intTypePromotion=1
ADSENSE

Đổi mới hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên các trường phổ thông vùng dân tộc thiểu số và miền núi đáp ứng yêu cầu của chương trình mới

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

13
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết phân tích quan niệm về bồi dưỡng; yêu cầu đổi mới về hoạt động bồi dưỡng cho giáo viên; thực trạng về đội ngũ giáo viên vùng dân tộc thiểu số, miền núi phía Bắc; những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bồi dưỡng; đề xuất một số giải pháp đổi mới hoạt động bồi dưỡng cho giáo viên các trường phổ thông vùng dân tộc thiểu số, miền núi để nâng cao năng lực thực hiện chương trình mới. Mời các bạn tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đổi mới hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên các trường phổ thông vùng dân tộc thiểu số và miền núi đáp ứng yêu cầu của chương trình mới

  1. ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NÂNG CAO NĂNG LỰC CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA CHƯƠNG TRÌNH MỚI ThS. Nguyễn Thị Minh Nguyệt1 Tóm tắt: Bồi dưỡng giáo viên (GV) được coi là một nhiệm vụ quan trọng để nâng cao năng lực nghề nghiệp bởi GV là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục. Thực tiễn cho thấy, việc tổ chức bồi dưỡng cho GV đã được triển khai hàng năm nhưng chất lượng còn hạn chế, nhất là với đội ngũ GV đang công tác ở các trường phổ thông vùng dân tộc thiểu số, miền núi (DTTS, MN). Để hoạt động bồi dưỡng mang lại hiệu quả mong muốn, các nội dung/ hình thức bồi dưỡng cần được thiết kế khoa học, hợp lí và đáp ứng nhu cầu của người học. Bài viết phân tích quan niệm về bồi dưỡng; yêu cầu đổi mới về hoạt động bồi dưỡng cho giáo viên; thực trạng về đội ngũ giáo viên vùng dân tộc thiểu số, miền núi phía Bắc; những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bồi dưỡng; đề xuất một số giải pháp đổi mới hoạt động bồi dưỡng cho giáo viên các trường phổ thông vùng dân tộc thiểu số, miền núi để nâng cao năng lực thực hiện chương trình mới. Từ khóa: Bồi dưỡng giáo viên; chương trình mới; vùng dân tộc thiểu số và miền núi. 1. Đặt vấn đề Đội ngũ giáo viên có vai trò quan trọng trong việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ giáo dục, là lực lượng thực thi những nhiệm vụ, các kế hoạch giáo dục của nhà trường. Thực tế cho thấy, GV các trường phổ thông ở vùng DTTS, MN chiếm khá đông và có tỷ lệ đạt chuẩn tương đối cao, nhưng được đào tạo từ nhiều hệ đào tạo khác nhau. Công tác bồi dưỡng cho đội ngũ để thực hiện nhiệm vụ giáo dục đã được triển khai thường xuyên và liên tục. Tuy nhiên, hiệu quả đem lại còn những hạn chế nhất định, quá trình bồi dưỡng và tự bồi dưỡng còn hình thức; nội dung và phương pháp bồi dưỡng vẫn mang tính áp đặt, một chiều; tâm thế của GV tham gia bồi dưỡng còn đối phó,… Vì vậy, cần những giải pháp đổi mới hoạt động bồi dưỡng để giúp GV vùng DTTS, MN nói chung, đội ngũ đang công tác ở các trường phổ thông vùng DTTS, MN phía Bắc nói riêng nhằm đạt được mặt bằng tối thiểu về chuyên môn, trang bị cho họ các kĩ năng cần thiết, đủ năng lực để triển khai thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa mới. 1 Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam; Điện thoại: 0979771176; Email:nguyetgddt@gmail.com.
