trồng dâu giảm trầm trọng chỉ còn lại vài chục ha. Nguyên nhân của sự

giảm này là do “lụa Tân Châu không cạnh tranh nổi với các loại vải ngoại nhập vào,

nghề dệt lụa Tân Châu ngày càng co lại và gần như mai một” [41, tr.128].

Sau năm 1975, nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươn tơ, dệt lụa chỉ hoạt động cầm

chừng. Năm 1978, tại thị trấn Tân Châu có hơn 120 khung dệt lụa Mỹ A, năng suất dệt

được từ 750 - 800.000 mét lụa/năm và 10 lò nhuộm mặc nưa có công suất nhuộm được

500.000 mét/năm. Công ty tơ lụa An Giang sau thời gian hoạt động cũng đóng cửa do

sản phẩm làm ra chi phí cao, không cạnh tranh được với hàng vải ngoại nhập; đến

những năm 80 thế kỷ XX, nghề này gần như mất hẳn. Thế là “toàn bộ diện tích ruộng

dâu biến thành ruộng lúa hoặc màu” [28, tr.214] và nhiều hộ làm nghề tằm tơ đã

chuyển sang các nghề khác để kiếm sống.

2.2.2. Nghề mộc và chạm khắc gỗ

84

Nghề mộc ở cù lao Ông Chưởng (huyện Chợ Mới) đã nổi tiếng từ lâu, với

nhiều mặt hàng khéo léo như tủ, bàn ghế, giường,… được nhiều người ưa thích. Vào

nửa cuối thế kỷ XVIII, Chợ Thủ và Mỹ Luông là nơi xuất phát nghề mộc lưu truyền

cho đến ngày nay. Thế kỷ XVIII - XIX, nghề mộc ở An Giang tồn tại trong các gia

đình, cha truyền con nối, sản phẩm làm được đều bán tại địa phương. Do tính chất

thông dụng, nghề mộc có mặt khắp nơi trong tỉnh.

Đầu thế kỷ XX, nghề mộc ở An Giang có nhiều biến đổi, một số tư nhân có

nhiều tiền của đã mở nhiều trại mộc trong tỉnh. Năm 1929, cả tỉnh có 35 xưởng mộc,

tập trung nhiều ở quận Chợ Mới, được phân bố như sau : 19 xưởng mộc ở Mỹ Luông

(tổng Định Hòa, quận Chợ Mới), 9 xưởng mộc ở Tân Đức (tổng An Bình, quận Chợ

Mới), 6 xưởng mộc ở Long Kiến (tổng Định Hòa, quận Chợ Mới), 1 xưởng mộc ở

Thạnh Hòa Trung Nhất (tổng Định Mỹ, quận Thốt Nốt [90, tr.52]. Nguyên liệu chủ yếu

là gỗ quý từ Campuchia được chuyển xuống Đồng bằng sông Cửu Long theo sông Mê

Kông và cung cấp một lượng lớn nguyên liệu cho nghề mộc ở An Giang. Năm 1952,

tỉnh Long Xuyên có 10 trại mộc và chạm khắc đồ gỗ [91, tr.4].

Đến những năm 70 thế kỷ XX, nghề làm mộc và chạm khắc gỗ ở An Giang có

bước phát triển. Năm 1970, An Giang có 29 trại mộc tăng lên 80 trại mộc vào năm

1972 và đồ mộc ở xã Mỹ Luông được nổi tiếng vừa đóng đẹp, giá cả có phần rẻ nới

hơn [87, tr.50-51].

Sau năm 1975, nghề mộc và chạm trổ tiếp tục được duy trì. Dọc theo tỉnh lộ

943 từ ấp Thị (Mỹ Luông) đến ấp Long Thuận (Long Điền A) là nơi tập trung nhiều cơ

sở mộc, sản xuất nhiều loại sản phẩm như tủ áo, tủ thờ, tủ ly, đi văng, sa lông, giường,

bàn, ghế, … với kiểu cách đẹp, trang nhã. Năm 1988, riêng xã Mỹ Luông (huyện Chợ

Mới) có hơn 140 cơ sở làm mộc. Những người thợ ở đây được học nghề từ thuở nhỏ

theo lối cha truyền con nối. Nguyên liệu chủ yếu được mua từ thành phố Hồ Chí Minh,

rừng miền Đông, hoặc ở Campuchia.

85

Vào những năm 1990, cùng với nghề mộc, thì chạm khắc gỗ có bước phát

triển, được nhiều nơi trong và ngoài nước biết đến. Đặc biệt, nghệ nhân Hồ Văn Lai ở

Chợ Thủ (Long Điền A, Chợ Mới) nổi tiếng với hoa tay khéo léo. Sản phẩm chạm

khắc gỗ được làm từ nguyên liệu bằng các loại gỗ quý. Nhiều sản phẩm chạm khắc có

đề tài như Long - Lân - Quy - Phụng, ... rất được khách hàng trong và ngoài nước ưa

chuộng.

Nghề mộc và chạm khắc gỗ ở An Giang có lúc cũng trải qua những năm tháng

thăng trầm. Có lúc các trại mộc phải đóng cửa vì không có gỗ, nhiều thợ có tay nghề

giỏi phải lên Sài Gòn và các tỉnh lân cận để kiếm sống. Hiện nay, với sự quan tâm của

chính quyền địa phương, với chương trình khuyến công, nghề mộc và chạm khắc gỗ ở

An Giang được khôi phục và tiếp tục phát triển.

2.2.3. Nghề sản xuất gạch ngói.

Cuối thế kỷ XIX, nghề này phát triển ở nhiều nơi trong tỉnh có loại đất sét làm

được gạch, nhưng nổi tiếng nhất lúc bấy giờ là gạch Châu Đốc. Gạch Châu Đốc được

sản xuất từ đất sét vùng Nam Quy (quận Tri Tôn). Đây là loại đất sét mịn, màu vàng

nhạt, hạt cứng làm gạch ngói rất tốt và “gạch Châu Đốc được đánh giá tốt hơn gạch

Chợ Lớn lúc bấy giờ” [79, tr.457]. Hơn nữa, “các nhà xây dựng ở Nam Kỳ đánh giá

gạch Châu Đốc bền tương đương với gạch của Hồng Kông và của Pháp” [88, tr.35].

Đầu thế kỷ XX, do nhu cầu xây dựng nhà cửa, cơ sở hạ tầng được xây dựng

phục vụ cho công cuộc khai thác. Năm 1927, tỉnh Châu Đốc có 3 cơ sở gạch ngói :

làng Vĩnh Ngưu (quận Châu Thành) có 1 cơ sở, làng Châu Phú (quận Châu Thành) có

2 cơ sở. Ở Long Xuyên có nhiều cơ sở sản xuất gạch ngói hơn Châu Đốc. Năm 1927 -

1928 có 8 cơ sở sản xuất gạch sử dụng 140 công nhân, số gạch sản xuất ra mỗi năm là

1.510.000 viên gạch thường, 33.000 viên gạch tàu, 539.000 viên gạch đặc, 483.000

viên ngói phẳng, 618.000 viên ngói cong. Đến năm 1929, số cơ sở gạch Long Xuyên

86

tăng 12 cơ sở sản xuất gạch ngói với mặt hàng sản xuất rất phù hợp với yêu cầu thực tế

[30, tr.109]. Tuy nhiên, công cụ sản xuất rất thô sơ, dựa vào sức người là chính. Năm

1929, các cơ sở sản xuất gạch ngói ở tỉnh Long Xuyên được phân bố như sau :

TT Tên chủ cơ sở Địa chỉ Số lò

Thành Hòa Trung Nhứt Nguyễn Văn Năng 1 1

Thốt Nốt Lữ Thị Hạnh 2 2

Thạnh Hòa Trung Nhứt Lê Thị Nguyên 1 3

Tân Phú, quận Chợ Mới Nguyễn Văn Phương 1 4

Vĩnh Trạch, quận Châu Thành Vương Đức Nhuận 2 5

Mỹ Thạnh, quận Châu Thành Lê Nghiệp 2 6

Mỹ Thạnh, quận Châu Thành Từ Hữu 3 7

Lang Dũ 3 8 Mỹ Thạnh, quận Châu Thành

Trần Văn Lưu 2 9 Mỹ Phước, quận Châu Thành

Lữ Giám 1 10 Mỹ Phước, quận Châu Thành

Dư Sùng Hi 1 11 Bình Thành Hưng

Lê Quang Ngà 1 12 Bình Đức, quận Châu Thành

Nguồn : [90, tr.55]

Năm 1960, An Giang có 22 cơ sở sản xuất gạch. Năm 1967, An Giang có 23

cơ sở sản xuất gạch (trong đó An Giang 13, Châu Đốc 10). Như vậy có thể nói, từ năm

1960 - 1970, cơ sở sản xuất gạch ngói tăng không đáng kể.

Sau năm 1975, sản xuất gạch ngói bước đầu phát triển. Đến năm 1997, An

Giang có 407 cơ sở sản xuất gạch ngói thủ công với 594 lò, khả năng sản xuất trên 1

triệu viên gạch mỗi năm. Các cơ sở tập trung chủ yếu ở huyện Chợ Mới 164 cơ sở,

Châu Thành 133 cơ sở, Châu Phú 72 cơ sở, Phú Tân 25 cơ sở.

87

Nguyên liệu để sản xuất gạch ngói là đất sét và nguyên liệu đốt lò là trấu. Mỗi

lò có công suất 50.000 - 100.000 viên/mẻ, thời gian nung một mẻ thường 12 - 15 ngày.

Gạch ngói sản xuất ra được tiêu thụ khắp các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và một

phần sang Campuchia. Những năm gần đây, nghề sản xuất gạch ngói truyền thống gặp

nhiều khó khăn về chất lượng và giá cả trong việc cạnh tranh với công nghệ sản xuất

gạch bằng lò nung tuynel.

2.2.4. Một số nghề thủ công nghiệp khác

2.2.4.1. Nghề đóng ghe xuồng

An Giang là tỉnh có hệ thống sông rạch chằng chịt và thường ngập lũ hàng

năm, nên nhu cầu sử dụng ghe xuồng làm phương tiện đi lại phổ biến.

Năm 1929, An Giang có 14 xưởng đóng thuyền, các xưởng tập trung quận ở

Chợ Mới và Châu Thành, được phân bố như sau : 3 xưởng ở Bình Đức (tổng Định

Thành Hạ, quận Châu Thành), 3 xưởng ở Kiến An (tổng Định Hòa, quận Chợ Mới), 2

xưởng ở Tân Thạnh (tổng An Bình, quận Chợ Mới), 2 xưởng ở Hòa Bình (tổng Định

Thành Hạ, quận Châu Thành), 2 xưởng ở Mỹ Phước (tổng Định Phước, quận Châu

Thành), 1 xưởng ở Tân Thạnh Đông (tổng Định Mỹ, quận Thốt Nốt) [90, tr.52].

Từ năm 1940 - 1945, cũng như các tỉnh Nam Bộ, nghề đóng ghe thuyền ở An

Giang đình đốn, một trong những lý do là “phát xít Nhật ra lệnh trưng dụng các

phương tiện vận tải, kể cả phương tiện thô sơ” [58, tr.82].

Những năm đầu 1970, nghề đóng xuồng ở An Giang có bước phát triển. Năm

1970, An Giang có 20 trại đóng ghe xuồng, năm 1972 tăng lên 36 trại đóng ghe xuồng

(chưa tính tỉnh Châu Đốc)” [88, tr.50].

Sau năm 1975, nghề đóng ghe xuồng vẫn phát triển ở Chợ Mới, Phú Tân,

Long Xuyên. Đây cũng là nghề cha truyền con nối, có gia đình trải qua 4 thế hệ thợ

như ở ấp Tây Thượng A (xã Mỹ Hiệp, huyện Chợ Mới). Tại ấp này có 21 trại đóng ghe

và 127 hộ làm nghề đóng xuồng.

88

Ngay tháng 3, 4 hàng năm người dân phải chuẩn bị cây gỗ, vật liệu vì vào thời

điểm này cây gỗ còn rẻ. Khi bắt đầu “nước đổ” cũng là mùa đóng ghe xuồng, tập trung

vào tháng 5, 6 và phát triển mạnh đến tháng 9. Những năm lũ lớn thì nhu cầu đóng ghe

xuồng càng cao.

Xuồng được đóng thành nhiều kiểu như xuồng vỏ gòn, xuồng Cần Thơ, xuồng

cui… tùy theo thị hiếu của khách hàng trong và ngoài tỉnh đặt hàng. Hết mùa đóng

xuồng, người dân lại chuyển sang đóng ghe lớn như ghe tam bảo mũi dài hoặc đóng

trẹt, đóng tắc ráng… Xuồng thường làm bằng gỗ vườn, ghe lớn được làm bằng cây sao.

Thị trường tiêu thụ không những trong tỉnh mà còn cung cấp cho các tỉnh Kiên Giang,

Đồng Tháp, Bến Tre, Tiền Giang, Bạc Liêu, Cà Mau.

2.2.4.2. Nghề cưa xẻ gỗ

Cùng với nghề mộc, trước năm 1900, nghề cưa xẻ gỗ ở tỉnh Long Xuyên,

Châu Đốc phát triển mạnh và mang tính chất gia đình. Họ đi khắp nơi trong tỉnh để

nhận đồ gia công.

Từ năm 1900 bắt đầu xuất hiện các xưởng cửa do tư nhân thành lập, tập trung

nhiều nhất ở xã Long Điền, Mỹ Luông (quận Chợ Mới), Mỹ Phước (quận Châu

Thành). Do nhu cầu xây dựng nhà cửa tăng lên, ở Long Xuyên ban đầu chỉ có vài

xưởng, tăng lên 36 xưởng vào năm 1927 và 40 xưởng vào năm 1929. Phần lớn các

xưởng đều cưa tay, chỉ có 1 xưởng cưa bằng máy. Đến năm 1960, An Giang có 27 trại

cưa máy, 15 trại cưa tay [82, tr.42].

Những năm 1990, hầu hết các xưởng cưa trên địa bàn An Giang đều là cưa máy. Khối lượng gỗ được cưa trong tỉnh hàng năm tăng, năm 1997 cưa 93.000m3 gỗ tăng lên 111.000m3 năm 1999.

2.2.4.3. Nghề rèn

Trước năm 1900, ở An Giang chưa thấy có sự hoạt động tập trung của các

xưởng (lò) rèn, mà chỉ thấy tồn tại rải rác khắp các làng trong tỉnh, người nông dân có

89

thể tự chế cho mình các công cụ sản xuất hay công cụ gia đình. Sản phẩm làm ra chủ

yếu là dụng cụ phục vụ cho nghề nông và sinh hoạt trong gia đình như dao, búa, cuốc,

leng, kéo,… Nhưng sau khi chính quyền thực dân Pháp đẩy mạnh công cuộc khai

hoang ở các tỉnh miền Tây, nghề rèn phát triển rất mạnh để sản xuất ra các nông cụ

phục vụ cho nghề nông như cày, bừa, cuốc, xẻng. Đến năm 1929, ở tỉnh Long Xuyên

có 45 lò rèn, được phân bố ở các làng sau : Kiến An 4, Mỹ Hưng 5, Tân Đức 3, Mỹ

Luông 2, An Phong 1, Long Điền 1, Tân Thạnh 1, Mỹ Chánh 1, Mỹ Hội Đông 1, Bình

Phước Xuân 2 (quận Chợ Mới), Bình Đức 3, Bình Hòa 3, Bình Thủy 2, Mỹ Hòa Hưng

3, Cần Đăng 1, Vĩnh Trạch 1, Vĩnh Trinh 1, Thạnh Qưới 1 (quận Châu Thành), Định

Yên 4, Thạnh Hòa Trung Nhứt 3, Tân Bình Đông 2, Thới Thuận 1 (quận Thốt Nốt)

[90, tr.53]; còn ở tỉnh Châu Đốc, lò rèn rải rác khắp các làng trong tỉnh, không tập

trung như ở Long Xuyên.

Đến thập kỷ 50 thế kỷ XX, nghề rèn ở An Giang rất nổi tiếng, với các sản phẩm

lò rèn ở Phú Mỹ (quận Tân Châu) có chất lượng tốt được người tiêu dùng ưa thích.

Sau năm 1975, nghề rèn truyền thống ở xã Phú Mỹ (huyện Phú Tân) dẫn tiếp

tục phát triển và nổi tiếng. Do vậy, hơn nửa thế kỷ qua, nơi đây đã trở thành trung tâm

phân phối các sản phẩm rèn đến các chợ lớn, chợ nhỏ ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Năm 1998, Hợp tác xã dịch vụ rèn Phú Mỹ được thành lập, đã quy tụ 23 cơ sở sản

xuất, 8 cơ sở tiêu thụ với 118 lao động, để giúp các xã viên vay vốn, mua nguyên liệu,

tiêu thụ sản phẩm, áp dụng kỹ thuật mới. Năm 1995, thu nhập của một thợ rèn khá cao,

trung bình từ 35.000 - 50.000 đồng/ngày [31, tr.37].

Năm 1999, ở Phú Mỹ có từ 50 - 70 lò rèn, chuyên sản xuất các công cụ cho

nhà nông như lưỡi cày, bừa, lưỡi hái, leng, dao, búa, kéo, cuốc,… trong đó lưỡi hái là

sản phẩm bán chạy nhất. Người thợ rèn Phú Mỹ tiếp tục giữ chữ tín với bạn hàng để

xứng đáng của một làng nghề truyền thống đã có từ lâu.

2.2.4.4. Nghề dệt thổ cẩm

90

Nghề dệt thổ cẩm của người Chăm An Giang ra đời rất sớm. Sản phẩm thổ

cẩm người Chăm An Giang không chỉ phục vụ sinh hoạt hàng ngày của người Chăm,

mà còn là hàng hóa để trao đổi, mua bán, xuất khẩu. Nghề dệt là nghề truyền thống và

là nguồn kinh tế đóng vai trò chủ đạo trong cuộc sống của cộng đồng người Chăm An

Giang. Lao động chính trong nghề dệt là phụ nữ.

Trước năm 1975, tại Phũm Soài (xã Châu Giang, Tân Châu) có khoảng gần 100

hộ làm nghề dệt tơ, dệt chỉ vải nổi tiếng ở An Giang, với các sản phẩm phổ biến như xà

rông tơ hoa mây, xà rông chỉ vải hoa mây, vải may mùng, khăn choàng, chăn đắp, khăn

đội đầu của phụ nữ,… Trong đó, “xà rông của đồng bào Chăm xã Châu Giang sản xuất

ra hữu dụng, vừa đẹp, vừa bền nên được nhiều người ưa chuộng” [85, tr.64].

Sau năm 1975, chính quyền địa phương quan tâm và hỗ trợ, nên nghề dệt

truyền thống của người Chăm phát triển mạnh mẽ, có lúc lên đến 300 hộ làm nghề dệt.

Năm 1982, một tổ hợp dệt của cộng đồng người Chăm được thành lập ở ấp Phũm Soài

chuyên sản xuất khăn choàng tắm, vải mùng. Đến năm 1986 - 1987, do không còn bao

cấp nên nghề dệt ở đây gặp nhiều khó khăn vì sản phẩm không cạnh tranh nổi trên thị

trường, đặc biệt là các mặt hàng dệt của Thái Lan. Tổ hợp tan rã. Nhiều gia đình bỏ

nghề dệt. Đứng trước tình hình nghề dệt cổ truyền của người Chăm sắp bị lụi tàn, các

cấp chính quyền ở An Giang chủ trương hỗ trợ cộng đồng phục hồi lại nghề dệt. Năm

1995, Hợp tác xã dệt thêu Châu Giang (huyện Tân Châu) được thành lập, là một trong

những cơ sở sản xuất mặt hàng dệt thổ cẩm như túi sách, khăn choàng, xà rông, bóp,…

Nguyên liệu là chỉ cô tông có nhiều cỡ. Khi mua về, chúng là những loại thô,

có màu trắng đục, chưa thể dệt ngay được mà cần phải qua sơ chế. Giai đoạn sơ chế ấy

là mhuộm và hồ. Sau khi nhuộm và hồ kết thúc, các loại sợi này trở thành nguyên liệu

chính thức để tiến đến công đoạn dệt.

Kỹ thuật nhuộm truyền thống, người Chăm An Giang dùng các loại lá, rễ, trái

cây, những chất do các loài côn trùng tiết ra và một vài loại đất đá, vôi,… để chế tạo

91

thành sản phẩm nhuộm. Ở An Giang, người thợ dệt dùng trái mặc nưa để nhuộm màu

đen, dùng vỏ cây b’huột hay guột để lấy màu vàng óng, trái b’huột thì có màu đen

huyền, còn nhựa cây thì có màu đỏ thẫm. Người thợ lấy cánh kiến để có màu đỏ. Ngày

nay, các làng dệt dùng hai loại thuốc nhuộm : thuốc nhuộm hoá chất và thuốc nhuộm

truyền thống, nhưng thuốc nhuộm hoá chất được sử dụng phổ biến. Ngoài kỹ thuật

nhuộm để tạo sợi chỉ có màu sắc khác nhau, thợ dệt Chăm còn có kỹ thuật nhuộm độc

đáo là thiền.

Công cụ chính của giai đoạn dệt gồm có 3 bộ phận : xa quay chỉ, khung kéo

canh và khung dệt. Mỗi công cụ tương ứng với mỗi khâu. Xa quay dùng để quay chỉ,

khung kéo canh dùng để kéo các băng chỉ và tạo các hoa văn trên vải và khung dệt là

giai đoạn cuối tạo ra tấm vải. Khung dệt của người Chăm An Giang có hai loại cơ bản

là khung dệt xà rông khổ 1,2 mét và khung dệt khăn choàng tắm.

Sau khi dệt xong, sản phẩm là một tấm vải. Có rất nhiều loại vải, vải thổ cẩm,

vải xà rông, vải khăn choàng tắm. Mỗi loại vải lại có nhiều dạng hoa văn khác nhau, rất

đa dạng và phong phú. Vải tấm có nhiều kích cỡ từ 80cm đến 1,2 mét. Thổ cẩm thì đa

dạng về kích cỡ từ 20cm đến 1,2 mét. Còn chăn hay xà rông có khổ rộng từ 100 -

120cm, chiều dài 200cm, gồm có nhiều loại : chăn được dệt trơn bằng sợi to, màu sắc

ngà của tơ, được dệt chen vào nền vải những sợi kim tuyến óng ánh; chăn được thiết kế

nhiều hoạ tiết trang trí với những hình thoi màu vàng nổi lên trên nền lụa trắng, xanh

hoặc đỏ. Sản phẩm được chế biến thành mặt hàng sử dụng như túi xách, khăn, áo, ví

đựng tiền,… Hầu hết là những mặt hàng phục vụ cho du lịch và rất được khách du lịch

ưa thích.

Hoa văn của sản phẩm dệt người Chăm An Giang dựa trên hình ảnh của thiên

nhiên, của môi trường sống chung quanh cư dân hoặc những hoa văn hình học. Hoa

văn thể hiện thiên nhiên thường là những cách điệu của hoa lá như trái Pồ (trái khóm),

hoa dâu, hoa bứa hoặc là thiên nhiên như mây núi. Đặc biệt là hoa văn mây trôi là sang

92

tạo độc đáo của người thợ dệt Chăm An Giang. Hoa văn mây trôi thể hiện trên nền vải

màu tím, hoặc xanh lục hoặc trên nền carô, nền sọc.

Ở An Giang ngày nay không còn trồng bông. Tơ sợi đủ loại, đủ màu sắc được

nhập từ nhiều nguồn đã làm thay đổi chất liệu vải, nhưng kỹ thuật dệt vẫn giữ được giá

trị văn hóa của người Chăm An Giang. Những năm cuối thế kỷ XX, các mặt hàng thổ

cẩm và xà rông tơ của người Chăm An Giang được bán ở các tỉnh, Thành phố Hồ Chí

Minh; thậm chí có mặt ở Mỹ, Campuchia, Malaysia, Indonesia qua con đường làm quà

cho bà con.

Bên cạnh đó, nghề dệt của người Khmer An Giang có nét đặc sắc riêng. Theo

những người già ở Tà Kốt (Tịnh Biên) cho biết, “trước đây người Khmer trong sóc còn

biết trồng bông vải trong vườn, trên rẫy triền núi. Bông thu hoạch được cán bằng xa để

loại bỏ hột, sau đó xe thành con cúi và kéo thành sợi. Sợi bông được hồ bằng bột gạo

và nhuộm màu” [1, tr.168-169]. Người Khmer nhuộm màu bằng các loại cây, rễ cây và

trái cây để cho ra các màu đen, đỏ, vàng,… Hiện nay, ở Tà Kốt không còn trồng các

bông vải và các công đoạn kéo sợi, nhuộm màu như xưa nữa. Thay vào đó người

Khmer Tà Kốt mua sợi đã nhuộm sẵn từ Châu Đốc, Long Xuyên đem về dệt.

Công đoạn dệt của người Khmer cũng qua các bước như mắc sợi, luống go,

bắt sợi dọc lên khung dệt,… Kỹ thuật dệt của người Khmer Tịnh Biên thô sơ hơn nghề

dệt của người Chăm ở Châu Phong. Để tạo hoa văn trên vải, người Khmer cũng thể

hiện cách nhuộm thiền nhưng phức tạp hơn cách nhuộm thiền của người Chăm. Nếu

người Chăm nhuộm sợi chỉ canh, tức sợi dọc, thì người Khmer nhuộm sợi chỉ ngang.

Với kỹ thuật nhuộm này, người Khmer tạo trên mặt vải hoa văn là những hình đặc biệt

như hình người, thú, nhà cửa,…

Để nhuộm được những khoảng màu sắc rực rỡ, đòi hỏi rất nhiều công phu và

khéo léo. Bức tranh bao nhiêu màu phải nhuộm bấy nhiêu lần. Việc dệt vải của người

Khmer rất chậm, một người thợ mỗi ngày chỉ dệt được vài tấc vải không có hoa văn

93

khó. Nếu dệt các hoa văn “tuồng” thì tốc độ chậm hơn và “để dệt được tấm vải khoảng

3 mét, khổ rộng 0,8 mét người dệt phải mất hơn 1 tháng rưỡi” [75, tr.153].

Hầu hết các sản phẩm đều thể hiện tính nghệ thuật, thẩm mỹ và tay nghề của

người thợ trong làng nghề. Mỗi hộ trong làng nghề đều có những sở trường, những hoa

văn riêng của mình. Hộ nào có tay nghề cao thì chuyên dệt những sản phẩm có tính

phức tạp đòi hỏi tay nghề của người thợ như dệt những tuồng, tích theo chuyện cổ tích

của người Khmer.

Sản phẩm chủ yếu là các tấm cải dùng làm xà rông cho đàn ông hoặc váy cho

phụ nữ, khăn để địu con,… So với sản phẩm của Chăm thì sản phẩm của người Khmer

tinh xảo hơn, nhưng không đa dạng về chủng loại. Tuy nhiên, nghề dệt của người

Khmer An Giang có nguy cơ mai một vì kỹ thuật sản xuất mang tính cổ truyền, năng

suất thấp nên không thể cạnh tranh với các loại vải nhập, kỹ thuật công nghiệp hiện

đại.

2.2.4.5. Nghề làm đường thốt nốt

Nghề làm đường thốt nốt ở Tri Tôn, Tịnh Biên khá phổ biến và là một trong

những hoạt động kinh tế đem lại thu nhập cho người dân Khmer ở địa phương.

Năm 1999, 2 huyện miền núi Tri Tôn, Tịnh Biên có khoảng 30.000 cây thốt nốt, tập

trung nhiều ở các xã An Cư, Văn Giáo, Vĩnh Trung (huyện Tịnh Biên).

Cây thốt nốt có nhiều công dụng : lá lợp nhà, thân làm cột nhà, máng nước,

trái thốt nốt chín được bóc lấy nhân, giã nhỏ làm bánh có mùi thơm ngon, còn nước

của hoa thốt nốt làm đường. Cây thốt nốt "được trồng 25 - 30 năm sẽ cho nước làm

đường và khai thác khoảng 35 năm đến hơn 40 năm” [1, tr.161]. Nước thốt nốt và

đường thốt nốt là những sản phẩm truyền thống của An Giang, có hương vị độc đáo

nên được nhiều người ưa thích. Năm 1999, ở An Giang có 1.400 hộ sản xuất đường

thốt nốt, thu hút 3.000 lao động sản xuất và hàng năm sản xuất 1.000 - 1.500 tấn đường

thốt nốt.

94

Công nghệ làm đường thốt nốt là lò nấu đường thủ công. Để sản xuất 1 kg

đường thốt nốt thì cần đến 8 lít nước thốt nốt. Trung bình mỗi ngày 1 cây thốt nốt cho

3 lít nước, nước thốt nốt lấy từ hoa và mỗi cây có từ 20 - 30 hoa. Thời gian khai thác

nước thốt nốt từ tháng 12 năm trước đến tháng 8 năm sau. Mỗi cây có thể cho lượng

nước để sản xuất khoảng 100 kg đường mỗi năm.

Nước thốt nốt được lấy từ trên cây xuống và cho vào nồi nấu, đun đến khi đặc

lại, màu vàng ươm và thơm dịu; đem ra khuấy đều, rồi rót vào khuôn bằng đất nung

tròn và chờ cho đường cứng mới đổ ra sàn nia cho khô hẳn. Đường thốt nốt có vị ngọt

đậm và thanh, không gắt như đường mía, lại có mùi thơm đặc biệt. Do quá trình sản

xuất đường có tính thủ công, đường thốt nốt chưa có giá trị thương mại cao; tuy nhiên,

nó góp phần giúp cho người Khmer Tri Tôn, Tịnh Biên cải thiện đời sống.

2.2.4.6. Nghề làm gốm

Nghề gốm, đặc biệt là nắn nồi của người Khmer huyện Tri Tôn có nhiều nét

hoa văn đặc sắc. Trước đây, sản phẩm đồ gốm của người Khmer nổi tiếng nên “bao

nhiêu sản phẩm làm ra đều có ghe chờ sẵn ở bến chở đi khắp các tỉnh miền Nam” [32,

tr.235] và còn “xuất khẩu tận sang Campuchia” [92, tr. 7].

Nghề nắn nồi của người Khmer Tri Tôn có tính chất gia đình, thường do phụ

nữ thực hiện. Đất làm nồi được lấy từ chân núi Nam Quy. Sản phẩm rất đa dạng như

niêu (nồi nhỏ), om (tròn, đáy to, miệng túm), chảo, khuôn bánh khọt, bung (nồi lớn),

trách, bếp lò, cà ràng, ống khói… trong đó nồi đất, cà ràng là sản phẩm khá nổi tiếng.

Người Khmer Tri Tôn chưa biết dùng kỹ thuật bàn xoay như hiện nay. Ở đây

còn sử dụng kỹ thuật làm gốm khá nguyên thủy : “Quá trình hoàn thiện sản phẩm được

tiến hành trên một cái bàn nhỏ hoặc đáy lu, đáy cối úp ngược. Người thợ gốm phải đi

vòng quanh bàn để dập, vuốt, chuốt láng hoặc in hoa văn cho sản phẩm” [79, tr.471].

Các sản phẩm gốm được đem ra phơi nắng, sau đó được đem nung bằng cách xếp lớp,

chất rơm đốt trong khoảng 1 giờ đồng hồ và ủ qua đêm. Ở đây không có lò nung gốm,

95

sản phẩm chỉ được đốt ngay tại sân hoặc trong vườn. Gốm nung có màu đỏ nhạt hoặc

vàng sậm, độ nung thấp. Các thương lái đến từng nhà thu gom và chở đi bán khắp nơi.

Hiện nay, nghề gốm và nắn nồi của người Khmer Tri Tôn đang trên đà suy giảm và có

chiều hướng mai một.

2.2.4.7. Nghề làm mắm cá, khô cá

Mắm cá, khô cá cũng là đặc sản nổi tiếng ở An Giang, đặc biệt là mắm thái

Châu Đốc. Do vào mùa nước nổi cá được đánh bắt nhiều, người dân bán cá để ăn tươi

không hết nên phải làm mắm, khô cá. Ban đầu, cư dân làm mắm, làm khô chủ yếu là

giải quyết lượng cá dư thừa mùa nước, để dự trữ lại cho mùa khô; về sau, nâng dần

thành nghề sản xuất mắm cá, khô cá thành sản phẩm tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

Mắm cá được sản xuất theo quy trình thủ công, cổ truyền, cha truyền con nối.

Người sản xuất mắm phải có kinh nghiệm lâu năm, tay nghề cao. Nguyên liệu làm

mắm chủ yếu là cá lóc, cá linh, cá sặc,… Năm 1999, toàn tỉnh An Giang có 23 cơ sở

sản xuất mắm cá, tập trung nhiều nhất tại thị xã Châu Đốc và huyện An Phú.

Còn các sản phẩm khô cá rất đa dạng như khô cá lóc, khô cá tra phồng, khô cá

sặc, khô cá chạch, khô cá các loại có tẩm gia vị,…

Năm 1991, nghề sản xuất khô cá tra phồng mới xuất hiện và phát triển khá

nhanh, sản phẩm được tiêu thụ trong nước và được xuất khẩu ra nước ngoài có Việt

kiều sinh sống như Mỹ, Úc, Canada,… Sản lượng từ 70 tấn năm 1991 lên đến 360 tấn

vào năm 1997. Nguyên liệu chính là cá tra nuôi ở ao, hầm. Năm 1999, An Giang có 12

cơ sở sản xuất khô cá, trong đó có 2 cơ sở sản xuất cá tra phồng.

2.2.4.8. Nghề làm nước mắm

Trước năm 1975, nghề làm nước mắm rất phát triển. Nếu như năm 1952, Long

Xuyên, Châu Đốc có 9 cơ sở sản xuất nước mắm thì đến năm 1966 tăng lên 53 cơ sở

sản xuất nước nắm; trong đó, nước mắm Chánh Hương sản xuất tại Châu Đốc đã nổi

tiếng trong nước và được xuất khẩu sang Hàn Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia.

96

Nước mắm được sản xuất theo quy trình công nghệ thủ công, truyền thống;

thiết bị dùng để sản xuất rất đơn giản. Cá được ủ trong các bồn xi măng lớn hoặc thùng

gỗ lớn; trong bồn đục các lỗ nhỏ để nước mắm chảy ra bồn khác thấp hơn bồn ủ, nước

mắm trong bồn này được bơm trở lại bồn ủ và cứ thế kéo dài trong 4 - 5 tháng. Hết thời

gian ủ sẽ thu được nước mắm nguyên chất có độ đạm trên 30 độ. Nguyên liệu sản xuất

nước mắm là tất cả các loại cá được đánh bắt trên sông, trên đồng, chủ yếu là cá linh.

Năm 1999, toàn tỉnh có 12 cơ sở sản xuất nước mắm, tập trung chủ yếu Long

Xuyên, Châu Đốc, Chợ Mới, Châu Thành. Từ năm 1986 - 1993, sản lượng nước mắm

hàng năm trung bình từ 9,5 - 11,5 triệu lít. Nghề sản xuất nước mắm là nghề có tính

cha truyền, con nối. Do quy trình sản xuất quá lạc hậu, thiếu vốn đầu tư sản xuất nên

chất lượng nước mắm An Giang không cạnh tranh lại nước mắm Kiên Giang và có

nguy cơ thu hẹp dần.

2.2.4.10. Nghề đan lát

An Giang có nhiều làng nghề đan lát truyền thống. Sản phẩm của các làng

nghề đan lát rất đa dạng như mê bồ, thúng, rổ, cần xé, lợp, vó cá,…

Ấp Kiến Qưới (xã Kiến Thành, huyện Chợ Mới) là làng nghề nổi tiếng làm mê

bồ dùng để chứa lúa. Mê bồ có 2 loại : loại cật và loại ruột. Loại cật dùng toàn bằng da

tre hoặc trúc, loại ruột dùng toàn bằng nan ruột tre hoặc trúc. Loại ruột phải được phủ

thêm một lớp phân bò để tránh mối mọt và giữ được độ bền. Để sản xuất mê bồ, người

dân mua tre, trúc, lồ ồ về ngâm nước để giữ độ dẻo, bền trong một thời gian. Sau đó,

tre hoặc trúc được chẻ ra thành từng nan nhỏ khoảng 1cm, rồi đan thành mê bồ theo

nhiều kích thước lớn nhỏ. Ở ấp Thuận Hiệp (xã Mỹ Hòa Hưng, Long Xuyên), nhiều hộ

dân sống bằng nghề đan thúng, rổ, rá, cần xé,…

Nghề đan lát tuy đơn giản nhưng là nguồn sống của hàng nghìn hộ gia đình,

và các làng nghề đan lát vẫn tiếp tục tồn tại. Sản phẩm làm ra không chỉ cung cấp trong

tỉnh, mà còn cung ứng khắp Đồng bằng sông Cửu Long.

