intTypePromotion=1
ADSENSE

Đổi mới hoạt động đào tạo ngành quản trị du lịch và khách sạn trong bối cảnh hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN và MRA-TP

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

11
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết này đề cập đến những thách thức đối với các cơ sở đào tạo về quản trị du lịch và quản trị khách sạn trong bối cảnh mới đồng thời đưa ra giải pháp đẩy mạnh sự hợp tác giữa doanh nghiệp và trường học trong quá trình đào tạo nhằm phát triển những năng lực nghề nghiệp cần thiết để cạnh tranh với nguồn nhân lực du lịch đến từ các quốc gia ASEAN.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đổi mới hoạt động đào tạo ngành quản trị du lịch và khách sạn trong bối cảnh hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN và MRA-TP

  1. ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGÀNH QUẢN TRỊ DU LỊCH VÀ KHÁCH SẠN TRONG BỐI CẢNH HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN VÀ MRA-TP PGS.TS. Phạm Hồng Chương TS. Đồng Xuân Đảm Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Tóm tắt Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vừa mới hình thành thúc đẩy hơn nữa quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của các quốc gia thành viên. Đi cùng với sự xóa bỏ các rào cản thuế quan, là sự tự do dịch chuyển lao động trong nội khối ASEAN đối với 8 ngành nghề trong đó có ngành du lịch. Sự kiện này đặt các cơ sở đào tạo trước những thách thức về đổi mới nội dung, phương pháp và phương thức đào tạo nhằm phát triển những năng lực nghề nghiệp hữu ích và được thừa nhận trong khu vực cho người học giúp họ không những đáp ứng tốt nhất yêu cầu của các nhà tuyển dụng. Bài viết này đề cập đến những thách thức đối với các cơ sở đào tạo về quản trị du lịch và quản trị khách sạn trong bối cảnh mới đồng thời đưa ra giải pháp đẩy mạnh sự hợp tác giữa doanh nghiệp và trường học trong quá trình đào tạo nhằm phát triển những năng lực nghề nghiệp cần thiết để cạnh tranh với nguồn nhân lực du lịch đến từ các quốc gia ASEAN. Từ khóa: AEC, hội nhập, hợp tác, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, du lịch 1. Cộng đồng kinh tế ASEAN: Cơ hội và thách thức đối với các cơ sở đào tạo quản trị du lịch Việt Nam Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) chính thức được hình thành vào ngày 31/12/2015 thể hiện thêm một bước hội nhập kinh tế, xã hội sâu hơn của 10 quốc gia thành viên và kỳ vọng mang lại nhiều cơ hội phát triển kinh tế trên cơ sở xóa bỏ những rào cản thương mại trong nội khối. Bên cạnh tự do hóa thương mại, sự hình thành AEC cũng dẫn tới sự tự do di chuyển lao động của 8 ngành nghề trong đó có ngành du lịch giữa các quốc gia ASEAN trên cơ sở thỏa thuận thừa nhận 739
  2. văn bằng, chứng chỉ lẫn nhau (MRA-TP: Mutual Recognition Agreement on Tourism Professionals). Xét trên nhiều khía cạnh, sự kiện này mang lại rất nhiều cơ hội như người Việt Nam có thể làm việc cho các doanh nghiệp du lịch, khách sạn, nhà hàng...tại tất cả các quốc gia thành viên. Hơn nữa, các doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể tuyển dụng nguồn nhân lực chất lượng cao là những nhân viên nước ngoài từ đó nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình. Tuy nhiên, đứng trên góc độ của các cơ sở đào tạo du lịch tại Việt Nam, dường như chúng ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức hơn là cơ hội. Thứ nhất, bản thân những chương trình đào tạo của Việt Nam hiện nay chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp trong nước (Vallely, 2008) bởi hầu hết các doanh nghiệp đều phải đào tạo thêm, thậm chí đào tạo lại một thời gian do