
Điều kỳ diệu và sức sống của bản
Vọng cổ
Nhạc sĩ Cao Văn Lầu

Là người Việt Nam, không ai không biết hoặc chưa một lần được nghe bài
Vọng cổ (bài ca). Không chỉ thế, nhiều người ngoại quốc cũng mê bài Vọng cổ,
một số người còn thích học ca hoặc đờn nữa, như Dr. A. Kate William (người
Mỹ, luận án Tiến sĩ âm nhạc của ông là “Điệu thức Oán của nhạc Tài tử - Cải
lương Việt Nam”), Dr. M. Ghisa (người Đức, luận án Tiến sĩ âm nhạc cũng về
đề tài nhạc Tài tử - Cải lương Việt Nam), Musician Shachiya (người Nhật) biết
đờn Tranh nhạc Tài tử - Cải lương, và khá nhiều sinh viên nước ngoài đã và
đang học tại một số trường Đại học TP HCM thích Vọng cổ… Điều đó làm cho
chúng ta không khỏi ngạc nhiên, vì điều gì kỳ diệu của bản Vọng cổ, và Vọng
cổ đã để lại một ấn tượng cho nhiều người. Đến lượt mình, Vọng cổ như một
ma lực thu hút mọi đối tượng, mà không hề phân biệt một điều gì: giới tính,
tuổi tác, giai cấp, vị trí, tầng bậc… Từ lâu bản Vọng cổ còn trở thành một thể
điệu chủ lực của nghệ thuật Cải lương nữa, trong giới thường gọi là “bài vua”.
CHUYỆN TÌNH CỦA “DẠ CỔ HOÀI LANG”
Nói đến quê hương Bạc Liêu, người ta nghĩ ngay đến bản Dạ Cổ Hoài Lang
của nhạc sĩ Cao Văn Lầu. Khá nhiều người trong giới biết sự ra đời và tình sử của
bản nhạc này. Nhưng hiểu đúng và biết rõ thì không đơn giản chút nào; thậm chí
một số thông tin khác từ báo chí, có những bài viết chưa thống nhất về năm ra đời
của bản Dạ Cổ Hoài Lang, có người viết ra đời 1918, có người 1919, 1920… Có
người gọi bản Vọng cổ, có người gọi là bài Vọng cổ, là sự phát triển kế thừa của
Dạ Cổ Hoài Lang. Vì lẽ đó, sau thời gian nghiên cứu theo nhiều tư liệu và chúng
tôi đã gặp trực tiếp nhân chứng sống là ông Cao Văn Bỉnh (con trai thứ của nhạc sĩ
Cao Văn Lầu vừa mất năm 2010), và đối chiếu bài phát biểu của ông Cao Kiến
Thiết (con trai trưởng của Cao Văn Lầu), tại cuộc Hội thảo Dạ Cổ Hoài Lang ở
Bạc Liêu 1992, tư liệu đáng tin cậy; nhằm cung cấp cho bạn đọc và trong giới
những chất liệu chính xác về Dạ Cổ Hoài Lang và trả về tiểu sử vốn có của nó.

Nhạc sĩ Cao Văn Lầu sinh: 22.12.1892, tại xóm Cây Cui, thôn Thuận Lễ,
tổng Thạnh Hội Hạ, huyện Tân Thạnh, phủ Tân An, tỉnh Gia Định (nay là xã
Thuận Mỹ, huyện Châu Thành, tỉnh Long An); ông mất ngày: 13.08.1976, tại thị
xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Cha của ông là Cao Văn Giỏi (Chín Giỏi), vốn là một
nghệ nhân thổi kèn, đánh trống nhạc Lễ, sau là thầy tuồng cho gánh Hát bội. Mẹ
của ông là bà Đỗ Thị Tài, nông dân.
Ông Cao Văn Lầu theo cha mẹ tha phương xuôi về Bạc Liêu, lúc ông chưa
đầy 4 tuổi; cuối cùng dừng lại tại rạch ông Bổn, nay là phường 2, thị xã Bạc Liêu.
