BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ----------------
TRẦN QUANG BÁCH
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA LAO ĐỘNG QUẢN LÝ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở KHU VỰC BẮC TRUNG BỘ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH Hà Nội - 2022
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ----------------
TRẦN QUANG BÁCH
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA LAO ĐỘNG QUẢN LÝ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở KHU VỰC BẮC TRUNG BỘ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH (KHOA QTKD) MÃ SỐ: 9340101_QTK
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGÔ KIM THANH
Hà Nội - 2022
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng
tôi. Các thông tin và số liệu được phân tích và sử dụng trong luận án là trung thực,
có nguồn gốc rõ ràng và được công bố theo đúng quy định.
Một số kết luận trong luận án được kế thừa từ các nghiên cứu trước đó, một số là phát hiện mới của riêng tác giả trên cơ sở nghiên cứu, phân tích một cách
trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình.
Tác giả luận án
Trần Quang Bách
ii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... i
MỤC LỤC ................................................................................................................. ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT....................................................................... v
DANH MỤC CÁC BẢNG ...................................................................................... vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ..................................................................................... viii
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ...................... 9
CÓ LIÊN QUAN VÀ KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU .................................. 9
1.1. Tổng quan các nghiên cứu về tạo động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung... 9
1.1.1. Các nhân tố tác động đến tạo động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung ..... 9
1.1.2. Mối quan hệ giữa đặc điểm công việc và động lực làm việc của nhà
quản lý cấp trung .............................................................................................. 13
1.1.3. Mối quan hệ giữa năng lực cảm xúc và động lực làm việc của nhà quản
lý cấp trung ....................................................................................................... 15
1.2. Khoảng trống và đề xuất nghiên cứu ............................................................. 20
1.2.1. Khoảng trống nghiên cứu ....................................................................... 20
1.2.2. Đề xuất nghiên cứu ................................................................................. 21
TÓM TẮT CHƢƠNG 1 .......................................................................................... 23
CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU .................. 24
2.1. Nhà quản lý cấp trung và tạo động lực cho nhà quản lý cấp trung ............ 24
2.1.1. Nhà quản lý cấp trung và vai trò của nhà quản lý cấp trung .................. 24
2.1.2. Động lực và tạo động lực cho nhà quản lý cấp trung ............................. 26
2.1.3. Các nhân tố tác động đến động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung30
2.2. Một số lý thuyết cơ bản đƣợc áp dụng trong việc xây dựng mô hình ........ 35
2.2.1. Lý thuyết đặc điểm công việc của Hackman và Oldham (1980) ........... 35
2.2.2. Lý thuyết về thang đo EI của Mayer và Salovey (1997) ........................ 36
2.3. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu .................................................................. 37
2.3.1. Giả thuyết nghiên cứu ............................................................................ 37
iii
2.3.2. Mô hình nghiên cứu................................................................................ 43
TÓM TẮT CHƢƠNG 2 .......................................................................................... 45
CHƢƠNG 3 BỐI CẢNH VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................... 46
3.1. Nhà quản lý cấp trung tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc
Trung Bộ .................................................................................................................. 46
3.1.1. Khái quát chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ ..... 46
3.1.2. Đặc điểm nhà quản lý cấp trung tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu
vực Bắc Trung Bộ ............................................................................................ 52
3.2. Thiết kế nghiên cứu .......................................................................................... 56
3.3. Các biến và thang đo ........................................................................................ 58
3.3.1. Biến phụ thuộc ........................................................................................ 58
3.3.2. Biến độc lập ............................................................................................ 60
3.4. Nghiên cứu định tính ....................................................................................... 67
3.4.1. Mục tiêu .................................................................................................. 67
3.4.2. Đối tượng phỏng vấn .............................................................................. 67
3.4.3. Quá trình phỏng vấn ............................................................................... 69
3.4.4. Kết quả phỏng vấn .................................................................................. 69
3.5. Thiết kế bảng hỏi .............................................................................................. 71
3.6. Nghiên cứu định lƣợng .................................................................................... 71
3.6.1. Mục tiêu .................................................................................................. 71
3.6.2. Đặc điểm mẫu nghiên cứu ...................................................................... 72
3.6.3. Phương pháp xử lý dữ liệu ..................................................................... 73
TÓM TẮT CHƢƠNG 3 .......................................................................................... 76
CHƢƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................... 77
4.1. Đánh giá độ tin cậy của thang đo .................................................................... 77
4.1.1. Đánh giá độ tin cậy của thang đo đối với biến đặc điểm công việc ....... 77
4.1.2. Đánh giá độ tin cậy của thang đo đối với nhóm biến năng lực lực cảm xúc ... 78
4.1.3. Đánh giá độ tin cậy của thang đo đối với biến động lực làm việc của nhà
quản lý cấp trung .............................................................................................. 82
iv
4.2. Kiểm định giá trị của thang đo bằng EFA ..................................................... 83
4.2.1. Kiểm định EFA đối với các biến độc lập ............................................... 83
4.2.2. Kiểm định EFA đối với biến phụ thuộc (Động lực làm việc của nhà
quản lý cấp trung) ............................................................................................. 85
4.3. Kiểm định hệ số tƣơng quan Pearson ............................................................ 85
4.4. Phân tích mô hình hồi quy .............................................................................. 86
4.5. Kiểm định sự khác biệt .................................................................................... 87
4.5.1. Kiểm định sự khác biệt về năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung
theo giới tính ..................................................................................................... 87
4.5.2. Kiểm định sự khác biệt về năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung
theo nhóm tuổi .................................................................................................. 88
4.5.3. Kiểm định sự khác biệt về năng lực làm xúc của nhà quản lý cấp trung
theo thâm niên công tác .................................................................................... 89
4.6. Phân tích thống kê mô tả ................................................................................. 90
TÓM TẮT CHƢƠNG 4 .......................................................................................... 92
CHƢƠNG 5 THẢO LUẬN VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT .......................................... 93
5.1. Tóm lƣợc kết quả nghiên cứu ......................................................................... 93
5.2. Thảo luận về các kết quả nghiên cứu ............................................................. 93
5.3. Một số đề xuất ................................................................................................... 96
5.3.1. Với đặc điểm công việc của nhà quản lý cấp trung ................................ 96
5.3.2. Với năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung ................................ 108
5.4. Hạn chế của nghiên cứu ................................................................................. 114
5.5. Hƣớng nghiên cứu tiếp theo .......................................................................... 114
TÓM TẮT CHƢƠNG 5 ........................................................................................ 115
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 116
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Doanh nghiệp DN
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Năng lực cảm xúc EI
Nghị định NĐ
Chính phủ CP
Bắc Trung Bộ BTB
Công nghiệp hoá CNH
Hiện đại hoá HĐH
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Tổng hợp các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến động lực của nhà
quản lý cấp trung ..................................................................................... 18
Bảng 3.1. Số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa phân theo quy mô lao động ở khu vực
Bắc Trung Bộ ........................................................................................... 47
Bảng 3.2. Một số chỉ tiêu cơ bản của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc
Trung Bộ .................................................................................................. 48
Bảng 3.3. Cơ cấu theo trình độ chuyên môn của nhà quản lý cấp trung tại các
DNNVV ở khu vực Bắc miền Trung ....................................................... 53
Bảng 3.4. Thang đo biến Động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung .................. 60
Bảng 3.5. Thang đo các biến độc lập sử dụng trong mô hình ................................... 63
Bảng 3.6. Đặc điểm mẫu trong nghiên cứu định tính ............................................... 68
Bảng 3.7. Tổng hợp kết quả điều chỉnh số quan sát trong thang đo ......................... 70
Bảng 3.8. Thống kê số lượng mẫu nghiên cứu ......................................................... 72
Bảng 3.9. Phân bố của mẫu điều tra nghiên cứu ....................................................... 73
Bảng 4.1. Đánh giá độ tin cậy của của thang đo đối với biến đặc điểm công việc... 78
Bảng 4.2. Đánh giá độ tin cậy của của thang đo đối với biến nhận biết cảm xúc .... 79
Bảng 4.3. Đánh giá độ tin cậy của của thang đo đối với biến sử dụng cảm xúc ...... 80
Bảng 4.4. Đánh giá độ tin cậy của của thang đo đối với biến sử dụng cảm xúc ...... 80
Bảng 4.5. Đánh giá độ tin cậy của của thang đo đối với biến kiểm soát cảm xúc .... 81
Bảng 4.6. Đánh giá độ tin cậy của của thang đo đối với biến động lực làm việc của
nhà quản lý cấp trung ............................................................................... 82
Bảng 4.7. Tổng hợp giá trị Cronbach‘s Alpha của các biến ..................................... 83
Bảng 4.8. Kết quả phân tích nhân tố EFA đối với các biến độc lập ......................... 83
Bảng 4.9. Ma trận các nhân tố xoay .......................................................................... 84
Bảng 4.10. Kết quả phân tích nhân tố EFA đối với biến phụ thuộc ......................... 85
Bảng 4.11. Hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình ...................................... 85
vii
Bảng 4.12. Kết quả phân tích hồi quy các nhân tố tác động đến động lực làm việc
của nhà quản lý cấp trung tại các DNNVV ở khu vực Bắc Trung Bộ .... 86
Bảng 4.13. Kết quả kiểm định T - Test về sự khác biệt của năng lực cảm xúc nhà
quản lý cấp trung theo giới tính ............................................................... 88
Bảng 4.14. Kết quả kiểm định ANOVA về sự khác biệt của năng lực cảm xúc nhà
quản lý cấp trung theo nhóm tuổi ............................................................ 88
Bảng 4.15. Giá trị bình quân về năng lực lực cảm xúc của các nhà quản lý cấp trung
tại các DNNVV ở khu vực Bắc Trung Bộ theo nhóm tuổi ..................... 89
Bảng 4.16. Kết quả kiểm định ANOVA về sự khác biệt của năng lực cảm xúc nhà
quản lý cấp trung theo thâm niên công tác .............................................. 89
Bảng 4.17. Giá trị bình quân về năng lực lực cảm xúc của các nhà quản lý cấp trung tại
các DNNVV ở khu vực Bắc Trung Bộ theo nhóm thâm niên công tác ...... 90
Bảng 4.18. Kết quả phân tích thống kê mô tả giá trị của các biến ............................ 91
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu .................................................................................. 44
Hình 3.1. Tỷ trọng về giới tính của nhà quản lý cấp trung tại các DNNVV ở khu
vực Bắc Trung Bộ .................................................................................... 55
Hình 3.2. Quy trình nghiên cứu ................................................................................ 58
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn lựa đề tài
Là một nội dung cơ bản của hoạt động quản trị nhân sự, tạo động lực đóng
vai trò quan trọng trong việc nâng cao kết quả, hiệu suất làm việc của tổ chức. Động
lực vừa là mục tiêu vừa là phương tiện giúp nhà quản lý và nhân viên hoàn thành
các công việc một cách hiệu quả nhất.
Lao động quản lý là những người đứng đầu tổ chức, họ có trách nhiệm đưa
ra các quyết định và dẫn dắt tổ chức. Hiệu quả hoạt động của họ chi phối tới hiệu
quả chung của toàn doanh nghiệp. Động lực của nhà quản lý cùng với công việc và
môi trường hoạt động của tổ chức nơi họ làm việc. Do vậy, tạo động lực cho lao
động quản lý cũng chính là quá trình xây dựng nền tảng vững chắc cho công tác tạo
động lực nói chung trong toàn bộ doanh nghiệp.
Luận án nghiên cứu tác động của các nhân tố tới động lực làm việc của các
nhà quản lý cấp trung. Đây là cấp quản lý trung gian giữa quản trị cấp cao (Chủ tịch
hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc…) và nhà quản trị cấp cơ sở, nhân
viên trong doanh nghiệp. Hiệu suất của họ tác động sâu sắc đến hoạt động và phát
triển doanh nghiệp.
Nhà quản lý cấp trung chịu trách nhiệm lên kế hoạch, triển khai công việc
của từng bộ phận mình phụ trách, quản lý nhân viên dưới quyền của mình dựa trên
những định hướng, quan điểm của nhà quản lý cấp trên và tiêu chuẩn đã xây dựng.
Họ đóng vai trò trung gian, truyền đạt thông tin về mục tiêu, sứ mệnh, chiến lược,
kế hoạch trong kinh doanh và các chủ trương của quản lý cấp cao đến các cán bộ
trong đơn vị; Tổ chức thực hiện các công việc thích hợp với chính sách của công ty
và mục tiêu của ban lãnh đạo; Mô tả và thảo luận các thông tin và chính sách từ ban
lãnh đạo tới các quản lý cấp thấp; Quan trọng nhất, truyền cảm hứng và hướng dẫn
cho các nhà quản trị cấp thấp để giúp họ nâng cao hiệu suất và hoàn thành các mục
tiêu kinh doanh; Quản lý cấp trung cũng có thể giao tiếp với cấp trên bằng cách đưa
ra những ý kiến và đề xuất với ban lãnh đạo. Vì các nhà quản lý cấp trung tham gia
nhiều hơn vào những công việc hằng ngày của công ty, họ có thể cung cấp những
thông tin giá trị cho các quản lý cấp cao, giúp họ nâng cao khả năng làm việc, quản
lý nhân viên và tổ chức.
2
Nhà quản lý cấp trung là quan trọng. Nếu quan hệ giữa họ với các nhà lãnh
đạo trực tiếp bị đổ vỡ thì khó có ưu đãi gì có thể thuyết phục được nhân viên ở lại
doanh nghiệp. Việc xây dựng văn hóa phòng ban có ý nghĩa quan trọng đối với
những người làm việc, nó có tác động lớn đến động lực của nhân viên trong công
việc. Đây là nhân tố quyết định đến việc họ có ở lại công ty hay không. (Michael và
cộng sự, 2000). Nhà quản trị cấp trung với vai trò là trung gian trong tổ chức sẽ là
nhân tố tạo ra sự thay đổi rất nhiều trong các tổ chức và được coi là một trong
những động lực chính đối với các hoạt động của tổ chức (Mair và Thurner, 2008).
Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về vấn đề tạo động lực cho nhà
quản lý cấp trung. Kết quả nghiên cứu của Buble và cộng sự (2014) cho thấy nhân
tố chi phối cho động lực của nhà quản lý cấp trung là sự tham gia của họ vào việc ra
quyết định, khiến họ cảm nhận có trách nhiệm, và thêm vào đó, họ thấy phần
thưởng vật chất là nhân tố thúc đẩy đáng kể. Việc ra quyết định được định nghĩa là
một quá trình xác định các vấn đề và cơ hội để giải quyết chúng (Daft, 1997), và nó
bao gồm các nỗ lực trước và sau khi quyết định được đưa ra. Ai là người ra quyết
định và mức độ nghiêm túc của các cấp dưới liên quan đến quá trình ra quyết định
có tác động đáng kể đến việc thực hiện các quyết định được đưa ra.
Lãnh đạo là nhân tố quan trọng trong việc chỉ đạo tất cả các thành phần tổ
chức hướng tới hoàn thành hiệu quả các mục tiêu tổ chức (Burns, 1978). Tuy nhiên,
để lãnh đạo có hiệu quả, cần thiết các phong cách lãnh đạo phải tương thích với nhu
cầu của người lao động (Argyris, 1976; Maslow, 1954).
Một số tác giả đã nghiên cứu sự tác động của nhiều nhân tố đến động lực làm
việc của nhà quản lý cấp trung như Horizons (1990), Cianci và Bierstaker (2009) đã
nghiên cứu và chỉ rõ tác động của sự ghi nhận, sự hài lòng với lãnh đạo, bản chất
công việc và môi trường làm việc đến động lực làm việc của lao động. McCrie
(2016) đề cập hỗ trợ và khuyến khích người giám sát và nhân viên trong lao động
thông qua các chính sách nhân sự và sự hài lòng trong lao động. Các công trình đã
tập trung khai thác và đánh giá động lực trên nhiều khía cạnh khác nhau như đặc
điểm cá nhân, phong cách lãnh đạo, sự ghi nhận, sự hài lòng với lãnh đạo, bản chất
công việc và môi trường làm việc, văn hóa tổ chức, sự tham gia vào quá trình ra
quyết định…, đồng thời chỉ rõ được xu hướng tác động của từng yếu tố đến động
3
lực làm việc của đội ngũ quản lý cấp trung. Tuy nhiên, về khía cạnh năng lực cảm
xúc, các tài liệu nghiên cứu về mối quan hệ giữa năng lực cảm xúc và động lực làm
việc của nhà quản lý cấp trung cũng có những hạn chế nhất định. Đầu tiên, các
nghiên cứu này hầu hết chỉ mới dừng lại ở việc chỉ rõ các thang đo đo lường chỉ số
cảm xúc, vẫn còn rất ít các công trình nghiên cứu đề cập cũng như có những kiểm
định, đo lường sự tác động của nó đến động lực làm việc của đội ngũ quản lý cấp
trung. Bên cạnh đó, hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng có sự tác động gián tiếp
của năng lực cảm xúc đến động lực làm việc thông qua các yếu tố trung gian khác
nhau. (Barrick và Mount, 1991; Griffeth và cộng sự , 2000; Grzywacz và cộng sự,
2002; Judge và cộng sự, 2002; Zimmerman, 2008), phần lớn các nghiên cứu đã áp
dụng quan điểm phổ quát và chỉ xem xét tác động gián tiếp của năng lực cảm xúc
đối với động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung (Ghosh và cộng sự , 2015;
Broeck và cộng sự , 2008). Hơn nữa, với nhà quản lý cấp trung, đội ngũ trung gian
và kế cận với nhà lãnh đạo thì việc xem xét mối quan hệ tác động cụ thể của các yếu
tố năng lực cảm xúc đến động lực làm việc càn ít được nghiên cứu chuyên sâu và
tìm ra các tác động, cũng như chiều hướng tác động của nó. Ngoài ra, đi sâu vào
yếu tố năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung, các yếu tố nhân khẩu học như
giới tính, độ tuổi, thâm niên công tác chưa được các nghiên cứu khai thác triệt để.
Thực tế cho thấy, doanh nghiệp nhỏ và vừa là loại hình doanh nghiệp chiếm
tỷ lệ lớn và đóng vai trò quan trọng trong tổng số doanh nghiệp Việt Nam nói chung
và khu vực Bắc Trung Bộ nói riêng. Sự tồn tại và phát triển của loại hình doanh
nghiệp này có đóng góp lớn trong việc tạo ra việc làm, thu nhập và ổn định nền kinh
tế trong khu vực và cả nước.
Được đánh giá là có những bước tiến đáng kể trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên,
nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn khu vực Bắc Trung Bộ hiện nay với
quy mô hoạt động hạn chế, cách làm manh mún, nhỏ lẻ và không có các chiến lược
kinh doanh rõ ràng dẫn đến hiệu quả kinh doanh không được như kỳ vọng. Có rất
nhiều nguyên nhân dẫn tới chất lượng nhà quản lý cấp trung tại các doanh nghiệp ở
khu vực Bắc Trung Bộ còn hạn chế. Quá trình làm việc dưới sự chỉ đạo của những
người đứng đầu tổ chức vẫn thường mang tính áp đặt, rập khuôn, ít có sự đổi mới về
mặt tư duy và cách thức làm việc. Hơn nữa, nhà quản lý cấp cao trong rất nhiều
4
trường hợp chưa có sự quan tâm và hỗ trợ đúng mức cho cấp dưới, đặc biệt là với
các trường hợp khó khăn trong làm việc hoặc trong quá trình quản lý. Bên cạnh đó
là những nguyên nhân khác như chất lượng nguồn lao động thấp, ý thức lao động
còn hạn chế…Điều này tác động lớn đến động lực làm việc của nhà quản lý cấp
trung và qua đó chi phối tới công việc của họ trong doanh nghiệp.
Với những phân tích trên đây có thể nói rằng định hướng nghiên cứu của đề
tài “Các nhân tố tác động đến động lực làm việc của lao động quản lý tại các
doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ” là cần thiết và có ý nghĩa thực
tế hiện nay.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát:
Đánh giá tác động của các nhân tố đặc điểm công việc và năng lực cảm xúc
với các biến nhận biết cảm xúc; sử dụng cảm xúc; thấu hiểu cảm xúc; kiểm soát
cảm xúc đến động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung tại các doanh nghiệp nhỏ
và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ.
Mục tiêu cụ thể:
- Xây dựng một mô hình nghiên cứu bao gồm các nhân tố tác động đến động
lực làm việc của nhà quản lý cấp trung tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực
Bắc Trung Bộ.
- Kiểm định mô hình nghiên cứu đã đề xuất với dữ liệu thu thập được từ các
nhà quản lý và người lao động tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc
Trung Bộ.
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị đối với các nhà quản lý cấp trung trong
các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ, các nhà hoạch định chính
sách và đưa ra các hướng nghiên cứu tiếp theo.
Câu hỏi nghiên cứu: - Tạo động lực cho nhà quản lý cấp trung được đo lường thông qua các tiêu
chí nào?
- Có những nhân tố nào tác động đến động lực làm việc của nhà quản lý
cấp trung?
- Các nhân tố Đặc điểm công việc; Năng lực cảm xúc bao gồm: nhận biết
cảm xúc, sử dụng cảm xúc, thấu hiểu cảm xúc và kiểm soát cảm xúc tác động như
thế nào đến động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung?
5
- Có sự khác biệt hay không về năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung
theo tuổi, giới tính và thâm niên công tác?
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu Các nhân tố tác động đến động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung tại các
doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ, dưới góc nhìn của các trường
phái lý thuyết về đặc điểm công việc của Hackman và Oldham (1980) và lý thuyết
về thang đo EI của Mayer và Salovey (1997).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt nội dung: Nghiên cứu động lực làm việc và những nhân tố: đặc
điểm công việc, nhận biết cảm xúc, sử dụng cảm xúc, thấu hiểu cảm xúc và kiểm
soát cảm xúc động đến động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung tại các doanh
nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ.
- Về không gian: các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ.
- Về thời gian: Nghiên cứu trong giai đoạn 5 năm: 2016 -2020 và đề xuất giải
pháp cho các năm tiếp theo.
4. Phƣơng pháp và quy trình nghiên cứu
4.1. Phương pháp nghiên cứu chung
- Thiết kế nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu được lựa chọn là nghiên cứu
định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng.
Nghiên cứu định tính: phỏng vấn sâu các chuyên gia, các nhà quản lý nhằm
tìm hiểu, khảo sát các vấn đề liên quan đến động lực làm việc của nhà quản lý cấp
trung. Từ đó sàng lọc, lựa chọn các biến độc lập đưa vào mô hình và xác định sơ bộ
mối quan hệ giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc trong mô hình.
Nghiên cứu định lượng: thông qua phương pháp điều tra bằng bảng hỏi với
đối tượng khảo sát chính là các nhà quản lý cấp trung và người lao động tại các
doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ nhằm kiểm định lại tính chính
xác, phù hợp của mô hình, đánh giá độ tin cậy của thang đo, các biến, các quan sát
đưa vào và loại bỏ các chỉ báo không phù hợp.
Sau khi điều chỉnh và hoàn thiện bảng hỏi cũng như các biến, và chỉ báo.
Nghiên cứu định lượng chính thức nhằm mục đích:
Thứ nhất, đánh giá độ tin cậy của thang đo. Các tiêu chí được sử dụng khi
thực hiện đánh giá độ tin cậy thang đo:
6
Thứ hai, kiểm định giá trị của thang đo bằng cách phân tích nhân tố khám
phá EFA. Phương pháp rút trích nhân tố được sử dụng là phương pháp xoay các
nhân tố Varimax.
Thứ ba, kiểm định lại độ tin cậy của thang đo với hệ số Cronbach‘s Alpha
sau khi đã loại bỏ các chỉ báo không phù hợp.
Thứ tư, kiểm định hệ số tương quan Pearson nhằm đo lường mối liên hệ giữa
các biến. Kiểm định hệ số tương quan Pearson cung cấp thông tin về mức độ quan
trọng của mối liên hệ, mối tương quan, cũng như hướng của mối quan hệ. Ngoài ra,
việc kiểm tra hệ số tương quan pearson còn giúp sớm nhận diễn được sự xảy ra
của vấn đề đa cộng tuyến khi các biến độc lập có sự tương quan mạnh với nhau.
Thứ năm, phân tích mô hình hồi quy bội.
Thứ sáu, kiểm định Anova, T-test nhằm đánh giá có hay không sự khác biệt
về năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung theo biến nhâu khẩu học bao gồm:
giới tính, độ tuổi và thâm niên công tác.
Thứ bảy, phân tích thống kê mô tả.
- Đề tài áp dụng các phương pháp truyền thống đồng thời tiếp cận các
phương pháp mới, thống kê, điều tra mẫu bằng bảng hỏi và phỏng vấn, tổng hợp,
phân tích, so sánh định tính và định lượng, dùng mô hình toán dự báo kinh tế, logic.
- Kế thừa có chọn lọc kết quả các công trình, tài liệu đã có công bố trong và
ngoài nước liên quan đến chủ đề nghiên cứu. Thu thập các tài liệu, số liệu có liên
quan từ các bộ, ngành ở Trung ương và các địa phương.
- Trao đổi, xin ý kiến chuyên gia từ các nhà quản lý, xây dựng, tổ chức và
thực thi chiến lược kinh tế, chính sách doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua các cuộc
toạ đàm, trao đổi.
4.2. Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp
- Các báo cáo, số liệu về hoạt động quản lý, kinh doanh từ các doanh nghiệp
nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ.
- Nguồn báo cáo từ các Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công thương, Bộ Nông
nghiệp và phát triển nông thôn và các cơ quan ban, ngành địa phương, tỉnh ủy, ủy
ban nhân dân các tỉnh, địa phương.
7
Số liệu sơ cấp
Điều tra khảo sát bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu nhằm thu thập ý kiến của các
chuyên gia, các cán bộ quản lý về các vấn đề quản lý, sử dụng lao động, tạo động
lực cho nhà quản lý cấp trung, xây dựng, triển khai và giám sát kế hoạch kinh doanh
trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ.
Phương pháp xử lý số liệu
Kết quả thu thập các dữ liệu thông qua quá trình điều tra, khảo sát được xứ lý
bằng các phần mềm SPSS, AMOS. Từ đó, cho phép đưa ra các kết luận minh chứng
cho tính phù hợp của mô hình và các giả thuyết nghiên cứu:
Thứ nhất: đánh giá độ tin cậy của thang đo.
Thứ hai, kiểm định giá trị của thang đo bằng cách phân tích nhân tố khám
phá EFA.
Thứ ba, kiểm định lại độ tin cậy của thang đo với hệ số Cronbach‘s Alpha
sau khi đã loại bỏ các chỉ báo không phù hợp.
Thứ tư, kiểm định hệ số tương quan Pearson
Thứ năm, phân tích mô hình hồi quy bội.
Thứ sáu, kiểm định Anova, T-test.
Thứ bảy, phân tích thống kê mô tả.
5. Các đóng góp của luận án
- Luận án chứng minh được sự phù hợp của việc vận dụng các trường phái
lý thuyết về đặc điểm công việc của Hackman và Oldham (1980) và lý thuyết về
thang đo EI của Mayer và Salovey (1997) trong nghiên cứu về động lực làm việc
của nhà quản lý.
- Luận án đã xây dựng và kiểm định mô hình nghiên cứu trong bối cảnh tại
các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ và cho thấy các nhân tố đặc
điểm công việc, năng lực cảm xúc bao gồm: nhận biết cảm xúc, sử dụng cảm xúc,
thấu hiểu cảm xúc, kiểm soát các xúc có tác động thuận chiều đến động lực làm
việc của nhà quản lý cấp trung tại các các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc
Trung Bộ.
- Luận án cũng chứng minh đươc có sự khác biệt về năng lực cảm xúc của
nhà quản lý cấp trung tại các các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ
theo nhóm tuổi và thâm niên công tác.
8
- Luận án chỉ ra thực trạng xây dựng và triển khai một số chính sách quản lý
và tạo động lực trong nhà quản lý cấp trung, cũng như đánh giá sự phù hợp của nó
trong bối cảnh các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ.
- Luận án giúp các nhà quản lý cấp trung nói riêng và các nhà quản lý nói chung
trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ thấy được tác động của
các khía cạnh tổ chức, các nhân tố cá nhân cũng như năng lực cảm xúc, mục tiêu hay
nhu cầu cá nhân có tác động thuận chiều đến động lực làm việc của họ.
6. Bố cục của luận án
Ngoài phần Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận án bao gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan và khoảng
trống nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 3: Bối cảnh và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Thảo luận và một số đề xuất
9
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN VÀ KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan các nghiên cứu về tạo động lực làm việc của nhà quản lý
cấp trung
1.1.1. Các nhân tố tác động đến tạo động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung
Nhà quản lý cấp trung trong doanh nghiệp bao gồm những nhà quản lý với
những kỹ năng và kiến thức khó thay thế, và đóng góp đáng kể vào lợi nhuận của tổ
chức (Delmestri và Walgenbach, 2005; Floyd và Wooldridge, 1997). Họ là những
người ra quyết định chính về nhiều vấn đề quan trọng của tổ chức, bộ phần mà họ
quản lý và thực hiện một số hoạt động quan trọng, từ lập kế hoạch và thực hiện các
chiến lược thay đổi tổ chức đến tạo ra môi trường làm việc hiệu quả (Stewart, 1994;
Cherrington, 1995; Colquitt và cộng sự, 2005; Greenberg, 1990; House và cộng sự,
1999). Sự hiểu biết về các yếu tố có thể tác động đến động lực làn việc của nhà quản
lý cấp trung có ý nghĩa quan trọng đối với các tổ chức ngày nay (Uruthirapathy và
Grant, 2015).
Cho đến nay, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tác động của các các nhân tố đến
động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung. Kinman (2001) cho rằng động lực nội
tại có cả yếu tố nhận thức và tình cảm. Họ cho rằng có một động lực để làm chủ
(nhận thức) và sự tò mò (tình cảm) trong các cá nhân, và các yếu tố chính được kết
hợp với quyền tự quyết. Ngược lại, họ đề xuất động lực bên ngoài được liên kết với
một đánh giá về một kết quả dự đoán. Điều này phù hợp với lý thuyết kỳ vọng
(Vroom (1964) cho rằng nỗ lực của một cá nhân được xác định bởi những gì họ
mong đợi sẽ nhận được kết quả.
Các nhà quản lý tập trung vào kế hoạch, tổ chức, nhân sự, chỉ đạo và kiểm
soát. Lãnh đạo là một nghệ thuật, Arshad và cộng sự (2016) cho rằng nhà quản lý
tập trung vào việc lắng nghe, xây dựng mối quan hệ, làm việc nhóm, truyền cảm
hứng, thúc đẩy và thuyết phục nhân viên. Người quản lý có được quyền lực nhờ vào
vị trí trong tổ chức, tuân theo các chính sách và thủ tục của tổ chức. người quản
lý đối phó với khía cạnh kỹ thuật trong một tổ chức hoặc nội dung công việc.
10
Goleman (1998) đề xuất bốn khía cạnh quan trọng của trí tuệ cảm xúc: (1) Tự nhận
thức; (2) Tự quản lý; (3) Nhận thức xã hội ; (4) Quản lý mối quan hệ. Một nhà lãnh
đạo có xu hướng tác động rất lớn đến suy nghĩ và động lực của nhà quản lý cấp trung.
Một số tác giả đã nghiên cứu sự tác động của các yếu tố đến động lực làm
việc của lao động quản lý cấp trung. Cianci và Bierstaker (2009) nghiên cứu và chỉ
rõ tác động của sự ghi nhận, sự hài lòng với lãnh đạo, môi trường làm việc và bản
chất công việc. McCrie (2016) đề cập hỗ trợ và khuyến khích người giám sát lao
động thông qua các chính sách nhân sự và sự hài lòng trong công việc.
Nghiên cứu của Stringer và Didham (2011) cũng cho thấy nhà quản lý cấp
trung nếu không được coi trọng và không được trả công xứng đáng với nỗ lực của
họ trong làm việc sẽ gây tác động đến động lực nội tại của họ. Chiu (1999) xác định
sự liên quan của trạng thái tâm lý tích cực và động lực làm việc với sự tác động gián
tiếp của sự cảm nhận về trạng thái công bằng tổ chức trong chi trả tiền lương, sự
thỏa mãn về tiền lương và mức độ hài lòng trong công việc.
Buble và cộng sự (2014) đã chỉ ra mối quan hệ giữa phong cách và động lực
của nhà quản lý cấp trung. Yếu tố chi phối cho động lực của nhà quản lý là sự tham
gia của họ vào việc ra quyết định, khiến họ cảm thấy có trách nhiệm, và thêm vào
đó, họ thấy phần thưởng vật chất là yếu tố thúc đẩy đáng kể, đồng thời các nhà quản
lý ở các cấp quản lý khác nhau có các phong cách lãnh đạo khác nhau phản ứng
khác nhau với tác động của các yếu tố quan trọng của động lực. Các nhà quản lý có
thể được cấp trên dành nhiều thời gian hơn để đề xuất và thực hiện những cách thức
mới để làm việc. Từ đó, tạo ra những sự thay đổi tích cực (House & Spangler,
1991). McCrie (2016) đề cập hỗ trợ và khuyến khích nhà quản lý và người giám sát
trong công việc thông qua các chính sách nhân sự và sự hài lòng trong lao động.
Michael và cộng sự (2000) trong nghiên cứu của mình cũng đã đưa ra các đề
xuất có giá trị có cho nhà quản lý cấp trung đó là: (1) Thiết kế công việc linh động,
tạo cho nhân viên tính chủ động trong sắp xếp công việc, giảm áp lực làm việc giúp
họ có thể tạo ra sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống; (2) Nhà quản lý cấp trung
là quan trọng, cần xây dựng mối quan hệ giữa các cấp trong công ty và văn hóa
phòng ban có ý nghĩa quan trọng.
Gatakaa (2013) đã chỉ ra nhóm 4 nhân tố của văn hóa tổ chức bao gồm các
luồng cư xử và quy tắc, giá trị tổ chức, các nghi lễ và nghi thức, lịch sử tồn tại và
11
phát triển của tổ chức, tác động đến động lực trong công việc của nhà quản lý cấp
trung. Các yếu tố này đều đề cao vai trò của nhà quản lý trong việc tham gia vào các
quy tắc, giá trị, nghi thức và hoạt động của tổ chức. Xu hướng hợp tác đã được phát
triển bởi một quá trình lựa chọn nhóm văn hóa đó bắt nguồn từ sự tương tác giữa
truyền thống văn hóa. Bằng cách tạo ra nhiều trạng thái cân bằng hành vi giữa các
nhóm bao gồm cân bằng lợi ích nhóm, văn hóa đã tạo ra một cơ chế lựa chọn cân
bằng (Henrich, 2004). Động lực của nhà quản lý trong bất cứ một doanh nghiệp nào
tốt hơn hết đều cần xuất phát từ một tập thể đoàn kết và quá trình tích cực tham gia
của nhân viên mà họ quản lý vào các hoạt động chung của tổ chức cả trong và ngoài
công việc sẽ tạo ra sự gắn kết và có tác động tích cực tới động lực của họ.
Trong nghiên cứu về tác động của văn hóa tổ chức đến động lực bên ngoài
và nội tại của nhà quản lý cấp trung, Mohammad (2011) đã chỉ ra rằng sự thành
công của bất kỳ tổ chức nào phụ thuộc vào sự phù hợp giữa cá nhân và văn
hóa của tổ chức. Bất kỳ sự không phù hợp nào giữa hai yếu tố này này đều có khả
năng gây nguy hại cho năng suất và thành công của tổ chức. Văn hóa tổ chức về cơ
bản là tập hợp các nguyên tắc hoạt động xác định cách mọi người cư xử bên trong
của tổ chức. Văn hóa tổ chức là một trong những công cụ để đảm bảo năng suất cao
và thành công của tổ chức thông qua việc tạo ra bầu không khí làm việc thuận lợi,
đáp ứng các nhu cầu động lực khác nhau của mọi cá nhân trong tổ chức. Mô hình
nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức và động lực của nhà quản lý.
Nó bao gồm các yếu tố: (1) Sự tham gia (Involvement); (2) Hệ thống phần thưởng
(Reward system); (3) Sứ mệnh (Mission); (4) các quy tắc hành vi ứng xử
(Behavioural Norms); (5) Khả năng thích ứng (Adoptability) tạo ra một văn hóa tổ
chức khoẻ mạnh và tích cực. Văn hóa tổ chức này tác động đến động cơ làm việc
và năng suất lao động của nhà quản lý, họ sẽ cam kết làm việc chất lượng cao, trong
khi những người khác liên tục thực hiện ở mức không đạt yêu cầu. Động lực để làm
việc rất khác nhau, những thay đổi đáng kể đã xảy ra trong thái độ của nhiều nhà
quản lý đối với công việc của họ. Quản lý tập trung vào thực tế mang đến cho các
nhà quản lý một phong cách lãnh đạo linh hoạt cho phép họ trực tiếp hơn với một số
nhân viên nhất định, tham gia nhiều hơn với những người khác. Ngoài ra, với các
hoạt động về quản lý, chú ý mới đến tuyển dụng và lựa chọn, đánh giá hiệu suất,
12
giám sát và bồi thường…. Li và Roloff (2007) đã xem xét về các hệ thống thù lao
khác nhau có thể truyền tải về văn hóa tổ chức và tác động đến tính hấp dẫn của tổ
chức như thế nào. Nghiên cứu này cho thấy các hệ thống thù lao dựa trên thâm niên
hay công trạng để xác định tiền lương và các lợi ích khác phản ánh các văn hóa tổ
chức khác nhau đối với những người xin việc và tác động đến tính hấp dẫn của
người xin việc đối với tổ chức.
Nghiên cứu Sherwood (2015) khám phá các hiệu ứng đa cấp của khả năng thích
ứng của tổ chức và nhà quản lý trên hiệu quả đào tạo và sự hài lòng của nhân viên. Các
tác giả cho thấy khả năng thích ứng có tác động tích đến sự hài lòng trong công việc
của nhà quản lý, để từ đó điều phối công việc và tác động đến động lực làm việc của
nhà quản lý. Các nghiên cứu trước đây cũng tìm ra mối tương quan chặt giữa phong
cách lãnh đạo và mức độ thỏa mãn trong công việc cũng như sự tận tâm đối tổ chức
của nhà quản lý cấp trung (Fiol và cộng sự, 1999; Bakiev, 2013; Berry, 1979;
Bierstaker, 2009; Buzzell và Gale, 1987). Theo nghiên cứu của Gallups (2009) thì
phần lớn nhà quản lý tin rằng yếu tố quan trọng nhất để họ gắn kết với công ty là mối
quan hệ với người cấp trên quản lý trực tiếp của họ.
Nhà quản lý cấp trung là những người chịu trách nhiệm trong các quyết định,
các hoạt động điều phối công việc của tổ chức. Động lực làm việc của họ bị chi
phối bởi nhiều yếu tố khác nhau. Ở Việt Nam, trong các công trình nghiên cứu của
mình, nhiều tác giả đã đề cập và chứng minh được sự tác động của các nhân tố đến
động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung. Cao Văn Trường (2018) cho rằng tạo
môi trường làm việc tốt, an toàn, xây dựng các kế hoạch, phương hướng rõ ràng sẽ
là các nhân tố quan trọng trong tạo động lực cho nhà quản lý - nguồn nhân lực chủ
chốt trong doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Ngô Mỹ Trân và cộng sự (2019) cho thấy có 6 nhân tố thuộc
chế độ đãi ngộ bao gồm lương thưởng; phúc lợi; sự công nhận; cơ hội nghề nghiệp
và thăng tiến; thử thách công việc và môi trường làm việc đều có tác động tích cực
đến động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung. Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho
thấy hai yếu tố tuổi tác và giới tính cũng tác động đến động lực làm việc. Trên cơ sở
đó, nghiên cứu đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm tăng động lực làm việc cho các
nhà quản lý cấp trung dựa trên sự hoàn thiện các chính sách, chế độ đãi ngộ cho nhà
13
quản lý cấp trung phù hợp với yêu cầu của tổ chức, môi trường công việc và kết quả
hoàn thành của từng cá nhân.
Phạm Bảo Dương (2012) trên cơ sở tổng quan nghiên cứu, đã chỉ ra 6 nhóm
nhân tố tác động đến động lực làm việc của nhà quản lý trong lĩnh vực nông nghiệp
và phát triển nông thôn là lương - thưởng, tuyển dụng và đào tạo, quản lý và sử
dụng cán bộ, môi trường làm việc, định hướng giá trị nghề nghiệpvà cơ chế hoạt
động quản lý. Kết quả này cũng tương ứng với các công trình nghiên cứu khác của
Trần Đăng Khoa (2016); Bùi Thị Minh Thu và Lê Nguyễn Đoàn Khôi (2016); Đinh
Kiệm và Phan Tiểu Trâm (2019); Huỳnh Thị Thu Sương (2017); Võ Hữu Hòa
(2017); Cao Thị Thanh và Trần Quang Hưng (2018)…
Như vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập và phân tích mối quan hệ
giữa các nhân tố tác động đến động lực làm việc của nhà quản trị cấp trung. Tuy
nhiên, về khía cạnh đặc điểm công việc và năng lực cảm xúc thì vẫn chưa có nhiều
nghiên cứu đề cập và kiểm định rõ ràng tác động của các nhân tố đó đối với động
lực làm việc của nhà quản lý cấp trung.
Dựa trên nền tảng các lý thuyết về đặc điểm cộng việc của Hackman và
Oldham (1980) và lý thuyết về thang đo EI của Mayer và Salovey (1997). Nghiên
cứu với mong muốn đề cập và làm rõ tác động của hai nhân tố này đến động lực
làm việc của nhà quản lý cấp trung.
1.1.2. Mối quan hệ giữa đặc điểm công việc và động lực làm việc của nhà
quản lý cấp trung
Nghiên cứu của George (1981) xem xét mối quan hệ giữa đặc điểm công
việc và động lực làm việc đã cho thấy đặc điểm công việc có ý nghĩa quan trọng đối
với động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung và cũng đóng vai trò như là mốt
yếu tố trung gian trong sự tác động của sự hài lòng đến động lực làm việc. Tương
tự, nghiên cứu của Baker (1981) cũng cho thấy tầm quan trọng của việc kết hợp
trong quá trình làm việc giữa các vị trí công việc khác nhau của các nhà quản lý cấp
trung và điều này tác động trực tiếp lên động lực làm việc của họ. Động lực làm
việc của các nhà quản lý cấp trung chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau.
Trong đó, đặc điểm công viêc không phù hợp có sự tác động không nhỏ và làm
giảm động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung (Hall và cộng sự, 1981); Baker,
14
1979; George, 1981). Các đặc điểm công việc khác nhau tác động đáng kể đến động
lực làm việc của nhà quản lý cấp trung. Các nghiên cứu của Lawler và Hall (1970)
và Hackman và Oldham (1974) chỉ ra rằng động lực làm việc có thể được tăng lên
bằng cách vận dụng các đặc điểm công việc cụ thể của một vị trí nhất định.
Đặc điểm công việc là biến số có thể thay đổi được và đã được chứng minh
là có sự tác động đáng kể đến động lực làm việc, nên có lý do để xem xét cách thức
vận dụng những đặc điểm công việc này để tăng động lực làm việc của các nhà
quản lý cấp trung. Tuy nhiên, để xác định được mức độ quan trọng của đặc điểm
công việc, cần xác định mối quan hệ chính xác giữa đặc điểm công việc và động lực
làm việc của nhà quản lý cấp trung đối với từng cá nhân và vị trí làm việc cụ thể
(Carpenter, 1989). Nghiên cứu của George và Jones (1996) chỉ ra sự cần thiết phải
thiết kế lại công việc để làm phong phú thêm công việc, từ đó tác động tích cực đến
sự phát triển nghề nghiệp, sự hài lòng trong công việc và động lực làm việc của nhà
quản lý cấp trung. Hackman và Oldman (1976) đã tạo ra một lý thuyết toàn diện, có
thể kiểm tra được về tác động của việc thiết kế lại công việc hoặc làm giàu công
việc đến động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung. Các yếu tó thuộc về đặc
điểm của công việc bao gồm sự đa dạng kỹ năng; nhận dạng nhiệm vụ; ý nghĩa
nhiệm vụ; quyền tự chủ và phản hồi đã tác động đáng kể ở mức độ khác nhau đến
động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung trong các tổ chức.
Oldham (1976) đã sử dụng mô hình đặc điểm công việc và khảo sát công
việc để nghiên cứu sâu hơn các mối quan hệ giữa động lực làm việc của nhà quản lý
cấp trung và hiệu suất công việc của họ. Nghiên cứu đã cho thấy sự tác động điều
tiết của sự phát triển cá nhân cần có sức mạnh, sự hài lòng của đồng nghiệp và sự
giám sát sự hài lòng về mối quan hệ giữa đặc điểm công việc và động lực làm
việc. Lawler và Hall (1970) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm công
việc và động lực nội tại trong tổ chức của nhà quản lý cấp trung và cho thấy đặc
điểm trong công việc được chứng minh là có liên quan đến sự hài lòng, mức độ
kiểm soát (quyền tự chủ) mà công việc đó cung cấp cho người nắm giữ và động lực
trong sự cố gắng của nhà quản lý.