97

2.2.4.10. Nghề đá thủ công

Nhờ có tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là đá granite, nhiều cư dân sinh sống

bằng nghề đập đá thủ công. Sản phẩm của các thợ đá ở An Giang có nhiều loại như

móng đá, bia mộ đá, cối đá, đá tảng kê chân cột nhà, lát nền,…

Vào những năm cuối thế kỷ XIX, “để xe cộ được lưư thông được dễ dàng

trong mùa mưa lầy lội, người Pháp cho tiến hành trải đá tại các trung tâm tỉnh, quận,

rồi các con đường huyết mạch” [26, tr.161], nghề làm đá thủ công quy mô được hình

thành từ đó. Năm 1890, đá được khai thác ở núi Sam, theo kiểu thủ công. Dân địa

phương khai thác bằng cách dùng lửa đun nóng kẽ đá tảng cho nứt rồi dùng xeo nại

tách rời. Đồ nghề chỉ là búa tạ, búa khẻ nhỏ, cặp ki. Họ lao động miệt mài bên chân

núi, cha truyền con nối như bao nghề truyền thống khác.

Năm 1935, công việc khai thác đá được thuận lợi hơn khi Robbert (người Ấn Độ, quốc tịch Pháp) cho thiết kế một đường rầy và xe goòng chứa được 1m3 đá, chạy

từ hầm đá ra đến cầu sắt. Lúc này các hầm tư nhân có hơn 30 hộ đăng ký khai đá ở núi

Sam.

Sau năm 1975, việc khai thác đá ở núi Sam được giao cho các công ty của

Nhà nước. Việc khai thác đá bắt đầu sử dụng chất nổ và các phương tiện khai thác hiện

đại. Đến năm 1992, để bảo vệ môi trường cảnh quan và di tích lịch sử trong vùng, việc

khai thác đá ở núi Sam chấm dứt.

Ở thị trấn Núi Sập (Thoại Sơn) có nhiều hộ dân sống bằng nghề chế tác đá

thành cối đá, bia mộ đá, kỳ lân đá, búp sen đá, tượng đá,... rất khéo léo.

Ngoài ra, An Giang còn có nhiều người ở Tri Tôn sống bằng nghề đập đá thủ

công. Từ những tảng đá lớn, họ đập thành các loại đá nhỏ, đủ loại cho việc trộn bê

tông, dùng trong xây dựng. Bụi đá đã làm cho họ đều mắc bệnh hen phế quản và lao

98

phổi, nhưng do kế sinh nhai, họ vẫn tiếp tục lao động, góp phần tạo ra những sản phẩm

đá phục vụ các công trình xây dựng, kiến trúc ở Đồng bằng sông Cửu Long.

2.2.4.11. Nghề vẽ tranh kính

Nghề vẽ tranh trên kính xuất hiện ở quận Chợ Mới vào đầu năm 1954 do

nghệ nhân Trần Văn Ty (Mười Ty) phổ biến. Ông sinh năm 1900 tại xã Tấn Thành,

quận Lai Vung, tỉnh Sa Đéc (Đồng Tháp). Năm 17 tuổi, ông qua xã Phước Thới, tỉnh

Cần Thơ học nghề vẽ và thí công 3 năm trời. Sau khi đã có tay nghề vững. Ông lập

phòng vẽ, hành nghề cho đến năm 1954, ông về xã Long Kiến, quận Chợ Mới cưới vợ.

Rồi lập nghiệp tại đây và truyền nghề cho dân địa phương [40, tr.47]. Khi về Chợ Mới

ông nghiên cứu thấy người dân theo đạo Phật thích thờ tổ tiên theo bốn chữ “Cửu

Huyền Thất Tổ” nên mới sáng tác mẫu tranh thờ tổ tiên đặc biệt cho vùng này. Bên

cạnh đó, ông còn mô phỏng theo họa sĩ Lê Trung, Hoàng Lương,… sáng tác các loại

tranh treo buồng theo tích Tấm Cám, Thoại Khanh Châu Tuấn, Phạm Công - Cúc Hoa,

Lưu Bình - Dương Lễ. Sau hơn 30 năm hành nghề, số học trò của Mười Ty qua nhiều

thế hệ có tới hàng nghìn người. Tiếp theo Mười Ty có nghệ nhân Huỳnh Minh Quang

ở xã Long Giang, huyện Chợ Mới bày ra cách in lụa tạo nét tách thay vì tách theo lối

thủ công. Nhờ cải tiến của ông Quang mà năng suất tăng lên gấp bội. Một bộ tranh

trước kia tốn ít nhất 3 - 4 tháng công. Còn ngày nay chỉ tốn 1 ngày công.

Theo ông Mười Ty cho biết : “Thời kỳ trước năm 1945, tranh thì chỉ dùng duy

nhất nước sơn màu đen. Người thợ cẩn xà cừ thành các hình, họa theo mẫu lên trên mặt

kính, sau đó sơn phủ lên một lớp sơn đen” [40, tr.47]. Như vậy, bức tranh thờ trước

năm 1945, chỉ có 2 màu đen và trắng, đen của nước sơn và trắng của xà cừ. Từ sau

năm 1945 trở lại đây, người ta dùng sơn nhiều màu để vẽ tranh. Màu nền đen trước đây

được thay bằng màu đỏ tươi và hiện nay nhiều người lại dùng thủy ngân tráng lên nền.

Cho đến năm 1992, hầu như không còn cơ sở nào làm tranh thờ khảm xà cừ,

bởi giá thành vỏ ốc cao, lại đòi hỏi phải có bàn tay nghệ nhân mới có thể làm được.

99

Nghề cẩn xà cừ ở đây bị mai một một cách đáng tiếc. Bù lại, với kỹ thuật làm tranh

hiện đại có một cái lợi là ai cũng có thể tham gia làm tranh trên kính. Nhờ vậy mà giải

quyết công ăn việc làm cho hàng nghìn người dân địa phương.

Phải nhìn nhận rằng, “tranh Chợ Mới ngày nay không đẹp bằng tranh Lái

Thiêu hoặc tranh Chợ Lớn, nhưng giá thành hạ. Trước kia chỉ có tầng lớp trung nông

trở lên mới dám mơ ước một bộ tranh thờ. Còn ngày nay ai ai cũng có thể mua được”

[78, tr.36]. Tranh Chợ Mới được bán khắp miền Nam, tận Campuchia, và ra cả miền

Trung.

Nghề làm tranh trên kính ở Chợ Mới đang có xu hướng phát triển mạnh, đã

giải quyết được một lượng lao động đáng kể ở địa phương, lại không đòi hỏi nhiều về

trình độ tay nghề. Có những ngày cao điểm, các cơ sở cho ra nhiều thành phẩm cả

nghìn bộ tranh, điều đó cho thấy tiềm năng và hiệu quả kinh tế này khá cao cần được

quan tâm đầu tư phát triển. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất của các cơ sở vẽ tranh trên

kính ở Chợ Mới là hoàn toàn tự phát, mạnh ai mấy làm và tự tiêu thụ sản phẩm.

An Giang từ lâu đã xuất hiện và tồn tại các làng nghề thủ công như nghề mộc

và chạm khắc gỗ, nghề rèn, nghề tơ lụa, dệt vải, đóng xuồng ghe, làm gạch ngói,…

Nhiều nghề mang tính chất gia đình, cha truyền con nối. Dưới thời Pháp thuộc, chính

sách khai thác thuộc địa đã tạo ra nhiều biến đổi trong thủ công nghiệp An Giang. Các

trung tâm sản xuất hàng thủ công nhanh chóng được hình thành, đó là trung tâm sản

xuất tằm tơ ở Tân Châu, trung tâm dệt ở cù lao Giêng, trung tâm gạch ngói ở Châu

Thành…. Do đó, có nhiều nghề phát triển như nghề gạch ngói, mộc, rèn, tằm tơ,…

trong đó nghề mộc, tằm tơ An Giang rất nổi tiếng. Hàng hóa thủ công làm ra không chỉ

cung cấp cho các địa phương trong tỉnh mà còn bán ra các tỉnh khác. Tuy nhiên, trải

qua thời gian, do sản phẩm ít phong phú, đa dạng, quy trình sản xuất mang tính thủ

công truyền thống ít được cải tiến nên dần dần nhiều mặt hàng không cạnh tranh nổi

100

với các mặt hàng cùng loại được sản xuất bằng các phương tiện kỹ thuật tiên tiến hoặc

được du nhập ồ ạt từ bên ngoài, làm cho một số nghề thủ công truyền thống ở An

Giang bị mai một.

2.3. Công nghiệp

2.3.1. Xay xát lúa gạo

Vào thế kỷ XVIII - XIX, An Giang chưa có một xưởng xay xát bằng máy nào.

Việc chế biến gạo chủ yếu dựa vào cách làm thủ công truyền thống với các máy quay

bằng tay và cối giã bằng chân của người Khmer.

Đến tháng 3 năm 1927, ở Long Xuyên xuất hiện xưởng xay xát đầu tiên chạy

bằng máy hơi nước của ông Nguyễn Văn Im. Đến năm 1930 đã có 19 xưởng xay xát

chạy bằng máy hơi nước hoặc mô tơ chạy bằng dầu ma zút. Chủ nhân của 19 nhà máy

này đều là người Việt và 100% máy móc, mô tơ đều mua của các hãng nước ngoài.

Xưởng có công suất cao nhất đạt 3.600 tấn/năm. Trong 8 tổng của tỉnh đều có nhà máy

TT

xay :

Chủ nhà máy

Nhãn hiệu máy

Công suất (mã lực)

1

Nguyen Van Khanh (An Phong)

Sản lượng/ năm (tấn) 720

23

Moès

2

Nguyen Van Nghi (Bình Hòa)

1.600

22

Ruston Hornsby

3

Dinh Van Lien (Bình Phước Xuân)

360

12

Moès

4

Nguyen Van Khanh (Bình Thành)

720

25

Moès

5

Nguyen Van Im (Bình Thành Tây)

1.632

40

Henri Simon

6

An Thành (Bình Thành Tây)

327

20

Ruston Hornsby

7

Dang Van Dan (Vĩnh Trạch)

3.600

35

Huckuff&Bulle

8

Tran Phuoc Tuong (Mỹ Chánh)

100

15

Moès

9

Vo Van Tuong (Mỹ Luông)

500

30

Denhonlun

10

Nguyen Van Huynh (Mỹ Luông)

360

60

Ballot

22

11

Nguyen Ngoc Chon (Mỹ Phước)

1.800

Grosseley

29

12

Tran Thien Thoai

2.500

Humburg Antona

(Thạnh Hòa Trung Nhứt)

30

13

Lâm Hiệp (Thạnh Hòa Trung Nhứt)

3.000

Filipina

20

14

Truong Phuoc Mai (Định Mỹ)

720

Ballot

25

15

Tran Phuoc (Binh Ninh)

2.880 - 3.600

Grosseley

27

16

Ngo Van Ngai (Lien An)

3.600

Ruston Hornsby

15

17

Le Van Luong (Bình Thành Tây)

3.240 - 3.600

V.Biétríe&Cie

18

Nguyen Van Cuong (Tấn Đức)

2.880 - 3.600

25 - 27

V.Biétríe&Cie

19

Nguyen Phuoc Doi (Tân Phú)

3.600

25 - 27

Ruston Hornsby

101

Nguồn : [57, tr.143]

Trong khi đó, năm 1924, tỉnh Châu Đốc có 2 nhà máy xay của người Hoa

(HOCTHIAI và CHAU BA HIEN), nhưng đã ngưng hoạt động hơn một năm do mất

mùa lúa [57, tr.144].

Dưới chính quyền Sài Gòn, công nghiệp An Giang có bước phát triển do chính

quyền lập ra các Trung tâm khuếch trương kỹ nghệ và Trung tâm khuếch trương tiểu

thủ công nghệ để hỗ trợ các công thương kỹ nghệ gia về vốn, kỹ thuật, thị trường tiêu

thụ. Năm 1959 An Giang có 78 nhà máy xay lúa [82, tr.42], đến 1972 ở An Giang

(không tính tỉnh Châu Đốc) có 102 nhà máy xay lúa.

Sau năm 1975, công nghiệp xay xát gạo ở An Giang có tốc độ phát triển

nhanh. Đến năm 1997, An Giang có 938 cơ sở xay lúa gạo, năng lực xay xát của các

nhà máy là 1.130.000 tấn gạo [79, tr.480]. Có nơi các nhà máy xay xát phát triển thành

cụm như huyện Chợ Mới có các cụm xã Hoà Bình - Hoà An với hơn 40 nhà máy xay

xát, cụm Long Điền A với 12 nhà máy, cụm Long Kiến - Long Điền B với 13 nhà máy;

huyện Phú Tân có cụm xã Long Sơn - Phú Lâm với 21 nhà máy; huyện Tân Châu có

cụm xã Long An - Tân An với 15 nhà máy; huyện Châu Thành có cụm thị trấn An

102

Châu - An Hoà với 7 nhà máy,… Trên 90% nhà máy xay xát nằm trên sông Tiền, sông

Hậu thuận lợi cho việc vận chuyển lúa gạo.

Bên cạnh công nghiệp xay xát, do nhu cầu xuất khẩu gạo chất lượng cao, công

nghiệp lau bóng gạo ở An Giang cũng phát triển trong những năm 90 trở lại đây. Năm

1997, An Giang có 201 máy lau bóng gạo, công suất 1,1 triệu tấn gạo,… Các nhà máy

lau bóng tập trung chủ yếu ở thành phố Long Xuyên, huyện Chợ Mới, Phú Tân, Châu

Thành, Châu Phú. Dây truyền thiết bị của các nhà máy xay xát, lau bóng gạo ở An

Giang hiện đại nên sản phẩm gạo đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu.

2.3.2. Khai thác đá, cát

Do điều kiện tự nhiên, An Giang có đồi núi nên có một ít khoáng sản thiên

nhiên, tập trung ở huyện Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên, thị xã Châu Đốc, chủ yếu là

đá hoa cương (granít) mà đa số là các mỏ lộ thiên.

Trước cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, chính quyền thực dân nắm hoạt

động khai thác đá để thu thuế. Trực tiếp khai thác là tư nhân người Việt. Phương tiện

khai thác rất thô sơ chủ yếu là cuốc, xẻng, vận chuyển bằng xe bò. Sang cuộc khai thác

thuộc địa lần thứ hai, ở núi Sam (Châu Đốc) có sự xuất hiện của tư bản phương Tây là

Công ty Bro Dupont và Gregori với những máy nghiền đá công suất lớn. Trong tỉnh có 15 chủ mỏ, thì 2 chủ mỏ là người Pháp. Sản lượng khai thác đá năm 1926 là 9.244m3, năm 1928 là 18.216m3 [79, tr.477].

Đá, cát khai thác ở núi Sam, núi Sập, núi Chóc chủ yếu đáp ứng nhu cầu trong

xây dựng. Thị trường tiêu thụ ở Long Xuyên, Châu Đốc, Cần Thơ, Rạch Giá, Trà Vinh,

Sóc Trăng, Sa Đéc, Bạc Liêu,…

Nhìn chung, thực dân Pháp không quan tâm lắm đến việc khai thác mỏ ở An

Giang bởi lẽ các khoáng sản không xuất khẩu ra nước ngoài, mà chủ yếu sử dụng tại

địa phương.

103

Dưới chính quyền Sài Gòn, đá, cát được tiếp tục khai thác ở núi Sập, núi Sam. Năm 1960, núi Sập có 13 chủ khai thác hầm đá, với sản lượng 5.800m3 đá và 80m3 cát mỗi tháng; ở núi Sam có 42 chủ khai thác với sản lượng 4.100m3 đá mỗi tháng và đá ở

núi Sam xấu hơn đá ở núi Sập [82, tr.49]. Năm 1961, cả tỉnh có 3 máy xay đá [82, tr.42]. Hàng năm, Chính phủ tiêu thụ khoảng 10.000 m3 đá để làm đường. Năm 1962, đã cho xuất tỉnh 10.800 m3 đá.

Nhằm mục đích đẩy mạnh việc khai thác đá ở núi Sập để cung ứng cho các

tỉnh miền Tây, năm 1967, Chính phủ Mỹ viện trợ 1,8 triệu USD để trang bị thêm các máy xay đá, sản lượng khai thác hàng tháng khoảng 60.000 m3.

Sau năm 1975, việc khai thác đá, cát xây dựng tiếp tục duy trì và phát triển.

Năm 1997, sản lượng 1,139 triệu tấn do nhiều doanh nghiệp nhà nước tham gia khai

thác đá, tập trung chủ yếu ở Tri Tôn, Tịnh Biên, Thoại Sơn và thị xã Châu Đốc. Sử

dụng thiết bị khai thác của Liên Xô cũ, chưa đồng bộ, lao động thủ công vẫn chiếm

20%. Thị trường tiêu thụ trong tỉnh chiếm khoảng 40%, còn lại tiêu thụ ngoài tỉnh.

Bên cạnh đó còn có một số mỏ đá granit dùng để chế biến đá ốp lát như mỏ đá

granite đông nam núi Cấm (Tịnh Biên). Đá granite vùng Tri Tôn, Tịnh Biên có màu

sắc phong phú, rất thích hợp cho việc trang trí nội thất và xuất khẩu. Mỗi năm khai thác khoảng 10.000m3 đá ốp lát và thị trường tiêu thụ trong tỉnh 35% , ngoài tỉnh 65%.

2.3.3. Chế biến sản phẩm đông lạnh

Thuỷ sản là thế mạnh thứ hai sau cây lúa nên chế biến thuỷ sản đông lạnh là

ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh An Giang. Giá trị công nghiệp chế biến thuỷ sản

đông lạnh chiếm 35% giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp.

Năm 1999, toàn tỉnh có 2 nhà máy chế biến thuỷ sản đông lạnh, với công xuất

6.000 tấn/năm. Nguồn nguyên liệu chính là cá, tôm, mực,… trong đó nguyên liệu cá

trong tỉnh chiếm 90%, chủ yếu là cá ba sa. Năm 1995, sản phẩm đông lạnh của 2 nhà

máy đạt 5.154 tấn tăng lên 6.392 năm 1997, trong đó có 2.964 tấn cá ba sa phi - lê, 822

104

tấn tôm, 2.606 tấn mực, chả thát lát và các loại thuỷ sản khác. Sản phẩm thủy sản đông

lạnh không những tiêu thụ trong nước mà còn xuất khẩu mạnh ra nước ngoài.

Bên cạnh đó, việc chế biến rau quả đông lạnh ngày càng phát triển. Tỉnh có 1

nhà máy chế biến nông sản rau quả đông lạnh xuất khẩu ở Bình Đức (thành phố Long

Xuyên) với công suất 3.000 tấn. Nguyên liệu chính là bắp thu mua non, đậu nành rau,

khoai môn, đậu bắp,… chủ yếu được trồng trong tỉnh. Năm 1984, nhà máy sản xuất

được 800 tấn thành phẩm, tăng lên 2.000 tấn vào năm 1997. Thị trường tiêu thụ không

chỉ trong nước mà còn xuất khẩu nước ngoài như Mỹ, Canada, Úc, Hồng Kông, Nhật

Bản, Đài Loan,… Chính sự phát triển của công nghiệp chế biến rau quả đông lạnh của

tỉnh đã góp phần thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở nông thôn An

Giang.

2.3.4. Các ngành công nghiệp khác

2.3.4.1. Chế biến thức ăn gia súc

Đây là ngành công nghiệp phục vụ thiết thực cho sự phát triển ngành chăn

nuôi, thủy sản. Năm 1971, nhà máy thức ăn gia súc được thành lập tại xã Mỹ Thới,

quận Châu Thành (nay thuộc phường Mỹ Thạnh, thành phố Long Xuyên) với công suất

50 tấn thức ăn gia súc/ngày, đáp ứng nhu cầu chăn nuôi gia súc, gia cầm cho các tỉnh

miền Tây Nam Bộ. Đây là nhà máy có trang thiết bị hiện đại nhất và quy mô lớn nhất ở

Đồng bằng sông Cửu Long lúc bấy giờ.

Sau năm 1975, nhà máy thức ăn gia súc trực thuộc Công ty Afiex có công suất

10.000 tấn; sản lượng thức ăn gia súc năm 1986 là 3.427 tấn/năm lên 17.591 tấn vào

năm 1999 [8, tr.156]. Ngoài dây chuyền chế biến thức ăn gia súc bán tự động có công

suất 1,5 tấn/giờ của Hà Lan vào năm 1995, đến năm 1998, Công ty Afiex tiếp tục đầu

tư dây chuyền chế biến thức ăn gia súc tự động và hiện đại theo công nghệ Hà Lan với

công suất 10 tấn/giờ.

105

Sản phẩm thức ăn gia súc khá đa dạng phục vụ cho chăn nuôi heo, gà, vịt,

cá… Sản phẩm chủ yếu tiêu thụ trong tỉnh và các tỉnh lân cận như Bạc Liêu, Sóc

Trăng, Vĩnh Long,…

2.3.4.2. Sản xuất nước đá

Trước năm 1975, việc sản xuất nước đá còn hạn chế, chủ yếu là phục vụ nhu

cầu sinh hoạt đời sống hàng ngày của nhân dân. Năm 1955, toàn tỉnh có 2 hãng sản

xuất nước đá (1 ở Long Phú, 1 ở Châu Phú), khối lượng sản xuất 2.700 kg/ngày [81,

tr.10]. Tuy nhiên, từ sau năm 1960, số lượng hãng nước đá ở An Giang (chưa tính tỉnh

Châu Đốc) tăng lên nhanh chóng: Năm 1961 có 12 hãng tăng lên 17 hãng vào năm

1971 [86, tr.45].

Từ năm 1989, ngành sản xuất nước đá phát triển khá nhanh. Đến năm 1997,

An Giang có 138 nhà máy sản xuất nước đá ở rộng khắp các huyện, thị xã, thành phố

trong tỉnh, tập trung nhiều nhất ở thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc và huyện

Tân Châu, với sản lượng nước đá là 2.083 tấn/ngày.

Hầu hết các nhà máy nước đá đều sử dụng nguồn nước sông, nên chất lượng

nước đá phần nào bị ảnh hưởng bởi nước sông vào mùa lũ. Sản phẩm nước đá chủ yếu

phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong tỉnh.

2.3.4.3. Cơ khí

Trước năm 1975, công nghiệp cơ khí An Giang còn chế, chủ yếu là các xưởng

sửa chữa, hàn điện, tiện kim loại. Năm 1955, Long Xuyên có 7 xưởng sửa chữa cơ khí;

số này tăng lên 23 xưởng vào năm 1966 (chưa tính tỉnh Châu Đốc) [84, tr.35]

Sau năm 1986, công nghiệp cơ khí An Giang có bước phát triển, tạo ra nhiều

sản phẩm đa dạng, kịp thời đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc

biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp. Năm 1999, toàn tỉnh có 2.525 cơ sở cơ khí, sử dụng

8.453 lao động; trong đó Công ty cơ khí An Giang là đơn vị hoạt động có quy mô lớn

nhất.

106

Các cơ sở sản xuất, sửa chữa cơ khí tập trung theo cụm như cụm kỹ nghệ sắt

Bà Khen; cụm cơ sở sản xuất cửa sắt, khung nhà tiền chế, sửa chữa ô tô máy kéo, sửa

chữa đóng mới các thùng suốt ở Rạch Gòi Lớn; cụm sản xuất lưỡi câu ở Mỹ Khánh

(thành phố Long Xuyên); cụm sửa chữa cơ khí Bình Mỹ; cụm sản xuất cân heo ở Cái

Dầu (huyện Châu Phú); cụm sản xuất nông cụ cầm tay ở Phú Mỹ (huyện Phú Tân),…

Các sản phẩm nổi tiếng của cơ khí An Giang là máy suốt lúa Rạch Gòi Lớn;

máy gặt xếp dãy, máy sấy lúa, bồn chứa nguyên liệu; cầu sắt nông thôn của Công ty cơ

khí An Giang; dàn xới của cơ khí Chợ Mới; len, thùng, cuốc của cơ sở cơ khí Bà Khen;

dao, búa, lưỡi hái của các lò rèn ở Phú Tân,… Các sản phẩm cơ khí An Giang được

tiêu thụ trong tỉnh và các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Ngoài ra, An Giang còn có các ngành công nghiệp sản xuất nước ngọt, nước

giải khát với 50.000 chai nước ngọt mỗi ngày, sữa đậu nành 800.000 lít/năm vào năm

1997; công nghiệp sản xuất xi măng đạt 91.600 tấn năm 1999; công nghiệp bánh kẹo

với sản lượng 1.697 tấn năm 1999 [8, tr.156-157]; công nghiệp may và công nghiệp

sản xuất da giày cũng rất phát triển.

Tóm lại, về sản xuất công nghiệp, dưới triều Nguyễn, do chính sách ‘‘trọng

nông’’ nên công nghiệp An Giang hầu như không có. Sang những năm đầu thế kỷ XX,

do tác động của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, công nghiệp An

Giang có những biến đổi nhưng vẫn còn mang dáng dấp của những ngành nghề tiểu thủ

công nghiệp được cơ giới hóa bằng máy móc một số khâu như công nghiệp xay xát lúa

gạo, khai thác đá, sản xuất nước đá và chưng cất rượu đóng chai. Đến chính quyền Sài

Gòn (1954 - 1975), công nghiệp An Giang có bước phát triển, do Nhà nước lập ra các

Trung tâm khuếch trương kỹ nghệ và Trung tâm khuếch trương tiểu công nghệ để hỗ

trợ cho các công thương kỹ nghệ gia về vốn, kỹ thuật, thị trường tiêu thụ sản phẩm. Số

lượng nhà máy xay lúa, nhà máy nước đá, xưởng nước mắm,... tăng lên nhanh chóng

107

và nhiều nhà máy lớn ra đời như nhà máy chế biến thức ăn gia súc ở Mỹ Thới, nhà máy

chế biến rác ở Bình Đức,... Từ năm 1975 - 2000, các ngành công nghiệp mũi nhọn ở

An Giang là công nghiệp xay xát chế biến gạo xuất khẩu, công nghiệp chế biến nông

thủy sản đông lạnh xuất khẩu, công nghiệp khai thác mỏ và sản xuất vật liệu xây dựng.

Ngoài ra, công nghiệp cơ khí, công nghiệp chế biến gỗ lâm sản, công nghiệp dệt,

may,... tuy có bước phát triển nhưng còn chậm. Nguyên nhân là do trình độ kỹ thuật

sản xuất và công nghệ còn lạc hậu, thiếu đồng bộ, năng suất lao động còn thấp và tỉnh

chưa hình thành được các khu công nghiệp tập trung.

2.4. Thuỷ sản

2.4.1. Khai thác đánh bắt thuỷ sản

Trong các thế kỷ XVII - XIX, việc đánh bắt thuỷ sản diễn ra tự phát trong ngư

dân và tập trung chủ yếu vào đánh bắt nguồn lợi thủy sản thiên nhiên. Các phương tiện

đánh bắt rất đa dạng như làm đáy, vó gạt, vó càng, cào, dớn, lờ, lợp, câu, đăng, lưới

kéo, chà,… Sản phẩm thủy sản đánh bắt được chủ yếu phục vụ trong sinh hoạt đời

sống hàng ngày, đồng thời còn là hàng hóa để trao đổi và buôn bán.

Theo Thái Văn Kiểm, ở An Giang lúc bấy giờ “có 93 loài cá, tôm, cua đang

chen chúc bơi lội trên sông rạch như cá bống, cá rô, cá lóc, cá trê, cá dày tho, cá sặc

điệp, cá sặc bườm, cá bả trầu, cá vược, cá chẻm, cá sủ, cá duồng (tức cá bay), cá cốc,

cá cày, cá tra sóc, cá chày, cá hô, cá ngựa, cá phèn, cá long tong đá, cá lòng tong bay,

cá he, cá mè, cá dãnh, cá ét, cá mại, cá lành canh, cá linh, cá trao trảo, cá rằm, cá thiểu,

cá hồng vện, cá lìm kìm, cá mang giổ, cá nhái, cá trạch lấu, cá chạnh lá trẹ, cá nóc, cá

nanh heo, cá ong, cá cơm mườm, cá rô biển, cá tra lóp, cá tra bầu, cá tra dầu, cá vồ

đém, cá vồ chó, cá vồ cờ, cá tra hú, cá soát, cá dứa, cá lăng, cá ngát, cá chốc chuộc, cá

chốc giấy, cá chốt bông, cá chốt sọc, cá sơn, cá út, cá đuối, cá nhám, cá lưỡi trâu, cá

bống tượng, cá bống các, cá bống mọi, cá thu, cá leo, cá kết, cá trèn bàu, cá ốp, cá mòi,

108

cá rựa, cá hẹ, cá mồng gà, cá giải áo, cá còm, cá nàng hai, cá thát lát. Tôm tép cùng

không thiếu chi : tôm càng, tôm lóng, tôm lứa, tôm đất, tôm châu, tép muối, tép rong

[35, tr.63].

Sang đầu thế kỷ XX, đánh bắt nguồn lợi thủy sản thiên nhiên là nghề rất phổ

biến trong dân. Năm 1905, tỉnh Châu Đốc có 8.470 người hoạt động nghề cá. Phương

tiện đánh bắt rất thô sơ như lưới, câu, đăng, đó bằng tre. Ở Long Xuyên, Châu Đốc đã

có nghề nuôi thả cá trong các nhà lồng trên sông hoặc nuôi trong ao, hồ nhưng phải

chịu sự kiểm soát của chính quyền thực dân. Phần lớn cá nuôi và đánh bắt ở tỉnh Long

Xuyên, Châu Đốc dưới thời Pháp thuộc đều xuất khẩu sang Trung Quốc, Singapore.

Chỉ riêng tỉnh Châu Đốc, mỗi năm đã xuất được khoảng 1.281 tấn cá tươi, 439 tấn cá

khô và 213 tấn cá muối. Cá được đánh bắt rất đa dạng về chủng loại, “có ít nhất 82 loại

cá” [79, tr.443] nước ngọt. Song, do việc đánh bắt khai thác là chủ yếu, nên nguồn lợi

thủy sản ngày một giảm dần. Ngày 20 - 8 - 1908, Toàn quyền Đông Dương nghiêm

cấm việc đánh bắt thủy sản bằng thuốc nổ.

Từ những năm 1940 trở đi, thực dân Pháp quan tâm đến ngành thủy sản, nghề

nuôi cá nước ngọt bắt đầu phổ biến rộng rãi, trong đó cá tra được nuôi thông dụng nhất.

Để chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về giống cá và kỹ thuật nuôi, năm 1965, Ty

Thủy sản An Giang được thành lập. Năm 1966, Trại thực nghiệm và ươn giống cá ra

đời, đặt tại Mỹ Thới (nay thuộc thành phố Long Xuyên) nhằm huấn luyện nông dân về

kỹ thuật nuôi, về giống, lưới, thức ăn, kỹ thuật xây ao,…

Năm 1966, tỉnh An Giang (không tính Châu Đốc) có 4.376 ngư dân sử dụng

2.385 thuyền đánh cá và sản xuất được 8.829 tấn cá tôm, đến năm 1967 số lượng sản

xuất tăng lên 8.954 tấn [84, tr.38]. Năm 1970 - 1972, sản lượng thuỷ sản An Giang

(chưa tính tỉnh Châu Đốc) trên dưới 8.500 tấn, trong đó năm 1971 cá đồng 7.670 tấn,

tôm 837 tấn [86, tr.49]. Số lượng ao hồ nuôi cá thời kỳ này tăng, năm 1970 có 4.513 ao

thì năm 1972 có 5.623 ao được dùng để nuôi cá [86, tr.50].

109

Năm 1984, An Giang có 189 lưới đáy, 39 lưới giựt, 128 vó gạt, 2.300 vó càng,

1.855 đóng chà, hơn 50.000 lờ, lợp, đăng ven, đăng đồng và hơn 50.000 các loại ngư

cụ khác như chài, lưới, giăng câu, cào… Sản lượng khai thác thủy sản giảm dần theo

hàng năm, năm 1993 là 89.834 tấn và đến năm 1999 chỉ còn 72.023 tấn [8, tr.125]. Đó

là cảnh báo về sự suy thoái nguồn lợi thuỷ sản của tỉnh An Giang.

2.4.2 Nuôi trồng thuỷ sản

2.4.2.1. Nghề nuôi cá bè

Nghề nuôi cá bè từ Campuchia du nhập vào An Giang năm 1968, bởi những

người Việt ở Campuchia sơ tán về Việt Nam. Trước năm 1974, nghề nuôi cá bè phát

triển mạnh, toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 10.000 bè thì Châu Đốc

chiếm 7.250 bè và sản lượng khoảng 42.000 tấn, bình quân 6 tấn/bè. Lúc đầu, bè cá

được làm bằng tre, nhưng đến đầu năm 1970 hầu hết các bè đều làm bằng gỗ.

Sau năm 1975, nghề nuôi cá bè giảm mạnh do ảnh hưởng của chiến tranh biên

giới Tây Nam, mùa lũ lớn năm 1978 và đặc biệt là do tác động của cơ chế chính sách

chưa phù hợp. Đến năm 1980, tình hình biên giới từng bước ổn định và Nhà nước ban

hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển thuỷ sản, số lượng bè tăng dần từ 600

bè lên đến 800 bè, với sản lượng hàng năm 7.000 - 8.000 tấn.

Năm 1986, với chính sách mở cửa và sự năng động của các doanh nghiệp chế

biến thủy sản trong tỉnh, mặt hàng cá ba sa An Giang được xuất khẩu sang Úc, Hồng

Kông, Singapore. Tiếp theo đó, việc xây dựng nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh An

Giang vào năm 1993 đã tạo điều kiện cho nghề nuôi cá bè phát triển. Song, việc nuôi

cá bè lúc này còn mang tính tự phát, con giống hoàn toàn lệ thuộc vào thiên nhiên.

Năm 1993 - 1996, nghề nuôi cá bè ở An Giang bước vào giai đoạn phát triển

hưng thịnh. Năm 1993, số lượng bè là 1.469 cái, tăng lên đến 2.503 cái vào năm 1996;

và sản lượng cá nuôi bè từ 17.000 tấn, tăng lên 25.903 tấn. Nhưng bước sang năm

1997, nghề nuôi cá bè lại một phen lận đận, số bè ở mức trên dưới 3.000 cái, với sản

110

lượng 40.000 tấn. Nguyên nhân là do mất cân đối trong sản xuất, giá cá giảm xuống

quá thấp.

Nghề nuôi cá bè có bước thăng trầm là do vấn đề con giống. Trước năm 1990,

con giống được khai thác trong tự nhiên bằng cách câu, mùa khai thác vào tháng 8 - 10

hàng năm. Cỡ cá câu được khoảng 100 - 200 con/kg. Từ năm 1991 trở đi, chương trình

nghiên cứu cá ba sa sinh sản nhân tạo thành công, với việc cung cấp hơn 100 triệu con

cá bột/năm, đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nghề nuôi cá bè.

2.4.2.2. Nghề nuôi cá ao hầm và nuôi tôm càng xanh

Nghề nuôi cá ao hầm là nghề có truyền thống lâu đời của ngư dân An Giang.

Từ nhu cầu cải thiện cuộc sống, người ta đào ao hầm nuôi cá; mặt khác trong quá trình

đào đất tôn nền nhà đã hình thành ao nuôi cá. Diện tích ao hầm từ 288 ha năm 1993 lên

đến 1.038 ha năm 1999 [8, tr.125].

Cá nuôi trong hầm gồm nhiều loại như cá tra, cá mè vinh, cá bóng tượng, cá

lóc, cá rô phi, các sặc bổi, cá tai tượng,… trong đó cá tra được nuôi phổ biến nhất trong

ao hầm ở An Giang

Bên cạnh đó, ở An Giang nghề nuôi tôm càng xanh cũng phát triển vào những

năm 1987 - 1992. Diện tích nuôi tôm năm 1988 là 390 ha, chủ yếu là nuôi tôm trong

ruộng lúa và nuôi tôm bằng cách đăng quầng ở các bãi bồi ven sông rạch thuộc huyện

Chợ Mới, Phú Tân, Long Xuyên. Tuy nhiên, từ năm 1993 - 1998, nghề nuôi tôm càng

xanh ở An Giang giảm sút nghiêm trọng, chỉ còn lại vài ha mỗi năm. Nguyên nhân chủ

yếu là do nuôi tôm không có lời, nên trong thời gian này nông dân chuyển sang nuôi cá

tra, ba sa có lời hơn.

Tóm lại, đặc điểm khí hậu thủy văn An Giang rất thuận lợi cho việc phát triển

tài nguyên thủy sản. Trước thời Pháp thuộc, hoạt động ngư nghiệp chủ yếu là tự phát

của ngư dân và phần lớn là đánh bắt khai thác nguồn lợi thủy sản thiên nhiên. Dưới

111

2.5. Thương nghiệp

2.5.1. Hoạt động thương nghiệp

2.5.1.1. Nội thương

Dưới triều Nguyễn, hoạt động nội thương ở An Giang rất hạn chế, một phần là

do triều Nguyễn thực hiện nhất quán chính sách “trọng nông, ức thương”. Ở An Giang,

các trung tâm thương mại chưa được hình thành. Theo Đại Nam nhất thống chí, giữa

thế kỷ XIX, Nam Kỳ lục tỉnh có 93 chợ lớn nhỏ, trong đó An Giang có 12 chợ. Theo

ranh giới hành chính hiện nay, trong 12 chợ thì An Giang “chỉ có 1 chợ : Tú Điền

thuộc huyện Đông Xuyên (nay là Chợ Thủ ở xã Long Điền A, huyện Chợ Mới) [60,

tr.223]. Hàng hoá sản xuất theo thời vụ thường để tiêu dùng tại chỗ hoặc trao đổi với

các vùng lân cận, tầng lớp thương nhân chuyên nghiệp xuất hiện chưa nhiều, đa số là

những người buôn bán nhỏ lấy công làm lời.