trong quá trình học sinh viên bị tách rời khỏi bối cảnh thực của thế giới việc làm (Paulina Ngo, 2015; Đồng Xuân Đảm và Trần Thành Đạt, 2015). Như vậy, sinh viên du lịch của Việt Nam chắc chắn gặp nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh với nguồn nhân lực tại các nước trong khu vực. Thứ hai, ngôn ngữ chính được ASEAN sử dụng trong các giao dịch là tiếng Anh, trong khi đó năng lực ngoại ngữ của lao động Việt Nam luôn là một điểm yếu cần cải thiện so với nhiều quốc gia khác trong khu vực như Singapore, Philippines, Thailand, Malaysia...Rõ ràng đây là một trong những thách thức vô cùng lớn cho các cơ sở đào tạo Việt Nam trong việc đảm bảo chất lượng và khả năng cạnh tranh của “sản phẩm đào tạo” khi tiếng Anh trở thành một rào cản xuyên suốt quá trình phát triển năng lực (kiến thức, kỹ năng và thái độ) nghề nghiệp trong môi trường làm việc quốc tế. Thứ ba, theo báo cáo “Năng lực cạnh tranh du lịch năm 2015”, Việt Nam có chỉ số về nguồn nhân lực và lao động du lịch rất thấp chỉ đứng thứ 55/141 và có khoảng cách rất xa so với 3 quốc gia du lịch trong khu vực như Thái Lan, Malaysia và Singapore (VCCI, 2015). Trong khi chất lượng đào tạo nhân lực du lịch trong nước còn nhiều hạn chế và chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, các doanh nghiệp du lịch và khách sạn sẽ có xu hướng sử dụng nhân lực đến từ các quốc gia trong khu vực đặc biệt là nhân lực quản lý cấp trung, thậm chí những vị trí quản lý cấp cao để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Như vậy, các cơ sở đào tạo du lịch Việt Nam sẽ đối mặt với thách thức về sản phẩm của mình thiếu khả năng cạnh tranh ngay trong thị trường nội địa. 740
  3. Từ những phân tích nêu trên, các cơ sở đào tạo Việt Nam nói chung và các trường đào tạo về quản trị du lịch, quản trị khách sạn nói riêng cần phải có những giải pháp chiến lược cũng như những hành động, điều chỉnh khẩn cấp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo để nguồn nhân lực du lịch Việt Nam có thể cạnh tranh được với nguồn nhân lực của các nước ASEAN từ đó góp phần cải thiện năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Việt Nam so với các quốc gia khác trong AEC. 2. Thực trạng các chương trình đào tạo du lịch và khoảng cách “năng lực” cần phải thu hẹp giữa các doanh nghiệp du lịch và cơ sở đào tạo tại Việt Nam Mặc dù là một ngành kinh tế quan trọng với những đóng góp đáng kể vào GDP cũng như số lượng việc làm của Việt Nam, hoạt động đào tạo về du lịch nói chung và quản trị du lịch nói riêng vẫn là một lĩnh vực rất non trẻ, (Paulina Ngo, 2015). Ngoài các trường trung cấp, cao đẳng chuyên đào tạo kỹ năng nghề cung cấp nguồn nhân lực tác nghiệp phục vụ trực tiếp du khách, các chương trình đào tạo quản trị du lịch lần đầu tiên được đào tạo tại Việt Nam vào năm 1989 bởi Đại học Kinh tế Quốc dân. Nhiều năm sau đó, nhiều chương trình đào tạo ở bậc cử nhân du lịch đã lần lượt ra đời tại các trường đại học khác như: Đại học Thương Mại, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Viện Đại học Mở Hà Nội, Đại học Văn hóa, Đại học Huế, Đại học Kinh tế (Đại Học Đà Nẵng)...với nhiều đặc thù khác nhau như Quản trị Du lịch, Du lịch học, Hướng dẫn Du lịch... Tuy nhiên, các chương trình đào tạo của các trường nêu trên đều được phát triển dựa trên chương trình đào tạo khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, dẫn tới có rất nhiều điểm giống nhau và không phát huy được thế mạnh riêng có của từng cơ sở đào tạo. Mặt khác, những chương trình này đều thiết kế dựa trên triết lý giáo dục: “chuyển giao kiến thức” (Knowledge Transfert) thay vì “phát triển năng lực” (Competences development) do hầu hết các cơ sở