Ngoài ra, trong một số tài liệu, các nhà nghiên cứu đã xác định rằng các yếu
tố ngữ cảnh liên quan đến môi trường làm việc có tác động đến động lực làm việc
của nhà quản lý cấp trung (Arshad và cộng sự, 2016; Griffeth và cộng sự ,
15
2000). Trong đó, đặc điểm công việc được công nhận là một trong các yếu tố thuộc
môi trường làm việc quan trọng có tác động không nhỏ tới động lực làm việc
(Hackman và Oldham, 1975; Holtom và cộng sự, 2008). Đặc điểm công việc là tiền
đề quan trọng của động lực làm việc (Arshadi và Shahbazi, 2013; McKnight và
Kashdan, 2009; Slattery và cộng sự, 2010). Hoàn thiện các yếu tố của đặc
điểm công việc thuộc những nguồn lực chính của công việc có thể kích thích sự
tham gia của nhà quản lý, tạo động lực trong công việc và thực hiện nó một cách có
hiệu quả (Schaufeli và Bakker, 2004; Alexander và Ruderrman, 1987; Angelis và
Kupchik, 2007; Arnold và Feldman, 1986).
1.1.3. Mối quan hệ giữa năng lực cảm xúc và động lực làm việc của nhà
quản lý cấp trung
Về khía cạnh năng lực cảm xúc, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên
quan đề cập và chỉ rõ các thang đo của nó. Theo Mayer và Salovey (1997), năng
lực cảm xúc liên quan đến khả năng nhận biết chính xác cảm xúc các nhân, đánh
giá và bộc lộ xúc cảm, tạo ra cảm xúc khi những nó thúc đẩy năng lực, tư duy hiểu
cảm xúc, có kiến thức về cảm xúc và điều chỉnh những cảm xúc tiến tới đẩy nhanh
sự phát triển về trí tuệ và cảm xúc. Các chỉ số năng lực cảm xúc và sự vận dụng
của nó đối với nhà quản lý có ý nghĩa quan trọng, chi phối tới các quyết định quản
lý, tác động đến yếu tố nhạy bén trong công việc, quá trình thiết lập, duy trì và
phát triển các mối quan hệ trong doanh nghiệp, tác động đến niềm tin, sự gắn kết
và hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Mayer và cộng sự (1990) đề xuất phương pháp đo lường EI. Phép đo này
được xây dựng nhằm đo lường các kĩ năng sẽ tác động đến năng lực của một cá
nhân khi đối mặt với những rủi ro của môi trường và áp lực trong cuộc sống một
cách hiệu quả. Phép đo này đề cập 5 yếu tố: Sự hiểu biết của bản thân bao gồm các
năng lực tự nhận biết, tự quyết, và khả năng đánh giá bản thân khách quan; Mối
quan hệ bao gồm các năng lực như sự đồng cảm, khả năng thực hiện… Kiểm soát
căng thẳng, gồm các kĩ năng như đánh giá thực tiễn, kỹ năng giải quyết vấn đề; Khả
năng thích ứng gồm khả năng chịu căng thẳng, khả năng kiểm soát xung tính. Tâm
trạng cá nhân gồm khả năng giữ trạng thái tâm lý vui vẻ, lạc quan, hạnh phúc. Cảm
xúc trong các quyết định luôn có các mối lên quan chặt với nhau. Cooper (1996)
16
đưa ra thang đo EQ phân trí tuệ cảm xúc chia thành các yếu tố gồm: Môi trường
hiện tại; Hiểu biết về cảm xúc; Năng lực của trí tuệ cảm xúc; Các giá trị và thái độ;
Kết quả. Một đề xuất đổi mới có thể được thực hiện thành công trong dự án nếu nỗ
lực được thực hiện đổi mới và có những mục tiêu được mong đợi cao, kết quả thuận
lợi và cam kết cao. Các công ty cần phải được thúc đẩy để áp dụng đổi mới, lạc
quan về kết quả và nỗ lực bổ sung. Các ưu đãi cho các bên hỗ trợ cần có ý nghĩa để
thuyết phục họ tham gia vào đổi mới. Ngoài ra, sự đổi mới nên được thiết kế sao
cho có thể thu hút tất cả các bên cùng nhau, và tất cả lợi ích của họ được chăm sóc
xem trọng.
Goleman (1998) đưa ra nền tảng lý thuyết cơ sở về trí tuệ cảm xúc trong đó
phác thảo các cách xây dựng trí tuệ cảm xúc chính bao gồm: Tự nhận thức cảm xúc
của bản thân, hướng tới quá trình ra quyết định trong quản lý; Tự quản lý cảm xúc,
điều khiển, thích nghi với các hoàn cảnh khác nhau môi trường; Nhận thức xã hội
liên quan đến khả năng hiểu, cảm nhận, phản ứng với các xúc cảm của người khác;
Quản lý mối quan hệ liên quan đến khả năng tạo sự ảnh hưởng, gây dựng và phát
triển các mối quan hệ, phát triển các kỹ năng khác trong quản lý xung đột tổ chức.
Các tổ chức xã hội, đặc biệt là các tổ chức kinh tế, không hoạt động chính xác nếu
không có các quy trình tạo ra niềm tin, thiết lập kỳ vọng và tạo hoặc củng cố các
tiêu chuẩn được chia sẻ. Tất cả các quá trình này được tạo điều kiện thuận lợi bằng
vốn xã hội. Đây là hình thức giới thiệu vấn đề của tổ chức xã hội và quan hệ trong
phân tích các hệ thống kinh tế, không chỉ là cấu trúc bao quát bao gồm các thể chế
kinh tế mà còn là một cấu trúc với lịch sử và tính liên tục của riêng nó của các định
chế kinh tế (Goleman, 1988).
Năng lực cảm xúc đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động quản lý. Các nhà quản lý nói chung và quản lý cấp trung nói riêng luôn có nhu cầu công việc khác nhau. Không thể tạo động lực hiệu quả nếu áp dụng chung một cách thức quản lý nhân sự cho tất cả mọi người trong tổ chức. Vì vậy, việc nắm rõ nhu cầu, ước
muốn và động cơ làm việc của nhà quản lý cấp trung là yêu cầu cần thiết nhằm giúp
nhà quản lý chủ động hơn trong quá trình làm việc và khích lệ quá trình làm việc với hiệu suất cao. Hackman và Lawler (1971) đã lấy các khía cạnh năng lực cảm xúc trong mối quan hệ với động lực làm việc và phát triển một khung khái niệm xác định các điều kiện mà theo đó năng lực cảm xúc sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển
17
của động lực bên trong nhà quản lý.
Nhiều công trình nghiên cứu mối quan hệ giữa năng lực cảm xúc và động lực
làm việc của nhà quản trị. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng có sự tác động gián tiếp của năng lực cảm xúc đến động lực làm việc thông qua các yếu tố
trung gian khác nhau. Chiu (1999) xác định sự liên quan của trạng thái tâm lý tích
cực và động lực làm việc với sự tác động gián tiếp của sự cảm nhận về trạng thái
công bằng tổ chức trong chi trả tiền lương, sự thỏa mãn về tiền lương và mức độ hài lòng trong công việc. Là những người quản lý trực tiếp người lao động thuộc bộ
phận chuyên mô trong tổ chức, khả năng tạo ảnh hưởng, kiểm soát hành vi của nhân
viên hay khả năng gây ảnh hưởng, truyền cảm hứng trong công việc cho nhân viên
sẽ là cần thiết để năng cao hiệu quả trong công việc đối với nhà quản lý cấp trung. Zhou và Geogre (2003) cho rằng các nhà quản lý có năng lực cảm xúc cao có khả
năng tạo thuận lợi cho quá trình nhận thức, xác định vấn đề cơ bản, nhận thức cơ
hội và thúc đẩy hiệu quả công việc. Tương tự, Marlove (1986) cũng cho rằng chỉ số
cảm xúc là một trong những yếu tố giúp nhà quản lý hiểu được suy nghĩ, hành vi,
cảm xúc của người khác, giúp thúc đẩy hoạt động của cả nhân viên và bản thân nhà
quản lý trong công việc.
Người quản trị có được quyền lực nhờ vào vị trí trong tổ chức, tuân theo các
chính sách và thủ tục của tổ chức. Khi một nhà quản trị có năng lực cảm xúc cao thì
họ thường sẵn sàng đóng góp nhiều hơn cho tổ chức (Abraham, 2000). Slaski và
Cartwright (2002) đã chứng minh rằng có mối quan hệ thuận chiều giữa năng lực
cảm xúc và tinh thần cũng như mức độ hiệu quả trong công việc của nhà quản trị.
Nhà quản lý cấp trung có thể tăng năng lực cảm xúc của mình thông qua nhận thức
về bản thân, quản lý cảm xúc và tự chủ, thúc đẩy người khác, thể hiện sự đồng cảm
và xử lý các mối quan hệ (Mujtaba, 2008). Khi các tổ chức liên tục phát triển, điều
quan trọng là phải biết ai có thể lãnh đạo và quản lý một tổ chức để hoạt động năng suất và hiệu quả. Quản lý, về cơ bản, có thể được xem như là quá trình của việc đạt được các mục tiêu của tổ chức và thông qua việc sử dụng các nguồn lực sẵn có theo cách hiệu quả nhất có thể (Kaifi, 2020). Với vai trò quản lý trực tiếp nhân viên dưới quyền, nhà quản lý cấp trung cần có các kỹ năng chuyên môn và quan hệ để quản lý nhân viên một cách hiệu quả, liên quan đến năng lực cảm xúc.
Năng lực cảm xúc (EI) là yếu tố thiết yếu, quyết định thành công trong công
việc và cuộc sống. Các chỉ số năng lực cảm xúc và sự vận dụng của nó đối với nhà
18
quản lý có ý nghĩa quan trọng, chi phối tới các quyết định quản lý. Trong những
năm gần đây, đã có nhiều nghiên cứu về EI ở khía cạnh quản lý như Nguyễn Thị
Thanh Tâm (2012); Nguyễn Ngọc Quỳnh Dao (2013)… Các nghiên cứu đã chỉ ra
được tầm quan trọng của EI trong hoạt động quản lý, cũng như đưa ra một số ý kiến
về ứng dụng EI trong hoạt động động quản lý. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu
đều chưa đề cập đến sự tác động của EI đến động lực làm việc của lao động quản lý,
đặc biệt là với nhà quản lý cấp trung. Vì vậy, trong luận án của mình, tác giả rất
muốn đề cập và làm rõ hơn sự tác động của EI đến động lực làm việc của nhà quản
lý cấp trung, với bối cảnh là các DNNVV ở khu vực Bắc Trung Bộ.
Bảng 1.1. Tổng hợp các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến động lực của nhà
quản lý cấp trung
Biến độc lập Biến phụ thuộc Nghiên cứu
Động lực nội tại: Động lực làm nhận thức và tình việc của nhà quản Kinman (2001); Vroom (1964); cảm; Nỗ lực của cá lý cấp trung nhân;
Sự ghi nhận; Sự hài
lòng với lãnh đạo;
Môi trường làm Động lực làm Cianci và Bierstaker (2009); McCrie việc; Bản chất công việc của nhà quản (2016) việc; hỗ trợ và lý cấp trung
khuyến khích người
giám sát lao động.
Hệ thống thù lao, trả Stringer và Didham (2011); Chiu
công; Trạng thái tâm lý tích cực; Phong cách làm việc; Sự tham gia Động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung (1999); Buble và cộng sự (2014); House & Spangler (1991); Michael và cộng sự (2000); Li và Roloff (2007); Fiol và cộng sự (1999); Ngô Mỹ Trân
và cộng sự (2019) vào quá trình ra quyết định
Văn hoá tổ chức;
Khả năng thích ứng Gatakaa (2013); Henrich, 2004); Mohammad (2011); Sherwood (2015) Động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung
19
Gallups (2009); Buble và cộng
sự (2014); House & Spangler (1991);
Động lực làm Cao Văn Trường (2018); Phạm Bảo Gắn kết với tổ chức; việc của nhà quản Dương (2012); Trần Đăng Khoa Môi trường làm việc lý cấp trung (2016); Huỳnh Thị Thu Sương (2017);
Võ Hữu Hòa (2017); Cao Thị Thanh
và Trần Quang Hưng (2018)
George (1981); Baker (1981); Hall và
cộng sự (1981); Baker (1979); George
(1981); Lawler và Hall (1970);
Hackman và Oldham (1974);
Hackman và Oldman (1976); Oldham
Động lực làm (1976); Lawler và Hall (1970); Arshad
Đặc điểm công việc việc của nhà quản và cộng sự (2016); Griffeth và cộng
lý cấp trung sự (2000); Hackman và Oldham
(1975); Holtom và cộng sự (2008);
Arshadi và Shahbazi (2013);
McKnight và Kashdan (2009);
Slattery và cộng sự (2010); Schaufeli
và Bakker (2004).
Mayer và Salovey (1997); Mayer và
cộng sự (1990); Cooper (1996);
Goleman (1998); Hackman và Lawler
Động lực làm (1971); Chiu (1999); Zhou và Geogre
Năng lực cảm xúc việc của nhà quản (2003); Marlove (1986); Abraham
lý cấp trung (2000); Slaski và Cartwright (2002);
Mujtaba (2008); Kaifi (2020); Nguyễn
Thị Thanh Tâm (2012); Nguyễn Ngọc
Nguồn: Tổng hợp nghiên cứu của tác giả
Quỳnh Dao (2013)…
20
1.2. Khoảng trống và đề xuất nghiên cứu
1.2.1. Khoảng trống nghiên cứu
Như vậy, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về vấn đề tạo động lực cho
nhà quản lý cấp trung, các công trình này tập trung khai thác và đánh giá động lực trên
nhiều khía cạnh khác nhau như đặc điểm cá nhân, phong cách lãnh đạo, sự ghi nhận, sự
hài lòng với lãnh đạo, bản chất công việc và môi trường làm việc, văn hóa tổ chức, sự
tham gia vào quá trình ra quyết định…, đồng thời chỉ rõ được xu hướng tác động của
từng yếu tố đến động lực làm việc của đội ngũ quản lý cấp trung.
Bên cạnh đó, các tài liệu nghiên cứu về mối quan hệ giữa năng lực cảm xúc
và động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung cũng có những hạn chế nhất
định. Đầu tiên, các nghiên cứu này hầu hết chỉ mới dừng lại ở việc chỉ rõ các thang
đo đo lường chỉ số cảm xúc, vẫn còn rất ít các công trình nghiên cứu đề cập cũng
như có những kiểm định, đo lường sự tác động của nó đến động lực làm việc của
đội ngũ quản lý cấp trung. Bên cạnh đó, hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng có
sự tác động gián tiếp của năng lực cảm xúc đến động lực làm việc thông qua các
yếu tố trung gian khác nhau. (Barrick và Mount, 1991; Griffeth và cộng sự , 2000;
Grzywacz và cộng sự , 2002; Judge và cộng sự, 2002; Zimmerman, 2008), phần lớn
các nghiên cứu đã áp dụng quan điểm phổ quát và chỉ xem xét tác động gián tiếp của
năng lực cảm xúc đối với động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung (Ghosh và
cộng sự , 2015; Broeck và cộng sự , 2008). Hơn nữa, với nhà quản lý cấp trung, đội
ngũ trung gian và kế cận với nhà lãnh đạo thì việc xem xét mối quan hệ tác động cụ
thể của các yếu tố năng lực cảm xúc đến động lực làm việc càn ít được nghiên cứu
chuyên sâu và tìm ra các tác động, cũng như chiều hướng tác động của nó.
Ngoài ra, tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ, vấn đề
này hầu như chưa có nghiên cứu cụ thể. Thực tế cho thấy, trình độ của đội ngũ nhà
quản lý cấp trung trong các DNNVV trong khu vực Bắc Trung Bộ còn khá thấp so
với mặt bằng chung về trình độ của các nhà quản lý trong cả nước. Cách thức quản
lý trong nhiều trường hợp vẫn còn mang tính áp đặt, rập khuôn, ít có sự đổi mới về
mặt tư duy, sáng tạo và hướng tới quá trình làm việc chủ động, khuyến khích nhân
viên. Đồng thời, về khía cạnh năng lực cảm xúc và có những đánh giá cụ thể về sự
cần thiết của nó đối với hoạt động quản lý thì vẫn thường bị xem nhẹ và hầu hết
21
không nhận thấy được tầm quan trọng của nó. Vì vậy, ngoài việc kiểm định cụ thể
hơn các yếu tố tác động đến động lực của nhà quản lý cấp trung, nghiên cứu tập
trung phân tích, đo lường khía cạnh cảm xúc, đánh giá mức độ tác động của năng
lực cảm xúc, sự thay đổi của nó tác động như thế nào đến động lực làm việc và qua
đó chi phối tới hiệu quả trong công việc của đội ngũ nhà quản lý cấp trung tại các
doanh nghiệp nhỏ và vừa khu vực Bắc Trung Bộ.
Đồng thời, đi sâu vào yếu tố năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung,
các yếu tố nhân khẩu học như giới tính, độ tuổi, thâm niên công tác chưa được các
nghiên cứu khai thác triệt để. Đặc trưng của yếu tố nhân lực trong mọi tổ chức là sự
khác biệt về giới tính, kỹ năng, kinh nghiệm…Cả nhà quản lý nam hay nữ đều có
thể tăng năng lực cảm xúc để tác động vào tính hiệu quả trong công việc của họ.
Tuy nhiên, với các mối quan hệ về cơ bản là khác nhau, giới tính có thể là một yếu
tố cho thấy sự khác biệt về năng lực cảm xúc trong nhà quản lý cấp trung. Tương tự
là các yếu tố về độ tuổi và thâm niên công tác. Vì vậy, đây cũng chính là một
khoảng trống, cần được nghiên cứu và phân tích sâu hơn. Chỉ rõ có hay không sự
khác biệt về năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung đối với các yếu tố nhân
khẩu học bao gồm: giới tính, độ tuổi và thâm niên công tác.
1.2.2. Đề xuất nghiên cứu
Với mục tiêu xây dựng mô hình và kiểm định các nhân tố tác động đến
động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở
khu vực Bắc Trung Bộ, trên cơ sở tổng quan nghiên cứu, luận án mong muốn đi
sâu nghiên cứu, phân tích và chỉ ra các nhân tố có tác động cụ thể. Đặc biệt, với
nhân tố năng lực cảm xúc được xem là một trong những nhân tố đặc biệt quan
trọng, có tác động không nhỏ đến mức độ nhạy cảm trong việc đưa ra các quyết
định quản lý của nhà quản trị cấp trung và chi phối tới hiệu suất làm việc của họ.
Luận án mong muốn kiểm định, làm rõ hơn tác động của nhân tố này, đồng thời
xác định thứ tự và chiều hướng tác động của từng nhân tố đối với động lực làm
việc của nhà quản lý cấp trung.
Ngoài ra, luận án cũng được thực hiện với mục tiêu kiểm định sự khác biệt
của nhân tố năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung theo các biến nhân khẩu
học bao gồm: (1) Giới tinh; (2) Độ tuổi; (3) Thâm niên công tác. Thực tế cho thấy,
22
các nhân tố về giới tính, độ tuổi hay thâm niên công tác, phần nào đó đã có những
sự tác động cụ thể đến các quyết định trong quản lý của nhà quản lý cấp trung, khả
năng thấu hiểu, mức độ nhạy cảm trong quản lý đều có thể bị chi phối bởi các nhân
tố này. Vì vậy, với mong muốn chỉ rõ sự khác biệt cụ thể về động lực của nhà quản
lý cấp trung theo các biến nhân khẩu học này, luận án kỳ vọng đây sẽ là một điểm
đóng góp quan trọng của luận án, có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn, giúp cho
các nhà quản lý cấp trung thấy được tính chất thực tế của từng yếu tố, tầm quan
trọng của nó đối với động lực làm việc cũng như các quyết định quản lý của mình.
Từ đó, giúp họ có thể đưa ra các cách thức nhằm khắc phục những hạn chế, tận
dụng thế mạnh và nâng cao được động lực của bản thân trong công việc, có tác
dụng hữu hiệu trong hiệu quả của các quyết định quản lý, đồng thời sẽ là cơ sở cho
các công trình nghiên cứu tiếp theo.
23
TÓM TẮT CHƢƠNG 1
Các nhân tố tác động đến động lực của nhà quản lý cấp trung được nhiều nhà
nghiên cứu đề cập đến trong các công trình nghiên cứu của mình. Các công trình
này tập trung khai thác và đánh giá động lực trên nhiều khía cạnh khác nhau như
đặc điểm cá nhân, phong cách lãnh đạo, sự ghi nhận, sự hài lòng với lãnh đạo, bản
chất công việc và môi trường làm việc, văn hóa tổ chức, sự tham gia vào quá trình
ra quyết định…, đồng thời chỉ rõ được xu hướng tác động của từng yếu tố đến động
lực làm việc của nhà quản lý cấp trung.
Nội dung của chương 1 đề cập tổng quan các nghiên cứu về nhân tố tác động
đến động lực của nhà quản lý cấp trung, đặc biệt tập trung làm rõ các nghiên cứu về
đặc điểm công việc và năng lực cảm xúc, phân tích nội dung và đánh giá các nghiên
cứu. Từ đó, chỉ ra khoảng trống và đề xuất trong nghiên cứu.
24
CHƢƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1. Nhà quản lý cấp trung và tạo động lực cho nhà quản lý cấp trung
2.1.1. Nhà quản lý cấp trung và vai trò của nhà quản lý cấp trung
2.1.1.1. Khái niệm
―Lao động quản lý là tất cả những người lao động hoạt động trong bộ máy
quản lý và tham gia vào việc thực hiện các chức năng quản lý‖ [20, trang 135].
Theo vai trò, chức năng của hoạt động quản lý thì lao động quản lý được
phân thành: các lao động quản lý kỹ thuật; lao động quản lý kinh tế; lao động quản
lý hành chính.
Lao động quản lý kỹ thuật trải qua quá trình đào tạo ở các cơ sở hoặc được
học tập trong sản xuất thực tế có trình độ kỹ thuật tương tự. Đây là những người
trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức công tác kỹ thuật trong doanh nghiệp.
Lao động quản lý kinh tế là những người làm công nhiệm tổ chức, quản lý
các hoạt động kinh doanh, sản xuất như: Giám đốc, phó giám đốc phụ trách kinh
doanh, cán bộ quản lý các bộ phận trong doanh nghiệp.
Lao động quản lý hành chính làm công tác quản lý nhân sự, quản trị hành
chính, bảo vệ thường trực, vệ sinh, phòng chữa cháy, tạp vụ…
Theo các cấp quản trị, lao động quản lý được chia thành ba cấp: Nhà quản lý
cấp cao; Nhà quản lý cấp trung; Nhà quản lý cấp cơ sở.
Nhà quản lý cấp cao là những người đứng đầu tổ chức, chịu trách nhiệm đưa
ra các mục tiêu mang tính chiến lược và quản lý tổng thể một tổ chức. Kỹ năng
quan trọng nhất của họ là kỹ năng tư duy, ra quyết định.
Nhà quản lý cấp trung là cấp trung gian giữa cấp cao và cấp cơ sở, có nhiệm
vụ đưa ra các mục tiêu mang tính chiến thuật, quản lý các phòng ban, bộ phận trong
tổ chức đồng thời tham mưu cho nhà quản lý cấp cao trong các quyết định liên quan
đến bộ phận mà mình quản lý như các trưởng, phó các phòng ban trong tổ chức. Kỹ
năng quan trọng hàng đầu của họ là kỹ năng quan hệ.
Nhà quản lý cấp cơ sở là những người có nhiệm vụ quản lý trực tiếp nhận
viên dưới quyền và đưa ra các kế hoạch mang tính tác nghiệp. Nhà quản lý cấp cơ
25
sở bao gồm các tổ trưởng, quản đốc… cần có kỹ năng chuyên môn cao và hỗ trợ
cho nhân viên quá trình trong làm việc.
2.1.1.2. Vai trò của nhà quản lý cấp trung
Vai trò đại diện cho tổ chức, bộ phận trong doanh nghiệp: với quyền hạn của
mình, lao động quản lý là những người đại diện cho tổ chức, thể hiện vai trò đại
diện của mình trong tổ chức, bộ phận. Đưa ra các quyết định trong quản lý, tạo sự
gắn kết, khuyến khích, phát huy năng lực, quá trình làm việc của nhân viên.
Thể hiện vai trò lãnh đạo trong doanh nghiệp: Nhà quản trị đóng nhiệm vụ là
người lãnh đạo, dẫn dắt nhân viên cùng thực hiện các quá trình, nhiệm vụ của doanh
nghiệp. Phạm vi quản lý của nhà quản trị rất rộng, bao gồm từ việc tìm kiếm, tuyển
người, xây dựng, đào tạo, kiểm tra, đánh giá, khen thưởng.
Là cầu nối giữa các lao động, bộ phận của doanh nghiệp: lao động quản lý
thể hiện vai trò xây dựng, duy trì các quan hệ với các cá nhân, tập thể trong và
ngoài tổ chức.
Giữ vai trò quyết định các vấn đề trong tổ chức: triển khai xây dựng, phê
duyệt các quyết định quan trọng trong tổ chức. Quyết định những vấn đề chủ yếu
của doanh nghiệp, sử dụng và phân phối nguồn lực một cách hiệu quả, tạo sự thống
nhất trong doanh nghiệp.
Luận án nghiên cứu tác động của các nhân tố tới động lực làm việc của các
nhà quản lý cấp trung. Đây là cấp quản lý trung gian giữa quản trị cấp cao và nhà
quản trị cấp cơ sở, nhân viên trong doanh nghiệp, chịu trách nhiệm quản lý từng bộ
phận phụ trách, đồng thời tham mưa cho nhà quản lý cấp cao các quyết định quan
trọng liên quan những vấn đề thuộc phạm vi đảm nhận trong tổ chức bao gồm các
phó phòng, trưởng phòng… trong doanh nghiệp. Năng lực làm việc của họ có tác
động mạnh mẽ đến hoạt động chung và sự đi lên của doanh nghiệp.
Nhà quản lý cấp trung sẽ là người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tổ chức, triển
khai và thực hiện hóa các thông tin, chính sách của các nhà quản lý cấp cao đối với
nhân viên cấp dưới. Ngoài ra, các nhà quản lý cấp trung được coi là cầu nối liên lạc
giúp truyền đạt thông tin về các mục tiêu, chiến lược, chính sách…của cấp trên cho
các cấp dưới. Đồng thời họ cũng là người nắm giữ vai trò ra quyết định đối với các
vấn đề nằm trong phạm vi thẩm quyền của họ.
26
Bên cạnh đó, nhà quản lý cấp trung còn có vai trò trong việc quản lý nhân sự,
quản lý công việc trong bộ phận. Theo đó họ phải là người nắm rõ nhất mục tiêu, tiến
độ và cách thức triển khai công việc có hiệu quả nhất. Đồng thời chịu trách nhiệm tất
cả về mảng công việc mà họ đảm nhiệm trong tổ chức. Hơn nữa, họ sẽ là người quản
lý và phân công từng nhiệm vụ công việc cho các nhân viên trong bộ phận quản lý.
Điều này phải đảm bảo năng suất lao động, hiệu quả công việc là tốt nhất.
Bên cạnh đó, nhà quản lý cấp trung còn thể hiện vai trò lãnh đạo, vai trò
như một khách hàng, một nhà cung cấp thông tin hoặc là người đồng hành, tư
vấn, tham mưu…
2.1.2. Động lực và tạo động lực cho nhà quản lý cấp trung
2.1.2.1. Các lý thuyết cổ điển về động lực làm việc
Lý thuyết tháp nhu cầu (Maslow)
―Lãnh đạo là nhân tố quan trọng trong việc chỉ đạo tất cả các thành phần tổ
chức hướng tới hoàn thành hiệu quả các mục tiêu tổ chức. Tuy nhiên, để lãnh đạo
có hiệu quả, cần thiết phong cách lãnh đạo tương thích với nhu cầu của người lao
động. Nhu cầu của con người là một cảm giác, một trạng thái về sự thiếu thốn, về sự
trống trải về mặt vật chất và tinh thần mà họ mong muốn được đáp ứng. Abraham
Maslow đã nghiên cứu và cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của
họ.‖ (Maslow, 1943).
Lý thuyết của Maslow về sự phát triển cá nhân và động lực được công bố
vào năm 1943. Theo ông, nhu cầu được chia thành 5 thứ bậc phát triển tuần tự từ
thấp đến cao gồm có: sinh lý; an toàn; xã hội; được tôn trọng; tự thể hiện.
Nhu cầu chính là cơ sở hình thành nên động cơ thúc đẩy quá trình hành động
của con người. Tuy nhiên, khi một nhu cầu nào đó đã được thỏa mãn thì nó không
còn là động cơ hiện hữu nữa, và người ta lại cố gắng tìm cách thỏa mãn nhu cầu
quan trọng nhất tiếp theo. Nhu cầu bậc cao chỉ được thúc đẩy khi những nhu cầu
bậc thấp hơn đã được thỏa mãn.
Học thuyết về hệ thống hai yếu tố (Frederic Herzberg).
―Học thuyết này dựa trên cơ sở quan điểm tạo động lực là kết quả của sự tác
động của nhiều yếu tố. Trong đó có các yếu tố tạo nên sự thoả mãn và không thoả
mãn. Bản thân mỗi yếu tố đều bao gồm cả hai mặt trên tuỳ thuộc vào việc nó được
27
thực thi như thế nào, được đáp ứng như thế nào để thấy rõ bản chất của các yếu tố‖
(Heizberg, 1968). Ông phân chia các yếu tố có tác động đến động lực thành hai
nhóm: nhóm yếu tố thúc đầy và nhóm yếu tố duy trì.
Học thuyết tiếp cận theo khía cạnh khác, Heizberg (1968) cho rằng có hai
nhóm yếu tố tác động đến vấn đề tạo động lực cho người lao động đó là nhóm yếu
tố môi trường (duy trì) có tác dụng ngăn sự không thỏa mãn, ngăn ngừa con người
vào trạng thái trầm uất (khủng hoảng thần kinh), phá hoại tổ chức.
Học thuyết này đề cao môi trường, đề cao sự phân chia trách nhiệm. Nhằm
phát huy động lực làm việc cần thiết phải tạo môi trường làm việc hợp lý, nhấn
mạnh vai trò của phân tích công việc hợp lý phù hợp với khả năng sở trường của
người lao động và cần phân tích chỉ ra cơ sở hợp lý.
Học thuyết tăng cƣờng tích cực (BF. Skinner)
Điểm chú ý ở học thuyết này là Skinner hướng vào khía cạnh vì con người.
Theo Skinner (1968) hành vi người lao động hướng vào hai nhóm hành vi: hành vi
tích cực và hành vi tiêu cực. Và tương ứng với nó để quản lý các hành vi này có hai
công cụ song song tồn tại là thưởng và phạt. Khi áp dụng thưởng thì hành vi đó có
xu hướng lặp lại. Khi áp dụng phạt thì hành vi đó có xu hướng bỏ dần
Tuy nhiên, nếu nhấn mạnh quá về phạt sẽ gây ra phản ứng tiêu cực (người
lao động sẽ đình công). Không tổ chức nào dùng thử nhiều quá (bởi vì đây là vấn đề
chia miếng bánh, người sử dụng lao động sẽ dùng quyền của mình.Vì vậy sử dụng
công cụ nào, vào lúc nào là hợp lý
Với nội dung xây dựng của mình, học thuyết có ý nghĩa yêu cầu các doanh
nghiệp Phải xây dựng chuẩn mực hành vi và thông báo cho người lao động hiểu rõ:
tích cực và tiêu cực…Thế nào là tích cực, thế nào là tiêu cực? Quy định rõ mức
thưởng, phạt theo nhóm hành vi đặt ra và thực hiện nghiêm túc với tất cả mọi người
trong tổ chức.
Học thuyết công bằng (Adams)
―Người lao động thường muốn đối xử công bằng, người lao động thường có
xu hướng so sánh tỷ số cá nhân với tỷ số những người khác trong tổ chức. Nếu tỷ
suất của họ là ngang bằng với tỷ suất của những người khác, thì người ta cho rằng
đang tồn tại một tình trạng công bằng. Nếu như tỷ suất này là không ngang bằng, thì
28
họ cho rằng đang tồn tại một tình trạng bất công. Khi tồn tại những điều kiện bất
công, các nhân viên sẽ nỗ lực để hiệu chỉnh chúng‖ (Adams, 1963).
Học thuyết nhấn mạnh tầm quan trọng của đối xử công bằng trong tổ chức.
Và để tạo công bằng phải xác định đóng góp của người lao động đó chính là cơ sở
ra quyết định về mặt nhân sự. Xây dựng hệ thống đóng góp công việc công bằng,
khoa học.
2.1.2.2. Động lực và tạo động lực cho nhà quản lý cấp trung
Mỗi cá nhân, bộ phận trong doanh nghiệp đều có những mong muôn, nhu
cầu khác nhau trong thực hiện nhiệm vụ của cá nhân và tổ chức. Kỳ vọng của nhân
viên hay nhà quản lý sẽ là điều kích thích họ tăng cường sự cố gắng nỗ lực hơn làm
việc. Với một cá nhân, động lực làm việc có thể xuất phát từ nhiều lý do như thăng
tiến trong công việc, lương, thưởng, môi trường làm việc phù hợp…hay đối với nhà
quản lý, có thể là kết quả thực hiện công việc, sự ủng hộ của lãnh đạo và nhân viên
cấp dưới… Hackman và Oldham (1980) đã biệu hiện trạng thái trong đó lao động
cố gắng hoàn thành hiệu quả công việc và tạo sự thỏa mãn trong làm việc như là
một động cơ nội tại. Spector (1985) trong nghiên cứu về mức độ hài lòng trong
công việc ứng dụng trong các tổ chức phi lợi nhuận và dịch vụ đã xây dựng một mô
hình gồm các nhân tố đánh giá: sự giám sát; đồng nghiệp; lương; điều kiện làm
việc; cơ hội thăng tiến; phần thưởng; phúc lợi; công việc yêu thích; giao tiếp.
Động lực trong công việc xuất phát từ sự thỏa mãn của một cá nhân đối với
quá trình trong công việc và tổ chức mà họ đang làm việc. Những lao động có kinh
nghiệm và năng lực trong công việc tốt cũng có thể không phải khi nào hiệu quả
làm việc cũng tốt. Điều này có thể lý giải là do động lực của cá nhân đó chưa được
tăng cường đúng mức. Theo Maier và Lawler (1983):
Kết quả THCV = Khả năng * Động lực
Khả năng = Khả năng bẩm sinh * Đào tạo * Các nguồn lực
Động lực = Khát khao * Tự nguyện
―Động lực là sự khát khao, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ
lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức‖ [22, trang 128]. Động lực
không phải là cái gì cao xa là sự tự nguyện của con người, trên cơ sở tự nguyện
không bắt ép. Vấn đề là không phải khi nào và bao giờ lao động cũng tự nguyễn nỗ
29
lực vì nhiều lý do khác nhau do tính chất công việc và trong quá trình làm việc của
bản thân và tổ chức. Do vậy, nhà quản lý cần phải có cách thức hướng hành vi
người lao động tự nguyện đó chính là tạo động lực.
Lao động quản lý là những người đứng đầu tổ chức, họ có trách nhiệm đưa
ra các quyết định và dẫn dắt tổ chức. Hiệu quả hoạt động của họ chi phối tới hiệu
quả chung của toàn doanh nghiệp. Do vậy, tạo động lực cho lao động quản lý cũng
chính là quá trình xây dựng nền tảng vững chắc cho công tác tạo động lực nói
chung trong toàn bộ doanh nghiệp.
Luận án nghiên cứu tác động của các yếu tố tới động lực làm việc của các
nhà quản lý cấp trung. Đây là cấp quản lý trung gian giữa quản trị cấp cao và nhà
quản trị cấp cơ sở, nhân viên trong doanh nghiệp. Năng lực làm việc của họ có tác
động mạnh mẽ đến quá trình hoạt động chung và sự đi lên của doanh nghiệp.
Nhà quản lý cấp trung có nhiệm vụ xây dựng, triển khai các kế hoạch của
từng bộ phận mình phụ trách, quản lý nhân viên dưới quyền của mình dựa trên
những định hướng, quan điểm của nhà quản lý cấp trên và tiêu chuẩn đã xây dựng.
Họ đóng vai trò trung gian, đưa các thông tin về chiến lược, mục tiêu, kế hoạch
trong kinh doanh, quyết định của nhà quản lý cấp cao đến các nhân viên trong tổ
chức; Tổ chức hoàn thành công việc thích hợp với chính sách của công ty và mục
tiêu của ban lãnh đạo; Mô tả và thảo luận các thông tin và chính sách từ ban lãnh
đạo tới các quản lý cấp thấp; Quan trọng nhất, truyền cảm hứng và hướng dẫn cho
các nhà quản trị cấp thấp để giúp họ nâng cao hiệu suất và đạt tới các mục tiêu kinh
doanh; Quản lý cấp trung cũng có thể giao tiếp với cấp trên bằng cách đưa ra
những ý kiến và đề xuất với ban lãnh đạo. Vì các nhà quản lý cấp trung tham gia
nhiều hơn vào những công việc hằng ngày của công ty, họ có thể cấp những thông
tin giá trị cho các quản lý cấp cao, giúp họ nâng cao năng lực công việc, quản lý
nhân viên và tổ chức.
Nhà quản lý cấp trung là cần thiết. Nếu quan hệ giữa họ với cấp trên trực
tiếp bị đổ vỡ thì chẳng còn ưu đãi gì có thể thuyết phục được nhân viên ở lại
công ty. Việc xây dựng văn hóa phòng ban có ý nghĩa quan trọng đối với những
người làm việc, nó có tác động rất lớn đến động lực trong sự cố gắng của nhân
30
viên. Đây là nhân tố quyết định đến việc họ có ở lại công ty hay không. (Michael
và công sự, 2000).
Kết quả nghiên cứu của Buble và cộng sự (2014) cho thấy yếu tố chi phối
cho động lực của nhà quản lý là sự tham gia của họ vào việc ra quyết định, khiến họ
cảm thấy có trách nhiệm, và thêm vào đó, họ thấy phần thưởng vật chất là yếu tố
thúc đẩy đáng kể. Việc ra quyết định được định nghĩa là một quá trình xác định các
vấn đề và cơ hội để giải quyết chúng (Daft, 1997), và nó bao gồm các nỗ lực trước
và sau khi quyết định được đưa ra. Ai là người ra quyết định và mức độ nghiêm túc
của các cấp dưới liên quan đến quá trình ra quyết định có tác động đáng kể đến việc
thực hiện các quyết định được đưa ra.
Lãnh đạo là yếu tố quan trọng trong việc chỉ đạo tất cả các thành phần tổ
chức nhằm hoàn thành hiệu quả mục tiêu của tổ chức (Burns, 1978). Tuy nhiên, để
lãnh đạo có hiệu quả, cần thiết các phong cách lãnh đạo phải tương thích với nhu
cầu của người lao động (Argyris, 1976; Maslow, 1954).
Như vậy, động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung có thể hiểu là sự mong
muốn và tự nguyện của nhà quản lý cấp trung trong quá trình làm việc để phát huy tối
đa năng lực và nỗ lực nhằm đạt được những mục tiêu của cá nhân và tổ chức đề ra.
2.1.3. Các nhân tố tác động đến động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung
2.1.3.1. Đặc điểm cá nhân
Theo Cable và Judge (1996), nhận thức của cá nhân về sự phù hợp của giữa
giá trị bản thân với giá trị tổ chức sẽ tác động đến dự định làm việc và thái độ làm
việc trong tương lai. Họ cũng có xu hướng tìm kiếm mối liên hệ giữa tính
cách, những mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của cá nhân với nhận thức, cảm nhận về
doanh nghiệp. Cable và Judge (1996) chia đặc điểm cá nhân theo các yếu tố: sự phù
hợp của chuẩn mực cá nhân với tổ chức; sự phù hợp của mục tiêu cá nhân với mục
tiêu của tổ chức; sự phù hợp của tính cách cá nhân với đặc tính làm việc của tổ
chức; sự phù hợp với những giá trị và văn hóa của tổ chức.
2.1.3.2. Môi trường, điều kiện làm việc
Theo Balzel và cộng sự (1990), môi trường, điều kiện làm việc là nơi mà
nhân viên có thể đưa ra những phán xét, chính kiến của mình, nơi mà họ được trang
bị đầy đủ những công cụ, dụng cụ tiện nghi để làm việc, nơi mà họ được làm việc
31
trong một môi trường trong lành và độc lập. Đây cũng chính là những điều kiện làm
việc để giúp cho nhân viên, nhà quản lý thuận tiện trong thực thi công việc và từ đó
họ sẽ làm việc có hiệu quả hơn, có động lực và sự gắn kết làm việc cao hơn.
Theo Robbins (2003) thì môi trường làm việc là nơi mà người lao động cống
hiến mà tại đó họ luôn mong muốn có một môi trường làm việc an toàn, thoải mái
để có được động lực làm việc tốt nhất cho mình. Hầu hết mọi người đều muốn được
làm việc gần nơi ở, sạch sẽ và thiết bị phù.hợp, có hoàn toàn các thiết.bị cung ứng
cho lao động khi cần thiết.
Điều kiện làm việc tốt bao gồm môi.trường có đầy đủ công cụ để mong
muốn làm việc, phát triển, an toàn, giờ làm việc hợp lý, nơi làm.việc thân thiện,
đảm bảo yêu cầu vệ sinh, ít rủi ro, có đầy đủ quy trình bảo hộ lao động khi cần thiết
và được bố trí tốt. Điều kiện làm việc tốt sẽ có tác động tích cực đến sự hài lòng và
động lực làm việc của người lao động (Kovach, 1987). Theo Henzberg và cộng sự
(1959), yếu tố điều kiện làm việc thuộc nhóm thứ hai là môi trường làm việc. Yếu
tố này sẽ hạn chế sự bất mãn của mọi người và cùng góp phần làm tăng lên yêu tố
động lực, cố gắng của người lao động, cũng nhà nhà quản lý. Theo nghiên cứu của
Luthans (1998), nếu một người làm việc trong môi trường sạch sẽ, thân thiện, họ sẽ
cảm thấy thoải mái khi đi làm và ngược lại.
2.1.3.3. Đặc điểm công việc
Theo Henzberg và cộng sự (1959), công việc được xem như là việc thực hiện
nhiệm vụ và các tính chất của công việc đó. Công việc có thể được thực hiện nhiều lần
với cùng một lao động, có thể là thay đổi liên tục, cũng có thể mang tính đơn điệu.
Hackman và Oldham (1980) trong nghiên cứu động lực nội tại của nhân viên
đã mô tả trạng thái trong đó mọi người cố gắng làm việc tốt bởi công việc đang làm
và mang lại sự thỏa mãn như là một động lực nội tại. Tác giả cũng cho rằng yếu tố
mang lại động cơ cho nhân viên chính là nội dung công việc bởi các yếu tố: công
việc có sự phản hồi; sự tự chủ; có kết quả nhìn thấy rõ; tầm quan trọng; phát huy
các kỹ năng.
Công việc có sự phản hồi: thể hiện sự nhân thức về nội hàm công việc được
chia sẻ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, mang tính hoàn thiện, xây dựng nhằm đạt
hiệu lực trong công việc.
32
Tự chủ trong công việc: nhân viên cần nhận thức được các kết quả của
công việc sẽ phụ thuộc nhiều vào sự cố gắng, sáng kiến và mức độ thực thi trong
làm việc. Qua vậy, nhân viên sẽ có nhiều trách nhiệm hơn đối với kết quả trong
công việc.
Công việc có kết quả nhìn thấy rõ: công việc giao cho nhân viên có tính thời
điểm bắt đầu và kết thúc với một kết quả rõ ràng, nhìn thấy được.
Tầm quan trọng của công việc: thấy được tính quan trọng, ý nghĩa của bản
chất các loại hình công việc khác nhau với tổ chức,
Công việc phát huy đa dạng kỹ năng: ý nghĩa công việc mang lại với những
kỹ năng và năng lực làm việc khác nhau mà nhân viên phải đáp ứng.
2.1.3.4. Năng lực cảm xúc
Năng lực cảm xúc (EI) là yếu tố thiết yếu, quyết định thành công trong công
việc và cuộc sống. Tâm lý tốt dường như đóng vai trò quan trọng trong việc hình
thành sự tương tác giữa người quản lý và nhân viên trong môi trường làm việc của
họ (Hassan và cộng sự, 2012).
Theo Mayer và Salovey (1997), năng lực cảm xúc là năng lực nhân thức,
đánh giá và bộc lộ xúc cảm, năng lực tiếp cận và tạo ra xúc cảm khi những xúc cảm
này tạo điều kiện cho tư duy thúc đẩy, năng lực hiểu cảm xúc, có kiến thức về xúc
cảm và điều chỉnh những xúc cảm. Các chỉ số năng lực cảm xúc và sự vận dụng của
nó đối với nhà quản lý có ý nghĩa quan trọng, chi phối tới các quyết định quản lý,
tác động đến yếu tố nhạy bén trong công việc, quá trình thiết lập, duy trì và phát
triển các mối quan hệ trong doanh nghiệp, tác động đến niềm tin, sự gắn kết và hiệu
quả hoạt động kinh doanh.