Hàng hoá lúc bấy giờ chủ yếu nông thổ sản. Theo Đại Nam nhất thống chí, An

Giang có trên 10 nhóm chính: “Lúa, đậu, dưa, rau, quả, cây gỗ, trúc, cá…” [60, tr.131].

112

Mặt khác, sự phát triển của thủ công nghiệp đã tạo thêm nhiều hàng hoá nổi

tiếng như tằm tơ, đồ gốm,…. Tại Tân Châu “đã hình thành một chợ buôn bán tơ tằm

tấp nập với đủ các loại tầu thuyền ra vào bến chợ. Tân Châu và các vùng lân cận thực

sự trở thành một trung tâm tằm tơ có tiếng ở Nam Kỳ” [30, tr.27] và là đầu nối buôn

bán giữa Nam Kỳ với Campuchia qua đường thuỷ sông Tiền. Chợ Châu Đốc nổi tiếng

với các loại cá, mắm, lâm sản. Vùng Bảy Núi đã cung cấp cho chợ này những hàng quý

hiếm như : giáng hương, cẩm lai, mễn, thỏ, nai, mật ong và các loại thuốc quý. Bên

cạnh đó, đồ gốm (chủ yếu nồi đất) ở Tri Tôn của người Khmer, với “sản phẩm làm ra

được các ghe chờ sẵn ở bến chở đi tiêu thụ ở các tỉnh lân cận và cả Sài Gòn - Chợ Lớn”

[79, tr.500].

Do đường bộ lúc bấy giờ chưa phát triển, nông dân phải gánh nông sản ra chợ

làng để bán và mua những vật dụng cần thiết cho gia đình. Thương nhân người Việt đa

số xuất thân từ nông dân và thợ thủ công. Họ vừa là người sản xuất, vừa là người kinh

doanh hàng hoá, nên thiếu tính chuyên nghiệp, hoạt động riêng lẻ trong buôn bán.

Trong khi đó, người Hoa mua bán nơi đông dân thị tứ, sau đó mua nhà phố mở tiệm

tạp hoá, mở rộng kinh doanh và tập trung về phố chợ dân cư đông đúc để độc chiếm thị

trường. Việc giao lưu hàng hoá chủ yếu bằng đường thuỷ, với các phương tiện thô sơ

như xuồng, ghe bằng sức người chèo chống.

Dưới triều Nguyễn, phương tiện thanh toán trong mua bán bằng tiền đồng và

tiền kẽm. Ngoài ra, còn có tiền vàng (kim tiền), tiền bạc (ngân tiền) thường do triều

đình dùng ban thưởng cho những người có công trạng nên không thông dụng trong

hoạt động kinh doanh mà chỉ dùng cho việc thanh toán lớn. Có ba loại đơn vị tiền tệ :

quan, tiền, đồng (1 quan = 10 tiền = 60 đồng).

Đầu thế kỷ XX, việc buôn bán được mở rộng. Ngoài 2 trung tâm Long Xuyên,

Châu Đốc, một số chợ tổng, huyện dọc trên các tuyến giao thông thuỷ, bộ được thành

lập và mở rộng (Châu Đốc có 9 chợ : Châu Phú, Tịnh Biên, Tân Châu, Cái Dầu, Trà

Dư, Hồng Ngự, Cái Mít, Phú An, Xoài Lơn; Long Xuyên có 11 chợ : Mỹ Phước, Lấp

113

Lúa gạo là hàng hoá chủ yếu. Trước năm 1930, việc thu mua lúa của người

Hoa rất chặt chẽ, với hệ thống đầu mối khắp đầu sông cuối rạch thu mua gom về

chành, vựa rồi chở lên Sài Gòn tiêu thụ. Theo Địa chí An Giang, “lúa từ Châu Đốc,

Bảy Núi, Bình Hoà, Núi Sập, chợ Long Xuyên chở bằng ghe chài gom về các nhà máy

ở Lấp Vò nằm bên bờ sông Hậu thuận lợi giao thông để xay ra gạo xuất khẩu chở tàu

kéo về Sài Gòn - Chợ Lớn” [79, tr.508]. Giá cả lên xuống là do diễn biến tình hình thị

trường bên ngoài. Thương nhân người Hoa độc quyền chi phối giá mua bán lúa gạo

nên hầu như lợi nhuận to lớn từ kinh doanh lúa gạo đều lọt vào tay họ.

Ngoài hàng hoá chính là lúa gạo, sản phẩm tơ tằm cũng được chú ý. Hàng

năm cả vùng Tân Châu sản xuất từ 4 - 6 tấn tơ cung ứng cho ngành dệt địa phương.

Rượu nếp nhãn hiệu Vĩnh Phong Long ở Châu Đốc, với hương vị ngon ngọt cũng nổi

tiếng khắp vùng, đủ sức cạnh tranh với rượu vang nhập từ Pháp.

Đá núi Sập, núi Sam và cát xây dựng được tiêu thụ khắp các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long. Năm 1926, giá bán đá từ 1,8 - 5,5 đồng/m3 tùy theo quy cách và chủng loại, cát 1 đồng/m3. Chi phí chuyên chở cũng rất cao do hệ thống sông ngòi, kênh rạch chưa thuận lợi, tốn nhiều thời gian như “giá cước vận chuyển 1m3 đá từ Núi Sập đến

Rạch Giá là 1,3 - 1,6 đồng, Long Xuyên 1,2 - 1,5 đồng, Cần Thơ 1,8 - 2,2 đồng, Sa

Đéc 1,8 - 2,2 đồng, Bạc Liêu 3,5 - 3,8 đồng, Trà Vinh 3,5 - 3,8 đồng, Sóc Trăng 2,2 -

2,9 đồng” [79, tr.502]. Ngoài ra, các sản phẩm truyền thống như đệm bàng, đá cát,

gạch ngói, mộc, rèn,… phát triển khá mạnh, không những đáp ứng nhu cầu trong tỉnh

mà còn bán ra các tỉnh xung quanh.

Phương tiện thanh toán là đồng bạc thương mại lưu hành cho cả 3 nước Đông

Dương do Cục Tiền tệ Paris xuất bản năm 1878 theo lệnh của Bộ Tài chánh Pháp. Bên

cạnh lưu hành đồng bạc Đông Dương, Pháp còn đúc nhiều loại tiền lẻ bằng bạc loại 10,

114

Dưới thời Pháp thuộc, cùng với sự phát triển hàng hoá, tầng lớp thương nhân

càng đông bao gồm người Pháp, người Việt, người Hoa, cả người Khmer và người

Chăm. Ở An Giang, thương nhân người Pháp nắm độc quyền mua bán một số mặt

hàng có giá trị như máy móc, động cơ điện, nguyên liệu, thuốc men và tham gia một

vài cửa hàng xăng dầu : “Cie Franco-Asiatique ở Mỹ Phước có sức chứa 170.000 lít,

Standard Oil ở Mỹ Phước có 1.000 thùng phi, Standard Oil ở Tân Đức (Cù lao Giêng)

có 1.000 thùng phi, Cie Franco - Asiatique Mỹ Luông có 1.000 thùng phi” [30, tr.121].

Trong giai đoạn đầu, thương nhân người Pháp vấp phải sự canh tranh của

thương nhân người Hoa đang chi phối thị trường lúa gạo sôi động thông qua mạng lưới

chân rết thu mua, tiêu thụ hàng hoá rộng khắp từ thành thị đến nông thôn. Nhưng từ

năm 1892 trở đi, với chính sách hàng rào quan thuế miễn thuế hoàn toàn hàng hoá

Pháp, còn hàng hoá nước ngoài phải đóng từ 23% đến 140% khi vào nước ta, hàng hoá

của Pháp tự do tràn ngập vào Việt Nam. Giữa thương nhân người Pháp và Hoa có sự

liên kết với nhau, cùng nhau ép giá nguyên liệu bản xứ và bán đắt hàng hoá chính quốc

đưa vào.

Còn thương nhân người Việt trong tỉnh chủ yếu là người buôn bán nhỏ, vốn ít.

Họ có mặt khắp nơi, mua hàng hoá từ chợ đầu mối, các hiệu buôn lớn mang về bán lại

kiếm đồng lời đủ sống qua ngày. Một bộ phận thương nhân người Việt còn sắm ghe

hàng tạp hoá len lỏi kênh rạch vào tận vùng sâu, vùng xa để mua bán. Một số người

Khmer cũng tham gia vào hoạt động kinh doanh, mua bán nhỏ, chủ yếu là hàng hoá

tiêu dùng. Thương nhân người Chăm thường kinh doanh các mặt hàng truyền thống do

họ sản xuất ra như hàng dệt tơ tằm, thổ cẩm.

115

Dưới chính quyền Sài Gòn (1954 - 1975), chợ Long Xuyên và Châu Đốc là hai

khu vực buôn bán sầm uất. Năm 1959, tỉnh An Giang có 61 chợ. Tuy nhiên, do dựa

vào nguồn viện trợ, sản xuất hàng hoá ở miền Nam nói chung, An Giang nói riêng bị

ngưng trệ, đình đốn. Hàng hoá chủ yếu là nhập từ nước ngoài như vải, đường, đồ kim

khí, hàng tiêu dùng, sắt thép, phân bón, thuốc trừ sâu, máy móc nông nghiệp,…

Trong vùng giải phóng, chợ búa cũng được thành lập, với tên gọi là “chợ Độc

Lập”. Các chợ nông thôn ở vùng giải phóng rất dồi dào hàng hoá nông sản nhưng rất

khan hiếm hàng hoá công nghiệp và tiêu dùng như vải, dầu lửa, xà bông, đường cát,

thuốc chữa bệnh,…

Sau năm 1975, cả nước bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cơ chế

quan liêu bao cấp đã kìm hãm lưu thông hàng hoá, hiện tượng “bán như cho, mua như

giật”, hiện tượng “ngăn sông cấm chợ” đã làm hạn chế hoạt động kinh doanh, gây ách

tắc trong lưu thông hàng hóa, kìm hãm phát triển sản xuất.

Đến năm 1986, cùng với cả nước, An Giang tiến hành công cuộc đổi mới cơ

chế quản lý từ kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, thực hiện

chính sách một giá, xóa bỏ các trạm kiểm soát. Hàng hóa được lưu thông, hệ thống chợ

phát triển đều khắp tận vùng sâu vùng xa. Do đó, nền sản xuất hàng hóa dần dần được

phục hồi, sức mua bán của dân cư trong tỉnh tăng dần. Theo kết quả điều tra của Cục

Thống kê, năm 1999, An Giang có 291 chợ và có 9 xã chưa có chợ như Vĩnh Ngươn,

Phú Hội, Vĩnh Trường, Vĩnh Hậu, Phú Lộc, An Nông, Núi Tô, An Tức, Bình Long.

Bình quân 100 hộ dân cư trong tỉnh đã có : 29 chiếc xe gắn máy (tăng 2 chiếc so với

1995), 47 chiếc ti vi (tăng 4 chiếc so với 1995), 21 chiếc đầu video, 4 chiếc radio

cassette, 5 điện thoại, 29 máy may [79, tr.514-499]. Có nhiều mặt hàng sản xuất trong

tỉnh phong phú như gạo, thuỷ sản đông lạnh, rau quả, hàng may mặc, xi măng, gạch

ngói, cát, đá,…

2.5.1.2 Ngoại thương

116

Vào cuối thế kỷ XVIII, An Giang vẫn còn là đất hẻo lánh, cách xa trung tâm

đô hội lớn, đất rộng, người thưa, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn, “nhất là vùng

Thất Sơn xa xôi, dân cư thưa thớt, nguồn lợi thương mại ít ỏi đến mức người Hoa háo

hức kinh doanh cũng không muốn dừng chân buôn bán” [79, tr.504]. Tuy nhiên, vùng

Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có tỉnh An Giang bắt đầu sản xuất được nhiều lúa

gạo, nên năm 1789 khi xảy ra nạn đói ở Xiêm thì “Nguyễn Ánh cho bán 8.800 phương

(264.000 lít) gạo cho người Xiêm” [38, tr.123].

Những năm đầu thế kỷ XIX, việc mua bán với bên ngoài ở An Giang còn hạn

chế do triều Nguyễn hạn chế mua bán với người nước ngoài thông qua chính sách “bế

quan, toả cảng”. Ở An Giang, sản phẩm nông nghiệp là mặt hàng chính đã được trao

đổi, bán cho các vùng lân cận và trở ra Trung, Bắc, đưa sang cả Chân Lạp (Cao Miên),

Singapor (Hạ Châu),... Theo Quốc triều chính biên toát yếu, “trong vùng Long Hồ, Sa

Đéc (trong đó có An Giang), lúa gạo dư nhiều nên tháng 8 năm 1817, vua Gia Long

cho đem bán sang xứ Chân Lạp (Cao Miên) 10.000 hộc lúa để cứu đói cho dân xứ này”

[29, tr.66]. Tuy chưa hình thành rõ nét, nhưng hoạt động ngoại thương ở An Giang

xuất hiện rất sớm. Mặc dù không nằm gần cửa biển để giao lưu buôn bán với nước

ngoài, song người Hoa có mặt ở đây đóng vai trò quan trọng trong việc thu mua các

nông sản để chuyển đi các nơi, kể cả bán cho tàu buôn nước ngoài.

Dưới thời Pháp thuộc, nền thương mại An Giang chủ yếu phục vụ yêu cầu tiêu

thụ hàng công nghiệp của Pháp, cung cấp nguyên liệu, thu gom lúa gạo xuất khẩu làm

giàu cho Pháp. Năm 1930, Pháp thu gom 14.040 tấn lúa tại chợ Long Xuyên (chỉ sau

Cần Thơ là 15.060 tấn). Toàn bộ hoạt động thương nghiệp đều nằm trong tay tư sản

người Pháp và người Hoa. Giá cả mua bán tùy thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị

trường, song thực chất đều do họ độc quyền lũng đoạn gây thiệt hại to lớn nền kinh tế.

Năm 1904, 1923 ở An Giang xảy ra nạn đói vì thiên tai lũ lụt, mất mùa.

Ngoài hàng hóa là lúa, thực dân Pháp rất quan tâm đến việc xuất khẩu tơ lụa

Tân Châu. Ngày 27 - 7- 1944, Thống đốc Nam Kỳ yêu cầu Chủ tỉnh Châu Đốc cung

117

Bên cạnh hàng hóa được xuất khẩu, hàng hóa của các nước phương Tây, mà

phần lớn là hàng tiêu dùng của Pháp cũng được nhập vào nước ta nói chung, An Giang

nói riêng. Từ mặt hàng xa xí phẩm như rượu, mỹ phẩm, thuốc lá cho đến những hàng

hóa thông thường như gạch ngói, tô, chảo, hộp quẹt, đèn cầy,… cũng được bán trong

tỉnh. Trâu bò cũng được thương lái Campuchia qua buôn bán với số lượng lên đến

hàng ngàn con mỗi năm. Mậu dịch biên giới giữa An Giang và Campuchia được Pháp

khuyến khích. Đáng chú ý nhất là việc nhập vải với số lượng lớn làm suy yếu ngành

dệt truyền thống của tỉnh.

Do độc quyền thương mại, các nhà tư bản Pháp cũng nhập một số máy móc từ

chính quốc như máy xay xát, máy cưa, máy kéo để tiêu thụ trên thị trường. Ở An Giang

có 19 nhà máy xay xát đủ các nhãn hiệu của các nước phương Tây [57, tr.143].

Một bộ phận thương nhân người Việt xuất thân từ tầng lớp trung nông. Họ có

ruộng vườn và ghe trọng tải vài ba tấn, xong mùa lúa thì chở hàng hoá của địa phương

sản xuất đi bán đường dài lên Sài Gòn, qua Hà Tiên, Campuchia và các tỉnh lân cận.

Khi về, họ mua hàng hoá ở nơi đó đem bán ở địa phương. Ở An Giang, dưới thời Pháp

thuộc “không thấy thương gia người Việt nào thuộc loại có tầm cỡ, mặc dù điền chủ

lớn chiếm hữu vài ngàn mẫu ruộng không phải là hiếm, người giàu cũng không phải là

ít” [79, tr.510]. Ngoài ra, nhờ việc mở cửa biên giới dưới thời Pháp thuộc, nhiều

thương nhân người Khmer có vốn và phương tiện chuyên chở qua Campuchia mua gỗ

quý, không những bán trong tỉnh mà còn tiêu thụ khắp Nam Kỳ

Dưới chính quyền Sài Gòn (1954 - 1975), hoạt động ngoại thương miền Nam

nói chung, An Giang nói riêng phát triển nhanh chóng, chủ yếu dựa vào nguồn viện trợ

118

Theo Địa phương chí An Giang năm 1963, năm 1962, tỉnh An Giang “xuất lên

Đô thành Sài Gòn và các tỉnh khác : 67.654 con heo, 27.782 con bò, 2.325 con trâu,

5.021 tấn cá đồng, 327 tấn khô cá, 152 tấn tôm tươi, 2.808 cá muối làm nước mắm,

57.734 tấn lúa, 10.818 tấn gạo, 795,540 tấn bắp, 1.265 tấn đậu xanh, 17.900kg khoai,...

Nhập từ Sài Gòn và các tỉnh khác về 1.889 tấn đường cát, 3.534.160 tấn vải, 9.867.430 lít xăng,…. Ngoài ra còn nhập ở Campuchia gỗ tròn các loại trên 2 triệu m3, mạt cưa

79,8 tấn, tre nhỏ 211 site, đòn tay 30 site” [83, tr.65-66-67].

Toàn bộ hoạt động kinh doanh đều do người Hoa và một số ít người Việt cấu

kết với các tướng lĩnh, sĩ quan, công chức cao cấp của chính quyền Sài Gòn độc quyền

thao túng thị trường. Họ nắm cả tiền, hàng và phương tiện vận tải. Theo Tờ trình của

Tỉnh trưởng Châu Đốc năm 1965, vào đến mùa vụ thu hoạch “có nhiều ghe chài lớn

trọng lượng từ 100 - 200 tấn từ Chợ Lớn đến Châu Đốc mua lúa chở về đô thành” [79,

tr.511].

Sau năm 1975, do chính sách bao vây cấm vận của Mỹ, hoạt động xuất nhập

khẩu của An Giang hầu như không đáng kể. Đến năm 1986, hoạt động xuất nhập khẩu

của tỉnh bắt đầu được đẩy mạnh. Nhiều mặt hàng sản xuất trong tỉnh đủ sức cạnh tranh

với các tỉnh bạn và xuất khẩu ngày càng tăng như gạo, thủy sản đông lạnh, rau quả,

may mặc, xi măng, gạch ngói… Kim ngạch xuất khẩu từ 20 triệu USD năm 1986, lên

122 triệu USD năm 1992 và lên đến 168 triệu USD năm 1997, với 2 mặt hàng chủ lực

gạo và thuỷ sản đông lạnh; mậu dịch buôn bán biên giới với Campuchia được mở rộng

qua cửa khẩu Tịnh Biên (huyện Tịnh Biên), Khánh Bình (thị trấn Long Bình, huyện An

Phú), Vĩnh Xương (huyện Tân Châu).

2.5.2. Các chợ tiêu biểu

2.5.2.1. Chợ Long Xuyên

119

Chợ Long Xuyên xưa có tên là Đông Xuyên. Năm 1818, Nguyễn Văn Thoại

cho đào kênh nối sông Đông Xuyên với Rạch Giá. Chợ Đông Xuyên sớm trở thành đầu

mối giao lưu hàng hoá.

Dưới thời Pháp thuộc, sau nhiều lần chỉnh trang xây dựng, chợ Long Xuyên

trở nên bề thế hơn, là đầu nối giao lưu hàng hoá trong tỉnh và các tỉnh lân cận, đặc biệt

thông thương trên tuyến biên giới Campuchia. Chợ có nhiều cửa hàng, tiệm tạp hoá của

người Hoa và người Việt. Hàng hoá bày bán trong chợ phong phú và đa dạng. Thực tế,

khi Pháp rời khỏi Long Xuyên thì ở đây “nhà cửa, phố xá hầu hết là nhà trệt cũ kỹ,

đường xá chật hẹp, luôn bị ngập lụt trong mùa nước lớn. Ngay cả trung tâm thành phố

chằng chịt những con kinh lớn nhỏ, ao vũng sình lầy, nơi có sậy đế mọc khỏi đầu” [48,

tr.43].

Dưới chính quyền Sài Gòn, chợ Long Xuyên được sửa chữa, mở rộng ; nhiều

“nhà, phố biệt thự đôi ba tầng mọc lên như nấm” [48, tr.44] và buôn bán ở đây rất sầm

uất. Trong đó, dưới dòng sông Hậu, chợ nổi Long Xuyên có rất nhiều ghe xuống hoạt

động buôn bán với đầy đủ các loại hàng hoá của các tỉnh lân cận đến trao đổi. Chợ

Long Xuyên lúc bấy giờ “trên bến dưới thuyền nhộn nhịp suốt ngày đêm” [79, tr.498].

Đến nay, qua nhiều lần chỉnh sửa, chợ Long Xuyên lớn rộng, đồ sộ, khang

trang, với đầy đủ các loại hàng hoá trong và ngoài nước.

2.5.3.2. Chợ Châu Đốc

Năm 1832, Châu Đốc là lỵ sở tỉnh An Giang, nơi viên quan Tổng đốc trú đóng

cai quản 2 tỉnh An Giang và Hà Tiên. Lúc đầu chợ chỉ là một bãi đất công cộng, quán

xá thưa thớt.

Năm 1876, Pháp cho mở nhà Dây thép (bưu điện) và xây dựng nhà lồng chợ

với bộ khung sắt tiền chế. Ngoài chợ nhà lồng, sát bờ sông còn có một chợ cá nhộn

nhịp suốt ngày đêm, đầu mối phân phối thuỷ sản tiêu thụ trong tỉnh Châu Đốc và cả

vùng.

120

Ngoài hàng hoá lương thực, nông sản phẩm, hàng thủ công mỹ nghệ do địa

phương sản xuất bày bán, chợ Châu Đốc còn có hàng hoá là sản phẩm từ rừng như gỗ

quí, nhung nai, mật ong, thú rừng,.. và những hàng hoá của Pháp, Trung Quốc do

thương nhân người Hoa chở đến như vải lụa, ruợu, đường, bột mì,… Từ khi thành lập

đến này, chợ Châu Đốc đã nhiều lần sửa chữa, chỉnh trang.

2.5.2.3. Chợ trâu bò Núi Sam

Chợ trâu bò Núi Sam thuộc xã Vĩnh Tế, quận Châu Phú (nay phường Núi

Sam, thị xã Châu Đốc) được thành lập vào ngày 5 - 1 - 1953 nhằm giải quyết tình trạng

thiếu hụt trâu bò canh tác cũng như khan hiếm thịt trầm trọng ở Đô thành Sài Gòn,

tránh nạn trộm cắp trâu bò và ngăn ngừa được bệnh truyền nhiễm gia súc không lan

trong xứ. Khi mới thành lập, chợ chỉ gồm một khu đất trống rộng khoảng 2 ha, trong

đó có mấy nếp nhà lợp tranh dùng cho trâu bò trú mưa nắng trong những ngày hội chợ

và một văn phòng nhỏ hẹp cho nhân viên thú y làm việc [82, tr.50].

Chợ họp đều đặn mỗi tháng 3 lần vào ngày 10, 20, 30. Trước vài ngày mở cửa

phiên chợ, nhiều bầy bò từ Campuchia được nhập vào nước ta, mỗi bầy từ 50 - 70 con.

Lưu lượng buôn bán mỗi tháng trung bình từ 1.000 - 1.500 con trâu bò và số thuế thu

mỗi con trung bình là 230,35 đồng.

Từ ngày thành lập đến ngày 30 - 9 - 1959, tổng số gia súc xuất cảng là 12.349

con trâu và 89.169 con bò và số thuế thu được là 26.275.429 đồng [80, tr.51]. Chợ

ngừng hoạt động và giải tán vào tháng 4 năm 1975.

2.5.2.4. Chợ Tân Châu.

Chợ Tân Châu được lập khá sớm so với các chợ ở Nam Bộ. Khi quận Tân

Châu được thành lập, một chợ lá đầu tiên được dựng lên bên bờ sông Tiền. Năm 1895

chợ lá này bị cháy. Năm 1897, Pháp đã tái thiết chợ lợp ngói, nền đúc nhằm xây dựng

Tân Châu thành trung tâm thương mại và kỹ nghệ của cả vùng. Nhưng “phố xá quanh

121

chợ rất ít, toàn phố trệt lợp ngói kém hơn phố lá. Còn đường sá thì đắp đất. Đến năm

1925 mới được trải đá, sau đó tráng nhựa, đường chưa có tên” [34, tr.47].

Năm 1961 - 1962, phố xá quanh chợ lần lượt được sửa sang. Năm 1964, chợ

Tân Châu có 502 cửa hàng mua bán, với 18 dãy phố chung quanh nhà lồng chợ.

Do bờ sông Tiền bị sạt lở, năm 1997, chợ Tân Châu được dời về phía đông

kênh Vĩnh An với diện tích 8,3 ha. Nhà lồng chợ được xây dựng khá quy mô và hiện

đại, với sức chứa 980 quầy sạp.

Tóm lại, dưới triều Nguyễn việc thực hiện chính sách “trọng nông ức

thương” đã dẫn đến coi thường nghề buôn. Hoạt động thương nghiệp ở An Giang rất

hạn chế. Các trung tâm thương mại chưa hình thành. Hàng hóa sản xuất theo thời vụ

chủ yếu là nông thổ sản để tiêu dùng tại chỗ hoặc trao đổi với các dùng lân cận. Nhưng

sau khi Pháp xâm chiếm, thị trường An Giang được nối liền với một số nước trên thế

giới, hàng hóa được vận chuyển qua Campuchia hoặc lên Sài Gòn. Thương nhân người

Hoa, Pháp giữ vai trò quan trọng trong hoạt động thương nghiệp ở An Giang, bên cạnh

đó còn có sự tham gia của người Khmer và người Chăm trong việc trao đổi và vận

chuyển một số mặt hàng. Còn người Việt đảm nhận việc bán lẻ, không tự quyết định

giá cả. Ngoài chợ Long Xuyên và Châu Đốc là 2 trung tâm thương mại lớn của tỉnh,

nhiều chợ mới dọc trên các tuyến giao thông thủy bộ được thành lập, một bộ phận nhân

lực trong lao động chuyển sang buôn bán hàng hóa Pháp và Trung Hoa tràn đầy. Một

số nghề thủ công nghiệp vì thế mà suy thoái, không cạnh trạnh lại hàng hóa của Pháp.

Tuy nhiên hoạt động thương mại dưới thời Pháp thuộc đã tạo ra một thị trường tiêu thụ

nông sản thực phẩm, một số máy móc được đưa vào các cơ sở sản xuất.

Dưới chính quyền Sài Gòn, thương mại An Giang phát triển nhanh chóng,

chủ yếu dựa vào nguồn viện trợ dồi dào từ bên ngoài. Chợ Long Xuyên và Châu Đốc

trở thành 2 trung tâm buôn bán sầm uất. Tuy nhiên, thực chất nền kinh tế miền Nam

122

2.6. Giao thông vận tải

2.6.1. Giao thông đường thuỷ

2.6.1.1. Hệ thống giao thông đường sông

Trong các thế kỷ XVII - XIX, khi lưu dân đặt chân đến khai phá vùng đất An

Giang, các dòng sông tự nhiên dần dần trở thành hệ thống giao thông đường thuỷ. Các

con kênh đào quan trọng không những mang tính chiến lược quân sự, mà còn là hệ

thống giao thông đường thuỷ thuận lợi như kênh Thoại Hà, Vĩnh Tế, Vĩnh An,...

Đầu thế kỷ XX, các con sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Nao, kênh Vĩnh Tế,

kênh Thoại Hà,… là hệ thống giao thông đường thuỷ rất quan trọng nối liền Long

Xuyên, Châu Đốc và các tỉnh lân cận. Năm 1905, tổng chiều dài các con kênh ở Long

Xuyên là 88,1 km, nhưng năm 1929 lên đến 667 km, tăng 578,9 km [30, tr.134].

Để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa lần hai, đặc biệt là vơ vét tài

nguyên nông, thuỷ sản, Pháp cho đào các con kênh nối với các vùng đất tiềm năng về

nông nghiệp : kênh Thần Nông (1916), Mặc Cần Dưng (1920), kênh Cái Sắn (1922),

kênh Xáng Vịnh Tre (1939), kênh Ba Thê, Tám Ngàn, kênh Tri Tôn, kênh Mướp

Văn,… Hệ thống các con kênh này vừa đưa nước ngọt phục vụ cho trồng trọt, vừa là hệ

thống đường thuỷ vận chuyển lúa, nông thuỷ sản từ vùng sâu ra các con sông lớn.

123

Từ năm 1954 - 1975, chính quyền Sài Gòn tập trung đào thêm các kênh cấp 3,

cấp 4 để phục vụ cho tưới tiêu sản xuất nông nghiệp và nạo vét các kênh, mương đã bồi

lắng, tạo điều kiện thuận lợi trong vận chuyển và đi lại. Từ tháng 7 - 1958 đến tháng 9 -

1959, đào mới thêm các kênh Hoà Bình Thạnh - Châu Thành (quận Châu Thành) dài

7,5 km, kênh Nhỏ mới - Núi Sập (quận Huệ Đức, nay là huyện Thoại Sơn) dài 4,5 km,

kênh Kiến An - Chợ Mới (quận Chợ Mới) dài 6,2 km, kênh Long Sơn - Tân Châu

(quận Tân Châu) dài 3 km và nạo vét kênh Bình Thạnh Đông (quận Châu Phú, nay

thuộc huyện Phú Tân) dài 22,3 km.

Sau năm 1975, hệ thống giao thông thuỷ, thuỷ lợi luôn được củng cố, tu sửa,

đào mới mạng lưới kênh tạo nguồn, kênh cấp 2, 3 đảm bảo cho rửa phèn, tưới tiêu phục

vụ cho việc chuyển trồng lúa từ 1 vụ sang 2 vụ, vận chuyển nông sản hàng hoá từ vùng

sâu, vùng xa trên địa bàn tỉnh được thuận lợi. Do trong 3 năm 1994, 1995, 1996, An

Giang bị lũ lụt tàn phá nặng nề; để hạn chế thiệt hại, vào năm 1997, Chính phủ đầu tư

đào mới thêm 3 con kênh T4, T5, T6, ngoài việc thoát lũ ra biển Tây, còn là đầu mối

giao thông quan trọng giữa Châu Đốc - Hà Tiên. Theo điều tra ngày 1 - 1 - 1998, An

Giang có “hệ thống giao thông đường thuỷ dài 1.884,6 km” [79, tr.525].

2.6.1.2. Phương tiện và hoạt động vận tải đường thuỷ

Vào thế kỷ XVII - XVIII, việc đi lại và vận chuyển hàng hoá chủ yếu bằng

ghe, xuồng. Ghe, xuồng không chỉ là phương tiện đi lại mà còn là phương tiện mưu

sinh cuộc sống hàng ngày, hầu hết người dân ở đây đều biết bơi xuồng, chèo ghe một

cách thành thạo.

Cuối thế kỷ XIX, khi hệ thống giao thông đường sông hình thành, trên các

tuyến đường sông đã xuất hiện hoạt động vận tải công cộng. Năm 1872, Công ty vận

tải Larri et Roque của Pháp đã mở 8 chiếc tàu chạy hàng tháng từ Sài Gòn - Mỹ Tho -

Vĩnh Long - Sa Đéc - Châu Đốc đến tận Phnôm Pênh và ngược lại để vận chuyển hành

124

khách và hàng tiêu dùng. Từ năm 1883, công ty tàu thuỷ phát triển mạnh ở Long

Xuyên, Châu Đốc. Đến 1898, tàu đã chạy theo các tuyến :

- Tuyến Phnôm Pênh : từ Sài Gòn - Gò Công - Mỹ Tho - Vĩnh Long - Sa

Đéc - Cái Tàu Thượng - Chợ Thủ - Chợ Mới - Tân Châu - Vĩnh Xương - Ba Nam -

Phnôm Pênh; mỗi tuần 3 chuyến vào thứ ba, năm và bảy; sản phẩm đưa về Sài Gòn chủ

yếu là lúa gạo, bò thịt của Campuchia.

- Tuyến miền Tây : từ Mỹ Tho - Vĩnh Long - Sa Đéc - Cù lao Giêng - Châu

Đốc - Long Xuyên - Cần Thơ - Trà Ôn - Sóc Trăng; mỗi tuần 3 chuyến vào thứ ba,

năm, bảy.

- Tuyến Hậu Giang : từ Ba Nam - Châu Đốc - Sóc Trăng - Đại Ngãi, mỗi

tuần 2 chuyến vào thứ ba và thứ sáu [46, tr.273-274].

Các chuyến tàu từ Sài Gòn đi Campuchia và các tỉnh đều có ghé qua Long

Xuyên, Châu Đốc, Tân Châu, Chợ Thủ,…

Đến năm 1929, xuất hiện tàu lớn của Công ty vận tải Đông Dương chuyên vận

chuyển hàng hoá khoáng sản từ núi Sam đem đi các tỉnh lân cận hoặc lên Chợ Lớn để

xây dựng.

Dưới chính quyền Sài Gòn, hoạt động giao thông đường thuỷ rất thịnh hành,

nhất là vận chuyển hàng hoá. Nhiều chủng loại máy được nhập từ nước ngoài như

Yanmar, Kubota, Noda,… thông dụng nhất là máy Kohler. Việc chở hàng hoá có ghe

chài, ghe chành đủ loại, chiếc lớn có trọng lượng chở từ 200 - 300 tấn.

Sau năm 1975, An Giang tiến hành cải tạo xoá bỏ hình thức sở hữu tư nhân

trong lĩnh vực giao thông vận tải, đồng thời tiến hành xây dựng mô hình quản lý với ba

thành phần : quốc doanh, công tư hợp doanh và hợp tác xã với 1.150 chiếc xà lan, ghe,

tàu chở hàng, 367 ghe, tàu chở khách và 112 tàu kéo. Năm 1987, tỉnh xây dựng cảng

Mỹ Thới và năm 1988 thành lập Công ty Vận tải Biển để vận chuyển hàng hoá giữa An

Giang và các nước trên thế giới. Đặc biệt đến năm 1999, An Giang có tàu thuỷ cao tốc

125

chạy tuyến đường Châu Đốc - Thành phố Hồ Chí Minh, mỗi tuần 2 chuyến, hàng

khách đi lại mua bán giữa An Giang và Thành phố Hồ Chí Minh thuận lợi hơn.

2.6.2. Giao thông đường bộ

2.6.2.1. Hệ thống giao thông đường bộ

Trong quá trình khai hoang, lập ấp, cư dân sinh sống và cất nhà ven các con

sông, kênh, rạch để ở. Họ sử dụng bờ sông, bờ kênh đi lại trở thành lối mòn. Nếu có

con đường bộ từ làng này sang làng nọ chỉ là những con đường men theo bờ ruộng, bờ

kênh và bờ sông. Sau khi đào kênh Vĩnh Tế xong, Thoại Ngọc Hầu cho đắp con đường

từ Châu Đốc đến núi Sam dài 3.893 mét, chân rộng 14,1 mét, cao 1,2 mét, trên đường

có bắc 4 cây cầu gỗ. Đây là con đường bộ được đắp đầu tiên của tỉnh An Giang.

Có thể nói, cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, hệ thống đường làng được

hình thành, gắn liền với những cây cầu làm bằng tre. Những con đường làng xã lên

huyện cũng được hình thành.

Khi mới xâm lược, mục đích của thực dân Pháp là khai thác tài nguyên.

Nhưng do đòi hỏi của việc khai thác cần phải có sự giao lưu giữa vùng này với vùng

khác, giữa Sài Gòn và các tỉnh, giữa các tỉnh và các quận với nhau, chính quyền thực

dân buộc phải xây dựng hệ thống giao thông. Lúc đầu, chính quyền thực dân chỉ chú

trọng mở các con đường bộ về hướng khu vực đồn điền, hầm mỏ, bến cảng hoặc những

vùng biên giới xa xôi. Tỉnh An Giang hội tụ đủ các đặc điểm nói trên buộc chính quyền

thực dân Pháp phải quan tâm đến xây dựng hệ thống giao thông trong tỉnh hoặc từ Sài

Gòn xuống Long Xuyên, Châu Đốc.

