intTypePromotion=3

Đổi mới chương trình đào tạo giáo viên đáp ứng đổi mới giáo dục phổ thông sau năm 2015

Chia sẻ: ViSasuke2711 ViSasuke2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
2
lượt xem
0
download

Đổi mới chương trình đào tạo giáo viên đáp ứng đổi mới giáo dục phổ thông sau năm 2015

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Theo dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể sau năm 2015 của Bộ GD&ĐT, hệ thống các môn học trong chương trình giáo dục phổ thông mới được chia ra hai nhóm môn: Bắt buộc và tự chọn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đổi mới chương trình đào tạo giáo viên đáp ứng đổi mới giáo dục phổ thông sau năm 2015

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE<br /> Educational Sci., 2016, Vol. 61, No. 8A, pp. 43-49<br /> This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn<br /> <br /> DOI: 10.18173/2354-1075.2016-0128<br /> <br /> ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN<br /> ĐÁP ỨNG ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG SAU NĂM 2015<br /> Nguyễn Trọng Khanh<br /> <br /> Khoa Sư phạm Kĩ thuật, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội<br /> Tóm tắt. Theo dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể sau năm 2015 của Bộ<br /> GD&ĐT, hệ thống các môn học trong chương trình giáo dục phổ thông mới được chia ra<br /> hai nhóm môn: bắt buộc và tự chọn. Mỗi học sinh sẽ phải học một số môn bắt buộc và tự<br /> chọn học một số môn trong nhóm các môn tự chọn. Điều đó sẽ không chỉ ảnh hưởng tới cơ<br /> cấu đội ngũ giáo viên phổ thông mà còn ảnh hưởng tới cơ cấu các khoa đào tạo ở trường<br /> đại học sư phạm. Để khắc phục tình trạng này, một trong những giải pháp là trường đại học<br /> sư phạm phát triển chương trình đào tạo theo hướng đào tạo giáo viên có thể dạy được hai<br /> môn học trong chương trình giáo dục phổ thông mới.<br /> Từ khóa: Chương trình đào tạo ghép, cơ cấu đội ngũ giáo viên, đào tạo cấp chứng chỉ, môn<br /> học bắt buộc, môn học tự chọn.<br /> <br /> 1.<br /> <br /> Mở đầu<br /> <br /> Ngày 5/8/2015, Bộ GD-ĐT đã công bố dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể.<br /> Trong dự thảo chương trình đã nêu rõ các lĩnh vực giáo dục và hệ thống các môn học, thời lượng<br /> của từng môn học, định hướng nội dung giáo dục bắt buộc ở từng lĩnh vực giáo dục và phân chia<br /> vào các môn học ở từng cấp học đối với tất cả học sinh trên phạm vi toàn quốc. Việc cấu trúc<br /> chương trình giáo dục phổ thông có môn học bắt buộc và môn học tự chọn sẽ tạo điều kiện cho<br /> học sinh có thể lựa chọn môn học tự chọn và chuyên đề học tập tự chọn phù hợp với định hướng<br /> nghề nghiệp cá nhân. Tuy nhiên, điều đó cũng sẽ gây khó khăn cho nhà trường phổ thông trong<br /> việc cơ cấu đội ngũ giáo viên. Để khắc phục khó khăn này, một trong những giải pháp là các trường<br /> sư phạm cần nghiên cứu phát triển chương trình đào tạo giáo viên có thể dạy được 2 môn học ở<br /> trường phổ thông.