Tại đây, ông học đờn Tranh và Kìm của thầy nhạc Khị (Lê Tài Khi), cùng thời với
Trịnh Thiên Tư, Ba chột, Mười Khói, Hồng Phát, Trần Tấn Trung (soạn giả Mộng
Vân), Tư Biên, Chín Máng… Thời gian học nhạc tại nhà thầy, Cao Văn Lầu yêu
cô Hai Thân (con gái của thầy nhạc Khị), nhưng lúc đó nhà nghèo không có tiền
cưới; rồi cô Hai Thân cũng đi lấy chồng. Cao Văn Lầu đau buồn cho mối tình đầu
không thành chỉ vì “phận nghèo”. Sau đó, ông nghỉ học. Thấy con buồn bã, ông bà
Chín Giỏi bán lúa non để có tiền cưới vợ cho con. Vợ ông Cao Văn Lầu là bà Trần
Thị Tấn ở Điền Tây Ô – Bạc Liêu, là một phụ nữ đẹp người đẹp nết, lại giỏi giang
việc nhà và ruộng rẫy. Nhưng sau ba năm chung sống vợ chồng, bà Tấn vẫn không
sinh con đẻ cháu cho ông bà Chín Giỏi ẵm bồng. Trong khi đó, quan niệm phong
kiến về hôn nhân gia đình thời đó rất khắc nghiệt “Tam niên vô tử bất thành thê”;
ông bà Chín Giỏi buộc vợ chồng ông Cao Văn Lầu chia tay, để bà cưới vợ khác
cho ông Lầu. Dâng lời mẹ, ông Cao Văn Lầu đưa vợ về bên mẹ vợ, nhưng ông thì
không chịu cưới vợ khác vì ông rất yêu thương vợ.
Nhiều đêm khi xa vợ, Cao Văn Lầu không ngủ được, nằm trằn trọc nghe
tiếng trống đêm ở chùa Vĩnh Phước vọng lại mà não lòng. Cao Văn Lầu nhớ đến
bài “Tô Huệ Chức Cẩm Hồi Văn” theo điệu Nam Ai; ông lại liên tưởng đất nước
đang bị Thực dân xâm lược, làm cho biết bao phụ nữ sống cô đơn chờ chồng, tâm
trạng ấy chẳng khác gì cảnh vợ chồng ông; là hình ảnh của những chinh phu –

chinh phụ… Đó là những cảm xúc thúc đẩy, dẫn đến buổi bình minh của Dạ Cổ
Hoài Lang, “Hò là xang xê cống… = Từ là từ phu tướng…” (1917). Sau đó, tác
phẩm được sự góp ý sửa chữa của thầy Thống (tức nhà Nho học Nguyễn Xuân
Thơ) và sư Nguyệt Chiếu ở chùa Vĩnh Mỹ, về tựa bài, một số chữ nghĩa; rồi ông
đem ra trình bày với một số đồng nghiệp, và cũng được góp ý thêm.
Một hôm, Cao Văn Lầu lén cha mẹ đi thăm vợ; hai người hẹn gặp nhau tại
nhà ông Chín Đại (đờn Tranh, thân phụ của NS Bảy Cao), ông Lầu mượn đờn
Tranh của Chín Đại, vừa đờn vừa ca cho vợ nghe và nói “Tui viết bản nhạc này để
tặng cho mình”… Sau đó, ông Lầu đem vợ gởi qua nhà dì Ba Xịu, nơi thuận
đường ông đến thăm và cha mẹ ông khó phát hiện (1918)... Khi được tin vui, “vợ
Cao Văn Lầu có thai” ông bà Chín Giỏi niềm nở đón con dâu về và khoe giáp
xóm!... Kết quả, cậu con trai đầu lòng ra đời (1919) tên là Cao Kiến Thiết (sau này
ông là cán bộ ngoại giao cấp cao – Đại sứ quán Mông Cổ); cũng là lúc bản Dạ Cổ
Hoài Lang được phổ biến trong giới Tài tử Bạc Liêu.