Đầu thế kỷ XX, công cuộc khẩn hoang lập đồn điền diễn ra mạnh mẽ, các đồn

điền ra đời, nhu cầu vận chuyển hàng hoá nông thổ sản càng cao, thực dân Pháp mới

bắt đầu xây dựng các con đường bộ ở An Giang. Tuy nhiên, năm 1893, hoàn thành con

lộ trải đá từ núi Sam đến Trà Sư và con lộ Châu Đốc - Tân Châu [46, tr.273]. Riêng lộ

Châu Đốc - Tân Châu, “vào năm 1903 có lụt to, nước cuốn mạnh, đường bị nứt phá

126

nhiều chặng, nhiều khúc, mãi đến năm 1926 mới xin tu bổ lại và đến năm 1929 thì mới

hoàn thành” [34, tr.131].

Năm 1902, chính quyền thực dân thấy rõ vị trí Châu Đốc đối với quốc phòng

và kinh tế, chúng cho khởi công 2 con đường từ Châu Đốc - Hà Tiên và từ Châu Đốc -

Long Xuyên. Nhưng “đường Châu Đốc - Hà Tiên khai thông trước, mãi đến 1925 thì

con đường Châu Đốc và Long Xuyên mới liên lạc về đường bộ” [46, tr.273].

Vào đầu thế kỷ XX, con đường Châu Đốc - Tịnh Biên dài 23 km cũng làm

xong, đoạn Châu Đốc - Trà Sư được rải đá. Còn ở vùng núi, cũng có một số tuyến

đường được khởi công vào năm 1902 nhưng còn dang dở như đường Trà Sư - Tri Tôn,

Trà Sư - Vĩnh Trung, đường Tịnh Biên - Tri Tôn.

Ở Long Xuyên, năm 1903, đường bộ Long Xuyên - Thốt Nốt được xây dựng

từ những con đường làng đứt đoạn nhiều khúc và đến năm 1912 nối tới Cần Thơ. Đến

năm l905, nhiều con đường khác trong tỉnh bắt đầu được khởi công nhằm mục đích vận

chuyển nhanh hàng hoá nông sản đến bến sông, bến tàu.

Năm 1905, toàn tỉnh Long Xuyên có 54,4 km đường bộ, trong đó chỉ có 6,6

km được lát đá, còn lại là đắp đất ven kênh rạch. Từ năm 1918 - 1929, hệ thống đường

làng có chiều dài là 166 km (đa số là đường đất).

Nhìn chung, trong cuộc khai thác thuộc địa lần nhất đã làm biến đổi hệ thống

giao thông đường bộ ở An Giang, một số tuyến đường giao thông quan trọng nối liền

các trung tâm kinh tế đã xây dựng. Nhiều cây cầu cũng được xây cất để bắc qua các

kênh rạch nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và vận chuyển hàng hoá. Trong

số đó có một số cầu tiêu biểu được xây dựng dưới thời Pháp thuộc :

- Cầu Levis (nhân dân địa phương gọi là cầu Quay, ngày nay có tên là cầu

Nguyễn Trung Trực, thuộc thành phố Long Xuyên): Cầu bắc qua con kênh nối liền

sông Hậu với rạch Long Xuyên, được đào dưới thời Pháp thuộc nhằm thoát lũ. Cầu

được khởi công vào năm 1897 và hoàn thành 1899, tổng chiều dài cây cầu là 35 mét,

127

rộng 2,84 mét được thiết kế theo kiểu cầu ‘‘Pont Levis’’. Do cây cầu được xây dựng

trên một con kênh mà mật độ giao thông đường thuỷ dày đặc bởi các tàu thuỷ của các

tập đoàn vận tải nước ngoài có trọng tải lớn, nên cây cầu được thiết kế độc đáo mà ít

cầu nào bì kịp về sự thuận tiện giao thông đường bộ lẫn đường thuỷ. Cầu có 2 nhịp

bằng thép đặt trên 2 trục móng bằng xi măng, chuyển động do bộ điều khiển cũng là

giá đỡ bằng thép nằm ở 2 bên móng cầu. Đến giờ quy định cho tàu bè qua lại lưu thông

ở dưới cầu thì toàn bộ 2 nhịp cầu được nhấc bổng lên theo phương thẳng đứng nhờ 2

bộ giá đỡ. Thông thường giờ qui định để lưu thông qua cầu một ngày ba lần vào buổi

sáng, buổi trưa và buổi tối. Khi các phương tiện thuỷ lưu thông xong, thì 2 nhịp cầu

được hạ xuống, việc lưu thông trên cầu trở lại bình thường. Sự tính toán kỹ thuật nâng

hạ của cây cầu thực ra không nằm ngoài mục đích đạt hiệu quả cao nhất trong khai thác

thuộc địa ở tỉnh. Nhưng đối với một vùng đất kênh rạch chằng chịt như các tỉnh miền

Tây thì sự xuất hiện những cây cầu rút nêu trên quả là rất thuận lợi cho lưu thông và

phát triển hàng hoá [30, tr.128]. Do cầu không đáp ứng lượng lưu thông xe cộ qua lại,

năm 1985, cầu được xây dựng lại bằng bê tông cốt thép và đưa vào sử dụng năm 1987.

- Cầu Henry : Cầu mang tên Chủ tỉnh Long Xuyên Henry nhiệm kỳ 1890 -

1894. Cầu có vị trí quan trọng, giúp việc lưu thông từ Long Xuyên đi Châu Đốc và các

huyện trong tỉnh. Cầu được thiết kế theo mẫu ‘‘Eiffel II’’ gồm 7 nhịp và hoàn toàn

được lắp ráp bằng những thanh thép định hình dễ tháo rời từng chi tiết khi bảo dưỡng

cầu hoặc thay thế mà không trở ngại việc lưu thông. Đến năm 1939, cầu được xây

dựng lại bằng bê tông cốt thép, có chiều dài 181 mét và sau này đặt tên là cầu Hoàng

Diệu cho đến ngày nay.

Ngoài ra, An Giang còn có hàng chục chiếc cầu được xây dựng trên các tuyến

đường nối Long Xuyên - Châu Đốc và các quận trong tỉnh. Trước năm 1918, ở Long

Xuyên có 24 cây cầu bằng thép kiểu Eiffel và 5 cây cầu bê tông thì từ năm 1918 đến

1929 đã có thêm 25 cây cầu sắt theo kiểu Eiffel, 38 cây cầu bê tông và 11 cây cầu gỗ

128

với tổng chiều dài 1.244 mét. Như vậy, đến năm 1929, tổng số cầu trong toàn tỉnh là

103 cây cầu và tổng chiều dài 2.162 mét [30, tr.131].

Dưới chính quyền Sài Gòn, hệ thống đường bộ quan trọng được chia thành 3

loại : đường Liên tỉnh, đường Hàng tỉnh, đường Hương lộ, đồng thời qui định lại lộ

trình và đổi tên một số con đường ở An Giang : “đường Liên tỉnh 8 từ bắc Vàm Cống

đến ranh hạt Rạch Giá dài 31,796 km (năm 1971 đổi thành đường Hàng tỉnh 80),

đường Liên tỉnh 9 từ bắc Vàm Cống - Lộ tẻ Bình Hoà - cầu sắt kênh Tri Tôn dài

54,327 km (năm 1971 đổi thành đường Hàng tỉnh 90), đường Liên tỉnh 10 từ ngã ba Lộ

tẻ Bình Hoà - Châu Đốc - biên giới Campuchia ở quận Tịnh Biên dài 69,713 km;

đường Hàng tỉnh gồm : đường Hàng tỉnh 23 từ Hội An - Mỹ Luông - thị trấn Chợ Mới

dài 23,179 km, Hàng tỉnh 48 từ Nhà Bàng - Tri Tôn dài 30,600 km, Hàng tỉnh 53 từ

bến đò Châu Giang - chợ Tân Châu dài 16,675 km, Hàng tỉnh 54 từ chợ Tân Châu -

Hoà Hảo dài 56,210 km, Hàng tỉnh 55 từ chợ Tịnh Biên qua Tri Tôn đến đụng đường

Hàng tỉnh số 48 dài 34 km; đường Hương lộ có : Hương lộ 4 từ rạch Cái Tàu (Hoà

Bình) - Long Kiến - thị trấn Chợ Mới - Kiến An dài 34,500 km, Hương lộ 6 từ chợ Bà

Vệ - Mỹ Luông dài 4,500 km, Hương lộ 1 từ Long Xuyên - Núi Sập - Ba Thê dài 42

km” [82, tr.55-59].

Từ tháng 7 - 1958 đến tháng 9 - 1959, chính quyền địa phương đắp các con

đường Mỹ Phước dài 1,65 km, Hoà Bình Thạnh - Châu Thành dài 7,5 km, đường Châu

Phú dài 1,2 km, sửa đường Núi Sập dài 12 km. Năm 1967, sửa 9,36 km con đường

Hàng lộ 23 thị trấn Chợ Mới - Hội An, sửa chữa 13 km Hương lộ 1 Long Xuyên - Núi

Sập,... Đến năm 1973, tổng chiều dài các con đường Liên tỉnh, Hàng tỉnh, Hương lộ là

224,5 km, trong đó đường trán nhựa có 84,13 km.

Bên cạnh đó, các con đường ở nông thôn tiếp tục được xây dựng và tu sửa,

chủ yếu là các con đường từ xã lên quận hoặc các xã với nhau. Nhưng do mặt đường

thấp, đất sình lầy nên mùa mưa lũ thì đường sá lầy lội, đi lại rất khó khăn.

129

Hệ thống cầu tiếp tục được duy tu, sửa chữa và xây dựng mới : cầu Cần Đăng

dài 12 mét, rộng 4 mét và các cây cầu ván Bình Đức, Khánh Hoà, Vĩnh Hậu.

Sau năm 1975, hệ thống giao thông đường bộ được tiếp quản từ chính quyền

Sài Gòn để lại đang xuống cấp nghiêm trọng. Theo thống kê năm 1975, tổng chiều dài

đường bộ của tỉnh là 554 km, trong đó có 156 km đường nhựa, đường đá 57 km, còn

lại 340 km đường đất. Năm 1990, Tỉnh lộ 944 từ bắc An Hoà - Cựu Hội - thị trấn Chợ

Mới được xây dựng hoàn thành và đưa vào sử dụng. Tính đến năm 1998, toàn tỉnh có

865 km đường bộ, trong đó có 349,2 km đường nhựa. Các con đường trọng yếu của

tỉnh có sự thay đổi tên gọi và lộ trình so với trước năm 1975.

Tên đường cũ Tên đường mới

Lộ trình

Chiều dài

Liên tỉnh 10 Quốc lộ 91 Cái Sắn - Tịnh Biên 91,6 km

Liên tỉnh 90 Tỉnh lộ 941 Bình Hòa - Tri Tôn 39,3 km

Hàng tỉnh 23 Tỉnh lộ 942 Hội An - Thuận Giang 28 km

Hàng tỉnh 48 Tỉnh lộ 948 Nhà Bàng - Tri Tôn 24 km

Hàng tỉnh 53 Tỉnh lộ 953 Châu Giang - Tân Châu 16,7 km

Hàng tỉnh 54 Tỉnh lộ 954 Năng Gù - Tân Châu 57 km

Hàng tỉnh 55 Tỉnh lộ 955 Tịnh Biên - Tri Tôn 34 km

Hương lộ 1 Tỉnh lộ 943 Long Xuyên-Thoại Giang-Tri Tôn 56,2 km

Nguồn : [79, tr.532]

Còn hệ thống cầu trước năm 1975 để lại cũng đã xuống cấp, nên tiếp tục được

tu sửa hoặc xây lại cầu mới. Trên Quốc lộ 91 có 25 cầu mới được xây dựng, tổng chiều

dài 1.985 mét như Cái Sắn, Tầm Bót, Nguyễn Trung Trực (Long Xuyên), Chắc Cà Đao

(Châu Thành), Bình Mỹ, Chữ S (Châu Phú), Tha La, Trà Sư, Xuân Tô (Tịnh Biên)…

Trên các tuyến Tỉnh lộ xây mới 81 cây cầu như cầu số 13, cầu số 5, cầu Phú Hoà,

Mướp Văn, Phú Vĩnh,…

130

Mặt khác, ở nông thôn, để giảm bớt khoảng cách giữa thành thị và nông thôn,

tỉnh đầu tư bằng nhiều hình thức để phát triển giao thông nông thôn, chủ yếu với

phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, đã làm cho bộ mặt giao thông nông

thôn có nhiều thay đổi, các đường liên xã, liên ấp được tráng nhựa hoặc rải đá cát núi.

Tính đến năm 1998, “mạng lưới giao thông đường bộ liên xã ở nông thôn trong toàn

tỉnh là 578,2 km, các đường liên ấp và liên xóm có tổng chiều dài 1.241 km” [79,

tr.539]. Đặc biệt là xây dựng cầu treo đầu tiên ở xã Đào Hữu Cảnh (Châu Phú) vào

năm 1993 bắc qua Kênh 10, nối liền xã Đào Hữu Cảnh và xã Bình Phú. Đến năm 1999,

An Giang có 43 cây cầu treo từ nguồn vốn nhân dân đóng góp.

Ngoài ra, để đảm bảo lưu thông thuận lợi, nối giữa các trục lộ quan trọng còn

có các phà. Đầu thế kỷ XX, ở An Giang cũng xuất hiện các bến phà như phà Vàm

Cống, phà An Hoà, phà Châu Giang, phà Cồn Tiên, phà Năng Gù, phà Thuận Giang,…

Trong đó quan trọng nhất là phà Vàm Cống và phà An Hoà.

Phà Vàm Cống : là trục đường chính lưu thông nối Sài Gòn với các tỉnh

Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá, Hà Tiên. Trước năm 1959, phà Vàm Cống có 3

chiếc, mỗi chiếc 25 tấn, cầu phà được trang bị vững chắc, xe lên xuống dễ dàng. Đến

năm 1999, phà Vàm Cống có 8 chiếc, loại 100 - 200 tấn, khả năng đáp ứng 15 - 20

triệu lượt người/năm và khoảng 0,8 - 1 triệu lượt xe các loại/ năm.

Phà An Hoà : là phà quan trọng nhất của tỉnh, nối Thành phố Hồ Chí Minh,

Tiền Giang, Đồng Tháp… và từ Chợ Mới vào trung tâm tỉnh, hình thành đầu mối lưu

thông hàng hoá và khách du lịch đến An Giang. Trước năm 1995, bến phà nằm cuối

đường Nguyễn Huệ, gần chợ nổi Long Xuyên nên ghe tàu buôn bán tấp nập, phà ra vào

bến khó khăn. Để rút ngắn đường đi của phà, năm 1997, phà dời địa điểm về cồn Phó

Quế như hiện nay. Phà có 6 chiếc, tổng trọng tải 360 tấn, bình quân 200 - 500

chuyến/ngày.

2.6.2.2. Phương tiện và hoạt động giao thông đường bộ

131

Trước năm 1916, phương tiện vận tải đường bộ ở Long Xuyên, Châu Đốc chỉ

là những loại xe thô sơ như xe bò, xe ngựa, xe kéo. Cuối năm 1916, những chiếc xe tải

đầu tiên được đưa vào sử dụng vận chuyển hành khách.

Đến năm 1920, toàn tỉnh Long Xuyên có 11 xe đò chở khách và đến cuối năm

1929 có 93 xe, trong đó có 17 xe tải chở hàng hoá, 25 xe đò chở khách và 51 xe của

các chủ đồn điền giàu có. Ngoài 93 xe trong tỉnh còn có 25 xe của các tỉnh lân cận như

Cần Thơ, Sa Đéc, Châu Đốc cũng tham gia khai thác các tuyến đường liên quan đến

Long Xuyên như tuyến Nam Vang - Châu Đốc - Long Xuyên - Sa Đéc - Sài Gòn hoặc

Nam Vang - Châu Đốc - Long Xuyên - Cần Thơ - Sài Gòn và ngược lại. Tham gia khai

thác chở khách không chỉ có chủ xe người Việt mà có cả chủ xe người Pháp hoặc công

ty vận tải Pháp như trên tuyến đường Châu Đốc - Sài Gòn có 4 số C.6381, 6820, 8611,

8632 xe khách của công ty Anatte hoặc tuyến Long Xuyên - Châu Đốc có xe số C.5638

của ông Paloux [30, tr.133]. Cũng trong năm 1920, ở An Giang bắt đầu xuất hiện các

loại xe mô tô như Goebel, Mobilette do Đức và Pháp sản xuất.

Đến năm 1930, xe mô tô được sử dụng phổ biến ở An Giang. Cùng lúc ấy thì

xe lôi đạp cũng du nhập từ Campuchia vào An Giang.

Dưới chính quyền Sài Gòn, do nhu cầu trao đổi đi lại và trao đổi hàng hoá, máy

móc thiết bị được cải thiện hơn trước, nhiều xe khách, xe hàng có trọng tải lớn cũng

được nhập vào Việt Nam với nhiều nhãn hiệu phong phú hơn như Toyota, Ford,….

Hoạt động vận tải trên địa bàn Long Xuyên và Châu Đốc ngày càng nhiều với nhiều

hãng xe của các chủ tư nhân trong và ngoài tỉnh đến khai thác như hãng Công Tạo, Đại

Nam, Thành Long,… hoạt động trên các tuyến từ Long Xuyên đi Cần Thơ, Sài Gòn, Sa

Đéc, Vĩnh Long, Rạch Giá, Châu Đốc hoặc từ Châu Đốc đi ngược lại.

Từ năm 1950 - 1960, xe gắn máy 2 bánh được nhập vào An Giang, với nhiều

loại như Honda, Vespa, Suzuki, trong đó xe Honda được người dân ưa chuộng nhất.

132

Từ năm 1975 - 1985, do quan hệ đối ngoại với các nước xã hội chủ nghĩa là

chính nên phương tiện vận tải nhập chủ yếu từ Liên Xô, các phương tiện nhập trước

năm 1975 qua thời gian sử dụng đã xuống cấp trầm trọng, không đảm bảo an toàn nên

ngừng hoạt động, việc đi lại và vận chuyển hàng hoá gặp nhiều khó khăn.

Sau năm 1986, khi chuyển sang cơ chế thị trường, hoạt động vận tải đã sôi

động trở lại. Việc đi lại và vận chuyển hàng hoá rất thuận lợi. Số lượng ô tô vận tải

hành khách và hàng hoá tăng lên nhanh chóng, nếu năm 1978 có khoảng 194 chiếc ô tô

vận tải hành khách thì năm 1999 có đến 492 chiếc ; năm 1978 có 202 chiếc ô tô vận tải

hàng hoá thì đến 1999 có 675 chiếc. Đặc biệt, đến năm 1999, ‘‘doanh nghiệp tư nhân

Taxi lần đầu tiên xuất hiện ở thành phố Long Xuyên giúp cho việc đi lại thuận tiện

hơn’’ [79, tr.538].

Ngoài các phương tiện vận tải trên, còn có hàng trăm chiếc ô tô du lịch, ô tô

hộ gia đình sử dụng để vận chuyển hành khách và hàng hoá.

2.6.3. Đường hàng không

2.6.3.1. Hệ thống sân bay

Năm 1955, chính quyền Sài Gòn đã xây dựng ở An Giang 2 sân bay : Mỹ

Thới và Nhà Bàng. Sân bay Mỹ Thới được khởi công và hoàn thành vào năm 1955,

đường băng được trải bằng đá, chiều dài 400 mét, rộng 35 mét tại xã Mỹ Thới, quận

Châu Thành (nay thuộc thành phố Long Xuyên). Tổng kinh phí xây dựng sân bay là

1.530.400 đồng. Sân bay Nhà Bàng, mặt sân bằng đất được san ủi bằng phẳng, chiều

dài 650m, chiều ngang 40 mét tại Nhà Bàng, xã Thới Sơn, quận Tịnh Biên.

Do nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, cũng như quân sự, năm 1967 sân bay

Mỹ Thới được nâng cấp, với chiều dài 1.065 mét và rộng 80 mét. Cùng lúc này, sân

bay Châu Đốc được xây dựng tại xã Mỹ Đức (nay thuộc phường Vĩnh Mỹ, Châu Đốc).

2.6.3.2. Phương tiện và hoạt động vận tải

133

Do đường băng nhỏ nên chỉ dành cho các loại phi cơ hạng nhẹ kiểu Morane,

hoạt động trên một số tuyến bay Long Xuyên - Sài Gòn, Tịnh Biên - Sài Gòn, Châu

Đốc - Sài Gòn và ngược lại để phục vụ vận chuyển cho nhu cầu về quân sự và đi lại,

với lượng hành khách không nhiều, chủ yếu là các nhà tư bản giàu có, binh lính. Mỗi

ngày, mỗi sân bay có một lần cất cánh và hạ cánh.

Sau khi nâng cấp sân bay Mỹ Thới, ngoài việc sử dụng các loại máy bay hạng

nhẹ như Morane, còn có các loại máy bay hạng trung hoạt động như Dakota, DC3,

trọng tải từ 50 - 70 người, hoạt động trên một số tuyến bay đi Sài Gòn, Cần Thơ, Rạch

Giá và ngược lại

Sau năm 1975, các sân bay Mỹ Thới, Châu Đốc, Nhà Bàng ngưng hoạt động.

Hoạt động vận tải hàng không trên địa bàn tỉnh An Giang gián đoạn cho đến nay.

Trong các thế kỷ XVII - XIX, việc di chuyển giao dịch và đi lại của nhân dân

chủ yếu bằng đường thủy trên các sông, kênh, rạch. Dưới thời Pháp thuộc, để thực hiện

công cuộc khai thác thuộc địa, thực dân Pháp phải đầu tư cơ sở hạ tầng. Ban đầu, sự

đầu tư ở Long Xuyên - Châu Đốc là nhỏ giọt và thiếu đồng bộ, những con đường đứt

quãng, chỉ toàn là đường mòn và đắp đất, phương tiện cơ giới cũng chưa có gì; bởi

Pháp chú trọng vơ vét nông sản lúa gạo và đều vận chuyển bằng đường thủy là chủ

yếu. Nhưng đến sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918), hệ thống giao

thông ở Long Xuyên - Châu Đốc có sự biến đổi mạnh mẽ. Số lượng các cây cầu được

xây dựng tăng lên đáng kể, hàng loạt các con đường liên tỉnh, liên quận được xây

dựng, số lượng các phương tiện vận chuyển người và hàng hoá cũng tăng cao. Tham

gia khai thác trong giao thông vận tải không chỉ có tư bản bản xứ mà còn có tư bản

Pháp và người Hoa tham gia. Sự biến đổi trong giao thông vận tải đã giúp cho các làng,

các xã ở An Giang giao lưu thuận lợi, hàng hóa được lưu thông, tạo ra nhiều công ăn

việc làm cho cư dân hai bên các tuyến giao thông. Dưới chính quyền Sài Gòn, bên cạnh

134

Vùng đất An Giang là điểm dừng chân cuối cùng của lưu dân người Việt ở

Đồng bằng sông Cửu Long, cùng với người Hoa, người Khmer, người Chăm đến khai

phá và lập nghiệp. Những sản phẩm đầu tiên của họ là lúa gạo, thực phẩm, mang tính

tự cung tự cấp. Nửa đầu thế kỷ XIX, kinh tế An Giang có bước phát triển nhưng so với

các tỉnh ở Nam Kỳ thì còn chậm. Tuy nhiên, ở An Giang cũng sớm hình thành các

vùng nổi tiếng về trồng lúa, trồng dâu nuôi tằm. Gạo Long Xuyên nổi tiếng khắp trong

Nam ngoài Bắc. Tơ lụa Tân Châu nổi tiếng bởi chất lượng bền và đẹp. Nhìn chung,

nông nghiệp và thủ công nghiệp chiếm vị trí chủ đạo trong nền kinh tế An Giang.

Sau khi Pháp chiếm An Giang 1867, thấy rõ tiềm năng rất lớn về đất đai canh

tác ở Long Xuyên - Châu Đốc, mục tiêu đầu tiên của thực dân Pháp đối với 2 tỉnh này

là khai hoang để tăng diện tích canh tác. Mọi biện pháp của chính quyền đều tập trung

vào cây lúa, từ việc tăng diện tích, cải tạo giống lúa đến các biện pháp khuyến nông

khác. Một số nghề thủ công nghiệp được cơ giới hoá một số máy móc, hình thành một

số cơ sở tiểu thủ công ghiệp của người Pháp, người Hoa và người Việt. Nhưng nhìn

chung chưa phải là một nền công nghiệp độc lập, tách hẳn ra khỏi thủ công nghiệp.

Bên cạnh đó, do yêu cầu khai thác thuộc địa, nhà nước thực dân buộc phải đầu tư cho

cơ sở hạ tầng. Cuối thế kỷ XIX, Pháp cho nạo vét các kênh có sẵn và đào một số kênh

135

mới, hoàn thành đường đi từ Long Xuyên - Cần Thơ (1912), Long Xuyên - Châu Đốc

(1925),... Sự biến đổi của giao thông vận tải đã tác động lớn đến sản xuất nông nghiệp

và lưu thông hàng hoá thủ công nghiệp. Mặt khác. Do chiến tranh, An Giang hình

thành vùng tạm chiếm và vùng giải phóng. Trong kháng chiến chống Pháp, địa chủ bỏ

chạy về vùng tạm chiếm, nhiều ruộng đất bị hoang hoá. Chính quyền cách mạng chủ

trương tạm cấp số ruộng này cho dân nghèo.

Dưới chính quyền Sài Gòn, nông nghiệp An Giang có bước phát triển, với sự

xuất hiện của giống lúa Thần Nông. Công nghiệp và thủ công nghiệp không phát triển

mà còn bị thu hẹp. Về thương nghiệp, chợ Long Xuyên và chợ Châu Đốc là 2 trung

tâm mua bán sầm uất. Mặt hàng chủ yếu là lúa gạo và nông sản thực phẩm

Sau ngày miềm Nam hoàn toàn giải phóng 1975, do hậu quả chiến tranh, lại bị

lũ lụt liên tiếp trong những năm 1977 - 1978, nền nông nghiệp An Giang gặp nhiều khó

khăn. Hàng năm phải nhờ Trung ương viện trợ 5.000 tấn lương thực để cứu đói trên

3.000 hộ. Qua nhiều năm phấn đấu, diện tích các loại cây trồng tăng từ 233.878 ha

(1975) lên 522.770 ha (1999), sản lượng lương thực từ 465.440 tấn (1975) lên

2.385.253 tấn (1999). An Giang là tỉnh có sản lượng lương thực luôn dẫn đầu cả nước.

Song, công nghiệp An Giang tuy có bước phát triển nhưng rất chậm.

136

Chương 3 : CƯ DÂN AN GIANG - CHỦ THỂ LÀM NÊN

DIỆN MẠO KINH TẾ AN GIANG

3.1. Cư dân An Giang trong đấu tranh với thiên nhiên

3.1.1. Quá trình định cư, lập làng của người Việt ở An Giang

Vùng đất Nam Bộ nói chung, An Giang nói riêng, trước khi người Việt đến

khai phá vẫn còn hoang vu. Châu Đạt Quan, sứ thần nhà Nguyên sang thăm kinh đô

Angkor (Chân Lạp) vào năm 1296, khi đi ngang qua vùng này đã ghi lại : “Hầu hết cả

vùng đều là bụi rậm của khu rừng thấp, những cửa rộng của sông lớn chạy dài hàng

trăm lí, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú

sum suê. Tiếng chim hót và thú vật kêu vang dội khắp nơi. Vào nửa đường trong cửa

sông, người ta mới thấy lần đầu cánh đồng ruộng bỏ hoang, không có một gốc cây nào.

Xa hơn tầm mắt chỉ toàn là cỏ kê đầy dẩy. Hàng trăm hàng ngàn trâu rừng tụ họp từng

bầy trong vùng này. Tiếp đó, nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm lí” [54,

tr.80]. Cho đến cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII, khi lưu dân người Việt bước chân

137

đến khẩn hoang, lập ấp thì toàn vùng Nam Bộ là “rừng rậm hàng mấy nghìn dặm” [16,

tr.345].

Người Việt đến định cư tại vùng đất An Giang khi nào thì cho đến nay chưa

thấy sử sách ghi chép rõ ràng. Nhưng khi Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lý và thiết

lập phủ Gia Định (1698), đã thấy người Việt định cư ở 2 bên bờ sông Tiền, sông Hậu.

Do nạn cướp bóc dân buôn của người Cao Miên trên sông Tiền và khuấy rối

vùng cù lao Giêng, tháng 11 năm 1699, Nguyễn Hữu Cảnh đem quân trấn tại Tân

Châu. Thắng trận, quân Nguyễn Hữu Cảnh xuôi dòng về trú ngụ tại cù lao Cây Sao (cù

lao Ông Chưởng, Chợ Mới ngày nay) vào năm 1700. Tại đây, “có người tự ý giải tán,

đào ngũ với sự đồng ý của Nguyễn Hữu Cảnh” [46, tr.192] ở lại đây tìm đất cày cấy

làm ăn. Sau năm 1700, nhiều binh sĩ của Nguyễn Hữu Cảnh giải ngũ và cũng xin trở lại

đất cù lao này để lập nghiệp. Gốc gác dân ngụ cư ở đây thường được gọi là dân Hai

Huyện (huyện Tân Bình và Phước Long) quê quán ở Ngũ Quảng . Từ đây, cư dân tiến

dần ra định cư vùng biên giới.

Đầu thế kỷ XVIII, ở phía sông Hậu từ Châu Đốc xuống Năng Gù (huyện Châu

Phú) dân cư thưa thớt. Chỉ có mấy khu vực cao như chợ Châu Đốc, Mỹ Đức, Cái Dầu

thì dân đến ở khá đông. Ở Châu Đốc, Lê Công Thoàn (1785 - 1837) là người gốc

Quảng Bình, vào Nam đến vùng đất Vĩnh Long để lập nghiệp, sau đó sang Châu Đốc

khai khẩn vào cuối thế kỷ XVIII. Châu Đốc lúc bấy giờ là vùng biên địa và ác địa,

nhưng ông Lê Công Thoàn bằng ý chí và quyết tâm của mình đã đứng ra khai phá nơi

đây thành một vùng trù phú qui tụ cư dân nông nghiệp. Tương truyền rằng bà Huỳnh

Thị Phú, vợ thứ của ông là một phụ nữ đảm đang, biết lo cho dân. Buổi đầu, dân tại

đây do điều kiện mới đến, chưa đủ lương thực sinh sống, chính bà là người đứng ra vay

một hộc lúa của triều đình, với điều kiện triều đình đặt ra năm tới, nếu không đóng đủ

sẽ bị tru di tam tộc. Kết quả uy tín và lòng thương dân lành của bà, lúa được hoàn trả

lại cho triều đình. Bà cũng là người khởi xướng xin lập ấp Châu Long (xã Châu Phú,

nay thuộc thị xã châu Đốc) [39, tr.33].

138

Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát do ban hành nhiều chỉ dụ cấm truyền bá

đạo Thiên Chúa gay gắt, một số giáo sĩ, giáo dân bị giết, bị trục xuất, nhiều tín đồ chạy

về vùng đất An Giang để lánh nạn. Tại Cái Đôi (xã Hoà Bình, huyện Chợ Mới), “đã

được một đoàn lưu dân Thiên Chúa kéo đến ngụ từ năm 1778. Rồi một đoàn giáo dân

khác, cũng trong năm đó, đem nhau đến Koh Teng, sách xưa gọi là Bãi Dinh, nay gọi

là cù lao Giêng (xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới), mở đất, lập giáo đường” [24, tr.14]. Họ

khai hoang, sản xuất và thành lập được 4 thôn : Toàn Đức, Phú Hưng, Mỹ Hưng, Toàn

Đức Đông.

Ở phía sông Hậu, dân cư sống rải rác, từ biên giới trở xuống gặp ngay thôn

Bình Thạnh Tây, đến Bình Trung mới thành lập, rồi Bình Lâm (xã Bình Thuỷ, Châu

Phú). Cách khoảng xa, đến thôn Bình Đức, Mỹ Phước, Mỹ Thạnh (thành phố Long

Xuyên) đều mới thành lập.

Riêng thôn Bình Lâm chính thức được thành lập vào năm 1783 do cụ Dương

Văn Hoá đứng tên sổ bộ. Xưa kia thôn Bình Lâm nằm ở cồn Bình Thuỷ, còn gọi là cù

lao Long Cù. Khi đó cụ Dương Văn Hoá được phong chức “Trùm Tri Thâu” để trông

coi thôn Bình Lâm. Ông Dương Văn Hoá là người đầu tiên có công khai phá vùng đất

Năng Gù. Nơi đây đã được Trịnh Hoài Đức ghi nhận : “Bãi Năng Gù, ở về cửa dưới

Vàm Giao (Vàm Nao) của sông Hậu Giang, dài chín dặm, thôn Bình Lâm ở đấy; rừng

trúc rậm rạp, chằm cá đầy rẫy, phàm dân ở thượng lưu sông Hậu Giang đều lấy tre gỗ

cá mú là món nhật dụng trước hết, bông là thứ hai, mà thóc gạo lại là bực thứ nữa” [17,

tr.64]. Sau đó, cư dân mở rộng thêm đất đai quanh vùng Châu Phú ngày nay.

Việc di dân lập ấp ở An Giang có công đóng góp rất lớn của Thoại Ngọc Hầu

với việc đốc xuất đào kênh Thoại Hà (1818), kênh Vĩnh Tế (1819). Sau khi đào xong

kênh Thoại Hà, “dân chúng đến khai phá đất đai dọc bờ Thoại Hà và lập một số thôn

ấp ở vùng núi Sập” [23, tr.249]. Còn dọc kênh Vĩnh Tế, “các thôn mới được thành lập:

Vĩnh Tế, Nhơn Hưng, An Quới, Thân Nhơn, Vĩnh Bảo, Long Thạnh, Toàn Thạnh,

Vĩnh Gia, Vĩnh Lạc” [46, tr.199].

139

Năm 1830, Châu Đốc lập được 41 làng, dân đinh chỉ hơn 800 người. Nếu tính

các vùng phụ cận thì dân cư Châu Đốc có thể lên đến vài nghìn. Đến tháng 3 năm

1831, “Trương Văn Nghĩa, Nguyễn Văn Chiêu, Lê Văn Huệ cùng 15 người khác xin

lập làng Phú Cường, tách ra từ làng An Nông (huyện Tịnh Biên)” [46, tr.199]. Ba năm

sau được quan trên chuẩn y lập làng thì Phú Cường đã được khai thác khá ổn định.

Khi tỉnh An Giang được thành lập (1832), dọc theo hữu ngạn sông Tiền, dân

cư khá đông, tập trung ở Tân Châu, Chợ Mới và một số thôn xã được thành lập. Riêng

cù lao Giêng đất không rộng mà đã thành lập được 4 thôn. Phía hữu ngạn sông Hậu,

dân cư thưa thớt. Từ biên giới Việt Nam - Campuchia xuống tới thành phố Long

Xuyên hiện nay chỉ có các thôn Bình Thạnh Tây, Bình Trung, Bình Lâm, Bình Đức,

Mỹ Phước, Mỹ Thạnh.

Dưới thời Tự Đức, tội phạm lưu đày phần lớn được gom về kênh Vĩnh Tế,

Tịnh Biên để lập các xóm dọc bờ kênh, dần dần hình thành nên các làng dân cư. Năm

1853, Nguyễn Tri Phương lập được 124 ấp toàn Nam Bộ, trong đó An Giang có 13 ấp.

Chỉ tính riêng địa phận kênh Vĩnh Tế thành lập 4 cơ Ninh Biên nhất, nhị, tam, tứ.

Ngoài những người dân lưu tán kể trên, trong thời kỳ này còn có những người trốn

tránh việc cấm đạo hay nghi kỵ tôn giáo của chính quyền triều Nguyễn. Năm 1845, tại

Năng Gù, “không khí sinh hoạt được sung túc hơn nhờ một nhóm lưu dân Thiên Chúa

khác về chiếm ngụ. Họ tích cực phá vỡ các rừng lau, các bãi sậy để làm ruộng, để mở

ấp, lập làng” [24, tr.14].

Ở Châu Đốc, năm 1851, để tránh sự nghi kỵ của chính quyền địa phương, cụ

Đoàn Minh Huyên chia nhỏ nhiều nhóm tín đồ của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương đi

đến những vùng xa xôi để khai hoang thành những “trại ruộng”.

Nhóm thứ nhất do Đoàn Minh Huyên cùng với Bùi Văn Thân đến chân núi

Két (Anh Vũ Sơn) để khai hoang, nơi mà rừng bụi rậm rì, hổ báo lúc nào cũng có thể

xuất hiện làm hại hoặc đe doạ người ta được. Mọi người dựa vào triền núi để trồng trọt,

140

mở dần đất xuống đồng bằng. Sau khi cụ Đoàn Minh Huyên qua đời vào năm 1856,

công việc khai hoang tiếp tục được giao cho Bùi Văn Thân (tức Tăng chủ Bùi Thiền

Sư) và lập làng Hưng Thới. Tiếp đến là Bùi Văn Tây cũng mở rộng và lập làng Xuân

Sơn, lập đình Thới Sơn. Đến năm 1859, hai làng Hưng Thới và Xuân Sơn (xã Thới

Sơn, huyện Tịnh Biên) khá trù mật.