Mayer và công sự (1990) đề xuất phương pháp đo lường EI. Phép đo này
được xây dựng nhằm đo lường các kĩ năng sẽ tác động đến năng lực của một cá
nhân khi đối mặt với những rủi ro của môi trường và áp lực trong cuộc sống một
cách hiệu quả. Phép đo này đề cập 5 yếu tố: Sự hiểu biết của bản thân bao gồm các
năng lực tự nhận biết, tự quyết, và khả năng đánh giá bản thân khách quan; Mối
quan hệ bao gồm các năng lực như sự đồng cảm, khả năng thực hiện… Kiểm soát
căng thẳng, gồm các kĩ năng như đánh giá thực tiễn, kỹ năng giải quyết vấn đề; Khả
năng thích ứng gồm khả năng chịu căng thẳng, khả năng kiểm soát xung tính. Tâm
33
trạng cá nhân gồm khả năng giữ trạng thái tâm lý vui vẻ, lạc quan, hạnh phúc. Cảm
xúc trong các quyết định luôn có các mối lên quan chặt với nhau. Cooper (1996)
đưa ra thang đo EQ phân năng lực cảm xúc chia thành các yếu tố gồm: Môi trường
hiện tại; Hiểu biết về cảm xúc; Năng lực của trí tuệ cảm xúc; Các giá trị và thái độ;
Kết quả. Một đề xuất đổi mới có thể được thực hiện thành công trong dự án nếu nỗ
lực được thực hiện đổi mới và có những mục tiêu được mong đợi cao, kết quả thuận
lợi và cam kết cao. Các công ty cần phải được thúc đẩy để áp dụng đổi mới, lạc
quan về kết quả và nỗ lực bổ sung. Các ưu đãi cho các bên hỗ trợ cần có ý nghĩa để
thuyết phục họ tham gia vào đổi mới. Ngoài ra, sự đổi mới nên được thiết kế sao
cho có thể thu hút tất cả các bên cùng nhau, và tất cả lợi ích của họ được chăm sóc,
xem trọng.
Goleman (1998) cho rằng năng lực cảm xúc là năng lực để nhận biết cảm
giác của chúng ta và những người khác để thúc đẩy bản thân mình, và để quản lý tốt
hơn cảm xúc trong chính mình và trong các mối quan hệ. Tác giả đề xuất bốn khía
cạnh quan trọng của năng lực cảm xúc bao gồm: (1) Tự nhận thức; (2) Tự quản lý;
(3) Nhận thức xã hội; (4) Quản lý mối quan hệ. Một nhà lãnh đạo có xu hướng ảnh
hưởng rất lớn đến suy nghĩ và động lực của mọi người.
Theo Daus và Ashkanasy (2005), năng lực cảm xúc là một yếu tố dự báo
quan trọng về kết quả của tổ chức, trong đó bao gồm cả sự hài lòng trong công việc.
Kết quả nghiên cứu của Kafetsios và Zampetakis (2008), Sy và cộng sự (2006),
Guleryuz và cộng sự (2008) cũng đã chứng minh rằng có sự tác động tích cực của
năng lực cảm xúc đến sự hài lòng trong công việc của nhà quản trị.
2.1.3.5. Văn hóa tổ chức
Jaques (1952) cho rằng văn hóa tổ chức là thói quen, suy nghĩ và cách thức
công việc được chia sẻ bởi tất cả các lao động, nhân viên trong tổ chức. Có thể nói
với những đặc trưng vốn có của văn hóa tổ chức như tính nhân sinh, tính giá trị hay
tính ổn định, văn hóa tổ chức có tác động không nhỏ tới các phong cách lãnh đạo,
cách thức quản lý và động lực của người lao động trong quá trình thực hiện các
nhiệm vụ của mình trong tổ chức.
Văn hóa tổ chức được coi là giá trị cốt lõi, là động lực phát triển trong suốt
thời kỳ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong nghiên cứu của mình,
34
Gatakaa (2013) đã chỉ ra nhóm 4 nhân tố của văn hóa tổ chức bao gồm các luồng cư
xử và quy tắc, giá trị tổ chức, các nghi lễ và nghi thức, lịch sử tồn tại và phát triển
của tổ chức tác động đến động lực làm việc của người lao động. Các yếu tố này đều
đề cao vai trò của nhân viên trong việc tham gia vào các quy tắc, giá trị, nghi thức
và hoạt động của tổ chức.
Mohammad (2011) đã chỉ ra rằng sự thành công của bất kỳ tổ chức nào phụ
thuộc vào sự phù hợp giữa cá nhân và văn hóa của tổ chức. Bất kỳ sự không phù
hợp nào giữa hai yếu tố này này đều có khả năng gây nguy hại cho năng suất và
thành công của tổ chức. Văn hóa tổ chức về cơ bản là tập hợp các nguyên tắc hoạt
động xác định cách mọi người cư xử bên trong của tổ chức. Văn hóa tổ chức là
một trong những công cụ để đảm bảo năng suất cao và thành công của tổ chức
thông qua việc tạo ra bầu không khí làm việc thuận lợi, đáp ứng các nhu cầu động
lực khác nhau của tất cả thành viên của tổ chức.
2.1.3.6. Sự tham gia vào quá trình ra quyết định
Buble và cộng sự (2014) đã chỉ ra mối quan hệ giữa phong cách và động lực
của người quản lý. Yếu tố chi phối cho động lực của nhà quản lý là sự tham gia của
họ vào việc ra quyết định. Theo World Bank (2000), Sự tham gia vào quá trình ra
quyết định là một quá trình tương tác và hợp tác trong phân tích, hoạch định và ra
quyết định trong đó có sự tham gia của tất cả các nhóm có liên quan. Nó là quá trình
cho phép những người tham gia trình bày những điều quan tâm và chú ý của họ, để
dẫn đến những quyết định hài hòa với lợi ích của các nhóm khác nhau. Sự hòa hợp
giữa những khả năng của nhà quản lý cấp trung và nhu cầu của doanh nghiệp làm
nên sự gắn bó cũng như tạo động lực cho cả hai bên. Cũng như về phía nhà quản lý
cấp trung, khơi gợi được niềm đam mê gắn liền với mục tiêu của công ty không chỉ
giúp ích cho chính bản thân họ mà còn thúc đẩy các thành viên cấp dưới hoàn thành
được các công việc được giao.
Việc ra quyết định được định nghĩa là một quá trình xác định các vấn đề và
cơ hội để giải quyết chúng (Daft, 1997), và nó bao gồm các nỗ lực trước và sau khi
quyết định được đưa ra. Ai là người ra quyết định và mức độ nghiêm túc của các
cấp dưới liên quan đến quá trình ra quyết định có tác động đáng kể đến việc thực
hiện các quyết định được đưa ra.
35
Ở vị trí nhà quản lý cấp trung, quyền lực bị giới hạn cũng như việc định
hướng về nhiệm vụ, mục tiêu chung của tổ chức không nằm trong phạm vi của các
quản lý. Tuy nhiên, không vì thế mà các nhà quản lý cấp trung không thể hiện vai
trò và trách nhiệm đối với chính bản thân và chính nhóm của họ. Để tạo động lực
và phát huy cao nhất hiệu quả làm việc, họ cần được khuyến khích và trao quyền
nhiều hơn trong quá trình ra quyết định, có sự đóng góp hữu hiệu cho các chính
sách mang tầm chiến lược, tổng thể của doanh nghiệp.
2.2. Một số lý thuyết cơ bản đƣợc áp dụng trong việc xây dựng mô hình
Luận án sử dụng lý thuyết đặc điểm công việc của Hackman và Oldham
(1980) và lý thuyết về thang đo EI của Mayer và Salovey (1997) làm cơ sở chính
cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu.
2.2.1. Lý thuyết đặc điểm công việc của Hackman và Oldham (1980)
Hackman và Oldham (1980) trong nghiên cứu động lực nội tại đã biệu hiện
trạng thái trong đó lao động cố gắng hoàn thành hiệu quả công việc và tạo sự thỏa
mãn trong làm việc như là một động cơ nội tại. Các tác giả cho rằng yếu tố mang lại
sự thỏa mãn cho mọi lao động chính là bản thân công việc do các yếu tố: công việc
phát huy đa dạng kỹ năng; công việc có kết quả nhìn thấy rõ; tầm quan trọng của
công việc; nhân viên được tự chủ trong công việc; công việc có sự phản hồi.
(1) Công việc phát huy đa dạng các kỹ năng (Skill variety): công việc tạo
điều kiện cho người lao động sử dụng và phát triển các kỹ năng cũng như những tài
năng của họ. Người lao động có nhu cầu cao về điều này. Nếu công việc giúp họ
phát triển hơn các năng lực chuyên môn, phát huy sở trường thì họ sẽ cảm thấy
được ý nghĩa của công việc họ đang làm từ đó hài lòng và có động lực nội tại trong
công việc tốt hơn.
(2) Nhiệm vụ rõ ràng, dễ nhận biết (task identity): công việc cho thấy rõ
mức độ phải hoàn thành từng phần và toàn bộ công việc. Việc thiết kế công việc đòi
hỏi phải cho người lao động thấy rõ từng phần công việc cụ thể và mức độ họ phải
hoàn thành công việc đó. Có được điều này cũng làm tăng động lực làm việc cho
người lao động.
(3) Tầm quan trọng (hay ý nghĩa) của công việc (task significance): công
việc có giá trị đối với người khác. Người lao động cảm thấy có động lực làm việc
36
hơn nếu họ cảm thấy giá trị công việc mình đang làm đối với người khác và đối với
cộng đồng.
(4) Sự tự chủ trong công việc (autonomy): công việc cho phép người lao
động được tự do, độc lập và có quyền quyết định trong việc lập kế hoạch và quá
trình thực hiện công việc đó. Sự tự chủ trong công việc khiến cho người lao động
cảm thấy trách nhiệm hơn với công việc. Nếu công việc cho phép người lao động có
được sự tự chủ, chất lượng công việc sẽ nâng lên.
(5) Công việc có sự phản hồi (feedback): công việc cho phép người lao
động nhận được thông tin trực tiếp, rõ ràng về việc thực hiện công việc. Hackman
và Oldham (1980) cho rằng, cùng với các đặc điểm công việc khác, nếu tổ chức có
được sự phản hồi về công việc, nhân viên sẽ hài lòng, động lực làm việc sẽ nâng
lên, người lao động sẽ ít vắng mặt và ít có ý định bỏ việc hơn.
Theo Hackman và Oldham (1980), ba khía cạnh đầu tiên của công việc là
công việc phát huy đa dạng các kỹ năng, nhiệm vụ rõ ràng và công việc có ý nghĩa
làm tăng giá trị của công việc đối với cá nhân. Người lao động cảm thấy công việc
mình làm có tầm quan trọng, giá trị và có ích đối với mọi người. Khía cạnh thứ tư
về sự tự chủ trong công việc cho thấy nếu người lao động được tự chủ trong công việc
sẽ khiến họ cảm thấy trách nhiệm đối với kết quả công việc. Và nếu công việc cung cấp
thông tin phản hồi (khía cạnh thứ 5), người lao động sẽ biết làm cách nào để thực hiện
được hiệu quả công việc. Từ những cảm nhận này sẽ dẫn tới biểu hiện tâm lý của cá
nhân (qua thái độ, hành vi) và kết quả trong công việc của người lao động.
2.2.2. Lý thuyết về thang đo EI của Mayer và Salovey (1997)
Mayer và Salovey (1997) đã chứng minh rằng, các năng lực này không chỉ
có quan hệ về mặt cấu trúc tâm lý mà hơn nữa chúng còn có quan hệ về qui trình
thứ tự hình thành theo thứ bậc của quá trình tâm lý. Mô hình EI 97 bao gồm các
năng lực:
(1) Năng lực nhận biết các cảm xúc: gồm một phức hợp các kỹ năng cho
phép một cá nhân biết cách cảm nhận, thấu hiểu và biểu lộ các cảm xúc. Các năng
lực cụ thể ở đây bao gồm nhận dạng những cảm xúc của mình và của người
khác, bày tỏ cảm xúc của mình và phân biệt được những dạng cảm xúc mà người
khác biểu lộ - thông qua những thông tin được truyền tải, tiếp nhận qua nét mặt,
37
giọng nói, cử chỉ, tư thế cơ thể, màu sắc và các dấu hiệu khác (như qua những
câu chuyện người đó kể, sở thích âm nhạc, nghệ thuật, hoăc những điều làm
người đó phấn khích…)
(2) Năng lực sử dụng các cảm xúc: năng lực này được hiểu là khả năng
của một cá nhân trong việc sử dụng cảm xúc để hỗ trợ óc phán xét và tư duy;
cảm xúc với những cách thức nhìn nhận mang lại các hình thái giải quyết trong
nhiệm vụ của công việc khác nhau.
(3) Năng lực thấu hiểu các cảm xúc và qui luật của cảm xúc: năng lực
này được hiểu là khả năng của một cá nhân trong việc hiểu rõ về cảm xúc và
nguyên nhân, tiến trình phát triển của cảm xúc, bao gồm các khả năng như định
nghĩa và phân biệt được các loại cảm xúc khác nhau (ví dụ sự khác biệt giữa
yêu và ghét), hiểu được sự pha trộn phức tạp của các loại tình cảm và đề ra các
quy luật về tình cảm: chẳng hạn sự tức giận loại bỏ được sự e thẹn, sự mất mát
thường kéo theo sự buồn chán
(4) Năng lực quản lý các cảm xúc: năng lực này được hiểu là khả năng
của một cá nhân trong việc kiểm soát, tự điều khiển các cảm xúc của bản thân,
sắp đặt các cảm xúc nhằm hỗ trợ một mục tiêu xã hội nào đó, điều khiển cảm
xúc của người khác. Ở mức độ phức tạp này năng lực cảm xúc gồm các kỹ năng
cho phép cá nhân tham gia có chọn lọc vào các loại cảm xúc nào đó hoặc thoát ra
khỏi những loại cảm xúc nào đó, để điều khiển, kiểm soát các cảm xúc của mình
và của người khác.
2.3. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
2.3.1.1. Đặc điểm công việc và động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung
2.3.1. Giả thuyết nghiên cứu
Hài lòng thể hiện đánh giá của người lao động về công việc và bối cảnh công
việc của họ. Wood và Jones (1995) định nghĩa các tổ chức là tập hợp những người
đang làm việc cùng nhau và hợp tác dựa trên sự phân công lao động để đạt được
mục đích chung. Nói chung, chủ sở hữu của một tổ chức không thể tự mình đạt
được mục tiêu. Nhân viên đại diện cho một loại tài sản có giá trị cho một tổ
chức. Hơn nữa, người ta thường đồng ý rằng hiệu suất cá nhân của nhân viên có tác
động đáng kể đến hiệu suất của tổ chức. Do đó, các nhà quản lý của các tổ chức
38
luôn cố gắng tìm cách kích thích động lực, trong đó đề cập đến các năng lực cá
nhân được phản ánh bởi mức độ, phương hướng và sự kiên trì nỗ lực trong công
việc của người lao động để cải thiện hiệu quả công việc của họ. Eskildsen và cộng
sự (2004) cho rằng có sự khác nhau về mức độ hài lòng trong công việc và động lực
làm việc đối với những nhân viên có trình độ học vấn khác nhau, những nhân viên
có trình độ học vấn cao sẽ ít hài lòng với công việc của họ hơn những người không
có trình độ học vấn cao. Năng lực, kỹ năng, kinh nghiệm làm việc là những yếu tố
quan trọng. Lao động có những nhu cầu, mục tiêu trong công việc khác nhau và có
sự chi phối không nhỏ tới sự nỗ lực của họ trong quá trình hoàn thành công việc.
Nhằm làm rõ hơn tác động của các yếu tố đặc điểm cá nhân của nhà quản lý cấp
trung đến động lực làm việc của họ tại các DNNVV ở khu vực Bắc Trung Bộ.
Michael và cộng sự (2000) trong nghiên cứu của mình cũng đã đưa ra các
đề xuất có giá trị có cho nhà quản lý đó là: thiết kế công việc linh động, tạo cho
nhân viên tính chủ động trong sắp xếp công việc, giảm áp lực giúp họ có thể cân
bằng giữa công việc và cuộc sống gia đình; Nhà quản lý cấp trung là quan trọng,
cần xây dựng mối quan hệ giữa các cấp trong công ty và văn hóa phòng ban có ý
nghĩa quan trọng. Cianci và Bierstaker (2009) nghiên cứu và chỉ rõ tác động của
sự ghi nhận, sự hài lòng với lãnh đạo, bản chất công việc và môi trường làm việc
đến động lực làm việc phù hợp tạo ra văn hóa làm việc chuyên nghiệp, có tác
động tạo sự gắn kết các mối quan hệ trong và ngoài doanh nghiệp, xây dựng bầu
không khí thân thiện, tăng cường sự hỗ trợ và phối hợp tốt trong công việc giữa
các cá nhân và bộ phận trong tổ chức. Tạo ra một môi trường cạnh tranh lành
mạnh, giảm thiểu các yếu tố mang tính tiêu cực trong các mối quan hệ có tác
động đến tâm lý và hiệu suất làm việc của người lao động. Giả thuyết được đặt ra:
Lý thuyết đặc điểm công việc của Hackman và Oldham (1980) mô tả trạng
thái cố gắng trong công việc nhằm đem lại sự thỏa mãn như là một động lực nội tại
bao dồm các yếu tố thuộc về bản chất công việc: Có sự phản hồi; Nhân viên được
chủ động trong làm việc; Công việc có kết quả rõ ràng; Tầm quan trọng của công
việc; Công việc có thể phát huy đa dạng kỹ năng. Tính chất, đặc trung các yếu tố
thuộc về công việc cũng như sự hỗ trợ trong quá trình làm việc có tác động rất lớn
đến sự cố gắng trong công việc. Kỹ năng của nhà quản lý cấp trung được xây dựng
39
dựa nhiều trên quá trình làm việc, kết hợp hài hòa và xây dựng mối quan hệ giữa
các cấp lãnh đạo và nhân viên thuộc quản lý. Do vậy, đặc trưng trong công việc
càng có ý nghĩa thiết thực hơn trong quá trình thể hiện các vai trò của nhà quản lý,
giúp họ vận hành công việc tốt hơn, đem lại sự thỏa mãn, hài lòng trong công việc,
tạo động lực làm việc hiệu quả hơn. Nghiên cứu lý thuyết đặc điểm công việc của
Hackman và Oldham (1980), tác giả đặt ra giả thuyết:
H1: Đặc điểm công việc tác động thuận chiều đến động lực làm việc của nhà
2.3.1.2. Năng lực cảm xúc và động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung
quản lý cấp trung tại các DNNVV ở khu vực Bắc Trung Bộ.
Thang đo EI của Mayer và cộng sự (1990) đề xuất đề cập 5 yếu tố: Sự hiểu
biết của bản thân; Kiểm soát căng thẳng; Kỹ năng giải quyết vấn đề; Khả năng thích
ứng; Tâm trạng cá nhân. Các năng lực cảm xúc không phải chỉ được tạo ra từ các
yếu tố bẩm sinh, mà quan trọng hơn, đó là quá trình học hỏi, đào tạo, tích lũy kỹ
năng, kinh nghiệm trong công việc. Yếu tố này rất cần thiết đối với nhà quản lý cấp
trung. Các chỉ số năng lực cảm xúc giúp nhà quản lý có thể kiểm soát tốt các mối
quan hệ trong và ngoài công việc, chi phối quá trình làm việc của nhân viên theo
chiều hướng tích cực hơn. Từ đó, tạo ra năng suất, động lực làm việc tốt hơn cho
nhân viên và chính bản thân các nhà quản lý.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu mối quan hệ giữa năng lực cảm xúc và
động lực làm việc của nhà quản trị. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra
rằng có sự tác động gián tiếp của năng lực cảm xúc đến động lực làm việc thông
qua các yếu tố trung gian khác nhau. Chiu (1999) xác định sự liên quan của trạng
thái tâm lý tích cực và động lực làm việc với sự tác động gián tiếp của sự cảm nhận
về trạng thái công bằng tổ chức trong chi trả tiền lương, sự thỏa mãn về tiền lương
và mức độ hài lòng trong công việc.
Các năng lực cảm xúc không phải chỉ được tạo ra từ các yếu tố bẩm sinh, mà
quan trọng hơn, đó là quá trình học hỏi, đào tạo, tích lũy kỹ năng, kinh nghiệm
trong công việc. Yếu tố này rất cần thiết đối với nhà quản lý cấp trung. Các chỉ số
năng lực cảm xúc giúp nhà quản lý có thể kiểm soát tốt các mối quan hệ trong và
ngoài công việc, chi phối quá trình làm việc của nhân viên theo chiều hướng tích
cực hơn. Từ đó, tạo ra năng suất, động lực làm việc tốt hơn cho nhân viên và
40
chính bản thân các nhà quản trị. Như vậy, liệu có sự tác động trực tiếp của yếu tố
năng lực cảm xúc của nhà quản trị cấp trung đến động lực làm việc của họ hay
không. Đây chính là khoảng trống nghiên cứu mà tác giả muốn làm rõ. Giả
thuyết được đặt ra:
H2: Năng lực nhận biết cảm xúc tác động thuận chiều đến động lực làm việc
của nhà quản lý cấp trung tại các DNNVV ở khu vực Bắc Trung Bộ.
H3: Năng lực sử dụng cảm xúc tác động thuận chiều đến động lực làm việc
của nhà quản lý cấp trung tại các DNNVV ở khu vực Bắc Trung Bộ.
H4: Năng lực thấu hiểu cảm xúc tác động thuận chiều đến động lực làm việc
của nhà quản lý cấp trung tại các DNNVV ở khu vực Bắc Trung Bộ.
H5: Năng lực quản lý cảm xúc tác động thuận chiều đến động lực làm việc
của nhà quản lý cấp trung tại các DNNVV ở khu vực Bắc Trung Bộ.
2.3.1.3. Sự khác biệt về năng lực cảm xúc theo các đặc điểm nhân khẩu học
của nhà quản lý cấp trung
* Khác biệt về năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung theo giới tính
Giới tính được coi là một trong những đặc điểm quan trọng, có sự chi phối
nhất định tới phong cách quản lý và thực tế đôi khi yếu tố này còn tác động đến sự
nhất quán trong các quyết định quản lý. Với năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp
trung, các kết luận về mức độ khác biệt theo giới tính cũng có sự khác biệt, điều này
một phần xuất phát từ tính chất vùng miền, văn hoá xã hội và cả chính sách của
từng địa phương, quốc gia.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến mối quan hệ giữa năng lực
cảm xúc của nhà quản lý cấp trung theo giới tính. Tuy nhiên, quan điểm của các
nghiên cứu cho thấy sự không đồng nhất giữa các kết luận. Có nhiều quan điểm ủng
hộ sự khác biệt về năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung theo độ tuổi như
trong nghiên cứu của Cavallo và Brienza (2002), kết quả đã nhận thấy sự khác biệt
về năng lực cảm xúc giữa nam giới và nữ giới đối với nhà quản lý, cụ thể nữ giới
có sự đồng cảm, quan hệ giữa các cá nhân và trách nhiệm xã hội cao hơn sơ với
nam giới, trong khi nam giới có điểm số cao hơn ở khả năng thực hiện công việc và
khả năng thích ứng với môi trường hoàn cảnh. Goleman (2000) trong nghiên cứu
về mô hình năng lực cảm xúc EI của nhà quản lý cấp trung đã cho thấy nhiều điểm
41
tương đồng hơn sự khác biệt giữa hai giới. Mỗi giới có điểm mạnh riêng về các yếu
tố cấu thành EI, cụ thể nữ giới có xu hướng điểm số tốt hơn trung bình so với nam
giới ở sự đồng cảm, trong khi nam giới có xu hướng điểm số tốt hơn so với nữ giới
ở việc tự quản lý bản thân.
Tương tự, Mandell và Pherwani (2003) trong nghiên cứu về mối quan hệ
giữa năng lực cảm xúc và nhà quản lý đã tìm thấy một sự khác biệt đáng kể về năng
lực cảm xúc của các nhà quản lý nam và nữ, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các
nhà quản lý là nữ giới có thể sử dụng năng lực cảm xúc trong quản lý tại nơi làm
việc tốt hơn so với các nhà quản lý là nam giới.
Ngược lại, kết quả của nhiều nghiên cứu lại cho thấy điểm tương đồng và
Nikolaou và Tsaousis (2002), trong nghiên cứu của mình về năng lực cảm xúc của nhà
quản lý cấp trung đã kết luận không có sự khác biệt đáng kể giữa nam và nữ về điểm
tổng thể, nhưng về nhận thức cảm xúc nữ giới có thể đạt điểm số cao hơn so với nam
giới. Brooks (2002) nhận thấy rằng giới tính không thể hiện sự khác biệt về năng lực
cảm xúc của các nhà quản lý cấp trung.
Như vậy, với các kết luận khác nhau giữa các công trình nghiên cứu, cần có sự
kiểm định rõ ràng hơn để làm rõ mối quan hệ này đối với các nhà quản lý cấp trung với bối
cảnh là các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ. Giả thuyết được đặt ra:
không có sự khác biệt về năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung theo giới tính.
H6a: Có sự khác biệt về năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung theo
giới tính.
Trong nghiên cứu của mình Goleman (2001) đã chỉ ra rằng năng lực cảm xúc
của mối cá nhân nói chung và nhà quản lý nói riêng có xu hướng thay đổi và tăng lên
theo thời gian, cùng với sự gia tăng của tuổi thọ cá nhân đó. Tương tự, các nghiên cứu
của Mayer và cộng sự (1995); Mayer và Geher (1996) cũng đồng nhất quan điểm và
kết luận cho thấy sự khác biệt về năng lực cảm xúc của các nhà quản lý theo độ tuổi.
Nghiên cứu của Nikolaou và Tsaousis (2002) chứng minh được rằng có một mối quan
hệ giữa năng lực cảm xúc và độ tuổi của nhà quản lý.
Ngược lại, cũng có nhiều nghiên cứu chỉ ra sự không tồn tại trong mối quan hệ
giữa năng lực cảm xúc và độ tuổi của nhà quản lý như trong nghiên cứu của Slaski và
* Khác biệt về năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung theo độ tuổi
Cartwright (2002), các tác giả trên đã nghiên cứu và chỉ ra kết luận rằng không có cơ
sở để khẳng định sự khác biệt về năng lực cảm xúc của nhà quản lý theo độ tuổi.
Như vậy, cũng như đặc điểm về giới tính, xét về năng lực cảm xúc theo độ tuổi
của các nhà quản lý thì từ trước đến nay, kết quả của các nghiên cứu đã cho thấy sự
không đồng nhất. Đặc biệt, các nghiên cứu gần như chưa đề cập đến sự khác biệt của
năng lực cảm xúc theo độ tuổi đối với riêng các nhà quản lý cấp trung. Vậy với bối
cảnh là các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ, sự khác biệt này có hay
không, giả thuyết được xây dựng trong nghiên cứu:
42
H6b: Có sự khác biệt về năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung theo độ tuổi.
* Khác biệt về năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung theo thâm
niên công tác
Thâm niên công tác được coi là một trong yếu tố quan trọng tác động đến
kinh nghiệm làm việc cũng như sự sáng suốt trong từng quyết định quản lý. Năng
lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung được cho là có mối quan hệ với các quyết
định và hiệu quả trong công tác quản lý của các nhà quản lý cấp trung. Điển hình
như trong nghiên cứu của mình, Carmeli (2003) đã chứng minh được rằng các nhà
quản lý cấp trung với năng lực cảm xúc cao thường có thái độ làm việc tích cực và
hiệu quả hơn. Tương tự như vậy, Zhou và George (2003) cũng cho rằng các nhà
quản lý với năng lực cảm xúc cao có thể sử dụng cảm xúc để tạo thuận lợi cho quá
trình nhận thức, xác định nội hàm vấn đề để đưa ra các quyết định quản lý nhanh
chóng và phù hợp hơn. Tương tự, Goleman (2001) khi nghiên cứu về mốc thời gian
làm việc cũng đã chỉ ra rằng năng lực cảm xúc của mối cá nhân nói chung và nhà
quản lý nói riêng có xu hướng thay đổi và tăng lên theo thời gian.
Tuy vậy, nếu xét riêng về thâm niên công tác cụ thể trong từng doanh nghiệp
thì hầu như các nghiên cứu chưa đề cập đến trong mối quan hệ với năng lực cảm
xúc của nhà quản lý cấp trung. Thực tế cho thấy, các nhà quản lý cấp trung với thâm
niên làm việc lâu năm tại một doanh nghiệp thường có những quyết định sáng suốt
hơn, họ có thể dựa trên kinh nghiệm làm việc, dựa trên các mối quan hệ và sự nhạy
cảm trong cảm xúc cá nhân để có được những quyế định chính xác. Và để kiểm
chứng điều này, cũng như cho thấy sự khác biệt về năng lực cảm xúc của nhà quản
lý cấp trung theo thâm niên công tác tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực
Bắc Trung Bộ, tác giả xây dựng giả thuyết nghiên cứu:
43
H6c: Có sự khác biệt về năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung theo
thâm niên công tác.
2.3.2. Mô hình nghiên cứu
Dựa trên tổng quan nghiên cứu và khung lý thuyết, mô hình nghiên cứu
được xây dựng bao gồm có 2 biến độc lập chính là năng lực cảm xúc và đặc
điểm công việc. Trong đó biến năng lực cảm xúc bao gồm 4 biến thành phần là
(1) Năng lực nhận biết cảm xúc; (2) Năng lực sử dụng cảm xúc; (3) Năng lực
thấu hiểu cảm xúc; (4) Năng lực kiểm soát cảm xúc. Biến phụ thuộc trong mô
hình là động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung.
Ngoài ra, để kiểm định sự khác biệt về năng lực cảm xúc đối với nhà
quản lý cấp trung, nghiên cứu cũng xây dựng mô hình với nhóm biến các đặc
điểm nhân khẩu học bao gồm: giới tính, độ tuổi và thâm niên công tác.
44
H1 (+)
Đặc điểm công việc
H2 (+)
H3 (+)
Năng lực nhận biết cảm xúc
Năng lực sử dụng cảm xúc
Động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung
H4 (+)
Năng lực cảm xúc
Năng lực thấu hiểu cảm xúc
H5 (+)
H6
Các đặc điểm nhân khẩu học
Năng lực quản lý cảm xúc
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu
Tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu như sau:
DL = β0 + β1*CV + β2*NBCX + β3*SDCX+ β4*THCX+ β5*KSCX
Trong đó:
CV: Đặc điểm công việc
NBCX: Biến nhận biết cảm xúc
SDCX: Biến sử dụng cảm xúc
THCX: Biến thấu hiểu cảm xúc
KSCX: Biến kiểm soát cảm xúc
45
TÓM TẮT CHƢƠNG 2
Trên cơ sở tổng quan lý thuyết cơ sở, phân tích các nghiên cứu liên quan.
Chuyên đề nhằm khái quát hóa các nội dung của luận án, xây dựng mô hình và giả
thuyết nghiên cứu. Từ đó, xây dựng định hướng và cơ sở cho các nội dung nghên
cứu khảo sát, kiểm định.
Mô hình nghiên cứu được xây dựng bao gồm có 2 biến độc lập chính là năng lực
cảm xúc và đặc điểm công việc. Trong đó biến năng lực cảm xúc bao gồm 4
biến thành phần là (1) Năng lực nhận biết cảm xúc; (2) Năng lực sử dụng cảm
xúc; (3) Năng lực thấu hiểu cảm xúc; (4) Năng lực kiểm soát cảm xúc. Biến
phụ thuộc trong mô hình là động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung.
Ngoài ra, để kiểm định sự khác biệt về năng lực cảm xúc đối với nhà
quản lý cấp trung, nghiên cứu cũng xây dựng mô hình với nhóm biến các đặc
điểm nhân khẩu học bao gồm: giới tính, độ tuổi và thâm niên công tác.
46
CHƢƠNG 3
BỐI CẢNH VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Nhà quản lý cấp trung tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực
Bắc Trung Bộ
3.1.1. Khái quát chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ
DNNVV đã và đang trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế của
khu vực Bắc Trung Bộ nói riêng và của Việt Nam nói chung. Khu vực Bắc Trung
Bộ bao gồm 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và
Thừa Thiên Huế với diện tích tự nhiên khoảng 51,5 nghìn km2, dân số hơn 10,5
triệu người, trong đó gần 7 triệu người trong độ tuổi lao động. Vùng được đánh giá
là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng,
an ninh; có ý nghĩa chiến lược và lợi thế quan trọng trong việc mở rộng giao lưu
kinh tế với các quốc gia trên thế giới.
DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về vốn, lao động theo Nghị
định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ về tiêu chí xác định
doanh DNNVV. DNNVV được phân loại theo quy mô bao gồm các doanh nghiệp
siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Doanh nghiệp siêu nhỏ có số lao
động tham gia BHXH bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của
năm không quá 10 tỷ hoặc nguồn vốn không quá 3 tỷ. Doanh nghiệp nhỏ có số lao
động tham gia BHXH bình quân không quá 50 người và tổng doanh thu của năm
không quá 100 tỷ hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ. Doanh nghiệp vừa có số
lao động tham gia BHXH bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu
của năm không quá 300 tỷ hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ.
Xét về quy mô, năm 2020, tổng số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu
vực Bắc Trung Bộ là 44.638, chiếm hơn 98% trong tổng số lượng các doanh
nghiệp toàn khu vực. DNNVV đóng vao trò quan trọng trong nền kinh tế, tạo ra
ngày càng nhiều việc làm và đóng góp lớn vào ngân sách của khu vực và cả nước.
47
Bảng 3.1. Số lƣợng doanh nghiệp nhỏ và vừa phân theo
quy mô lao động ở khu vực Bắc Trung Bộ
ĐV: Doanh nghiệp
2020/2016 Năm Năm Năm Năm Năm Tiêu chí +/- % 2016 2017 2018 2019 2020
Toàn khu vực 29.529 33.479 39.211 41.685 44.638 15.109 51,17
Thanh Hóa 7.678 8.789 10.229 10.801 11.849 4.171 54,32
Nghệ An 7.266 7.889 9.578 10.328 10.856 3.590 49,41
Hà Tĩnh 4.649 5.770 7.299 7.851 8.493 3.844 82,68
Quảng Bình 3.670 4.306 4.523 4.765 4.868 1.198 32,64
Quảng Trị 2.549 2.770 3.251 3.685 4.146 1.597 62,65
Nguồn: Tổng hợp từ niêm giám thống kê các năm 2016-2020
Thừa Thiên 3.717 3.955 4.331 4.255 4.426 709 19,07 Huế
DNNVV hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và dịch vụ khác
nhau. Theo số liệu của bảng, ta có thể nhận thấy nếu phân theo tiêu chí về quy mô
lao động, DNNVV tại các tỉnh trong khu vực phát triển nhanh về số lượng. Số lượng
DNNVV tăng nhanh từ năm 2016 đến năm 2020. Cụ thể số DNNVV năm 2020 của
toàn khu vực tăng 51,17% so với năm 2016. Đặc biệt là tỉnh Hà Tĩnh có tốc độ tăng
cao nhất so với các tỉnh khác, số DNNVV năm 2016 của tỉnh là 4.649 doanh nghiệp,
đến năm 2020 là 8.493 doanh nghiệp, tăng 82,68 % so với năm 2016; tiếp đến là tỉnh
Quảng Trị có tốc độ tăng 62,65%; Thanh hoá (54,32%); Nghệ An (49,41%); Quảng
Bình (32,64%) và thấp nhất là tỉnh Thừa Thiên Huế có tốc độ tăng năm 2020 so với
năm 2016 là 19,07%. Trong đó, doanh nghiệp siêu nhỏ và lĩnh vực dich vụ chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng số DNNVV tại các tỉnh. Tuy nhiên theo báo cáo của Tổng cục
thống kê thì khối doanh nghiệp siêu nhỏ lại đóng góp không nhiều về số lao động
việc làm, đồng thời với khó khăn của cả nền kinh tế trong những thời gian vừa qua,
các doanh nghiệp này hoạt động gần như không có lãi. Trong khi đó, về tốc độ tăng
trưởng của các DNNVV khu vực Bắc Trung Bộ, năm 2020, tộc độ tăng trưởng cao
nhất là Quảng Trị với 4,17% và Thanh Hóa với 3,7%.
48
DNNVV đã và đang trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế Việt
Nam. Với số lượng đông đảo, các DNNVV đóng góp đáng kể vào tổng thu nhập quốc
dân, tạo công ăn việc làm, huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước cho hoạt động
sản xuất kinh doanh, giải quyết các vấn đề xã hội. Cụ thể theo số liệu các DNNVV khu
vực Bắc miền Trung đã giải quyết việc làm cho 449.602 lao động, tương ứng góp phần
giải quyết được 45,29% lao động cho toàn khu vực Bắc Trung Bộ và duyên hải miền
Trung. Như vậy các DNNVV đã tạo nhiều việc làm, giảm bớt áp lực về việc làm và
thất nghiệp, đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều vùng địa lý và nhiều đối tượng lao
động ở vùng sâu vùng xa, đối tượng lao động có trình độ tay nghề thấp.
Bảng 3.2. Một số chỉ tiêu cơ bản của doanh nghiệp nhỏ và vừa
ở khu vực Bắc Trung Bộ
TSCĐ
Lợi
Thuế
Doanh
Vốn chủ
và đầu
nhuận
và các
Số lao
Nguồn
thu
sở hữu
tƣ dài
trƣớc
khoản
Khu vực
động
vốn (Tỷ
thuần
(Tỷ
hạn
thuế
đã nộp
(Ngƣời)
đồng)
(Tỷ
đồng)
(Tỷ
(Tỷ
(Tỷ
đồng)
đồng)
đồng)
đồng)
Thanh Hóa
124.566
46.810
20.560
16.941
51.599
408
1.056
Nghệ An
135.101
66.074
27.863
25.344
61.828
-288
3.174
Hà Tĩnh
58.537
31.527
15.484
11.879
23.016
29
892
Quảng Bình
41.624
25.596
10.949
10.816
25.450
-111
662
Quảng Trị
32.459
18.467
8.026
5.971
28.033
265
927
Thừa Thiên
57.315
28.508
12.312
11.993
32.347
693
1.082
Huế
Tổng
449.602
216.982
95.194
82.944
222.273
996
7.793
Nguồn: Tổng hợp từ niêm giám thống kê năm 2020
Về nguồn vốn sản xuất kinh doanh của các DNNVV khu vực Bắc miền Trung
chiếm 46,23 % tổng nguồn vốn sản xuất kinh doanh của toàn khu vực. Hiện nay, các
DNNVV vẫn thiếu vốn sản xuất, chủ yếu dựa vào vốn tự có, khó khăn và hạn chế
trong tiếp cận vốn vay ngân hàng. Tài sản cố định và đầu tư dài hạn của khối DNNVV
còn hạn chế. Tuy vậy trong thời gian qua khối DNNVV khu vực Bắc miền Trung đã
đóng thuế cho các Tỉnh, cho Nhà nước với tổng số 7.793 tỷ đồng, chiếm 49,21% tổng
số đóng thuế của toàn khu vực Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung.
49
Trong mọi nền kinh tế, DNNVV góp phần quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế – xã hội ở các quốc gia có trình độ phát triển kinh tế khác nhau, những
đóng góp của DNNVV không có nhiều sự khác biệt. DNNVV chiếm tỷ trọng lớn
trong cơ cấu doanh nghiệp của nền kinh tế và có xu thế gia tăng ngày càng mạnh
mẽ. Ở các nước công nghiệp phát triển cao như Đức, Nhật Bản, Mỹ, tỷ lệ DNNVV
trong tổng số doanh nghiệp (DN) chiếm trên 98%. Và ở khu vực Bắc Trung Bộ, số
lượng DNNVV chiếm 97% tổng số doanh nghiệp.
DNNVV giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định và thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Hầu hết các nền kinh tế, DNNVV là vệ tinh của các doanh nghiệp lớn, với
lợi thế vốn đầu tư ít những năm qua, DNNVV phát triển nhanh, chiếm tỷ trọng ngày
càng lớn trong tổng số doanh nghiệp. DNNVV cung cấp cho thị trường nhiều loại
hàng hóa đa dạng ở mọi lĩnh vực, tạo ra nhiều sự lựa chọn, đáp ứng mọi nhu cầu
của người tiêu dùng, thúc đẩy sức tiêu thụ của nền kinh tế. DNNVV đóng góp vào
tổng sản lượng của nền kinh tế rất lớn.
DNNVV khai thác và phát huy các nguồn lực địa phương, góp phần chuyển
dịch cơ cấu kinh tế. Trong nền kinh tế bao giờ cũng có những vùng sâu, vùng xa, là
những vùng kém phát triển, có điều kiện tự nhiên không thuận lợi, cơ sở hạ tầng
chưa phát triển. Nếu chỉ tồn tại các doanh nghiệp lớn chủ yếu tập trung ở các khu đô
thị, các khu công nghiệp mà thiếu đi các doanh nghiệp nhỏ thì sẽ xảy ra tình trạng
phát triển mất cân đối giữa các vùng, không tận dụng hết nguồn tài nguyên, làm
giảm hiệu quả hoạt động của nền kinh tế. Trong khi đó, với quy mô vốn đầu tư nhỏ,
bộ máy tổ chức gọn nhẹ, dễ khởi sự, các DNNVV tham gia vào nhiều thị trường,
khai thác tiềm năng về đất đai, tài nguyên và lao động của từng vùng, đặc biệt là các
ngành nông, lâm, thủy hải sản và ngành công nghiệp chế biến. Vì vậy, DNNVV góp
phần quan trọng trong quá trình CNH, HĐH, thúc đẩy thương mại dịch vụ phát
triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giúp cho nền kinh tế năng động hơn. Do lợi thế về
quy mô vừa và nhỏ nên các DNNVV với các hình thức tổ chức kinh doanh có sự kết
hợp chuyên môn hóa và đa dạng hóa mềm dẻo, hòa nhịp được với những đòi hỏi
của nền kinh tế thị trường.
Về mặt xã hội, DNNVV tạo việc làm góp phần giải quyết thất nghiệp, xóa
đói giảm nghèo, ổn định an ninh chính trị – xã hội. Do các DNNVV có ngành nghề,
50
lĩnh vực hoạt động đa dạng, đặc điểm sản xuất kinh doanh không yêu cầu trình độ
cao nên tạo cơ hội việc làm cho nhiều đối tượng lao động ở nhiều vùng miền khác
nhau, nhất là các vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế chưa phát triển. Đặc biệt khi nền
kinh tế suy thoái, các doanh nghiệp lớn phải sa thải nhân công thì các DNNVV, có
thể thích ứng với sự biến động của thị trường, không phải cắt giảm nhân công. Thực
tế cho thấy, lao động trong DNNVV chiếm tỷ lệ đáng kể, năm 2020, toàn khu vực
đã có 449.602 lao động làm việc trong DNNVV, chiếm tỷ trọng trên 50% tổng số
lao động của cả khu vực.
Trong những năm vừa qua, nhờ có việc ban hành hàng loạt cơ chế, chính
sách và triển khai nhiều giải pháp tích cực, môi trường kinh doanh của các tỉnh
vùng Bắc Trung Bộ đã có sự chuyển biến tích cực, khơi dậy tinh thần doanh nhân
và sự đăng ký quay trở lại hoạt động mạnh mẽ của các DNNVV. Số lượng các
doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động quay trở lại hoạt
động tăng lên. Từ năm 2016, mỗi năm trung bình có thêm gần 4000 doanh nghiệp
thành lập mới. Cùng với các cơ chế thông thoáng đã có sự tác động trực tiếp, tạo
thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh, khi doanh nghiệp có
quyền tự quyết về số lượng, hình thức, nội dung của con dấu; được tự do kinh
doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Đồng thời, thời gian đăng
ký thành lập doanh nghiệp đã được rút ngắn còn 03 ngày.
Trong một vài năm gần đây, xu hướng phát triển các mô hình kinh doanh
khởi nghiệp sáng tạo (startup) diễn ra sôi động, tập trung vào một số lĩnh vực
như: xây dựng, chế biến, chế tạo, công nghiệp ô tô, vận tải hàng không, tài
chính, ngân hàng.
Cùng với sự bùng nổ về số lượng, DNNVV đã góp phần quan trọng trong
chuyển dịch về cơ cấu ngành nghề thông qua tạo việc làm, thu hút lao động từ lĩnh
vực nông nghiệp, tham gia đầu tư vào các thị trường ngách, thúc đẩy phát triển sản
xuất kinh doanh. Bình quân mỗi năm (giai đoạn 2016-2020), khối DNNVV thu hút
nhiều lao động nhất với 40.000 lao động (chiếm 71,8 % tổng lao động toàn bộ khu
vực doanh nghiệp trong nền kinh tế khu vực [123].