  2. Phần 1: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN 97 2. Nội dung 2.1. Quan niệm về bồi dưỡng giáo viên Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: “Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức và kĩ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ”[6]. Từ quan niệm trên, có thể hiểu, bồi dưỡng là hoạt động làm tăng thêm trình độ và năng lực hiện có về kiến thức, kĩ năng, thái độ nhằm giúp cho giáo viên (GV) thực hiện các hoạt động giáo dục đạt kết quả tốt hơn. Do vậy, một trong những nội dung cần được chú trọng là bồi dưỡng nhằm phát triển năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho GV. 2.2. Bồi dưỡng cho giáo viên phổ thông vùng dân tộc thiểu số, miền núi phía Bắc trước yêu cầu đổi mới Tại các trường phổ thông vùng DTTS, MN phía Bắc, năng lực đội ngũ GV hiện nay vẫn còn nhiều bất cập. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục nói chung và nâng cao chất lượng giáo dục dân tộc nói riêng thì vấn đề bồi dưỡng GV là nhiệm vụ cấp thiết. Hoạt động bồi dưỡng giúp cho giáo viên các trường phổ thông vùng DTTS, MN rút ngắn “khoảng cách” giữa năng lực thực tế và các yêu cầu về chuẩn nghề nghiệp, đủ năng lực và thực lực sư phạm để thực hiện được vai trò chủ thể trong thực hiện nhiệm vụ dạy học, giáo dục. Nghị quyết 29-NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục” và Nghị quyết 88/2014/QH13 về “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông” nêu rõ: “Tạo sự chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông, kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh”[1]. Vì vậy, GV cần phải thay đổi trong thực hiện hoạt động bồi dưỡng và tự bồi dưỡng các năng lực cần thiết để thực hiện nhiệm vụ giáo dục theo hướng đổi mới, GV phải dạy học tích cực để đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực người học. Quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 29/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lí cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025”. Quyết định nêu rõ việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục để bảo đảm chuẩn hóa về chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao năng lực, kỹ năng sư phạm; ý thức trách nhiệm, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp; gắn đào tạo, bồi dưỡng với nhu cầu và quy hoạch sử dụng lâu dài, đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; góp phần thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo [8]. Các nội dung bồi dưỡng cho GV cần đi từ cái tổng thể đến cụ thể. Theo yêu cầu trước tiên cần bồi dưỡng những yêu cầu cần đạt, những mạch kiến thức có trong chương trình mới, so sánh sự giống và khác nhau, những thay đổi giữa chương trình cũ (2006) và Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 (Chương trình mới). Với các nội dung giáo dục cụ thể tùy theo kiến
  3. 98 KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ NHẤT VỀ ĐỔI MỚI ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN thức từng lĩnh vực môn học, GV công tác ở các trường vùng DTTS, MN cần biết được những “thiếu hụt” về kiến thức, năng lực chuyên môn để có kế hoạch bồi dưỡng cụ thể khi tham gia các khóa tập huấn, bồi dưỡng cũng như có cách thức tự bồi dưỡng phù hợp với bản thân. Thông tư 14/2018/TT-BGDĐT ngày 20/7/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định “Chuẩn Hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông”[3]; Thông tư 20/2018/TT-BGDĐT ngày 22/8/2018 Ban hành quy định “Chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông” với các tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể với cán bộ quản lí, giáo viên trong thực hiện nhiệm vụ [4]. Các nội dung của thông tư chính là căn cứ cho các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục xây dựng, phát triển chương trình và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng phát triển phẩm chất, năng lực lãnh đạo, quản trị nhà trường, năng lực giáo dục, dạy học cho đội ngũ; Chuẩn nghề nghiệp chính là căn cứ để cơ sở giáo dục phổ thông đánh giá về phẩm chất, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của CBQL, GV; xây dựng và triển khai kế hoạch bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp của đội ngũ nhà giáo đáp ứng mục tiêu giáo dục của nhà trường, của địa phương và của ngành Giáo dục. Kế hoạch tổ chức bồi dưỡng triển khai thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2019 theo Công văn số 212/KH-BGDĐT ngày 20/3/2019 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các nội dung bồi dưỡng trong kế hoạch yêu cầu tập trung vào việc hướng dẫn triển khai Chương trình mới phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mỗi đối tượng được bồi dưỡng nhằm tăng cường năng lực tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn cho Hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông; tăng cường năng lực đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá cho giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu triển khai thực hiện Chương trình mới [5]. Thông tư 27/2015/TT-BGDĐT về Chương trình bồi dưỡng thường xuyên cán bộ quản lí trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học qui định nội dung bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục trung học theo từng thời kỳ của mỗi địa phương bao gồm các nội dung về phát triển giáo dục trung học của địa phương; về quản lý việc thực hiện chương trình, sách giáo khoa - kiến thức giáo dục địa phương [2]. Thực tế cho thấy, việc xây dựng các chương trình, nội dung bồi dưỡng hàng năm nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho GV các trường phổ thông nói chung, đội ngũ nhà giáo công tác ở các trường vùng DTTS, MN nói riêng vẫn còn một số hạn chế, chưa thực sự chú trọng đến nhu cầu của đối tượng được bồi dưỡng nên hiệu quả bồi dưỡng chưa cao. Những văn bản pháp qui nêu trên sẽ là căn cứ quan trọng để các cơ sở giáo dục (Các trường sư phạm/sở/phòng giáo dục và đào tạo/các nhà trường) tổ chức xây dựng chương trình, nội dung bồi dưỡng cho GV các trường phổ thông vùng DTTS, MN một cách khoa học, đảm bảo tính thiết thực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. 2.3. Thực trạng về đội ngũ giáo viên vùng dân tộc thiểu số, miền núi phía Bắc Vùng DTTS, MN phía Bắc là 1 trong 7 vùng kinh tế - xã hội của cả nước bao gồm 14 tỉnh, chia làm 2 vùng Tây Bắc và Đông Bắc. Đây là vùng có tỷ lệ mù chữ cao nhất cả nước. Đội ngũ GV là nhân tố quyết định thành công của chương trình giáo dục phổ thông mới. Vì vậy, đội ngũ này không chỉ đảm bảo về số lượng mà còn phải đảm bảo về chất lượng (trình
  4. Phần 1: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN 99 độ đào tạo và năng lực nghề nghiệp). Trong nhiều năm qua sự biến động về số lượng; sự thiếu hụt GV theo môn học, cấp học; sự hạn chế về năng lực nghề nghiệp và sự đáp ứng các điều kiện để nâng cao năng lực quản lí của cán bộ quản lí, nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên luôn là những vấn đề căn bản mà công tác quản lí giáo dục từ Trung ương đến địa phương cần phải có giải pháp hữu hiệu để giải quyết các vấn đề còn hạn chế ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. Minh chứng về qui mô đội ngũ GV Tiểu học vùng DTTS, MN phía Bắc được thể hiện dưới đây: Bảng 2.1. Giáo viên Tiểu học năm học 2016-2017 ở một số tỉnh vùng DTTS, MN [6] Số GV Tỉ lệ Số GV Tỉ lệ GV Số GV Tỉ lệ GV TT Tỉnh Tổng số đạt GV đạt dân tộc dân tộc nữ nữ chuẩn chuẩn 1 Cao Bằng 4.221 4.194 99,36 4.043 95,78 3.355 79,48 2 Bắc Kạn 2.229 2.229 100 2.023 90,76 1.667 74,79 3 Lạng