<br /> <br /> 2.<br /> 2.1.<br /> <br /> Nội dung nghiên cứu<br /> Cơ sở khoa học của việc phát triển chương trình đào tạo<br /> <br /> 2.1.1. Khái quát chương trình giáo dục phổ thông tổng thể cấp trung học<br /> Theo dự thảo chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) tổng thể, các môn học ở cả 3 cấp<br /> học được chia thành môn học bắt buộc và môn học tự chọn (TC). Các môn học tự chọn gồm 3 loại:<br /> Ngày nhận bài: 1/7/2016. Ngày nhận đăng: 22/9/2016<br /> Liên hệ: Nguyễn Trọng Khanh, e-mail: khanhnt@hnue.edu.vn<br /> <br /> 43<br /> <br /> Nguyễn Trọng Khanh<br /> <br /> Tự chọn tuỳ ý: học sinh có thể chọn hoặc không chọn (TC1); Tự chọn trong nhóm môn học: học<br /> sinh buộc phải chọn một hoặc một số môn học trong nhóm môn học theo quy định trong chương<br /> trình (TC2); Tự chọn trong môn học: học sinh buộc phải chọn một số nội dung trong một môn học<br /> (TC3). Tỉ lệ môn học tự chọn hoặc nội dung học tự chọn tăng dần từ lớp dưới lên lớp trên.<br /> Theo đó, cấu trúc các môn học, hoạt động giáo dục ở cấp trung học được xác định như sau:<br /> * Ở cấp THCS:<br /> - Các môn học bắt buộc gồm: Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1, Thể dục, Giáo dục công dân,<br /> Khoa học Tự nhiên, Khoa học Xã hội.<br /> - Các môn học tự chọn gồm:<br /> + Tự chọn tuỳ ý (TC1) gồm: Ngoại ngữ 2, Tiếng dân tộc, Nghiên cứu khoa học kĩ thuật (ở<br /> lớp 8, 9).<br /> + Tự chọn trong môn học (TC3) gồm: Công nghệ, Tin học, Thể thao, Âm nhạc, Mĩ thuật,<br /> Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.<br /> * Ở cấp THPT:<br /> - Các môn bắt buộc gồm: Ngữ văn 1, Toán 1, Công dân với Tổ quốc, Ngoại ngữ 1.<br /> - Các môn học tự chọn gồm:<br /> + Tự chọn tuỳ ý (TC1) gồm: Nghiên cứu khoa học kĩ thuật, Ngoại ngữ 2.<br /> + Tự chọn trong nhóm môn học (TC2) gồm 4 môn (dành cho lớp 10, 11) và 3 môn (dành<br /> cho lớp 12) trong các môn: Ngữ văn 2, Toán 2, Khoa học Tự nhiên, Khoa học Xã hội, Lịch sử, Địa<br /> lí, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Công nghệ và môn Tin học. Nếu chọn môn Khoa học Tự nhiên thì<br /> không chọn các môn: Vật lí, Hoá học, Sinh học; nếu chọn môn Khoa học Xã hội thì không chọn<br /> các môn: Lịch sử, Địa lí. Các môn Khoa học Tự nhiên và Khoa học Xã hội chỉ học ở lớp 10 và 11.<br /> + Tự chọn trong môn học (TC3) gồm: Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể thao, Hoạt động trải nghiệm<br /> sáng tạo (dành cho các lớp 10, 11, 12); Chuyên đề học tập (dành cho lớp 11, 12).<br /> <br /> 2.1.2. Các môn học mới so với chương trình hiện hành<br /> Như vậy, so với chương trình hiện hành, chương trình GDPT tổng thể xuất hiện một số môn<br /> học mới như sau:<br /> - Khoa học tự nhiên (KHTN) với cấu trúc nội dung tích hợp kiến thức của các môn Vật lí,<br /> Hoá học, Sinh học, Khoa học trái đất, đồng thời có thêm một số chủ đề liên môn được sắp xếp sao<br /> cho vừa bảo đảm liên hệ theo logic tuyến tính vừa tích hợp đồng tâm về sự hình thành các nguyên<br /> lí, quy luật chung của thế giới tự nhiên.