DINH DƯỠNG TRẺ EM – PHẦN 1
Mục tiêu:
1. Xác định được tầm quan trọng của việc nuôi con bằng sữa mẹ
2. Nêu được thành phần của sữa mẹ
3. Trình bày phương pháp nuôi con bằng sữa mẹ
4. Giải thích được vai trò của ăn dặm đối với sức khoẻ và bệnh tật của trẻ
5. Nêu được nhu cầu dinh dưỡng cho từng lứa tuổi.
Dinh dưỡng chiếm một vị trí quan trọng đối với sức khoẻ trẻ em. ảnh hưởng
trực tiếp đến quá trình tăng trưởng, phát triển của trẻ, ảnh hưởng đến tình hình
bệnh tật làm bệnh tật dễ phát sinh, hay làm bệnh chậm lành hoặc nặng hơn trẻ
thiếu dinh dưỡng. Vì thế dinh dưỡng trẻ em không chỉ giới hạn về dinh dưỡng của
trsau sinh mà phải bao m dinh dưỡng của bà mlúc mang thai xa hơn nữa
là tình trạng dinh dưỡng của mẹ trước lúc mang thai.
1. Nuôi con bằng sữa m
1.1. Sinh lý của sự sản xuất sữa
Sữa mẹ được sản xuất từ những tế bào của nang sữa (tuyến vú). Xung quanh nang
sữa là các tế bào , co thắt đẩy sữa ra ngoài qua ống dẫn, dẫn sữa từ nang
sữa ra ngoài. phần quần , các ống trở nên rộng hơn và hình thành các xoang
sữa. Đó là i sữa được gom lại để chuẩn bị cho một bữa ăn. Ống hẹp trở lại khi
qua núm vú. Tchức xung quanh ống dẫn sữa và nang sữa gồm có mô mỡ,
liên kết, mạch máu. Tổ chức mỡ và liên kết quyết định độ lớn của vú. Cuối
thời kỳ thai nghén, vú lớn gấp 2 - 3 lần so với lúc bình thường.
Sau khi sinh, sản xuất sữa mẹ được điều chỉnh bởi hai phản xạ :
1.1.1.Phản xạ sinh sữa
Khi đứa trẻ mút vú, xung động cảm giác đi từ lên não tác động lên thutrước
của tuyến n để bài tiết ra prolactin. Prolactin đi vào máu đến làm cho các tế
bào bài tiết sữa sản xuất ra sữa. Phần lớn prolactin trong máu trong khoảng 30
phút sau bữa bú. Chính vì thế, giúp tạo sữa cho bữa ăn tiếp theo. Đối với
bữa ăn này, đứa trẻ sữa đã sẵn trong vú.Vì thế, cần cho trẻ nhiều
thì vú mẹ sẽ tạo nhiều sữa.
Prolactin thường được sản xuất nhiều về ban đêm, vậy nên cho con vào ban
đêm để duy trì việc tạo sữa .
Prolactin m cho mcảm thấy thư giãn đôi khi buồn ngủ vì thế bà m
thể nghỉ ngơi tốt ngay cả khi cho con bú vào ban đêm. Ngoài ra prolactin còn ngăn
cản sự phóng noãn vì thế có thể giúp mkhông có thai trở lại.
1.1.2. Phản xạ xuống sữa (hay tiết sữa)
Khi tr bú, xung động từ tác động lên thu sau tuyến yên để bài tiết ra
oxytocin. Oxytocin đi vào máu đến và làm cho các tế bào cơ chung quanh nang
sữa co lại, làm cho sữa đã được tập trung vào nang sữa chảy theo ống dẫn sữa đến
xoang sa và chảy ra ngoài. Đây phản xạ xuống sữa ( hay tiết sữa hoặc phun
sữa).
Oxytocin được sản xuất nhanh hơn prolactin. Nó làm sữa trong vú chảy ra cho bữa
bú này. Oxytocin có thhoạt động trước khi trẻ bú, khi bà mẹ chờ đợi một bữa bú.