Nhóm thứ hai do Quản cơ Trần Văn Thành đến khẩn hoang vùng Láng Linh

(huyện Châu Phú), một vùng bùn lầy, mùa lụt như biển cả mà mùa hạn thì như bãi cát

hoang. Địa thế không thuận lợi mấy cho nông nghiệp. Cách khai hoang ở đây theo lối

“móc lõm”. Trại ruộng Bửu Hương Các được lập ra. Công việc khai hoang ở đây vô

cùng khó khăn, không kết quả gì mấy. Nhờ quyết tâm, cố gắng của Trần Văn Thành và

những người đi khai hoang, một khu dân cư mới được hình thành và sau đó trở thành

một căn cứ khởi nghĩa chống thực dân Pháp.

Nhóm thứ ba do Nguyễn Văn Xuyến (Đạo Xuyến) cùng tín đồ, gia đình đến

Cái Dầu (huyện Châu Phú) mở rộng đất đai, nơi có nhiều phù sa, tuy không phải là chỗ

hoàn toàn hoang lâm, nhưng vẫn còn mênh mông đất rộng.

Tiếp theo những đoàn người vác cuốc, đuổi trâu, bứng từng cọng mạ để giành

lấy cuộc sống, chiếm giữ đất đai kể trên, còn có một tập thể quan trọng khác, cũng noi

theo truyền thống của Bửu Sơn Kỳ Hương di dân mở đất đai ở tại vùng núi Tượng lập

làng An Định (Ba Chúc, huỵên Tri Tôn). Đó là nhóm Hiếu Nghĩa của Ngô Lợi, đã tạo

ra một khu vực khá trù phú.

Đến năm 1930, chấm dứt các chính sách di dân khẩn hoang vào An Giang.

Dân số hai tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc cộng lại đông nhất Đồng bằng sông Cửu Long.

Tóm lại, vùng đất định cư đầu tiên của người Việt ở Nam Bộ là vùng Biên

Hoà, Gia Định. Về sau, cư dân tìm đến sông Tiền, sông Hậu để trú ngụ, khai phá ruộng

đất, lập thôn ấp. Cho đến nay, chưa xác định được người Việt có mặt tại An Giang khi

nào nhưng đại thể vào thế kỷ XVII địa điểm định cư đầu tiên của người Việt là vùng

141

Chợ Mới, Tân Châu. Sau năm 1757, phần lớn dân cư tập trung quanh các đồn bảo được

xây dựng rải rác trong vùng như Châu Đốc, Mỹ Đức, Năng Gù, Long Xuyên, Vàm

Nao,… Sau khi đào kênh Thoại Hà, kênh Vĩnh Tế thì địa bàn cư trú của người Việt

càng phát triển rộng lớn hơn.

Quá trình hình thành các cụm dân cư người Việt ở An Giang phát triển theo

tuyến từ huyện Chợ Mới, lên Tân Châu; từ Tân Châu qua Châu Đốc, vào Bảy Núi

(Tịnh Biên, Tri Tôn), xuống Châu Phú; từ Chợ Mới qua Long Xuyên, vào Thoại Sơn.

Quá trình này kéo dài hơn 1 thế kỷ. Những người Việt đầu tiên đến đất An Giang gồm

có nhiều thành phần khác nhau :

Trước hết, họ là những người nghèo khổ, không sống nổi ở quê hương, từ

miền Trung lần bước vào Nam tìm sinh kế. Đó là người dân bị một cổ năm bảy tròng

mà Nguyễn Cư Trinh đã ví là “mười con dê đến chín người chăn, nghèo khổ thất

nghiệp rất là đáng thương” [47, tr.28].

Thứ hai là những người có tiền của, có quyền thế, chiêu mộ dân nghèo ở miền

Trung vào Nam khẩn đất theo chính sách dinh điền của triều Nguyễn.

Thứ ba là những người lính tráng cùng với nhiều tội đồ được triều đình sai

phái, bắt buộc vào Nam lập đồn điền, vừa bảo vệ biên cương, giữ trị an vừa mở ruộng

lập vườn xung quanh cứ điểm quân sự [21, tr.198], nhiều nhất là thời Minh Mạng trở

về sau. Khi mãn hạn ở lại làm ăn, lập gia đình, lâu ngày trở thành dân bản xứ.

Thứ tư là binh lính đồn trú dưới hình thức đồn điền, với nhiệm vụ vừa giữ

biên cương và vừa khai khẩn đất đai, mang theo gia đình để làm ăn sinh sống, chọn đất

tốt tính chuyện lập nghiệp lâu dài.

Thứ năm là nhóm tín đồ đạo Thiên Chúa định cư vào giữa cuối thế kỷ XVIII

khai khẩn vùng Chợ Mới, Châu Phú,…

Như vậy, đứng về thành phần xã hội, trong các thế kỷ XVII - XIX, những

người Việt di cư vào vùng đất An Giang kiếm sống chủ yếu là những người nông dân

142

nghèo khổ, lâm vào bước đường cùng, buộc phải rời bỏ quê hương, bên cạnh đó còn có

những binh lính và tội phạm.

Người Việt vốn là chủ nhân của nền văn minh lúa nước, vẫn phát huy truyền

thống của mình, kết hợp với những kinh nghiệm học hỏi trên đường chuyển cư và sớm

có những sáng tạo để hòa hợp, thích nghi với môi trường sinh thái mới để khai phá và

cải tạo vùng đất hoang vu này. Với kinh nghiệm trồng lúa nước, với cải tiến công cụ,

lưu dân người Việt thực sự trở thành đội quân chủ lực trong quá trình khai phá vùng

đất An Giang, biến vùng rừng rậm sinh lầy, bưng biền thành những thửa ruộng. Song

song với việc khai hoang đất đai, người Việt sớm triển khai các hoạt động đánh bắt tôm

cá, chăn nuôi gia súc, gia cầm, sản xuất thủ công nghiệp,…

3.1.2. Quá trình cộng cư của các thành phần dân tộc

Người Khmer :

Từ thế kỷ I - VII, vùng An Giang ngày nay thuộc lãnh thổ của Vương quốc

Phù Nam. Đến những năm đầu thế kỷ VII, Vương quốc Phù Nam suy yếu. Chân Lạp (ở

vùng Nam Lào hiện nay) nguyên là chư hầu của nước Phù Nam đã chiếm Phù Nam.

Do biến động thiên nhiên, vùng đồng bằng sông Cửư Long xưa chìm trong nước.

Từ sau thế kỷ X trở đi, do mực nước biển rút dần, những giồng đất lớn tại châu

thổ Đồng bằng sông Cửu Long nổi lên và trở thành vùng đồng bằng hoang vu và màu

mỡ, nhờ sự bồi đắp phù sa của sông Mê Kông qua những mùa nước nổi hằng năm. Từ

đây, vùng đất này đã thu hút những người nông dân nghèo : Người Khmer, người Việt,

người Hoa, người Chăm cùng nhau đến đây khai phá và tạo ra vùng định cư sinh sống

lâu dài.

Với những người nông dân nghèo Khmer - những người chống chế độ lao

dịch nặng nề và sự bóc lột của giai cấp phong kiến Khmer, nhất là dưới đế chế Angkor.

Một làn sóng di dân tự do, chậm rãi của những người nông dân nghèo Khmer từ

Campuchia kéo về vùng đất hoang vu Đồng bằng sông Cửu Long. Họ chọn các giồng

143

cát lớn hoặc gò đất cao giữa những vùng ngập nước để sinh sống, họp thành những

điểm dân cư tập trung. Vào cuối thế kỷ XV, “các sóc của người Khmer đã được hình

thành ổn định, ở An Giang, người Khmer cư trú chủ yếu ở vùng núi Ba Thê, Tri Tôn,

Nhà Bàng” [19, tr.35].

Cũng từ thế kỷ XV, khi đế chế Angkor sụp đổ trước sự xâm lược của phong

kiến Xiêm La (Thái Lan), người dân Campuchia càng bị đẩy vào cảnh đói nghèo và bị

áp bức bóc lột nặng nề bởi sự cai trị của phong kiến ngoại tộc Xiêm La. Vì vậy, dòng

người Khmer chống lại phong kiến Xiêm La đã xuôi dòng sông Mê Kông xuống định

cư ở An Giang và các tỉnh khác thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long ngày càng đông

thêm. Cho đến cuối thế kỷ XVI, người Khmer là thành phần cư dân duy nhất tồn tại ở

Đồng bằng sông Cửu Long. “Họ là những lưu dân đến đây khai phá đất hoang và sống

tự do, biệt lập và chưa chịu sự quản lý của một quốc gia nào” [12, tr.66].

Từ thế kỷ XVII trở đi, vùng đất An Giang lại xuất hiện những người nông dân

nghèo cùng cực, những người chống lại chế độ phong kiến khắc nghiệt. Phần đông là

những người nông dân Việt từ miền Trung kéo đến. Họ tiếp xúc với người Khmer, tiếp

tục đẩy mạnh khai phá vùng đồng bằng này. Cũng giống như người Khmer, lưu dân

người Việt cũng sống khu biệt và không có quan hệ với xã hội phong kiến người Việt

đương thời. Sau người Việt, người Hoa và người Chăm cũng đến định cư ở vùng đất

An Giang. Tại đây, do cộng cư lâu dài nhiều thế kỷ, đã dẫn đến sự cư trú xen kẽ và quá

trình tiếp xúc giao lưu văn hoá giữa người Khmer với người Việt và người Hoa trong

vùng. Hơn nữa, để củng cố chính quyền của mình tại vùng đất mới, các vua Nguyễn đã

đặt người Khmer Nam Bộ phải mang các họ như Thạch, Lâm, Sơn, Kim, Danh,...

Riêng người Khmer ở An Giang, vào năm 1823, theo đề nghị của Tả quân Lê Văn

Duyệt, vua Minh Mạng đặt tên họ cho các quan chức địa phương người Khmer. Chấp

thuận đề nghị này, vào năm 1839, “vua Minh Mạng ra sắc chỉ cho người Khmer ở An

Giang và Hà Tiên đặt họ tên giống như người Hoa sở tại” [12, tr.66]. Do vậy, hệ thống

144

họ tên của người Khmer An Giang, ngoài những gia đình có họ lai, còn phổ biến là các

họ “Chau”, “Neáng”...

Người Khmer vốn là chủ nhân của nền văn minh bán sơn địa, phương thức

canh tác chủ yếu là làm ruộng rẫy trên các khu vực tương đối cao (Tri Tôn, Tịnh Biên)

quanh khu vực cư trú. Họ trồng lúa rẫy, khoai, bắp, đậu,... vật nuôi là gia súc nhỏ. Họ

có nghề thủ công là làm đồ gốm, dệt vải,...

Người Chăm :

Từ thời cổ trung đại, dải đất miền Trung Việt Nam ngày nay là địa bàn cư trú

của người Chăm, họ đã từng xây dựng nên một quốc gia hùng mạnh - Vương quốc

Champa (Chiêm Thành). Cũng như các quốc gia khác trên thế giới thời cổ trung đại,

Champa trải qua nhiều biến cố, để rồi người Champa phải lưu tán ở nhiều nơi trên lãnh

thổ nước Việt Nam ngày nay và cả những quốc gia khác trong khu vực. Riêng người

Chăm đến sinh sống ở An Giang có 2 nguồn di dân :

Thứ nhất, vào đầu thời vua Minh Mạng (1822 - 1823), vua Chiêm Thành cuối

cùng là Pô Chơn đóng đô ở Phan Rang (tỉnh Ninh Thuận) bỏ ngai vàng cùng tướng, tùy

tùng, binh lính và gia đình (đều theo Hồi giáo) vượt Trường Sơn, trốn sang Campuchia.

Năm 1841, Nam Bộ có cuộc khởi nghĩa của Lâm Sâm ở Trà Vinh, vua Thiệu Trị xuống

chiếu gọi Trương Minh Giảng đang ở Chân Lạp (Campuchia) rút quân về. Những

người Chăm và người Mã Lai được tuyển vào quân đội triều Nguyễn cùng thân nhân

của họ đã rút theo đoàn quân của Trương Minh Giảng. Sau đó, họ được cư trú cùng gia

đình ở dọc sông Hậu và Khánh Bình (huyện An Phú) cho đến ngày nay. Đây cũng là

đợt di cư đông đảo nhất của người Chăm từ Campuchia về An Giang sinh sống.

Thứ hai, do những nguyên nhân lịch sử, từ thế kỷ XV - XIX, một bộ phận

người Chăm đã rời bỏ quê hương sang sống ở Campuchia, Thái Lan, Malaixia,... Đối

145

với bộ phận đông đảo người Chăm chạy sang Campuchia, phần đông họ tập trung cư

trú ở Lovek. Tình hình Campuchia trong những thế kỷ này khá phức tạp, chiến tranh

xảy ra thường xuyên, đời sống của những người lưu dân gặp rất nhiều khó khăn bởi

chiến tranh và sự phân biệt đối xử. Địa phương chí xã Châu Phong (quận Châu Phú) có

ghi gốc tích người Chăm của xã như sau : “Năm 1820, một quan Thống đốc người

Chàm ở Cao Miên tên là Saet Abubaca bị tố cáo là phiến loạn đã bị vua Cao Miên bắt

và xử tử hình ở Oudong. Con ông và một số người hầu cận bị cầm tù, một số người

trốn thoát được về sống dưới sự che chở của người Ma Lai lúc bấy giờ cư trú ngụ tại

Châu Đốc” [87, tr.5]. Tiếp đến vào năm 1858, ở Chân Lạp, Tuôn Sêt It lãnh đạo nhân

dân nổi dậy chống lại triều đình phong kiến An Dương. Cuộc khởi nghĩa thu hút khá

đông người Chăm và người Mã Lai tham gia. Đến khi khởi nghĩa thất bại, để lánh nạn,

rất nhiều người Chăm, người Mã Lai chạy về Nam Bộ Việt Nam tìm sự che chở của

triều Nguyễn đã về định cư ở tả ngạn sông Tiền, cù lao Katambong và ở Châu Đốc,

dọc hai bờ sông Hậu.

Hơn nữa, triều đình Nguyễn với chính sách tận dân vi binh, dĩ man đôn man

đã “thu dụng những người Chàm, Mã Lai để lập đồn điền và phòng giữ miền biên giới.

Họ được tập trung bên rạch Bình Gỉ, sau đó được phân phối vào 7 làng Châu Giang,

Katambong, Phũm Soài, La Ma, Koh Goi, Koh Kia và Sa Bâu tổng số chừng 5.000

người. Họ được chia làm 9 đội, dưới quyền chỉ huy của một viên Hiệp quản ngụ tại

Châu Giang” [41, tr.35].

Theo thời gian, người Chăm An Giang hòa đồng với các cộng đồng khác cùng

sinh sống. "Java - Kur", từ thường được người Chăm An Giang nói để chỉ người Chăm

lai. Đó là do “kết quả của những cuộc hôn nhân giữa đàn ông Mã Lai Java với người

phụ nữ Chăm, Việt, Khmer,… Đến nửa thế kỷ XX, nhóm Java - Kur càng hòa nhập

vào cộng đồng người Chăm nơi đây” [6, tr.56].

146

Người Chăm sống bằng nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa, trồng bắp, lúa trên

bãi, đánh bắt cá trên sông, buôn bán nhỏ hay tự đưa hàng đến tận các vùng biên giới để

bán hay trao đổi.

Sau năm 1954, do vải lụa của các nước ngoài nhập cảng ngày càng nhiều và

sự độc quyền nghề dệt của tư sản người Hoa ở miền Nam nên “nghề dệt tơ lụa của

người Chăm vào những năm 60 đã bị chấm dứt” [18, tr.65]. Mặt khác, vấn đề tranh

chấp đất đai ở vùng biên giới giữa chính quyền Sài Gòn và chính quyền Campuchia đã

tạo nên một tình trạng không ổn định cho nguồn sống buôn bán của người Chăm. Vì

vậy, dưới chính quyền Sài Gòn (1954 - 1975), người Chăm An Giang có di cư lên Sài

Gòn sinh sống trên 4.000 người, sống bằng nghề buôn bán hàng rong hay làm thuê; và

có khoảng 3.000 người đi khai hoang, làm rẫy ở tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu,

Bình Dương, Bình Phước.

Tóm lại, người Chăm ở An Giang, Nam Trung Bộ, Tây Ninh, Thành phố Hồ

Chí Minh, Campuchia đều có chung một nguồn gốc lịch sử. Người Chăm đến sinh

sống ở An Giang muộn hơn và với số lượng ít hơn người Việt, Khmer, hoạt động kinh

tế của họ chủ yếu là buôn bán nhưng nặng về mặt trao đổi hàng hóa. Một số khác thì

sống bằng nghề chài lưới và thủ công (dệt lụa, thêu,…)

Người Hoa :

Do những biến cố lịch sử ở Trung Hoa, vào năm 1679, nhiều người Hán có

tư tưởng “phản Thanh phục Minh” do Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch chỉ

huy, bao gồm khoảng 3.000 người cùng với gia đình, đi trên 50 chiến thuyền vượt biển

Đài Loan vào Đàng Trong xin chúa Nguyễn cho cư trú. Họ được phép cư trú ở Biên

Hòa, Gia Định, Mỹ Tho. Trước đó, năm 1671, Mạc Cửu cùng với 400 người đến Hà

Tiên định cư, lập phố chợ. Từ các địa điểm này, người Hoa dần dần định cư lan rộng

khắp các tỉnh Nam Bộ.

147

Ở vùng đất An Giang xưa, vào những năm 80 thế kỷ XVIII, một bộ phận

người Hoa trước đây theo Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh đến định cư tại cù lao Cây

Sao (huyện Chợ Mới). Sau đó, xã Minh Hương đã được thành lập sớm ở làng Long

Sơn, Chợ Vàm (huyện Phú Tân), Mỹ Đức, Cái Dầu (huyện Châu Phú).

Theo ông Tăng Triều Đức, 70 tuổi, ở ấp Mỹ Chánh, xã Mỹ Đức (huyện Châu

Phú) kể lại cho biết : Ông nội của ông là Tăng Sơn, cha là Tăng Phước, người gốc Yết

Dương, Triều Châu tỉnh Quảng Đông, di cư qua sống ở Thái Lan rồi mới về địa

phương Mỹ Đức, từ đó đến nay đã được 7 đời (khoảng trên dưới 200 năm). Ông Lý

Văn Nhiên (xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú) cho biết : Ông sơ của ông xưa là người gốc

Triều Châu, di cư sang làm nghề lương y, sinh sống ở xã Mỹ Đức rồi lập gia đình ở

đây, tính đến nay đã được 8 đời, khoảng trên 200 năm [68, tr.64].

Năm 1817, một người Minh Hương tên là Diệp Hội lãnh trách nhiệm khai phá

vùng Châu Đốc, lập được nhiều thôn ấp dưới thời Minh Mạng, từ đó người Hoa đến

An Giang ngày càng đông, nơi tập trung đông là Đông Xuyên (Long Xuyên) và Châu

Đốc.

Thời Tự Đức, “người Hoa có thể khẩn đất, đứng ra mộ dân lập ấp. Dám xuất

vốn để lập ấp thì được khen thưởng : Mộ được 30 người thì miễn thuế trọn đời, mộ 50

người thì được huy hiệu “chánh cửu phẩm” [46, tr.214].

Đầu thế kỷ XX, số lượng người Hoa sinh sống ở An Giang khá đông, tập

trung chủ yếu ở chợ Long Xuyên, Châu Đốc,... Người Hoa đã tích cực triển khai các

hoạt động làm vườn, làm rẫy,.. nhưng đa số người Hoa ở An Giang làm nghề thủ công

nghiệp và buôn bán ở các chợ lớn.

DÂN SỐ AN GIANG TRONG LỊCH SỬ

Năm Tên tỉnh Dân số Việt Khmer Hoa Chăm

1836 An Giang 15.136

148

22.998 An Giang 1840

8.723 1.207 19.182 102.023 143.671 Long Xuyên, Châu Đốc 1876

8.004 8.266 17.242 390.754 424.008 Long Xuyên, Châu Đốc 1955

6.778 17.034 58.847 771.096 836.740 An Giang 1962

8.656 17.034 76.978 1.265.300 1.367.335 An Giang 1976

11.995 15.920 11.275 1.435.405 1.474.719 An Giang 1979

11.585 17.910 71.723 1.672.000 1.773.666 An Giang 1989

12.432 11.201 78.259 1.947.147 2.049.039 An Giang 1999

Nguồn : [2], [14], [79], [83]

3.1.3. Quá trình cải tạo, chinh phục thiên nhiên của cư dân An Giang

Khi đặt chân vào vùng đất mới, điều đầu tiên mà lưu dân phải nghĩ và làm

ngay là chọn nơi lập nghiệp, thích hợp cho nơi ở, dễ tìm cái ăn và đi lại trao đổi hàng

hóa vì nhu cầu cuộc sống. Ở An Giang, ban đầu người dân di cư thường đến thẳng, cư

trú trước tiên ở những giồng đất cao ven sông Tiền, sông Hậu, là những nơi có điều

kiện khai phá thuận lợi. Họ luôn phải đối phó với lũ lụt, với thú dữ, với những điều

kiện có hại cho cuộc sống và “con người bao giờ cũng biết tự tạo ra môi trường sống

thích hợp với mình trong mọi thiên nhiên, và ngày càng đấu tranh thắng lợi, xóa bỏ

những gì không thích hợp” [37, tr.53]. Trong giai đoạn đầu (thế kỷ XVII, XVIII), vì số

người mới đến phần đông là những người nông dân nghèo khổ, thiếu thốn đủ mọi thứ

như vốn liếng, nông cụ, trâu bò,... cho nên số ruộng đất mà mỗi người trưng khẩn được

thường chỉ chiếm một diện tích nhỏ bé.

Để biến rừng hoang cỏ rậm thành đất đai canh tác, người dân trước tiên tiến

hành khẩn hoang mở đất. Việc này đòi hỏi rất nhiều công sức. Phủ biên tạp lục chép

149

rằng, những người di cư ra sức “phát chặt mở mang, hết thảy thành bằng phẳng, đất

nước mầu mỡ” [16, tr.345].

Ra sức khai hoang mở đất rồi thì việc canh tác tiến hành thế nào sao cho có

kết quả cũng không phải dễ dàng, mặc dù nơi đây có tiếng là đất tốt. Theo Gia Định

thành thông chí, lúc mới khai thác, ruộng ở vùng đất An Giang chia làm hai loại :

ruộng núi và ruộng thấp, và người nông dân thuở ấy đã biết áp dụng hình thức canh tác

phù hợp với từng loại ruộng nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao. Đối với “ruộng núi khi

mới khai khẩn thì đẵn chặt cây cỏ, đợi cho khô đốt thành tro, đến khi mưa xuống cứ thế

mà gieo thóc, không phải cày bừa, dùng sức ít mà được lợi nhiều; còn ruộng thấp là

ruộng chằm, không dùng trâu cày, đợi đến khi cuối mùa hạ sang mùa thu, nước mưa

đầy tràn, chặt phá cỏ lác cỏ năn, bừa cỏ đi, be đắp làm bờ, trang đất cắm mạ” [17,

tr.155].

Để có thể tiến hành canh tác có hiệu quả, người nông dân thuở ấy còn phải

giải quyết vấn đề thuỷ lợi. Đây là một trong những yếu tố quan trọng đối với việc khai

phá thành công vùng đất An Giang. Bởi vì vùng đất này là một vùng mà nơi này thì

nhiều nước, nơi kia thì lại ngập úng sình lầy, chỗ khác thì đồng chua. Trong tình trạng

ấy, để đảm bảo được mùa màng, người nông dân khai hoang phải tổ chức việc tưới,

tiêu, rửa phèn. Và cách thức làm thuỷ lợi của họ chủ yếu là theo kiểu thuỷ lợi nhỏ do

điều kiện khách quan và chủ quan lúc bấy giờ (vốn liếng thiếu thốn, công cụ, kỹ thuật

yếu kém, và lối làm ăn phân tán). Tuy nhiên bằng cách làm ăn đó họ đã bước đầu chinh

phục được thiên nhiên và đã mang lại những kết quả to lớn. Họ biến đất khô khan hoặc

ngập úng thành những cánh đồng rộng lớn phì nhiêu.

Sang thế kỷ XIX - XX, việc đào các con kênh Thoại Hà (1818), Vĩnh Tế

(1819), Vĩnh An (1843), Trà Sư (1830 - 1850), Thần Nông (1882), Vàm Xáng (1914),

Cái Sắn, Ba Thê. Mặc Cần Dưng,… đã giúp cho việc canh tác, rửa phèn, đưa nước đến

ruộng lúa. Bên cạnh đó còn có những mương song song nhau. Đất đào được đắp lên

phần diện tích kia tạo thành những liếp đất cao không bị ngập khi nước dâng. Như vậy,

150

cư dân đã biến cả khu đất thấp trở thành cao ráo hơn, thích hợp cho loại cây ăn trái, hoa

màu,… Ngoài việc giải quyết vấn đề thủy lợi, cư dân còn tiến sâu vào vùng đất hoang,

đến đầu các con rạch nhỏ để chặn bắt cá. Những nơi này không quá xa các khu có dân

cư, dần dần có người đến sinh sống và khai thác. Từ đó, một nhóm nhỏ được hình

thành. Cộng đồng nhỏ này tiếp tục khai phá đất đai ven sông rạch để trồng lúa, lập

vườn,… Diện tích đất hoang dần dần được khai phá, đẩy lùi và nhường chỗ cho những

cánh đồng lúa và loại cây trồng khác.

Bên cạnh đó, cư dân An Giang thường phải đương đầu với lũ lụt, hạn chế tác

hại của lũ, đặc biệt là biết khai thác những mặt tích cực của mùa nước lũ để phục vụ

cho sinh hoạt đời sống con người. Những năm gần đây, cư dân An Giang còn hạn chế

tác hạn của lũ lụt bằng cách tiến hành bao đê để sản xuất vụ 3, góp phần tăng năng suất

lao động và cải thiện thêm đời sống.

Trên cơ sở diện tích đạt được, với việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật khác

nhau, cư dân An Giang trong các thế kỷ XVII - XX đã biến vùng đất hoang vu, rậm

rạp, sình lầy khi họ mới đặt chân tới, thành một vùng canh tác rất tốt, sản xuất được

nhiều thóc gạo. Theo Niêm giám thống kê tỉnh An Giang, năm 1999 tổng sản lượng

lương thực đạt 2.385.253 tấn [8, tr.82], đứng đầu cả nước về sản xuất lương thực.

Sở dĩ được như vậy là nhờ công sức của mọi thành viên trong cộng đồng dân

tộc Việt, Hoa, Chăm, Khmer sinh sống ở đây. Với đức tính cần cù, kiên nhẫn, dũng

cảm, chịu đựng khó khăn, với trí thông minh, sáng tạo, với tinh thần giúp đỡ đùm bọc

lẫn nhau, với vốn kinh nghiệm sản xuất phong phú đã được tích luỹ từ trước, những

người khai phá đã khắc phục những khó khăn trong buổi đầu đã biến vùng đất hoang

vu, rậm rạp, sình lầy thành đồng ruộng phì nhiêu tươi tốt. Nhân tố quyết định sự thành

công của họ là tinh thần tương thân tương trợ, sự phát huy cộng đồng, sự học hỏi lẫn

nhau giữa các thành viên trong cộng đồng dân tộc Việt, Hoa, Chăm, Khmer đang sinh

sống và làm ăn ở An Giang.

151

Do sinh sống trên vùng đất mới An Giang đầy những khó khăn và khắc nghiệt

của thiên nhiên nên cư dân thường kết nghĩa, yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau, bởi hầu

hết những người đến An Giang đều có chung cảnh nghèo, đi tìm đất sống nên truyền

thống đoàn kết giữa người ngày càng sâu đậm hơn. Bên cạnh đó, những người nông

dân đến đây là con người ít nhiều có đầu óc mạo hiểm, hoặc dám chấp nhận mạo hiểm,

coi tính mạng “nhẹ tựa lông hồng”, ưa sống ngang tàng, luôn luôn tỏ ra dũng cảm,

không sợ nguy hiểm khó khăn. Họ không bao giờ chịu lùi bước trước những trở ngại

của thiên nhiên. Họ yêu thương đùm bọc nhau, giúp đỡ tạo dựng cuộc sống, nhất là

trong một hoàn cảnh hoàn toàn mới lạ và chồng chất khó khăn, với rừng rậm nhiều thú

dữ, sông sâu nhiều cá sấu, lại chưa quen thuỷ thổ, bị nhiều thứ bệnh tật đe doạ. Một khi

kết nghĩa với nhau rồi thì sống chết có nhau, thương yêu nhau một cách lạ lùng. Đây

cũng là đức tính được đào luyện nên do việc mở mang những vùng đất mới nhiều khó

khăn nguy hiểm.

Mặt khác, chinh phục hoang vu để tạo ra đất sống là chấp nhận một cuộc

chiến đấu cực kỳ gian khổ chống thú dữ, cá sấu, muỗi mòng, khắc phục những hiện

tượng thiên nhiên mà con người chưa nắm được quy luật, không phải là chuyện “làm

chơi ăn thật”. Cuộc chiến đấu đó đòi hỏi một sức mạnh có tổ chức, có chỉ huy, một sự

liên kết chặt chẽ, một tình cảm chia ngọt sẻ bùi.

Nói đến cư dân An Giang là nói đến con người “rất chuộng nghĩa khí, quý

trọng tình bạn bè, tình huynh đệ giang hồ nghĩa hiệp, coi khinh tiền tài, sẵn sàng xả

thân vì nghĩa” [43, tr.123].

Tính hiếu khách, hào phóng cũng là tính cách của cư dân An Giang. Người

nông dân di cư vì nghèo khổ mà liều mình ra đi tìm đường sinh sống, họ đã từng biết

cái cực, cái nhục của đói rét là như thế nào, cho nên họ còn có một đức tính đáng quý

nữa là rất mến khách, sẳn sàng nhường cơm sẻ áo và rất hào phóng. Theo Gia Định

thành thông chí, “khách đến thì mời ăn trầu trước, thếp nước chè rồi đến ăn cơm ăn

bánh, cốt phải phong hậu. Không kể người thân hay sơ, lạ hay quen, tung tích thế nào,

152

đã đến tất phải tiếp nhận thết đãi. Cho nên người đi chơi phần nhiều không mang lương

thực” [17, tr.146].

Vì sao con người hào phóng ? Theo Huỳnh Lứa : “Thiên nhiên ở đây tuy trù

phú nhưng cũng đầy khó khăn cho nên trong buổi đầu chinh phục, giành giựt với thiên

nhiên để có mảnh cơm manh áo không phải là điều dễ hiểu. Vì vậy, sự hiếu khách, tính

hào phóng của họ không phải do thiên nhiên hào phóng tạo ra, mà chính là một thứ tình

cảm giai cấp sâu sắc đối với những người cùng cảnh ngộ, do hoàn cảnh sống cực nhục

trước kia của họ đào luyện nên” [43, tr.125].

Liên quan đến điều này, chúng ta thấy người nông dân di cư quả là sống ít lo

lắng tới ngày mai, không biết dành dụm, có bao nhiêu xài bấy nhiêu, tiêu pha rộng rãi

bởi “thành quả lao động khai sơn phá thạch của họ để làm ra ruộng đất phút chốc bị

bọn cường hào chiếm đoạt, cướp lấy cũng dễ dàng như chúng cướp lấy đồ vật trong túi.

Rồi khi thực dân Pháp đến, cuộc đời nông dân của họ vẫn chỉ là cơ cực. Sống trên

mảnh đất màu mỡ mà quanh năm đói rách” [43, tr.125]. Họ không thấy được tương lai

và cũng không chắc gì sống đến ngày mai, cho nên họ không cần có nhà đẹp, không

cần ăn mặc sang, cũng không cần lo cho ngày mai lắm, không cần dành dụm, “nếu

ngày mai còn sống được thì cái sống sẽ tìm dưới sông, dưới rạch, trong rừng” [43,

tr.126].

Cũng chính cuộc sống bấp bênh như vậy, họ thường tìm thú vui trong nhậu

nhẹt ruợu chè với bạn bè, rủ nhau cờ bạc vào những giờ nhàn rỗi sau khi làm ruộng 4,

5 tháng. Hơn nữa, do bất lực trước sức mạnh thế gian, người nông dân di cư An Giang

nặng đầu óc mê tín dị đoan. Nếp sống này do hoàn cảnh tạo nên, không phải là bản

chất của người nông dân lưu tán. Nhưng một khi nó lặp đi lặp lại nhiều lần thì nó dần

dần trở thành thói quen, một tập quán.

Tóm lại, thành phần dân cư sinh sống trên vùng đất An Giang đa số là những

người nông dân nghèo đi khai hoang, những người chống lại sự truy đuổi của triều

153

đình, những tội phạm được đưa đến vùng biên giới không có ngày về, những người

Chăm tìm đến vùng đất bình yên, những người Hoa rời bỏ quê hương vì nghĩa khí của

mình. Tất cả đều có một khát khao chung là tự do, là tìm được một mảnh đất bình yên

để tồn tại, đều mang trong mình ít nhiều chất phản kháng nổi dậy và giàu nghị lực [73,

tr.142]. Chính vì vậy đã biến vùng đất An Giang hoang vu trước đây trở thành một

vùng đất trù phù.

3.2. Cư dân An Giang trong đấu tranh xã hội

3.2.1. Cư dân An Giang đấu tranh chống áp bức cường quyền

Khi đặt chân đến vùng đất An Giang xưa, lưu dân thường chọn những khu đất

cao ráo, thuận lợi cho việc sinh hoạt, đi lại, trồng trọt và chăn nuôi. Do điều kiện khí

hậu khắc nghiệt thường gây ra bệnh dịch, lại phải chống chọi thú dữ nên hiệu quả khai

hoang không cao. Cuộc sống cư dân chưa ổn định, thì cuộc chiến tranh giữa Tây Sơn

và Nguyễn Ánh diễn ra khốc liệt, thêm nữa quân Xiêm sang cướp phá, giết chóc dân ta,

làm cho đời sống càng cơ cực hơn.

Sau khi khôi phục lại vương quyền (1802), triều Nguyễn tiếp tục duy trì và

củng cố chế độ phong kiến. Nạn cường hào ác bá diễn ra khắp nơi ở nông thôn, chúng

tăng cường chiếm đoạt ruộng đất công như trường hợp “quan lại ở trấn Vĩnh Thanh là

Lưu Phước Tường, Lê Đắc Tần, Trần Bá Bảo gian tham nhũng nhiễu dân chúng rất

nhiều” [62, tr.103], buộc Gia Long đem ra xét xử. Ở An Giang, tuy triều Nguyễn có

chính sách khuyến khích khai hoang và miễn thuế, nhưng đời sống của nông dân không

được cải thiện, vì ngoài thuế ruộng, nông dân còn phải đóng thuế thân. Trong đồn điền

nông dân được coi là dân lậu phải làm việc nặng nhọc, ‘‘đưa binh lính và nông dân

người Việt, bắt nhiều nhân công người Khmer đào kênh rạch (kênh Thoại Hà 1818,

kênh Vĩnh Tế 1919,...) với một chế độ khắc nghiệt’’ [18, tr.49] và làm thiệt mạng

không biết bao nhiêu. Chế độ lao dịch hằng năm là 60 ngày, có khi tăng gấp đôi. Mặt

154

khác, cách thức khai hoang và chính sách ưu đãi của triều Nguyễn đối với người giàu

có bỏ tiền ra mua bán đất đã đưa đến sự hình thành chế độ sở hữu ruộng đất tư và giai

cấp địa chủ. Trong khi đó, những người nông dân nghèo trực tiếp lao động đã trở thành

tá điền, đóng địa tô, phục dịch địa chủ.

Sự phát triển mạnh mẽ chế độ sở hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ và tình

trạng ruộng đất công ngày càng thu hẹp đã dẫn đến sự phân hoá xã hội ngày càng sâu

sắc. Trong nửa đầu thế kỷ XIX, mâu thuẫn giữa nông dân với chính quyền phong kiến

và địa chủ ngày càng gay gắt, dẫn đến nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân. Ở An

Giang có cuộc khởi nghĩa Thất Sơn (1841 - 1842) của nông dân người Việt, Khmer.

Nguyên nhân chủ yếu của cuộc khởi nghĩa này là do triều Nguyễn dung túng

bọn địa chủ, quan lại cướp đoạt thành quả của nông dân. Dân chúng cũng không sống

nổi với chính sách hà khắc bắt phu lao dịch ở các công trình thuỷ lợi và quân sự ở Tây

Nam Bộ. Trong đó có chính sách của triều Nguyễn “ép người Khmer bỏ phong tục tập

quán theo luật lệ An Nam’’ và đó là nguyên nhân chính của hàng loạt cuộc nổi dậy

đẫm máu làm rối động cả vùng” [44, tr.30].

