LUẬN VĂN:
Định hướng, giải pháp thực hiện chuyển
dịch cơ cấu kinh tế xã hội huyện Ninh
Giang - Hải Dương đến năm 2010
Lời nói đầu
Việt Nam một nước nông nghiệp đến 80% dân số sống khu vực nông
thôn. Trong đó đến 90% lao động m việc trong ngành sản xuất nông nghiệp. Đời
sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn. vậy vấn đề bức xúc đặt ra làm sao phát
triển được nền kinh tế. Đứng trước tình hình đó Đảng Nhà nước chủ trương đổi
mới nền kinh tế, để đảm bảo cho đời sống của nhân dân đồng thời phát triển nền kinh tế
của đất nước vững mạnh.
Mặc những m gần đây chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu về kinh tế
nhưng vẫn chưa được đánh g cao thị trường quốc tế. Trong cơ cấu GDP tỷ trọng của
ngành công nghiệp còn chưa cao, công nghiệp chưa phát triển mạnh, dịch vụ xu
hướng tăng mạnh mẽ. Đây những biểu hiện của nền kinh tế chưa phát triển. vậy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế hội là vấn đề quan trọng mang tính cấp thiết đối với nước
ta trong giai đoạn hiện nay.
Ninh Giang huyện nằm phía Đông Nam của Hải Dương. Vừa mang đặc
điểm chung của đất nước, vừa đặc điểm riêng của một huyện bình quân đất nông
nghiệp thấp, dân số tăng cao; trình độ lạc hậu, nền kinh tế phát triển không đều.
Để đảm bảo sự phát triển kinh tế với tốc độ nhanh, hiệu quả cao đòi hỏi phát huy
tối đa các nguồn lực sẵn các lợi thế so sánh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Từ tình hình trên em đã chọn đề tài: "Định hướng, giải pháp thực hiện chuyển
dịch cơ cấu kinh tế xã hội huyện Ninh Giang - Hải Dương đến năm 2010".
Nội dung của chuyên đề gồm:
Chương I: Những vấn đề lý luận về chuyển dịch kinh tế - xã hội.
Chương II: Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện giai đoạn 1997 - 2002.
Chương III: Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010.
Chương I: Những vấn đề lý luận về
chuyển dịch cơ cấu kinh tế
I. Cơ cấu kinh tế
1. Khái niệm
cấu kinh tế chỉ tỷ trọng của các ngành trong nền kinh tế chung của một quốc
gia, một vùng, một ngành.
cấu kinh tế biểu hiện của những mối quan hệ của quan hệ sản xuất với lực
lượng sản xuất. Mối quan hệ kinh tế đó không chỉ là quan hệ riêng lẻ của những quan hệ
kinh tế mối quan hệ tổng thể của các bộ phận cấu thành nền kinh tế. Bao gồm các
yếu tố kinh tế như tài nguyên, đất đai, sở vật chất kthuật, vốn sức lao động. Các
lĩnh vực kinh tế (gồm sản xuất phân phối trao đổi, tiêu dùng), các ngành kinh tế như
công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, dịch vụ, du lịch… các vùng kinh tế (nông thôn,
thành thị, miền núi, đồng bằng) và các thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể, tư nhân,
bản Nhà nước, bản nhân). Các quan hệ kinh tế nói trên không chỉ về quan htỷ
lệ số lượng, tỷ trọng lao động giữa các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, tỷ
trọng lao động giữa các ngành trong cấu kinh tế. Nông nghiệp - công nghiệp - dịch
vụ. Có thể nêu khái niệm đầy đủ về cấu kinh tế: một tổng thể hệ thống kinh tế bao
gồm nhiều bộ phận kinh tế quan hệ chặt chẽ với nhau được xác định cả về định tính
định lượng trong không gian thời gian. Trong những điều kiện kinh tế hội xác
định phù hợp với điều kiện của mỗi nước, mỗi vùng, mỗi chủ thể kinh doanh sản xuất
cấu kinh tế muốn phát huy được tác dụng phải một quá trình, một thời gian nhất
định. Thời gian ấy dài hay ngắn là tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng loại cấu kinh tế.
Tuy nhiên, cấu kinh tế không có thể cố định lâu dài phải những chuyển
dịch cần thiết thích hợp với sự biến động của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội.
Sử dụng từ quá lâu hoặc sthay đổi nhanh chóng cấu kinh tế mà không dựa
vào sự biến đổi của điều kiện tnhiên, kinh tế hội đều gây nên những thiệt hại về
kinh tế. Việc duy trì hay thay đổi cấu kinh tế không chỉ mục tiêu phương
tiện của lĩnh vực tăng trưởng phát triển kinh tế. vậy nên biến đổi chuyển
dịch cơ cấu kinh tế hay không chuyển dịch nhanh hay chậm không phải sự mong
muốn chủ quan phải dựa vào mục tieu đạt hiệu quả kinh tế hội như thế nào. Điều
này cần thiết cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho mỗi nước và cho riêng mỗi vùng.