Mặc dù các năm gần đây, số lượng DNNVV thành lập mới nhiều, nhưng
cũng có một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp không có khả năng tồn tại, đứng
51
vững trong cạnh tranh hoặc hoạt động kém hiệu quả. Hiện nay, các DNNVV vẫn
rất khó tiếp cận các nguồn lực của xã hội để phục vụ cho sản xuất, kinh doanh như:
việc tuyển dụng lực lượng lao động có trình độ tay nghề cao, về tiếp cận đất đai, về
vốn tín dụng từ các ngân hàng, nguồn vốn từ các quỹ, về ứng dụng khoa học và
công nghệ. Theo Báo cáo đánh giá môi trường kinh doanh năm 2018 của Ngân hàng
Thế giới, chỉ số tiếp cận tín dụng của Việt Nam năm 2018 được xếp hạng 29/190
nền kinh tế. Trong 6 tháng đầu năm 2018, dư nợ tín dụng đối với DNNVV chiếm
khoảng 21% dư nợ toàn nền kinh tế. Đến nay vẫn có khoảng 60% DNNVV chưa
tiếp cận được nguồn vốn tín dụng của ngân hàng. Việc tiếp cận đất đai còn nhiều
khó khăn chưa đáp ứng được yêu cầu (thủ tục xin cấp đất rất chậm và chi phí quá
cao làm mất đi cơ hội kinh doanh của DN). Các DNNVV thiếu thông tin thị trường
cũng như cổng đối thoại với các bộ, ngành để tìm kiếm sự hỗ trợ và sự bảo vệ, đặc
biệt là các thông tin về giá cả hàng hóa, thủ tục mua bán, xuất nhập khẩu hàng hóa
cũng như quy trình sản xuất và chất lượng yêu cầu.
Sự liên kết của các DNNVV trong khu vực hiện nay vẫn còn yếu kém, có rất
ít mối liên kết giữa các doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp có quy mô lớn hơn. Sự
hình thành và phát triển của các tập đoàn kinh tế tư nhân ở khu vực chủ yếu là sau
một giai đoạn tích lũy ngắn, dựa vào vốn tự có và ít được Nhà nước hỗ trợ. Quá
trình phát triển theo mô hình tập đoàn của nhóm các tập đoàn kinh tế tư nhân hiện
gặp phải một số khó khăn về quản trị, mô hình, do phần lớn phát triển từ quy mô
doanh nghiệp gia đình. Các liên kết trong mô hình tập đoàn còn khá đơn giản, chưa
triển khai được các hình thức liên kết mềm khác thông qua thỏa thuận, hợp tác sử
dụng thương hiệu, dịch vụ, kết quả nghiên cứu đổi mới, ứng dụng khoa học, công
nghệ chung trong tập đoàn theo nguyên tắc thị trường. Lĩnh vực hoạt động của các
tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân mới chủ yếu tập trung vào
một số lĩnh vực như dịch vụ, bất động sản… Vì vậy, còn thiếu vắng một lực lượng
doanh nghiệp đầu tàu đủ mạnh để có thể dẫn dắt các doanh nghiệp tham gia chuỗi
sản xuất, chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.
Do phần lớn DNNVV tại khu vực Bắc Trung Bộ hiện có quy mô nhỏ nên rất
khó tăng năng suất lao động nhờ chuyên môn hóa hay tận dụng lợi thế quy mô. Mặt
52
khác, vì quy mô nhỏ nên khả năng tích tụ và tập trung vốn để đầu tư, đổi mới công
nghệ, mở rộng quy mô sản xuất hầu như không có. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến
khả năng cạnh tranh của DNNVV, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng
hiện nay.
3.1.2. Đặc điểm nhà quản lý cấp trung tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở
khu vực Bắc Trung Bộ
DNNVV là loại hình doanh nghiệp chiếm đa số và đóng vai trò quan trọng
trong việc tạo việc làm cũng như tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động
các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo…. Hàng năm, các
DNNVV khu vực Bắc Trung Bộ tạo thêm hơn 100.000 lao động, sử dụng tới 50%
lao động xã hội và đóng góp hơn 40% GDP của cả khu vực
Các DNNVV tại khu vực Bắc Trung Bộ là loại hình doanh nghiệp chiếm đa
số và đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm cũng như tăng thu nhập cho
người lao động.
Các nhà quản lý cấp trung các DNNVV vừa là người quản lý, vừa tham gia
trực tiếp vào sản xuất nên mức độ chuyên môn trong quản lý doanh nghiệp thường
không cao. Ngoài ra, hầu hết những nhà quản lý cấp trung tại các DNNVV đều
không tham gia vào các khóa đào tạo quản lý chính quy, chưa có đủ kiến thức về
quản trị doanh nghiệp, chỉ quản lý theo kinh nghiệm và ý kiến chủ quan.
* Trình độ:
Về trình độ chuyên môn, nhìn chung đội ngũ quản lý cấp trung của các
DNNVV trong khu vực Bắc Trung Bộ còn khá thấp. Điều này được thể hiện rõ ở
kết quả tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2020 về trình độ
chuyên môn được đào tạo của cán bộ cơ sở tại các tỉnh trong khu vực.
53
Bảng 3.3. Cơ cấu theo trình độ chuyên môn của nhà quản lý cấp trung tại các
DNNVV ở khu vực Bắc miền Trung
ĐVT: %
Thanh Nghệ Hà Quảng Quảng Thừa
Chỉ tiêu Hóa An Tĩnh Bình Trị Thiên
Huế
Tổng số 100 100 100 100 100 100
Chưa đào tạo 65,1 62,7 61,7 62,2 61,4 59,9
Đã qua đào tạo
nhưng 14,7 12,8 14,2 17,9 19,4 18,5
không có chứng chỉ
Sơ cấp nghề 7,6 8,7 8,8 7,9 5,8 4,0
Trung cấp, trung cấp 9,1 9,3 7,9 7,1 7,1 4,0
nghề
Cao đẳng, cao đẳng 1,5 1,7 1,3 1,0 1,4 1,5
nghề
Đại học 4,0 5,4 4,9 4,2 5,8 6,0
Trên đại học 0,2 0,3 0,3 0,3 0,4 0,7
Nguồn: Tổng hợp từ niêm giám thống kê năm 2020
Trình độ khác 0,2 0,2 0,3 0,1 0,3 0,3
Trong những năm gần đây, đội ngũ nhà quản lý cấp trung tại các DNNVV đã
có những nỗ lực trong việc nâng cao trình độ, kiến thức của mình. Tuy nhiên vẫn chưa
có những chuyển biến rõ rệt. Theo kết quả ta có thể nhận thấy phần lớn các nhà quản lý
cấp trung tại các DNNVV ở cả 6 tỉnh trong khu vực đều chưa qua đào tạo, chiếm từ
59,9 đến 65,1% tổng số lượng. Trình độ đại học và trên đại học chiếm tỷ lệ rất thấp ở
các tỉnh, trong đó Thừa Thiên Huế là tỉnh có tỷ trọng trình độ đại học và trên đại học so
với tổng số chung cao hơn so với các tỉnh khác (6,7%).
Tuy nhiên những bất cập về trình độ quản lý và chất lượng nguồn lao động
trong các DNNVV tại khu vực Bắc Trung Bộ là vấn đề không mới. Theo số liệu
thống kê, năm 2020, có tới 49,68% nhà quản lý của DNNVV có trình độ học vấn từ
trung cấp trở xuống, trong đó 61,8% có trình độ học vấn từ sơ cấp và phổ thông các
54
cấp. Cụ thể, tiến sĩ chỉ chiếm 0,66%; thạc sĩ 2,33%; tốt nghiệp đại học 37,82%; tốt
nghiệp cao đẳng chiếm 3,56%; tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp chiếm 12,33%
và 43,3% có trình độ thấp hơn [123].
Hoặc theo kết quả điều tra gần đây của Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với
Cơ quan hợp tác Nhật Bản JICA thực hiện khảo sát hơn 63.760 doanh nghiệp tại 30
tỉnh thành phía bắc cho thấy số nhà quản lý chỉ có 54,5% có trình độ từ cao đẳng,
đại học trở lên. Còn lại là 45,5% có trình độ bậc trung học phổ thông và chưa qua
đào tạo đại học, số nhà quản lý cấp trung có nghiệp có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ càng
quá hiếm với 3,7 %. Số trình độ cao đẳng trở lên, cũng chỉ khoảng 30% là được đào
tạo về quản trị kinh doanh và có kiến thức kinh tế và khoảng 70% còn lại chưa
được đào tạo [123]. Điều này cũng được thể hiện rõ ở kết quả tổng điều tra cơ sở
kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2020 về trình độ chuyên môn được đào tạo
của nhà quản lý doanh nghiệp tại các tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ. Điều đáng chú
ý là đa số nhà quản lý cấp trung, ngay cả những người có trình độ học vấn từ cao
đẳng và đại học trở lên thì cũng ít người được đào tạo về kiến thức kinh tế và
quản trị doanh nghiệp, về pháp luật trong kinh doanh... Với có cấu trình độ như
vậy, trong xu thế hội nhập sâu với thế giới như hiện nay, điều này đã tác động lớn
đến việc lập chiến lược phát triển, định hướng kinh doanh và quản lý, phòng tránh
các rủi ro pháp lý của các DNNVV khu vực Bắc Trung Bộ. Để có thể vượt qua
khó khăn và sẵn sàng cho sự phát triển bền vững trong tương lai, bản thân nhà
quản lý cấp trung tại các DNNVV cần tích cực, chủ động trong việc nâng cao
trình độ, có chiến lược học tập rõ ràng để đủ sức đương đầu với xu hướng toàn
cầu hóa mà Việt Nam đang từng bước áp dụng.
* Cơ cấu theo giới tính:
Về cơ cấu theo giới tính, theo kết quả điều tra doanh nghiệp của Tổng cục
thống kê, số lượng của DNNVV của khu vực Bắc Trung Bộ năm 2020 là 44.638
doanh nghiệp, trong đó nhà quản lý cấp trung là nữ giới, chiếm khoảng 22,48%. Tỷ
lệ doanh nhân nữ của vùng nhìn chung khá thấp so với tỷ lệ doanh nhân nữ chung
của toàn khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (31,64%) và tỷ lệ doanh
nhân nữ chung của cả nước (39,52%). Điều này cho thấy tỷ lệ nữ tham gia vào điều
hành sản xuất, kinh doanh vẫn còn rất hạn chế so với nam giới.
55
Hình 3.1. Tỷ trọng về giới tính của nhà quản lý cấp trung tại các DNNVV ở khu vực
Bắc Trung Bộ
Nguồn: Tổng hợp từ niêm giám thống kê năm 2020
* Cơ cấu theo độ tuổi:
Về độ tuổi của các nhà quản lý cấp trung ở Việt Nam nói chung và khu vực
Bắc miền Trung nói riêng, chiếm tỷ trọng lớn nhất là các nhà quản lý cấp trung
trong độ tuổi từ 40 đến 59 tuổi, tiếp đến là nhóm tuổi dưới 40. Theo kết quả Đề án
―Xúc tiến hỗ trợ hoạt động Vườn ươm doanh nghiệp‖ của Trung tâm hỗ trợ
DNNVV thuộc VCCI, phần lớn các nhà quản lý cấp trung của các DNNVV đều ở
độ tuổi dưới 40 (chiếm 82,9%); xếp thứ hai là nhóm các nhà quản lý cấp trung tuổi
trung niên 40-55 (chiếm 15,7%). Điều này nói lên xu hướng khởi sự doanh nghiệp
thường là lứa tuổi trẻ [123].
Hiện nay, có rất ít doanh nghiệp nhỏ và vừa lập kế hoạch nhân lực trong dài
hạn. Theo số liệu thống kê, có đến hơn 90% trong tổng số DNNVV tại khu vực Bắc
Trung Bộ thực hiện dự báo nhu cầu dựa trên số lượng lao động cần thay thế, chỉ có
khoảng 10% là dựa vào sự thay đổi về khoa học, công nghệ, nhu cầu sản phẩm và
dịch vụ, quy mô vốn,… Thêm vào đó, việc xác định thừa hay thiếu lao động cũng
chỉ do từng phòng ban xác định dựa vào khối lượng công việc hiện tại chứ không có
56
sự tham gia của phòng nhân sự. Phòng nhân sự chỉ có chức năng nhận chỉ tiêu lao
động và thực hiện việc tuyển dụng. Nhiều nhà quản lý cấp trung tại các DNNVV
cũng xác định được nhu cầu về nguồn nhân lực trong ngắn hạn hoặc thậm chí chỉ
căn cứ vào thời điểm hiện tại để ra quyết định. Chỉ những doanh nghiệp có quy mô
từ 50-300 lao động là còn quan tâm và đề ra chiến lược nguồn nhân lực, nhưng
những chiến lược này còn rất sơ sài.
Có rất nhiều yếu tố cần thiết để một doanh nghiệp phát triển lớn mạnh và bền
vững như văn hóa doanh nghiệp, sự đổi mới, sự sáng tạo, hệ thống quản trị hiện đại,
áp dụng các công nghệ tiên tiến...Ngoài ra, còn một yếu tố quan trọng không kém
ảnh hưởng trực tiếp đến sự hưng thịnh của một doanh nghiệp, đó chính là năng lực
quản lý của nhà quản lý cấp trung.
3.2. Thiết kế nghiên cứu
Động lực xem như là một nội dung quan trọng của tổ chức. Xuất phát từ mục
tiêu nghiên cứu, luận án đề cập tới nội dung liên quan đến các nhân tố tác động đến
động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung tại các DNNVV ở khu vực Bắc Trung
Bộ. Để lý giải rõ hơn về các kết quả khảo sát, luận án sử dụng kết hợp phương pháp
nghiên cứu định tính và định lượng nhằm kiểm định các giả thuyết.
Quy trình nghiên cứu của luận án được thực hiện thông qua các bước cơ bản:
Thứ nhất, luận án tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu, đặc biệt là
các công trình liên quan đến các nhân tố tác động tới động lực làm việc của nhà
quản lý cấp trung. Từ đó, xác định các khoảng trống nghiên cứu cả về mặt lý luận
và thực tiễn, xây dựng mô hình nghiên cứu ban đầu, xác định các biến và thang đo
sử dụng trong nghiên cứu của luận án.
Thứ hai, nghiên cứu định tính: tiến hành phỏng vấn sâu các chuyên gia, các
nhà quản lý nhằm tìm hiểu, khảo sát các vấn đề liên quan đến động lực làm việc của
nhà quản lý cấp trung. Từ đó sàng lọc, lựa chọn các biến và thang đo đưa vào mô
hình và xác định sơ bộ mối quan hệ giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc trong
mô hình.
Thứ ba, nghiên cứu định lượng: sau khi điều chỉnh và hoàn thiện bảng hỏi
cũng như các biến, và chỉ báo. Nghiên cứu định lượng chính thức nhằm mục đích:
57
- Đánh giá độ tin cậy của thang đo;
- Kiểm định giá trị của thang đo bằng EFA;
- Kiểm định hệ số tương quan Pearson;
- Phân tích mô hình hồi quy;
- Kiểm định Anova, T-test nhằm đánh giá sự khác biệt trung bình giữa các
nhóm biến nhân khẩu học về năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung;
- Thống kê mô tả dữ liệu.
Thứ tư, kết luận và các hàm ý quản trị: trên cơ sở các kết quả nghiên cứu đã
được kiểm định độ phù hợp, luận án tổng hợp lại các nội dung chính được đề cập,
kiến nghị các giải pháp phù hợp cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý
tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ nhằm tạo động lực tốt hơn
cho các nhà quản trị cấp trung nói riêng và các cấp quản trị nói chung trong tổ chức.
58
- Xây dựng mô hình nghiên cứu. - Xác định các biến và thang đo Tổng quan các công trình nghiên cứu trước ban đầu.
- Kiểm tra, chỉnh sửa sơ bộ thang đo ban đầu Nghiên cứu định tính - Xây dựng bảng hỏi
- Đánh giá độ tin cậy của thang đo; - Kiểm định giá trị của thang đo
bằng EFA; Nghiên cứu định lượng - Kiểm định hệ số tương quan
Pearson;
- Phân tích mô hình hồi quy; - Kiểm định sự khác biệt; - Thống kê mô tả dữ liệu.
Kết luận và hàm ý quản trị
Hình 3.2. Quy trình nghiên cứu
3.3. Các biến và thang đo
3.3.1. Biến phụ thuộc
Theo Ahmad và cộng sự (2017), các nhà quản lý đặt ra cấu trúc và ủy quyền
và trách nhiệm trong tổ chức; Nhà lãnh đạo cung cấp định hướng bằng cách phát
triển tầm nhìn của tổ chức và truyền đạt nó tới nhân viên và truyền cảm hứng cho
họ để đạt được nó; Nhà quản lý tập trung vào kế hoạch, tổ chức, nhân sự, chỉ đạo và
59
kiểm soát; Họ tập trung vào việc lắng nghe, xây dựng mối quan hệ, làm việc nhóm,
truyền cảm hứng, thúc đẩy và thuyết phục những người theo dõi. Nhà quản lý cấp
trung có vai trò quan trọng trong tổ chức, họ chính là sợi dây kết nối giữa những
nhà lãnh đạo và các cấp quản trị cơ sở, cũng như nhân viên và người lao động. Nhà
quản lý cấp trung có được quyền lực nhờ vào vị trí trong tổ chức;
Quản lý là khả năng thuyết phục người khác tìm kiếm các mục tiêu được xác
định một cách triệt để. Nó cũng được định nghĩa là khả năng ảnh hưởng đến một
nhóm đối với việc thực hiện mục tiêu. Nhà quản lý cấp trung được yêu cầu phát
triển tầm nhìn trong tương lai và để thúc đẩy các thành viên tổ chức muốn đạt được
tầm nhìn. Trong doanh nghiệp, quản lý là một quá trình mà một nhà điều hành có
thể định hướng, hướng dẫn và tác động đến hành vi và công việc của người khác để
hoàn thành các mục tiêu cụ thể trong một tình huống nhất định. Lãnh đạo là khả
năng của một người quản lý để khiến cấp dưới làm việc với tinh thần trách nhiệm
và sự hiệu quả cao nhất. Làm thế nào để thúc đẩy quá trình làm việc hiệu quả của
các nhân viên thuộc bộ phận quản lý luôn là một trong những thách thức chính mà
các nhà quản lý cấp trung phải đối mặt. Động lực khi đối mặt với căng thẳng ngày
càng tăng, thay đổi nhu cầu và môi trường làm việc phức tạp hơn không phải là
nhiệm vụ dễ dàng đối với nhà quản lý ngày nay, đặc biệt là hướng tới làm việc theo
nhóm trong đó mỗi thành viên trong nhóm có thể được thúc đẩy.
Nghiên cứu liên quan đến động cơ thúc đẩy quá trình làm việc của các nhà
quản lý cấp trung. Trong quản lý nguồn nhân lực, nhà quản lý cấp trung (các
trưởng, phó bộ phận…) có nhiệm vụ quan trọng là giúp tổ chức sử dụng tốt nhất tài
sản cốt lõi của mình: nhân viên trong doanh nghiệp thông qua việc quản lý, giám sát
trực tiếp nhân viên dưới quyền. Đánh giá hiệu suất là một công cụ được sử dụng để
quản lý nhân viên theo cách giúp họ làm việc hiệu quả cho tổ chức bằng cách cung
cấp phần thưởng và công nhận hoặc xử phạt. Có thể cho rằng, ứng dụng có thể là
một chỉ số về chất lượng của nó. Công cụ này tạo điều kiện cho nghiên cứu quản lý
về mối quan hệ giữa hồ sơ động lực của nhà quản lý và đặc thù của tổ chức, giới
tính, các yếu tố văn hóa xã hội và kết quả của tổ chức (Park, 2014). Nhà quản lý cấp
trung hành động theo cách có động cơ bản chất nếu họ thực hiện nhiệm vụ của mình
mà không có sự thúc đẩy từ bên ngoài. Phần thưởng từ những nhiệm vụ có động cơ
60
thực chất bao gồm cảm giác đạt được thành tích và sự tự hiện thực hóa (Kunz và
Pfaff, 2002). Các nhà quản lý cấp trung hành động theo cách có động cơ bên ngoài
nếu họ nhận được phần thưởng hữu hình phù hợp với những nỗ lực của họ trong
công việc (Bonner và Sprinkle, 2002).
Nhằm đo lường động lực làm việc của các nhà quản lý cấp trung, luận án sử
dụng thang đo của Stee & Porter (1983) bao gồm sự cố gắng hoàn thành công việc
bất kể những khó khăn; nỗ lực hoàn thành công việc vì mục tiêu của tổ chức; hào
hứng trong công việc; nghĩ về công việc; không để sai sót trong quá trình làm việc;
sắn sàng bắt đầu làm việc sớm hoặc ở lại muộn để hoàn thành công việc.
Bảng 3.4. Thang đo biến Động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung
TT Mã hóa Biến quan sát
Tôi thường cố gắng hết sức để hoàn thành công việc của tôi bất 1 DL1 kể những khó khăn
Tôi nỗ lực hết sức hoàn thành công việc của mình vì mục tiêu của DL2 2 tổ chức
DL3 Tôi luôn hào hứng với công việc của tôi đang làm 3
DL4 Tôi thường nghĩ về công việc của mình ngay cả khi ở nhà 4
Tôi thường cố gắng hết sức để không sai sót trong quá trình làm 5 DL5 việc
Nguồn: Áp dụng có điều chỉnh thang đo của Stee & Porter (1983)
Tôi sắn sàng bắt đầu làm việc sớm hoặc ở lại muộn để hoàn thành 6 DL6 công việc
3.3.2. Biến độc lập
Wood và Jones (1995) định nghĩa các tổ chức là tập hợp những người đang
làm việc cùng nhau và hợp tác dựa trên sự phân công lao động và dưới sự chi phối
bởi nhà quản lý để đạt được mục đích chung của tổ chức. Nhà quản lý cấp trung
chịu trách nhiệm quản lý nhân viên trong bộ phận chuyên môn phụ trách. Nói
chung, nhà quản lý cấp trung của một tổ chức không thể tự mình đạt được mục tiêu
của tổ chức. Điều này chỉ ra rằng nhân viên đại diện cho một loại tài sản có giá trị
cho một tổ chức. Hơn nữa, người ta thường đồng ý rằng hiệu suất cá nhân của nhân
viên có tác động đáng kể đến hiệu suất của tổ chức. Do đó, các nhà quản lý cấp
61
trung của các tổ chức luôn cố gắng tìm cách kích thích động lực làm việc của nhân
viên và cũng chính là kích thích động lực của bản thân chính họ, trong đó đề cập
đến các năng lực cá nhân được phản ánh bởi mức độ, phương hướng và sự kiên trì
nỗ lực trong công việc của người lao động để cải thiện hiệu quả công việc của họ.
Eskildsen và cộng sự (2004) cho rằng có sự khác biệt về mức độ hài lòng trong
công việc và động lực làm việc đối với các nhà quản lý cấp trung có trình độ học
vấn khác nhau, những nhà quản lý có trình độ học vấn cao sẽ có động lực làm việc
cao hơn những người không có trình độ học vấn cao. Năng lực, kỹ năng, kinh
nghiệm làm việc là những yếu tố quan trọng. Nhà quản lý cấp trung cũng luôn có
những nhu cầu, mục tiêu trong công việc khác nhau và vì thế, có sự chi phối không
nhỏ tới sự nỗ lực, sự cố gắng và động lực làm việc của họ trong quá trình hoàn
thành công việc.
Theo Locke (1976), động lực trong công việc là một trạng thái cảm xúc dễ
chịu hoặc tích cực trong nỗ lực của bản thân nhằm hướng tới quá trình làm việc có
hiệu quả. Mặc dù có một mối quan hệ đã được chứng minh, mặc dù phức tạp,
giữa sự hài lòng công việc và nhiệm kỳ công việc về hành vi tổ chức. Công việc sở
thích và công việc sự hài lòng dường như là yếu tố tác động đến thành công
công việc. Gervey và Kowal (2005) cho rằng những người lao động có sự hài lòng
với công việc cao hơn khi được làm việc trong các công việc phù hợp với sở
thích công việc ban đầu của họ. Becker (1960) nhận thấy rằng sự hài lòng
trong công việc cao hơn ở những người lao động được tuyển dụng ở những vị trí
phù hợp với lợi ích công việc đã nêu khi bắt đầu một chương trình việc làm được hỗ
trợ. Michael và cộng sự (2000) trong nghiên cứu của mình cũng đã đưa ra các đề
xuất có giá trị có cho nhà quản lý đó là: thiết kế công việc linh động, tạo cho nhân
viên tính chủ động trong sắp xếp công việc, giảm áp lực giúp họ có thể cân bằng
giữa công việc và cuộc sống gia đình; Nhà quản lý cấp trung là quan trọng, cần xây
dựng mối quan hệ giữa các cấp trong công ty và văn hóa phòng ban có ý nghĩa quan
trọng. Cianci và Bierstaker (2009) nghiên cứu và chỉ rõ tác động của sự ghi nhận, sự
hài lòng với lãnh đạo, bản chất công việc và môi trường làm việc đến động lực làm
việc của lao động. Môi trường làm việc phù hợp tạo ra văn hóa làm việc chuyên
nghiệp, có tác động tạo sự gắn kết các mối quan hệ trong và ngoài doanh nghiệp,
62
xây dựng bầu không khí thân thiện, tăng cường sự hỗ trợ và phối hợp tốt trong công
việc giữa các cá nhân và bộ phận trong tổ chức.
Lý thuyết Hackman và Oldham (1980) đề cập đến nỗ lực cố gắng trong công
việc nhằm đem lại sự thỏa mãn như là một động lực nội tại là các yếu tố thuộc về
bản chất công việc gồm có: Công việc có sự phản hồi; Nhân viên được chủ động
trong làm việc; Công việc có kết quả rõ ràng; Tầm quan trọng của công việc; Công
việc có thể phát huy đa dạng kỹ năng. Sự hài lòng của các nhà quản lý liên quan bản
chất công việc đảm nhận để tối đa hóa hiệu lực dự đoán trong công việc, phát triển
nghề nghiệp hợp lý thông qua sự đánh giá công việc của họ. Katz (1978) đã đưa ra
giả thuyết rằng có ba giai đoạn trong một công việc: giai đoạn "học ban đầu", trong
đó nhân viên quan tâm nhất đến việc học công việc và hòa nhập vào môi trường
mới; giai đoạn "đáp ứng" trong đó đặc điểm công việc rất quan trọng đối với sự hài
lòng trong công việc ; và một giai đoạn "phản hồi". Cần làm rõ về mối quan hệ giữa
dự đoán công việc sự hài lòng và việc thay đổi quyền sử dụng theo thời gian.
Thang đo EI của Mayer và cộng sự (1990) đề xuất đề cập 5 yếu tố: Sự hiểu
biết của bản thân; Kiểm soát căng thẳng; Kỹ năng giải quyết vấn đề; Khả năng thích
ứng; Tâm trạng cá nhân. Các năng lực cảm xúc không phải chỉ được tạo ra từ các
yếu tố bẩm sinh, mà quan trọng hơn, đó là quá trình học hỏi, đào tạo, tích lũy kỹ
năng, kinh nghiệm trong công việc. Yếu tố này rất cần thiết đối với nhà quản lý cấp
trung. Các chỉ số năng lực cảm xúc giúp nhà quản lý có thể kiểm soát tốt các mối
quan hệ trong và ngoài công việc, chi phối quá trình làm việc của nhân viên theo
chiều hướng tích cực hơn. Từ đó, tạo ra năng suất, động lực làm việc tốt hơn cho
nhân viên và chính bản thân các nhà quản lý.
Văn hóa tổ chức được coi là giá trị cốt lõi, là động lực phát triển trong suốt
thời kỳ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong nghiên cứu của mình,
Gatakaa (2013) đã chỉ ra nhóm 4 nhân tố của văn hóa tổ chức bao gồm các luồng cư
xử và quy tắc, giá trị tổ chức, các nghi lễ và nghi thức, lịch sử tồn tại và phát triển
của tổ chức tác động đến động lực làm việc của người lao động. Các yếu tố này đều
đề cao vai trò của nhân viên trong việc tham gia vào các quy tắc, giá trị, nghi thức
và hoạt động của tổ chức. Văn hóa tổ chức chi phối nhiều tới các mối quan hệ trong
doanh nghiệp, tạo ra sự gắn kết, sự hỗ trợ trong công việc, có tác động không nhỏ
đến động lực làm việc của các nhà quản lý cấp trung.
63
Buble và cộng sự (2014) đã chỉ ra mối quan hệ giữa phong cách và động lực
của người quản lý. Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố chi phối cho động
lực của nhà quản lý là sự tham gia của họ vào việc ra quyết định, khiến họ cảm thấy
có trách nhiệm, và thêm vào đó, họ thấy phần thưởng vật chất là yếu tố thúc đẩy
đáng kể, đồng thời các nhà quản lý ở các cấp quản lý khác nhau có các phong cách
lãnh đạo khác nhau phản ứng khác nhau với tác động của các yếu tố quan trọng
của động lực. Động lực của người lao động trong bất cứ một doanh nghiệp nào tốt
hơn hết đều cần xuất phát từ một tập thể đoàn kết và quá trình tích cực tham gia của
nhân viên vào các hoạt động chung của tổ chức cả trong và ngoài công việc sẽ tạo
ra sự gắn kết, có tác động tích cực tới động lực của họ.
Thang đo sử dụng trong nghiên cứu là thang đo likert với 5 mức (Rất đồng ý;
Đồng ý; Bình thường; Không đồng ý; Rất không đồng ý). Các chỉ báo đo lường các
biến được áp dụng có điều chỉnh phù hợp với đặc điểm mẫu nghiên cứu từ các
nghiên cứu trước. Biến đặc điểm công việc sử dụng thang đo của Hackman và
Oldham (1980) bao gồm có 7 quan sát. Với nhóm biến năng lực cảm xúc (NLCX)
sử dụng thang đo SSRI của Ciarrochi và cộng sự (2001) bao gồm 33 quan sát với 4
nhóm yếu tố: Năng lực nhận biết cảm xúc (NBCX) với 10 quan sát; Năng lực sử
dụng cảm xúc (SDCX) với 6 quan sát; Năng lực thấu hiểu cảm xúc (THCX) với 8
quan sát; Năng lực quản lý/kiểm soát cảm xúc (KSCX) với 9 quan sát.
Bảng 3.5. Thang đo các biến độc lập sử dụng trong mô hình
TT Biến số Mã hóa Nguồn
CV1
CV2
CV3
1 CV4
Đặc điểm công việc CV5 Áp dụng có điều chỉnh thang đo của Hackman và Oldham (1980)
CV6
CV7 Chỉ báo Công việc của tôi thú vị và đỏi hỏi sự sáng tạo Tôi luôn được chủ động trong công việc của mình Tôi luôn nhân được sự nhân xét đánh giá kịp thời về công việc của mình Công việc của tôi đang làm có tầm quan trọng đối với doanh nghiệp và xã hội. Công việc của tôi đòi hỏi phải phối hợp nhiều kỹ năng Công việc của tôi mang lại nhiều cơ hội phát triển năng lực chuyên môn Công việc của tôi giúp tôi phát triển được các mối quan hệ xã hội
64
NBCX1 Tôi hiểu rõ những biểu hiện trên nét mặt,
cử chỉ, hành vi của người khác là có ý hài
lòng (hay khó chịu /e ngại...) với mình.
NBCX2 Tôi nhận thức được mình hiện đang cảm
thấy vui vẻ (hay khó chịu/e ngại/căng
thẳng ...) ngay khi gặp một ai đó.
NBCX3 Tôi chủ động và nắm rõ các thông điệp/
ẩn ý đang truyền tải khi giao việc đến
cấp dưới của mình.
NBCX4 Nhìn biểu hiện trên khuôn mặt của
người đối diện, tôi nhận ra ngay là họ đang cảm thấy dễ chịu (hay khó chịu/
căng thẳng/ e ngại/ áy náy...) khi nói
chuyện, làm việc với mình. Áp dụng có
NBCX5 Khi cảm xúc đối với công việc thay đổi điều chỉnh
(từ hứng khởi sang chán nản hoặc từ thang đo Nhận
hoang mang sang tốt đẹp...), tôi biết rõ 2 biết cảm SSRI của
lý do tại sao cảm xúc của mình thay đổi xúc Ciarrochi và
như thế. cộng sự
(2001) NBCX6 Tôi dễ dàng nhận biết cảm xúc thực sự
của mình (cảm thấy vui/ khó chịu/ căng
thẳng/ e ngại...) ngay khi gặp một ai đó.
NBCX7 Tôi nhận ra được ẩn ý đằng sau cử chỉ và
hành động của người khác là họ đang
cảm thấy tin tưởng (hay thất vọng/ phẫn
nộ/ sợ hãi/ có lỗi...) đối với mình
NBCX8 Chỉ cần nhìn vào một người, tôi luôn biết được cảm xúc của họ lúc này là gì.
NBCX9 Tôi luôn nhận ra cảm xúc của người
khác bằng cách lắng nghe cường độ
giọng nói của họ.
NBCX10 Tôi thường không hiểu nổi tại sao mọi
người lại có cảm xúc như họ vẫn có.
65
SDCX1 Khi gặp một sự kiện lớn của cuộc đời mình, tôi thường đánh giá xem những gì là quan trọng hay không quan trọng.
SDCX2 Khi tâm trạng thay đổi theo chiều hướng tích cực, tôi thấy mình có nhiều nhiệt huyết hơn với công việc.
SDCX3 Cảm xúc là một trong những điều làm
cho cuộc sống của tôi có ý nghĩa. 3
Sử dụng cảm xúc SDCX4 Khi tâm trạng vui vẻ, tôi luôn giải
quyết các vấn đề một cách dễ dàng.
Áp dụng có điều chỉnh thang đo SSRI của Ciarrochi và cộng sự (2001) SDCX5 Khi tâm trạng vui vẻ, tôi có thể nghĩ ra
nhiều ý tưởng mới.
SDCX6 Tôi có xu hướng tiến tới những ý tưởng mới khi cảm thấy có sự thay đổi trong cảm xúc cá nhân.
THCX1 Tôi luôn biết khi nào nên chia sẻ những vấn đề riêng tư của mình với người khác.
THCX2 Mọi người thường cảm thấy dễ dàng
chia sẻ các vấn đề của họ với tôi.
THCX3 Tôi thích chia sẻ cảm xúc của mình với
mọi người.
THCX4 Khi giao tiếp, tôi biết cách sắp xếp các
sự kiện để làm cho người khác vui vẻ.
4
Thấu hiểu cảm xúc THCX5 Khi cần thể hiện bản thân mình với một ai đó, tôi luôn biết cách tạo ấn tượng tốt với người đó.
THCX6 Tôi thường khen ngợi khi cấp dưới của
Áp dụng có điều chỉnh thang đo SSRI của Ciarrochi và cộng sự (2001) tôi làm điều gì đó tốt.
THCX7 Khi một người kể với tôi về một biến cố quan trọng trong cuộc đời của họ, tôi thường cảm thấy như thể chính mình đã trải qua tình huống đó.
THCX8 Tôi thường giúp người khác cảm thấy
thoải mái hơn mỗi khi họ buồn.
66
KSCX1 Mỗi khi gặp khó khăn/ trở ngại trong công việc, tôi thường nhớ lại những tình huống tương tự đã gây ra cảm xúc (buồn chán/ giận dữ...) ở mình và mình đã vượt qua những cảm xúc đó như thế nào.
KSCX2 Tôi luôn tin rằng mình sẽ làm tốt mọi
việc.
KSCX3 Trong mọi hoàn cảnh, tôi luôn kỳ vọng
những điều tốt đẹp sẽ đến với mình.
5 KSCX4 Khi tâm trạng vui vẻ, tôi biết làm thế nào để kéo dài tâm trạng đó. KSCX5 Tôi luôn tìm kiếm những công việc đem
lại cho mình niềm vui, sự hứng khởi.
Năng lực quản lý/kiểm soát cảm xúc Áp dụng có điều chỉnh thang đo SSRI của Ciarrochi và cộng sự (2001)
KSCX6 Tôi luôn kiểm soát được cảm xúc của mình trong mọi tình huống. KSCX7 Tôi có khả năng tự điều khiển và kích thích cảm xúc cá nhân để thích nghi với mọi thay đổi hoàn cảnh.
KSCX8 Tôi dễ dàng tìm ra các cách đối phó hiệu quả với những vấn đề xảy ra trong công ty.
KSCX9 Tôi luôn giữ được bình tĩnh mỗi khi
gặp khó khăn.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng tiến hành đo lường sự khác biệt về động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung theo các nhóm biến giới tính, độ tuổi và thâm niên công tác.:
Giới tính gồm hai nhóm: Nam, Nữ. Độ tuổi có 4 nhóm. Nhóm 1: gồm các nhà quản lý dưới 30 tuổi. Nhóm 2: từ
30 đến dưới 40 tuổi. Nhóm 3: Từ 40 đến dưới 50 tuổi. Nhóm 4: Từ 50 tuổi trở lên.
Thâm niên công tác có 3 nhóm. Nhóm 1: bao gồm các nhà quản lý cấp trung có thâm niên công tác trong lĩnh vực quản lý hiện tại dưới 10 năm. Nhóm 2: gồm các nhà quản lý cấp trung có thâm niên công tác lĩnh vực quản lý hiện tại từ 10 đến dưới 20 năm. Nhóm 3: gồm các nhà quản lý cấp trung có thâm niên công tác lĩnh vực quản lý hiện tại từ 20 năm trở lên.
67
3.4. Nghiên cứu định tính 3.4.1. Mục tiêu Phỏng vấn sâu các chuyên gia, các nhà quản lý nhằm tìm hiểu, khảo sát các vấn đề liên quan đến động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung. Từ đó sàng lọc, lựa chọn các biến độc lập đưa vào mô hình và xác định sơ bộ mối quan hệ giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc trong mô hình.
Mục tiêu đầu tiên của phỏng vấn sâu là kiểm tra và sàng lọc các biến độc lập trong mô hình lý thuyết tác giả đã đề xuất và xác định sơ bộ mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc.
Các nhân tố trong mô hình tác giả đề xuất đã được nghiên cứu tại nhiều nơi trên thế giới nhưng trong đó có một số nhân tố chưa được nghiên cứu tại Việt Nam và khu vực Bắc Trung Bộ. Các cuộc phỏng vấn sâu này sẽ giúp tác giả khẳng định được những nhân tố phù hợp với bối cảnh các doanh nghiệp nhỏ và vửa ở khu vực Bắc Trung Bộ và sơ bộ về mức độ tác động của các nhân tố đó tới động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung tại các DNVVV.
Mục tiêu tiếp theo của phỏng vấn sâu là kiểm tra sự hợp lý của thang đo. Thang đo được tác giả đưa ra trong nghiên cứu là những thang đo đã được công nhận và sử dụng trên thế giới. Tuy nhiên, trong điều kiện các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ, những thang đo này cũng cần được xem xét để điều chỉnh và bổ sung cho phù hợp. Bên cạnh đó trong quá trình phỏng vấn sâu này, tác giả cũng mong muốn được các đối tượng phỏng vấn cho ý kiến hoàn thiện về cấu trúc câu và từ ngữ được dùng trong những câu hỏi sẽ được dùng trong phiếu điều tra định lượng sau này.
3.4.2. Đối tượng phỏng vấn Đối tượng phỏng vấn bao gồm 10 giảng viên Đại học chuyên ngành Kinh tế và quản trị kinh doanh và 20 nhà quản lý là là cán bộ lãnh đạo của các doanh nghiệp đóng trên các tỉnh, địa bàn khu vực Bắc Trung Bộ. Tất cả các cuộc phỏng vấn đều theo hình thức phỏng vấn trực tiếp trong khoảng thời gian 30 đến 60 phút, trung bình là 45 phút. Thời gian phỏng vấn là tháng 05/2019 đến tháng 06/2019.
Mục tiêu của phỏng vấn nhóm đối tượng giảng viên nhằm đánh giá, chỉnh sửa nội dung các quan sát và mô hình, giả thuyết nghiên cứu, cách thức đo lường các biến và kết quả của mô hình.
Mục tiêu của phỏng vấn nhóm đối tượng là các nhà quản lý nhằm tìm hiểu, nắm bắt thái độ, các quan điểm của họ đối với cách thức tạo động lực cho đối tượng quản lý cấp trung. Đồng thời, điều tra mức độ hiểu biết và đóng góp của họ đối với các quan sát trong thang đo nghiên cứu.
68
Đối tƣợng
Đia chỉ
Trình độ học vấn
Giới tính
Độ tuổi
Bảng 3.6. Đặc điểm mẫu trong nghiên cứu định tính Thu nhập (triệu đồng/tháng) 28
PGS.TS
Nam
53
Nghệ An
Giảng viên
Nam
PGS.TS
51
Huế
22
Giảng viên
PGS.TS
50
Nữ
Nghệ An
18
Giảng viên
TS
48
Nữ
Nghệ An
20
Giảng viên
TS
Nam
53
Nghệ An
15
Giảng viên
TS
32
Nữ
Nghệ An
12
Giảng viên
TS
34
Nữ
Nghệ An
15
Giảng viên
TS
45
Nữ
Huế
12
Giảng viên
TS
Nam
32
Huế
11
Giảng viên
TS
25
Nữ
Huế
15
Giảng viên
Sau đại học
28
Nữ
Nghệ An
17
Nhà quản lý
Sau đại học
28
Nam
Nghệ An
15
Nhà quản lý
Sau đại học
29
Nữ
Hà Tĩnh
10
Nhà quản lý
Sau đại học
31
Nam
Thanh Hóa
21
Nhà quản lý
Sau đại học
35
Nam
Hà Tĩnh
14
Nhà quản lý
Sau đại học
37
Nam
Hà Tĩnh
13
Nhà quản lý
Đại học
34
Nam
Nghệ An
11
Nhà quản lý
Đại học
32
Nam
Nghệ An
15
Nhà quản lý
Đại học
32
Nữ
Nghệ An
12
Nhà quản lý
Đại học
37
Nam
Nghệ An
16
Nhà quản lý
Đại học
31
Nữ
Nghệ An
19
Nhà quản lý
Đại học
29
Nam
Hà Tĩnh
14
Nhà quản lý
Đại học
30
Nam
Nghệ An
13
Nhà quản lý
Đại học
25
Nam
Nghệ An
12
Nhà quản lý
Đại học
23
Nữ
Nghệ An
14
Nhà quản lý
Đại học
35
Nam
Hà Tĩnh
15
Nhà quản lý
Đại học
33
Nam
Nghệ An
18
Nhà quản lý
Đại học
33
Nữ
Nghệ An
14
Nhà quản lý
Đại học
31
Nữ
Nghệ An
10
Nhà quản lý
Đại học
28
Nữ
Huế
10
Nhà quản lý
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả nghiên cứu
69
3.4.3. Quá trình phỏng vấn Dựa vào mục tiêu, mô hình nghiên cứu, tác giải xây dựng lưới phỏng vấn
bao gồm các nội dung sau:
Phần 1: Giới thiệu mục tiêu, ý nghĩa của cuộc phỏng vấn. Phần 2: Giới thiệu các thang đo, mô hình nghiên cứu (dự kiến). Phần 3: Đặt các câu hỏi liên quan đến các thang đo, các biến quan sát và đề nghị góp ý, cũng như bày tỏ quan điểm của cá nhân về các thang đo và mô hình nghiên cứu.
Các cuộc phỏng vấn được thực hiện tại nhà hoặc tại nơi làm việc của đối tượng phỏng vấn. Mỗi cuộc phỏng vấn trung bình dài 45 phút cho tất cả các câu hỏi trong bảng hỏi. Kỹ thuật thực hiện là quan sát và thảo luận tay đôi.
Nội dung các cuộc phỏng vấn được ghi âm, được lưu trữ và mã hóa trong máy tính. Nội dung này được gỡ băng và phân tích để đưa ra kết luận. Kết luận được đưa ra dựa trên sự tổng hợp quan điểm chung của các đối tượng phỏng vấn có cách nhìn tương tự nhau. Kết quả tìm được sẽ được so sánh với mô hình lý thuyết ban đầu để xác định mô hình chính thức cho nghiên cứu.
Tác giả thực hiện nghiên cứu định tính trên đối tượng nhà quản lý cấp trung tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ nhằm khẳng định tác động của các nhân tố nghiên cứu tới cam kết với tổ chức của nhân viên và kiểm tra chỉnh sửa văn phong trong bảng hỏi định lượng.