Tháng 10 âm lịch năm 1841, cuộc khởi nghĩa Thất Sơn bùng nổ. Nghĩa quân

lợi dụng địa bàn hiểm trở rừng núi, bùn lầy để hoạt động. Căn cứ khởi nghĩa đặt tại Núi

Tô, núi Tượng, núi Tà Biệt (huyện Tri Tôn) ; mặt khác, nghĩa quân còn phân tán thành

nhiều lực lượng nhỏ hoạt động ở dọc theo kênh Vĩnh Tê đến Tân Châu. Tuần phủ An

Giang Nguyễn Công Trứ lo lắng báo cáo về kinh thành Huế : “Nếu Thất Sơn chưa dẹp

được thì vẫn làm ngăn trở cho phía sau sông Vĩnh Tế. Vậy nên một phen hết sức tiễu

trừ để tuyệt hết mối lo về sau”. Nguyễn Công Trứ xin 5 vệ binh đến đánh dẹp, nhưng

Thiệu Trị lo lắng cho tình hình An Giang “đường rừng nhiều ngả, chưa dễ đi cùng kiệt

trong núi mà tìm bắt được loài thú. Chỗ núi mọc liền quanh khắp, trong đó có những

lối đi tắt bọn chúng biết rõ cả khi quân ta tấn công, chúng sẽ dời từ bên này sang bên

kia” [61, tr.134].

155

Sau khi dẹp được cuộc khởi nghĩa Ba Xuyên (Sóc Trăng), tháng 3 năm 1842,

vua Thiệu Trị quyết định cho tiến quân đàn áp cuộc khởi nghĩa Thất Sơn. Tướng Lê

Văn Đức và Phạm Văn Điển chỉ huy, chọn núi Tượng làm mục tiêu chính. Quân triều

Nguyễn chia làm hai mũi tiến công : Một từ Châu Đốc tiến dọc kênh Vĩnh Tế vào và

cánh quân thứ hai dùng đường bộ từ Long Xuyên tiến vào núi Tô. Trong cuộc đàn áp

này, triều Nguyễn có sử dụng một số lính người Mã Lai, người Chăm ở Châu Đốc.

Nghĩa quân rút khỏi núi Tượng lui về núi Tà Biệt. Địa hình Tà Biệt có rừng

tràm, đầm nước lầy lội và cũng tiện đường rút lui về núi Cấm. Quân triều đình chiếm

được núi Tượng, nhưng không dám tiến đánh núi Tô, núi Cấm vì “chân núi nhỏ hẹp,

bên tả gần đầm lớn, bên hữu liền với sườn núi, giặc đào hầm cắm chông để chống giữ”

[61, tr.127]. Khi đó nghĩa quân tăng cường đánh phá dọc kênh Vĩnh Tế từ Vĩnh Thông

đến Tiên Nông, từ Vĩnh Lạc đến Tịnh Biên, buộc quân triều đình phải đối phó. Không

những thế nghĩa quân còn tiến sâu vào Tân Châu, Đa Phước, Cần Thăng. Trong trận

đánh ở Đa Phước, viên Phó vệ Trần Kim bị chém vào vai, viên Suất đội Trần Linh bị

trúng đạn xuyên hông, tướng Phạm Văn Điển bị chết trên đường hành quân. Quân triều

đình rút khỏi Thất Sơn, Vĩnh Tế. Tình hình hoạt động của nghĩa quân ngày càng mạnh.

Quan quân triều Nguyễn ở An Giang lo sợ, nên quyết định tổ chức đàn áp lần hai.

Tháng 5 năm 1842, tướng Lê Văn Đức chọn Sà Tón (Tri Tôn) và núi Tô là nơi

tiêu diệt nghĩa quân. Cùng phối hợp với cánh quân Hà Tiên, số lượng quân triều đình

lên đến 5.000 người, chia làm 5 đạo quân tiến đánh nhiều hướng khác nhau. Nghĩa

quân chủ động bố trí trận địa ở khu vực đồng tràm. Cánh quân Lê Văn Đức lọt vào thế

mai phục, nghĩa quân xông ra, quân triều đình bị đẩy lùi về đầm lầy. Tôn Thất Thường

bị thương, “binh lính dẫm xéo lên nhau xô cả vào đầm, bọn giặc thừa thế đuổi theo,

quan quân bị thương và chết hơn 40 người, bỏ mất 8 cổ súng quá sơn và súng tay, khí

giới thuốc đạn rất nhiều” [62, tr.127-128].

Cuộc nổi dậy ở Thất Sơn bùng lên mạnh mẽ trong hai năm (1841 - 1842) cuối

cùng bị đàn áp. Nhưng tình hình ở Thất Sơn và kênh Vĩnh Tế cho đến cuối đời vua

156

Thiệu Trị vẫn không ổn định. Cuộc nổi dậy ở Thất Sơn tuy thất bại, nhưng đã biểu hiện

truyền thống đấu tranh chống áp bức cường quyền của nhân dân trên mảnh đất An

Giang ngay buổi đầu khai phá.

3.1.2. Cư dân An Giang đấu tranh chống giặc ngoại xâm

3.2.2.1. Bảo vệ biên giới và chống quân xâm lược Xiêm

An Giang là tỉnh biên giới giáp với nước Chân Lạp, mối đe doạ chính là Xiêm.

Mặc dù trước đây Nguyễn Ánh và Xiêm có quan hệ tốt đẹp, nhưng càng về sau nảy

sinh mâu thuẫn gay gắt, nhất là thời Minh Mạng, Thiệu Trị.

Tại An Giang, hàng loạt các đồn bảo được bố trí dọc sông Tiền, sông Hậu,

biên giới từ Châu Đốc đến Hà Tiên. Tại Châu Đốc, năm Gia Long thứ 14 (1815), Trấn

thủ Vĩnh Thanh là Lưu Phước Tường huy động dân binh trong trấn khoảng 3.000

người, đắp đồn Châu Đốc, mỗi tháng cấp cho mỗi người 2 quan tiền và một vuông rưỡi

gạo (1 vuông tương đương 1 giạ hiện nay). Ngày 4 tháng 12 năm 1815, công việc xây

dựng đồn Châu Đốc được tiến hành. Gia Định thành thông chí mô tả : “Đồn Châu Đốc

ở phía đông sông Vĩnh Tế thuộc Hậu Giang, từ đằng trước đến đằng sau 324 tầm (789

mét), từ tả sang hữu 164 tầm, tả hữu đều hai cửa, sau mở một cửa cao 7 thước (3,5

mét), chân luỹ dày 6 tầm (14,5 mét), đầu thu lại 5 thước, hai cấp, toạ ngôi kiền hướng

tốn. Bên hữu thì liền sông lớn, ba mặt tiền tả hậu đào hào rộng 20 tầm (49 mét), sâu 11

thước chảy ra sông lớn. Trong đồn có phòng quân, kho thóc súng lớn cùng quân khí đủ

cả. Lấy lính bốn trấn cùng quân đồn Uy Viễn mỗi phiên 500 người đóng thú” [17,

tr.198]. Địa thế đồn Châu Đốc được triều Nguyễn đánh giá có vị trí tiền tiêu ở Đồng

bằng sông Cửu Long.

Trước tình hình trong nước nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa, ở biên giới An Giang

lại xảy ra nhiều cuộc xung đột giữa quân đội triều Nguyễn với quân Xiêm, Chân Lạp.

Do đồn Châu Đốc đã cũ, không tiện cho việc phòng thủ, vì vậy năm 1834, Minh Mạng

cho triệt phá đồn cũ xây dựng đồn mới kiên cố hơn.

157

Ở sông Hậu, triều Nguyễn cho thiết lập đồn Châu Giang. Riêng đồn Châu

Giang trước thuộc Châu Đốc, lâu ngày nước lụt làm sụp lở. Năm 1818, Trấn thủ Vĩnh

Thanh Nguyễn Văn Xuân cho dời, cách đồn cũ 1 dặm về thượng lưu, đắp đồn đất hình

vuông.

Ở sông Tiền được xem là nơi trọng yếu, thiết lập đến 3 đạo : Tân Châu, Chiến

Sai và Hùng Ngự (Hồng Ngự). Đồn chính đặt tại Cù lao Giêng. Theo bố trí của

Nguyễn Văn Xuân : phía đông là đạo Chiến Sai (Chợ Thủ, huyện Chợ Mới), phía tây

có đạo Hùng Ngự (thuộc trấn Định Tường). Năm 1818, đạo Tân Châu dời về Long Sơn

(huyện Phú Tân), hình thể giống như hình bát quái. Dọc biên giới với Chân Lạp, triều

Nguyễn bố trí đồn bảo dày đặc, nhằm đối phó với quân Xiêm và phong trào nông dân ở

An Giang. Chỉ tính thời Thiệu Trị đã bố trí 30 đồn, bảo lớn nhỏ từ Châu Đốc đến Hà

Tiên : bảo Vĩnh Tế (1834), Vĩnh Thông (1835), Vĩnh Lạc (1842), Vĩnh Gia (Thân

Nhân -1842), Giang Nông (1842), Vĩnh Điều (1846), Vĩnh Long (1847), Hưng

Nhượng (1847),… [60, tr.218-219]. Từ Châu Đốc đến Tân Châu có 7 đồn : An Lạc

(1842), Tân Châu (1842), Châu Giang, Bình Di (1841), Cần Thăng (1844), Bắc Nam

(1845), Nhơn Hội (1846) [60, tr.220-221].

Mặc dù bố trí nhiều đồn bảo, nhưng tình hình An Giang không ổn định vì

quân Xiêm vẫn quấy phá dọc biên giới và phong trào đấu tranh chống phong kiến của

nông dân Việt, Khmer ở Thất Sơn. Năm 1843, vua Thiệu Trị chỉ dụ cho Đốc bộ Châu

Đốc là Nguyễn Công Nhàn đốc suất đào kênh từ Châu Đốc đến Tân Châu (kênh Vĩnh

An), với mục đích ứng cứu khi xảy ra chiến sự.

Từ giữa thế kỷ XVIII - 1842, quân Xiêm nhiều lần sang xâm lược nước ta,

song chúng đều thất bại, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của người dân An Giang.

Năm 1772, quân Xiêm đánh chiếm Hà Tiên, rồi tràn qua Châu Đốc, bị ta chặn

lại và buộc phải rút về bên kia biên giới.

158

Năm 1784, Nguyễn Ánh cầu viện quân Xiêm tiến đánh quân Tây Sơn. Quân

Xiêm chiếm vùng Hà Tiên, Châu Đốc. Chúng rất tàn bạo, đến đâu là cướp phá bóc lột

đến đấy, dân ta oán rất nhiều. Với chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút 1785, Nguyễn

Huệ đánh tan 5 vạn quân Xiêm và đuổi chúng ra khỏi bờ cõi.

Năm 1833, được sự cầu cứu của Lê Văn Khôi, quân Xiêm sang xâm lược

nước ta. Họ tàn phá dọc kênh Vĩnh Tế chiếm Châu Đốc, Tân Châu,… Dưới sự chỉ huy

của Trương Minh Giảng, quân triều đình và nhân dân An Giang quyết chặn lại, đánh

thắng quân Xiêm trên sông Vàm Nao và đuổi chúng ra khỏi biên giới. Trận chiến tiêu

diệt quân Xiêm trên sông Vàm Nao thể hiện tinh thần bất khuất của nhân dân ta. Dù thế

giặc mạnh gấp đôi, nhưng quân triều đình và nhân dân đã sáng tạo ra cách đánh, nắm

chắc địa hình, với lòng gan dạ dũng cảm đã đánh thắng được kẻ thù hung mạnh lúc bấy

giờ. Chiến thắng này, một lần nữa khẳng định nhân dân An Giang quyết tâm giữ thành

quả lao động của mình trên mảnh đất vừa khai phá.

Năm 1842, lợi dụng cuộc khởi nghĩa nông dân Thất Sơn, quân Xiêm do tướng

Phi Nhã Chất Tri cầm đầu lại gây hấn biên giới An Giang, xâm chiếm kênh Vĩnh Tế,

Bảy Núi. Quan quân An Giang và triều đình do Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Tri Phương

chỉ huy đánh tan quân Xiêm ở Bảy Núi, đuổi chúng ra khỏi biên giới.

3.2.2.2. Chống thực dân Pháp

Ngày 1 - 9 - 1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha do tướng Rigault de

Genouilly chỉ huy đánh vào bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) mở đầu quá trình xâm lược

nước ta. Sau đó Pháp thay đổi kế hoạch đánh vào Gia Định và chiếm được 3 tỉnh miền

Đông Nam Kỳ : Gia Định, Biên Hoà, Định Tường. Ở An Giang, quân triều đình Huế

xúc tiến đắp đồn Tráng Biên (huyện Tịnh Biên) phòng thủ. Tự Đức còn xuống dụ cho

Tổng đốc An - Hà Trương Văn Uyển, Tuần phủ Nguyễn Khắc Thận “chiêu mộ nghĩa

dõng và phải cung cấp cho triều đình mỗi hạng 15 người và cử viên quan Tượng mục

ở Vũ Khố đến hướng dẫn đào tạo” [59, tr.76].

159

Sau Hoà ước 1862, An Giang trở thành vùng “tỵ địa”. Nhiều sĩ phu yêu nước

đem cả gia đình, mồ mả ông cha đến An Giang như Phan Văn Trị, Nguyễn Hữu Huân.

Đặc biệt, căn cứ Thất Sơn trở thành nơi hoạt động của hoàng thân A Soa, thể hiện mối

quan hệ liên minh chiến đấu của nhân dân Việt - Khmer.

Sau khi ổn định việc cai trị ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, thực dân Pháp vạch

kế hoạch đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Ngày 22 - 6 - 1867, quân Pháp đem

1.000 quân và tàu chiến đánh chiếm thành Châu Đốc. An Giang thất thủ. Nhân dân An

Giang liên tiếp đứng lên cầm vũ khí đấu tranh giành lại quê hương. Tại Châu Đốc, lãnh

binh Lê Văn Sanh và Đỗ Đăng Tàu bí mật tổ chức các đội thuyền ở núi Sam, mương

Vệ Thuỷ (Vĩnh Mỹ, Châu Đốc), kéo dây ngang sông Hậu ngăn tàu chiến giặc. Sau đó,

hai ông rút vào Ô Long Vĩ (huyện Châu Phú).

Trong buổi đầu quân Pháp đặt chân đến An Giang, chúng đã gặp sự phản

ứng mạnh mẽ của nhân dân, điển hình là cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa (1867 - 1873) do

Quản cơ Trần Văn Thành lãnh đạo. Quản cơ Trần Văn Thành xúc tiến xây dựng căn cứ

Láng Linh - Bảy Thưa, chiêu mộ nghĩa binh khoảng 1.200 người. Thực dân Pháp ra lời

chiêu dụ, nhưng ông nhất định từ chối. Năm 1872, Trần Văn Thành quyết định phất cờ

khởi nghĩa, lấy tên là "Binh Gia Nghị".

Sau nhiều lần chiêu dụ không thành, quân Pháp tấn công Bảy Thưa. Chúng

chia thành hai cánh quân : cánh quân thứ nhất từ Châu Đốc tiến dọc sông Hậu đánh

chiếm đồn Hàng Tràm, rồi tiến vào Láng Linh; cánh quân thứ hai từ Long Xuyên do

chủ tỉnh E.Puech và đại uý Gayon chỉ huy chuẩn bị 4 ngày lương tiến đánh từ rạch Mặc

Cần Dưng (Châu Thành) vào Sơn Trung và đánh thẳng vào Hưng Trung (gần Nam

Long tự, xã Đào Hữu Cảnh, Châu Phú).

Trước áp lực mạnh mẽ của quân Pháp, nghĩa quân chống trả quyết liệt với tinh

thần chiến đấu dũng cảm. Nhưng cuối cùng cuộc khởi nghĩa thất bại vào ngày 19 - 3 -

1873 (nhằm 21 - 2 âm lịch). Cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa thể hiện tinh thần yêu nước, ý

160

chí phản kháng chống kẻ thù thực dân của nhân dân An Giang. Quản cơ Trần Văn

Thành là tấm gương về lòng yêu nước, hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc.

Sau cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa (1873), nhiều hoạt động yêu nước diễn ra

ngấm ngầm trong nhân dân, điển hình là hoạt động của Ngô Lợi ở Thất Sơn. Ngô Lợi

bí mật đến núi Tượng (huyện Tri Tôn) lập căn cứ chiêu mộ nghĩa binh. Ông sáng lập ra

đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa và cho dựng 2 ngôi chùa Tam Bửu và Phi Lai. Từ năm 1886

đến 1897, quân Pháp ở Châu Đốc kéo quân vào làng An Định 5 lần đàn áp khủng bố.

Lần cuối cùng, chúng đã giải tán làng An Định, cưỡng chế 407 gia đình (1.994 người)

đưa về quê quán. Năm 1890, Ngô Lợi mất, phong trào tan rã.

Đầu thế kỷ XX, trào lưu tư sản ảnh hưởng mạnh mẽ, trong đó có phong trào

Đông Du. Phan Bội Châu đã vào Thất Sơn thăm dò chuẩn bị lập căn cứ vũ trang chống

Pháp. Kỳ Ngoại hầu Cường Để từng đến Tân Châu, Long Xuyên liên kết nhiều chí sĩ

yêu nước. Ông đã bàn bạc đưa Nguyễn Quang Diêu và Đinh Hữu Thuật chuẩn bị đi

Nhật. Tháng 7 năm 1913, Nguyễn Quang Diêu xuất dương đi Nhật, nhưng bị bắt ở

Trung Quốc. Thực dân Pháp kết án 10 năm tù khổ sai, đày sang Guyane (Nam Mỹ).

Sau đó, ông vượt ngục về nước, trú ngụ ở Vĩnh Hoà (Tân Châu) và mất năm 1936.

Ở Nam Kỳ diễn ra phong trào Hội Kín. Căn cứ Hội ở Thất Sơn do nhà sư

Nguyễn Văn Vân trụ trì chùa Bửu Sơn. Phan Hữu Trí và Phan Phát Sanh (Phan Xích

Long), những lãnh tụ Hội Kín đến chùa Thất Khê (gần Châu Đốc) để bàn kế hoạch.

Sau sự kiện phá Khám lớn ở Sài Gòn (1913) không thành, Phan Xích Long bị bắt. Năm

1917, phong trào tan rã.

Từ năm 1921 - 1929, cụ Nguyễn Sinh Sắc có những hoạt động yêu nước ở

An Giang với nghề hốt thuốc Bắc. Cụ đi lại hoạt động ở nhiều nơi như chùa Hoà

Thạnh (Nhơn Hưng, Tịnh Biên), chùa Giồng Thành (Long Sơn, Phú Tân), chùa Trắng

(An Phú),.. hun đúc thêm tinh thần yêu nước.

161

Năm 1930, đất An Giang lại phải chứng kiến cái chết đau thương của cụ

nghè Trương Gia Mô, một nhà nho yêu nước nhưng cảm thấy bất lực trước thời cuộc.

Ông đã gieo mình từ tháp pháo đài xuống chân núi Sam (Châu Đốc), tự kết liễu đời

mình trong nỗi tuyệt vọng.

Nhìn chung, phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở An Giang cuối thế kỷ

XIX - đầu thế kỷ XX đều thất bại, nhưng thể hiện lòng yêu nước, tinh thần độc lập tự

chủ, chí căm thù và sức mạnh quật khởi của nhân dân An Giang.

Trong cuộc kháng chiến đó, lịch sử đã sinh ra những anh hùng. Cuối năm

1912, tại bến cảng Nhà Rồng, người thợ máy Tôn Đức Thắng, người con ưu tú của quê

hương An Giang đã lên tàu sang Pháp và năm 1919, Người đến với Cách mạng xã hội

chủ nghĩa tháng Mười Nga, giương cao ngọn cờ phản chiến trên biển Hắc Hải, trở

thành một trong những tấm gương tiêu biểu cho tinh thần bất khuất Việt Nam.

Từ năm 1926 - 1927, cũng như các tỉnh Nam Bộ, ở An Giang nổi lên phong

trào yêu nước mang màu sắc mới, theo tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng

chí hội do Nguyễn Ái Quốc sáng lập vào tháng 6 - 1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc).

Đến tháng 2 - 1928, Long Xuyên thành lập Tỉnh bộ Việt Nam thanh niên cách mạng

đồng chí hội do Châu Văn Liêm làm Bí thư.

Đến tháng 4 - 1930, chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của Long Xuyên - Châu

Đốc được thành lập ở Long Điền (Chợ Mới) gồm Lưu Kim Phong, Bùi Trung Phẩm,

Đoàn Thanh Thủy, đã lãnh đạo quần chúng nhân dân đấu tranh đòi quyền lợi.

Ngày 9 - 5 - 1930, một cuộc biểu tình quy mô lớn được tổ chức tại Chợ Mới. Hơn

7.000 người từ các xã lân cận kéo về quận lỵ Chợ Mới, giương cao biểu ngữ yêu cầu

“hoãn thuế thân ba tháng, thả những người bị bắt ở Bình Thành, nhà chức trách không

được ức hiếp quần chúng, không được ngang nhiên khám xét, bắt bớ người, giảm thuế

công điền, công thổ,…” [3, tr.58]. Phát huy thắng lợi trên, ngày 28 - 5 - 1930, hàng

nghìn đồng bào trong quận Chợ Mới hàng tư, hàng năm một lần nữa kéo về quận lỵ,

162

với cờ đỏ búa liềm, biểu ngữ, hô khẩu hiệu; đưa yêu sách đòi giảm thuế thân, bỏ các

thứ thuế vô lý, tăng lương cho các thợ thuyền, binh lính,… Do có sự chuẩn bị trước

nên thực dân Pháp tập trung đàn áp, làm 4 người chết, bị thương và bị bắt hàng chục

người.

Tháng 7 - 1930, mít tinh, biểu tình diễn ra khắp nơi. Thực dân Pháp tăng

cường khủng bố, đàn áp. Nhiều cán bộ của tỉnh, quận bị bắt, trong đó có Nguyễn Văn

Cưng, Mao Văn Gương, Tám Minh,… Số đảng viên còn lại kiên trì vận động, hướng

dẫn quần chúng đấu tranh.

Đến năm 1936, với chính sách tiến bộ của Mặt trận Nhân dân Pháp, chính

quyền Pháp ở Đông Dương đã thả ra hàng nghìn đảng viên cách mạng, trong đó có các

đảng viên cộng sản ở An Giang như Ung Văn Khiêm, Bùi Trung Phẩm, Đinh Trường

Sanh… Vừa ra khỏi tù, các đảng viên này cùng với đảng viên ở địa phương phát động

phong trào đấu tranh dân chủ rộng rãi.

Hưởng ứng phong trào Đông Dương đại hội của Nguyễn An Ninh, trong năm

1936, nhiều “Ủy ban hành động” được thành lập từ thành thị đến nông thôn và hoạt

động nổi bật nhất là các Ủy ban hành động ở Chợ Mới, Tân Châu. Nhân dịp nghị sĩ

Quốc hội Pháp Honel về Chợ Mới, sáng ngày 3 - 7 - 1937 hơn 3.000 quần chúng đón

tiếp đoàn ở Mỹ Luông (huyện Chợ Mới) và 2.000 người chờ tại Chợ Mới. Ung Văn

Khiêm đại diện đồng bào tố cáo chính sách cai trị hà khắc của thực dân Pháp và đưa

hơn 1.300 thư dân nguyện đòi các quyền tự do. Honel hứa về nước sẽ trình lên Chính

phủ Pháp.

Tháng 8 - 1938, Mặt trận Nhân dân Pháp bị lật đổ. Thực dân Pháp ở Việt Nam

công khai đàn áp phong trào cách mạng. Đảng chủ trương rút vào hoạt động bí mật.

Phong trào cách mạng ở An Giang bước vào giai đoạn khó khăn.

Ngày 23 - 11 - 1940, khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ. Tuy Liên Tỉnh ủy Long

Xuyên (tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá, Hà Tiên) nhận được lệnh khởi nghĩa từ

163

Xứ ủy Nam Kỳ trễ nhưng vẫn quyết định khởi nghĩa. Trọng điểm tấn công ở tỉnh Long

Xuyên là Chợ Mới, ở tỉnh Châu Đốc là Tân Châu. Đêm 2 rạng 3 - 12 - 1940, khởi

nghĩa bùng nổ. Ở Chợ Mới chỉ đốt được nhà dây thép của quận lỵ và phá cầu, cắt dây

thép, phá lộ, đốn cây dọc đường giao thông từ Chợ Mới đến kênh Cựu Hội. Cuộc tấn

công Chợ Mới không thành, Lương Văn Cù trực tiếp chỉ huy du kích cố thủ ở xã Nhơn

Mỹ. Sau nhiều ngày bao vây, Pháp truy bắt được Lương Văn Cù. Ở Tân Châu không

thực hiện được kế hoạch vì Pháp phòng bị nghiêm ngặt. Tịnh Biên đưa lực lượng ra tấn

công Châu Đốc nửa đường bị lộ phải rút.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9 - 3 - 1945), phong trào cách mạng ở An

Giang tiếp tục lên cao. Cuối tháng 4 - 1945, Tỉnh ủy lâm thời Long Xuyên - Châu Đốc

được thành lập và tích cực chuẩn bị lực lượng vũ trang và phát triển các đoàn thể quần

chúng chuẩn bị giành chính quyền.

Rạng sáng ngày 25 - 8 - 1945, lực lượng quần chúng từ Chợ Mới, Châu

Thành,… kéo về tỉnh lỵ với băng cờ, khẩu hiệu rợp các đường vào tỉnh lỵ, tập hợp

trước nhà hội Mỹ Phước (nay là trụ sở Uỷ ban nhân dân phường Mỹ Long, Long

Xuyên). Đúng 12 giờ ngày 25 - 8, đồng chí Nguyễn Văn Nhung đại diện Đảng bộ

Đảng Cộng sản Đông Dương tỉnh Long Xuyên tuyên bố trước đồng bào xóa bỏ chính

quyền cũ và chính quyền thuộc về tay nhân dân.

Tại tỉnh lỵ Châu Đốc, tối đêm 25 - 8 - 1945, lực lượng tại chỗ kết hợp với lực

lượng Tân Châu sang vây chặt dinh Tỉnh trưởng, đồn Cảnh sát, thành Sơn Đá, kho bạc,

kho súng… Đúng 3 giờ sáng ngày 26 - 8, lực lượng của ta tiến vào các cơ sở công

cộng, cơ quan của địch. Tỉnh trưởng Hồ Tấn Khoa đầu hàng. Sáng ngày 27 - 8, nhân

dân Châu Đốc mít tinh mừng thắng lợi.

Trong vòng một tuần lễ, nhân dân 2 tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc dưới sự lãnh

đạo của Đảng đã vùng lên đánh đổ ách thống trị của bọn cướp nước và bán nước, giải

164

phóng cuộc đời nô lệ của người dân mất nước để đứng lên làm chủ cuộc đời. Ngày đó

đã đi vào lịch sử quê hương An Giang với những trang chói lọi và niềm tự hào to lớn.

Cách mạng tháng Tám thắng lợi, nhân dân An Giang được hưởng độc lập tự

do không được bao lâu thì phải đương đầu với những khó khăn và thử thách. Ngày 9 -

1 - 1946, được Anh giúp đỡ, thực dân Pháp tấn công Long Xuyên, mở đầu cho cuộc

xâm chiếm An Giang. Đến tháng 2 - 1946, Pháp đã chiếm hầu hết 2 tỉnh Long Xuyên,

Châu Đốc. Lực lượng kháng chiến của ta phải rút vào rừng núi củng cố lực lượng.

Sau khi chiếm An Giang xong, thực dân Pháp tiến hành lập bộ máy cai trị các

cấp, dùng tay sai chỉ điểm, lùng sục bắt bớ cán bộ, đảng viên và quần chúng cơ sở.

Trước sự khủng bố của kẻ thù, Tỉnh uỷ Châu Đốc rút về Hồng Ngự (Đồng Tháp), còn

Tỉnh uỷ Long Xuyên rút về Tân Phú (Đốc Vàng, Đồng Tháp) làm căn cứ kháng chiến.

Sau khi củng cố và xây dựng cơ sở, Tỉnh uỷ Long Xuyên - Châu Đốc phát động phong

trào vũ trang đánh địch, cướp vũ khí địch để tự vũ trang.

Ngày 28 - 7 - 1946, đơn vị của Trần Thắng tổ chức đánh úp đồn Tham Buông

(Chợ Mới), bắt sống toàn bộ 20 tên lính, giết chết tên đồn trưởng, thu toàn bộ súng đạn.

Lực lượng vũ trang còn đánh úp đồn Mặc Cần Dưng (Châu Thành). Ngoài ra, phong

trào “đâm Tây giựt súng” diễn ra khắp nơi.

Trên mặt trận quân sự, đẩy mạnh chiến tranh du kích, chủ động tấn công địch.

Tiểu biểu như bắn cháy một tàu địch ở Cột Dây Thép (xã Long Điền, Chợ Mới) vào

ngày 9 - 2 - 1947, diệt 21 sĩ quan, hạ sĩ quan, trong đó có 18 tên Pháp; đánh tan rã 1

tiểu đoàn Lê Dương của Binh đoàn Nyô tại Chân Đùng (xã Long Kiến, Chợ Mới) vào

tháng 7 - 1947, diệt hơn 100 tên; chặn đánh tàu địch trên sông Sở Thượng vào tháng 4 -

1949; chiến công ở cầu sắt Vĩnh Thông (Tri Tôn) từ ngày 3 đến 10 - 6 - 1949,… Đặc

biệt, để giành quyền chủ động trên chiến trường, Bộ đội Tư lệnh Nam Bộ quyết định

mở chiến dịch Long Châu Hậu (Long Châu Hà I) từ ngày 3 đến 10 - 2 - 1950, giành

thắng lợi to lớn.

165

Để chủ động thế chủ động tấn công địch, ta quyết định mở chiến dịch Long

Châu Hà II. Trọng tâm của chiến dịch là vùng Châu Thành, Châu Phú, Thốt Nốt. Kết

quả, bộ đội ta tiêu diệt và bắt sống hơn 300 tên địch, phá huỷ 4 lô cốt, nhiều tháp canh,

thu được nhiều vũ khí và đạn dược. Chiến dịch có ảnh hưởng rất lớn về chính trị đối

với vùng chiếm đóng của quân Pháp. Quần chúng tín đồ thấy rõ được bộ mặt thâm độc

của thực dân Pháp và bọn thủ lãnh quân sự phản động.

Cùng với Long Châu Hà, tháng 3 - 1951, tỉnh Long Châu Sa mở chiến dịch

Phú Châu ở Phú Hữu, Đồng Ky, Phước Hưng, Khánh Bình, Khánh An (An Phú) nhằm

tiêu hao sinh lực địch.

Hưởng ứng chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954, Long Châu Hà và Long Châu

Sa chuyển mạnh sang thế tấn công, phát triển giao thông chiến, binh vận,… để tiêu

hao, tiêu diệt và cầm chân địch. Sau Hiệp định Genève được ký kết về chấm dứt chiến

tranh ở Đông Dương, ngày 12 - 8 - 1954, quân dân Long Châu Hà và Long Châu Sa

chấp hành lệnh ngừng bắn, chuyển quân về vị trí tập kết.

Cuộc kháng chiến chống Pháp của quân dân An Giang đã góp phần xứng đáng

vào tháng lợi chung của cả nước. Thắng lợi này đã tạo ra những điều kiện thuận lợi

mới cho quân dân An Giang bước vào cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ sau này.

3.2.2.3. Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Sau năm 1954, Mỹ vào miền Nam thay chân Pháp, đặt ách thống trị thực dân

mới, hòng chia cắt lâu dài đất nước ta. Từ năm 1955, phong trào đấu tranh đòi thi hành

Hiệp định Genève, đòi hiệp thương tổng tuyển cử, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ Long

Xuyên, Châu Đốc diễn ra khá sôi nổi. Trong tháng 5 năm 1955, diễn ra hai cuộc đấu

tranh của hàng trăm đồng bào Vĩnh Xương (Tân Châu), Thới Sơn, Nhơn Hưng, An Cư

(Tịnh Biên) đòi chính quyền phải thi hành Hiệp định Genève, chống khủng bố và bắt,

giết những người kháng chiến cũ, thả những người bị bắt vì đấu tranh hoà bình. Cao

điểm của phong trào này là cuộc tập hợp nhân dân Thường Phước, An Hoà Xương,

166

Long Sơn, Long Thuận… tại quận lỵ Tân Châu vào ngày 20 - 7 - 1955, hơn 2.000

người đòi chính quyền miền Nam phải “lập quan hệ bình thường Nam Bắc, tổ chức

hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước; thả những người bị bắt, không được trả

thù, trả oán; thực hiện các quyền dân sinh dân chủ, đổi bạc xé hai” [79, tr.287].

Cùng với phong trào đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử, Đảng bộ Long

Xuyên, Châu Đốc còn lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ. Tiểu

biểu ở Bảy Núi, hơn 1.000 đồng bào Khmer kéo tới dinh Quận trưởng đấu tranh, vạch

trần Mỹ là xâm lược, nguỵ là tay sai bán nước.

Năm 1960, tại Bảy Núi, Tiểu đoàn 512 được thành lập và lập được nhiều

chiến công đánh Mỹ - nguỵ như ở Vọng Thê (Thoại Sơn), đã diệt gọn ba đồn giặc, thu

hơn 50 súng các loại, phá tan khu trù mật; ở Ô Cạn (núi Dài lớn) đã phục kích đoàn xe

Quận trưởng Tri Tôn (13 - 5 - 1960), phá lễ khánh thành khu trù mật Ba Chúc (18 - 6 -

1960),…

Đầu tháng 9 - 1960, Hội nghị Tỉnh uỷ mở rộng ở núi Tô (Tri Tôn) bàn kế

hoạch thực hiện “Đồng khởi” theo chỉ đạo của Xứ uỷ. Vùng Bảy Núi là trọng điểm,

Tân Châu và An Phú là điểm phụ. Phong trào “Đồng khởi” diễn ra và giành thắng lợi ở

xã Ô Lâm, Lương Phi, Văn Giáo (Tri Tôn), Ba Chúc, Thới Sơn, Nhơn Hưng (Tịnh

Biên), Kiến An (Chợi Mới), Vọng Thê (Thoại Sơn), Cần Đăng (Châu Thành),.. Với

thắng lợi lớn của phong trào, cuối năm 1960, Uỷ ban dân tộc giải phóng tỉnh An Giang

được thành lập.

Từ ngày phong trào đấu tranh vũ trang phát triển mạnh, ở An Giang xuất hiện

nhiều trận đánh lớn, nhiều chiến thắng vang dội mà đỉnh cao là cuộc tổng tiến công và

nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Ta tổ chức cuộc Tổng công kích và làm chủ tỉnh lỵ Châu

Đốc và quận lỵ Tri Tôn. Ngoài tiến công vào trọng điểm thị xã Châu Đốc, quân dân An

Giang còn đánh vào căn cứ của quân Mỹ - nguỵ ở khắp 54 xã, 6 thị trấn, 4 khu phố,

một chi khu và một trung tâm huấn luyện, góp phần cho cách mạng miền Nam buộc

167

địch xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán Paris với ta về chấm dứt chiến

tranh.

Song song đó, phong trào phá ấp chiến lược lên tới đỉnh cao với những cuộc

đấu tranh chính trị, lực lượng vũ trang nổ liên tục ở nhiều nơi. Đến cuối năm 1963, “có

381 ấp/425 ấp chiến lược toàn tỉnh bị phá sạch” [79, tr.308]. Ở đô thị, từ 1966 - 1967,

liên tục có các cuộc đấu tranh, bãi khoá chống Mỹ, chống bắt lính của học sinh trường

Thoại Ngọc Hầu (Long Xuyên), Thủ Khoa Nghĩa (Châu Đốc). Nhiều phong trào đấu

tranh công khai ra đời : Hội bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi phụ nữ An Giang, Hội ái

hữu cựu học sinh Thoại Ngọc Hầu,…

Từ năm 1968 đến cuối năm 1971, quân Mỹ - nguỵ tiến hành nhiều cuộc

bình định, đánh phá căn cứ cách mạng, chủ yếu ở Núi Tô (Tri Tôn). Ngày 17 - 11 -

1968, tướng Mỹ Eskha chỉ huy 18.000 quân các loại thay phiên nhau đánh vào núi Tô,

Tức Dụp với ý định một tuần sẽ kiểm soát hoàn toàn nơi này. Trong 3 ngày đầu, quân

Mỹ - nguỵ cho 11 phi vụ B.52, B.57, phản lực ném bom cùng 13 trận địa pháo bắn vào

Tức Dụp, núi Tô. Sau đó đổ một trung đoàn lính dù từ trên núi Tô đánh xuống. Đương

đầu với quân Mỹ - nguỵ với số lượng gấp 50 lần, nhưng quân dân An Giang đã chiến

đấu anh dũng, bảo vệ núi Tô và lập được thành tích to lớn: “Buộc địch phải kéo dài

thời gian của một trận càng có qui mô lớn nhất từ trước đến nay vào vùng Bảy Núi.

Phải trả một giá đắt với 2.000 sinh lực bị tiêu hao, tiêu diệt và hàng triệu đô la chiến

phí” [13, tr.212]. Cuộc chiến kéo dài 128 ngày đêm. Với ý chí kiên cường, chiến đấu

anh dũng của quân và dân Tri Tôn xứng đáng được phong tặng 8 chữ vàng "Kiên

cường bám trụ, giữ vững núi Tô".