đào tạo đại học về du lịch đều thiếu cơ sở cũng như giảng viên dạy thực hành. Thiên hướng về lý thuyết của các chương trình này càng nhiều hơn khi sự tương tác giữa cộng đồng doanh nghiệp du lịch và các trường trong quá trình đào tạo rất hạn chế thậm chí tách biệt. Trong báo cáo khảo sát thị trường lao động du lịch được thực hiện bởi Khoa Du lịch và Khách sạn (Đại học Kinh tế Quốc dân, 2015), hầu hết các chương trình đào tạo đại học du lịch hiện nay chỉ bao gồm một kỳ thực tập cuối khóa (4 tháng trước khi tốt nghiệp) qua đó sinh viên được gửi xuống các doanh nghiệp du lịch và khách sạn và kết thúc bằng một báo cáo chuyên đề tốt nghiệp. Nói một cách khác, 741
  4. các chương trình đào tạo này đều thiếu vắng sự hợp tác hiệu quả và chặt chẽ giữa 3 đối tác liên quan chính: (i) Sinh viên; (ii) Nhà trường [thông qua giảng viên hướng dẫn] và (iii) Cộng đồng doanh nghiệp [Cán bộ hướng dẫn, chuyên gia chuyên ngành...] (Bilsland và Nagy, 2015), điều này hạn chế khả năng phát triển năng lực nghề nghiệp cũng như hiểu biết thực tiễn của sinh viên (xem hình 1). Hơn nữa, do không có sự tham gia, phối hợp cụ thể và hiệu quả giữa nhà trường và doanh nghiệp, hầu hết sinh viên được gửi đi thực tập tại doanh nghiệp đều không thực sự được hướng dẫn, làm việc và làm đúng nghiệp vụ được đào tạo. Hình 1. Thiếu sự tương tác hiệu quả giữa nhà trường, sinh viên và doanh nghiệp Sinh viên Nhà Doanh trường nghiệp Cũng theo báo cáo này, tư duy và quan điểm về năng lực nghề sinh viên cần được phát triển trong quá trình xây dựng giữa các nhà trường và doanh nghiệp cũng có nhiều điểm khác biệt. Trong khi các cơ sở đào tạo nhấn mạnh tầm quan trọng của khối kiến thức chuyên ngành thì các doanh nghiệp chú trọng và yêu cầu những năng lực làm việc chung và kỹ năng mềm và đặc biệt là thái độ và phong cách làm việc chuyên nghiệp của sinh viên (Xem hình 2). Chính sự khác biệt về quan điểm và cách tiếp cận này lý giải và chia sẻ nhận định “hơn 50% sinh viên sau khi tốt nghiệp không tìm được việc làm” của Vallely (2008). Bên cạnh khoảng cách, sự khác biệt giữa năng lực được phát triển bởi các cơ sở đào tạo và yêu cầu của doanh nghiệp, thì nội dung các chương trình đào tạo đại học về du lịch chưa hướng tới phát triển năng lực làm việc trong các nền văn hóa khác nhau cũng như năng lực sử dụng tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai thay vì ngoại ngữ như hiện nay. Hơn nữa,sự tương thích với các tiêu chuẩn của các trường đào tạo du lịch và khách sạn uy tín trên thế giới vẫn còn rất hạn chế. 742
  5. Đây cũng là một khó khăn lớn cho các cơ sở đào tạo du lịch Việt Nam do năng lực này không thể trang bị cho sinh viên trong thời gian ngắn được. Hình 2. Sự khác biệt giữa yêu cầu của nhà trường và doanh nghiệp du lịch 3. Yêu cầu đặc thù của đào tạo quản trị du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước So với các ngành kinh tế khác, nhân lực trong ngành du lịch ngoài kiến thức hàn lâm thường được yêu cầu phải được trang bị một số kỹ năng nghề nhất định để có thể tham gia ngay vào quá trình cung ứng dịch vụ phục vụ khách du lịch (Dredge và cộng sự, 2014; Ritchie và cộng sự, 2003). Sự yếu kém về năng lực và kỹ năng nghề sẽ tạo ra những khó khăn, rào cản cho cả người học cũng như các doanh nghiệp. Ngay tại những quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, một nghiên cứu được thực hiện vào năm 2007 cho thấy các doanh nghiệp du lịch đã không thể tuyển đủ nguồn nhân lực phù hợp vì: (i) Các ứng viên không được trang bị những kỹ năng nghề nghiệp phù hợp với công việc; (ii) Các ứng viên không có kinh nghiệm làm việc phù hợp với vị trí tuyển dụng (Weiss, 2007). Để khắc phục những khiếm khuyết trên, các cơ sở đào tạo về quản trị du lịch và khách sạn cần phải nỗ lực đổi mới chương trình đào tạo và đặc biệt là triết lý giáo dục cũng như phương pháp giảng dạy nhằm trang bị cho sinh viên đồng thời 3 khía cạnh chính 743