<br /> - Khoa học xã hội (KHXH) với cấu trúc nội dung tích hợp chủ yếu các lĩnh vực kiến thức<br /> về Lịch sử, Địa lí, đồng thời lồng ghép, tích hợp kiến thức ở mức độ đơn giản về kinh tế, văn hoá,<br /> khoa học, tôn giáo,...<br /> - Công dân với Tổ quốc được hình thành chủ yếu từ kiến thức các môn Giáo dục công dân,<br /> Giáo dục Quốc phòng - An ninh và một số nội dung thuộc môn Lịch sử, Địa lí trong chương trình<br /> hiện hành.<br /> - Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục mới của cả 3 cấp học, được phát<br /> triển từ các hoạt động tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp, ngoại khoá của chương trình hiện hành,<br /> được thiết kế thành các chuyên đề tự chọn nhằm giúp học sinh phát triển các năng lực, kĩ năng,<br /> niềm tin, đạo đức. . . nhờ vận dụng những tri thức, kiến thức, kĩ năng, thái độ đă học từ nhà trường<br /> và những kinh nghiệm của bản thân vào thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo.<br /> 44<br /> <br /> Đổi mới chương trình đào tạo giáo viên đáp ứng đổi mới giáo dục phổ thông sau năm 2015<br /> <br /> Như vậy, có thể thấy hiện nay trong chương trình đào tạo của trường đại học sư phạm chưa<br /> đào tạo giáo viên dạy các môn KHTN, KHXH, Công dân với Tổ quốc và Hoạt động trải nghiệm<br /> sáng tạo.<br /> <br /> 2.2.<br /> <br /> Dự kiến thực trạng cơ cấu đội ngũ giáo viên phổ thông khi thực hiện chương<br /> trình mới<br /> <br /> Khối<br /> thi<br /> <br /> Bảng 1. Giả định các môn học tự chọn mà học sinh chọn theo khối thi<br /> Môn thi<br /> <br /> A<br /> A1<br /> B<br /> <br /> Toán, Lí, Hóa<br /> Toán, Lí, Tiếng Anh<br /> Sinh, Toán, Hóa<br /> <br /> C<br /> <br /> Văn, Sử, Địa<br /> <br /> D1<br /> D2<br /> D3<br /> D4<br /> D5<br /> D6<br /> V<br /> V1<br /> T<br /> M<br /> N<br /> H<br /> H1<br /> R<br /> S<br /> K<br /> <br /> Văn, Toán, Tiếng<br /> Anh<br /> Văn, Toán, Tiếng<br /> Nga<br /> Văn, Toán, Tiếng<br /> Pháp<br /> Văn, Toán, Tiếng<br /> Trung<br /> Văn, Toán, Tiếng<br /> Đức<br /> Văn, Toán, Tiếng<br /> Nhật<br /> Toán, Lí, Vẽ mĩ thuật<br /> Toán, Ngữ văn, Vẽ mĩ<br /> thuật<br /> Sinh, Toán, Năng<br /> khiếu TDTT<br /> Văn, Toán, Năng<br /> khiếu<br /> Văn, 2 môn năng<br /> khiếu Nhạc<br /> Văn, Năng khiếu - Mĩ<br /> thuật<br /> Toán, Ngữ văn, Vẽ<br /> Trang trí màu<br /> Văn, Sử, Năng khiếu<br /> báo chí<br /> Văn, 2 môn năng<br /> khiếu Điện ảnh<br /> Toán, Lí, môn Kĩ<br /> thuật nghề<br /> <br /> Nhóm môn học tự chọn 2<br /> Lớp 10 và 11<br /> KHXH, Toán 2, Vật lí, Hoá học<br /> KHXH, Toán 2, Vật lí, Hoá học<br /> KHXH, Toán 2, Hoá học, Sinh<br /> KHTN, Ngữ văn 2, Lịch sử, Địa<br /> lí<br /> KHXH, Ngữ văn 2, Toán 2, một<br /> môn nào đó<br /> KHXH, Ngữ văn 2, Toán 2,<br /> Ngoại ngữ 2<br /> KHXH, Ngữ văn 2, Toán 2,<br /> Ngoại ngữ 2<br /> KHXH, Ngữ văn 2, Toán 2,<br /> Ngoại ngữ 2<br /> KHXH, Ngữ văn 2, Toán 2,<br /> Ngoại ngữ 2<br /> KHXH, Ngữ văn 2, Toán 2,<br /> Ngoại ngữ 2<br /> KHXH, Toán 2, Vật lí, Tin học<br /> KHXH, Ngữ văn 2, Toán 2, Tin<br /> học<br /> KHXH, Toán 2, Sinh, một môn<br /> nào đó<br /> KHXH, Ngữ văn 2, Toán 2, một<br /> môn nào đó<br /> KHXH, Ngữ văn 2, hai môn nào<br /> đó<br /> KHXH, Ngữ văn 2, Tin học,<br /> một môn nào đó<br /> KHXH, Ngữ văn 2, Toán 2, Tin<br /> học<br /> KHTN, Ngữ văn 2, Lịch sử, Tin<br /> học<br /> KHXH, Ngữ văn 2, hai môn nào<br /> đó<br /> KHXH, Toán 2, Vật lí, Công<br /> nghệ<br /> <br /> Lớp 12<br /> Toán 2, Vật lí, Hoá học<br /> Toán 2, Vật lí, Hoá học<br /> Toán 2, Hoá học, Sinh<br /> Ngữ văn 2, Lịch sử, Địa lí<br /> Ngữ văn 2, Toán 2, một môn nào<br /> đó<br /> Ngữ văn 2, Toán 2, Ngoại ngữ 2<br /> Ngữ văn 2, Toán 2, Ngoại ngữ 2<br /> Ngữ văn 2, Toán 2, Ngoại ngữ 2<br /> Ngữ văn 2, Toán 2, Ngoại ngữ 2<br /> Ngữ văn 2, Toán 2, Ngoại ngữ 2<br /> Toán 2, Vật lí, Tin học<br /> Ngữ văn 2, Toán 2, Tin học<br /> Toán 2, Sinh, một môn nào đó<br /> Ngữ văn 2, Toán 2, một môn nào<br /> đó<br /> Ngữ văn 2, hai môn nào đó<br /> Ngữ văn 2, Tin học, một môn<br /> nào đó<br /> Ngữ văn 2, Toán 2, Tin học<br /> Ngữ văn 2, Lịch sử, Tin học<br /> Ngữ văn 2, hai môn nào đó<br /> Toán 2, Vật lí, Công nghệ<br /> <br /> 45<br /> <br /> Nguyễn Trọng Khanh<br /> <br /> Giả sử xét chương trình giáo dục trung học phổ thông, đối với các môn học tự chọn, học<br /> sinh căn cứ vào môn thi tuyển sinh đại học, cao đẳng sẽ chọn như trong Bảng 1.<br /> Như vậy sẽ xảy ra một vấn đề như sau:<br /> - Thường học sinh đặt ra mục tiêu học để thi tuyển sinh vào đại học cao đẳng nên các em<br /> sẽ chọn những môn nào phục vụ tốt cho việc thi của mình. Vì thế việc chọn môn học tự chọn 2 sẽ<br /> căn cứ vào các môn thi trong khối mà các em dự định đăng kí thi. Như thế, số môn tự chọn 2 được<br /> chọn và số lượng học sinh lựa chọn ở mỗi trường sẽ khác nhau và ở cùng một trường cũng khác<br /> nhau theo từng năm học. Do vậy nhà trường thường sẽ rơi vào tình trạng thiếu giáo viên dạy môn<br /> này và thừa giáo viên dạy môn kia; năm học này thì thiếu nhưng có khi năm học sau lại thừa.<br /> - Như Bảng 1 đã trình bày, dù là giả định nhưng cũng dễ nhận thấy có những môn được<br /> chọn rất ít, thậm chí không được chọn.<br /> Đó là chưa kể có môn học mà số học sinh chọn quá ít (trên dưới 10 em chẳng hạn) thì có<br /> thể nhà trường sẽ không tổ chức dạy môn này mà sẽ khuyên hoặc buộc các em phải chọn tổ hợp<br /> khác.