3.4.4. Kết quả phỏng vấn Qua nghiên cứu định tính, các biến độc lập đã được sàng lọc và kiểm tra mối
quan hệ với biến phụ thuộc. Cụ thể:
- 4 trong số 30 đối tượng được hỏi được hỏi không nhìn thấy mối quan hệ giữa đặc điểm cá nhân của nhà quản lý cấp trung và động lực làm việc của họ trong các doanh nghiệp. Tác giả ghi nhận kết quả này để tiếp tục kiểm định thêm trước khi đưa ra kết luận về đóng góp của nhân tố đặc điểm cá nhân tới động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung
- 9 đối tượng được hỏi không nhìn thấy mối quan hệ giữa năng lực cảm xúc và động lực làm việc của nhà quản lý tại các doanh nghiệp nhỏ và vửa ở khu vực Bắc Trung Bộ.
- 2 đối tượng được hỏi không nhìn thấy mối quan hệ giữa sự tham gia vào quá trình ra quyết định và động lực làm việc của nhà quản lý tại các doanh nghiệp nhỏ và vửa ở khu vực Bắc Trung Bộ.
70
Những ý kiến còn lại đều công nhận ý nghĩa của các nhân tố được nghiên
cứu tới các khía cạnh của động lực làm việc của nhà quản lý tại các doanh nghiệp
nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ.
Phần lớn những người được hỏi (22/30 người) cũng đề nghị điều chỉnh lại từ
ngữ và nội dung của bảng hỏi, cụ thể là bỏ bớt một số biến trùng nhau hoặc có
nghĩa/nội dung với hàm ý như nhau:
Bảng 3.7. Tổng hợp kết quả điều chỉnh số quan sát trong thang đo
Thang đo trƣớc khi điều chỉnh
Thang đo sau khi điều chỉnh
Động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung Tôi thường cố gắng hết sức để hoàn thành công việc bất kể những khó khăn Tôi thường bắt đầu làm việc sớm hoặc ở lại muộn để hoàn thành công việc
Động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung Tôi thường cố gắng hết sức để hoàn thành công việc của tôi bất kể những khó khăn Tôi sắn sàng bắt đầu làm việc sớm hoặc ở lại muộn để hoàn thành công việc
Nhận biết cảm xúc Tôi luôn nắm rõ các thông điệp/ ẩn ý đang truyền tải khi giao việc đến cấp dưới của mình. Tôi luôn nhận ra cảm xúc của người khác bằng cách lắng nghe giọng nói của họ.
Nhận biết cảm xúc Tôi chủ động và nắm rõ các thông điệp/ ẩn ý đang truyền tải khi giao việc đến cấp dưới của mình. Tôi luôn nhận ra cảm xúc của người khác bằng cách lắng nghe cường độ giọng nói của họ.
Sử dụng cảm xúc Khi tâm trạng vui vẻ, tôi thường thấy mình có nhiều nhiệt huyết hơn với công việc.
Tôi sẽ có những ý tưởng mới khi cảm thấy có sự thay đổi trong cảm xúc cá nhân.
Sử dụng cảm xúc Khi tâm trạng thay đổi theo chiều hướng tích cực, tôi thấy mình có nhiều nhiệt huyết hơn với công việc. Tôi có xu hướng tiến tới những ý tưởng mới khi cảm thấy có sự thay đổi trong cảm xúc cá nhân.
Thấu hiểu cảm xúc Khi một người kể với tôi về một biến cố quan trọng trong cuộc đời, tôi thường cảm thấy như thể chính mình đã trải qua tình huống đó.
Thấu hiểu cảm xúc Khi một người kể với tôi về một biến cố quan trọng trong cuộc đời của họ, tôi thường cảm thấy như thể chính mình đã trải qua tình huống đó.
Kiểm soát cảm xúc Mỗi khi gặp khó khăn/ trở ngại trong công việc, tôi thường nhớ lại những tình huống tương tự đã gây ra cảm xúc ở mình và mình đã vượt qua những cảm xúc đó như thế nào.
Kiểm soát cảm xúc Mỗi khi gặp khó khăn/ trở ngại trong công việc, tôi thường nhớ lại những tình huống tương tự đã gây ra cảm xúc (buồn chán/ giận dữ...) ở mình và mình đã vượt qua những cảm xúc đó như thế nào.
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả nghiên cứu
71
3.5. Thiết kế bảng hỏi
Sau khi có bảng thang đo nghiên cứu sơ bộ, tác giả tiến hành thiết kế bảng
hỏi nhằm phục vụ cho giai đoạn khảo sát và nghiên cứu định lượng sơ bộ. Bảng hỏi
phục vụ nghiên cứu bao gồm có hai phần:
Phần 1: Thông tin các nhân: Giới tính, tuổi, nghề nghiệp….
Phần 2: Nội dung chính bao gồm lưới câu hỏi liên quan đến các biến trong
mô hình:
* Biến Đặc điểm công việc gồm 07 chỉ báo, tương ứng với 07 câu hỏi trong
bảng khảo sát.
* Nhóm biến Năng lực cảm xúc có 33 câu, trong đó:
- Năng lực nhận biết cảm xúc bao gồm: 10 câu
- Năng lực sử dụng cảm xúc bao gồm: 06 câu
- Năng lực thấu hiểu cảm xúc bao gồm: 08 câu
- Năng lực kiểm soát cảm xúc bao gồm: 09 câu
* Biến động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung bao gồm 06 câu hỏi
3.6. Nghiên cứu định lƣợng
3.6.1. Mục tiêu
Thông qua phương pháp điều tra bằng bảng hỏi với đối tượng khảo sát chính là
các nhà quản lý và người lao động tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc
Trung Bộ nhằm kiểm định lại tính chính xác, phù hợp của mô hình, đánh giá độ tin cậy
của thang đo, các biến, các quan sát đưa vào và loại bỏ các chỉ báo không phù hợp.
Nghiên cứu định lượng nhằm mục đích:
Đánh giá lại độ tin cậy của thang đo với hệ số Cronback Alpha>=0.7 và có
hệ số tương quan biến tổng >= 0.3.
Phân tích nhân tố khám phá EFA nhằm kiểm định giá trị của thang đo trong
đó hệ số tải nhân tố > 0.5. Phương pháp rút trích nhân tố được sử dụng là phương
pháp xoay các nhân tố Varimax.
Kiểm định hệ số tương quan Pearson.
Phân tích mô hình hồi quy và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.
Kiểm định ANOVA, T-Test nhằm đánh giá sự khác biệt trung bình giữa các
nhóm biến kiểm soát.
Phân tích thống kê mô tả dữ liệu.
72
3.6.2. Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Với bối cảnh nghiên cứu lựa chọn là các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực
Bắc Trung Bộ. Chiếm đa số trong tổng số lượng các doanh nghiệp và tổ chức đóng
trên địa bàn các tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ bao gồm Thanh Hoá, Nghệ An, Hà
Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày
càng đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của từng địa phương nói riêng,
toàn khu vực và cả nước nói chung.
Mặc dù được đánh giá là có những bước tiến đáng kể trên nhiều lĩnh vực.
Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay với quy mô hoạt động hạn chế,
cách làm manh mún, nhỏ lẻ và không có các chiến lược kinh doanh rõ ràng dẫn đến
hiệu quả kinh doanh không được như kỳ vọng. Hơn nữa, về khía cạnh quản lý,
nhiều chính sách còn năng nề dựa trên các mối quan hệ, quá trình tạo động lực cho
nhân viên chưa được chú trọng. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới tâm lý và năng
suất trong lao động.
Cỡ mẫu trong thu thập là 459 mẫu. Quá trình thu thập dữ liệu được tiến hành
theo hai cách: phát phiếu trực tiếp và online. Số phiếu online thu về là 210, số phiếu
dùng được là 208. Về trực tiếp, số phiếu phát ra là 412, số phiếu thu về là 312, số
phiếu dùng được là 251. Tổng số phiếu hợp lệ được dùng để phân tích là 459. Với
số quan sát trong bài là 42 thì quy mô nghiên cứu bao gồm 459 mẫu đảm bảo yêu
cầu phân tích. Thời gian hoàn thành thu thập dữ liệu sơ bộ là tháng 06/2019 đến
tháng 09/2019.
Bảng 3.8. Thống kê số lƣợng mẫu nghiên cứu
Giới tinh
Độ tuổi
Thâm niên công tác
Nam
Nữ
Nhóm I Nhóm II Nhóm III Nhóm IV Nhóm I Nhóm II Nhóm III
Tỷ lệ
Tỷ lệ
Tỷ lệ
Tỷ lệ
Tỷ lệ
Tỷ lệ
Tỷ lệ
Tỷ lệ
Tỷ lệ
SL
SL
SL
SL
SL
SL
SL
SL
SL
%
%
%
%
%
%
%
%
%
223 48.6 236 51.4 118 25.7 187 40.7 103 22.4 51 11.1 189 41.2 175 38.1 95 20.7
Nguồn: Tổng hợp nghiên cứu của tác giả
Trong tổng số 459 mẫu nghiên cứu, tỷ lệ Nam chiếm 48.6%, Nữ chiếm 51.4
%. Về nhóm độ tuổi, mẫu nghiên cứu bao gồm 4 nhóm. Nhóm I bao gồm các nhà
quản lý có độ tuổi dưới 30, chiếm tỷ lệ 25.7 %. Nhóm II từ 30 đến dưới 40 chiếm tỷ
73
lệ 40.7%. Nhóm III từ 40 đến dưới 50 chiếm tỷ lệ 11.1%. Nhóm IV từ 50 tuổi trở
lên chiếm tỷ lệ 11.1%. Về nhóm thâm niên công tác, quy mô mẫu bao gồm 3 nhóm
đối tượng. Nhóm I có thâm niên công tác ở vị trí quản lý hiện tại dưới 10 năm, bao
gồm 189 nhà quản lý chiếm tỷ lệ 41.2%. Nhóm 2 bao gồm 175 nhà quản lý, chiếm
tỷ lệ 31.8%. Nhóm 3 bao gồm 95 nhà quản lý, chiếm tỷ lệ 20.7%.
Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp chọn mẫu phi xác suất là chọn
mẫu thuận tiện, có phân tầng một cách tương đối theo các tỉnh, địa phương nhằm
tăng tính đại diện cho mẫu nghiên cứu bao gồm Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh,
Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế. Đơn vị điều tra trong nghiên cứu được
xác định là nhà quản lý cấp trung trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Bảng 3.9. Phân bố của mẫu điều tra nghiên cứu
Dự kiến Số lƣợng mẫu TT Địa phƣơng điều tra Tỷ lệ % điều tra thu về
1 Thanh Hoá 100 46 10.02
2 Nghệ An 250 187 40.74
3 Hà Tĩnh 150 92 20.04
4 Quảng Bình 100 51 11.11
5 Quảng Trị 100 47 10.24
6 Thừa Thiên Huế 100 36 7.84
Nguồn: Tổng hợp nghiên cứu của tác giả
Tổng 800 459 100
3.6.3. Phương pháp xử lý dữ liệu
Kết quả thu thập các dữ liệu thông qua quá trình điều tra, khảo sát được xứ lý
bằng các phần mềm SPSS. Từ đó, cho phép đưa ra các kết luận minh chứng cho
tính phù hợp của mô hình và các giả thuyết nghiên cứu:
Thứ nhất, đánh giá độ tin cậy của thang đo. Các tiêu chí được sử dụng khi
thực hiện đánh giá độ tin cậy thang đo:
Các mức giá trị của Cronbach‘s Alpha: lớn hơn 0.8 là thang đo lường tốt; từ
0.7 đến 0.8 là sử dụng được; từ 0.6 trở lên là có thể sử dụng trong trường hợp khái
niệm nghiên cứu là mới hoặc là mới trong bối cảnh nghiên cứu (Nunally, 1978;
Peterson, 1994; Slater, 1995; Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2005).
74
Loại các biến quan sát có hệ số tương quan biến - tổng nhỏ (nhỏ hơn 0.3);
tiêu chuẩn chọn thang đo khi có độ tin cậy Cronbach‘s Alpha lớn hơn 0.6 (giá trị
này càng lớn thì độ tin cậy nhất quán nội tại càng cao) (Nunally & Burnstein, 1994;
Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang, 2009).
Các biến quan sát có tương quan biến - tổng nhỏ (nhỏ hơn 0,4) được xem là
biến rác thì sẽ được loại ra và thang đo được chấp nhận khi hệ số tin cậy Cronbach‘s
Alpha đạt yêu cầu (lớn hơn 0.7).
Dựa theo thông tin trên tác giả đánh giá độ tin cậy của thang đo với hệ số
Cronbach‘s Alpha >=0,7 và có hệ số tương quan biến tổng >= 0.3.
Thứ hai, kiểm định giá trị của thang đo bằng cách phân tích nhân tố khám
phá EFA. Phương pháp rút trích nhân tố được sử dụng là phương pháp xoay các
nhân tố Varimax.
Hệ số tải nhân tố (Factor Loading) hay còn gọi là trọng số nhân tố, giá trị này
biểu thị mối quan hệ tương quan giữa các biến quan sát với nhân tố. Hệ số tải nhân
tố càng cao, nghĩa là tương quan giữa biến quan sát đó với nhân tố càng lớn và
ngược lại.
Theo Hair & cộng sự (1998), hệ số tải nhân tố là chỉ tiêu để đảm bảo mức ý
nghĩa thiết thực của phân tích EFA. Giá trị tiêu chuẩn của hệ số tải Factor
Loading nên được xem xét cùng kích thước mẫu. Thông thường ngưỡng của hệ số
này phải lớn hơn 0.5 để bảo đảm giá trị hội tụ. Đồng thời giá trị phân biệt cũng phải
thỏa mãn bằng cách là các factor loading lớn nhất và lớn nhì trong cùng 1 hàng phải
cách xa nhau ít nhất là 0.3 đơn vị. Nếu factor loading không thỏa mãn thì phải xóa
biến quan sát đó ra và thực hiện phân tích EFA lại.
• Factor loading > 0.3 được xem là đạt mức tối thiểu
• Factor loading > 0.4 được xem là quan trọng
• Factor loading > 0.5 được xem là có ý nghĩa thực tiễn
Bên cạnh hệ số tải nhân tố, KMO là một chỉ tiêu dùng để xem xét sự thích
hợp của EFA, phân tích nhân tố khám phá thích hợp khi 0.5 ≤ KMO ≤ 1. Theo
Kaiser (1974) đề nghị:
• KMO ≥ 0.9: Rất tốt
• 0.8 ≤ KMO ≤ 0.9: Tốt
75
• 0.7 ≤ KMO ≤ 0.8: Được
• 0.6 ≤ KMO ≤ 0.7: Tạm được
• 0.5 ≤ KMO ≤ 0.6: Xấu
• KMO < 0.5: Không được chấp nhận
Kiểm định Bartlett dùng để xem xét các biến quan sát trong nhân tố có tương
quan với nhau hay không. Nếu kiểm định này có ý nghĩa thống kê (Sig ≤ 0.05) thì
các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể.
Dựa trên những thông tin trên, tác giả sử dụng kiểm định giá trị của thang đo
bằng cách phân tích nhân tố khám phá EFA trong đó yêu cầu hệ số tải nhân tố >
0.5. Hệ số KMO > 0.5 và phương sai trích > 50% (Hair và cộng sự, 1998). Phương
pháp rút trích nhân tố được sử dụng là phương pháp xoay các nhân tố Varimax.
Thứ ba, kiểm định lại độ tin cậy của thang đo với hệ số Cronbach‘s Alpha
sau khi đã loại bỏ các chỉ báo không phù hợp.
Thứ tư, kiểm định hệ số tương quan Pearson nhằm đo lường mối liên hệ giữa
các biến. Kiểm định hệ số tương quan Pearson cung cấp thông tin về mức độ quan
trọng của mối liên hệ, mối tương quan, cũng như hướng của mối quan hệ. Ngoài ra,
việc kiểm tra hệ số tương quan pearson còn giúp sớm nhận diễn được sự xảy ra
của vấn đề đa cộng tuyến khi các biến độc lập có sự tương quan mạnh với nhau.
Thứ năm, phân tích mô hình hồi quy bội.
Thứ sáu, kiểm định Anova, T-test nhằm đánh giá có hay không sự khác biệt
về năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung theo biến nhâu khẩu học bao gồm:
giới tính, độ tuổi và thâm niên công tác.
Thứ bảy, phân tích thống kê mô tả.
76
TÓM TẮT CHƢƠNG 3
Dựa trên cơ sở lý thuyết, mô hình và các giả thuyết đã xây dựng. Nội dung
chương đề cấp các phương pháp sử dụng trong nghiên cứu bao gồm nghiên cứu
định tính và định lượng. Nghiên cứu định tính là quá trình phỏng vấn sâu ý kiến của
các chuyên gia, đội ngũ quản lý nhằm điều chỉnh thang đo nghiên cứu, xây dựng và
kiểm chứng sự phù hợp của các chỉ báo sử dụng trong nghiên cứu. Nghiên cứu sử
dụng công cụ SPSS nhằm đánh giá độ tin cậy của thang đo, kiểm định sự phù hợp
về ―giá trị hội tụ‖ và ―giá trị phân biệt‖ của thang đo trong phân tích EFA, kiểm
định hệ số tương quan Pearson và kiểm định các giả thuyết thông qua phân tích mô
hình mô hình hồi quy bội.
Nội dung của chương cũng nhằm mục tiêu kiểm định và đưa ra các kết quả
nghiên cứu bước đầu liên quan đến các biến và mô hình đã lựa chọn. Từ đó, xem
xét và hoàn thiện mô hình, bảng câu hỏi khảo sát hướng tới việc kiểm định chính
thức các giả thuyết đặt ra trong nghiên cứu dựa trên một quy mô mẫu phù hợp.
77
CHƢƠNG 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Đánh giá độ tin cậy của thang đo
Để đánh giá độ tin cậy của thang đo, nghiên cứu tiến hành phân tích
Cronbach‘s Alpha cho từng nhóm biến. Cronbach‘s Alpha là phép kiểm định thống
kê về mức độ chặt chẽ hay khả năng giải thích cho một khái niệm nghiên cứu của
một tập hợp các biến quan sát trong thang đo. Phương pháp này dùng để loại bỏ
những biến không phù hợp và hạn chế biến rác trong mô hình nghiên cứu. Hệ số
Cronbach‘s Alpha có giá trị biến thiên trong đoạn [0,1]. Về lý thuyết, hệ số này
càng cao thang đo càng có độ tin cậy cao. Tuy nhiên khi hệ số Cronbach‘s Alpha
quá lớn (khoảng từ 0.95 trở lên) cho thấy có nhiều biến trong thang đo không có
khác biệt nhau, hiện tượng này gọi là trùng lắp trong thang đo (Nguyễn Đình Thọ, 2014). Để xem xét tính phù hợp và cân nhắc loại các quan sát, nghiên cứu dựa trên ba hệ số chính:
Thứ nhất, hệ số tương quan biến tổng (Corrected Item – Total Correlation).
Nếu một biến đo lường có hệ số tương quan biến tổng lớn hơn hoặc bằng 0.3 thì
biến đó đạt yêu cầu (Nunnally, 1978).
Thứ hai, hệ số Cronbach‘s Alpha: Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng
Ngọc (2005), hệ số Cronbach‘s Alpha nếu từ 0.8 đến gần bằng 1 thì thang đo lường
rất tốt; Từ 0.7 đến gần bằng 0.8: thang đo lường sử dụng tốt; Từ 0.6 trở lên: thang
đo lường đủ điều kiện. Trong đề tài, nghiên cứu xác định yêu cầu đối với hệ số
Cronbach‘s Alpha > 0.7.
Thứ ba, hệ số Cronbach‘s Alpha If Item Deleted (hệ số Cronbach‘s Alpha
của biến nếu loại bỏ một quan sát): khi giá trị Cronbach‘s Alpha If Item Deleted lớn
hơn hệ số Cronbach‘s Alpha của nhóm thì cần xem xét loại biến quan sát này.
Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo đối với biến đặc điểm công việc cho
4.1.1. Đánh giá độ tin cậy của thang đo đối với biến đặc điểm công việc
thấy, hệ số tương quan biến tổng đều > 0.3; Hệ số Cronbach‘s Alpha của biến CV là
0.884 (>0.7). Đồng thời hệ số Cronbach‘s Alpha If Item Deleted nếu loại bỏ quan
sát đều nhỏ hơn hệ số Cronbach‘s Alpha của nhóm. Những kết quả này thể hiện độ
tin cậy của thang đo và các giá trị dữ liệu đưa vào phân tích.
78
Bảng 4.1. Đánh giá độ tin cậy của của thang đo đối với biến đặc điểm công việc
Chỉ Scale Mean if Scale Variance Corrected Item- Cronbach's Alpha
báo Item Deleted if Item Deleted Total Correlation if Item Deleted
CV1 23.05 12.432 0.645 0.871
CV2 23.18 12.651 0.690 0.865
CV3 23.23 12.121 0.731 0.859
CV4 22.77 12.652 0.629 0.872
CV5 23.07 13.144 0.603 0.875
CV6 23.20 12.675 0.673 0.867
Nguồn: Tổng hợp từ phân tích kết quả
CV7 23.25 11.986 0.737 0.858
4.1.2. Đánh giá độ tin cậy của thang đo đối với nhóm biến năng lực lực
cảm xúc
Quá trình đánh giá độ tin cậy của thang đo đối với biến nhận biết cảm xúc
4.1.2.1. Nhận biết cản xúc
được tiến hành hai lần, trong đó hệ số tương quan biến tổng của các biến quan sát
trong các lần đều có giá trị > 0.3; Hệ số Cronbach‘s Alpha của biến NBCX là 0.903
(lần 1) và 0.909 (lần 2) đều >0.7. Tuy nhiên, kết quả phân tích ở lần thứ nhất cho
thấy chỉ báo NBCX2 có hệ số Cronbach‘s Alpha if Item Delete là 0.909 lớn hơn so
với hệ số Cronbach‘s Alpha của biến NBCX (0.903). Vì vậy, để tăng tính phù hợp
của thang đo, nghiên cứu tiến hành loại các chỉ báo NBCX2. Kết quả phân tích ở
lần thứ hai cho thấy độ tin cậy của thang đo và các giá trị dữ liệu đưa vào phân tích.
79
Bảng 4.2. Đánh giá độ tin cậy của của thang đo đối với biến nhận biết cảm xúc
Kết quả lần 1
Chỉ báo Scale Mean if Scale Variance Corrected Item- Cronbach's Alpha
Item Deleted if Item Deleted Total Correlation if Item Deleted
NBCX1 31.38 40.333 0.733 0.889
NBCX2 31.18 41.071 0.472 0.909
NBCX3 31.39 40.444 0.634 0.895
NBCX4 31.43 40.114 0.763 0.887
NBCX5 31.41 39.924 0.658 0.894
NBCX6 31.34 41.237 0.693 0.892
NBCX7 31.45 40.256 0.632 0.895
NBCX8 31.39 41.561 0.670 0.893
NBCX9 31.41 40.316 0.669 0.893
NBCX10 31.42 40.803 0.759 0.888
Kết quả lần 2
Chỉ báo Scale Mean if Scale Variance Corrected Item- Cronbach's Alpha
Item Deleted if Item Deleted Total Correlation if Item Deleted
NBCX1 27.69 32.653 0.733 0.895
NBCX3 27.70 32.812 0.626 0.904
NBCX4 27.74 32.482 0.761 0.894
NBCX5 27.72 32.119 0.673 0.900
NBCX6 27.65 33.705 0.667 0.900
NBCX7 27.76 32.476 0.640 0.903
NBCX8 27.70 33.678 0.679 0.899
NBCX9 27.72 32.530 0.678 0.899
Nguồn: Tổng hợp từ phân tích kết quả
NBCX10 27.73 32.936 0.776 0.893
Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo đối với biến đặc điểm công việc cho
4.1.2.2. Sử dụng cảm xúc
thấy, hệ số tương quan biến tổng của các biến quan sát đều > 0.3; Hệ số Cronbach‘s
Alpha của biến SDCX là 0.860 (>0.7). Đồng thời hệ số Cronbach‘s Alpha If Item
80
Deleted nếu loại bỏ các quan sát đều nhỏ hơn hệ số Cronbach‘s Alpha của nhóm.
Những kết quả này thể hiện độ tin cậy của thang đo và các giá trị dữ liệu đưa vào
phân tích.
Bảng 4.3. Đánh giá độ tin cậy của của thang đo đối với biến sử dụng cảm xúc
Scale Mean if Scale Variance Corrected Item- Cronbach's Alpha Chỉ báo Item Deleted if Item Deleted Total Correlation if Item Deleted
SDCX1 16.71 17.455 0.691 0.829
SDCX2 16.77 17.259 0.702 0.827
SDCX3 16.80 17.213 0.661 0.835
SDCX4 16.95 18.535 0.602 0.845
SDCX5 16.88 18.385 0.615 0.843
Nguồn: Tổng hợp từ phân tích kết quả
SDCX6 16.90 18.276 0.636 0.839
Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo đối với biến đặc điểm công việc cho
4.1.2.3. Thấu hiểu cảm xúc
thấy, hệ số tương quan biến tổng của các biến quan sát đều > 0.3; Hệ số Cronbach‘s
Alpha của biến THCX là 0.850 (>0.7). Đồng thời hệ số Cronbach‘s Alpha If Item
Deleted nếu loại bỏ các quan sát đều nhỏ hơn hệ số Cronbach‘s Alpha của nhóm. Những
kết quả này thể hiện độ tin cậy của thang đo và các giá trị dữ liệu đưa vào phân tích.
Bảng 4.4. Đánh giá độ tin cậy của của thang đo đối với biến sử dụng cảm xúc
Scale Mean if Scale Variance Corrected Item- Cronbach's Alpha Chỉ báo Item Deleted if Item Deleted Total Correlation if Item Deleted
0.680 0.822 THCX1 23.50 22.465
0.571 0.834 THCX2 23.54 22.873
0.522 0.840 THCX3 23.69 23.413
0.554 0.836 THCX4 23.68 22.914
0.573 0.834 THCX5 23.69 22.823
0.612 0.829 THCX6 23.58 22.275
0.630 0.827 THCX7 23.65 22.284
0.569 0.835 THCX8 23.73 23.450
Nguồn: Tổng hợp từ phân tích kết quả
81
Quá trình đánh giá độ tin cậy của thang đo đối với biến kiểm soát cảm xúc
4.1.2.4. Kiểm soát cảm xúc
được tiến hành hai lần, trong đó hệ số tương quan biến tổng của các biến quan sát
trong các lần đều có giá trị > 0.3; Hệ số Cronbach‘s Alpha của biến KSCX là 0.857
(lần 1) và 0.862 (lần 2) đều >0.7. Tuy nhiên, kết quả phân tích ở lần thứ nhất cho
thấy chỉ báo KSCX6 có hệ số Cronbach‘s Alpha if Item Delete là 0.862 lớn hơn so
với hệ số Cronbach‘s Alpha của biến KSCX (0.857). Vì vậy, để tăng tính phù hợp
của thang đo, nghiên cứu tiến hành loại các chỉ báo KSCX6. Kết quả phân tích ở lần
thứ hai cho thấy độ tin cậy của thang đo và các giá trị dữ liệu đưa vào phân tích.
Bảng 4.5. Đánh giá độ tin cậy của của thang đo đối với biến kiểm soát cảm xúc
Kết quả lần 1
Chỉ báo
KSCX1 KSCX2 KSCX3 KSCX4 KSCX5 KSCX6 KSCX7 KSCX8 KSCX9 Scale Mean if Item Deleted 26.54 26.56 26.53 26.58 26.61 26.44 26.48 26.51 26.48 Scale Variance if Item Deleted 27.306 27.238 27.398 26.695 27.623 29.086 26.652 26.945 27.665 Corrected Item- Total Correlation 0.591 0.637 0.576 0.641 0.537 0.372 0.689 0.612 0.586 Cronbach's Alpha if Item Deleted 0.840 0.836 0.842 0.835 0.846 0.862 0.831 0.838 0.841
Kết quả lần 2
Chỉ báo
Nguồn: Tổng hợp từ phân tích kết quả
KSCX1 KSCX2 KSCX3 KSCX4 KSCX5 KSCX7 KSCX8 KSCX9 Scale Mean if Item Deleted 23.15 23.16 23.13 23.18 23.21 23.08 23.12 23.08 Scale Variance if Item Deleted 22.845 22.678 22.828 22.287 22.962 22.239 22.504 23.308 Corrected Item- Total Correlation 0.589 0.649 0.586 0.639 0.555 0.689 0.611 0.567 Cronbach's Alpha if Item Deleted 0.848 0.842 0.848 0.842 0.852 0.837 0.846 0.851
82
4.1.3. Đánh giá độ tin cậy của thang đo đối với biến động lực làm việc của
Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo đối với biến động lực làm việc của
nhà quản lý cấp trung
nhà quản lý cấp trung cho thấy, hệ số tương quan biến tổng của các biến quan sát
đều > 0.3; Hệ số Cronbach‘s Alpha của biến DL là 0.933 (>0.7). Đồng thời hệ số
Cronbach‘s Alpha If Item Deleted nếu loại bỏ quan sát đều nhỏ hơn hệ số
Cronbach‘s Alpha của nhóm. Những kết quả này thể hiện độ tin cậy của thang đo và
các giá trị dữ liệu đưa vào phân tích.
Bảng 4.6. Đánh giá độ tin cậy của của thang đo đối với biến động lực làm việc của nhà
quản lý cấp trung
Chỉ Scale Mean if Scale Variance Corrected Item- Cronbach's Alpha
báo Item Deleted if Item Deleted Total Correlation if Item Deleted
DL1 17.70 14.214 0.799 0.922
DL2 17.84 15.565 0.769 0.925
DL3 17.78 14.195 0.845 0.915
DL4 17.82 15.718 0.715 0.931
DL5 17.75 14.339 0.846 0.915
Nguồn: Tổng hợp từ phân tích kết quả
DL6 17.86 14.244 0.850 0.914
Như vậy, kết quả kiểm định Cronbach‘s Alpha cho thấy độ tin cậy của thang
đo dùng trong phân tích khi tất cả các giá trị Cronbach‘s Alpha của các biến đưa
vào mô hình đều đảm bảo sự phù hợp. Đặc biệt, thang đo ―Động lực làm việc của
nhà quản lý cấp trung‖ (Cronbach's Alpha = 0.933) và ―Nhân biết cảm xúc‖
(Cronbach's Alpha = 0.909) có hệ số Cronbach's Alpha rất cao. Trong mỗi nhóm
biến thì hệ số tương quan tổng của các biến quan sát đều lớn hơn 0.3. Điều này
khẳng định thang đo các nhân tố rút trích từ các biến quan sát là phù hợp và đáng
tin cậy. Vậy tất cả các biến quan sát còn lại có thể được sử dụng trong các bước
phân tích tiếp theo. Đồng thời, để tăng tính phù hợp của thang đo, nghiên cứu tiến
hành loại các chỉ báo NBCX2, KSCX6.
83
Bảng 4.7. Tổng hợp giá trị Cronbach’s Alpha của các biến
Ký Hệ số TT Biến hiệu Cronbach’s Alpha
1 Đặc điểm công việc CV 0.884
2 Nhận biết cảm xúc NBCX 0.909
3 Sử dụng cảm xúc SDCX 0.860
4 Thấu hiểu cảm xúc THCX 0.850
5 Kiểm soát cảm xúc KSCX 0.862
Nguồn: Tổng hợp từ phân tích kết quả
0.933 6 Động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung DL
4.2. Kiểm định giá trị của thang đo bằng EFA
4.2.1. Kiểm định EFA đối với các biến độc lập
Sau khi tiến hành kiểm định mức độ phù hợp của thang đo, nghiên cứu tiến
hành phân tích nhân tố khám phá EFA. Quá trình phân tích đối với các biến độc lập
được thực hiện hai lần, trong đó hệ số tải nhân tố trong các lần phân tích đều có giá
trì >0.5, thể hiện mối tương quan phù hợp giữa các biến quan sát (các chỉ báo) và
các nhân tố lựa chọn trong mô hình. Tuy nhiên, do không đảm bảo ―giá trị hội tụ‖
về cùng một nhân tố nên các chỉ báo CV6 bị loại.
Bảng 4.8. Kết quả phân tích nhân tố EFA đối với các biến độc lập
Phân tích Hệ số Phƣơng Hệ số tải P-value Kết luận EFA KMO sai trích nhân tố
Loại bỏ chỉ Lần 1 0.927 0.000 58.628 Tất cả >0.5 báo CV6
Đủ điều
Lần 2 0.940 0.000 55.921 Tất cả >0.5 kiện phân
Nguồn: Tổng hợp từ phân tích kết quả
tích
Kết quả lần hai cho thấy dữ liệu còn lại đủ điều kiện phân tích do có các hệ
số tải nhân tố > 0.5 và thỏa mãn hai điều kiện là "Giá trị hội tụ" (các biến quan sát
hội tụ về cùng một nhân tố) và "Giá trị phân biệt" (các biến quan sát thuộc về nhân
tố này phân biệt với nhân tố khác).
84
Bảng 4.9. Ma trận các nhân tố xoay
Chỉ báo
NBCX10 NBCX4 NBCX1 NBCX5 NBCX9 NBCX7 NBCX3 NBCX8 NBCX6 THCX7 THCX1 THCX6 THCX8 THCX2 THCX5 THCX4 THCX3 KSCX2 KSCX4 KSCX7 KSCX3 KSCX8 KSCX5 KSCX9 KSCX1 CV3 CV7 CV1 CV4 CV2 CV5 SDCX1 SDCX2 SDCX4 SDCX6 SDCX5 SDCX3 1 0.786 0.736 0.736 0.721 0.712 0.688 0.659 0.656 0.648 2 0.702 0.671 0.661 0.638 0.633 0.628 0.600 0.575 4 0.830 0.818 0.759 0.716 0.705 0.691 5 0.701 0.685 0.680 0.670 0.638 0.633 Nhân tố 3 0.730 0.698 0.697 0.642 0.639 0.617 0.575 0.558 Nguồn: Tổng hợp từ phân tích kết quả
85
4.2.2. Kiểm định EFA đối với biến phụ thuộc (Động lực làm việc của nhà
quản lý cấp trung)
Kết quả phân tích EFA đối với biến phụ thuộc cho hệ số KMO là 0.820 (>
0.5), giá trị sig là 0.000 (< 0.05), phương sai trích là 75.093. Đồng thời cả 5 chỉ báo
của biến phụ thuộc đều hội tụ về một yếu tố đảm bảo yêu cầu của kiểm định.
Bảng 4.10. Kết quả phân tích nhân tố EFA đối với biến phụ thuộc
Hệ số KMO
Kiểm định Bartlett Approx. Chi-Square Df Sig.
Nguồn: Tổng hợp từ phân tích kết quả
Phương sai trích Hệ số tải nhân tố Kết luận 0.820 2727.512 15 0.000 75.093 Tất cả >0.5 Đủ điều kiện phân tích
Sau khi tiến hành kiểm định EFA và loại bỏ chỉ báo CV6, nghiên cứu kiểm
định lại độ tin cậy của thang đo CV và cho thấy độ tin cậy của các thang đo CV phù
hợp (hệ số Cronbach‘s Alpha của biến CV là 0.867 lớn hơn 0.7).
4.3. Kiểm định hệ số tƣơng quan Pearson
Kết quả phân tích tương quan cho thấy tất cả các biến độc lập đều có tác
động đến biến phụ thuộc (động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung). Đồng thời,
giữa các biến có mối tương quan khá chặt với nhau (hệ số Sig. (2-tailed) đếu <0.05).
Vì vậy, để đảm bảo mức độ chính xác, cần phải xem xét kỹ lại vai trò của biến độc
lập trên mô hình hồi quy đa biến bằng cách xem xét mức độ tác động của từng biến
độc lập đến biến phụ thuộc.
Bảng 4.11. Hệ số tƣơng quan giữa các biến trong mô hình
CV 0.607**
NBCX 0.430** 0.283** THCX 0.466** 0.316** 0.461** 0.615** KSCX 0.442** 0.258** 0.574** 0.518** 0.531**
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả phân tích
SDCX Biến Động lực làm việc của 0.461** nhà quản lý cấp trung 0.320** Đặc điểm công việc 0.526** Nhận biết cảm xúc Sử dụng cảm xúc Thấu hiểu cảm xúc Kiểm soát cảm xúc **. Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed).
86
4.4. Phân tích mô hình hồi quy
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, với giá trị Sig. < 0.05, đồng thời hệ số
hồi quy chuẩn hóa Beta dương, tất cả các giả thuyết từ H1 đến H5 đều được chấp
nhận. Tức là các biến độc lập đưa vào mô hình bao gồm: đặc điểm công việc, nhận
biết cảm xúc, sử dụng cảm xúc, thấu hiểu cảm xúc và kiểm soát cảm xúc đều có tác
động thuận chiều đến động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung tại các doanh
nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ.
Đồng thời, với hệ số hồi quy chuẩn hóa cao nhất trong tất cả các biến độc lập
là 0.467, biến đặc điểm công việc có tác động mạnh nhất tới động lực làm việc của
nhà quản lý cấp trung. Thứ tự tác động tiếp theo bao gồm biến kiểm soát cảm xúc
với hệ số hồi quy chuẩn hóa là 0.139, thấu hiểu cảm xúc (0.134), sử dụng cảm xúc
(0.104) và nhận biết cảm xúc (0.101). Phương trình hồi quy thu được:
DL = -0.485 + 0.600*CV + 0.108*NBCX + 0.095*SDCX + 0.151*THCX +
0.157*KSCX.
Bảng 4.12. Kết quả phân tích hồi quy các nhân tố tác động đến động lực
làm việc của nhà quản lý cấp trung tại các DNNVV ở khu vực Bắc Trung Bộ
Hệ số phóng Hệ số Hệ số hồi quy TT Biến độc lập Sig. đại vƣơng sai hồi quy chuẩn hóa Beta VIP
(Constans) -0.485 0.013
1 Đặc điểm công việc 0.600 0.467 0.000 1.159
2 Nhận biết cảm xúc 0.108 0.101 0.020 1.696
3 Sử dụng cảm xúc 0.095 0.104 0.024 1.902
4 Thấu hiểu cảm xúc 0.151 0.134 0.003 1.827
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả phân tích Hệ số R2 hiệu chỉnh là 0.493. Điều này có nghĩa các biến độc lập đưa vào ảnh
5 Kiểm soát cảm xúc 0.157 0.139 0.002 1.768
hưởng 49.3 % sự thay đổi của biến phụ thuộc (động lực làm việc của nhà quản lý
cấp trung).
87
Các kiểm tra khác cho thấy, giả thuyết hồi quy không bị vi phạm. Kết quả
kiểm định các mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến do hệ số phóng đại
phương sai VIP của tất cả các biến đều <2. Giá trị Sig. của kiểm định F là 0.000
<0.05. Đồng thời, Hệ số Durbin - Watson là 1.739 (trong khoảng từ 1 đến 3), chứng
tỏ mô hình không có tự tương quan. Ngoài ra, với cả hai mô hình, giá trị sig mối
tương quan hạng giữa phần dư chuẩn hóa (ABSRES) với các biến độc lập đều >
0.05, do đó không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi xảy ra. Các kết quả này
thể hiện tính phù hợp của mô hình và dữ liệu nghiên cứu.
Như vậy, có thể thấy tầm quan trọng của các yếu tố đặc điểm công việc và
năng lực cảm xúc đối với nhà quản lý cấp trung trong việc nâng cao động lực làm
việc của họ. Đây là một hàm ý quan trọng và vấn đề làm thế nào để cải thiện điều
kiện làm việc và năng cao năng lực cảm xúc sẽ được xác định là một yêu cầu cấp
thiết nhằm thúc đẩy động lực và hiệu suất làm việc của nhà quản lý cấp trung.
4.5. Kiểm định sự khác biệt
Để đánh giá có hay không sự khác biệt về năng lực cảm xúc của nhà quản
lý cấp trung theo giới tính, độ tuổi và thâm niên công tác, nghiên cứu sử dụng
kiểm định ANOVA và T-Test. Mô hình kiểm định ANOVA sử dụng với biến
nhóm tuổi và thâm niên công tác, với kiểm định T-Test sử dụng cho biến giới
tính (nam và nữ).
4.5.1. Kiểm định sự khác biệt về năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp
trung theo giới tính
Kiểm định T-Test sử dụng cho biến giới tính (nam và nữ). Kết quả cho thấy,
giá trị sig của kiểm định Levene's Test là 0.880 > 0.05 nên phương sai giữa 2 nhóm
biến giới tính là không khác nhau, nghiên cứu sử dụng giá trị sig T-Test ở hàng
Equal variances assumed. Giá trị sig T-Test là 0.000 < 0.05. Vì vậy, có thể kết luận
không có sự khác biệt về năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung theo giới tính.
Nghiên cứu bác bỏ giả thuyết H6a.
88
Bảng 4.13. Kết quả kiểm định T - Test về sự khác biệt của năng lực cảm xúc nhà
quản lý cấp trung theo giới tính
Levene's Test
T-test for Equality of Means for Equality
of Variances
Sig. (2- Mean Std. Error F Sig. t df tailed) Difference Difference
0.023 0.880 - 3.805 457 0.000 - 0.20564 0.05404
NLCX - 3.802 444.905 0.000 - 0.20564 0.05409
4.5.2. Kiểm định sự khác biệt về năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp
trung theo nhóm tuổi
Mô hình kiểm định ANOVA sử dụng với biến độ tuổi (4 nhóm), nhóm I bao
gồm những người quản lý cấp trung dưới 30 tuổi, nhóm II từ 30 đến dưới 40 tuổi,
nhóm III từ 40 đến dưới 50 tuổi, nhóm IV từ 50 tuổi trở lên.
Kết quả kiểm định ANOVA cho thấy giá trị sig là 0.000 < 0.05. Vì vậy, có
thể kết luận có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về năng lực cảm xúc của nhà quản
lý cấp trung theo các nhóm tuổi. Do đó, giả thuyết H6b được chấp nhận.
Bảng 4.14. Kết quả kiểm định ANOVA về sự khác biệt của năng lực cảm xúc nhà
quản lý cấp trung theo nhóm tuổi
Sum of df Mean F Sig.
Squares Square
Between Groups 49.563 3 16.521 69.901 .000
Within Groups 107.538 455 0.236
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả phân tích
Total 157.101 458
Nghiên cứu tiến hành kiểm định sâu sau ANOVA nhằm đánh giá mức bình
quân và sự khác biệt về năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung theo nhóm
tuổi. Kết quả kiểm định cho thấy, nhóm 3 (từ 40 đến dưới 50 tuổi) có giá trị bình
quân về yếu tố năng lực cảm xúc ở mức cao nhất so với các nhóm tuổi khác
(3.8162). Kế tiếp là nhóm 4 (từ 50 tuổi trở lên) với giá trị bình quân về năng lực
89
cảm xúc là 3.5756, nhóm 2 (từ 30 đến dưới 40 tuổi) là 3.1075 và cuối cùng là nhóm
1 (3.0192) bao gồm những người quản lý cấp trung dưới 30 tuổi.
Bảng 4.15. Giá trị bình quân về năng lực lực cảm xúc của các nhà quản lý cấp trung
tại các DNNVV ở khu vực Bắc Trung Bộ theo nhóm tuổi
Nhóm tuổi Std. Deviation N Mean
1 107 3.0192 0.67740
2 126 3.1075 0.44261
3 116 3.8162 0.47067
4 110 3.5756 0.28630
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả phân tích
3.3782 0.58567 Tổng 459
4.5.3. Kiểm định sự khác biệt về năng lực làm xúc của nhà quản lý cấp
trung theo thâm niên công tác
Nghiên cứu sử dụng kiểm định ANOVA với nhóm biên thâm niên công tác
(3 nhóm). Nhóm 1 bao gồm các nhà quản lý cấp trung có thâm niên công tác trong
lĩnh vực quản lý hiện tại dưới 10 năm. Nhóm 2 gồm các nhà quản lý cấp trung có
thâm niên công tác lĩnh vực quản lý hiện tại từ 10 đến dưới 20 năm. Nhóm 3 gồm
các nhà quản lý cấp trung có thâm niên công tác lĩnh vực quản lý hiện tại từ 20 năm
trở lên.
Kết quả kiểm định ANOVA cho thấy giá trị sig là 0.044 < 0.05. Vì vậy, có
thể kết luận có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về năng lực cảm xúc của nhà quản
lý cấp trung theo thâm niên công tác. Do đó, giả thuyết H6c được chấp nhận.
Bảng 4.16. Kết quả kiểm định ANOVA về sự khác biệt của năng lực cảm xúc nhà
quản lý cấp trung theo thâm niên công tác
Sum of df F Sig. Mean
Squares Square
Between Groups 2.134 2 3.139 0.044 1.067
Within Groups 154.967 456 0.340
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả phân tích
Total 157.101 458
90
Nghiên cứu tiến hành kiểm định sâu sau ANOVA nhằm đánh giá mức bình
quân và sự khác biệt về năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung theo thâm
niên công tác. Kết quả kiểm định cho thấy, nhóm 3 bao gồm các nhà quản lý cấp
trung có thâm niên công tác lĩnh vực quản lý hiện tại từ 20 năm trở lên có giá trị
bình quân về yếu tố năng lực cảm xúc ở mức cao nhất so với các nhóm khác
(3.4733). Thứ tự tiếp theo là nhóm 2 gồm các nhà quản lý cấp trung có thâm niên
công tác lĩnh vực quản lý hiện tại từ 10 đến dưới 20 năm với giá trị bình quân về
năng lực cảm xúc là 3.4017 và cuối cùng là nhóm 1 bao gồm các nhà quản lý cấp
trung có thâm niên công tác trong lĩnh vực quản lý hiện tại dưới 10 năm với giá trị
năng lực cảm xúc bình quân là 3.2875.