Sau khi ký Hiệp định Paris (27 - 1 - 1973), nhân dân An Giang đấu tranh đòi

hoà bình, dân sinh, dân chủ, chống địch phá hoại Hiệp định. Phong trào đấu tranh ở đô

thị tiếp tục phát triển, “với các cuộc đấu tranh của giáo chức thị xã Long Xuyên như

hội thảo, làm kiến nghị đòi bỏ thuế kiệm ước, giảm giá sinh hoạt, tăng lương giáo

viên,… Sinh viên Đại học Hoà Hảo An Giang còn tham gia đấu tranh đòi thi hành Hiệp

168

định, chống “Việt Nam hoá chiến tranh”, đòi tăng thêm tuổi hoãn dịch cho thanh niên

học sinh” [79, tr.334].

Mùa khô năm 1975, vùng Tây Nguyên giải phóng, Bộ Chính trị và Trung

ương Cục ra Nghị quyết 15 các tỉnh tiến hành Tổng công kích. Đầu tháng 4 năm 1975,

lực lượng vũ trang An Giang tấn công địch ở Tri Tôn, Tịnh Biên, Châu Thành. Cho

người vào nội ô nắm tình hình, lãnh đạo binh vận, tuyên truyền chính trị cách mạng,

xây dựng cơ sở nội tuyến, chờ thời cơ nổi dậy.

Ngày 30 - 4 - 1975, Sài Gòn giải phóng, tạo điều kiện cho An Giang tiếp tục

giải phóng quê hương. Ngày 1 - 5 - 1975, quân ta giải phóng huyện Tịnh Biên, Tân

Châu, Huệ Đức, Tri Tôn, thị xã Long Xuyên và Châu Đốc.

Tại huyện Chợ Mới, từ chiều 30 - 4 đến 2 - 5 - 1975, lực lượng huyện từ Mỹ

An Hưng (Lấp Vò, Đồng Tháp) về đánh tan các tuyến phòng ngự của địch ở Hội An,

Hoà Bình, An Thạnh Trung, chiếm Chi khu Chợ Mới. Hơn 5.000 binh lính tàn quân

địch từ Long Xuyên, Châu Phú, Phú Tân chạy về Tây An Cổ tự (nay thuộc xã Long

Giang, huyện Chợ Mới) tổ chức tử thủ. Ngày 6 - 5 - 1975, Tây An Cổ tự là điểm cuối

cùng ở An Giang được giải phóng.

Như vậy, đến ngày 6 - 5 - 1975, tất cả 11 huyện, thị, thành trong tỉnh An

Giang hoàn toàn giải phóng. Tuy nhiên, “có một sự trùng hợp lịch sử giống như miền

Nam đi trước về sau : Chợ Mới là nơi treo lá cờ Đảng đầu tiên của An Giang vào tháng

4 - 1930, thì nay là nơi kết thúc sau cùng của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc suốt 45

năm kiên cường và bền bỉ của Đảng bộ và nhân dân An Giang” [4, tr.267].

3.2.2.4. Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam

Ngay sau khi thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, từ ngày 2 - 5 - 1975, quân

Pol Pot ngày nào cũng dùng súng cối, pháo bắn vào nội địa Tịnh Biên. Ngày 7 - 5 -

1975 và ngày 19 - 5 - 1975, chúng tấn công vào xã Vĩnh Gia (Tịnh Biên) và Vĩnh

169

Xương (huyện Phú Châu), nhưng lực lượng vũ trang An Giang đánh đuổi chúng ra

khỏi biên giới.

Đêm 30 - 4 - 1977, lợi dụng trời tối, quân Pol Pot sang đất An Giang ém sẵn.

Đúng nửa đêm đồng loạt nổ súng tấn công vào 14 xã biên giới. Bị đánh bất ngờ nhưng

các đội du kích xã và bộ đội địa phương đánh trả quyết liệt, không cho địch lấn sâu vào

nội địa. Nhờ Quân khu tăng cường lực lượng, Sư đoàn 330 phối hợp với lực lượng của

tỉnh đã đánh bật quân Pol Pot ra khỏi biên giới. Bị thua đau, “địch điên cuồng bắn cấp

tập pháo 105 ly và cối làm hơn 100 đồng bào ở thị xã Châu Đốc chết và bị thương”

[79, tr.350], buộc nhân dân ở thị xã Châu Đốc và vùng biên giới sơ tán về phía sau.

Mùa khô năm 1978, một lần nữa quân Pol Pot đánh sâu vào nội địa tỉnh An

Giang : Ba Chúc, Phú Cường, Cây Trâm, Đa Phước, Phú Hội, Khánh An, Khánh Bình,

Phú Hữu, Vĩnh Lộc, Vĩnh Xương, Vĩnh Hoà, Tân An,… gây biết bao tội ác đối với

nhân dân An Giang. Tại Ba Chúc (Tri Tôn), “chúng đi đến đâu là đốt phá nhà cửa,

cướp bóc tài sản, hãm hiếp phụ nữ, giết người hàng loạt đến đó. Những thủ đoạn giết

người tàn bạo, man rợ hơn cả thời kỳ trung cổ được tiến hành, người lớn chúng đập

đầu bằng tầm vông, bằng dùi, trẻ em bị xé xác ném vào lửa hoặc thảy lên trên không

rơi xuống đất cho chết. Bọn Pol Pot đã giết hại dân lành xã Ba Chúc là 3.157 người”

[11, tr.34].

Ngày 1 - 5 - 1978, các lực lượng vũ trang tỉnh An Giang, với sự chi viện của

Quân khu 9, bất ngờ tập kích, bao vây các địa điểm của quân Pol Pot chiếm đóng.

Ngày 3 - 5 - 1978, ta đẩy lùi chúng ra khỏi vùng Bảy Núi, “tiêu diệt gần 500 tên, làm bị

thương hàng trăm tên, đánh thiệt hại nặng 11 tiểu đoàn” [77, tr.26]. Tuy nhiên, quân

Pol Pot còn chiếm đóng 9 điểm dọc theo biên giới như ở Vĩnh Gia, Lạc Quới, An Nông

(huyện Bảy Núi), Nhơn Hội, Khánh Bình, Phú Hữu, Vĩnh Xương, Vĩnh Hoà (huyện

Phú Châu).

170

Căm thù quân Pol Pot, các chiến sĩ và nhân dân An Giang liên tiếp mở nhiều

trận tiến công quân Pôn Pốt “ở núi Tượng, Phú Cường, Bà Bài (xã Vĩnh Ngươn), Nhơn

Hội, Khánh Bình và cánh đồng 5 xã Phú Châu, diệt và làm bị thương hơn 1.000 tên,

thu hàng trăm vũ khí các loại” [51, tr.75] Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới ngày càng

diễn ra ác liệt. Ngày đêm các lực lượng vũ trang anh dũng đánh trả, giành từng tấc đất,

từng đoạn sông, từng công sự. Ta kiên cường bám trụ, giữ vững trận địa như ở Mương

Chín Sớm (xã Phước Hưng), cầu số 7, 8 (xã Phú Hội), chốt xã Vĩnh Hội Đông,…

Ngày 1 - 1 - 1979, ta tổng phản công, quân Pol Pot bị đẩy ra khỏi biên giới.

Hoà bình được lập lại trên biên giới An Giang.

Trong suốt những năm dài chiến đấu chống giặc ngoại xâm, dưới sự lãnh đạo

của Đảng bộ An Giang, quân dân An Giang đã lập nên biết bao chiến công vẻ vang. Đó

là những trang sử vô cùng quí báu, đầy niềm tự hào của con người An Giang.

3.3. Một số nhân vật lịch sử tiêu biểu liên quan đến vùng đất An Giang

NGUYỄN HỮU KÍNH (1650 - 1700)

Nguyễn Hữu Kính còn gọi là Nguyễn Hữu Cảnh, quê làng Gia Miêu, huyện

Tống Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Ông làm quan dưới đời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-

1725), là một tướng tài với danh hiệu “Hắc hổ”, được phong tước Lễ Thành Hầu, chức

Chưởng binh. Năm 1639, ông dẫn đầu đoàn quân chinh phạt Chiêm Thành và bắt được

vua xứ này là Bà Tranh.

Năm 1698, ông được cử làm Kinh lược sứ Chân Lạp, năm sau trở về chiêu dân

lập ấp, khai phá đất Đông Phố lập nên dinh Trấn Biên, sau đó lại lấy xứ Sài Côn lập

dinh Phiên Trấn. Năm 1699, Nặc Ông Thu (vua Chân Lạp) đem quân tiến công nước

ta, cướp bóc dân buôn trên sông Cửu Long, tìm cách chống phá chúa Nguyễn. Ông

171

được chúa Nguyễn cử vào chống trả, theo sông Tiền vào Nam Vang đánh tan quân Nặc

Ông Thu.

Năm 1700, khi quan quân đóng tại Chợ Mới ngày nay. Ông quyết định: “cho

quân sĩ vét sâu, khơi rộng thêm nhánh sông Tiền rẽ ngang xuống sông Hậu, từ Vàm

Thủ Ngự Hùng Sai đến Vàm Cái Hố” (tức rạch Ông Chưởng ngày nay) [25, tr.106].

Sông sâu, lòng rộng thuyền bè đi lại dễ dàng, nhất là cung cấp dòng nước ngọt quý giá

cho người và trồng trọt.

Hầu hết công tác bình định, khai hoang lập ấp ở miền Nam vào giai đoạn này

phần lớn đều do công của ông. Đương thời đồng bào Nam Bộ có lập đền thờ ông ở

nhiều nơi như Biên Hoà, An Giang,... Ở huyện Chợ Mới (An Giang) có môt cù lao

được nhân dân đặt tên là Cù lao Ông Chưởng và một con rạch lớn gọi là Lòng Ông

Chưởng. Ngoài ra, ở thủ đô Phnôm Pênh (Campuchia) cũng có đền thờ ông.

NGUYỄN VĂN THOẠI (1761 - 1829)

Nguyễn Văn Thoại còn gọi là Thoại Ngọc Hầu, sinh ngày 26 tháng 11 năm

1761 tại huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam. Ông xuất thân trong một gia đình nông

dân nghèo. Cuối thời chúa Nguyễn, ông cùng gia đình di cư vào Nam sinh sống tại cù

lao Dài (huyện Vũng Liên, tỉnh Vĩnh Long).

Năm 16 tuổi (1777), ông đầu quân theo phò Nguyễn Ánh, hơn 25 năm phục

vụ, lập được nhiều chiến công, làm đến Khâm sai Thượng đạo Bình Tây tướng quân,

được phong tước Hầu (Thoại Ngọc Hầu).

Khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua (1802), ông được cử làm Khâm sai Thống binh

Chưởng cơ ở Bắc Thành (Hà Nội). Sau làm Trấn thủ Lạng Sơn, rồi vào Nam với chức

vụ Trấn thủ Định Tường và sau đó giữ chức Thống quản biền binh bảo hộ Cao Miên.

Năm 1816, ông cho tiến hành đắp thành Châu Đốc. Năm sau được cử làm

Trấn thủ Vĩnh Thanh. Ở trấn Vĩnh Thanh, ông chủ trương khai hoang lập ấp vùng biên

giới An Giang và thực hiện nhiều công trình đào kênh lớn. Năm 1818, ông thiết kế và

172

đốc xuất dân binh đào kênh Thoại Hà nối từ cảng Đông Xuyên (Long Xuyên) đến Giá

Khê (Rạch Giá). Tiếp theo, năm 1819 ông được lệnh vua Minh Mạng cho đào kênh

Vĩnh Tế nối Châu Đốc với Hà Tiên.

Năm 1836, vua Minh Mạng cho đúc Cửu đỉnh làm quốc bảo, hình kênh Vĩnh

Tế được chạm vào Cao đỉnh. Đây là một di vật đối với cá nhân ông cũng như tập thể

nhân dân tham gia vào công trình đào kênh Vĩnh Tế.

Ông mất tại Châu Đốc vào ngày 6 tháng 6 năm 1829 lúc đang tại chức, thọ 68

tuổi, an táng tại chân núi Sam.

Về nhân cách, ông là người trung thực, cần mẫn, chăm lo công việc quốc gia.

Về kinh tế, Nguyễn Văn Thoại là một nhà doanh điền lớn với các chủ trương thực hiện

đào kênh, đắp lộ, khai hoang lập làng ở An Giang với nhiều công trình lớn có ích cho

"quốc kế dân sinh". Về quốc phòng, ông chú tâm bảo vệ biên giới, xây thành Châu

Đốc, đào kênh Vĩnh Tế, di dân lập làng định cư nơi biên giới.

Do những cống hiến lớn của ông đối với nhân dân An Giang, nên lúc còn

sống đến khi qua đời, triều đình cũng như nhân dân luôn ghi tạc công đức và tôn thờ

ông như một vị thần.

DOÃN UẨN (1795 - 1850)

Doãn Uẩn quê làng Ngoại Lăng, nay là xã Song Lăng, huyện Vũ Thư, tỉnh

Thái Bình. Năm 19 tuổi, ông là học trò của Đình nguyên Hoàng giáp Bùi Huy Bích,

một cận thần danh vọng thời Hậu Lê. Năm 1828, ông đỗ Cử nhân hạng ưu.

Trải qua ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, trong khoảng 20 năm,

Doãn Uẩn nắm giữ nhiều chức vụ và công việc khác nhau : từ chức Chủ sự, rồi tới

Thượng thư Bộ Binh.

Năm 1844, ông được cử vào Nam với chức Tuần phủ An Giang. Biết rõ tài năng

của ông, trước khi đi, vua Thiệu Trị đã phủ dụ : “Nếu không phải là bầy tôi thân tín, há

có thể giao phó việc quan trọng về biên cương” và “Với khanh thì trẫm đã biết từ lâu,

173

nên vì trẫm mà hết lòng giúp việc lớn ở biên giới” [66, tr.15]. Tại đây ông tận tuỵ phục

vụ nhân dân, có công khai thác mở mang vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Năm 1845, ông cùng với Võ Văn Giai, Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Nghị

đánh binh sang đánh Chân Lạp và đuổi quân Xiêm. Ông cùng với Nguyễn Tri Phương

đánh chiến thành Ba Nam, thẳng tới Nam Vang đánh bại quân Xiêm và quân Chân

Lạp, buộc người Xiêm phải xin hoà.

Với chiến công đó, ông được thăng lên làm Tổng đốc An Hà (An Giang và Hà

Tiên). Trong thời gian tại chức, “Doãn Uẩn luôn là vị quan thanh liêm, một chính trị

gia vì nước vì dân; đặc biệt ông là một vị nho tướng có tài thao lược, có công lớn trong

việc mở mang, khai thác vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cầm quân bảo vệ biên

giới Tây Nam của Tổ quốc” [66, tr.13] và được triều đình khen là “An Tây mưu lược

tướng”, phong tước Tuy Tĩnh Tử.

Ngoài ra, Doãn Uẩn còn là một nhà thơ, nhà văn. Ngoài giá trị thơ văn, những

tác phẩm của ông còn mang một giá trị đặc biệt về lịch sử, địa lý, phản ánh cuộc đấu

tranh bảo vệ vùng biên giới An Giang.

Ngày 3 - 1 - 1850, ông bệnh và mất tại An Giang. Vua Tự Đức truy tặng ông

hàm Hiệp biện Đại học sĩ và khắc vào bia Võ công tại kinh đô Huế.

ĐOÀN MINH HUYÊN (1807 - 1856)

Đoàn Minh Huyên sinh năm 1807 tại Tòng Sơn, tổng An Định, huyện Vĩnh

An, trấn Vĩnh Thanh (nay xã Mỹ An Hưng A, huyện Lấp Vò, Đồng Tháp). Sau khi mẹ

mất, ông bỏ làng ra đi. Năm 1949, Đoàn Minh Huyên trở lại làng Tòng Sơn hốt thuốc

trị bệnh. Lúc này, bệnh dịch tả đang hoành hành dữ dội. Theo thống kê của Bộ Hộ triều

đình Nguyễn “trong hai năm 1949 và 1950 dịch tả đã làm chết 589.460 người trong cả

nước, riêng Vĩnh Long có 43.000 người chết” [22, tr.249]. Ông từ Trà Bư, rồi đến vùng

Kiến Thạnh (Long Điền B, Chợ Mới, An Giang) trổ tài giúp đỡ dân chúng. Trước là

174

chữa bệnh, sau là truyền bá giáo lý và thu hút quần chúng hưởng ứng nhiệt liệt. Tín đồ

ông đều được phát một tông phái ghi 4 chữ “Bửu Sơn Kỳ Hương”.

Tổng đốc An Giang Huỳnh Mẫn Đạt ra lệnh bắt ông giải về Châu Đốc vì nghi

ngờ ông hoạt động chính trị, nhưng xét không bằng cớ, phải trả tự do cho ông.

Khoảng năm 1849 - 1856, ông đến các phần đất phía Tây Thất Sơn và Láng

Linh, dựng chùa, lập trại ruộng. Trại ruộng ở Thới Sơn, ông đặt là danh hiệu “Bửu

Hương các”. Ông mất vào ngày 12 - 8 - 1856 tại chùa Tây An (Núi San, thị xã Châu

Đốc). Tuy là một tu sĩ, nhưng Đoàn Minh Huyên còn là một nhà yêu nước, nhà dinh

điền lớn có công khai hoang vùng đất An Giang.

NGÔ LỢI (1830 - 1890)

Ngô Lợi sinh ngày 5 - 5 - 1830 tại Trà Tân, Mỹ Tho. Ông còn có tên Ngô Viện.

Người trong đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa gọi tôn kính là Đức Bổn Sư. Năm 1870, nạn dịch

hoành hành ở Mỹ Tho, ông phát bùa trị bệnh và tập hợp lực lượng chuẩn bị khởi nghĩa.

Giám đốc Nội vụ Sài Gòn ra lệnh cho các quan Tham biện Nam Kỳ tiếp tục truy nã.

Chúng treo giải thưởng cho những ai bắt được Ngô Lợi sẽ thưởng 1.000 quan.

Sau sự kiện khởi nghĩa ở Mỹ Tho thất bại. Ông bí mật đến núi Tượng (Tri

Tôn) lập căn cứ, chiêu mộ nghĩa binh.

Ngô Lợi sáng lập ra giáo phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa ở núi Tượng. Ông lấy đạo

Phật làm gốc tín ngưỡng và đem đức Hiếu Nghĩa làm phương châm ở đời mà truyền

dạy tín đồ, ông tổ chức một đoàn thể kháng Pháp, có tiếng vang trong vùng Long -

Châu - Hà (Long Xuyên - Châu Đốc - Hà Tiên). Về sau tình hình không ổn định, lại bị

Pháp theo dõi khủng bố, ông lẩn tránh nơi núi sâu vùng Thất Sơn lập làng, khai khẩn

đất hoang nhằm giúp đỡ chúng sinh và dân nghèo,…

Khoảng 1888, sau khi vua Hàm Nghi bị hai tên nội phản Trương Quang Ngọc

và Nguyễn Định Tính bắt nộp cho Pháp, có một vài cận thần chạy vào Nam. Có người

175

nghe tiếng tu sĩ Ngô Lợi giàu lòng yêu nước, đến núi Tượng ở An Giang tìm gặp ông

liên hệ việc chống Pháp.

Năm 1890, ông mất tại núi Dài (Tri Trôn) thọ 60 tuổi.

TRẦN VĂN THÀNH ( ? - 1873)

Trần Văn Thành thường gọi là Quản cơ Thành, quê ở làng Bình Thạnh Đông,

tổng An Lương, tỉnh An Giang (nay xã Phú Bình, huyện Phú Tân, An Giang).

Ông là tu sĩ Phật giáo thuộc phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Từ năm 1840, ông nhập

ngũ trong quân đội ở An Giang, được tuyển làm suất đội, từng đóng quân ở Chân Lạp

(campuchia). Năm 1845, ông làm Chánh Quản cơ, đóng quân ở Châu Đốc, canh phòng

người Chân Lạp hay sang cướp phá, dày công bình định xứ sở, đem lại an ninh cho

nhân dân.

Năm 1862, giặc Pháp sau khi chiếm lĩnh ba tỉnh miền Đông, chuẩn bị chiếm

ba tỉnh miền Tây. Hưởng ứng với các nhóm nghĩa quân khắp nơi kháng chiến cứu

nước, ông lập căn cứ kháng chiến ở vùng Láng Linh (Châu Phú, An Giang) chống

Pháp. Địa bàn hoạt động của ông kéo dài từ cánh đồng Láng Linh đến khu rừng Bảy

Thưa (giữa Long Xuyên và Châu Đốc), bản doanh đặt tại trung tâm rừng Bảy Thưa với

danh hiệu “Hưng Trung doanh”.

Cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa do ông lãnh đạo vang dội khắp miền Tây, từng làm

cho giặc Pháp khiếp sợ. Đầu năm 1873, giặc Pháp cho người mang thư đến bản doanh,

khuyên ông qui thuận sẽ được trọng đãi. Ông cương quyết bất hợp tác với giặc, chỉ một

mất một còn mà thôi.

Sau đó, giặc Pháp từ phía Châu Đốc chia quân tiến công dữ dội. Con trai ông

là Trần Văn Chái bị giặc bắt và sau đó tuẫn tiết trong nhà ngục Châu Đốc. Bản doanh

Hưng Trung bị tàn phá, thất bại nặng, ông rút lui vào chiến khu và mất vào ngày 21 -2

âm lịch năm 1873.

PHAN VĂN VÀNG ( ? )

176

Phan Văn Vàng nguyên là Cai cơ trong quân ngũ triều đình Huế trấn giữ các

binh trại ở An Giang (theo binh chế ngày trước, 1 cơ gồm 500 quân). Khi Pháp chiếm

xong thành Châu Đốc, các cơ binh của ông đều bị giải giới. Ông lui về Tân Châu sinh

sống bằng nghề nông nghiệp. Tình cờ, “một hôm có một chuyên viên thủy văn người

Pháp nhờ ông tìm một số nhân công giúp việc dưới tàu đến Campuchia nghiên cứu tình

hình mực nước sông Mê Kông” [76, tr.33]. Ông xin quá vang theo. Khi đến

Campuchia, ông thấy nông dân ở đây canh tác lúa nổi chịu sức nước, nước cao bao

nhiêu thì lúa cao bấy nhiêu. Rồi ông tìm hiểu phương pháp, kỹ thuật gieo trồng. Về

nghiên cứu vùng đất quanh tỉnh Châu Đốc thấy thích ứng với giống lúa trên, ông mướn

phương tiện trở lên Campuchia mua hai giống lúa, tên gọi được Việt hóa là lúa Nàng

Đùm và lúa Nàng Phược đem về gieo sạ thí điểm. Kết quả thu hoạch đáng kể, nên ông

được chủ tỉnh Châu Đốc khen ngợi và đem nhân rộng giống lúa này ra quanh vùng. Đó

là vinh hạnh cho tỉnh An Giang có người tìm ra giống lúa mới cung cấp cho nông dân

trong vùng ngập lũ hằng năm. Tên ông được đặt cho một con đường trong nội ô thị xã

Châu Đốc.

NGUYỄN QUANG DIÊU (1880 - 1936)

Nguyễn Quang Diêu sinh năm 1880 tại làng Tân Thuận, tổng An Tịnh, huyện

Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay tỉnh Đồng Tháp). Năm 1907, ông tham gia phong trào

Đông du và liên hệ mật thiết với các chí sĩ yêu nước : Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Thần

Hiến, Đặng Thúc Liêng, Dương Bá Trạc, Võ Hoành.

Năm 1913, hưởng ứng kêu gọi của Phan Bội Châu, Cường Để, ông cùng với

Nguyễn Thần Hiến sang Hương Cảng hoạt động cùng với các đồng chí. Vừa đến nơi bị

thực dân Pháp bắt đem về Hoả Lò (Hà Nội), rồi đày sang Guyane (Nam Mỹ), khoảng

năm 1917 ông vượt nục qua đảo Trinidad (thuộc địa của Anh) giả dạng làm người

Trung Quốc. Năm 1920 đến Washington (Mỹ) rồi thẳng đường về Trung Quốc, Hương

Cảng tìm cách liên lạc với các nhà cách mạng Việt Nam ở hải ngoại.

177

Cuối năm 1926, ông bí mật về hoạt động trong nước. Ông đặt cơ sở tại làng

Vĩnh Hoà (huyện Tân Châu, An Giang) làm địa bàn hoạt động. Đến ngày 5 - 5 - 1936,

ông qua đời vì bệnh thương hàn, hưởng dương 56 tuổi. Nguyễn Văn Hầu nhận xét về

Nguyễn Quang Diêu như sau : “Xét về sự nghiệp cách mạng của Nguyễn Quang Diêu

ta phải nhận cụ là người có chí khí lớn, có tiết tháo cao. Suốt đời cụ đã đem than hiến

quốc. Khi bị hành hạ trong hoàn cảnh lao tù, lúc phải đói khổ trên đường bôn tẩu, vậy

mà ý chí của cụ không lay chuyển, đời cụ chẳng bợn nhơ, cụ thực đáng liệt vào hạng

các chí sĩ cách mạng đi tiên trong phong trào Đông Du và Duy Tân ở miền Nam thời

đó [69, tr.18].

Ngoài một nhà chí sĩ, một nhà yêu nước, Nguyễn Quang Diêu còn là một nhà

thơ xuất sắc của văn học Việt Nam. Ông đã để lại cho văn học Việt Nam một khối

lượng thơ đồ sộ có đến cả ngàn bài thơ với nhiều thể loại khác nhau. Con người và thơ

văn Nguyễn Quang Diêu dường như bị quên lãng trong lịch sử văn học dân tộc từ

nhiều năm nay.

TÔN ĐỨC THẮNG (1888 - 1980)

Tôn Đức Thắng sinh ngày 20 - 8 - 1888 tại cù lao Ông Hổ, tổng Định Thành,

tỉnh Long Xuyên (nay là xã Mỹ Hoà Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang).

Thời thơ ấu, Tôn Đức Thắng sống với ông bà ngoại ở cầu Cái Sơn (Long

Xuyên). Năm lên 8 tuổi học chữ Nho với thầy Nguyễn Thượng Khách. Năm 1900, ông

học tại Trường Tiểu học Long Xuyên. Sau khi tốt nghiệp, lên Sài Gòn học tại Trường

Bá Nghệ Sài Gòn, rồi làm việc ở xưởng Ba Son. Cuối năm 1912, ông bị điều sang Pháp

làm lính thợ phục vụ trong Hải quân Pháp đóng tại Toulon. Năm 1914, cuộc Chiến

tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, ông bị điều xuống chiến hạm France.

Năm 1917, Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga thành công, chính

quyền Xô - viết thành lập, 14 nước đế quốc, trong đó có Pháp cấu kết nhau can thiệp

178

vũ trang nhằm bóp chết nước Nga Xô - viết. Hải quân Pháp tiến vào Hắc Hải, ông là

một trong những người tham gia cuộc binh biến ủng hộ Cách mạng tháng Mười Nga.

Sau vụ phản chiến, ông bị trục xuất khỏi đất Pháp về sống và làm công ở Sài

Gòn. Năm 1920, ông thành lập Công hội đỏ Sài Gòn. Năm 1925, ông lãnh đạo công

nhân Ba Son bãi công. Năm 1927, ông tham gia Việt Nam thanh niên cách mạng đồng

chí hội, giữ chức Uỷ viên Ban Chấp hành Kỳ Bộ Nam Kỳ. Cuối năm 1928, ông bị

Pháp bắt nhân vụ án ở đường Barbier Sài Gòn và bị kết án 20 năm khổ sai, lưu đày đi

Côn Đảo vào tháng 7 - 1930.

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, ông và các đồng chí cách mạng

ở Côn Đảo được chính quyền cách mạng trong đất liền đem tàu ra đón. Đúng vào lúc

đó, đồng bào Nam Bộ đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược.

Tôn Đức Thắng được bổ sung vào Xứ uỷ Nam Bộ và đắc cử Quốc hội khoá I năm

1946 tại Sài Gòn - Chợ Lớn. Đầu năm 1946, Bác Tôn được điều ra Hà Nội công tác

bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng.

Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ (năm 1946), Bác Tôn cùng Trung

ương Đảng, Chính phủ rút lên chiến khu Việt Bắc. Ngày 3 - 3 - 1951, tại Việt Bắc, Đại

hội toàn quốc của Mặt trận Liên Việt đã bầu Bác Tôn làm Chủ tịch Mặt trận.

Sau Hiệp định Genève (1954), Mặt trận Liên Việt đổi tên thành Mặt trận Tổ

Quốc Việt Nam, Bác Tôn được bầu làm Chủ tịch Mặt trận và là Trưởng ban Thường

trực Quốc hội. Người còn vinh dự được bầu làm Chủ tịch danh dự Uỷ ban bảo vệ hoà

bình thế giới của Việt Nam. Tháng 7 - 1960, Bác Tôn là Phó Chủ tịch nước Việt Nam

Dân chủ cộng hoà. Từ năm 1969, Bác Tôn được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân

chủ cộng hoà, lãnh đạo nhân dân ta hoàn thành công cuộc giải phóng miền Nam, thống

nhất Tổ quốc. Ngày 30 - 3 - 1980, Chủ tịch Tôn Đức Thắng từ trần, thọ 92 tuổi.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng để lại cho nhiều thế hệ cách mạng và thanh niên nước

ta noi theo. Bác Hồ nói về Bác Tôn "Đồng chí Tôn Đức Thắng là tấm gương mẫu mực

179

về đạo đức cách mạng. Suốt đời cần, kiệm, liêm, chính, suốt đời hết lòng, hết sức phục

vụ cách mạng phục vụ nhân dân" [65, tr.144].

Do công lao của mình, ông được Đảng, Chính phủ Việt Nam và nước ngoài

tặng nhiều Huân chương cao quí : Giải thưởng Lê-nin vì hoà bình và hữu nghị các dân

tộc (1955), Huân chương Sao Vàng (1958), Huân chương Lê-nin (1967),...

UNG VĂN KHIÊM (1910 - 1991)

Ung Văn Khiêm sinh ngày 13 - 2 - 1910 tại làng Tấn Đức (nay xã Tấn Mỹ,

Chợ Mới, An Giang) trong một gia đình trung nông.

Vào giũa tháng 12 - 1927, tại cù lao Giêng Ung Văn Khiêm cùng với Châu

Văn Liêm được đồng chí Nguyễn Ngọc Ba đại diện Kỳ uỷ kết nạp vào Việt Nam thanh

niên cách mạng đồng chí hội.

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập vào ngày 3 - 2 - 1930, Ung

Văn Khiêm được cử làm Bí thư Đặc uỷ Hậu Giang. Cuối năm 1930, Ung Văn Khiêm

được bầu làm Bí thư Xứ uỷ Nam Kỳ thay đồng chí Ngô Gia Tự bị giặc bắt.

Năm 1931, sau cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, Ung Văn Khiêm bị giặc Pháp bắt

kết án 5 năm tù giam và đày đi Côn Đảo. Năm 1936, mãn hạn tù, Ung Văn Khiêm trở

về Chợ Mới tiếp tục hoạt động cách mạng, tham gia phong trào đấu tranh công khai ở

Chợ Mới, Long Xuyên. Trong thời gian từ 1941 - 1945, Ung Văn Khiêm được Trung

ương giao nhiệm vụ củng cố, thống nhất các nhóm, các cơ sở Đảng chuẩn bị thành lập

lại Xứ uỷ Nam Kỳ.

Năm 1945, Ung Văn Khiêm được cử đi dự Hội nghị Quốc dân Tân Trào ở

Việt Bắc. Trở về Nam Bộ, ông được phân công củng cố Mặt trận Việt Minh. Tháng 9 -

1945 đến cuối năm 1946, ông được bầu làm Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ. Sau đó, ông làm

Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ, phụ trách quân sự.

Năm 1955, Ung Văn Khiêm chuyển công tác về Trung ương, nhận nhiệm vụ

làm Trưởng ban Đối ngoại Trung ương, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Tại Đại hội Đại

180

biểu toàn quốc lần III của Đảng, Ung Văn Khiêm được bầu làm Uỷ viên Ban chấp

hành Trung ương Đảng. Từ năm 1961 trở đi làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng

Bộ Nội vụ. Ông là Đại biểu Quốc hội khoá I, II, III.

Với công lao nói trên, Ung Văn Khiêm được tặng thưởng nhiều Huân chương,

Huy hiệu của Đảng, Nhà nước. Ông mất ngày 22 - 3 - 1991 tại thành phố Hồ Chí Minh.

KẾT LUẬN

1. Tình hình kinh tế An Giang trong các thế kỷ XVII - XX.

Những thành tựu của ngành khảo cổ học đã cho biết về sự xuất hiện khá sớm

của con người và nền văn hóa cổ trên vùng đất Nam Bộ, tiêu biểu là nền văn hóa Óc

Eo. Trải qua nhiều biến đổi phức tạp cùng với sự thăng trầm của vương quốc cổ Phù

Nam và Chân Lạp, đến đầu thế kỷ XVII, khi người Việt đến An Giang thì nơi này vẫn

còn là một vùng đất hoang vu, chưa được khai phá nhiều, dân cư còn rất thưa thớt. Ba

trăm năm trôi qua, bằng công sức lao động và xương máu đấu tranh của cộng đồng

nhiều thành phần dân tộc Việt, Khmer, Hoa, Chăm, vùng đất An Giang mới được giữ

gìn, khai thác và trở thành một vùng kinh tế có vai trò to lớn đối với cả nước, có nhiều

triển vọng phát triển trong tương lai.

Về sản xuất nông nghiệp : Cho đến nay, thời điểm người Việt đến định cư tại

An Giang chưa được sách sử ghi chép rõ ràng. Khi Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lý

và thiết lập phủ Gia Định (1698), đã thấy người Việt định cư và hình thành một số cụm

181

dân cư thưa thớt ở ven 2 bờ sông Tiền và sông Hậu. Bấy giờ, về cơ bản ở địa bàn An

Giang vẫn chưa có hoạt động khai phá nào. Hoạt động kinh tế phổ biến là khai thác thô

sơ các sản vật sẵn có trong thiên nhiên, chủ yếu là các nguồn lợi của rừng núi và sông

hồ. Sau năm 1802, An Giang thực sự được khai thác mạnh do tác động của các chính

sách kinh tế - xã hội dưới triều Nguyễn, đặc biệt là chính sách ‘‘khẩn hoang lập làng’’,

xây dựng đồn điền nông nghiệp dưới thời vua Minh Mạng, Tự Đức. Nhiều kênh đào có

tác dụng đáng kể về mặt kinh tế và quốc phòng như kênh Thoại Hà, kênh Vĩnh Tế,

kênh Vĩnh An. Theo kết quả đo đạc của triều Nguyễn vào năm 1836, diện tích canh tác

của 2 huyện Đông Xuyên và Tây Xuyên (địa phận tỉnh An Giang ngày nay) là 16.495

ha, trong đó diện tích trồng lúa là 11.976 ha. Mỗi năm chỉ canh tác một vụ, hoàn toàn

phụ thuộc vào khí hậu và thời tiết nên năng suất thấp. Sau khi chiếm An Giang, thực

dân Pháp rất chú ý đến việc phát triển nông nghiệp. Chính quyền thuộc địa bước đầu

thực hiện tập trung ruộng đất bằng chính sách cướp đất của nông dân, xây dựng cơ sở

hạ tầng, giao thông vận tải, nạo vét kênh rạch, xây dựng cầu tàu, mở rộng chợ búa, giao

lưu hàng hóa,... Đặc biệt với sự có mặt của cây lúa nổi, diện tích canh tác ở An Giang

tăng lên nhanh chóng và tốc độ khai hoang lập đồn điền cũng diễn ra mạnh mẽ. Năm

1899, ở Long Xuyên còn 210.558,71 ha đất hoang, chiếm 80,6% diện tích toàn tỉnh, thì

đến năm 1929 diện tích đất hoang chỉ còn 67.590,3 ha chiếm 25,8%. Ở Châu Đốc cũng

vậy, diện tích đất hoang giảm đáng kể. Xuất phát từ yêu cầu thị trường, thực dân Pháp

đã biến Long Xuyên - Châu Đốc thành vùng chuyên sản xuất lúa gạo. Diện tích trồng

lúa chiếm gần hết diện tích canh tác. Đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng

độc canh cây lúa trong suốt thời Pháp thuộc. Từ năm 1954 - 1975, diện tích khai hoang

ở An Giang không đạt được nhiều kết quả, An Giang còn 19.844.57 ha bỏ hoang, tập

trung ở vùng Châu Đốc do công tác dẫn thủy nhập điền chưa được đầu tư. Tuy nhiên,

sản lượng giai đoạn tiếp tục tăng, nhờ sự xuất hiện giống lúa Thần Nông cao sản ngắn

ngày với năng suất 5 tấn/ha, gấp 3 - 4 lần năng suất cây lúa nổi. Diện tích trồng lúa nổi

ngày càng thu hẹp, nhường chỗ cho giống lúa Thần Nông. Từ năm 1975 - 2000, An

182

Giang cùng với cả nước bước sang thời kỳ mới, cả nước độc lập, thống nhất, tiến hành

xây dựng đất nước. Trong 10 năm đầu (1975 - 1985), cũng như các tỉnh trong cả nước,

An Giang đã mắc một số sai lầm và vướng mắc, gặp nhiều khó khăn tưởng chừng

không thể vượt qua khỏi. Nhưng từ năm 1986 trở đi, trên đà phát triển chung của đất

nước, An Giang tiến hành công cuộc đổi mới và đạt được nhiều thành tựu to lớn trong

sản xuất nông nghiệp, sản lượng lương thực An Giang luôn luôn dẫn đầu cả nước. An

Giang đã nổi bật lên như một trong những điển hình thành công về việc vận dụng chính

sách ruộng đất, phát triển kinh tế hàng hóa, kinh tế hộ nông dân, tháo gỡ và cỏi trói lực

lượng sản xuất, khai thác vùng Tứ giác Long Xuyên. An Giang đã nêu nhiều bài học

lớn cho cả nước trên con đường đổi mới. Tuy nhiên, do cây lúa vẫn là cây trồng độc

canh trong sản xuất nông nghiệp nên còn ảnh hưởng lớn đến đời sống nông dân; gặp

những năm mất mùa hoặc rớt giá, đời sống nông dân An Giang gặp rất nhiều khó khăn.