<br /> Như vậy sẽ dẫn tới tình trạng khi trong năm học có một vài môn học không được học sinh<br /> chọn thì giáo viên dạy những môn đó sẽ không có việc làm, phải nghỉ, phải làm một công việc<br /> khác nào đó hoặc phải chuyển công tác, thậm chí có thể bị buộc thôi việc, nghỉ hưu sớm,. . . Và<br /> nếu giáo viên dạy môn đó đã chuyển khỏi trường rồi, đến năm học sau hoặc vài năm sau lại có<br /> nhiều học sinh đăng kí học môn đó thì nhà trường sẽ lại phải tuyển giáo viên mới hoặc cử giáo<br /> viên bộ môn nào đó (đang bị thiếu giờ) sang dạy. Nếu lấy giáo viên dạy môn khác sang dạy thì<br /> chất lượng dạy học sẽ khó được đảm bảo. Mặt khác, khi một vài môn học nào đó mà hầu như học<br /> sinh ở tất cả các trường không chọn thì không những giáo viên đang công tác gặp khó khăn mà<br /> nhà trường sẽ không tuyển giáo viên mới. Hệ lụy tiếp theo là khi sinh viên tốt nghiệp không xin<br /> được việc làm thì các trường sư phạm cũng sẽ không tuyển được sinh viên học những ngành này.<br /> Và hãy tưởng tượng sau một hai năm mà trường sư phạm không tuyển sinh được những ngành này<br /> thì đương nhiên những khoa đào tạo giáo viên ngành đó sẽ bị giải thể. Và cứ thế thì tiếp theo sẽ là<br /> các môn học đó sẽ bị xóa khỏi chương trình giáo dục phổ thông.<br /> Trong dự thảo chương trình GDPT tổng thể cũng có đề ra cách giải quyết khi thiếu giáo viên<br /> dạy là nhà trường có thể mời giáo viên thỉnh giảng hoặc cho các em học ở trường lân cận nhưng<br /> xem ra tính khả thi của cách này cũng không cao. Như thế, về lí thuyết thì học sinh có quyền tự do<br /> lựa chọn nhưng thực tế có thể thực hiện được đúng như vậy không.<br /> Như vậy, trường đại học sư phạm cần có giải pháp để khắc phục thực trạng này ở trường<br /> phổ thông và cũng là đảm bảo sự ổn định trong đào tạo của nhà trường.<br /> <br /> 2.3.<br /> <br /> Đề xuất giải pháp phát triển chương trình đào tạo giáo viên<br /> <br /> Căn cứ vào thực trạng nêu trên, tác giả đề xuất một trong những cách giải quyết là các<br /> trường đại học sư phạm nên nghiên cứu để đào tạo giáo viên có thể dạy được hai môn ở trường phổ<br /> thông.<br /> <br /> 2.3.1. Những cặp môn đào tạo ghép<br /> Căn cứ vào những môn học mới trong dự thảo chương trình GDPT tổng thể, có thể ghép<br /> chương trình đào tạo như sau:<br /> - Môn KHTN có nội dung tích hợp các chủ đề của các phân môn Vật lí, Hoá học, Sinh học,<br /> Khoa học trái đất nên có thể ghép chương trình đào tạo:<br /> 46<br /> <br /> Đổi mới chương trình đào tạo giáo viên đáp ứng đổi mới giáo dục phổ thông sau năm 2015<br /> <br /> + Chương trình đào tạo giáo viên Vật lí có ghép thêm một phần chương trình đào tạo giáo<br /> viên Hóa học và Sinh học. Người tốt nghiệp sẽ dạy môn Vật lí và môn KHTN.<br /> + Chương trình đào tạo giáo viên Hóa học có ghép thêm một phần chương trình đào tạo<br /> giáo viên Vật lí và Sinh học. Người tốt nghiệp sẽ dạy môn Hóa học và môn KHTN.<br /> + Chương trình đào tạo giáo viên Sinh học có ghép thêm một phần chương trình đào tạo<br /> giáo viên Vật lí và Hóa học. Người tốt nghiệp sẽ dạy môn Sinh học và môn KHTN.<br /> - Môn KHXH có nội dung tích hợp các chủ đề của các phân môn Lịch sử, Địa lí nên có thể<br /> ghép chương trình đào tạo:<br /> + Chương trình đào tạo giáo viên Lịch sử có ghép thêm một phần chương trình đào tạo giáo<br /> viên Địa lí. Người tốt nghiệp sẽ dạy môn Lịch sử và môn KHXH.