Sơn 5.029 5.027 99,96 4.286 84,87 4.036 80,25 4 Hà Giang 6.459 6.447 99,81 3,745 57,98 4.329 67,02 5 Sơn La 7.482 7.477 99,93 4.131 55,21 4,643 62,06 6 Điện Biên 4.535 4.535 100 2.273 50,12 2,610 57,55 7 Hòa Bình 4.839 4.806 99,32 2.153 44,49 4.037 83,43 8 Tuyên Quang 4.046 4.041 99,88 1.735 42,88 2.805 69,33 9 Lai Châu 4.017 4.012 99,88 1.656 41,22 2.499 62,21 Bảng 2.2. Giáo viên Tiểu học năm học 2017-2018 ở một số tỉnh vùng DTTS, MN [6] Số GV Tỉ lệ GV đạt Số GV Tỉ lệ GV Số GV Tỉ lệ GV Tổng số đạt TT Tỉnh chuẩn dân tộc dân tộc nữ nữ chuẩn 1 Cao Bằng 4.170 4.166 99,90 3.950 94,72 3.323 79,69 2 Bắc Kạn 2.218 2.216 99,91 2.017 90,94 1.748 78,81 3 Lạng Sơn 4.963 4.956 99,86 4.212 84,87 4.042 81,44 4 Hà Giang 6.409 6.405 99,98 3.729 58,21 4.316 76,37 5 Sơn La 7.564 7.559 99,93 4.321 57,13 4.755 62,86 6 Điện Biên 4.408 4.407 99.98 2.305 52,29 2.511 56,96 7 Hòa Bình 4.895 4.884 99.78 2.222 45,39 4.022 82,17 8 Tuyên Quang 4.030 4.025 99,88 1.744 43,28 3.221 79,93 9 Lai Châu 3.896 3.893 99,92 1.610 41,32 2.414 61,96 Với 9 tỉnh vùng DTTS có tỉ lệ giáo viên người DTTS cao (40 - 90%) cho thấy xu hướng tăng tỉ lệ GV người DTTS ở tất cả 9 tỉnh (trừ Cao Bằng giảm khoảng 1%). Tỉ lệ GV Tiểu học cao là những thuận lợi như biết tiếng dân tộc, hiểu biết phong tục tập quán, tâm lí học sinh DTTS. Song cũng có những hạn chế bất cập như năng lực nghề nghiệp, điều kiện kinh tế -
  5. 100 KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ NHẤT VỀ ĐỔI MỚI ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN xã hội cản trở tới học tập, bồi dưỡng nâng cao năng lực,… không thể khắc phục trong thời gian ngắn, trong khi việc triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới đã cận kề (năm học 2020-2021). Qua tìm hiểu năng lực (NL) chuyên môn của đội ngũ GV Tiểu học tại Trường TH - THCS Cư Yên; Trường TH - THCS Cao Răm, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình thông qua phỏng vấn, trao đổi với GV và cán bộ quản lí, qua nghiên cứu các báo cáo đánh giá về giáo dục tiểu học của phòng giáo dục huyện, có thể nói, cơ bản đội ngũ nhà giáo có ý thức chính trị, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt, tận tuỵ với nghề, có tinh thần trách nhiệm cao, có tinh thần chủ động bồi dưỡng nâng cao NL để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tuy nhiên, còn một bộ phận GV chưa đáp ứng về kiến thức, kĩ năng sư phạm. Nhiều GV còn lúng túng trong tổ chức dạy học theo định hướng phát triển NL cho HS… Có thể khái quát một số nguyên nhân của những tồn tại, bất cập nói trên như sau: - Một số yêu cầu tăng cường dạy học theo định hướng mới như: dạy học tích hợp, hoạt động trải nghiệm,… là vấn đề khó cả về nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức đối với giáo dục vùng DTTS, MN nên cần thời gian để tìm hiểu, nghiên cứu, thực hiện. - GV Tiểu học ở vùng DTTS, MN ít có cơ hội trao đổi, học tập, nghiên cứu về dạy học theo định hướng phát triển NL cho HS. GV gặp khó khăn khi vận dụng các kĩ thuật dạy học hiện đại, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin do thiếu các điều kiện và sự tương tác của HS vùng cao. - Việc đánh giá, phân loại để xác định cụ thể những NL chuyên môn còn hạn chế của GV chưa hiệu quả, chưa có nhiều giải pháp phù hợp trong bồi dưỡng, nâng cao NL chuyên môn cho GV Tiểu học. - Do yếu tố địa bàn nên công tác kiểm tra, giám sát chuyên môn còn gặp khó khăn, một bộ phận GV chưa tích cực, tự giác tự học, tự bồi dưỡng. - Cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí, tài liệu cho công tác bồi dưỡng chuyên môn còn hạn chế, thu nhập thấp, đời sống khó khăn nên ảnh hưởng đến chất lượng GV Tiểu học vùng DTTS, MN. 2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bồi dưỡng của giáo viên các trường phổ thông vùng dân tộc thiểu số, miền núi * Sự phát triển của khoa học công nghệ Trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay, đòi hỏi lực lượng lao động phải có trình độ tay nghề cao ở tất cả các ngành nghề, trong đó có giáo dục. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là GV phải nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu dạy học và giáo dục trong giai đoạn đổi mới. GV ở các trường phổ thông vùng DTTS, MN cần phải có những kiến thức cơ bản, có trình độ ngoại ngữ, tin học căn bản để sử dụng tốt các phương tiện công nghệ thông tin hiện đại làm công cụ để thực hiện phương pháp dạy học tích cực, giải quyết các vấn đề trong dạy học một cách linh hoạt với sự hỗ trợ internet để cập nhật thông tin, kiến thức phục vụ công việc nghề nghiệp. Đội ngũ GV công tác ở vùng DTTS, MN điều kiện cơ
  6. Phần 1: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN 101 sở vật chất phục vụ cho bồi dưỡng trực tuyến, tự bồi dưỡng qua hệ thống tài liệu trên mạng internet còn hạn chế. Ngoài ra, năng lực của các GV về tin học và sử dụng công nghệ thông tin còn những bất cập nhất định. * Điều kiện kinh tế - xã hội và phong tục tập quán Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có các chính sách về nâng cao chất lượng giáo dục cho vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đã được thực hiện nghiêm túc. Các chính sách đã được triển khai hỗ trợ đối với giáo viên, học sinh nghèo, học sinh người DTTS, HS các trường phổ thông dân tộc nội trú. Các em học sinh trong các trường phổ thông vùng DTTS, MN phần lớn là con em dân tộc vùng sâu, vùng xa, có xuất phát điểm từ các tỉnh miền núi với nền tảng kinh tế thấp, điều kiện sinh sống còn nhiều khó khăn. Ngoài ra, trình độ dân trí còn thấp với những bất cập theo các vùng miền, phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số cũng còn những mặt tồn tại với những hủ tục lạc hậu như mê tín dị đoan, nạn tảo hôn, không cho con gái đi học, lối sống nhiều thụ động,... Những yếu tố này cũng tác động không nhỏ tới phát triển sự nghiệp giáo dục ở vùng DTTS, trong đó có ảnh hưởng tới nhu cầu phát triển nghề nghiệp của GV công tác tại vùng này. * Năng lực sư phạm, trình độ của đội ngũ giáo viên Đội ngũ cán bộ giáo viên được cử đến công tác tại các trường phổ thông vùng DTTS, MN chưa có đủ kinh nghiệm cần thiết, đặc biệt còn lúng túng trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục đặc thù: tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh DTTS,... Nhiều giáo viên chưa biết tiếng dân tộc thiểu số nơi địa phương công tác, chưa hiểu biết tâm lý học sinh dân tộc. Ngoài ra trình độ nhận thức, ý chí phấn đấu vươn lên trong công việc, tự học, tự bồi dưỡng thường xuyên để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của từng giáo viên hướng đến chuẩn hóa về trình độ đào tạo và đạt chuẩn nghề nghiệp giáo viên phổ thông ảnh hưởng không nhỏ trong nâng cao chất lượng đội ngũ, nâng cao hiệu quả giáo dục. * Chất lượng học sinh Chất lượng học sinh trong các trường phổ thông vùng DTTS, MN nhìn chung thấp. Học sinh vào học tại các trường phổ thông là học sinh các xã, bản thuộc vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, điều kiện kinh tế gia đình còn nghèo đã ảnh hưởng đến sự việc học tập và rèn luyện nên kết quả học tập không cao. Trong đổi mới phương pháp dạy học, học sinh đóng vai trò chủ động nắm bắt kiến thức, giáo viên chỉ đạo, tổ chức thực hiện; nhưng với đối tượng học sinh DTTS còn những hạn chế về trình độ như vậy giáo viên khó có thể triển khai được phương pháp dạy học tích cực có hiệu quả. Nếu GV không khắc phục được những hạn chế về năng lực sư phạm thì khả năng thực hiện chương trình mới theo hướng phát triển năng lực cho HS DTTS sẽ khó mang lại hiệu quả. 2.5. Giải pháp đổi mới hoạt động bồi dưỡng cho giáo viên các trường phổ thông vùng dân tộc thiểu số, miền núi Đổi mới các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GV phổ thông để giúp họ phát triển năng lực, hoàn thiện phẩm chất và nâng cao trình độ chuyên môn để thực hiện chương trình mới, cần chú trọng vào các giải pháp sau:
  7. 102 KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ NHẤT VỀ ĐỔI MỚI ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN Một là, Sở giáo dục và đào tạo các tỉnh vùng DTTS, MN cần rà soát nhu cầu bồi dưỡng của GV tại các nhà trường, kết hợp với các yêu cầu về năng lực theo Chuẩn nghề nghiệp, yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực,… để cùng các nhà trường xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nâng cao năng lực cho GV. Cử các cán bộ quản lí, GV cốt cán đã được tham gia các chương trình tập huấn của Bộ Giáo dục và Đào tạo về thực hiện chương trình mới. Sở/phòng giáo dục và đạo tạo và các nhà trường tổ chức triển khai tập huấn đại trà các nội dung/hình thức bồi dưỡng cho GV đang công tác tại các trường phổ thông vùng DTTS, MN. Chú trọng các nội dung bồi dưỡng nâng cao phẩm chất và năng lực cho GV, bồi dưỡng để GV có thể nắm bắt nhanh những thay đổi về nội dung, chương trình dạy học. Cán bộ tập huấn (cán bộ quản lí nhà trường, giáo viên cốt cán, tổ trưởng chuyên môn,…) cần tập huấn cho toàn thể GV đang công tác tại các trường phổ thông vùng DTTS, MN nắm rõ các yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông, những thay đổi về mục tiêu dạy học, giáo dục với những nội dung bồi dưỡng như: - Bồi dưỡng cho GV theo Chuẩn nghề nghiệp về phẩm chất và năng lực để nâng cao trình độ chuyên môn, kĩ năng làm việc trong các trường phổ thông vùng DTTS, MN. Ngoài ra, tập trung bồi dưỡng cho GV những nội dung gắn với đặc điểm công tác theo vùng, miền để GV thấy được tầm quan trọng của việc bồi dưỡng nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục học sinh người dân tộc thiểu số. - Bồi dưỡng cho GV những năng lực cốt lõi cũng như các năng lực đặc thù để thực hiện chương trình mới trong nhà trường phổ thông vùng DTTS, MN như năng lực dạy học tích hợp, dạy học phân hóa, tổ chức các hoạt động trải nghiệm; năng lực dạy tiếng dân tộc, dạy song ngữ (tiếng Việt - tiếng dân tộc), năng lực triển khai các nội dung giáo dục đặc thù,.... - Bồi dưỡng cho GV năng lực vận dụng, truyền tải kiến thức phù hợp với HS DTTS trong các môn học bắt buộc, hoạt động giáo dục bắt buộc, môn tự chọn, giúp GV biết vận dụng vào thực tế khi triển khai với từng bài/nội dung giáo dục để phát triển năng lực dạy học trong môi trường đa văn hóa. - Bồi dưỡng cho GV kĩ năng quản lí dạy học và duy trì sự ổn định trật tự của lớp khi tổ chức phương pháp dạy học theo nhóm, dạy học hợp tác, đảm bảo mục tiêu dạy học theo hướng phát triển năng lực HS DTTS. GV sẽ thay đổi cách tổ chức giờ học khoa học, có khả năng giao tiếp với học sinh DTTS, kĩ năng ứng xử các tình huống phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. - Bồi dưỡng cho GV phương pháp kiểm tra đánh giá theo yêu cầu của Chương trình mới nhằm động viên, tuyên dương, khích lệ HS một cách kịp thời, nhất là với đối tượng HS chậm tiến, tạo cảm hứng học tập cho HS DTTS để HS yêu quý thầy cô, yêu thích các môn học. - Bồi dưỡng GV năng lực nghiên cứu, vận dụng khoa học vào thực tế dạy học: năng lực phát hiện, giải quyết vấn đề; năng lực viết sáng kiến kinh nghiệm và các chuyên đề chuyên môn vận dụng vào thực tế dạy học, giáo dục trong nhà trường vùng DTTS,... - Bồi dưỡng năng lực thực hiện các nội dung giáo dục đặc thù ở trường phổ thông vùng DTTS, MN cho đội ngũ GV, trong đó có bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số và những nội dung văn hóa dân tộc, tri thức địa phương nơi GV đang công tác.