Bảng 4.17. Giá trị bình quân về năng lực lực cảm xúc của các nhà quản lý cấp trung
tại các DNNVV ở khu vực Bắc Trung Bộ theo nhóm thâm niên công tác
Nhóm thâm niên công tác Std. Deviation N Mean
1 149 3.2875 0.60610
2 223 3.4017 0.55161
3 87 3.4733 0.61992
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả phân tích
Tổng 459 3.3782 0.58567
4.6. Phân tích thống kê mô tả
Như vậy, kết quả nghiên cứu đã cho thấy tầm quan trọng và sự tác động của
các nhân tố bao gồm có đặc điểm công việc và năng lực cảm xúc với 4 nhân tố là
nhận biết cảm xúc; sử dụng cảm xúc; thấu hiểu cảm xúc và kiểm soát cảm xúc đến
động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung. Đặc biệt là đặc điểm công việc và
kiểm soát cảm xúc với sự tác động là mạnh nhất.
Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt về động lực làm việc
của nhà quản lý cấp trung theo các biến đặc điểm nhân khẩu học bao gồm độ tuổi và
thâm niên công tác.
Ngoài ra, để xác định giá trị đo lường thực tế các nhân tố và so sánh với các
kết luận rút ra từ kết quả xử lý dữ liệu, nghiên cứu tiến hành phân tích thống kê mô
tả nhằm xác định giá trị bình quan của các nhân tố.
91
Bảng 4.18. Kết quả phân tích thống kê mô tả giá trị của các biến
Minimum Maximum Mean Std. Deviation Biến N
5.00 3.5588 0.76205 DL 459 1.33
5.00 3.8664 0.59336 CV 459 2.17
4.55 3.3782 0.58567 NLCX 459 1.50
5.00 3.4641 0.71208 NBCX 459 1.00
5.00 3.3671 0.83348 SDCX 459 1.00
5.00 3.3761 0.67512 THCX 459 1.00
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả phân tích
5.00 3.3056 0.67414 KSCX 459 1.00
Với giá trị bình quân cao nhất trong các nhân tố nghiên cứu đưa vào mô hình
là 3.8664, đặc điểm công việc các nhà quản lý cấp trung tại các doanh nghiệp nhỏ
và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ được đánh giá ở mức cao nhất. Điều này cho thấy,
tính chất phù hợp của các công việc quản lý, bên cạnh những áp lực trong công việc
thì môi trường làm việc, đặc thù của công việc quản lý giúp các nhà quản lý cấp
trung có thể tự rèn luyện được những kỹ năng cần thiết, qua đó tự phát triển bản
thân và tạo những hứng thú trong công việc của họ.
Tuy vậy, nếu đánh giá một cách công bằng và có sự so sánh với chỉ số chung
của các nhân tố khác trong các hoạt động quản lý thì chỉ số này vẫn còn ở mức
tương đối và vẫn rất cần có sự cải thiện để nâng cao hơn nữa chỉ số này đối với các
nhà quản lý cấp trung trong thời gian tới.
Bên cạnh đó, với giá trị bình quân của năng lực cảm xúc là 3.3056, có thể
thấy năng lực kiểm soát cảm xúc của các nhà quản lý cấp trung tại các doanh nghiệp
nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ còn ở mức thấp nhất trong số tất cả các biến
đưa vào mô hình. Vì vậy, nhất thiết trong thời gian tới, các nhà quản lý cấp trung
cần nhận biết rõ hơn tầm quan trọng của yếu tố năng lực cảm xúc, đặc biệt là với
khả năng kiểm soát, làm chủ cảm xúc trong từng tình hướng cụ thể để có thể đưa ra
các quyết định phù hợp và chính xác nhất, đồng thời không khừng tìm hiểu, tiếp thu
và học học nhằm nâng cao chỉ số năng lực cảm xúc của bản thân.
92
TÓM TẮT CHƢƠNG 4
Chương 4 đề cập các kết quả nghiên cứu trên cơ sở quá trình phân tích mô
hình và sử dụng các công cụ trong nghiên cứu. Với các phương pháp lựa chọn, nội
dung của chương hướng tới việc chỉ ra và làm rõ các kết quả nghiên cứu như độ tin
cậy của thang đo dùng trong nghiên cứu, phân tích nhân tố khám phá EFA, Kiểm
định hệ số tương quan Pearson, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu thông qua phân
tích mô hình hồi quy và thống kê mô tả các biến.
Về đánh giá độ tin cậy của thang đo, nghiên cứu tiến hành loại bỏ 2 chỉ báo là
NBCX2 và KSCX6 so với ban đầu. Kết quả phân tích EFA được tiến hành đối với cả
biến độc lập và biến phục thuộc (động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung) và loại
bỏ chỉ báo CV6 do không đảm bảo yêu cầu ―giá trị hội tụ‖ của thang đo.
Kết quả phân tích tương quan cho thấy tất cả các biến độc lập đều có tác
động đến biến phụ thuộc (động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung). Đồng thời,
giữa các biến có mối tương quan khá chặt với nhau (hệ số Sig. (2-tailed) đếu <0.05).
Về kết quả phân tích mô hình hồi quy và kiểm định các giả thuyết nghiên
cứu, với mức ý nghĩa p <0.05 và trọng số hồi quy dương, tất cả các giả thuyết đều
được chấp nhận. Trong đó, biến đặc điểm công việc có tác động mạnh nhất tới động
lực làm việc của nhà quản lý cấp trung. Thứ tự tác động tiếp theo bao gồm biến
kiểm soát cảm xúc, thấu hiểu cảm xúc, sử dụng cảm xúc và nhận biết cảm xúc.
Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt về động lực làm việc
của nhà quản lý cấp trung tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa theo các biến đặc điểm
nhân khẩu học bao gồm độ tuổi và thâm niên công tác, trong khi không có sự khác
biệt theo giới tính. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đã tiến hành phân tích thống kê mô tả
để xác định giá trị bình quân của các nhân tố đưa vào mô hình.
93
CHƢƠNG 5
THẢO LUẬN VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT
5.1. Tóm lƣợc kết quả nghiên cứu
Nhà quản lý cấp trung luôn đóng một vai trò quan trọng trong bất cứ một tổ
chức nào. Hiệu quả hoạt động của họ có tác động trực tiếp tới năng suất lao động
của các nhân viên và chi phối không nhỏ tới hiệu quả chung. Vì vậy, làm thế nào
tạo động lực làm việc cho nhà quản lý cấp trung luôn được các tổ chức, doanh
nghiệp và các cấp lãnh đạo quan tâm.
Nghiên cứu trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu, xây dựng và kiểm định mô
hình nghiên cứu với 2 biến độc lập chính là đặc điểm công việc và năng lực cảm
xúc của nhà quản lý cấp trung. Trong đó, năng lực cảm xúc bao gồm 4 biến thành
phần là nhận biết cảm xúc, sử dụng cảm xúc, thấu hiểu cảm xúc và kiểm soát cảm
xúc. Biến phụ thuộc là động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các biến phụ thuộc đưa vào mô hình đều
có tác động thuận chiều đến biến phụ thuộc. Đồng nghĩa với việc chấp nhận tất cả
các giả thuyết H1, H2, H3, H4, H5. Nghiên cứu cũng xác định được mô hình và thứ
tự tác động của từng nhân tố tố đến biến phụ thuộc (động lực làm việc của nhà quản
lý cấp trung của nhà quản lý cấp trung). Trong đó, đặc điểm công việc có tác động
mạnh nhất. Thứ tự tác động tiếp theo bao gồm biến kiểm soát cảm xúc, thấu hiểu
cảm xúc, sử dụng cảm xúc và nhận biết cảm xúc.
Đồng thời, kết quả kiểm định sự khác biệt của nghiên cứu đã cho thấy rằng,
đối với nhà quản lý cấp trung tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung
Bộ, có sự khác biệt về năng lực cảm xúc theo các biến nhân khẩu học gồm độ tuổi
và thâm niên công tác, trong khi kết quả kiểm định đã cho thấy không có sự khác
biệt theo giới tính.
Đây là các cơ sở giúp cho các nhà quản lý đề ra các giải pháp hữu hiệu nhằm
việc tăng động lực lao động cho các nhà quản lý cấp trung, hướng tới tăng năng suất
làm việc của họ và hiệu suất chung của toàn bộ tổ chức.
5.2. Thảo luận về các kết quả nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra tất cả yếu tố đưa vào mô hình bao gồm đặc điểm
trong công việc; năng lực cảm xúc với 4 nhân tố nhận biết cảm xúc, sử dụng cảm
94
xúc, thấu hiểu cảm xúc và kiểm soát cảm xúc đều có tác động thuận chiều đến động
lực làm việc của nhà quản lý cấp trung tại các DNNVV ở khu vực Bắc Trung Bộ.
Điều này cho thấy, tính phù hợp của nghiên cứu, nếu đem so sánh với các công
trình nghiên cứu trước có liên quan như Buble và cộng sự (2014); Michael và cộng
sự (2000); Wood và Jones (1995); Eskildsen và cộng sự (2004); Hackman và
Oldham (1980); Mayer và cộng sự (1990)…
Thứ hai, nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của năng lực cảm xúc đối với
động lực làm việc, qua đó chi phối hiệu quả trong công việc của nhà quản lý cấp
trung. Cả bốn nhân tố của năng lực cảm xúc đều có tác động đến động lực làm việc.
Trong đó, kiểm soát cảm xúc có tác động mạnh nhất trong các nhân tố thuộc biến
năng lực cảm xúc, trong khi nhận biết cảm xúc có sự tác động yếu nhất. Đây cũng là
những kết quả đảm bảo tính phù hợp với mô hình và thực tiễn nghiên cứu, đồng
thời kết quả này cũng có sự tương đồng với các công trình nghiên cứu trước của
Mayer và cộng sự (1990); Chiu (1999)…
Tuy nhiên, với giá trị bình quân trong thang đo từ 1 đến 5 thu được là
3.3782, có thể thấy năng lực cảm xúc của các nhà quản lý cấp trung tại các DNNVV
ở khu vực Bắc Trung Bộ còn ở khá thấp. Điều này đã cho thấy một thực trạng rằng,
tuy đã có sự chuyển biến đáng kể trong công tác quản lý ở các doanh nghiệp, nhưng
xét về năng lức cá nhân, nhiều các nhà quản lý cấp trung hiện nay ở các doanh
nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn hạn chế. Khả năng tư duy, nhạy bén trong các quyết
định để đảm bảo quản lý nhận viên và giúp dọ đạt được các mục tiêu trong mọi thời
kỳ vẫn còn là một sự nghi vấn đối với nhiều nhà quản lý cấp trung. Ngoài ra, tâm lý
ôm đồm công việc, hạn chế giao quyền, nhiệm vụ, không những tạo áp lực cho bản
thân các nhà quản lý cấp trung, mà còn có thể dẫn tới hiệu quả không việc bị giảm
sút. Vì vậy, nhất thiết trong thời gian tới, các nhà quản lý cần nhận biết rõ hơn tầm
quan trọng của nhân tố năng lực cảm xúc, cần không khừng tìm hiểu, tiếp thu và
học học nhằm nâng cao chỉ số năng lực cảm xúc của bản thân.
Thứ ba, luận án cũng xác định được thứ tự tác động của từng yếu tố đến
động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung. Trong đó, đặc điểm công việc có tác
động mạnh nhất. Thứ tự tác động tiếp theo bao gồm biến kiểm soát cảm xúc, thấu
hiểu cảm xúc, sử dụng cảm xúc và nhận biết cảm xúc. Đồng thời, với giá trị bình
95
quân cao nhất trong các biến nghiên cứu đưa vào mô hình là là 3.8664, đặc điểm
công việc các nhà quản lý cấp trung tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc
Trung Bộ được đánh giá ở mức cao nhất. Trong thời gian tới, bên cạnh sự nỗ lực
của bản thân các nhà quản lý cấp trung thì những người lãnh đạo doanh nghiệp cũng
cần tiếp tục tạo điều kiện trong thực thi công việc, tạo môi trường làm việc thuận
lợi, cung cấp các nguồn lực đầy đủ và cần thiết trong công việc để giúp các nhà
quản lý cấp trung có thể yên tâm, tập trung cố gắng trong công việc, tạo động lực và
phát huy tối đa năng lực của họ, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý, hiệu suất làm việc
của từng cá nhân, đóng góp vào sự đi lên của doanh nghiệp.
Thứ tư, kết quả nghiên cứu của luận án đã cho thấy sự khác biệt về năng lực
cảm xúc của nhà quản lý cấp trung theo các biến nhân khẩu học bao gồm nhóm tuổi
và thâm niên công tác, nhưng lại không có sự khác biệt theo giới tính. Đây sẽ là
những đóng góp có ý nghĩa về mặt lý luận của luận án, đồng thời sẽ là những cơ sở
quan trọng, tiền đề cho các công trình nghiên cứu tiếp theo.
Như vậy, luận án chứng minh được sự phù hợp của việc vận dụng các trường
phái lý thuyết lý thuyết về đặc điểm công việc của Hackman và Oldham (1980) và
lý thuyết về thang đo EI của Mayer và Salovey (1997) trong nghiên cứu về động lực
làm việc của nhà quản lý cấp trung.
Luận án đã xây dựng và kiểm định mô hình nghiên cứu trong bối cảnh tại các
doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ và cho thấy các nhân tố đặc
điểm công việc, năng lực cảm xúc với các thành phần của nó đều có tác đông thuận
chiều đến động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung tại các DNNVV ở khu vực
Bắc Trung Bộ.
Luận án chỉ ra thực trạng xây dựng các kế hoạch và thực hiện một số chính
sách và tạo động lực trong lao động và quản lý, cũng như đánh giá tính phù hợp của
nó trong bối cảnh các DNNVV ở khu vực Bắc Trung Bộ.
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu đã được chỉ ra cùng với những phân tích
về thực trạng vấn đề động lực và tạo động lực cho nhà quản lý cấp trung, nghiên
cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất dựa trên cơ sở hoàn thiện các yếu tố về đặc
điểm công việc, đồng thời nâng cao năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung
nhằm tạo động lực trong công việc của họ, từ đó góp phần nâng cao hiệu suất công
việc và hiệu quả hoạt động quản lý.
96
5.3. Một số đề xuất
5.3.1. Với đặc điểm công việc của nhà quản lý cấp trung
Thứ nhất, tạo sự chủ động trong thực hiện công việc.
Sự chủ động trong quá trình thực hiện công việc đóng vai trò quan trọng
hàng đầu trong tạo lập mọi nỗ lực, sự cố gắng trong công việc cũng như động lực
làm việc hiệu quả của nhà quản lý. Với vai trò điều hành mọi hoạt động trong bộ
phần mình phụ trách, cũng như tạo lập và điều tiết các mối quan hệ, hiệu quả làm
việc của nhà quản trị cấp trung một phần xuất phát từ chính sự chủ động trong công
việc của họ. Nhà quản lý cấp trung cần tự xây dựng cho mình các bản kế hoạch rõ
ràng, hướng đi cụ thể, chi tiết trong mọi hành động. Cần nắm bắt các nhân tố tác
động, chi phối từ cả bên trong và bên ngoài, thấy được các thời cơ, thách thức để từ
đó đưa ra được các quyết định đúng đắn trong mọi tình huống.
Để tạo sự chủ động trong công việc, doanh nghiệp cũng cần tạo điều kiện để
các nhà quản lý cấp trung được tham gia vào việc ra quyết định và đưa ra những ý
tưởng, đề nghị, đề xuất liên quan đến công việc của mình và tham gia vào xây dựng
chiến lược, kế hoạch kinh doanh của công ty. Các doanh nghiệp cần quan tâm hơn
đến định hướng hoạt động nhóm trong tổ chức, tăng cường các hoạt động làm việc
nhóm một cách hiệu quả, phân công trách nhiệm, nhiệm vụ đi đôi với quyền lợi
trong hoạt động nhóm một cách rõ ràng. Khuyến khích nhà quản lý cấp trung tích
cực tham gia các hoạt động quản lý nhóm trong và ngoài công việc nhằm kích thích
hiệu quả công việc và sự gắn bó với nhau giữa nhà quản lý và nhân viên. Bên cạnh
đó, doanh nghiệp cũng cần chú trọng đến công tác đào tạo, phát triển năng lực của
nhà quản lý cấp trung. Tạo cơ hội để nhà quản lý cấp trung có thể phát triển chuyên
môn, sự sáng tạo một cách tốt nhất trong công việc. Đồng thời, khuyến khích quá
trình quản lý, tạo động lực làm việc dựa trên các chính sách trao quyền và ủy quyền
hiệu quả, đảm bảo sự công bằng và dựa trên năng lực cũng như sự đóng góp và nỗ
lực của nhà quản lý.
Nhà quản lý cấp trung với yêu cầu về công việc lên quan đến các hoạt động
chuyên môn cụ thể nên hiệu quả làm việc của họ gắn liền với yêu cầu về tính chủ
động trong phân công công việc hợp lý. Phân công công việc hợp lý giúp nhà quản
lý cấp trung dễ dàng trong quản lý, giảm các áp lực trong công việc, đồng thời giúp
97
nhà quản lý cấp trung đưa ra được những ý tưởng sáng tạo, giúp công việc của họ
được vận hành một cách trôi chảy và hiệu quả.
Phân công công việc là một trong những nhiệm vụ thiết yếu của nhà quản lý
cấp trung. Nhà quản lý cần biết giao việc, giám sát và đánh giá nhân viên một cách
hiệu quả. Sự minh bạch trong vai trò và trách nhiệm sẽ có ảnh hưởng đến sự hài
lòng, gắn kết và hiệu suất làm việc của nhân viên trong các doanh nghiệp. Ngoài ra,
sự phân chia công việc rõ ràng sẽ khiến cho nhân viên không bị mất động lực làm
việc cũng như tâm lý căng thẳng. Để phân công công việc hiệu quả, trước tiên, nhà
quản lý cấp trung cần xác định rõ vai trò và trách nhiệm đối với các nhiệm vụ.
Đảm bảo hiệu quả, chất lượng công việc là một trong những lợi ích lớn nhất
mà kỹ năng tổ chức, phân công công việc mang lại. Khi biết cách sắp xếp một cách
khoa học, mọi việc sẽ diễn ra đúng tiến độ, theo đúng kế hoạch đã đặt ra. Nhân viên
được phân công công việc phù hợp với năng lực của mình cũng sẽ làm việc hiệu
quả hơn, tránh được sự chán nản trong công việc, qua đó giúp nhà quản lý cấp trung
nâng cao được hiệu quả làm việc và tạo động lực trong công việc cho họ.
Phân công công việc phù hợp tạo ra sự chủ động trong công việc của nhà
quản lý cấp trung, họ sẽ phải dành ít thời gian để sửa lỗi, tìm kiếm thông tin hay
khắc phục sự cố không đáng có. Tiết kiệm được thời gian cho những việc vặt đồng
nghĩa với việc nhiều công việc có ích, hiệu quả cao khác được thực hiện. Không chỉ
có ích về mặt quản lý thời gian hay hiệu suất làm việc mà kỹ năng tổ chức và phân
công công việc còn tạo điều kiện thuận lợi cho nhân viên trong công ty chia sẻ
thông tin, cách thức và kinh nghiệm làm việc với những người khác, tạo nên một
quy trình làm việc nhóm hiệu quả cao, có tác dụng trong hiệu suất công tác và tạo
động lực cho nhà quản lý cấp trung.
Thứ hai, tạo sự hứng thú trong làm việc.
Bất cứ một công việc nào muốn đem lại hiệu quả cao cũng đều đòi hỏi sự chi
tiết, tỷ mỉ và niềm say mê đối với công việc đó. Quản lý là một hoạt động mang tính
sáng tạo, khoa học và nghệ thuật, đòi hỏi nhà quản lý cần hội tụ nhiều kỹ năng khác
nhau và sự hứng thú trong công việc này sẽ là giải pháp hữu hiệu giúp nhà quản lý
vượt qua được nhiều khó khăn trong công việc và mang lại thành công. Sự hứng thú
trong công việc đối với nhà quản lý cấp trung có thể xuất phát từ nhiều nguyên
98
nhân khác nhau như sự gắn kết trong công việc của nhà quản lý và nhân viên; môi
trường làm việc; kết quả thực hiện công việc của bản thân nhà quản lý cấp trung hay
là những phần thưởng của tổ chức mang lại cho chính bản thân các nhà quản lý.
Nhà quản lý cấp trung khi có được sự hứng thú trong công việc, hõ sẽ phát huy
được nhiều tố chất tích cực, vốn có của bản thân trong công việc, phát huy được
tinh thần sáng tạo, nỗ lực cố gắng và từ đó chi phối không nhỏ tới động lực làm việc
của họ. Với các DNNVV, việc tạo hứng thú cho bản thân các nhà quản lý cấp trung
càng trở nên quan trọng hơn. Bởi vì, các DNNVV với quy mô hạn chế, nguồn lực
không nhiều. Thì bên cạnh các giải pháp khuyến khích về mặt vật chất như lương,
thưởng thì tạo sự hứng thú trong làm việc là yêu cầu quan trọng. Cần giao việc đúng
năng lực cho nhà quản lý cấp trung. Mỗi nhà quản lý sẽ có các thế mạnh khác nhau
trong làm việc, họ được đào tạo để phát huy năng lực chuyên môn trong từng lĩnh
vực nhất định. Vì vậy, để nhà quản lý cấp trung hăng say hơn trong công việc, lãnh
đạo cần giao việc đúng năng lực cũng như niềm đam mê. Bởi chỉ khi thật sự yêu
thích và cảm thấy hứng thú với công việc họ mới có thể tập trung và nỗ lực hết
mình để hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Ngoài ra, doanh nghiệp cần đảm
bảo tính công bằng để nâng cao tinh thần làm việc của nhà quản lý cấp trung. Tránh
sự phân biệt đối xử về giới tính, vùng, miền… Cần chú trọng vấn đề khen thưởng,
động viên đúng lúc, đúng cách để thúc đẩy tinh thần làm việc và sự nỗ lực của các
nhà quản lý. Cụ thể là tùy theo thành tích mà nhà lãnh đạo trong doanh nghiệp có
thể lựa chọn cách khen thưởng phù hợp đối với quá trình làm việc của nhà quản lý
cấp trung, cũng như có các chế tài xử lý đối với những sai phạm, tinh thần thiếu
trách nhiệm trong công việc, hay sự thiếu lỏng lẻo trong công tác quản lý nhân viên
dưới quyền để dẫn tới những hậu quả không mong muốn của nhà quản lý cấp trung.
Thứ ba, tạo cơ hội phát triển năng lực chuyên môn cho nhà quản lý cấp trung.
Kỹ năng chuyên môn được coi là kỹ năng quan trọng đối với quản lý cấp
trung, những người sẽ phụ trách quản lý từng bộ phận chuyên trách trong doanh
nghiệp. Vì vậy, nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ nhà quản lý cấp trung
không những là yêu cầu cấp thiết trong thời điệm hiện tại mà sẽ là mục tiêu mang
tính lâu dài, thường niên của mọi tổ chức. DNNVV với quy mô hạn chế, trình độ
công nghệ chưa tiệm cận nhiều với các doanh nghiệp lớn cũng như các tập đoàn
99
hàng đầu. Vì vậy, họ cần phát huy yếu tố sức mạnh về nguồn nhân lực. Mà biểu
hiện chính là năng lực chuyên môn, kỹ năng làm việc của đội ngũ quản lý, để từ đó
tác động vào hiệu quả làm việc của nhân viên. Để nâng cao năng lực chuyên môn
của nhà quản lý cấp trung, cần thường xuyên tổ chức các khoá đào tạo với nhiều
hình thức phù hợp như đào tạo nghiệp vụ ngắn hạn, tổ chức các buổi hội thảo
chuyên đề, mời các chuyên gia tư vấn…. Bên cạnh đó, quá trình đào tạo cần kết hợp
với các phương pháp đánh giá công bằng trong kết quả đào tạo về mặt lý thuyết
cũng như thể hiện qua kết quả làm việc thực tế của nhà quản lý cấp trung. Từ đó,
đưa ra các thông tin phản hồi và trao đổi với nhà quản lý về năng lực làm việc, năng
lực quản lý của họ.
Trong quá trình đào tạo, cần kết hợp giữa đào tạo lý thuyết và thực hành, kết
hợp giữa đào tạo, nâng cao kỹ năng quản lý nhân viên của nhà quản lý cấp trung và
năng lực thực hành công việc. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá hiệu quả của
hoạt động đào tạo. Quá trình kiểm tra nên thực hiện thường xuyên và áp dụng đối
với mọi đối tượng quản lý để đảm bảo những nhà quản lý khi được tham gia vào
các khoá đào tạo luôn chuyên tâm trong quá trình học tập, phát triển năng lực
chuyên môn, kỹ năng cần thiết để đóng góp có hiệu quả trong công tác quản lý của
họ trên thực tế sau khi kết thúc mỗi khoá đào tạo. Đồng thời, cần có những đánh giá
công bằng đối với kết quả đào tạo của đội ngũ nhà quản lý cấp trung để đưa ra các
chế độ thưởng, phạt hợp lý, cũng như phân bổ nguồn nhân lực phù hợp với năng lực
chuyên môn và kỳ vọng phát triển trong tương lai của nhà quản lý cấp trung.
Bên cạnh đó, cần giáo dục đào tạo để nhà quản lý cấp trung nhận thức rõ vai
trò của công tác quản lý trong doanh nghiệp. Từ đó, họ sẽ chủ động gương mẫu
trong mọi hoạt động công tác, trong lối sống cá nhân, tạo sức hút và thúc đẩy tập
thể đồng thuận, tạo tổng hợp lực lớn nhất cho thực hiện nhiệm vụ chung của tổ
chức, đơn vị, cũng như của toàn xã hội. Nhà quản lý làm việc trước hết với động cơ
vì lợi ích tập thể, động cơ làm việc tích cực, trong sáng chính là chìa khóa thành
công trong hoạt động quản lý, là nền tảng, cơ sở cho nhà quản lý cấp trung vượt lên
trước cám dỗ đời thường, hành động công tâm vì hiệu quả công việc và lợi ích của
doanh nghiệp và xã hội.
100
Trong xu thế phát triển nhảy vọt của khoa học công nghệ, tri thức của loài
người không ngừng được bổ sung thì yêu cầu về tri thức, văn hoá và trình độ
chuyên môn của các cấp quản lý nói chung nhà quản lý cấp trung nói riêng càng
phải cao hơn. Nhà quản lý cấp trung cần có tri thức khoa học xã hội phong phú và
tri thức khoa học kỹ thuật sâu rộng mà trước hết là phải có những hiểu biết cơ bản
về chuyên môn nghiệp vụ trên các mặt của lĩnh vực, ngành hoặc đơn vị mà họ
đảm nhiệm cũng như tri thức khoa học tổ chức quản lý hiện đại và tư duy, kỹ năng
quản lý.
Thực tế, việc học tập của nhà quản lý cấp trung chưa thực sự hiệu quả do
nhiều nguyên nhân. Nội dung, chương trình, hình thức và phương pháp đào tạo, bồi
dưỡng chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý. Một số chương trình đào tạo, bồi
dưỡng nặng về lý luận, dàn trải, thiếu sự liên thông, kế thừa, trùng lặp về nội dung,
thiếu tính thiết thực, chưa đi sâu vào rèn luyện kỹ năng, nghiệp vụ công tác quản lý.
Do vậy, mặc dù đã được đào tạo, bồi dưỡng, một số quản lý cấp trung còn tỏ ra lúng
túng trong việc thực hiện nhiệm vụ, năng lực quản lý, điều hành, giải quyết những
vấn đề thực tiễn đặt ra còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong giai
đoạn mới.
Để nâng cao năng lực của nhà quản lý cấp trung, nội dung đào tạo, bồi
dưỡng phải bảo đảm trang bị đủ kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ theo yêu cầu công
việc, quy định theo tiêu chuẩn của cán bộ quản lý. Phương pháp đào tạo cần đổi mới
theo hướng nâng cao năng lực quản lý gắn với vị trí và trách nhiệm tương ứng của
cán bộ.
Năng lực chuyên môn được coi là một trong những yêu cầu quan trọng
hàng đầu đối với các nhà quản lý cấp trung bởi họ là những người chịu trách
nhiệm quản lý trực tiếp nhân viên và điều hành các hoạt động gắn liền với từng
nhiệm vụ, chuyên môn của tổ chức. Vì vậy, bên cạnh những khoá đào tạo, nâng
cao năng lực quản lý trong công việc do doanh nghiệp tổ chức, các nhà quản lý
cấp trung cũng cần tự mình nâng cao năng lực chuyên môn của bản thân bằng
nhiều phương pháp như tự nghiên cứu, tìm tòi để nâng cao sự hiểu biết của bản
thân về các hoạt động quản lý, tăng cường các mối quan hệ trong giao lưu, hợp tác
101
với các đối tác, đồng nghiệp nhằm giúp nhà quản lý cấp trung rèn luyện và nâng
cao kinh nghiệm trong quản lý.
Thứ tư, phát triển các mối quan hệ trong và ngoài công việc.
Động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung chịu sự chi phối bởi nhiều yếu
tố khác nhau và có tác động không nhỏ tới kết quả làm việc của nhà quản lý. Nhà
quản lý cấp trung với kỹ năng quan trọng nhất là kỹ năng quan hệ, luôn đòi hỏi nhà
quản lý cần rèn luyện và nâng cao tố chất liên quan đến kỹ năng này. Việc thường
xuyên xây dựng, tạo sự gắn kết trong các mối quan hệ với cả nhân viên dưới quyền,
các đồng nghiệp và nhà quản lý cấp cao, cũng như tạo dựng, duy trì và phát triển các
mối quan hệ với bên ngoài được coi là các yêu cầu cần thiết đối với tất cả các hoạt
động kinh doanh có sự tham gia của nhà quản lý cấp trung. Nhà quản trị cấp trung
cần thương xuyên tham gia các hoạt động giao lưu, hợp tác với các đối tác liên quan
như khách hàng, nhà cung ứng. Cần cung cấp các thông tin về đối tác, xây dựng các
kế hoạch cụ thể trong quá trình tiếp cận và làm ăn lâu dài với khách hàng và đối tác
tin cậy. Không những vậy, việc tạo niềm tin đối với đối tác cũng là yêu cầu mà các
nhà quản lý cấp trung phải xem trọng trong quá trình làm việc bên ngoài tổ chức.
Doanh nghiệp cần thường xuyên tổ chức các hội nghị khách hàng, các buổi
toạ đàm, giao lưu hợp tác trên tinh thần hữu nghị và cùng có lợi với các đối tác, nhà
cung cấp và khách hàng. Cần xây dựng hệ thống dữ liệu và lưu trữ thông tin đầy đủ,
quan trọng về khách hàng. Tạo dựng niềm tin thông qua việc chia sẻ các tri thức cần
thiết, hỗ trợ đối tác và cùng nhau tháo gỡ khó khăn cũng là những giải pháp hữu
hiệu giúp doanh nghiệp, nhà quản lý cấp trung có được sự tin tưởng tuyệt đối từ
khách hàng và đối tác.
Đồng thời, với nhiệm vụ quản lý nhân viên thuộc bộ phận chuyên môn, nhà
quản lý cấp trung cần xây dựng mối quan hệ hài hoà, tốt đẹp và thân thiện với nhân
viên cấp dưới. Kết quả làm việc của nhân viên là một trong các yếu tố có thể tác
động đến động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung. Vì vậy, bản thân nhà quản lý
cần tạo dựng cho mình một phong cách làm việc dân chủ, hài hoà và được sự tín
nhiệm của các nhân viên trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nhà quản lý cũng cần
kết hợp với các biện pháp kiểm tra, giám sắt chặt chẽ quá trình làm việc của nhân
102
viên để từ đó vừa tạo mối quan hệ bền vững trong công việc, vừa hạn chế các hành
vi cá nhân mang tính tiêu cực của các nhân viên dưới quyền.
Hiệu quả thực hiện công việc của nhà quản lý cấp trung một phần không nhỏ
chịu sự chi phối của các mối quan hệ giữa họ với nhân viên, đồng nghiệp và đối tác
trong kinh doanh. Giải quyết tốt các mối quan hệ trong và ngoài công việc là giải
pháp hữu hiệu giúp nhà quản lý cấp trung tạo sự gắn kết lâu dài trong công việc,
nâng cao tính chủ động, giải toả áp lực, qua đó có tác dụng trong tạo động lực làm
việc cho nhà quản lý. Giải quyết tốt các mối quan hệ bên trong công việc là chìa
khoá giúp nhà quản lý cấp trung tạo dựng, duy trì và phát triển các mối quan hệ bên
ngoài doanh nghiệp.
Mối quan hệ bên trong công việc bao gồm các mối quan hệ với nhân viên,
với đồng nghiệp, với các nhà quản lý và người lãnh đạo. Nhà quản lý cấp trung cần
có các kế hoạch cụ thể trong vấn đề tạo dựng các mối quan hệ trong doanh nghiệp,
tạo dựng không khí làm việc thân thiện, hài hoà, cởi mở có tác dụng trong gây dựng
sự thiện cảm, ủng họ từ phía nhân viên đối với họ. Cần nắm bắt nhu cầu, tâm lý của
nhân viên để có các cách thức xử lý phù hợp trong xây dựng và phát triển các mối
quan hệ.
Mối quan hệ giữa nhà quản lý cấp trung và nhân viên cũng là một yếu tố
quan trọng ảnh hưởng đến năng suất lao động của nhân viên và nhà quản lý. Nhà
quản lý cấp trung có tầm nhìn xa, kỹ năng quản lý con người, có chính sách
thưởng phạt kịp thời sẽ khiến nhân viên cảm thấy đó là môi trường lý tưởng để
làm việc. Bên cạnh đó, việc bố trí, phân công khối lượng công việc phải hợp lý
với năng lực, trình độ mỗi nhân viên. Sẽ không ai cảm thấy hào hứng khi được
giao quá nhiều việc không phù hợp năng lực, chuyên môn của mình. Ngoài ra, kỹ
năng lắng nghe cũng rất cần thiết để lãnh đạo xây dựng, duy trì mối quan hệ tốt
đẹp với nhân viên. Từ đó, tạo ra tâm lý làm việc tích cực của nhân viên, có tác
dụng trong nâng cao hiệu suất làm việc của nhà quản lý cấp trung, cũng như tạo
động lực làm việc cho họ.
Chọn được đối tác phù hợp như chọn được mảnh ghép còn thiếu cho các
doanh nghiệp. Việc duy trì các quan hệ với động tác được thực hiện hiệu quả sẽ
giúp ích cho quá trình hoạt động và phát triển của mỗi tổ chức. Vì vậy nhà quản lý
103
cấp trung nên chú trọng và xây dựng quy trình thực hiện quản lý đối tác một cách
chi tiết và phù hợp. Quản trị quan hệ với đối tác là quá trình theo dõi và duy trì các
mối quan hệ hợp tác một cách hiệu quả, năng suất và hài hoà.
Việc đảm bảo quản trị quan hệ với đối tác tốt sẽ tạo ra nhiều thuận lợi cho
doanh nghiệp và ngược lại, nó có thể mang đến những rủi ro không đáng có. Cụ thể,
một mối quan hệ tốt với đối tác hiệu quả, bản thân quan hệ đối tác sẽ bổ sung nhiều
lợi ích về các nguồn tiềm lực, tài năng, chuyên môn quan trọng giúp doanh nghiệp
đi lên, phát triển và cạnh tranh được trên thương trường. Ngược lại, mối quan hệ
không tốt sẽ khiến doanh nghiệp mất thời gian, tiền bạc và gặp nhiều rủi ro.
Duy trì quan hệ đối tác hiệu quả là điều quan trọng để đảm bảo rằng mục tiêu
trong công việc của các nhà quản lý cấp trung luôn đi đúng hướng. Sự thành công
hay thất bại của công tác quản lý thường xác định bởi hướng xử lý thách thức và cơ
hội mà các đối tác đem lại.
Vì vậy, xây dựng và phát triển các mối quan hệ với đối tác sẽ giúp nhà quản
lý cấp trung định hướng và đưa ra các bước đi thích hợp, lựa chọn được đối tác phù
hợp và quá trình thực hiện để đạt được mục tiêu đó. Bên cạnh đó, nhà quản lý cần
chủ động duy trì, quản trị quan quan hệ với đối tác đảm bảo tính lâu dài và ổn định.
Cần duy trì liên lạc thường xuyên với các đối tác thông qua các kênh chính thức và
không chính thức để đánh giá lại các bên xem quan hệ đối tác có thực sự hiệu quả
hay không.
Thứ năm, hoàn thiện môi trường làm việc
Đối với môi trường làm việc, cần trang bị các thiết bị, công cụ cần thiết tại
nơi làm việc của nhà quản lý cấp trung. Xây dựng môi trường làm việc chủ động, an
toàn và hạn chế áp lực trong làm việc. Đồng thời, tạo điều kiện để nhà quản lý cấp
trung có thể xủ lý công việc với hiệu quả tốt nhất. Xây dựng môi trường quản lý tốt
là một trong những nội dung, nhiệm vụ hàng đầu mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng
đều phải quan tâm thực hiện. Có môi trường quản lý tốt thì mỗi cá nhân từ nhà quản
lý đến nhân viên đều có điều kiện làm việc tốt, phát huy khả năng, năng lực của
mình trong công việc, đặc biệt là với nhà quản lý cấp trung. Nói cách khác môi
trường quản lý tốt không chỉ là điều kiện mà còn là cơ sở tạo động lực cho nhà quản
lý cấp trung.
104
Môi trường quản lý là một khái niệm rộng bao gồm những gì có liên quan,
tác động trực tiếp đến hoạt động và sự phát triển, nâng cao năng lực công tác của
mỗi nhà quản lý trong một hệ thống. Đó là các yếu tố về cơ sở vật chất, tinh thần,
chế độ chính sách, mối quan hệ giữa lãnh đạo đối với nhân viên và giữa nhân viên
với nhân viên… trong một cơ quan, tổ chức, đơn vị. Môi trường quản lý tốt là một
trong những yếu tố quan trọng tác động đến động lực hoạt động của nhà quản lý cấp
trung, cũng như quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của toàn doanh
nghiệp, từng bộ phận cũng như của toàn xã hội.
Trong thực tế đã có không ít DNNVV có môi trường quản lý không tốt làm
nảy sinh hiện tượng tiêu cực như: mất đoàn kết, cả cán bộ quản lý và nhân viên đều
thiếu nhiệt huyết làm việc, dẫn đến chất lượng, hiệu quả làm việc kém; thậm chí do
nội bộ mất đoàn kết, không ít nhà quản lý cấp trung có trình độ, năng lực xin thôi
việc hoặc chuyển công tác … Để tạo lập môi trường quản lý tốt cần thực hiện đồng
bộ nhiều khâu thuộc trách nhiệm của bản thân mỗi tổ chức cũng như trách nhiệm
của xã hội. Trước hết, doanh nghiệp phải bảo đảm điều kiện về cơ sở vật chất phục
vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của nhà quản lý. Cần duy trì và thực
hiện đúng các quy định của Nhà nước, doanh nghiệp nhất là những vấn đề liên quan
đến tiền lương, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm cán
bộ. Xây dựng mối quan hệ hài hoà, tốt đẹp giữa lãnh đạo, nhà quản lý và nhân viên.
Đây là một nội dung hết sức quan trọng đòi hỏi người lãnh đạo, nhà quản lý cấp
trung phải có tầm nhìn xa, trông rộng, là người công tâm, có tâm huyết với công
việc, trên cơ sở nhìn nhận rõ yêu cầu công việc mà doanh nghiệp phân công, bố trí
công việc hợp lý, phù hợp với trình độ chuyên môn và năng lực công tác của mỗi
cán bộ quản lý cấp trung. Ngoài ra, cần xây dựng một tập thể đoàn kết, tạo lập văn
hóa trong tổ chức. Đây là một trong những nội dung hết sức quan trọng trong công
tác cán bộ; có đoàn kết, thống nhất thì mới hoàn thành được nhiệm vụ chung của
đơn vị. Nội dung này đòi hỏi cả các cấp lãnh đạo doanh nghiệp và nhà quản lý cấp
trung phải thường xuyên quan tâm, tạo cho mọi người ý thức làm việc tập thể, biết
quan tâm lẫn nhau cùng giúp đỡ nhau trong cuộc sống và công tác. Phát hiện những
mâu thuẫn cá nhân bên trong doanh nghiệp để kịp thời giải quyết một cách nhân
văn, thường xuyên để mọi người gắn bó với nhau cùng phấn đấu.
105
Làm việc trong một môi trường lý tưởng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực
tiếp đến việc kiểm soát cảm xúc và năng suất làm việc của nhà quản lý cấp trung.
Sự thoải mái, cởi mở và chuyên nghiệp nơi công sở chính là điều kiện rất tốt để tạo
động lực cho nhà quản lý nỗ lực cố gắng cống hiến, tạo ra giá trị góp phần vào sự
thành công chung của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cần tạo dựng niềm tin với nhà quản lý cấp trung. Niềm tin của
nhà quản lý cấp trung dành cho nhà quản lý sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt
động của doanh nghiệp. Trong môi trường làm việc, những người quản lý cần niềm
tin ở nhà quản lý cấp trung của họ để hoàn thành công việc với hiệu quả cao nhất.
Nhà lãnh đạo cần phải chứng minh cho nhà quản lý cấp trung thấy những điều họ
làm luôn đi đôi với lời nói của bản thân. Nhà quản lý cấp trung không bao giờ tin
tưởng một người người quản lý dễ dàng thất hứa bất kể đó là lời cam kết liên quan
đến việc khen thưởng cuối năm hay dự báo tình hình tăng trưởng của tổ chức trong
tương lai.
Bên cạnh đó, với các nhà quản lý cấp trung, sự quan tâm và luôn cố gẵng hỗ
trợ nhân viên hoàn thành công việc sẽ giúp cho các nhà quản lý cấp trung có được
sự tín nhiệm và lòng tin từ cấp dưới. Nhân viên luôn cần sự quan tâm và sẵn sàng
giúp họ trong các tình huống phát sinh để họ có tâm lý yên tâm và không ngại thử
sức trong công việc. Đây sẽ chìa khoá giúp củng cố niềm tin với các nhà quản lý,
qua đó thúc đẩy sự gắn kết, hiệu quả trong công việc của nhân viên và nhà quản lý
cấp trung, góp phần tạo động lực hiệu quả cho họ.
Nhà quản lý cấp trung cũng cần thường xuyên giao tiếp với nhân viên nhiều
hơn. Giao tiếp là cách nhà quản lý thể hiện, chia sẻ suy nghĩ, trao đổi thông tin với
đối phương giúp tăng sự hiểu biết giữa hai bên và cải thiện mối quan hệ. Sẽ có
nhiều sự khác biệt trong việc diễn đạt trước đám đông và trò chuyện với từng cá
nhân. Vì thế, nếu cần thiết thì nhà quản lý nên trò chuyện riêng với từng nhân viên,
hãy lắng nghe ý tưởng, ý kiến từ họ và cho phép họ có cơ hội trình bày mong muốn.
Thông qua việc trao đổi những suy nghĩ, nhân viên sẽ cảm thấy được tôn trọng hơn.
Chỉ như thế, họ mới tin tưởng hoàn toàn vào cấp trên và tạo nên môi trường làm
việc thoải mái không áp lực.
106
Tạo tinh thần đoàn kết trong môi trường làm việc, làm việc nhóm luôn là
phương pháp giúp hoàn thành công việc tốt hơn. Nhà quản lý cấp trung có thể tăng
tinh thần làm việc tập thể bằng những hành động đơn giản như hỏi thăm sức khỏe
về cá nhân, gia đình hay những lời động viên khi nhà quản lý cấp trung của bạn gặp
khó khăn.
Môi trường làm việc lý tưởng là một môi trường mà ở đó có sự giao tiếp rõ
ràng giữa các nhân viên và nhà quản lý, giữa các đồng nghiệp và phòng ban với
nhau. Truyền tải thông tin chính xác, trao đổi chi tiết và mạch lạc là điều quan trọng
để môi trường làm việc không gặp phải những hiểu lầm và xung đột không hay.
Giao tiếp rõ ràng giúp nhà quản lý cấp trung thể hiện được ý kiến riêng về những
mục tiêu và mong muốn cá nhân với công việc và các vấn đề phải đối mặt.