Nếu phản xạ oxytocin không làm việc tốt thì tr th khó khăn trong việc
nhận sữa. Ngoài ra, oxytocin m cho tcung mẹ go tốt sau đẻ. Phản xạ oxytocin
có thđược hỗ trợ bởi sự cảm thấy hài lòng với con mình, hoặc yêu thương con
cảm thấy tin tưởng rằng sữa của mình tốt nhất đối với trẻ. Nhưng thbị cản
trbởi đau ốm, lo lắng hoặc nghi ngvề sữa của mình. Do đó, để tăng hoặc hỗ trợ
cho phản xạ này cần để mẹ luôn luôn cạnh con mình, xây dựng niềm tin cho
mẹ về sữa của mình.
S sản xuất của sữa mẹ cũng được điều chỉnh ngay trong của chính nó. Người
ta đã tìm thấy trong sữa mẹ có một chất có thể làm gim hoặc ức chế sự tạo sữa.
1.2. Lượng sữa mẹ
Trong vài tháng cuối của thai kỳ, thường một lượng nhỏ sữa tiết ra. Sau khi
sinh, khi trmẹ, lượng sữa được tiết ra tăng lên nhanh chóng. Tvài muỗng
trong ngày đầu, lượng này tăng lên vào khoảng 100 ml vào ngày thhai, và 500
ml vào tuần lễ thứ hai. Lượng sữa sẽ được tiết ra một cách đều đặn đầy đủ vào
ngày th10 - 14 sau khi sinh. Trung bình mỗi ngày trkhoẻ mạnh tiêu thkhoảng
700 - 800 ml trong 24 giờ.
Độ lớn của vú dường như không ảnh hưởng đến số lượng sữa, tuy nhiên vú quá
nhỏ, hay không tăng kích thước trong thời gian mang thai có thể sản xuất ít sữa
Ở những bà mẹ nuôi dưỡngm, lượng sữa vào khoảng 500 - 700 ml/ngày trong 6
tháng đầu, 400 - 600 ml/ngày trong 6 tháng sau đó, và 300 - 500 ml trong năm th
hai. Tình trạng này thdo nguồn dự trcủa bà mbị kém (thiếu dự trữ mỡ)
trong thời gian mang thai.
1.3. Các loại sữa mẹ
Thành phần của sữa m thường không giống nhau, nó thay đổi theo tuổi của trẻ và
tđầu cho tới cuối một bữa bú. cũng khác nhau giữa các bữa và cũng thay
đổi vào những thời gian khác nhau trong ngày.
Sữa non có từ tháng thứ tư của bào thai, sản xuất ra trong vài gi đầu sau sinh. Có
màu vàng nhạt hoặc sáng màu , đặc quánh.
Sữa chuyển tiếp được sản xuất từ ngày th7 đến th14. Số lượng nhiều hơn,
có cảm giác đầy, cứng và nặng . Một số người gọi hiện tượng này là sữa về.
Sữa thường (sữa vĩnh viễn) được tiết ra sau tuần lễ thứ hai sau sinh, màu trắng
lỏng.
Sữa đầu là sữa được sản xuất vào đầu một bữa bú, màu trong xanh. được
sản xuất với một khối lượng lớn. Cung cấp nhiều protein, lactose và các chất dinh
dưỡng khác. Trẻ không cần nước hoặc thêm bt cứ loại dịch nào khác trước khi tr
được 4 - 6 tháng tuổi vì trẻ đã nhận được toàn bộ lượng nước cần thiết từ sữa này.
Sữa cuối là sữa được sản xuất vào cuối một bữa bú, đục hơn vì nó chứa nhiều chất
béo. Chất béo này cung cấp nhiều năng lượng cho bữa bú.
1.4. Thành phần sữa mẹ
1.4.1. Chất dinh dưỡng
- Protein sữa mẹ dễ tiêu, dhấp thu ; một phần thể hấp thu ngay dạ dày;
Protein sữa mẹ chứa a lactalbumin, casein (35%) hình thành nhng cục mm lỏng
dtiêu hoá.Trong sữa non, protein chiếm 10%; trong sữa vĩnh viễn là 1%. Ngoài
ra acid amine của sữa mẹ cystein và taurine cần thiết cho sự phát triển của não
b trẻ sinh. Ngoài ra sữa mẹ còn protein kháng khuẩn.Protein sữa bò
lactalbumin, casein chiếm 80%, không chứa các loại protein kháng khuẩn để bảo
vệ cơ thể trẻ.