2. Phân loại cơ cấu kinh tế.
Dưới các góc độ khác nhau cơ cấu kinh tế được phân làm nhiều loại:
- Cơ cấu ngành: trong quá trình hoạt đông sản xuất các ngành mối quan hệ tác
động qua lại thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển. Quan hệ
- Cơ cấu vùng: Xét dưới giác độ hoạt động kinh tế xã hội theo lãnh thổ.
- Cơ cấu thành phần kinh tế: xét hoạt động kinh tế theo quan hệ sở hữu.
- Cơ cấu đối ngoại: xét trình độ mở cửa hội nhập của nền kinh tế.
- Cơ cấu tích luỹ: xét tiềm năng phát triển kinh tế.
3. Đo lường sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Có nhiều phương pháp đánh giá trình độ chuyển dịch cấu kinh tế song phương
pháp vec phương pháp được s dụng phổ biến hơn cả. Để lượng hoá mức độ
chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa hai thời điểm t0 và t1 người ta thường sdụng công
thức sau:
Cos =
n
i
n
i
ii
n
i
ii
tStS
tStS
1 1
1
2
0
2
1
10
)().(
)()(
Trong đó: Si(t) là tỷ trọng ngành i tại thời điểm t
được coi là góc hợp bở hai vec tơi cơ cấu S(to) S(t1). Khi đó cos = 1 thì góc
giữa hai vec này bằng 0 điều đó nghĩa là hai cấu đồng nhất. Khi cos = 0 thì
góc giữa hai vec tơ này bằng 900 và các vec tơ cơ cấu là trực giao với nhau. Như vậy:
O 900
Để đánh giá một cách trực giác schuyển dịch thể so sánh góc với giới hạn
tối đa của sự sai lệch giữa hai vec tơ. Do vậy tỷ số
90 phản ánh tỷ lệ chuyển dịch cơ
cấu.
II. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
1. Khái niệm:
Trong qtrình mở rộng quy mô của nền sản xuất kinh tế, do tốc độ tăng trưởng
của các bộ phận cấu thành nền kinh tế không giống nhau dẫn đến mối quan hệ số lượng
chất lượng giữa chúng thay đổi tức cấu kinh tế biến đổi - Sự biến đổi của cấu
kinh tế một quá trình thường xuyên liên tục thường diễn ra với tốc độ tương đối
chậm chạp theo thời gian. Đó quá trình chuyển biến từ trạng thái sang trạng thái
mới, dưới tác động của các nhân tố khách quan chủ quan trong những điều kiện cụ
thể. Các nhà kinh tế gọi đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
2. Các nhân tố cơ bản ảnh ng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Sự hình thành cấu kinh tế của một nước chịu sự tác động của nhiều nhân tố
khách quan và chủ quan hết sức phức tạp thể phân các nhân tố thành hai loại nhóm
nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan.
- Nhóm nhân tố khách quan: bao gồm ba nhân tố chủ yếu sau;
+ Nhóm thứ nhất gồm các nhân tố về điều kiện tự nhiên: d trữ tài nguyên,
khoáng sản, nguồn nước, đất đai, nguồn năng lượng, khí hậu, địa hình… Các Mac viết:
"Bất cứ nền sản xuất xã hội nào cũng là việc con người chiếm hữu lấy những đối tượng
của tự nhiên trong phạm vi một hình thái hội nhất định". vậy nền sản xuất hội
cấu của nói riêng chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện tự nhiên. Thiên nhiên vừa
điều kiện chung của sản xuất hội vừa là liệu của sản xuất liệu của tiêu
dùng. ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đối với việc hình thành cấu kinh tế mang
tính trực tiếp. Tuy nhiên trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển hiện nay, việc
đánh giá vai trò các nhân tđiều kiện tnhiên cần tránh cả hai khuynh hướng đối lập
nhau: hoặc quá lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên hoạc xem nhẹ vai trò của nó. Dưới s
thống trị của khoa học - công nghệ hiện đại, tài nguyên thiên nhiên không phải điều
kiện tiên quyết cho sự phát triển.
- Nhóm thứ hai bao gm các nhânkinh tế - hội bên trong của đất nước như
nhu cầu thtrường, dân số và nguồn lao động trình độ phát triển của lực lượng sản xuất,
trình độ quản lý hoàn cảnh lịch sử của đất nước.
Tiến bộ khoa học công nghệ có ảnh hưởng rất lớn đến sự biến đổi cơ cấu kinh tế:
khoa học công nghệ m thay đổi vai trò của nguyên liệu trong quá trình sản xuất sản
phẩm, đòi hỏi phải có quan điểm mới trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên.
- Nhóm thứ ba: bao gồm các nhân tố bên ngoài như quan hệ kinh tế đối ngoại
hợp tác phân công lao động quốc tế. Do sự khác nhau về điều kiện sản xuất các nước
đòi hỏi phải sự trao đổi kết quả lao động với bên ngoài những mức độ phạm vi
khác nhau.