Định hướng cho nhà quản lý cấp trung con đường phát triển sự nghiệp với lộ
trình rõ ràng cũng là yếu tố để cần được doanh nghiệp quan tâm và có các giải pháp
phù hợp. Doanh nghiệp cần phải cung cấp cho nhà quản lý những cơ hội thăng tiến
với một tương lai vững chắc sẽ khiến cho nhà quản lý cấp trung cảm thấy được
quan tâm đến lộ trình phát triển và thành công cá nhân lâu dài đối với họ. Tạo cơ
hội phát triển cho nhà quản lý cấp trung cũng đem lại nhiều lợi ích cho doanh
nghiệp để sở hữu một đội ngũ nhà quản lý cấp trung chất lượng cao, được đào tạo
chuyên môn bài bản, kỹ năng làm việc tốt đáp ứng được yêu cầu công việc và tạo ra
kết quả làm việc ấn tượng. Chính vì vậy, mỗi doanh nghiệp rất cần phải quan tâm
đến những kế hoạch xây dựng chương trình đào tạo nhân sự để nhà quản lý cấp
trung tham gia học, trau dồi kỹ năng phục vụ cho sự nghiệp và đưa doanh nghiệp đi
xa hơn nữa.
Động lực ảnh hưởng đến năng suất và kết quả làm việc của nhà quản lý cấp
trung. Do đó, đội ngũ cấp quản lý phải thường xuyên tạo động lực làm việc cho mỗi
cá nhân bằng sự công nhận, đánh giá cao nỗ lực cống hiến, hơn thế nữa là có sự
khen thưởng kịp thời ghi nhận công lao của nhà quản lý cấp trung. Sự công nhận ấy
là liều thuốc tinh thần rất tốt giúp nhà quản lý cấp trung cảm thấy mình được coi
trọng hơn, thúc đẩy họ cố gắng hơn nữa để đạt được những mục tiêu cao hơn.
Đảm bảo sự công bằng trong quản lý và điều hành doanh nghiệp. Sự công
bằng trong các quyết định công việc là điều cần thiết để tạo nên một môi trường làm
107
việc lý tưởng. Mọi nhà quản lý cấp trung đều mong muốn được đối xử đồng đều
nên doanh nghiệp cần phải có những chế độ lương thưởng, xử phạt hay đem lại
những cơ hội thăng tiến dành cho tất cả nhà quản lý cấp trung trong công ty. Điều
này sẽ hạn chế xảy ra tình trạng mâu thuẫn, đố kỵ lẫn nhau trong môi trường làm
việc do một vài cá nhân cảm thấy mình không được đối xử công bằng. Điều này có
ý nghĩa quan trọng để các DNNVV giữ chân nhân tài và xây dựng nền tảng nhân sự
vững chắc cho doanh nghiệp. Một môi trường làm việc lý tưởng sẽ giúp cho
DNNVV trở nên hấp dẫn hơn đối với những nhân tài và giữ chân được nhà quản lý
cấp trung trung thành và có thực lực.
Thứ sáu, xây dựng động cơ làm việc tích cực cho đội ngũ nhà quản lý cấp trung.
Động lực làm việc của một nhà quản lý có thể xuất phát từ hai khía cạnh tích
cực và tiêu cực. Khía cạnh tiêu cực thường xuất phát từ những nhu cầu cá nhân, chủ
nghĩa cơ hội tồn tại trong mối cán bộ quản lý cấp trung. Nhà quản lý trong trường
hợp này thường thì vẫn cố gắng trong công việc, nhưng mục tiêu cuối cùng mà họ
hướng đến lại không phải vì lợi ích tập thể mà là lợi ích cá nhân. Vì thế, có thể gây
tác động không nhỏ đến hiệu quả chung của doanh nghiệp. Vì vậy, cần thiết phải
tạo động lực cho nhà quản lý cấp trung dựa trên các động cơ làm việc tích cực. Đó
là các động cơ xuất phát từ lợi ích tập thể, hướng đến mục tiêu chung của bộ phận
và giải quyết các vấn đề của toàn doanh nghiệp. Cần tạo dựng bầu không khí làm
việc thân thiện, hiệu quả. Tạo dựng văn hoá làm việc tích cực, chuyên nghiệp và có
hiệu quả. Đồng thời, đối với đặc điểm cá nhân của mỗi nhà quản lý cấp trung.
Doanh nghiệp cần nắm được mục tiêu, nhu cầu trong công việc của họ. Hiểu được
các tính cách cá nhân trong làm việc. Xây dựng các mối quan hệ hài hòa, tốt đẹp
trong lao động. Có các chính sách khuyến khích dựa trên các nhu cầu và mong
muốn thực tế, đồng thời tạo ra tính công bằng trong các chính sách đó.
Văn hóa và động lực làm việc luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, là mối
quan tâm hàng đầu của mọi tổ chức hiện nay. Với các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở
khu vực Bắc Trung Bộ, song song với các biện pháp thúc đẩy hiệu quả trong kinh
doanh thì vấn đề cần thiết là làm thế nào để kích thích động lực làm việc của nhà
quản lý cấp trung thông qua quá trình tạo dựng một bầu không khí văn hóa tổ chức
lành mạnh, dựa trên mối quan hệ tin tưởng rộng rãi giữa các nhân viên, nhà quản lý
108
cấp trung và các cấp lãnh đạo doanh nghiệp. Đồng thời, tạo ra tính công bằng trong
mọi hoạt động sẽ là một công cụ quan trọng, góp phần thúc đẩy sự trung thành, mối
quan hệ gắn bó lâu dài của nhà quản lý cấp trung với tổ chức. Tăng hiệu quả hoạt
động trong công việc của từng cá nhân, bộ phận và toàn bộ doanh nghiệp. Tạo sự
phát triển bền vững, lâu dài cho doanh nghiệp và xã hội.
5.3.2. Với năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung
Thứ nhất, với năng lực nhận biết cảm xúc
Năng lực tự nhận biết cảm xúc giúp các nhà quản lý cấp trung hiểu rõ cảm
xúc hiện tại của mình, giúp nhận biết vai trò quan trọng của cảm xúc đối với kết quả
công việc của mình. Biết tự đánh giá bản thân còn giúp nhà quản lý cấp trung hiểu
rõ điểm mạnh, điểm yếu của mình, giúp nhà quản lý can đảm thể hiện những suy
nghĩ chưa được chấp nhận, và dám một mình theo đuổi cái đúng. Trong khi đó,
năng lực tự điều chỉnh giúp chúng nhà quản lý cấp trung luôn tỏ chủ động trong
công việc, kiếm chế mọi cảm xúc bốc đồng của bản thân, giữ được sự bình tĩnh, lạc
quan ngay cả trong những thử thách khó khăn nhất.
Để nâng cao năng lực nhận biết cảm xúc, nhà quản lý cấp trung cần rèn
luyện khả năng truyền đạt cảm xúc và nhu cầu cá nhân với người khác, tự nhận thức
được sự thay đổi trong cảm xúc cá nhân có tác động đến các quyết định trong quản
lý. Mỗi cá nhân đều có những điểm mạnh, điểm yếu khác nhau. Nhà quản lý cần
hiểu rõ và nhận thức đúng năng lực, khả năng cũng như sự hạn chế của bản thân
trong công việc. Từ đó, không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ quản lý nhân viên,
tạo ra hiệu suất và hiệu quả làm việc tốt nhất trong công việc.
Thứ hai, với năng lực sử dụng cảm xúc
Cần nâng cao khả năng tạo ảnh hưởng, tạo xúc tác để thay đổi, kiểm soát
hành vi nhân viên của các nhà quản lý cấp trung tại, khả năng cảm nhận, hiểu được
cảm xúc của nhân viên, hiểu được thông điệp ngôn ngữ không lời của nhân viên.
Đồng thời, nhà quản lý cấp trung tại các DNNVV cũng cần quan tâm hơn đến
những gì xảy ra với nhân viên và người lao động trong công ty. Luôn tôn trọng
nhân viên và đồng nghiệp là chìa khóa tạo sự gắn kết và xây dựng mối quan hệ hài
hòa, tốt đẹp. Góp phần tích cực vào sự phát triển chung của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp và nhà quản lý cấp trung cũng cần xây dựng môi trường làm
việc thân thiện, cởi mở, khuyến khích tạo dựng và phát triển văn hoá chia sẻ trong
109
công việc và tổ chức. Cần tạo dựng các mối quan hệ với nhân viên cũng như các
cấp quản lý trong và ngoài doanh nghiệp, giúp nhà quản lý cấp trung hoàn thiện hơn
khả năng năm bắt tâm lý của bản thân, cũng như của người khác, là chìa khoá quan
trọng để họ phát huy năng lực cảm xúc, tư duy và xử lý công việc một cách hiệu
quả nhất.
Thứ ba, với năng lực thấu hiểu cảm xúc
Nhà quản lý cấp trung với vị trí quản lý trung gian của mình, họ yêu cầu cần
có năng lực chuyên môn cao, khả năng am hiểu nhiều lĩnh vực chuyên môn khác
nhau liên quan đên thực hiện công việc. Họ là người giữ vai trò điều tiết các mối
quan hệ giữa nhân viên và các cấp quản lý. Vì vậy, nhà quản lý cấp trung ngoài việc
hiểu và kiểm soát cảm xúc của bản thân thì cũng cần nắm bắt tâm lý, nhu cầu, kỳ
vọng của nhân viên dưới quền và nhà lãnh đạo. Cần xây dựng, duy trì các mối quan
hệ dựa trên việc tăng chia sẻ tri thức, công việc với các nhân viên và nhà quản lý
khác. Thường xuyên gần gũi, chia sẻ cảm xúc với nhân viên và đồng nghiệp sẽ giúp
các nhà quản lý cấp trung nâng cao khả năng nắm bắt tâm lý và nhạy cảm trong
thấu hiểu và xử lý các tình huống trong và ngoài công việc.
Bên cạnh đó, tổ chức cũng cần có có đánh giá về năng lực cảm xúc của nhà
quản lý cấp trung. Tổ chức các lớp đào tạo nhằm nâng cao năng lực thấu hiểu cảm
xúc và khả năng vận dụng điều này trong thực tiễn quản lý. Năng lực cảm xúc giúp
nhà quản lý cấp trung thực hiện các vai trò quan trọng của mình như vai trò quản lý
nhân sự, vai trò người đại diện và người kết nối. Hiểu được cấp dưới đang cảm thấy
thế nào, tại sao họ cảm thấy như vậy và làm thế nào quản lý những cảm giác đó là
điều cốt yếu để phát triển mối quan hệ tốt với họ. Hơn nữa, năng lực cảm xúc còn có
tiềm năng đóng góp vào sự quản lý hữu hiệu trên nhiều phương diện.
Thứ tư, với năng lực kiểm soát cảm xúc
Nhà quản lý cấp trung cần được đào tạo để nâng cao sự hiểu biết các vấn đề
xảy ra trong công việc, phát triển kỹ năng tự kiểm soát cảm xúc, làm chủ bản thân,
có khả năng làm việc dưới áp lực cao. Không để các cảm xúc cá nhân chi phối đến
công việc, giữ bình tĩnh trong mọi tình huống để đưa ra các phán đoán và quyết
định hợp lý nhất trong công việc, dễ dàng tìm ra các cách đối phó hiệu quả với
những vấn đề xảy ra trong doanh nghiệp. Cần thường xuyên tự rèn luyện khả năng
110
tự điều khiển và kích thích cảm xúc cá nhân để thích nghi với mọi thay đổi hoàn
cảnh của nhà quản lý.
Năng lực cảm xúc là một chỉ số quan trọng trong quản lý. Điều này được thể
hiện trong rất nhiều công trình nghiên cứu, cũng như thực tiễn các hoạt động quản
lý. Với vị trí địa lý quan trọng của mình, sự phát triển bền vững của riêng các doanh
nghiệp và chung của toàn khu vực ven biển Bắc Trung Bộ có ý nghĩa to lớn đối với
sự đi lên của cả nền kinh tế nước nhà. Trong guồng quay phát triển đó, nhân lực
được đánh giá là yếu tố trọng tâm, và các hoạt động quản trị nguồn nhân lực luôn
luôn được các tổ chức, doanh nghiệp chú trọng.
Thứ năm, các giải pháp khác
* Cần có các biện pháp đào tạo, phát triển năng lực cảm xúc của nhà quản lý
cấp trung:
Năng lực cảm xúc là khả năng hiểu và quản lý tâm trạng và cảm xúc của
chính mình cũng như tâm trạng và cảm xúc của người khác. Các nhà quản lý có
năng lực cảm xúc cao có thể hiểu được họ đang cảm thấy như thế nào và vì sao họ
cảm thấy như vậy, từ đó họ có thể kiểm soát các cảm giác của mình một cách hữu
hiệu. Khi nhà quản lý trải qua cảm giác và cảm xúc căng thẳng, như nỗi sợ hãi hay
lo lắng, trí tuệ cảm xúc sẽ giúp họ hiểu tại sao và quản lý những cảm giác này sao
cho chúng không ảnh hưởng đến việc đưa ra những quyết định của họ.
Nâng cao năng lực cảm xúc là yêu cầu cần thiết, đặc biệt đối với các công việc
quản lý. Cần tổ chức các hoạt động đào tạo, cải thiện và nâng cao năng lực cảm xúc,
giúp nhà quản lý cấp trung kiểm soát được tốt hơn cảm xúc của cá nhân trong công
việc, làm chủ bản thân. Đồng thời, tạo cho họ kỹ năng nhận biết, thấu hiểu, tạo ảnh
hưởng và kiểm soát hành vi của nhân viên. Bản thân nhà quản lý cấp trung cần rèn
luyện khả năng truyền đạt cảm xúc và nhu cầu cá nhân với người khác, tự nhận thức
được sự thay đổi trong cảm xúc cá nhân có ảnh hưởng đến các quyết định trong quản
lý. Đồng thời, nhà quản lý cấp trung cần hiểu rõ và nhận thức đúng năng lực, khả
năng cũng như sự hạn chế của bản thân trong công việc. Không ngừng học hỏi, nâng
cao trình độ quản lý nhân viên, tạo ra hiệu suất và hiệu quả làm việc tốt nhất trong
công việc. Nhà quản lý cũng cần hiểu rõ mong muốn của nhân viên, từ đó có những
cách thức truyền cảm hứng, tạo sự hứng khởi trong công việc cho nhân viên. Phải
111
luôn thể hiện sự sàng lắng nghe, hiểu và trân trọng tình cảm của nhân viên. Tạo dựng
các mối quan hệ tốt đẹp với nhân viên, với đồng nghiệp và nhà lãnh đạo trong doanh
nghiệp. Nhà quản lý chịu trách nhiệm về môi trường làm việc của doanh nghiệp
đó. Tất cả các công ty cần giao tiếp rõ ràng, tổ chức tốt và ủy quyền hiệu quả để biết
họ đang làm gì, khi nào và ở đâu. Một nhóm được định hướng tốt và hiểu rõ vai trò
của họ sẽ làm việc cùng nhau tốt hơn. Năng lực quản lý tốt như ủy quyền và giao tiếp
là chìa khóa để tạo ra một môi trường làm việc tích cực.
* Nhà quản lý cấp trung cần tự rèn luyện, nâng cao khả năng tự nhận thức và
kiểm soát cảm xúc:
Năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung thể đóng vai trò quan trọng trong
hiệu suất quá trình làm việc và quản lý nhân viên. Tự rèn luyện, nâng cao năng lực cảm
xúc của bản thân có thể giúp nhà quản lý phát triển một tầm nhìn cho doanh nghiệp,
động viên cấp dưới gắn bó với tầm nhìn đó, truyền nghị lực cho họ làm việc một cách
nhiệt tình để đạt được tầm nhìn. Ngoài ra, năng lực cảm xúc cũng có thể giúp nhà quản
lý cấp trung có khả năng phát triển một sự thống nhất cho doanh nghiệp và xây dựng
được niềm tin và sự phối hợp trong toàn bộ doanh nghiệp, trong khi vẫn duy trì được
sự linh hoạt cần thiết để đáp ứng với nhu cầu thay đổi.
Năng lực xúc cảm cũng đóng một vai trò thiết yếu trong cách mà nhà quản lý
cấp trung quan hệ và đối xử với cấp dưới, đặc biệt là khi cần động viên cấp dưới sáng
tạo hơn. Sự sáng tạo trong doanh nghiệp là một quá trình chứa đầy tâm trạng, bởi vì nó
thường đòi hỏi sự thách thức hiện trạng, đòi hỏi sự sẵn sàng gánh chịu rủi ro và chấp
nhận học hỏi từ những sai lầm, làm việc chăm chỉ hơn để mang những ý tưởng sáng
tạo vào hoạt động kinh doanh, toạ ra những sản phẩm, dịch vụ mới, phù hợp hay quy
trình, thủ tục khi mà những sự không chắc chắn luôn rình rập trong môi trường. Nhà
quản lý có năng lực cảm xúc cao sẽ có khả năng hiểu những cảm xúc xảy ra xung
quanh những nỗ lực sáng tạo, từ đó đánh thức và tạo thuận lợi cho việc thực thi những
ý tưởng sáng tạo đó trong cấp dưới, và cung cấp những hỗ trợ cần thiết làm cho khả
năng sáng tạo thực sự nở rộ trong doanh nghiệp. Nhà quản lý cũng cùng sẵn sàng hy
sinh các lợi ích cá nhân vì lợi ích tập thể. Phương thức kinh doanh không phải bất biến,
nó có thể phù hợp hôm nay nhưng lại không phù hợp vào ngày mai. Một người có năng
lực quản lý sẽ nhận thức được điều đó, biết cách thích nghi và thay đổi sao cho phù hợp
112
nhất. Bên cạnh đó, người lãnh đạo phải luôn cập nhật công nghệ, phương pháp, kỹ
năng mới để thúc đẩy sự phát triển trong công việc.
Nhà quản lý cấp trung cần thường xuyên tự cập nhật các kiến thức mới về quản
lý, kiểm soát cảm xúc của bản thân và người khác song song với nâng cao kiến thức về
công nghệ 4.0 để điều hành tốt công ty, doanh nghiệp của mình. Phát triển các chiến
lược dài hạn để nghiên cứu và tiếp cận tri thức mới, mở rộng mối quan hệ đối tác kinh
doanh. Nâng cao năng lực quản lý bằng việc sử dụng các ứng dụng hiện đại, tham gia
các khóa đào tạo (đào tạo lại, đào tạo thêm hay đào tạo nâng cao) của các chuyên gia
về hoàn thiện các chỉ số liên quan đến năng lực cảm xúc có tác động đến hiệu quả làm
việc và hiệu quả quản lý. Đồng thời, tích cực tham gia khóa học về kỹ năng mềm và
ngoại ngữ là cần thiết nếu muốn nâng cao năng lực cảm xúc và năng lực quản lý để phù
hợp với mọi bối cảnh. Từ đó, tạo động lực trong quá trình thực hiện công việc của nhà
quản lý cấp trung.
Sử dụng sức mạnh của năng lực để quản lý nghĩa là con người cần có năng lực
cảm xúc. Năng lực cảm xúc là khả năng tự nhận thức cảm xúc bản thân, nhận biết rõ
ràng đâu là điểm mạnh để phát huy và đâu là điểm yếu để cải thiện. Người có năng lực
cảm xúc tốt có khả năng am hiểu và thông cảm với những cảm xúc của người khác. Họ
biết lắng nghe và quan tâm đến người đối diện. Họ có thể xây dựng và duy trì mối quan
hệ tốt đẹp với mọi người. Nhờ vậy họ có một cuộc sống cởi mở và chân thành.
Quản lý cảm xúc bằng năng lực giúp nhà quản lý cấp trung đưa ra các quyết
định sáng suốt, thúc đẩy bản thân phát triển và cải thiện mối quan hệ với mọi người. Trí
thông minh cảm xúc sẽ giúp nhà quản lý cấp trung đạt được cân bằng giữa tình cảm và
lý trí.
Mặc dù vẫn ý thức được các tin xấu, những người có năng lực cảm xúc cao luôn
có quyết định thông minh khi không dành quá nhiều thời gian và sức lực vào các vấn
đề. Thay vào đó, họ tập trung nhìn vào mặt tích cực trong bất kỳ tình huống nào cũng
như tìm kiếm các giải pháp cho vấn đề phát sinh. Những người như thế luôn tập trung
vào những gì họ có thể làm được hay kiểm soát được.
Những người có năng lực cảm xúc cao không bao giờ dành quá nhiều thời gian
lắng nghe những người hay phàn nàn cũng như có xu hướng tránh tiếp xúc với những
người có suy nghĩ tiêu cực. Họ luôn ý thức được những người có suy nghĩ tiêu cực sẽ
113
chỉ khiến họ phí phạm sức lực. Do người có năng lực cảm xúc cao luôn nhìn vào các
giải pháp và các mặt tích cực trong mọi tình huống, những người có suy nghĩ tiêu cực
sẽ sớm tránh xa họ vì những người tiêu cực chỉ muốn người khác cũng có suy nghĩ tiêu
cực giống như họ.
Người có năng lực cảm xúc cao thường dành thời gian cho những người suy
nghĩ tích cực cả trong và ngoài công việc. Nhà quản lý cấp trung cần tự rèn luyện khả
năng kiểm soát cảm xúc, khắc chế những khuyết khuyến bản thân, xây dựng niềm tin,
phát triển tư duy, năng lực và những kỹ năng cần thiết của một nhà quản lý.
Sức mạnh của năng lực còn có thể giúp nhà quản lý cấp trung kiềm chế cảm
xúc, không để cảm xúc của nhà quản lý cấp trung vượt ra khỏi tầm kiểm soát. Nhà
quản lý cấp trung sẽ biết cách tự điều chỉnh, đánh giá và chế ngự những khát vọng và
đam mê. Ngoài ra năng lực cảm xúc còn giúp nhà quản lý cấp trung nâng cao tính kỷ
luật bản thân, luôn tư duy tích cực, sáng tạo để tìm ra biện pháp giải quyết công việc
hiệu quả hơn.
Nhà quản lý cấp trung cần tự mình học cách sử dụng những ngôn từ tích cực để
khích lệ, động viên chính mình. Vận dụng sức mạnh của ngôn từ không chỉ giúp quản
lý cảm xúc của riêng nhà quản lý cấp trung mà còn có tác động tích cực đến những
người giao tiếp với nhà quản lý cấp trung. Việc điều chỉnh cách sử dụng ngôn từ vô
cùng quan trọng trong quản lý cảm xúc. Vì tất cả các mối quan hệ đều được xây dựng
dựa trên các cuộc giao tiếp thường ngày giữa nhà quản lý cấp trung và người khác.
Cần rèn luyện sự tự tin để quản lý cảm xúc hiệu quả. Khi một người thiếu tự tin,
họ dễ trở nên bi quan, thường cáu gắt hoặc là tức giận vô cớ. Không tự tin cũng khiến
họ luôn cảm thấy sợ hãi mọi thứ. Họ có xu hướng cảm thấy mọi việc sao lại khó khăn
đến như vậy. Không đủ tự tin còn khiến họ nghi ngờ sự lựa chọn của mình. Để thoát
khỏi ma trận của những cảm xúc tiêu cực, họ cần lấy lại sự tự tin để quản lý cảm xúc
của bản thân.
Quản lý cảm xúc đơn giản là việc nhà quản lý cấp trung lựa chọn cảm xúc tích
cực và triệt để loại trừ cảm xúc tiêu cực. Người quản lý cảm xúc thành công là người
không để những cảm xúc tiêu cực điều khiển hành động, lời nói của họ. Để loại bỏ cảm
xúc tiêu cực nhà quản lý cấp trung nên chú ý vào ý thức trách nhiệm bản thân trong
mọi việc, không đổ lỗi trốn tránh trách nhiệm, không bào chữa cho những sai lầm, can
114
đảm nhận lỗi và quyết tâm sửa đổi, không quá đặt nặng tính thiệt hơn trong các mối
quan hệ, xây dựng các mối quan hệ hài hoà với nhân viên, đồng nghiệp và nhà lãnh đạo
trong doanh nghiệp.
Nhà quản lý cấp trung cũng như tất cả những người khác, họ cũng có thể mắc
những sai lầm. Rèn luyện, từng bước hoàn thiện năng lưc cảm xúc của chính bản thân
các nhà quản lý sẽ giúp họ phản ứng một cách hợp lý khi họ nhận ra họ đang phạm sai
lầm. Nhận ra, thừa nhận và học tập từ những sai lầm có thể là một phần quan trọng các
nhà quản lý cấp trung nói riêng, cũng nhu mọi cấp quản lý chung trong doanh nghiệp.
5.4. Hạn chế của nghiên cứu
Bên cạnh những kết quả nghiên cứu, luận án cũng có những hạn chế nhất định.
Mặc dù đối tượng tham gia khảo sát đến từ nhiều khu vực khác nhau của Bắc Trung
Bộ, tuy nhiên với cách thức lấy mẫu thuận tiện là một hạn chế của nghiên cứu. Đồng
thời, luận án chỉ giới hạn ở phạm vi Bắc Trung Bộ và nhà quản lý cấp trung.
Bên cạnh đó, nghiên cứu tập trung vào kiểm định tác động các yếu tố như
đặc điểm cá nhân và năng lực cảm xúc với các nhân tố cơ bản của nó đến động lực
làm việc của nhà quản lý cấp trung thì vẫn còn có nhiều yếu tố khác chưa được đề
cập trong bài và cần có sự nghiên cứu sâu hơn trong tương lai.
5.5. Hƣớng nghiên cứu tiếp theo
Là một nội dung quan trọng, có tầm quản lý cũng như năng suất lao động.
Năng lực cảm xúc cần được nghiên cứu chuyên sâu hơn, kiểm định sự tác động của
nó đến nhiều khía cạnh khác của quản trị nhân sự như năng lực quản lý, hiệu quả
của quá trình ra quyết định…
Đồng thời, nghiên cứu có thể mở rộng ra đối tượng là tất cả các nhà quản lý,
hoặc các cấp quản lý khác. Nhấn mạnh nhiều hơn tới nhân tố năng lực cảm xúc và
sự gắn kết của nó với các yếu tố khác. Đồng thời, nghiên cứu cũng định hướng mở
rộng ở các khu vực kháu nhau trong cả nước.
Năng lực cảm xúc là một khía cạnh quan trọng trong quản lý. Mặc dù,
nghiên cứu chỉ ra được có sự tác động của yếu tố năng lực cảm xúc đến động lực
làm việc của nhà quản lý cấp trung tại các DNNVV ở khu vực Bắc Trung Bộ. Tuy
vậy, năng lực cảm xúc được thể hiện theo nhiều khía cạnh và có thể có thể có mối
quan hệ với nhiều yếu tố khác liên quan đến động lực trong quản lý.
115
TÓM TẮT CHƢƠNG 5
Nghiên cứu tiến hành thảo luận các kết quả, so sánh với các công trình liên
quan. Từ đó, chỉ ra điểm mới và các đóng góp của luận án về cả khía cạnh học thuật
và thực tiễn ứng dụng.
Trên cơ sở các kết quả, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm tăng động
lực cho nhà quản lý cấp trung tại các DNNVV ở khu vực Bắc Trung Bộ, góp phần
xây dựng sự tin tưởng, an tâm trong công việc của nhà quản lý, nâng cao hiệu suất
trong công việc, quá trình đi lên lâu dài của từng DNVVV nói riêng và sự phát triển
bền vững chung của cả khu vực Bắc trung Bộ.
116
KẾT LUẬN
Tạo động lực cho nhà quản lý cấp trung là một trong những chìa khóa quan
trọng tạo nên thành công của tổ chức. Nhà quản lý cấp trung sẽ cảm thấy an tâm, có
trách nhiệm hơn và phát huy cao nhất năng lực chuyên môn của mình trong công
việc nếu họ có động lực. Lãnh đạo là khả năng giúp nhân viên hoàn thành mục tiêu
phát triển tầm nhìn trong tương lai và để thúc đẩy các thành viên tổ chức muốn đạt
được. Quản lý là một quá trình mà một nhà điều hành có thể định hướng, hướng dẫn
và tác động đến hành vi và công việc của người khác để hoàn thành các mục tiêu cụ
thể là khả năng của một người quản lý để khiến cấp dưới làm việc với sự tự tin,
nhiệt tình và hiểu quả.
Trên cơ sở tổng quan lý thuyết cơ sở, phân tích các nghiên cứu liên quan.
Chuyên đề nhằm khái quat hóa các nội dung của luận án, xây dựng mô hình và giả
thuyết nghiên cứu. Từ đó, xây dựng định hướng và cơ sở cho các nội dung nghiên
cứu khảo sát, kiểm định.
Nghiên cứu sử dụng các phương pháp định tính và định lượng. Nghiên cứu
định tính là quá trình phỏng vấn sâu ý kiến của các chuyên gia, đội ngũ quản lý
nhằm điều chỉnh thang đo nghiên cứu, xây dựng và kiểm chứng sự phù hợp của các
chỉ báo sử dụng trong nghiên cứu. Nghiên cứu sử dụng công cụ SPSS nhằm đánh
giá độ tin cậy của thang đo, kiểm định sự phù hợp về ―giá trị hội tụ‖ và ―giá trị phân
biệt‖ của thang đo trong phân tích EFA, Kiểm định hệ số tương quan Pearson, phân
tích mô hình hồi quy và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Đồng thời, kiểm định
sự khác biệt đối với năng lực cảm xúc của nhà quản lý cấp trung theo các biến nhân
khẩu học như giới tính, độ tuổi và thâm niên công tác.
Kết quả nghiên cứu của luận án, đã cho thấy được tầm quan trọng của các
nhân tố đặc điểm công việc và năng lực cảm xúc bao gồm nhận biết cảm xúc, sử
dụng cảm xúc, thấu hiểu cảm xúc, kiểm soát cảm xúc và sự tác động của các nhân
tố đến động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung, xác định thứ tự tác động của
từng yếu tố.
Đồng thời, với việc kiểm định và chứng minh sự khác biệt về năng lực cảm
xúc của nhà quản lý cấp trung theo nhóm độ tuổi và thâm niên công tác, trong khi
117
cho thấy không sơ sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo giới tính. Luận án đã cho
thấy sự đóng góp về mặt học thuật trong nghiên cứu và sẽ là cơ sở cho các công
trình tiếp theo.
Các giải pháp rút ra từ nghiên cứu cho thấy sự cần thiết của việc rèn luyện
khả năng truyền đạt cảm xúc và nhu cầu cá nhân với người khác, tự cá nhân có
ảnh hưởng đến các quyết định trong quản lý đối với nhà quản lý cấp trung. Nhà
quản lý cần hiểu rõ và nhận thức đúng năng lực, khả năng cũng như sự hạn chế
của bản thân trong công việc. Từ đó, không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ quản
lý nhân viên, tạo ra hiệu suất và hiệu quả làm việc tốt nhất trong công việc. Nhà
quản lý cần có những cách thức truyền cảm hứng, tạo sự hứng khởi trong công
việc cho nhân viên. Nhà quản lý phải luôn thể hiện sự sàng lắng nghe, hiểu và trân
trọng tình cảm của nhân viên. Tạo dựng quan hệ tốt đẹp với nhân viên, với nhà
lãnh đạo trong doanh nghiệp.
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
1. Trần Quang Bách (2018), ‗Yếu tố ảnh hưởng đến môi trường làm việc và mức độ hài lòng trong công việc của người lao động tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa
ở Nghệ An‘, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 33, trang 89-92.
2. Quang Bach Tran, Thi Thu Cuc Nguyen, Thi Minh Phuong Nguyen, Dieu Linh Tran, Anh Tuan Nguyen & Quang Tai Dang (2019), ‗The Effects of Risks in
Agricultural Supply Chain Management on Business Performance: A Case
Study in Vietnam‘, AgBioForum, 21(3), pp. 23-34.
3. Trần Quang Bách (2019), ‗Các nhân tố tác động đến động lực làm việc của nhân viên tại các DNNVV khu vực Bắc Trung Bộ‘, Tạp chí Kinh tế và Dự báo,
số 36, trang 92-95.
4. Trần Quang Bách (2019), ‗Các nhân tố tác động đến lòng tin và động lực làm việc của nhân viên tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở tỉnh Nghệ An‘, Tạp chí
Công Thương, số 6, trang 86-93.
5. Trần Quang Bách và Trần Diệu Linh (2019), ‗Ảnh hưởng của văn hóa tổ chức tới động lực làm việc của nhân viên tại các doanh nghiệp tư nhân tỉnh Nghệ
An‘, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 03, trang 49-52.
6. Trần Quang Bách, Nguyễn Thị Yến và Hoàng Thị Thanh Huyền (2019), ‗Niềm tin, sự gắn kết và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp‘, Kỷ yếu Hội
thảo khoa học quốc tế dành cho các nhà khoa học trẻ khối kinh tế và kinh
doanh (ICYREB 2019), trang 903-912.
7. Trần Quang Bách (2019), ‗Ảnh hưởng của năng lực cảm xúc trong quản lý đến sự gắn kết nhân viên và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thuộc
các tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ‘, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia Cơ sở lý luận và thực trạng chính sách phát triển bền vững dải ven biển Bắc Trung Bộ, trang 104-119.
8. Trần Quang Bách và Ngô Kim Thanh (2020), ‗Ảnh hưởng của năng lực cảm xúc đến động lực làm việc của nhà quản trị cấp trung tại các doanh nghiệp nhỏ
và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ‘, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Số 274, trang 103-112.
9. Thi Minh Phuong Nguyen, Quang Bach Tran, Duc Tai Do, Thi Hoang Mai Tran & Quang Tai Dang (2020), ‗The impact of manager‘s emotional intelligence on
performance: The case of Vietnam‘, Management Science Letters, 10(10), pp. 2201-2210.
10. Nguyen Thi Minh Phuong, Nguyen Van Song, Tran Quang Bach & Pham Thi Huyen Sang (2020), ‗Impacts of corporate social responsibility toward
employees on employee motivation in enterprises: A case study in Vietnam‘, Management Science Letters, 10(11), pp. 2543-2552.
11. Thi Minh Phuong Nguyen, Quang Bach Tran, Duc Tai Do & Dieu Linh Tran (2020), ‗Impact of corporate social responsibility toward employees on business
performance: The case of Vietnam‘, Uncertain Supply Chain Management, 8(3), pp. 589-598.
12. Hoai Nam Nguyen, Quoc Hoi Le, Quang Bach Tran, Thi Hoang Mai Tran, Thi Hai Yen Nguyen & Thi Thuy Quynh Nguyen (2020), ‗The Impact of
Organisational Commitment on Employee Motivation: A Study in Vietnamese
Enterprises‘, Journal of Asian Finance, Economics and Business (JAFEB), 7(6),
pp. 439-447.
13. Quang Bach Tran, Thi Thu Cuc Nguyen, Dieu Anh Ho & Duc Anh Duong (2021), ‗The Impact of Corporate Social Responsibility on Employee Management: A Case Study in Vietnam‘, Journal of Asian Finance, Economics
and Business (JAFEB), 8(4), pp. 1033-1045.
14. Thi Thu Cuc Nguyen, Quang Bach Tran, Dieu Anh Ho, Duc Anh Duong & Thi Bich Thuy Nguyen (2021), ‗The effect of supply chain linkages on the business performance: Evidence from Vietnam‘, Uncertain Supply Chain Management,
9(3), pp. 529-538.
15. Quang Bach Tran, Quoc Hoi Le, Hoai Nam Nguyen, Dieu Linh Tran, Thi Thuy Quynh Nguyen & Thi Thanh Thuy Tran (2021), ‗The Impact of Brand Equity on Employee‘s Opportunistic Behavior: A Case Study on Enterprises in Vietnam‘, Journal of Risk and Financial Management, 14, 164.
16. Thi Bich Thuy Nguyen & Quang Bach Tran (2021), ‗The Impact of Organizational Culture on the Sustainable Competitive Advantage of Commercial Banks: A Case Study in Vietnam‘, Journal of Asian Finance,
Economics and Business (JAFEB), 8(9), pp. 0201-0210.
17. Trần Quang Bách, Nguyễn Thị Thuý Quỳnh, Trần Thị Thanh Thuỷ và Trần Diệu Linh (2021), ‗Tác động của giá trị thương hiệu đến hành vu cơ hội của
nhân viên: Nghiên cứu trường hợp các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở khu vực Bắc Trung Bộ‘, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Các nhà khoa học trẻ khối Kinh
tế và kinh doanh 2020 (ICYREB 2020), năm 2021, trang 660-674.
18. Quang Bach Tran, Thi Thu Cuc Nguyen, Hoai Nam Nguyen, Dieu Anh Ho, Thi Thuy Quynh Nguyen, Dieu Linh Tran & Duc Anh Duong (2021), ‗The impact of supply chain linkages on the business performance of the business: a case
study in Vietnam‘, KKU International Engineering Conference 2021 - Khon
Kaen (KKU-IENC2021), pp. 63-73.
19. Tran Quang Bach, Ho Dieu Anh, Hoang Thi Cam Thuong, Nguyen Dang Duc & Nguyen Thi Yen (2021), ‗The Impact of Knowledge Sharing on the
Effectiveness of Employee Management in Small and Medium Enterprises in
the North Central Region‘, Vinh University Journal of Science, 50 (2B/2021),
pp. 5-21.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Abraham, R. (2000), ‗The role of job control as a moderator of emotional dissonance and emotional intelligence outcome relationships‘, The Journal of
Psychology, 134(2), pp. 169-184.
2. Adams, J.S. (1963), ‗Towards an understanding of inequity‘, The Journal of
Abnormal and Social Psychology, 67(5), pp. 422–436.
3. Ahmad, F., Abbas, T., & Latif, S. A.R. (2017), ‗Impact of transformational leadership on employee engagement‘, Pranjana: The Journal of Management
Awareness, 20(2), pp. 15-19.
4. Alexander, S., and Ruderrman, M. (1987), ‗The role of procedural and distributive justice in organizational behavior‘, Social Justice Research, 1, pp.
177-198.
5. Angelis, J.D., and Kupchik, A. (2007), ‗Citizen oversight, procedural justice, and officer perceptions of the complaint investigation process‘, Policing: An
International Journal of Police Strategies & Management, 30(4), pp. 651 - 671.
6. Argyris, C. (1976), Increasing leadership effectiveness, NewYork: Wiley-
Interscience.
7. Arnold, H.J. and Feldman, D.C. (1986), Organization Behavior, New York. 8. Arshad, T., Zahra, R., & Draz, U. (2016), ‗Impact of customer satisfaction on image, trust, loyalty and the customer switching behavior in conventional and
Islamic banking: Evidence from Pakistan‘, American Journal of Business and
Society, 1(3), pp. 154-165.
9. Arshadi, N., & Shahbazi, F. (2013), ‗Workplace Characteristics and Turnover Intention: Mediating Role of Emotional Exhaustion‘, Social and Behavioral
Sciences, 84, pp. 640-645.
10. Baker, C. (1979), ‗Role conflicts of middle managers in baccalaureate and higher degree nursing programs in the United States‘. In Power: Nursing's Challenge For Change. Proceedings of the 51st Annual Convention of the
American Nurses Association. A.NA.., pp. 147-159.
11. Baker, C. (1981), ‗Leadership behaviors of academic middle managers in nursing‘, In Perspectives on nursing leadership: Issues and research, New
York: Columbia University Teachers College, pp. 11-23.
12. Bakiev, E. (2013), ‗The Influence of Interpersonal Trust and Organizational Commitment on Perceived Organizational Performance‘, Journal of Applied
Economics and Business Research, Vol. 3 No. 3, pp. 167-172.
13. Balzer, Smith & Kravitz (1990), User's manual for the Job Descriptive Index and the Job in General scales, Department of Psychology, Bowling Green
State University.
14. Barrick, M.R., & Mount, M.K. (1991), ‗The Big Five personality dimensions and job performance: A meta-analysis‘, Personnel Psychology, 44(1), pp. 1–26. 15. Becker, H.S. (1960), 'Notes on the Concept of Commitment', American
Journal of Sociology, 66 (1), pp. 32-40. (1979), 16. Berry, L.E., ‗Motivation Management‘, Journal of Systems
Management, 30 (4).
17. Bierstaker, J.L. (2009), ‘Differences in attitudes about fraud and corruption across cultures: Theory, examples and recommendations‘, Cross Cultural Management: An International Journal, 16(3), pp. 241-250.
18. Bộ môn tổ chức lao động khoa học - Đại học Kinh tế Quốc dân (1994), Tổ
chức lao động khoa học, tập II (lưu hành nội bộ).
19. Bonner, S.E., & Sprinkle, G.B. (2002), ‗The Effects of Monetary Incentives on Effort and Task Performance: Theories, Evidence, and a Framework for Research‘, Accounting Organizations and Society, 27(4-5), pp. 303-345.
20. Broeck, A.V.D, Vansteenkiste, M., Witte, H.D., &
Len, W. (2008), ‗Explaining the relationships between job characteristics, burnout, and engagement: The role of basic psychological need satisfaction‘, An International Journal of Work, Health & Organisations, 22, pp. 277-294. 21. Buble, M., Juras, A. & Matic, I. (2014), ‗The relationship between managers‘
leadership styles and motivation‘, Management, 19(1), pp. 161-193.
22. Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2009), Giáo trình hành vi tổ chức, Nhà
xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
23. Bùi Thị Minh Thu và Lê Nguyễn Đoàn Khôi (2016), ‗Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên ngành cơ khí ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung‘, Tạp chí Khoa học xã hội, số 1, trang 24-38.
24. Burns, J.M. (1978), Leadership, Harper & Row, New York. 25. Buzzell, R.D. and Gale, B.T. (1987), The PIMS Principles: Linking Strategy to
Performance, Simon and Schuster.
26. Cable, D.M., & Judge, T.A. (1996), 'Person-Organization Fit, Job Choice Decisions and Organizational Entry', Organizational behavior and human decision processes, 67 (3), pp. 294-311.
27. Cao Thị Thanh và Trần Quang Hưng (2018), ‗Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động tại Trung tâm huấn luyện và thi đấu thể thao tỉnh Thanh Hóa‘, Tạp chí Khoa học & Công nghệ - Đại học Công nghiệp Hà Nội, số 46.
28. Cao Văn Trường (2018), ‗Giải pháp tạo động lực làm việc cho nhân lực chủ
chốt trong doanh nghiệp‘, Tạp chí Công thương, số 9, trang 151-156.
29. Carmeli, A. (2003), ‗The relationship between emotional intelligence and work attitudes, behavior and outcomes: An examination among senior
managers‘, Journal of Managerial Psychology, 18(8), pp. 788-813.
30. Carpenter, K.D. (1989), ‗Academic middle managers for baccalaureate nursing: work motivation and satisfaction‘, National Library of Biotechnology
Information, 28(6), pp. 256-64.
31. Cavallo, K. & Brienza, D. (2002), Emotional competence and leadership excellence at Johnson & Johnson: the emotional intelligence and leadership
study, Downloaded 7 June, 2006, from http://www.eiconsortium.org.
32. Cherrington, D.J. (1995), The managerment of human resources, Prentice Hall
Internation, Jnc.
33. Chiu, R. (1999), ‗Does perception of pay equity, pay sastifaction and job satisfaction mediate the effect of positive effectivity on work motivation‘,
Social Behavior and Personality, 28(2), pp. 177-184.
34. Cianci, A.M., & Bierstaker, J.L. (2009), ‗The Impact of Positive and Negative Mood on the Hypothesis Generation and Ethical Judgments of Auditors‘, A
Journal of Practice & Theory, 28 (2), pp. 119–144.
35. Ciarrochi, J., Chan, A. Y. C. & Bajgar, J. (2001), ‗Measuring Emotional Intelligence in Adolescents‘, Personality and Individual Differences, 31(7), pp. 1105-1119.
36. Colquitt, J.A., Greenberg, J., and Zapata Phelan, C. P. (2005), What is organizational Justice? A historical overview, In J. Greenberg and J. A. Colquitt (Eds.), Handbook of organizational justice (pp. 3-56), Mahwah, NJ: Lawrence Erlbaum Associates.
37. Cooper, R. (1996), ‗De-tracking reform in an urban California high school: Improving the schooling experience of African American students‘, Journal of
Negro Education, 65(2), pp. 190-208.
38. Daft, 1997, Management Dryden Press series in management, Dryden Press. 39. Daus, C.S. & Ashkanasy, N.M. (2005), ‗The case for the ability-based model in organizational behavior‘, Journal of of emotional intelligence
Organizational behavior, 26(4), pp. 453-466.
40. Delmestri, G., & Walgenbach, P. (2005), ‗Mastering Techniques or Brokering Knowledge? Middle Managers in Germany, Great Britain and Italy‘,
Organization Studies, 26(2), pp. 197-220.
41. Đinh Kiệm và Phan Tiểu Trâm (2019), ‗Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên tại Bệnh viện Thống Nhất Thành phố Hồ Chí Minh‘,
Tạp chí Công Thương, số 12, trang 184-196.
42. Eskildsen, J.K., Kristensen, K., & Westlund, A.H. (2004), ‗Work motivation and job satisfaction in the Nordic countries‘, Employee Relations, 26(2), pp.
122–136.
43. Fiol, C.M., Harris, D., & House, R. (1999), ‗Charismatic leadership: Strategies for effecting social change‘, The Leadership Quarterly, 10(3), pp. 449-482. 44. Floyd, S.W., & Wooldridge, B. (1997), ‗Middle Management‘s Strategic Influence and Organizational Performance‘, Journal of Management Student,
34(3), pp. 465-485.