  6. sau: thái độ; kiến thức và kỹ năng nghề (Đồng Xuân Đảm, 2013). Ngoại trừ cấu phần “kiến thức” có thể được cung cấp thuần túy tại cơ sở đào tạo thông qua các hoạt động giảng dạy của giảng viên, hai cấu phần còn lại đòi hỏi một sự thay đổi căn bản về “triết lý giáo dục” cũng như phương pháp giảng dạy trong đó sinh viên phải thực sự là trung tâm và có sự tham gia tích cực của cộng đồng doanh nghiệp trong suốt quá trình đào tạo (UQTR, 2007; Ritchie và cộng sự, 2003). Trong nghiên cứu của mình, Đồng Xuân Đảm và Nguyễn Quốc Hưng (2014) đã đưa ra một số yêu cầu đặc thù cũng như cách tiếp cận trong quá trình quản lý và thực hiện chương trình đào tạo quản trị du lịch và được trình bày tại bảng 1 dưới đây cần phải được chia sẻ, phổ biến và nhấn mạnh cho tất cả những bên liên quan (stakeholders) của chương trình đào tạo. Bảng 1. Một số yêu cầu về phương pháp giảng dạy và cách tiếp cận đối với chương trình đào tạo du lịch nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập Trong mục tiêu phát triển năng lực và kỹ năng nghề nghiệp, giảng viên cần phải thiết kế nội dung và phương pháp giảng dạy, các hoạt động sư phạm nhằm cung cấp Tính tổng thể cho người học một nhiệm vụ tổng thể và cho phép họ có một cái nhìn bao quát, tổng hợp về tình huống học tập, các hoạt động sư phạm của môn học; Để chương trình quản trị du lịch và quản trị khách sạn hướng tới chuẩn quốc tế, trong quá trình đào tạo, giảng Khả năng viên cần phải khuyến khích người học sử dụng những kiến phát triển thức đã học trước đó vào việc hình thành và xây dựng những kiến thức mới. Đặc thù nhân lực ngành quản trị du lịch là phát triển năng lực hành động và giải quyết vấn đề. Do vậy, giảng viên phải thiết kế các hoạt động sư phạm nhằm "kích hoạt" những kiến thức đã học trước đó và tạo cho họ cơ hội áp Tính ứng dụng dụng nhiều nhất có thể được những điều đã được học để giải quyết những vấn đề cụ thể của thực tiễn hoặc vào những tình huống thực tiễn mới một cách chủ động, tích cực. 744
  7. Khi thiết kế và đưa ra những hoạt động sư phạm trên lớp, giảng viên cần phải đảm bảo rằng người học bắt buộc phải Tính liên hệ, ảnh có những liên hệ thường xuyên và sâu sắc với nhiều tình hưởng huống khác nhau trong thực tiễn; cần phải có sự tiếp xúc và tham gia tích cực của công giới (WoW). Trong quá trình giảng dạy, giảng viên phải đảm bảo rằng sinh viên có thể ứng dụng các kỹ năng, năng lực (đã được phát triển thông qua các hoạt động sư phạm) vào nhiều tình huống, bối cảnh khác nhau trong thực tiễn; Để thực Tính chuyển giao hiện được điều này, bản thân giảng viên cũng phải được tiếp xúc sâu rộng vào các hoạt động thực tế tại cộng đồng doanh nghiệp và ngược lại trong quá trình giảng dạy tại trường cũng phải có sự tham gia mạnh mẽ của công giới. Là lĩnh vực đặc thù nên nhân lực ngành du lịch cần phải được rèn luyện khả năng hiểu và làm việc hiệu quả trong môi trường đa văn hóa. Do vậy, trong quá trình giảng dạy, Tính đã văn hóa giảng viên cần phải tạo cơ hội và rèn luyện cho người học thái độ tôn trọng và trân trọng sự khác biệt về văn hóa thông qua các nghiên cứu tình huống cụ thể của nhiều quốc gia khác nhau. Nguồn: Đồng Xuân Đảm (2013) và Đồng Xuân Đảm và Nguyễn Quốc Hưng (2014) 4. Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sinh viên sau khi tốt nghiệp trên thị trường lao động ASEAN Qua những yêu cầu đặc thù nêu trên (xem bảng 1), để xây dựng và phát triển những năng lực nghề nghiệp cần thiết đáp ứng nhu cầu cũng như thách thức dịch chuyển lao động tự do trong khối ASEAN, các cơ sở đào tạo đại học về du lịch cần cân nhắc một số khía cạnh sau: Thứ nhất, cần phải thay đổi một cách căn bản triết lý đào tạo theo hướng dựa trên sự gắn kết và hợp tác chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo và cộng đồng doanh nghiệp du lịch và khách sạn trong suốt quá trình đào tạo: từ khâu thiết kế nội dung chương trình đào tạo, tham gia cùng đào tạo, kiến tập và thực tập, cập nhật kiến thức thực tế của giảng viên, tạo cơ hội để giảng viên và sinh viên tiếp cận 745
  8. vào các tình huống thực tiễn nhằm xây dựng các nghiên cứu tình huống điển hình (case study), tuyển dụng… Thứ hai, hoạt động kiến tập và thực tập cần được tổ chức một cách khoa học hơn sao cho luôn có sự tương tác, phối hợp chặt chẽ giữa 3 bên liên quan: (i) Sinh viên; (ii) Nhà trường (thường thông qua người hướng dẫn) và (iii) Doanh nghiệp du lịch (thông qua người hướng dẫn tại cơ sở thực tập). Sự tương tác này cần phải đổi mới nhằm tránh để sinh viên làm việc riêng rẽ và độc lập với giảng viên hướng dẫn và cán bộ của doanh nghiệp. Nói cách khác, cần phải chuyển từ trạng thái 1 sang trạng thái 2 nhằm tối đa hóa sự tương tác giữa 3 bên liên quan (thể hiện qua diện tích A hình 3). Nhờ vào sự tương tác này, sinh viên sẽ luôn cập nhật được yêu cầu của thực tiễn cũng như chuẩn bị thái độ và những kỹ năng mà cộng đồng doanh nghiệp đang yêu cầu. Hình 3: Tăng cường sự tương tác giữa 3 đối tác liên quan trong quá trình đào tạo Trạng thái Trạng thái Sinh Sinh viên viên Nhà Doanh Doanh Nhà A trường nghiệp nghiệp trường Thứ ba, để tăng khả năng tìm kiếm việc làm và thuận lợi cho việc dịch chuyển tự do lao động du lịch sang các nước thành viên của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), yêu cầu về khả năng sử dụng tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai là rất cần thiết thậm chí đóng vai trò quyết định. Do vậy, các cơ sở đào tạo bậc đại học về quản trị du lịch cần áp dụng nhiều phương thức và hình thành môi trường sử dụng tiếng Anh trong thời gian học tập tại trường như áp dụng phương pháp giảng dạy tích hợp (CLIL: Content and Language Integrated Learning) khi giảng dạy những môn chuyên ngành bằng tiếng Anh, tăng cường những hoạt động thực tế cũng như khuyến khích sự trao đổi sinh viên giữa các trường đại học 746
  9. trong khu vực ASEAN có đào tạo về du lịch. Trên cơ sở những hoạt động này, sinh viên không những nâng cao năng lực sử dụng ngoại ngữ chuyên ngành cũng như phát triển năng lực làm việc trong những môi trường văn hóa khác nhau. Thứ tư, phương pháp giảng dạy cần phải được thay đổi theo hướng phát triển những kỹ năng và năng lực giải quyết vấn đề xuất phát từ thực tiễn như PBL (Problems Based Learning) và Real Case studies. Để thực hiện tốt hai phương pháp này đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng và chặt chẽ giữa giảng viên của các cơ sở đào tạo và chuyên gia, cán bộ quản lý tại các doanh nghiệp du lịch và khách sạn trong suốt quá trình đào tạo: (i) thiết kế các tình huống thực tiễn (real cases); (ii) Báo cáo chuyên đề nhằm cập nhật kiến thức cho giảng viên và sinh viên; (iii) Đón tiếp và đồng hướng dẫn sinh viên trong các hoạt động thực tế, kiến tập và thực tập (Coaching và Co-teaching)(Bilsland và Nagy, 2015); 5. Kết luận Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới thông qua hàng loạt những thỏa thuận tự do hóa thương mại song phương và đa phương. Việc hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vừa qua với sự tự do dịch chuyển lao động của 8 ngành nghề giữa các quốc gia thành viên trong đó có lao động của ngành du