  8. Phần 1: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN 103 Hai là, bồi dưỡng năng lực phát triển chương trình môn học theo Thông tư 32/2018/ TT-BGDĐT về “Ban hành Chương trình giáo dục phổ thông”. Với chương trình 27 môn học giáo dục phổ thông mới, đội ngũ giảng viên phải tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ GV phổ thông vùng DTTS, MN những phẩm chất chủ yếu và năng lực chung, năng lực đặc thù với từng môn học/hoạt động giáo dục cụ thể để GV chủ động, sáng tạo trong cách giảng dạy của mình. Thiết kế nội dung bồi dưỡng cho GV thực hiện chương trình môn học cần hướng đến mục tiêu như: - Mức độ phát triển năng lực cho GV (kiến thức, kĩ năng, thái độ, động cơ và xúc cảm). - GV được phát triển năng lực trên cơ sở nhu cầu của nhiệm vụ cụ thể. - Là kì vọng đối với cả người học và người dạy. Nội dung bồi dưỡng cho GV theo đặc thù chương trình từng môn học phải hướng đến hình thành những năng lực cần thiết cho HS trong cuộc sống. Bồi dưỡng GV các năng lực nghề nghiệp: năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hành động; các kĩ năng mềm: kĩ năng hợp tác, kĩ năng giao tiếp (trong đó có kĩ năng giao tiếp bằng ngoại ngữ, tiếng DTTS), kĩ năng sử dụng thành tạo công nghệ thông tin, kĩ năng dạy học trong môi trường đa văn hóa, kĩ năng tư duy phản biện,…). Ba là, đổi mới cách thức tổ chức thực hiện bồi dưỡng của đội ngũ tham gia tập huấn, bồi dưỡng. Với các hình thức trực tiếp, trực tuyến căn cứ vào nhu cầu của giáo viên giúp giáo viên hưởng ứng, tự nguyện tích cực thực hiện hoạt động bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để tích lũy năng lực (kiến thức, kĩ năng) thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục và dạy học trong môi trường dạy học đa văn hóa. Các giảng viên giúp GV biến quá trình được bồi dưỡng thành tự bồi dưỡng, để GV phải chủ động, năng động tìm hiểu, nắm bắt nội dung, yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục phổ thông mới, các chương trình môn học cụ thể. Chẳng hạn: - Bồi dưỡng tập trung, trực tiếp tổ chức tại Sở/ Phòng giáo dục và đào tạo cho GV những nội dung bồi dưỡng cần trao đổi, bàn bạc thống nhất như các vấn đề mới, khó; những kỹ năng thực hành về phương pháp, kỹ thuật dạy học; - Cán bộ quản lí tổ chức bồi dưỡng tại nhà trường thông qua hoạt động thực dạy của GV để các cán bộ, GV cốt cán, đồng nghiệp trong trường chia sẻ những ưu điểm, hạn chế cho bài dạy, giúp GV thấy được những vấn đề cần tập trung sâu vào phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực (HS sẽ làm được gì và làm như thế nào đạt được kết quả cao nhất cho sự phát triển phẩm chất và năng lực theo mục tiêu chương trình mới qui định). - Nhà trường tổ chức bồi dưỡng tại tổ/ khối trong trường thông qua các buổi seminar để trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp về phương pháp, kĩ thuật tổ chức hoạt động dạy học với các nội dung chương trình môn học cụ thể. - Ban giám hiệu yêu cầu GV phải tự bồi dưỡng qua “nghiên cứu bài học” thông qua dự giờ, nghiên cứu các giờ dạy chuyên đề để rút kinh nghiệm những sáng kiến, cách làm hay và phù hợp với mục tiêu đổi mới. Trên cơ sở đó có những kĩ năng và phương pháp sư phạm phù hợp với HS vùng DTTS.