45. Gallups, D.L. (2009), ‗Production engineering in geothermal technology: A
review‘, Geothermics, 38(3), pp. 326-334.
46. Gatakaa, M.A. (2013), Perceived relationship between organizational culture and motivation of paralegal staff at the Kenya judiciary, School of business,
University of Nairobi.
47. George, J. M. & Jones, G. R. (1996),‘The experience of work and turnover intentions: Interactive effects of value attainment, job satisfaction, and positive mood‘, Journal of Applied Psychology, 81(3), pp. 318-325.
48. George, S.A. (1981), ‗Associate and assistant deanships in schools of nursing‘,
Nursing Leadership, 4(3), pp. 25-30.
49. Gervey, R., & Kowal, H. (2005), ‗The Job Developer's Presence in the Job Interview: Is It Helpful or Harmful to Persons with Psychiatric Disabilities Seeking Employment?‘, Psychiatric Rehabilitation Journal, 29(2), pp. 128–131.
50. Ghosh, A., Li, G., Veale, T., Rosso, P., Shutova, E., Reyes, A., & Barnden, J. (2015), ‗Sentiment Analysis of Figurative Language in Twitter‘, Proceedings
of the 9th International Workshop on Semantic Evaluation (SemEval 2015), 4- 5, pp. 470–478.
51. Goleman, D. (1998). Working with emotional intelligence, New York: Bantam
Books.
52. Goleman, D. (2000), Leadership that gets results, Harvard Business Review. 53. Goleman, D. (2001), ―An EI-based theory of performance‖, in Cherniss, C. and Goleman, D. (Eds.), The Emotionally Intelligent Workplace, Jossey-Bass, San Francisco, CA.
54. Greenberg, J. (1990), ‗Organizational justice: Yesterday, today, and
tomorrow‘, Journal of management, 16(2), pp. 399-432.
55. Griffeth, R.W., Hom, P.W., & Gaertner, S. (2000), ‗A meta-analysis of antecedents and correlates of employee turnover: Update, moderator tests, and
research implications for the next millennium‘, Journal of Management, 26(3),
pp. 463–488.
56. Grzywacz, J.G., Almeida, D.M., & McDonald, D.A. (2002), ‗Work–Family Spillover and Daily Reports of Work and Family Stress in the Adult Labor
Force‘, Wiley Online Library, 51(1), pp. 28-36.
57. Guleryuz, G., Guney, S., Aydin, E.M. & Asan, O. (2008), ‗The mediating effect of job satisfaction between emotional intelligence and organizational
commitment of nurses: A questionnaire survey‘, International Journal of
Nursing Studies, 45, pp. 1625-1635.
58. Hackman, J.R & Oldham, G.R (1976), ‗Motivation Through the Design of Work: Test of a Theory‘, Organizational Behavior and Human Performance,
16 (2), pp. 250-279.
59. Hackman, J.R & Oldham, G.R. (1980), Work redesign, Addison-Wesley. 60. Hackman, J.R., & Lawler, E.E. (1971), ‗Employee reactions to job
characteristics‘, Journal of Applied Psychology, 55(3), pp. 259–286.
61. Hackman, J.R., & Oldham, G.R. (1974), ‗The Job Diagnostic Survey: An Instrument for the Diagnosis of Jobs and the Evaluation of Job Redesign
Projects‘, Organizational Effectiveness Research Program, 74(4), pp. 87. 62. Hackman, J.R., & Oldham, G.R. (1975), ‗Development of the Job Diagnostic
Survey‘, Journal of Applied Psychology, 60(2), pp. 159–170.
63. Hair, J.F. Jr., Anderson, R.E., Tatham, R.L., & Black, W.C. (1998), Multivariate Data Analysis, (5th Edition), Upper Saddle River, NJ:
Prentice Hall.
64. Hall, B., Mitsunaga, B., & de Tornyay, R. (1981), ‗Deans of nursing:
Changing socialization patterns‘, Nurs Outlook, 29, pp. 92-95.
65. Hassan, J., Kazemiyeh, H. & Saeid, J. (2012), ‗Effect of emotional intelligence on effectiveness of employee and managers in Iran‘, Global Journal of Strategies & Governance, 3, pp. 52-63.
66. Heizberg, F. (1968), ‗One more time: How do you motivate employees?‘,
Business Review, pp. 53-62.
67. Henrich, J. (2004), ‗Demography and Cultural Evolution: How Adaptive Cultural Processes Can Produce Maladaptive Losses—The Tasmanian Case‘,
American Antiquity, 69(2), pp. 197-214.
68. Herzberg, F., Mausner, B., & Snyderman, B.B. (1959), The Motivation to
Work (2nd ed.). New York: John Wiley & Sons.
69. Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005), Phân tích dữ liệu nghiên
cứu với SPSS, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.
70. Holtom, B.C., Mitchell, T., Lee, T., & Eberly, M. (2008), ‗Turnover and Retention Research: A Glance at the Past, a Closer Review of the Present, and
a Venture into the Future‘, The Academy of Management Annals, 2(1), pp.
231-274.
71. House, J.D., Jacobs, R.L., Staed, L.M., Brosnan, M.E. & Brosnan, T. (1999), ‗Regulation of homocysteine metabolism‘, Enzyme Regulation, 39, pp. 69-91. 72. House, R.J., & Spangler, W.D. (1991), ‗Presidential effectiveness and the leadership motive profile‘, Journal of Personality and Social Psychology, 60(3),
pp. 439-455.
73. Huỳnh Thị Thu Sương (2017), ‗Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của công chức tại Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh‘, Tạp chí Khoa học - Đại học Cửu Long, số 5.
74. Jaques, E. (1952), The changing culture of a factory, The Dryden Press. 75. Judge, T.A., Bono, J.E., Ilies, R. & Gerhardt, M.W. (2002), ‗Personality and leadership: A qualitative and quantitative review‘, Journal of Applied Psychology, 87, pp. 765-780.
76. Kafetsios, K. & Zampetakis, L.A. (2008), ‗Emotional intelligence and job satisfaction: Testing the mediatory role of positive and negative affective at
work‘, Personality Individual Differences, 44(3), pp. 712-722.
77. Kaiser, H.F. (1974), ‗An index of factorial simplicity‘, Psychometrika, 39, pp.
31-36.
78. Katz, J. (1978), ‗Monthly Notices of the Royal Astronomical Society‘, Monthly notices of the Royal Astronomical Society, 183 (4), pp. 765-770. 79. Kinman, G. (2001), Pressure Points: A review of research on stressors and
strains in UK academics, Journal Educational Psychology, 21, pp. 471-472.
80. Kovach, K.A. (1987), ‗What motivates employees? Workers and supervisors
give different answers‘, Business Horizons, 30(5), pp. 58-65.
81. Kunz, A.H., & Pfaff, D. (2002), ‗Agency theory, performance evaluation, and the hypothetical construct of intrinsic motivation‘, Accounting, Organizations and Society, 27(3), pp. 275-295.
82. Lawler, E.E., & Hall, D.T. (1970), ‗Relationship of job characteristics to job involvement, satisfaction, and intrinsic motivation‘, Journal of Applied Psychology, 54(4), pp. 305–312.
83. Li, L. & Roloff, M.E. (2007), ‗Organizational culture and compensation systems: An examination of job applicants‘ attraction to organizations‘, International Journal of Organizational Analysis, 15, pp. 210-230.
84. Locke, E.A. (1976), The Nature and Causes of Job Satisfaction, Dunnette, M.D., Ed., Handbook of Industrial and Organizational Psychology, 1, pp. 1297-1343.
85. Luthans, F. (1998), Organizational Behavior, 8th Edition, Irwin McGraw-Hill,
Boston.
86. Mair, J. & Thurner, C. (2008), ‗Going global: How middle managers approach
the process in medium-sized firms‘, Strategic Change, 17, pp. 83-99.
87. Mandell, B., & Pherwani, S. (2003), ‗Relationship Between Emotional Intelligence and Transformational Leadership Style: A Gender Comparison‘, Journal of Business and Psychology, 17, pp. 387-404.
88. Marlowe, H.A. (1986), ‗Social Intelligence: Evidence for Multidimensionality and Construct Independence‘, Journal of Educational Psychology, 78(1), pp. 52- 58.
89. Maslow, A.H. (1943), ‗ A Theory of Human Motivation‘, Psychological
Review, 50, pp. 370-396.
90. Maslow, A.H. (1954), Motivation and Persionality, Harper and Row, New
York.
91. Mayer, J.D. & Salovey, P. (1997), ‗What is emotional intelligence?‘ In: Emotional development and emotional intelligence: Educational implications,
Basic Books, New York, pp. 3-31.
92. Mayer, J.D., & Geher, G. (1996), ‗Emotional intelligence and the
identification of emotion‘, Intelligence, 22(2), pp. 89-113.
93. Mayer, J.D., DiPaolo, M., & Salovey, P. (1990), ‗Perceiving affective content in ambiguous visual stimuli: a component of emotional intelligence‘, Journal
of Personality Assessment, 54, pp. 772-781.
94. Mayer, R.C., Davis, J.H. & Schoorman, F.D. (1995), ‗An Integrative Model of
Organizational Trust‘, The Academy of Management Review, 30(3), pp.709-734.
95. McCrie, R.D. (2016), Security Operations Management, Oxford, UK. 96. McKnight, P.E., Kashdan, T.B. (2009), ‗Purpose in Life as a System that Creates and Sustains Health and Well-Being: An Integrative, Testable
Theory‘, Review of General Psychology, 13(3), pp. 242-251.
97. Michael, E., Hanhdfrien, H. & AxeIrod, B. (2000), The war for talent,
Mckinsey & Company.
98. Mohammad, T. (2011), ‗Organisation culture and employee motivation: An empirical study on impact of organization culture on employee extrinsic &
intrinsic motivation at SBI‘, International Journal of Management Prudence,
New Delhi, Vol. 3, Iss. 1, pp. 84- 87.
99. Ngô Mỹ Trân, Lý Ngọc Thiên Kim & Lê Trần Minh Hiếu (2019), ‗Nghiên cứu ảnh hưởng của văn hóa doanh nghiệp đến sự cam kết gắn bó với tổ chức
của nhân viên các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng‘, Tạp chí
Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(3), trang 123-146.
100. Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2009), Nghiên Cứu Khoa Học
Trong Quản Trị Kinh Doanh, Nxb Thống kê, Hà Nội.
101. Nguyễn Ngọc Quỳnh Dao (2013), Trí tuệ cảm xúc của giám đốc Doanh nghiệp tư nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh, Luận án Tiến sĩ Tâm lý học, Học viện Khoa học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội.
102. Nguyễn Thị Thanh Tâm (2012), Trí tuệ cảm xúc của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong giao tiếp công vụ, Luận án Tiến sĩ Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
103. Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2007), Giáo trình Quản trị nhân lực,
Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
104. Nikolaou, I., & Tsaousis, I. (2002), ‗Emotional Intelligence in the Workplace: Exploring its Effects on Occupational Stress and Organizational Commitment‘, International Journal of Organizational Analysis, 10(4), pp. 327-342
for Likert-Type Scales, Retrived
105. Nunnally & Burnstein (1994), Calculating, Interpreting and Reporting Cronbach’s Alpha Reliability Coefficient from http://scholarworks.iupui/bitstream/handle/1805/344/Gliem%20&%20Gliem.p d f?Sequence=1
106. Nunnally, J.C. (1978), Psychometric Theory, McGraw-Hill Book Company. 107. Oldham, G.R. (1976), ‗Job Characteristics and Internal Motivation: The Moderating Effect of Interpersonal and Individual Variables‘, The Quality of Working Life Revisited, 29(6), pp. 559-569.
108. Phạm Bảo Dương (2012), ‗Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của
cán bộ nghiên cứu khoa học‘, Hoạt động Khoa học, số 4, trang 14-16.
109. Robbins, S.P. (2003), Organizational behaviour concepts, controversies, application, 8th ed, Publisher: Prentice-hall International, New Jersey, USA. 110. Schaufeli, W.B., & Bakker, A.B. (2004), ‗Job demands, job resources, and their relationship with burnout and engagement: a multi-sample study‘, Journal of Organizational Behavior, 25(3), pp. 293-315.
111. Sherwood, J.A. (2015), The multilevel effects of supervisor adaptability on training effectiveness and employee job satisfaction, Portland State University, USA.
112. Skinner, B.F. (1968), ‗Teaching Science in High School - What Is Wrong?: Scientists have not brought the methods of science to bear on the improvement of instruction‘, Science, 159, pp. 704-710.
113. Slaski, M. & Cartwright, S. (2002), ‗Health, performance and emotional intelligence: An exploratory study for retail managers‘, Stress and Health, 18, pp. 63-68.
114. Spector, P.E. (1985), ‗Measurement of Human Service Staff Satisfaction: Development of the Job Satisfaction Survey‘, American Journal of Community Psychology, 13, pp. 693-713.
115. Stee, R.M. & Porter, L.W. (1983), ‗Motivation: New directions for theory and
research‘, Academy of Management Review, 17(1), pp. 80-88.
116. Stringer, C. and Didham, J. (2011), ‗Motivation, pay satisfaction, and job satisfaction of front-line employees‘ Qualitative Research in Accounting & Management, 8(2), pp. 161-179.
117. Sy, T., Tram, S. & O‘Hara, L.A. (2006), ‗Relation of employee and manager emotional intelligence to job satisfaction and performance‘, Journal of Vocational Behaviour, 68, pp. 461-473.
118. Tổng cục Thống kê (2016), Niên giám thống kê năm 2016, Nhà xuất bản
Thống kê, Hà Nội.
119. Tổng cục Thống kê (2017), Niên giám thống kê năm 2017, Nhà xuất bản
Thống kê, Hà Nội.
120. Tổng cục Thống kê (2018), Niên giám thống kê năm 2018, Nhà xuất bản
Thống kê, Hà Nội.
121. Tổng cục Thống kê (2019), Niên giám thống kê năm 2019, Nhà xuất bản
Thống kê, Hà Nội.
122. Tổng cục Thống kê (2020), Niên giám thống kê năm 2020, Nhà xuất bản
Thống kê, Hà Nội.
123. Trần Đăng Khoa (2016), ‗Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên cấp thoát nước tại TP.HCM‘, Kinh tế Châu á - Thái Bình Dương, số 482, trang 83-85.
124. Uruthirapathy, A., & Grant, G. (2015), ‗The influence of job characteristics on intentions‘, Journal of job professional‘s turnover
IT and non-IT Management, 34(6), pp. 715-728.
125. Võ Hữu Hòa (2017), ‗Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của lao động nông thôn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng‘, Tạp chí Khoa học (Đại học Sư phạm Hà Nội), số 2, trang 177-184.
126. Vroom, V.H. (1964), Work and motivation. Wiley. 127. Wood, D. J., & Jones, R. E. (1995), ‗Stakeholder mismatching: A theoretical problem in empirical research on corporate social performance‘, The International Journal of Organizational Analysis, 3(3), pp. 229-267.
128. World Bank (2000), Sourcebook, từ
http://www.worldbank.org/wbi/sourcebook/sb0100.htm.
129. Zhou, J. & Geogre, J.M. (2003), ‗Awakening employee creativity: The role of
leader emotional intelligence‘, Leadership Quarterly, 14, pp. 545-568.
130. Zimmerman, B.J. (2008), ‗Investigating self –regulation and motivation: future background, methodological developments,
Historical and prospects‘, American Educational Research Journal, 45, pp. 166-183.
PHỤ LỤC
I. PHIẾU KHẢO SÁT
Xin kính chào anh (chị)!
Hiện nay chúng tôi đang thực hiện một đề tài nghiên cứu về vấn đề tạo động
lực cho nhà quản lý cấp trung trong các doanh nghiệp. Chúng tôi rất vui mừng nếu nhận được các câu trả lời trung thực nhất của anh (chị) cho nghiên cứu này. Câu trả
lời của anh (chị) sẽ thực sự có ý nghĩa đối với chúng tôi. Tất cả các thông tin mà
anh (chị) cung cấp sẽ chỉ sử dụng cho mục tiêu nghiên cứu.
Anh (chị) chỉ mất khoảng 10 phút để thực hiện trả lời các câu hỏi dưới đây.
Chúng tôi rất mong nhận được sự cộng tác của anh (chị)!
Phần I. Thông tin cá nhân
1. Giới tính (Nam/Nữ):
2. Tuổi:
3. Nghề nghiệp:
4. Trình độ học vấn cao nhất:
5. Thu nhập bình quân/tháng:
6. Thời gian làm việc tại công ty hiện tại: 7. Thâm niên công tác ở vị trí công việc hiện tại:
Phần II. Anh (chị) vui lòng chọn một trong các mức độ đánh giá dƣới đây bằng
cách đánh dấu “X” vào ô anh (chị) cho là đúng nhất:
Mức độ đánh giá
Đặc điểm công việc Rất không Không Bình Đồng ý Rất I đồng ý đồng ý thường đồng ý
1 Công việc của tôi thú vị và đỏi hỏi sự sáng tạo
luôn được chủ động 2 Tôi trong công việc của mình
Tôi luôn nhân được sự nhân
3
xét đánh giá kịp thời về công việc của mình
Công việc của tôi đang làm 4 có tầm quan trọng đối với
doanh nghiệp và xã hội.
Công việc của tôi đòi hỏi 5 phải phối hợp nhiều kỹ năng
Công việc của tôi mang lại
6 nhiều cơ hội phát triển năng
lực chuyên môn
Công việc của tôi giúp tôi
7 phát triển được các mối quan
hệ xã hội
Mức độ đánh giá
Đồng ý II Năng lực cảm xúc
Rất không đồng ý Không đồng ý Bình thường Rất đồng ý
Tôi hiểu rõ những biểu hiện
trên nét mặt, cử chỉ, hành vi của người khác là có ý hài 1
lòng (hay khó chịu /e ngại... )
với mình.
Tôi nhận thức được mình
hiện đang cảm thấy vui vẻ
2 (hay khó chịu/e ngại/căng
thẳng ...) ngay khi gặp một ai
đó.
Tôi chủ động và nắm rõ các
thông điệp/ ẩn ý đang truyền 3 tải khi giao việc đến cấp dưới
của mình.
Nhìn biểu hiện trên khuôn mặt của người đối diện, tôi nhận ra ngay là họ đang cảm
4
thấy dễ chịu (hay khó chịu/ căng thẳng/ e ngại/ áy náy...) khi nói chuyện, làm việc với mình.
Khi cảm xúc đối với công
việc thay đổi (từ hứng khởi
5 sang chán nản hoặc từ hoang mang sang tốt đẹp...), tôi biết
rõ lý do tại sao cảm xúc của
mình thay đổi như thế.
Tôi dễ dàng nhận biết cảm xúc thực sự của mình (cảm
6 thấy vui/ khó chịu/ căng
thẳng/ e ngại...) ngay khi gặp
một ai đó.
Tôi nhận ra được ẩn ý đằng sau
cử chỉ và hành động của người
7 khác là họ đang cảm thấy tin
tưởng (hay thất vọng/ phẫn nộ/
sợ hãi/ có lỗi...) đối với mình
Chỉ cần nhìn vào một người, tôi
8 luôn biết được cảm xúc của họ
lúc này là gì.
Tôi luôn nhận ra cảm xúc của
9 người khác bằng cách lắng nghe
cường độ giọng nói của họ.
Tôi thường không hiểu nổi
10 tại sao mọi người lại có cảm
xúc như họ vẫn có.
Khi gặp một sự kiện lớn của
11
cuộc đời mình, tôi thường đánh giá xem những gì là quan trọng hay không quan trọng.
Khi tâm trạng thay đổi theo chiều hướng tích cực, tôi thấy 12 mình có nhiều nhiệt huyết
hơn với công việc.
Cảm xúc là một trong những
13 điều làm cho cuộc sống của
tôi có ý nghĩa.
Khi tâm trạng vui vẻ, tôi luôn
14 giải quyết các vấn đề một
cách dễ dàng.
Khi tâm trạng vui vẻ, tôi có
15 thể nghĩ ra nhiều ý tưởng
mới.
Tôi có xu hướng tiến tới những
16
ý tưởng mới khi cảm thấy có sự thay đổi trong cảm xúc cá nhân.
Tôi luôn biết khi nào nên
17 chia sẻ những vấn đề riêng tư
của mình với người khác.
Mọi người thường cảm thấy
18 dễ dàng chia sẻ các vấn đề
của họ với tôi.
Tôi thích chia sẻ cảm xúc của 19 mình với mọi người.
Khi giao tiếp, tôi biết cách
20 sắp xếp các sự kiện để làm
cho người khác vui vẻ.
Khi cần thể hiện bản thân
mình với một ai đó, tôi luôn 21
biết cách tạo ấn tượng tốt với người đó.
Tôi thường khen ngợi khi cấp dưới của tôi làm điều gì 22
đó tốt.
Khi một người kể với tôi về một
23 biến cố quan trọng trong cuộc
đời của họ, tôi thường cảm thấy
như thể chính mình đã trải qua
tình huống đó.
Tôi thường giúp người khác cảm thấy thoải mái hơn mỗi 24
khi họ buồn.
Mỗi khi gặp khó khăn/ trở ngại trong công việc, tôi
thường nhớ lại những tình
huống tương tự đã gây ra 25 cảm xúc (buồn chán/ giận
dữ...) ở mình và mình đã vượt qua những cảm xúc đó
như thế nào.
Tôi luôn tin rằng mình sẽ làm 26 tốt mọi việc.
Trong mọi hoàn cảnh, tôi luôn
27 kỳ vọng những điều tốt đẹp sẽ
đến với mình.
Khi tâm trạng vui vẻ, tôi biết làm 28 thế nào để kéo dài tâm trạng đó.
Tôi luôn tìm kiếm những công
29 việc đem lại cho mình niềm vui,
sự hứng khởi.
Tôi luôn kiểm soát được cảm
30 xúc của mình trong mọi tình
huống.
31 Tôi có khả năng tự điều khiển và kích thích cảm xúc cá nhân để thích nghi với mọi
thay đổi hoàn cảnh.
32
Tôi dễ dàng tìm ra các cách đối phó hiệu quả với những vấn đề xảy ra trong công ty.
Tôi luôn giữ được bình tĩnh 33 mỗi khi gặp khó khăn.
Mức độ đánh giá
Rất không Không Bình Đồng ý Rất III
Động lực làm việc của nhà quản lý cấp trung đồng ý đồng ý thường đồng ý
1 Tôi thường cố gắng hết sức để hoàn thành công việc của
tôi bất kể những khó khăn
Tôi nỗ lực hết sức hoàn thành
2
công việc của mình vì mục tiêu của tổ chức
Tôi luôn hào hứng với công 3 việc của tôi đang làm
4 Tôi thường nghĩ về công việc của mình ngay cả khi ở nhà
Tôi thường cố gắng hết sức
5
để không sai sót trong quá trình làm việc
Xin cảm ơn sự giúp đỡ của anh (chị)!
II. KẾT QUẢ XỬ LÝ DỮ LIỆU 2.1. Kiểm định độ tin cậy của thang đo
Reliability Statistics
Cronbach's Alpha N of Items
.837 4
Item-Total Statistics
Scale Mean if Scale Corrected Cronbach's
Item Deleted Variance if Item-Total Alpha if
Item Correlation Item
Deleted Deleted
CN1 11.10 3.033 .720 .774
CN2 11.12 2.946 .691 .784
CN3 11.27 2.785 .741 .761
CN4 11.25 3.281 .536 .851
Reliability Statistics
Cronbach's N of
Alpha Items
.851 3
Item-Total Statistics
Scale Mean if Scale Corrected Cronbach's
Item Deleted Variance if Item-Total Alpha if
Correlation
Item Deleted Item Deleted
.724 .735 .706 .791 .778 .807 CN1 CN2 CN3 7.44 7.46 7.60 1.653 1.533 1.515
Reliability Statistics
Cronbach's Alpha
N of Items
.904 6
Item-Total Statistics
Scale Mean if Item Scale Corrected Cronbach's
Deleted Variance if Item-Total Alpha if
Item Correlation Item
Deleted Deleted
18.66 9.897 .778 .881 DK1
18.73 9.877 .765 .883 DK2
18.72 18.98 9.824 10.015 .774 .733 .882 .888 DK3 DK4
19.00 10.094 .647 .902 DK5
18.81 10.000 .734 .888 DK6
Reliability Statistics
Cronbach's Alpha N of
Items
.903 10
Item-Total Statistics
Scale Mean if Item Scale Corrected Cronbach's
Deleted Variance if Item-Total Alpha if
Item Correlation Item
Deleted Deleted
31.38 40.333 .733 .889 NBCX1
31.18 41.071 .472 .909 NBCX2
31.39 31.43 40.444 40.114 .634 .763 .895 .887 NBCX3 NBCX4
31.41 31.34 31.45 31.39 39.924 41.237 40.256 41.561 .658 .693 .632 .670 .894 .892 .895 .893 NBCX5 NBCX6 NBCX7 NBCX8
31.41 31.42 40.316 40.803 .669 .759 .893 .888 NBCX9 NBCX10
Reliability Statistics
Cronbach's Alpha N of Items
.909 9
Item-Total Statistics
Scale Mean if Item Scale Corrected Cronbach's
Deleted Variance if Item-Total Alpha if
Item Correlation Item
Deleted Deleted
27.69 32.653 .733 .895 NBCX1
27.70 32.812 .626 .904 NBCX3
27.74 32.482 .761 .894 NBCX4
27.72 32.119 .673 .900 NBCX5
27.65 33.705 .667 .900 NBCX6
27.76 32.476 .640 .903 NBCX7
27.70 33.678 .679 .899 NBCX8
27.72 32.530 .678 .899 NBCX9
27.73 32.936 .776 .893 NBCX10
Reliability Statistics
Cronbach's Alpha N of Items
.860 6
Item-Total Statistics
Scale Mean if Item Scale Corrected Cronbach's
Deleted Variance if Item-Total Alpha if
Item Correlation Item
Deleted Deleted
16.71 16.77 16.80 17.455 17.259 17.213 .691 .702 .661 .829 .827 .835 SDCX1 SDCX2 SDCX3
16.95 16.88 16.90 18.535 18.385 18.276 .602 .615 .636 .845 .843 .839 SDCX4 SDCX5 SDCX6
Reliability Statistics
Cronbach's Alpha N of Items
.850 8
Item-Total Statistics
Scale Mean if Item Deleted
Corrected Item-Total Correlation
Scale Variance if Item Deleted Cronbach's Alpha if Item Deleted
.680 .571 .522 .554 .573 .612 .630 .569 .822 .834 .840 .836 .834 .829 .827 .835 23.50 23.54 23.69 23.68 23.69 23.58 23.65 23.73 22.465 22.873 23.413 22.914 22.823 22.275 22.284 23.450 THCX1 THCX2 THCX3 THCX4 THCX5 THCX6 THCX7 THCX8
Reliability Statistics
Cronbach's Alpha N of Items
.857 9
Item-Total Statistics
Scale Mean if Item Deleted
Corrected Item-Total Correlation
Scale Variance if Item Deleted Cronbach's Alpha if Item Deleted
.591 .637 .576 .641 .537 .372 .689 .612 .586 .840 .836 .842 .835 .846 .862 .831 .838 .841 27.306 27.238 27.398 26.695 27.623 29.086 26.652 26.945 27.665 26.54 26.56 26.53 26.58 26.61 26.44 26.48 26.51 26.48 KSCX1 KSCX2 KSCX3 KSCX4 KSCX5 KSCX6 KSCX7 KSCX8 KSCX9
Reliability Statistics
Cronbach's Alpha N of Items
.862 8
Item-Total Statistics
Scale Mean if Item Deleted
Corrected Item-Total Correlation
Scale Variance if Item Deleted Cronbach's Alpha if Item Deleted
23.15 23.16 23.13 23.18 23.21 23.08 23.12 23.08 22.845 22.678 22.828 22.287 22.962 22.239 22.504 23.308 .589 .649 .586 .639 .555 .689 .611 .567 .848 .842 .848 .842 .852 .837 .846 .851 KSCX1 KSCX2 KSCX3 KSCX4 KSCX5 KSCX7 KSCX8 KSCX9
Reliability Statistics
Cronbach's Alpha N of Items
.906 9
Item-Total Statistics
Scale Mean if Item Deleted
Corrected Item-Total Correlation
Scale Variance if Item Deleted Cronbach's Alpha if Item Deleted
20.665 23.329 19.905 20.198 19.864 21.275 19.883 21.452 .744 .228 .789 .724 .821 .700 .817 .639 .891 .931 .887 .892 .885 .895 .885 .898 30.38 30.03 30.34 30.49 30.31 30.30 30.32 30.41 VH1 VH2 VH3 VH4 VH5 VH6 VH7 VH8
20.220 .782 .888 30.34 VH9
Reliability Statistics
Cronbach's Alpha N of Items
.931 8
Item-Total Statistics
Scale Mean if Item Deleted
Scale Variance if Item Corrected Item-Total Correlation Cronbach's Alpha if Item
Deleted Deleted
VH1 26.30 18.257 .755 .923
VH3 26.25 17.546 .798 .920
VH4 26.41 17.831 .731 .925
VH5 26.22 17.465 .839 .916
VH6 26.21 18.892 .699 .927
VH7 26.24 17.478 .835 .917
VH8 26.32 18.997 .649 .930
VH9 26.25 17.822 .795 .920
Reliability Statistics
Cronbach's Alpha N of Items
.807 5
Item-Total Statistics
Scale Mean if Item Scale Corrected Cronbach's
Deleted Variance if Item-Total Alpha if
Correlation
Item Deleted Item Deleted
TG1 TG2 TG3 TG4 15.05 15.62 15.04 15.27 7.022 6.804 6.791 7.805 .615 .597 .694 .659 .762 .769 .737 .761
TG5 15.72 7.476 .452 .815
Reliability Statistics
Cronbach's Alpha N of Items
.815 4
Item-Total Statistics
Scale Mean if Item Deleted
Scale Variance if Item Deleted Corrected Item-Total Correlation
Cronbach's Alpha if Item Deleted
11.60 12.17 11.59 11.82 4.254 4.393 4.072 5.137 .665 .540 .752 .628 .753 .821 .709 .781 TG1 TG2 TG3 TG4
Reliability Statistics
Cronbach's Alpha N of Items
.933 6
Item-Total Statistics
Scale Mean if Item Deleted
Corrected Item-Total Correlation
Scale Variance if Item Deleted Cronbach's Alpha if Item Deleted
17.70 17.84 17.78 17.82 17.75 17.86 14.214 15.565 14.195 15.718 14.339 14.244 .799 .769 .845 .715 .846 .850 .922 .925 .915 .931 .915 .914 DL1 DL2 DL3 DL4 DL5 DL6
2.2. Phân tích nhân tố khám phá EFA 2.2.1. Đối với các biến độc lập
* Lần 1
KMO and Bartlett's Test
.908 Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy.
Approx. Chi-Square 16418.60 9
df 1711 Bartlett's Test of Sphericity
Sig. .000
Component
Initial Eigenvalues
Extraction Sums of Squared Loadings
Rotation Sums of Squared Loadings
Total
Total
% of Variance
Cumulative %
% of Variance
Cumulative %
Total % of Varianc
Cumulative %
e
24.113 14.227 5.877 34.074
24.113 9.961
24.113 34.074
5.627 5.548
9.537 9.403
9.537 18.940
1 2
14.227 5.877
24.113 9.961
41.072
4.129
6.998
41.072
4.396
7.451
26.391
3
4.129
6.998
45.688 50.056
2.723 2.577
4.616 4.369
45.688 50.056
4.227 4.136
7.165 7.010
33.556 40.566
4 5
2.723 2.577
4.616 4.369
53.345 56.411
1.940 1.809
3.289 3.067
53.345 56.411
3.830 3.250
6.491 5.508
47.057 52.565
6 7
1.940 1.809
3.289 3.067
59.088 61.527
1.579 1.439
2.677 2.439
59.088 61.527
2.489 2.369
4.219 4.015
56.784 60.799
8 9
1.579 1.439
2.677 2.439
1.792
2.520
63.319
63.319
1.057
63.319
1.487
10
1.057
1.792
11 12
.911 .869
1.543 1.474
64.863 66.336
13 14
.822 .801
1.393 1.358
67.729 69.087
15 16
.768 .750
1.302 1.271
70.389 71.660
17
.715
1.212
72.873
18 19
.699 .678
1.184 1.150
74.057 75.207
20 21
.660 .640
1.119 1.085
76.326 77.411
22 23
.631 .603
1.069 1.022
78.480 79.502
24
.590
1.000
80.501
25 26
.571 .555
.967 .940
81.469 82.409
27 28
.548 .512
.929 .868
83.338 84.206
29
.494
.838
85.043
30 31
.485 .463
.823 .786
85.866 86.652
32 33
.457 .451
.775 .765
87.427 88.191
34 35
.431 .411
.730 .697
88.922 89.619
36
.404
.685
90.305
37
.392
.665
90.969
Total Variance Explained
.374
.634
91.603
38
.355 .351
.602 .595
92.205 92.800
39 40
.341 .338
.579 .572
93.379 93.951
41 42
.327
.553
94.505
43
.314 .296
.532 .502
95.037 95.538
44 45
.280 .267
.475 .453
96.013 96.467
46 47
.258 .234
.438 .397
96.904 97.302
48 49
.222
.377
97.678
50
.201 .199
.341 .337
98.020 98.357
51 52
.181 .174
.306 .295
98.663 98.957
53 54
.164 .152
.277 .258
99.235 99.493
55 56
.125
.212
99.705
57
.191 .104
99.896 100.000
.113 .061
58 59 Rotated Component Matrixa
Component
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
.893
VH5
.873 .859
VH7 VH3
.845 .806
VH9 VH1
.783
VH4
.742 .697
VH6 VH8
NBCX10 NBCX4
.788 .743
NBCX1 NBCX5
.736 .726
NBCX9
.716
NBCX7 NBCX3
.685 .662
NBCX8 NBCX6
.658 .649
THCX7
.691
THCX1
.659
THCX6 THCX8
.656 .629
THCX2 THCX5
.626 .617
THCX4
.605
.592
THCX3 DK1
.819
DK3 DK6
.811 .797
DK2 DK4
.780 .764
DK5
.701
KSCX2 KSCX4
.712 .696
KSCX7 KSCX3
.691 .644
KSCX8 KSCX5
.630 .586
KSCX9
.583
.551
KSCX1 CV7
.854
CV3 CV1
.837 .670
CV4 CV5
.619 .598
SDCX1
.693
SDCX2 SDCX4
.682 .671
SDCX6 SDCX3
.636 .615
.614
SDCX5 TG3
.824
TG1
.706
TG4 TG2
.673 .593
CN2 CN1
.854 .813
.786
CN3 CV2
.533
.732
CV6
.549
.725
* Lần 2:
KMO and Bartlett's Test
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling .917 Adequacy.
Approx. Chi-Square 15591.64 6 Bartlett's Test of
Sphericity df 1653
Sig. .000
Component
Initial Eigenvalues
Extraction Sums of Squared Loadings
Rotation Sums of Squared Loadings
Total
Total
Total
% of Variance
Cumulative %
% of Variance
Cumulative %
% of Variance
Cumulativ e %
14.131 5.830
24.364 10.052
24.364 14.131 5.830 34.416
24.364 10.052
24.364 34.416
5.615 5.492
9.681 9.469
9.681 19.150
1 2
41.258 45.819
3.969 2.645
6.843 4.561
41.258 45.819
4.378 4.207
7.549 7.253
26.699 33.951
3.969 2.645
6.843 4.561
3 4
50.129 53.453
2.500 1.928
4.310 3.324
50.129 53.453
4.177 3.810
7.202 6.569
41.154 47.722
2.500 1.928
4.310 3.324
5 6
56.397
1.707
2.943
56.397
3.240
5.586
53.309
1.707
2.943
7
59.107 61.587
1.572 1.439
2.710 2.480
59.107 61.587
2.458 2.344
4.238 4.041
57.546 61.587
1.572 1.439
2.710 2.480
8 9
.931 .906
1.606 1.563
63.193 64.755
10 11
.860 .803
1.482 1.384
66.238 67.621
12 13
.800
1.379
69.000
14
.768 .742
1.323 1.279
70.324 71.603
15 16
.709 .685
1.223 1.180
72.826 74.006
17 18
.661 .647
1.140 1.115
75.146 76.261
19 20
.639
1.101
77.362
21
.613 .598
1.056 1.030
78.418 79.448
22 23
.571 .568
.985 .979
80.433 81.412
24 25
.549 .546
.946 .941
82.359 83.300
26 27
Total Variance Explained
28
.512
.883
84.182
29 30
.494 .485
.852 .836
85.034 85.871
31 32
.458 .454
.790 .783
86.661 87.443
33
.447
.770
88.213
34 35
.427 .411
.737 .709
88.950 89.660
36 37
.404 .392
.697 .675
90.356 91.032
38 39
.364 .354
.628 .610
91.660 92.270
40
.346
.596
92.865
41 42
.340 .330
.586 .568
93.452 94.020
43 44
.326 .313
.562 .540
94.582 95.122
45 46
.287 .278
.495 .479
95.617 96.096
47
.267
.461
96.556
48 49
.258 .234
.445 .404
97.001 97.405
50 51
.222 .199
.383 .343
97.788 98.131
52 53
.197 .179
.340 .308
98.471 98.779
54
.170
.292
99.072
55 56
.163 .151
.282 .260
99.353 99.613
.116 .108
.200 .186
99.814 100.000
57 58 Rotated Component Matrixa
Component
1
2
3
4
5
6
7
8
9
VH5
.893
VH7 VH3
.872 .859
VH9
.845
VH1 VH4
.805 .785
VH6 VH8
.741 .696
NBCX10
.786
NBCX4
.741
NBCX1 NBCX5
.734 .725
NBCX9 NBCX7
.714 .684
NBCX3
.661
NBCX8 NBCX6
.656 .647
THCX7 THCX6
.688 .657
THCX1 THCX8
.655 .631
THCX2
.623
THCX5 THCX4
.623 .604
.587
THCX3 KSCX2
.720
KSCX7 KSCX4
.694 .692
KSCX3
.641
KSCX8 KSCX5
.631 .610
KSCX9 KSCX1
.571 .558
DK1 DK3
.817 .813
DK6
.797
DK2 DK4
.781 .757
.694
DK5 CV7
.832
CV3 CV1
.821 .711
CV2
.683
CV4 CV5
.651 .631
SDCX1 SDCX2
.682 .679
SDCX4 SDCX6
.663 .648
SDCX3
.625
.613
SDCX5 TG3
.824
.701
TG1
.664 .601
TG4 TG2
.851 .812
CN2 CN1
.786
CN3
2.2.2. Đối với biến phụ thuộc
KMO and Bartlett's Test
.820 Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy.
2727.51 Approx. Chi-Square 2
Bartlett's Test of Sphericity df 15
Sig. .000
Total Variance Explained
Compone Initial Eigenvalues Extraction Sums of Squared
nt Loadings
Total % of Cumulative Total % of Cumulative
Variance % Variance %
1 75.093 4.506 75.093 75.093 4.506 75.093
2 .746 12.426 87.518
3 .286 4.761 92.280
4 .228 3.808 96.088
5 .166 2.770 98.857
6 .069 1.143 100.000
Extraction Method: Principal Component Analysis.
Component Matrixa
Compone
nt
1
.900 DL6
.895 DL3
.895 DL5
.862 .841 DL1 DL2
.801 DL4
2.3. Kiểm định lại độ tin cậy của thang đo (sau khi loại bỏ chỉ báo CV6)
Reliability Statistics
Cronbach's N of
Alpha Items
.867 6
Item-Total Statistics
Scale Mean Scale Corrected Cronbach's
if Item Variance if Item-Total Alpha if
Deleted Correlation
Item Deleted Item Deleted
CV1 19.29 8.901 .655 .846
CV2 19.42 9.541 .585 .857
CV3 CV4 CV5 CV7 19.47 19.01 19.31 19.49 8.590 9.105 9.533 8.547 .756 .635 .608 .743 .827 .849 .854 .829
NBCX
SDCX
THCX
KSCX
CV
DL
.430**
.461**
.466**
.442**
Pearson Correlation
1
.607**
.000
.000
.000
.000
.000
DL
Sig. (2-tailed)
459 1
CV
459 .283** .000 459 1
NBCX
459 .320** .000 459 .526** .000 459 1
SDCX
459 .316** .000 459 .461** .000 459 .615** .000 459 1
THCX
459 .526** .000 459 .461** .000 459 .574**
459 .615** .000 459 .518**
459 .258** .000 459 .574** .000 459 .518** .000 459 .531** .000 459 1
459 .283** .000 459 .320** .000 459 .316** .000 459 .258**
N Pearson Correlation Sig. (2-tailed) N Pearson Correlation Sig. (2-tailed) N Pearson Correlation Sig. (2-tailed) N Pearson Correlation Sig. (2-tailed) N Pearson Correlation
459 .607** .000 459 .430** .000 459 .461** .000 459 .466** .000 459 .442**
.000
.000
.000
KSCX
Sig. (2-tailed)
.000
459
459
459 .531** .000 459
459
459
N
459
2.4. Kiểm định hệ số tƣơng quan Pearson Correlations
**. Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed). 2.5. Phân tích mô hình hồi quy Model Summaryb R Model
R Square
Durbin-Watson
Adjusted R Square
Std. Error of the Estimate
.706a
.499
.493
.54244
1.739
1 a. Predictors: (Constant), KSCX, CV, SDCX, NBCX, THCX b. Dependent Variable: DL ANOVAa Model
df
Mean Square
Sig.
Regression
Sum of Squares 132.675
F 90.181
.000b
5
Residual
133.292
453
1
Total
265.967
458
26.535 .294
a. Dependent Variable: DL b. Predictors: (Constant), KSCX, CV, SDCX, NBCX, THCX Coefficientsa Model
t
Sig.
Collinearity Statistics
Unstandardized Coefficients
B
Std. Error
Standardized Coefficients Beta
Tolerance
VIF
(Constant)
-.485
-2.483
1
CV NBCX SDCX THCX KSCX
.600 .108 .095 .151 .157
.195 .046 .046 .042 .051 .050
13.039 2.339 2.269 2.984 3.135
.467 .101 .104 .134 .139
.013 .000 .020 .024 .003 .002
.863 .590 .526 .547 .566
1.159 1.696 1.902 1.827 1.768
a. Dependent Variable: DL
Gioi tinh
N
Mean
Std. Deviation
Std. Error Mean
1
212
3.2675
.58085
.03989
NLCX
0
247
3.4732
.57413
.03653
2.6. Kiểm định sự khác biệt * Theo giới tính Group Statistics
Independent Samples Test
t-test for Equality of Means
Levene's Test for Equality of Variances
F
Sig.
t
df
Sig. (2- tailed)
Mean Differenc e
95% Confidence Interval of the Difference
Std. Error Differe nce
Lower
Upper
.023
.880
-3.805
457
.000
-.20564
.05404
-.31184
-.09943
Equal variances assumed
NLC X
Equal variances
-3.802
444.905
.000
-.20564
.05409
-.31194
-.09933
not assumed
Sum of Squares
df
Mean Square
F
Sig.
Between Groups
49.563
3
69.901
.000
Within Groups
107.538
455
16.521 .236
Total
157.101
458
* Theo nhóm tuổi: ANOVA NLCX
Descriptives NLCX
N
Mean
Minimum Maximum
Std. Deviation
Std. Error
95% Confidence Interval for Mean
Lower Bound Upper Bound
1 2
107 126
3.0192 3.1075
.67740 .44261
.06549 .03943
2.8894 3.0295
3.1490 3.1855
1.50 2.29
3.93 3.93
3 4 Total
116 110 459
3.8162 3.5756 3.3782
.47067 .28630 .58567
.04370 .02730 .02734
3.7296 3.5215 3.3245
3.9028 3.6297 3.4319
2.64 2.69 1.50
4.55 4.08 4.55
Sum of Squares
df
Mean Square
F
Sig.
Between Groups
2.134
2
3.139
.044
Within Groups
154.967
456
Total
157.101
458
1.067 .340
* Theo thâm niên công tác ANOVA NLCX
Descriptives NLCX
N
Mean
Std. Error 95% Confidence Interval for
Minimum Maximum
Std. Deviation
Mean
Upper Bound
Lower Bound
3.1894 3.3289 3.3411
3.3857 3.4745 3.6054
1.50 1.50 2.11
4.31 4.48 4.55
1 2 3
149 223 87
3.2875 3.4017 3.4733
.60610 .55161 .61992
.04965 .03694 .06646
3.3245
3.4319
1.50
4.55
Total
459
3.3782
.58567
.02734
N
Minimum Maximum
Mean
Std. Deviation
1.33 2.17 1.50 1.00 1.00 1.00 1.00
5.00 5.00 4.55 5.00 5.00 5.00 5.00
3.5588 3.8664 3.3782 3.4641 3.3671 3.3761 3.3056
.76205 .59336 .58567 .71208 .83348 .67512 .67414
DL CV NLCX NBCX SDCX THCX KSCX
Valid N (listwise)
459 459 459 459 459 459 459 459
2.7. Phân tích thống kê mô tả Descriptive Statistics