Vậy, bản Dạ Cổ Hoài Lang được nhạc sĩ Cao Văn Lầu sáng tác từ năm
1917, đến khi được hai nhà sư góp ý đặt tên, bản bè cùng tham khảo vào khoảng
1918, nhưng khi tương đối hoàn chỉnh thời kỳ đầu và được công bố chính thức
trong giới Tài tử Bạc Liêu vào năm 1919.
NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN CỦA DẠ CỔ HOÀI LANG
Theo tài liệu của nhiều nhà nghiên cứu về Da Cổ Hoài Lang, trong đó có
công trình nghiên cứu của ông Trương Bỉnh Tòng với những chất liệu trrùng khớp
và đáng tin cậy. Có thể nói, Bản Dạ Cổ Hoài Lang khi thành phẩm, nó luôn phát
triển theo thời gian với sự tăng tiết tấu, mở rộng nhịp thức: từ 2 – 4 – 8 – 16 – 32 –
64; và như vậy, mỗi lần tăng nhịp là nó để lại một dấu ấn trong Đờn ca Tài tử
và Sân khấu Cải lương. Xin nói thêm về sự khu biệt của tên gọi “bản” và “bài”; từ

“bản” là để chỉ bản nhạc chưa có lời ca, “bài” là để chỉ bài ca, tức có cả nhạc và
lời.
Bản Dạ Cổ Hoài Lang ban đầu có 20 câu, nhịp 2 (mỗi câu có 2 nhịp); khi
tăng lên nhịp 4 (mỗi câu có 4 nhịp) thì có tên gọi là Vọng Cổ Hoài Lang, theo sự
gợi ý của ông Nguyễn Xuân Thơ. Vì Dạ Cổ Hoài Lang theo nghĩa Hán – Việt, là
đêm đêm nghe tiếng trống nhớ chồng; còn Vọng Cổ Hoài Lang, là càng nhớ về
truyền thống xưa càng thương nhớ chồng (Tham luận của Trương Bỉnh Tòng); nên
từ “Dạ Cổ” đổi thành “Vọng Cổ”. Những năm đầu thập niên 20 của thể kỷ trước,
nhạc sĩ Bảy Kiên ở gánh Cải lương Tập Ích Ban, kéo dài từ nhịp đôi thành nhịp tư
và được nhạc sĩ Cao Văn Lầu đồng ý (1920 – 1923). Giai đoạn này, soạn giả
Huỳnh Thủ Trung (Tư Chơi) viết tuồng “Khúc Oan Vô Lượng” vào những năm
đầu thập niên 30, ông đưa bản Vọng Cổ Hoài Lang nhịp 4 vào, cho Nghệ sĩ Phùng
Há ca. Sự nới rộng nhịp thức, tạo hiệu quả ca ngâm ngân nga, đưa hơi nghe mượt
mà hơn.
Khi bản nhạc tăng lên nhịp 8 (mỗi câu có 8 nhịp), có một soạn giả viết hai
bài “Nặng Gánh Nợ Đời” và “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa” do Nghệ sĩ Năm
Nghĩa ca trong dĩa Asia, và được phát hành khắp nơi vào giữa thập niên 40 (1944
– 1946). Một lần nữa, sự tăng nhịp thức buộc tác giả viết lời ca dài thêm, tạo hiệu
quả phong phú về nghệ thuật ca từ; người ca có điều kiện để biểu đạt làn hơi chất
giọng. Chính vì thế, mà giai đoạn này Nghệ sĩ Năm Nghĩa đã làm nức lòng thính
giả qua hai bài ca nói trên, để lại một dấu ấn sâu đậm trong tiểu sử của bản nhạc
này. Tính biện chứng của dấu ấn này, bản nhạc chấp cánh cho nghệ sĩ nổi danh, và
qua biểu đạt của người ca sĩ làm cho sự thực nghiệm của nhịp thức mới càng
phong phú về nhạc điệu.
Đến thập đầu niên 50, bản Vọng Cổ Hoài Lang lại thêm một dấu ấn trong
tiểu sử của mình; là tăng gấp đôi nhịp, từ nhịp 8 lên nhịp 16 (mỗi câu có 16 nhịp).
Thông thường nhịp thức tăng là sự mở rộng tiết tấu, thì lời ca cũng phải gia tăng

