
Đừng tự “chơi vơi” với nền điện
ảnh “một giò”

Điện ảnh, cũng như tất cả các ngành nghệ thuật nói chung, chỉ có thể tồn tại được
khi có công chúng tiếp nhận. Đấy là một quy luật tất yếu, như con cá cần nước, cái
cây cần đất và con chim cần khí trời. Từ lâu, trên các phương tiện truyền thông đại
chúng, đã có rất nhiều ý kiến, nhiều cuộc trao đổi về thực trạng của nền điện ảnh
Việt Nam hiện nay. Chúng ta từng mổ xẻ căn bệnh “suy dinh dưỡng” của nghệ
thuật thứ bảy ở Việt Nam từ nhiều góc độ: vấn đề về người làm phim, về cơ chế
quản lý và sản xuất phim, về việc quảng bá và trình chiếu…, nhưng vẫn có một
yếu tố vô cùng quan trọng quyết định sự sống còn của một nền điện ảnh vẫn chưa
được “hội chẩn” một cách toàn diện: hiện trạng của giới tiếp nhận điện ảnh.
Hội chẩn “cái chân gác nạng”
Theo tôi, ở Việt Nam, người xem phim đã có, khán giả đã có thói quen đến rạp
nhưng người biết và hiểu điện ảnh thì quá ít ỏi. Nền điện ảnh chỉ có người làm
phim mà không có người xem phim thì chỉ khập khiễng như người đang đi bằng
một chân. Những bộ phim mang tính nghệ thuật cao, đánh dấu tín hiệu khởi sắc
đáng mừng cho nền điện ảnh nước nhà và đoạt được những giải thưởng cao tại các
Liên hoan phim quốc tế, khi được công chiếu trong nước thì lại rơi vào tình trạng ế
ẩm, đìu hiu. Các buổi chiếu chỉ có lác đác người đến xem và những rạp chiếu
phim phải giảm số lượng suất chiếu so với dự kiến ban đầu. Đôi ba bộ phim kéo
được khán giả đến rạp vì sự tò mò, nhưng sau đó phải hứng chịu những lời chê bai,
thậm chí rất gay gắt.

Vậy thì nguyên nhân nằm ở đâu?
Thứ nhất, khán giả Việt Nam chưa có một quan niệm đúng về điện ảnh. Đa phần
thị hiếu của người xem hiện nay bị đóng khung trong những siêu phẩm của
Hollywood, những bộ phim ăn khách của Trung Quốc, các phim truyền hình nhiều
tập của Hàn Quốc và một số nước thuộc khu vực Mỹ Latin. Trong khi đó, có một
gương mặt khác của điện ảnh hoàn toàn không được biết đến: phim nghệ thuật của
các nước châu Âu (đặc biệt là những nền điện ảnh lớn từ Anh, Pháp, Ý, Đức),
phim của người Mỹ gốc Phi, phim Nhật Bản, phim Ấn Độ…
Không ít người lầm tưởng rằng điện ảnh nghĩa là Hollywood và đỉnh cao của điện
ảnh chỉ có ở Hollywood mà thôi. Từ chỗ chỉ tiếp cận với những bộ phim dễ xem,
dễ hiểu, khán giả thường đi đến một cái nhìn dễ dãi về điện ảnh, xem đây là một
môn nghệ thuật phổ thông và hoàn toàn chỉ cần tiếp nhận bằng cảm tính, bằng bản
năng và kinh nghiệm.
Thứ hai, khán giả Việt Nam không hề được trang bị những kiến thức về điện ảnh
từ căn bản cho đến chuyên sâu. Chỉ trừ các cơ sở có ngành đào tạo về điện ảnh,
hầu hết các trường học ở các cấp đều chưa đưa điện ảnh vào chương trình giảng
dạy. Chúng ta không đào tạo người tiếp nhận, thì chúng ta sẽ không thể có được
một lớp công chúng tiếp nhận xứng tầm với sự phát triển của nền nghệ thuật. Tình
trạng này cũng đang “xâm thực” trong âm nhạc, hội họa, điêu khắc…, tạo nên
những nền nghệ thuật “thiểu số”. Và chúng ta cứ thử hình dung, nếu văn học
không được dạy từ trong trường phổ thông thì bộ môn nghệ thuật này cũng sẽ có
cùng số phận như thế.