  9. 104 KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ NHẤT VỀ ĐỔI MỚI ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN - Tự bồi dưỡng qua thường xuyên trao đổi, chia sẻ thông tin với đồng nghiệp để từ đó tìm ra phương pháp tối ưu nhất để xây dựng các bài học hay hơn và những cách giảng dạy theo yêu cầu mới. - Yêu cầu GV kết hợp bồi dưỡng tập trung với tự học, tự bồi dưỡng và bồi dưỡng tại trường, thông qua các hội thảo, chuyên đề, thi giáo viên dạy giỏi các cấp nhằm khuyến khích giáo viên phát huy khả năng của mình trong dạy học theo hướng đổi mới. - Sử dụng các phương thức khác nhau để động viên khích lệ việc học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ GV. Quan tâm đến hoàn cảnh, vật chất, tinh thần của mỗi thầy cô giáo công tác trong các trường phổ thông vùng DTTS, MN. Tóm lại, để hoạt động bồi dưỡng đem lại hiệu quả, đội ngũ giảng viên tham gia bồi dưỡng và GV được bồi dưỡng phải linh hoạt trong thực hiện nội dung/cách thức bồi dưỡng, có thể xem quá trình thực hiện nhiệm vụ của GV là một chuỗi các hoạt động tích lũy và phát triển chuyên môn. Sở/Phòng giáo dục và đào tạo; các nhà trường cần tạo môi trường khuyến khích GV tự học, tự bồi dưỡng, tăng cường vai trò tự giác, tích cực, chủ động của GV trong công tác bồi dưỡng để GV luôn xác định quá trình được bồi dưỡng và tự bồi dưỡng phải được thường xuyên thực hiện mang tính chất tự thân. Để hoạt động bồi dưỡng đáp ứng đúng yêu cầu và nhu cầu của người được bồi dưỡng sẽ giúp cho đội ngũ nhà giáo thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy của mình theo đúng mục tiêu đổi mới. 3. Kết luận Có thể nói, đổi mới hoạt động bồi dưỡng cho đội ngũ GV các trường phổ thông vùng DTTS, MN thông qua các nội dung, cách thức tổ chức bồi dưỡng phù hợp cho GV để nâng cao năng lực thực hiện Chương trình mới, đáp ứng mục tiêu dạy học phát triển năng lực học sinh là yếu tố có tính quyết định đến sự thành công của việc đưa chương trình mới tới học sinh các trường phổ thông vùng DTTS, MN. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ban chấp hành Trung ương (2013), Nghịquyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của về Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. 2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), Thông tư 27/2015/TT-BGDĐT Ban hành Chương trình bồi dưỡng thường xuyên cán bộ quản lí trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học. 3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Thông tư 14/2018/TT-BGDĐT ngày 20/7/2018 Ban hành Quy định Chuẩn Hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông. 4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Thông tư 20/2018/TT-BGDĐT ngày 22/8/2018 Ban hành Quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông. 5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Thông tư 32/T-BGDĐT Ban hành Chương trình giáo dục phổ thông.
  10. Phần 1: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN 105 6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017, 2018) Niên giám thống kê GD&ĐT năm học 2016-2017; 2017-2018. 7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019), Công văn số 212/KH-BGDĐT ngày 20/3/2019 về Kế hoạch tổ chức bồi dưỡng triển khai thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2019. 8. Nguyễn Minh Đường (1996), Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới, NXB Hà Nội. 9. Quốc hội (2014), Nghị quyết 88/2014/QH13 về Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông. 10. Thủ tướng chính phủ, (2016), Quyết định số 732/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 29/4/2016 Phê duyệt đề án “Đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lí cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025”.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2