lịch sẽ là một dấu mốc quan trọng đối với cách doanh nghiệp du lịch cũng như các cơ sở đào tạo bậc đại học về quản trị du lịch và khách sạn tại Việt Nam. Bên cạnh những cơ hội làm việc ở các quốc gia trong khu vực, nhân lực du lịch Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức vô cùng lớn trước sự cạnh tranh khốc liệt bởi nguồn nhân lực chất lượng cao hơn đến từ các nước có ngành du lịch phát triển như Singapore, Thái Lan, Malaysia, Phillipines... Do vậy, đổi mới chương trình, phương pháp, hình thức cũng như cách tiếp cận về đào tạo du lịch là một yêu cầu cấp thiết đối với các cơ sở đào tạo du lịch Việt Nam, đặc biệt là hệ đào tạo bậc đại học nhằm cung cấp một nguồn nhân lực quản lý chất lượng cao và có khả năng cạnh tranh trong môi trường làm việc đa văn hóa và mang tính quốc tế. Hợp tác và gắn kết với các doanh nghiệp du lịch và phát triển năng lực sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai dường như là hai giải pháp chiến lược để các trường đào tạo quản trị du lịch và khách sạn ở bậc đại học vượt qua những thách thức trước sự hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và MRA-TP. 747
  10. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bilsland Chistine và Helga Nagy (2015), Work-integrated Learning in Vietnam: Perspectives of Intern Work Supervisors, Tạp chí Asia-Pacific Journal of Cooperative Education, Số 16 (3),Trang: 185-198. 2. Đồng Xuân Đảm (2013), 'Vai trò của Bộ môn đối với sự phát triển và đổi mới phương pháp giảng dạy chương trình POHE tại Khoa Du lịch và Khách sạn, Đại học Kinh tế Quốc dân', Kỷ yếu hội thảo: Tăng cường năng lực và vai trò của Bộ môn, đáp ứng yêu cầu phát triển Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thành đại học định hướng nghiên cứu, Nghệ An. 3. Đồng Xuân Đảm và Nguyễn Quốc Hưng (2014), POHE: Xu hướng đào tạo mới trong ngành Quản trị Du lịch và Khách sạn, Tạp chí Du lịch, Số 4/2014. 4. Đồng Xuân Đảm và Trần Thành Đạt (2015), 'Mô hình hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp: Nghiên cứu trường hợp chương trình đào tạo định hướng ứng dụng (POHE) du lịch - khách sạn tại Đại học Kinh tế Quốc dân', Kỷ yếu hội thảo: Hội thảo Quốc gia "Phát triển đào tạo đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đại học ở Việt Nam, Hà Nội, Trang 532. 5. Dredge Dianne, Pierre Benckendorff, Michele Day, Micheal J. Gross, Maree Walo, Paul Weeks và Paul A. Whitelaw (2014), 'The Philosophical practitioner and the curriculum space', Trong The Routledge Handbook of Tourism and Hospitality Education, Dianne Dredge, David Airey và Michael J. Gross(Biên soạn), Nhà xuất bản Routledge, London. 6. Paulina Ngo (2015), 'Con người - Tài sản lớn nhất của ngành du lịch', The Saigon Times, Từ liên kết sau: http://www.thesaigontimes.vn/ 140203/Con-nguoi---tai-san-lon-nhat-cua-nganh-du-lich.html 7. Ritchie Brent W., Neil Carr và Chris Cooper (2003), Managing Educational Tourism, Nhà xuất bản Channel View Publications, Toronto. 748
  11. 8. UQTR (2007), Guide Pédagogique visant à favoriser le développement des compétences informationnelles des étudiants, Nhà xuất bản Presse de l'Université du Québec, Québec, Canada. 9. Vallely Thomas J. (2008), Vietnamese Higher Education: Crisis and Response, ASH Institute - Harvard Kennedy School, USA. 10. VCCI (2015), Khi lao động du lịch hội nhập thị trường ASEAN, Truy cập ngày 8.1.2016 2016], từ liên kết: http://www.trungtamwto.vn/aec/khi-lao-dong-du-lich-hoi-nhap-thi-truong-asean 11. Weiss Bradley (2007), Tourism Skills and Knowledge Needs Assessment, United States Agency of International Development, USA. 749
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2