Ngồi trước màn hình, phần lớn khán giả chỉ xem cốt truyện, sự hấp dẫn của kịch
tính, quan sát cách diễn xuất của diễn viên và lấy các yếu tố ấy làm tiêu chuẩn để
đánh giá bộ phim. Còn những yếu tố cốt yếu làm nên ngôn ngữ của điện ảnh như
khuôn hình, ánh sáng, âm thanh, nghệ thuật cắt dựng, nghệ thuật quay phim, thiết
kế bối cảnh… thì ít ai cảm nhận và tri nhận được. Muốn cảm thụ được bộ phim từ
các góc độ này, người xem phim cần phải học, phải tìm hiểu để nâng cao trình độ
tiếp nhận chứ không thể chỉ “thụ hưởng” bằng bản năng.
Trên thế giới, phim phi cốt truyện và diễn viên không diễn xuất đã xuất hiện từ rất
lâu. Những bộ phim thuộc trào lưu Làn sóng mới của Pháp những năm 1960 chỉ là
những mảng rời rạc không mang tính chuyện kể của đời sống, nhưng lại có giá trị
nghệ thuật và giá trị nhân văn cao, tạo nên một trào lưu điện ảnh rộng khắp châu
Âu và cả một số nước châu Á.
Gần đây, “Chơi vơi” xuất hiện trong một hình thức ít mang tính cốt truyện và cái
kết bỏ lửng đã tạo nên những luồng dư luận khen chê trái chiều và nhiều người
xem không hiểu, thậm chí không chấp nhận bộ phim. Trong trường hợp này,
người xem gần như là “những AQ”, tự đặt mình lên trên cái mình chưa có, chưa
hiểu được phim thì kết luận ngay là phim dở. Vậy thì, khi phim không có cốt
truyện, không có diễn xuất (mà hầu hết phim nghệ thuật trên thế giới đều được làm
theo khuynh hướng này), người xem sẽ tiếp nhận như thế nào?

Thứ ba, cũng từ chỗ bị đóng khung thị hiếu, khán giả Việt Nam không có sự quan
sát đầy đủ về lịch sử và tình hình, khuynh hướng phát triển của điện ảnh thế giới.
Vì vậy, họ cũng không có sự so sánh giữa điện ảnh Việt Nam và điện ảnh nước
ngoài để nhận diện vị trí, đặc trưng của điện ảnh nước nhà với thế giới. Và khi các
nhà làm phim có ý thức đổi mới chính mình để đưa tác phẩm tiến kịp với trình độ
nghệ thuật của các nước phát triển thì khán giả lại quay lưng với đứa con của họ.
Những cơ thể bạc nhược không được ăn đủ chất, khi nuốt phải món lạ thì khó tiêu
hóa, thậm chí còn gây ra phản ứng ngược, dù đó là món ngon. Khán giả Việt Nam
cần phải đổi món trong thực đơn của mình, để không phải gạt bỏ chính món Việt
giữa mâm.
Tập đi bằng hai chân
Trước hết, chúng ta cần có sự ý thức lại về điện ảnh và phải nhìn nhận lĩnh vực
này như là một nghệ thuật thực thụ. Người xem phải được đào tạo về mặt kiến
thức để có thể tiếp nhận tác phẩm từ những đặc trưng nghệ thuật bản chất của điện
ảnh. Thế hệ trẻ cần được cung cấp kiến thức căn bản về các ngành nghệ thuật khác
nhau từ điện ảnh đến âm nhạc, hội hoạ, điêu khắc… chứ không chỉ học theo cách
“học hát, học vẽ” theo kiểu “hậu mẫu giáo” đơn giản như trong nhà trường từ
trước đến nay. Ngay cả ở những trường đào tạo về điện ảnh cũng cần có sự chú
trọng đến việc cung cấp kiến thức mang tính lý luận, lý thuyết cho sinh viên. Có
như vậy, sinh viên mới có thể nâng cao trình độ tiếp nhận tác phẩm và tiếp thu
nghệ thuật sáng tạo điện ảnh từ các khuynh hướng làm phim khác nhau trên thế
giới chứ không chỉ học về kĩ năng làm phim.