Về thủ công nghiệp : Ở An Giang từ lâu đã xuất hiện và tồn tại từ thế hệ này

sang thế hệ khác những nghề thủ công và hình thành những làng nghề thủ công truyền

thống như nghề mộc và chạm khắc gỗ, nghề tằm tơ, dệt vải, đóng ghe xuồng, làm gạch

ngói, nấu rượu, nghề rèn, nghề cưa xẻ gỗ, làm đường thốt nốt, làm gốm, nghề đá thủ

công, nghề đan lát, nghề vẽ tranh trên kính,... Các sản phẩm thủ công này có loại rất

độc đáo và nổi tiếng trong cả nước như tằm tơ Tân Châu, chạm khắc gỗ ở Chợ Mới.

Tuy nhiên, trải qua nhiều thời gian, do sản phẩm làm ra có tính chất thủ công truyền

thống nên dần dần nhiều mặt hàng không cạnh tranh nổi với các sản phẩm cùng loại

được sản xuất bằng các phương tiện kỹ thuật tiên tiến hoặc du nhập ồ ạt từ nước ngoài

vào, trong tình hình đó một số nghề thủ công nghiệp ở An Giang bị mai một dần.

Nhiều làng nghề và các mặt hàng nổi tiếng đã không còn nữa, điển hình là tơ lụa Tân

Châu.

Về công nghiệp : Dưới thời Pháp thuộc, công nghiệp An Giang còn rất nhỏ bé,

mang dáng dấp của những ngành nghề tiểu thủ công nghiệp được cơ giới hóa một số

khâu như công nghiệp xay xát lúa gạo, khai thác đá, sản xuất nước đá và chưng cất

183

rượu đóng chai. Đến chính quyền Sài Gòn (1954 - 1975), công nghiệp An Giang có

bước phát triển, do Nhà nước lập ra các Trung tâm khuếch trương kỹ nghệ và Trung

tâm khuếch trương tiểu công nghệ để hỗ trợ cho các công thương kỹ nghệ gia về vốn,

kỹ thuật, thị trường tiêu thụ sản phẩm. Số lượng nhà máy xay lúa, nhà máy nước đá,

xưởng nước mắm,... tăng lên nhanh chóng và nhiều nhà máy lớn ra đời như nhà máy

chế biến thức ăn gia súc ở Mỹ Thới có công suất lớn nhất ở Đồng bằng sông Cửu

Long, nhà máy chế biến rác ở Bình Đức,... Từ năm 1975- 2000, các ngành công nghiệp

mũi nhọn ở An Giang là công nghiệp xay xát chế biến gạo xuất khẩu, công nghiệp chế

biến nông thủy sản đông lạnh xuất khẩu, công nghiệp khai thác mỏ và sản xuất vật liệu

xây dựng. Ngoài ra còn có công nghiệp cơ khí, công nghiệp chế biến gỗ lâm sản, công

nghiệp dệt, may,... Tuy có bước phát triển nhưng tốc độ còn chậm. Giá trị thương mại

của sản phẩm còn rất thấp do chủ yếu mới qua khâu sơ chế. Trình độ kỹ thuật sản xuất

và công nghệ của nhiều ngành công nghiệp còn lạc hậu, thiếu đồng bộ, năng suất lao

động còn thấp. Tỉnh chưa hình thành được các khu công nghiệp tập trung. Đó là những

hạn chế lớn của công nghiệp An Giang so với các tỉnh trong nước.

Về ngành thủy sản : Đặc điểm khí hậu thủy văn An Giang rất thuận lợi cho

việc phát triển tài nguyên thủy sản. Tuy nhiên, dưới triều Nguyễn và chính quyền thực

dân Pháp, ngành ngư nghiệp ít được quan tâm. Hoạt động ngư nghiệp trong thời kỳ này

chủ yếu mang tính chất tự phát của ngư dân và phần lớn là đánh bắt khai thác nguồn lợi

thủy sản thiên nhiên. Dưới chính quyền Sài Gòn, ngành ngư nghiệp mới được chú

trọng, thông qua việc thành lập Trại thực nghiệm và ương giống đặt tại Mỹ Thới nhằm

mục đích huấn luyện nông dân về kỹ thuật, giống, lưới, thức ăn, kỹ thuật xây ao,…

Việc khai thác thủy sản trong thời kỳ này chủ yếu dưới 2 dạng là đánh bắt và nuôi

trồng. Đến năm 1978, khi nghề nuôi cá ổn định thì chiến tranh biên giới Tây Nam và lũ

lụt xảy ra đã làm suy giảm nghề nuôi trồng thủy sản An Giang. Từ năm 1980 - 2000,

tình hình biên giới ổn định, ngành thủy sản ở An Giang được phục hồi và phát triển,

song cũng có những bước thăng trầm do biến động giá cả thị trường và con giống.

184

Về thương nghiệp : Vào đầu thế kỷ XIX việc đẩy mạnh di dân khai hoang lập

làng, phát triển sản xuất ở An Giang đã tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu hàng hóa.

Suốt ba phần tư thế kỷ XIX dưới triều Nguyễn, việc thực hiện chính sách “trọng nông

ức thương”, “dĩ nông vi bản, dĩ thương vi mạt” đã dẫn đến thái độ của Nhà nước là coi

thường nghề buôn. Trong bối cảnh chung đó, hoạt động thương nghiệp ở An Giang rất

hạn chế. Các trung tâm thương mại chưa hình thành. Hàng hóa sản xuất theo thời vụ

chủ yếu là nông thổ sản để tiêu dùng tại chỗ hoặc trao đổi với các vùng lân cận, tầng

lớp thương nhân chuyên nghiệp xuất hiện chưa nhiều, đa số là những người buôn bán

nhỏ lấy công làm lời. Trong thời Pháp thuộc, thị trường An Giang được nối liền với

một số nước trên thế giới thông qua hệ thống giao thông ngày càng hoàn chỉnh hơn.

Các thương gia người Hoa, người Pháp ưa chuộng một số mặt hàng như tơ tằm, gạo, cá

khô. Hàng hóa được vận chuyển qua Campuchia hoặc lên Sài Gòn. Ở An Giang, ngoài

2 trung tâm thương mại lớn là chợ Long Xuyên và Châu Đốc, nhiều chợ mới dọc trên

các tuyến giao thông thủy bộ được thành lập, các chợ cũ dưới triều Nguyễn được mở

rộng và nâng cấp. Thương nhân người Hoa, người Pháp giữ vai trò quan trọng trong

hoạt động thương nghiệp ở An Giang. Dưới chính quyền Sài Gòn, thương mại An

Giang phát triển nhanh chóng, chủ yếu dựa vào nguồn viện trợ dồi dào từ bên ngoài

vào. Chợ Long Xuyên và Châu Đốc trở thành 2 trung tâm buôn bán sầm uất. Tuy

nhiên, thực chất nền kinh tế miền Nam bấy giờ nói chung, An Giang nói riêng là một

nền kinh tế hàng hóa kém phát triển, hoàn toàn lệ thuộc vào sự viện trợ của Mỹ. Sau

năm 1975, cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp đã góp phần kìm hãm sự phát

triển thương mại ở An Giang. Hoạt động xuất nhập khẩu hầu như không đáng kể. Đến

năm 1986, khi công cuộc đổi mới bắt đầu, nền sản xuất hàng hóa dần dần được khôi

phục. Phát triển mạnh mẽ nhất là lĩnh vực nông nghiệp, đời sống nhân dân ngày càng

được cải thiện. Các doanh nghiệp nhà nước chiếm vai trò chủ đạo trong việc thu mua

chế biến xuất khẩu gạo, rau quả đông lạnh,…

185

Về giao thông vận tải : Khi đến An Giang khai hoang lập ấp, lưu dân đã dựa

vào các bờ sông, kênh, rạch để cất nhà ở, đường đi lại công cộng chưa được hình thành

phổ biến. Việc di chuyển giao dịch chủ yếu bằng đường thủy trên các sông, kênh, rạch.

Khi Pháp đặt chân tới An Giang, để thực hiện công cuộc khai thác thuộc địa, đã buộc

phải đầu tư cơ sở hạ tầng, tạo ra sự biến đổi quan trọng trong hệ thống giao thông ở An

Giang. Số lượng các cây cầu được xây dựng tăng lên đáng kể, hàng loạt các con đường

liên tỉnh, liên quận được xây dựng, số lượng các phương tiện vận chuyển người và

hàng hoá cũng tăng cao. Sự phát triển trong giao thông vận tải đã làm cho Long Xuyên

- Châu Đốc nhanh chóng trở thành một trung tâm kinh tế quan trọng của Pháp ở Nam

Kỳ; nhằm mục đích duy nhất là chiếm đoạt được nhiều lợi nhuận, biến Long Xuyên -

Châu Đốc thành nơi chuyên sản xuất lúa gạo để xuất khẩu. Dưới chính quyền Sài Gòn,

bên cạnh việc đào thêm các kênh mương, một số con đường mới được xây dựng, cùng

với hệ thống cầu, cống được duy tu, sửa chữa nhằm phục vận chuyển hàng hóa và đi lại

của người dân. Sau năm 1975, hệ thống giao thông đường bộ được tiếp quản từ chế độ

cũ để lại xuống cấp nghiêm trọng, hư hại do lũ lụt và chiến tranh tàn phá. Khi tiến hành

công cuộc đổi mới (1986), tỉnh tập trung nguồn lực cho đầu tư xây dựng “đường, điện,

nước”; đến năm 2000, hệ thống giao thông đường bộ cơ bản đảm bảo yêu cầu phát

triển kinh tế - xã hội, nhiều con đường được xây dựng mới. Trải qua ba thế kỷ, hệ

thống giao thông ngày càng phát triển mạnh, song vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là

giao thông đường bộ chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh,

bởi những năm lũ lớn thì hệ thống giao thông xuống cấp nghiêm trọng và hằng năm

đều phải duy tu và sửa chữa.

2. Về cư dân An Giang

Dù xuất thân từ nhiều hạng người của chế độ phong kiến, phải chịu nhiều áp

bức, phải lưu tán ‘‘tha phương cầu thực’’, dù là những kẻ phạm tội lưu đày, những kẻ

giang hồ, những người lính của chúa Nguyễn,... nhưng những lưu dân đầu tiên của

vùng đất mới An Giang này luôn ý thức rõ mình là một bộ phận của dân tộc Việt Nam.

186

Biểu hiện rõ của ý thức này là ngay từ thời kỳ đầu mở đất, lớp người ấy đã nêu cao

truyền thống bất khuất của dân tộc trong việc bảo vệ biên giới của Tổ quốc, truyền

thống chống áp bức cường quyền của nông dân Việt Nam. Trận chiến tiêu diệt quân

Xiêm trên sông Vàm Nao 1833 là một minh chứng hùng hồn về truyền thống đánh giặc

kiên cường, quyết tâm bảo vệ phần lãnh thổ mới được khai phá. Cuộc khởi nghĩa Thất

Sơn (1841 - 1842) của nông dân An Giang chống lại bọn quan lại, địa chủ áp bức nông

dân đã khiến quan quân triều Nguyễn khó khăn lắm mới dập tắt được. Truyền thống đó

còn được nhân lên từ khi thực dân Pháp xâm chiếm An Giang đến khi Đảng Cộng sản

Việt Nam ra đời vào năm 1930. Ngay sau khi chúng chiếm được An Giang thì đã vấp

phải cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa (1867 – 1873) của Trần Văn Thành, làm cho Pháp

‘‘mất ăn, mất ngủ’’. Phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX của Ngô

Lợi, Phan Xích Long,... dù thất bại nhưng đã góp phần tô đậm thêm truyền thống yêu

nước, quyết bảo vệ vùng đất mới An Giang, bảo vệ những thành quả lao động từ nhiều

đời của cư dân An Giang. Truyền thống ấy được nhân lên nhiều lần khi Đảng Cộng sản

Việt Nam ra đời và Đảng bộ An Giang được thành lập đã lãnh đạo nhân dân giành

được độc lập qua cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ, cũng như bảo vệ biên giới Tây

Nam của Tổ quốc.

Chính những cư dân An Giang, trải qua nhiều thế kỷ với nhiều đời lao động

khó nhọc và tranh đấu kiên cường, là chủ nhân của vùng đất này, là chủ thể làm nên

diện mạo kinh tế An Giang, làm nên bức tranh lịch sử phong phú sinh động về cuộc

sống của con người trên vùng đất giàu tiềm năng An Giang nhưng cũng đầy thách thức.

3. Những thuận lợi và khó khăn của môi trường tự nhiên tác động đến quá trình phát

triển kinh tế vùng đất An Giang trong các thế kỷ qua.

Thuận lợi : Về vị trí địa lý kinh tế, An Giang là tỉnh nằm ở phía tây nam của

nước Việt Nam, có hệ thống các đường giao thông thủy bộ thuận tiện nối với các tỉnh

đồng bằng sông Cửu Long và Vương quốc Campuchia nên rất thuận lợi trong việc phát

triển một nền kinh tế thị trường đa dạng cho tỉnh và mở rộng giao lưu kinh tế với bên

187

ngoài. An Giang còn là tỉnh có những đặc trưng riêng biệt, vừa có đồng bằng, vừa có

rừng núi, có nguồn tài nguyên khoáng sản thiên nhiên phong phú, nên An Giang có thể

cung cấp vật liệu xây dựng quan trọng cho cả đồng bằng Nam Bộ, đồng thời góp phần

quan trọng trong việc duy trì môi trường sinh thái ổn định và phát triển kinh tế du lịch.

Sông Tiền và sông Hậu, cùng với các con sông, kênh, rạch tạo ra mạng lưới giao thông

thủy rất thuận tiện, đồng thời là nguồn cung cấp thủy sản cho con người, phù sa bồi

đắp hằng năm cho các cánh đồng ở An Giang.

Về tài nguyên thiên nhiên, phần lớn đất đai An Giang rất màu mỡ, độ thích

nghi khá rộng, phù hợp với việc trồng lúa và nhiều loại cây lương thực khác. Vùng núi

An Giang thích nghi cho việc chăn nuôi bò, dê,…

Khó khăn : An Giang là tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, hằng năm đều bị ngập

lũ kéo dài trên 3 tháng, theo chu kỳ khoảng 4 - 5 năm có một con lũ lớn làm thiệt hại

tính mạng, mùa màng, cơ sở hạ tầng, nhà ở dân cư,… Vào các năm 1904, 1923, 1961,

1978, 2000,…đã xảy ra nạn đói do lũ lụt hoành hành.

4. Việc phục dựng lại diện mạo kinh tế An Giang trong bốn thế kỷ qua có thể cho thấy

một số vấn đề được phản ánh từ lịch sử, là những bài học kinh nghiệm cần thiết cho

việc phát triển kinh tế An Giang trong hiện tại và tương lai. Đó là những vấn đề sau :

Một là, cần khai thác sử dụng tối ưu tài nguyên nước, đồng thời hạn chế đến

mức thấp nhất tác hại do lũ lụt gây ra.

Sông Tiền, sông Hậu cùng với hệ thống các con sông và kênh rạch đã tạo ra

một mạng lưới giao thông thủy rất thuận tiện, đồng thời là nguồn cung cấp nước ngọt

quý giá cho sản xuất và đời sống của hàng triệu con người. Cần phát triển tốt hệ thống

thủy lợi để đảm bảo trong mùa khô vẫn có nước tưới cho cây trồng. Trong mùa lũ, do

nước lũ vẫn đem lại nhiều lợi ích to lớn về lượng phù sa bồi đắp và nguồn thủy sản

khổng lồ nên một mặt cần phải có phương án ‘‘sống chung với lũ’’, khai thác triệt để

những mặt tích cực của lũ, mặt khác, để đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội một cách

188

ổn định và bền vững, cần ra sức đối phó và hạn chế đến mức thấp nhất tác hại do lũ gây

ra bằng cách bố trí mùa vụ sản xuất theo chiều hướng né lũ.

Hai là, cần hạn chế độc canh cây lúa; mạnh dạn chuyển đổi cây trồng, vật nuôi,

ngành nghề theo hướng có lợi cho sản xuất và nông dân; tăng cường thâm canh, tăng

năng suất; xây dựng mô hình nông nghiệp chuyên canh và nền nông nghiệp toàn diện;

phát triển chăn nuôi và thủy sản tạo nguyên liệu ổn định cho công nghiệp chế biến.

Cần đẩy mạnh, phát triển nền nông nghiệp mang tính chất hàng hóa, hướng

đến thị trường trong và ngoài nước nhằm góp phần xoá bỏ tình trạng kinh tế tiểu nông

và góp phần làm cho nông thôn và nông dân giàu lên.

Cần gắn kết phát triển sản xuất nông nghiệp với thủy lợi và giao thông thủy

bằng việc triển khai đào các con kênh lớn. Đồng thời, chú trọng đến việc thiết lập

những công trình thủy lợi nhỏ, phù hợp với điều kiện tự nhiên, địa hình và tình hình

canh tác ở các địa phương ở An Giang.

Cần kế thừa và phát huy những kinh nghiệm quý báu của nông dân An Giang

trong việc tìm ra các giống lúa thích hợp với thổ nhưỡng và địa hình, cũng như lai tạo

giống cho năng suất và chất lượng cao.

Ba là, trong hoạch định chính sách phát triển kinh tế, Nhà nước cần có chính

sách duy trì và phát triển các ngành nghề thủ công nghiệp truyền thống ở địa phương,

trên cơ sở từng bước công nghiệp hóa và đổi mới thiết bị công nghệ, đa dạng hóa các

mẫu mã thích nghi với thị trường.

Bốn là, để làm đầu tàu thúc đẩy công nghiệp phát triển và thu hút đầu tư, cần

xây dựng các khu công nghiệp tập trung; phát triển kinh tế công nghiệp trên cơ sở gắn

công nghiệp với các ngành nghề vốn là thế mạnh của địa phương; tổ chức khai thác tài

nguyên một cách hợp lý.

189

Năm là, tăng cường quản lý nguồn thủy sản thiên nhiên để khai thác đánh bắt

một cách tối ưu; để tạo bước phát triển phải đa dạng hóa các loại vật nuôi trong nuôi

trồng thuỷ sản.

Sáu là, trong quá trình chinh phục và cải tạo thiên nhiên, xây dựng kinh tế An

Giang trong các thế kỷ qua, người nông dân An Giang đóng vai trò chủ yếu trong mọi

hoạt động sản xuất. Các thành phần dân tộc Việt, Khmer, Hoa, Chăm luôn đoàn kết

giúp đỡ lẫn nhau trong đấu tranh với thiên nhiên, phát triển sản xuất và sinh hoạt đời

sống. Đặc biệt là trước sự tàn lụi của một số nghề truyền thống như tằm tơ, dệt thổ

cẩm, đồ gốm thì chính người Khmer, Chăm đã cố gắng duy trì và bảo vệ các nghề

truyền thống đó. Ngày nay, khi đề ra đường lối phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước ta

quan tâm đến con người, chăm lo con người, phát huy khả năng sáng tạo, kỹ năng nghề

nghiệp của mỗi con người bởi từng thành phần dân tộc sinh sống ở tỉnh An Giang đều

có trình độ và tay nghề riêng trong hoạt động kinh tế của mình.

Hiện nay, với việc tổ chức, quản lý, đầu tư, hoạch định phương hướng phát

triển kinh tế An Giang một cách đúng đắn của địa phương; với điều kiện thuận lợi của

một vùng đất giàu tiềm năng và việc rút ra những bài học quí giá từ quá khứ, chính

quyền và nhân dân An Giang nhất định sẽ xây dựng nền kinh tế giàu mạnh, góp phần

thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn do Đảng Cộng

sản Việt Nam đề ra.

190

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1. Phan An (2002), ‘‘Một vài nghề thủ công của người Khmer ở Bảy Núi, An Giang’’,

Xóm nghề và nghề thủ công truyền thống Nam Bộ, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.

2. Nguyễn Thế Anh (1970), Kinh tế - xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn, Nxb

Lửa Thiêng, Sài Gòn.

3. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh An Giang (2002), Lịch sử Đảng bộ tỉnh An Giang

1927 - 1954, tập 1, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ An Giang xuất bản.

4. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh An Giang (2007), Lịch sử Đảng bộ tỉnh An Giang

1954 - 1975, tập 2, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ An Giang xuất bản.

5. Ban Khoa giáo Tỉnh ủy An Giang (1982), ‘‘Đặc điểm về kinh tế và xã hội của tỉnh

An Giang’’, Một số vấn đề khoa học xã hội về đồng bằng sông Cửu Long, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội.

6. Trần Văn Bính (2004), Văn hoá các dân tộc Tây Nam Bộ thực trạng và những vấn

đề đặt ra, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

191

7. Nguyễn Công Bình, Đỗ Thái Đồng, Nguyễn Quang Vinh, Nguyễn Qưới (1995),

Đồng bằng sông Cửu Long- nghiên cứu phát triển, Nxb Khoa học xã hội, Hà

Nội.

8. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2000), Niên giám thống kê tỉnh An Giang

1999, Cục Thống kê An Giang xuất bản.

9. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1991), Niên giám thống kê tỉnh An Giang

1986 - 1990, Cục Thống kê An Giang xuất bản.

10. Cục Thổng kê An Giang (2007), Thông báo tình hình kinh tế xã hội năm 2006.

11. Di tích lịch sử - văn hoá An Giang (2001), Sở Văn hoá - Thông tin tỉnh An Giang

xuất bản.

12. Nguyễn Văn Diệu (2000),‘‘Vấn đề dân tộc ở An Giang trong quá trình hình thành

và phát triển’’, Kỷ yếu hội thảo Lịch sử hình thành vùng đất An Giang, Ban

Tuyên giáo Tỉnh ủy và Sở Khoa học Công nghệ Môi trường An Giang xuất bản.

13. Đảng uỷ - Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh An Giang (2001), Lực lượng vũ trang nhân

dân An Giang 30 năm kháng chiến (1954 - 1975), tập 2, Nxb Quân đội nhân

dân.

14. Nguyễn Đình Đầu (1995), Địa bạ triều Nguyễn : An Giang, Nxb Thành phố Hồ

Chí Minh.

15. Nguyễn Đình Đầu (1995), Chế độ công điền công thổ trong lịch sử khẩn hoang lập

ấp ở Nam kỳ lục tỉnh, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh.

16. Lê Quý Đôn (1994), Phủ biên tạp lục, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

17. Trịnh Hoài Đức (1998), Gia Định thành thông chí, Đỗ Mậu Khương và Nguyễn

Ngọc Tỉnh dịch, Nxb Giáo dục.

18. Mạc Đường (1991), “Vấn đề dân cư và dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long”, Vấn

đề dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

19. Mạc Đường (1982), “Quá trình phát triển dân cư và dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu

Long từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, (3), tr 34-43.

192

20. Đỗ Quang Giao (1974), Đất địa và nông nghiệp Việt Nam Cộng hoà, Nxb Trương

Vĩnh Ký, Sài Gòn.

21. Trần Văn Giàu (1982), “Mấy đặc tính của nông dân đồng bằng sông Cửu Long -

Đồng Nai”, Một số vấn đề về khoa học xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long,

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 197-206.

22. Bùi Thị Thu Hà (2002), “Đồng bằng sông Cửu Long thế kỷ XVII - XIX với sự ra

đời các tôn giáo địa phương vào thế kỷ XIX”, Kỷ yếu hội thảo Nam Bộ và Nam

Trung Bộ những vấn đề lịch sử XVII - XIX, Đại học Sư Phạm Tp. Hồ Chí Minh,

tr 249 - 254.

23. Nguyễn Văn Hầu (1999), Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá vùng Hậu

Giang, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh.

24. Nguyễn Văn Hầu (1970), “Sự thôn tính và khai thác đất Tầm Phong Long”, Tập

san Sử Địa, (19, 20), tr 2-24 .

25. Như hiên Nguyễn Ngọc Hiền (1999), Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh với công

cuộc khai sáng miền Nam nước Việt cuối thế kỷ XVII, Nxb Văn học, Hà Nội.

26. Nguyễn Hữu Hiệp (2007), An Giang đôi nét văn hóa đặc trưng vùng bán sơn địa,

Nxb Phương Đông.

27. Nguyễn Hữu Hiệp (1993), Sông núi quê nhà, Hội Văn học Nghệ thuật An Giang

xuất bản.

28. Nguyễn Hữu Hiệp (2002), ‘‘Nghề tơ lụa ở An Giang’’, Xóm nghề và nghề thủ công

truyền thống Nam Bộ, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.

29. Lê Kim Hoàng (2002), Mấy nét về kinh tế thị trường ở miền Tây từ thế kỷ XVII

đến đầu thế kỷ XX”, Hội thảo kỷ yếu Nam Bộ và Nam Trung Bộ những vấn đề

lịch sử thế kỷ XVII - XIX, Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh, tr 66 - 80.

30. Võ Thị Hồng (1997), Tình hình kinh tế An Giang thời Pháp thuộc (1867 - 1929),

Luận án phó tiến sĩ khoa học Lịch sử, Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ

Chí Minh.

193

31. Phạm Bích Hợp (1999), Làng Hòa Hảo xưa và nay, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.

32. Lê Hương (1969), Người Việt gốc Miên, Sài Gòn.

33. Trần Xuân Kiêm (1992), Nghề nông Nam Bộ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

34. Nguyễn Văn Kiềm, Huỳnh Minh (2003), Tân Châu xưa, Nxb Thanh Niên.

35. Thái Văn Kiểm (1960), Đất Việt trời Nam, Nxb Nguồn Sống, Sài Gòn.

36. Nguyễn Văn Khánh (2004), Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858 -

1945), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

37. Phạm Khánh (2001), Đồng bằng sông Cửu Long - Lịch sử và lũ lụt, Nxb Thành

phố Hồ Chí Minh.

38. Li Tana (1999), Xứ Đàng Trong Lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18,

Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh.

39. Trần Hồng Liên (1999), “Nhà lớn của dòng họ Lê với công cuộc khẩn hoang ở

Châu Đốc”, Tạp chí Xưa và Nay, (62B), tr 32 - 33.

40. Mỹ Linh (1992), ‘‘Nghề vẽ tranh trên kính ở một cù lao’’, Tạp chí Văn hóa Văn

nghệ (5), tr 47 - 48.

41. Nguyễn Văn Luận (1974), Người Chàm Hồi giáo miền Tây Nam phần Việt Nam,

Bộ Văn hoá Giáo dục và Thanh niên xuất bản, Sài Gòn.

42. Huỳnh Lứa (1987), Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, Nxb Thành phố Hồ Chí

Minh.

43. Huỳnh Lứa (1984), “Quá trình khai phá vùng Đồng Nai -Cửu Long và sự hình

thành một số tính cách, nếp sống và tập quán của người nông dân Nam Bộ”,

Mấy đặc điểm văn hoá đồng bằng sông Cửu Long, Viện Văn hóa xuất bản.

44. Trần Thị Thu Lương, Võ Thành Phương (1991), Khởi nghĩa Bảy Thưa (1867 -

1873), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.

45. Sơn Nam (2004), Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.

46. Sơn Nam (2004), Tìm hiểu đất Hậu Giang và lịch sử đất An Giang, Nxb Trẻ, thành

phố Hồ Chí Minh.

194

47. Sơn Nam (2005), Đất Gia Định - Bến Nghé xưa và người Sài Gòn, Nxb Trẻ, thành

phố Hồ Chí Minh.

48. Người Long Xuyên, An Giang xưa và nay, Sài Gòn.

49. Đặng Phong (2004), Kinh tế miền Nam thời kỳ 1955 - 1975, Nxb Khoa học xã hội,

Hà Nội.

50. Vũ Huy Phúc (1979), Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX,

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

51. Trần Thanh Phương (1984), Những trang về An Giang, Hội Văn nghệ An Giang

xuất bản.

52. Võ Thành Phương (2004), Tìm hiểu An Giang xưa, Văn nghệ An Giang xuất bản.

53. Võ Thành Phương (1994), “Địa giới An Giang xưa và nay”, Chuyên san Giáo dục

Đào tạo An Giang, (14), tr 37-44).

54. Châu Đạt Quan (1973), Chân Lạp phong thổ ký, Lê Hương dịch, Sài Gòn.

55. Ngô Quang (2005), “Việc khai thác ruộng đất An Giang dưới thời thực dân Pháp”,

Tạp chí Văn hoá Lịch sử An Giang, (13), tr 24 - 26.

56. Ngô Quang (2005), “Khai phá đất An Giang thời kỳ 1954 - 2000”, Tạp chí Văn

hoá Lịch sử An Giang, (18), tr 9 - 11.

57. Nguyễn Phan Quang (2004), Thị trường lúa gạo Nam Kỳ 1860 - 1945, Nxb Tổng

hợp thành phố Hồ Chí Minh.

58. Nguyễn Phan Quang (2001), “Thêm một số tư liệu về nghề thủ công truyền thống ở

Nam Bộ thời Pháp thuộc (1867-1945)”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, (3), tr81-91.

59. Dương Kinh Quốc (1981), Việt Nam những sự kiện lịch sử (1858 - 1898), Nxb

Giáo dục, Hà Nôi.

60. Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, tập 5, người dịch

Phạm Trọng Điềm, Nxb Thuận Hoá, Huế.

61. Quốc sử quán triều Nguyễn (1978), Đại Nam thực lục, tập 24, Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội.

195

62. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Quốc triều chánh biên toát yếu, Nxb Thuận

Hoá.

63. Trương Thị Minh Sâm (1999), “Kênh Vĩnh Tế - điểm tựa lịch sử của chiến lược

phát triển nông nghiệp nông thôn đồng bằng sông Cửu Long”, Hội thảo khoa

học Lịch sử phát triển kinh Vĩnh Tế, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường An

Giang xuất bản.

64. Dật Sĩ, Nguyễn Văn Hầu (1972), Thất Sơn mầu nhiệm, Từ Tâm xuất bản, Sài Gòn.

65. Sở Văn hoá và Thông tin An Giang (1988), Chủ tịch Tôn Đức Thắng (1888 -

1980), An Giang.

66. Lê Văn Sỹ (2006), “Những cống hiến trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng của An

Tây mưư lược tướng công Doãn Uẩn, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, (1), tr 13-117.

67. Mai Văn Tạo (1997), “Thăm trầm quê lụa Tân Châu”, Tạp chí Xưa và Nay, (46B),

tr 41 - 42.

68. Lâm Tâm (1993), Người Hoa An Giang, Chi hội Văn nghệ dân gian An Giang và

Hội Văn nghệ Châu Đốc xuất bản.

69. Trần Nam Tiến (2003),“Những cột mốc quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách

mạng của chí sĩ yêu nước Nguyễn Quang Diêu”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Nhà

nho yêu nước Nguyễn Quang Diêu, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Tháp xuất

bản.

70. Tỉnh uỷ An Giang (2005), An Giang 30 năm xây dựng và phát triển.

71. Chu Thiên (1963), “Chính sách khẩn hoang của triều Nguyễn”, Tạp chí Nghiên cứu

Lịch sử, (56), tr 45 - 63.

72. Lê Thông (2006), Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam, tập 6, Nxb Giáo dục..

73. Nguyễn Ngọc Thuỷ (2004), Vùng đất An Giang thời kỳ 1757 - 1867, Luận văn

Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm thành phố

Hồ Chí Minh.

196

74. Bùi Đạt Trâm (1985), Đặc điểm thủy văn tỉnh An Giang, Ủy bản khoa học kỹ thuật

xuất bản.

75. Tôn Nữ Quỳnh Trân (chủ biên) (2003), Nghề dệt Chăm truyền thống, Nxb Trẻ,

thành phố Hồ Chí Minh.

76. Trần Trọng Trí (2005) “Phan Văn Vàng với cây lúa ở An Giang”, Tạp chí Văn hoá

Lịch sử An Giang, (20), tr 32 - 33.

77. Phạm Việt Trung (2007), “Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và số phận kẻ gây

chiến”, Tạp chí Văn hoá Lịch sử An Giang, (32), tr 23, 26 - 27.

78. Phạm Ngọc Tường (2002), “Nghề vẽ tranh kiếng tại Nam Bộ”, Xóm nghề và nghề

thủ công truyền thống Nam Bộ, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh.

79. Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang (2003), Địa chí An Giang, Lưu hành nội bộ.

80. Việt Nam Cộng hoà (1956), Địa phương chí tỉnh Long Xuyên 1956, Sài Gòn.

81. Việt Nam Cộng hoà (1956), Địa phương chí tỉnh Châu Đốc 1956, Sài Gòn.

82. Việt Nam Cộng hoà (1961), Địa phương chí tỉnh An Giang 1961, Sài Gòn.

83. Việt Nam Cộng hoà (1963), Địa phương chí tỉnh An Giang 1963, Sài Gòn.

84. Việt Nam Cộng hoà (1967), Địa phương chí tỉnh An Giang 1967, Sài Gòn.

85. Việt Nam Cộng hoà (1968), Địa phương chí tỉnh Châu Đốc 1968, Sài Gòn.

86. Việt Nam Cộng hoà (1973), Địa phương chí tỉnh An Giang 1973, Sài Gòn.

87. Việt Nam Cộng hoà, Địa phương chí xã Châu Phong (quận Châu Phú).

Tiếng Pháp

88. Monographie de la province de Châu Đốc - 1902.

89. Monographie de la province de Long Xuyên - 1905.

90. Monographie de la province de Long Xuyên - 1929.

91. Monographie de la province de Long Xuyên - 1953.

92. Monographie de la province de Châu Đốc - 1953.

197

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1 : BẢN ĐỒ

198

PL 1.1. Bản đồ An Giang vào giữa thế kỷ XIX

Nguồn : [53, tr.40]

199

PL 1.2. Bản đồ tỉnh Châu Đốc thời Pháp thuộc

Nguồn :

[3, tr.34]

200

PL 1.3. Bản đồ tỉnh Long Xuyên thời Pháp thuộc Nguồn : [3, tr.41]

201

PL 1.4. Bản đồ tỉnh An Giang 1957 - 1964

Nguồn : [79, tr.45]

202

PL 1.5. Bản đồ hành chính tỉnh An Giang năm 2000

[4, tr.4] Nguồn :

PHỤ LỤC 2 : HÌNH ẢNH

203

PL 2.1. Cấy lúa của người Khmer trên đồng ruộng An Giang [Phan Văn Kiến] Nguồn :

PL 2.2. Đồng lúa An Giang [79, tr.428] Nguồn :

204

PL 2.3 : Nghề mộc ở Long Điền A, huyện Chợ Mới PL 2.4 : Phụ nữ Chăm dệt vải [70, tr.57] Nguồn : [79, tr.476] Nguồn :

PL 2.5 : Nghề dệt thổ cẩm của dân tộc Khmer An Giang [70, tr.53] Nguồn :

205

PL 2.6 : X ưởng xe tơ ở quê lụa Tân Châu [79, tr.80] Nguồn :

PL 2.7 : Chế biến thuỷ sản xuất khẩu ở An Giang [79, tr.492]

Nguồn :

206

PL 2.8 : Làng nuôi cá bè Châu Đốc [70, tr.84] Nguồn :

PL 2.9 : Chợ Mỹ Phước - chợ trung tâm của tỉnh Long Xuyên năm 1929 [79, tr.521] Nguồn :

207

PL 2.10 : Chợ gia súc Núi Sam

Nguồn : [82, tr.50]

PL 2.11 : Chợ nổi Long Xuyên [70, tr.290] Nguồn :

208

[70, tr.348] PL 2.12 : Chợ Châu Đốc năm 2000 Nguồn :

PL 2.13 : Cầu Quay (nay là cầu Nguyễn Trung Trực, thành phố Long Xuyên) [79, tr.34] Nguồn :

209

PL 2.14 : Cầu Henry (nay là cầu Hoàng Diệu, thành phố Long Xuyên) Nguồn : [79, tr.34]

PL 2.15 : Cầu Hoàng Diệu (Thành phố Long Xuyên) Nguồn : [70, tr.289]