<br /> + Chương trình đào tạo giáo viên Địa lí có ghép thêm một phần chương trình đào tạo giáo<br /> viên Lịch sử. Người tốt nghiệp sẽ dạy môn Địa lí và môn KHXH.<br /> - Môn Công dân với Tổ quốc có nội dung tích hợp các chủ đề của các phân môn Giáo dục<br /> công dân và Giáo dục về quốc phòng - an ninh nên có thể ghép chương trình đào tạo:<br /> + Chương trình đào tạo giáo viên Giáo dục công dân có ghép thêm một phần chương trình<br /> đào tạo giáo viên Giáo dục quốc phòng và một số nội dung về hoạt động trải nghiệm sáng tạo.<br /> + Chương trình đào tạo giáo viên Giáo dục quốc phòng có ghép thêm một phần chương<br /> trình đào tạo giáo viên Giáo dục công dân và một số nội dung về hoạt động trải nghiệm sáng tạo.<br /> Ngoài ra, còn có thể ghép chương trình đào tạo giáo viên dạy hai môn Công nghệ và Tin<br /> học như sau:<br /> + Chương trình đào tạo giáo viên Công nghệ có ghép thêm một phần chương trình đào tạo<br /> giáo viên Tin học và nội dung về Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.<br /> + Chương trình đào tạo giáo viên Tin học có ghép thêm một phần chương trình đào tạo giáo<br /> viên Công nghệ và nội dung về Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.<br /> <br /> 2.3.2. Cấu trúc chương trình và thời lượng đào tạo<br /> - Đối với chương trình đào tạo ghép 2 môn, thời lượng đào tạo khóa học có thể điều chỉnh<br /> tăng lên 150 tín chỉ. Trong đó, chương trình đào tạo môn chính có 130 tín chỉ và chương trình đào<br /> tạo môn thứ hai có 20 tín chỉ (chỉ gồm những môn chuyên ngành).<br /> - Đối với chương trình đào tạo ghép 3 môn, thời lượng đào tạo khóa học cũng điều chỉnh<br /> tăng lên 150 hoặc 160 tín chỉ. Trong đó, chương trình đào tạo môn chính cũng có 130 tín chỉ còn<br /> chương trình đào tạo chuyên ngành của hai môn thứ hai và thứ ba mỗi môn 10 - 15 tín chỉ.<br /> Theo tác giả, phương án này hoàn toàn khả thi bởi thời lượng đào tạo một khóa học 150<br /> hoặc 160 tín chỉ vẫn có thể thực hiện được trong thực tế đào tạo đại học ở Việt Nam hiện nay (Vẫn<br /> còn mang nặng phong cách đào tạo theo niên chế).<br /> <br /> 2.3.3. Cách thức tiến hành<br /> Nhà trường tổ chức các khoa có tham gia đào tạo ghép để thống nhất kế hoạch. Các khoa có<br /> đào tạo ghép sẽ thảo luận để có thể điều chỉnh các học phần thuộc kiến thức cơ bản, cơ sở, chuyên<br /> ngành (nếu cần). Sau đó các khoa đào tạo môn chính (gọi là khoa đào tạo môn thứ nhất) sẽ chuyển<br /> chương trình khung cho khoa đào tạo môn ghép (gọi là khoa đào tạo môn thứ hai). Khoa đào tạo<br /> môn thứ hai (nếu ghép với hai khoa thì gọi chung cả hai khoa ghép là khoa đào tạo môn thứ hai)<br /> sẽ xây dựng chương trình các học phần bổ sung với thời lượng 10, 15 hoặc 20 tín chỉ. Sau khi xây<br /> dựng xong, khoa đào tạo môn thứ hai chuyển cho khoa đào tạo môn thứ nhất để hoàn chỉnh chương<br /> 47<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản