Ebook Cuộc cách mạng ngược trong khoa học các nghiên cứu về sự lạm dụng lí tính: Phần 2

Chia sẻ: Vi Nguyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:264

0
21
lượt xem
1
download

Ebook Cuộc cách mạng ngược trong khoa học các nghiên cứu về sự lạm dụng lí tính: Phần 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cuộc cách mạng ngược trong khoa học là tác phẩm Hayek trình bày đầy đủ nhất quan điểm của ông về hệ thống phương pháp luận trong lĩnh vực khoa học xã hội. Phần 2 của cuốn sách này được xem là một nghiên cứu về lịch sử tư tưởng của chủ nghĩa duy khoa học. Đồng thời nghiên cứu so sánh tư tưởng của hai triết gia thế kỉ XIX, Georg Wilhelm Friedrich Hegel, người Đức, và Auguste Comte, người Pháp. Mời các bạn tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ebook Cuộc cách mạng ngược trong khoa học các nghiên cứu về sự lạm dụng lí tính: Phần 2

II<br /> Bản thân Condorcet đã trở thành một nạn nhân của Cuộc cách<br /> mạng Pháp. Tuy thế tác phẩm của ông đã chỉ ra rằng Cuộc cách<br /> mạng đó, đặc biệt là những cải cách giáo dục của nó, đã đóng vai<br /> trò quan trọng cho việc ra đời của một tổ chức khoa học lớn được<br /> thể chế hóa và tập trung hóa, nơi đã tạo ra một trong số những thời<br /> kì rực rỡ nhất của những tiến bộ khoa học cho tới tận đầu thế kỉ<br /> mới. Tuy nhiên, chính cái tổ chức này không chỉ trở thành cái nôi<br /> của chủ nghĩa duy khoa học, khía cạnh mà chúng ta đặc biệt quan<br /> tâm, mà nó có lẽ còn phải chịu trách nhiệm chính cho sự trượt dốc<br /> tương đối của khoa học Pháp trong suốt thế kỉ từ vị trí số một trên<br /> thế giới xuống vị trí không những sau Đức mà còn sau cả nhiều<br /> quốc gia khác. Như chiều hướng thường thấy trong các phong trào<br /> tương tự, chỉ từ thế hệ thứ hai hay thế hệ thứ ba trở đi, những học<br /> trò của những vĩ nhân đã mắc khuyết điểm khi phóng đại những ý<br /> tưởng của thầy mình và áp dụng chúng một cách sai lầm vượt quá<br /> giới hạn cho phép của chúng.<br /> Những hệ quả trực tiếp của Cuộc cách mạng Pháp đặc biệt thu<br /> hút sự quan tâm của chúng ta ở ba khía cạnh sau đây. Trước hết,<br /> sự sụp đổ của những trường viện đang tồn tại đòi hỏi phải áp dụng<br /> ngay lập tức tất cả những tri thức vốn được xem như là biểu hiện<br /> cụ thể của lẽ phải, như là tôn chỉ của Cuộc cách mạng [cho những<br /> trường viện mới đang được dựng lên]. Như một trong những tạp chí<br /> khoa học mới nổi ở cuối Giai đoạn Khủng bố (the Terror) [1793-<br /> <br /> 170<br /> <br /> 1794] đã diễn tả: “Cuộc cách mạng đă san bằng mọi thứ. Chính<br /> quyền, những giá tri đạo đức, những thói quen và mọi thứ khác sẽ<br /> phải được xây dựng lại. Thật là một công trường tráng lệ cho các<br /> nhà kiến trúc sư! Thật là một cơ hội lớn để tận dụng những ý tưởng<br /> tuyệt vời vẫn còn đang được ấp ủ, để sử dụng những vật liệu vẫn<br /> còn chưa được sử dụng trước đây, và để loại bỏ những gì từng là trở<br /> ngại trong nhiều thế kỉ và những gì từng bị áp đặt sử dụng”.<br /> Hệ quả thứ hai của Cuộc cách mạng mà chúng ta phải xem xét<br /> lướt qua, đó là sự phá bỏ hoàn toàn những cái cũ và tạo ra một hệ<br /> thống giáo dục hoàn toàn mới, hệ thống sẽ có những tác động sâu<br /> sắc đến cách nhìn nhận và những quan điểm chung của toàn bộ thế<br /> hệ sau. Hệ quả thứ ba cụ thể hơn, đó là việc thành lập École<br /> Polytechnique.<br /> Cuộc cách mạng đã xoá sạch hệ thống đại học và cao đẳng mang<br /> nặng lối giáo dục cổ điển trước đây, và chỉ sau những thử nghiệm<br /> ngắn ngủi, Cuộc cách mạng đã thay thế chúng vào năm 1795 bằng<br /> écoles centrales [các trường công lập tập trung] mới, nơi đã trở<br /> thành những trung tâm duy nhất của giáo dục bậc trung học. Tuân<br /> thủ tinh thần chỉ đạo và với một sự phản kháng mãnh liệt đối với<br /> những ngôi trường cũ, trong vài năm đầu, hầu như chỉ có những<br /> môn khoa học là được giảng dạy trong những ngôi trường mới.<br /> Không chỉ những ngôn ngữ cổ là bị hạn chế tối đa và hầu như<br /> không được thực hành, việc giảng dạy văn học, ngữ pháp và lịch sử<br /> cũng rất ít, và dĩ nhiên, việc cung cấp kiến thức về đạo đức và tôn<br /> giáo thì bị bỏ qua hoàn toàn. Mặc dù saụ đó vài năm, một cố gắng<br /> cải cách mới đã được đưa ra để bù đắp những thiếu hụt nghiêm<br /> trọng nhất[109], sự ngắt quãng trong nhiều năm của việc giảng dạy<br /> những bộ môn này đă đủ để thay đổi toàn bộ diện mạo trí tuệ.<br /> <br /> 171<br /> <br /> Saint-Simon đã miêu tả sự thay đổi này trong năm 1812 hay 1813:<br /> “Đó là sự khác biệt giữa tình trạng của... chỉ khoảng 30 năm trước<br /> và tình trạng hiện nay. Nếu như trước đây, để biết liệu ai đó đã<br /> nhận được một nền giáo dục tốt hay không, một người có thể hỏi:<br /> “Anh ta có biết rõ những tác gia Hi Lạp hay Latin của mình hay<br /> không?” thì bây giờ người ta hỏi: “Anh ta có giỏi toán không? Anh<br /> ta có biết đến những thành tựu của vật lí, hóa học, lịch sử tự nhiên,<br /> hay nói một cách ngắn gọn, những thành tựu của các ngành khoa<br /> học thực chứng và những ngành dựa trên các quan sát hay không?”<br /> Thế là toàn bộ một thế hệ lớn lên mà đối với họ, kho tàng trí tuệ<br /> nhân loại, hình thức duy nhất nhờ đó sự hiểu biết về những tiến bộ<br /> xã hội của loài người do những bộ óc kiệt xuất nhất đóng góp được<br /> truyền tải, kho tàng trí tuệ vĩ đại của mọi thời đại chỉ còn là một<br /> cuốn sách đã bị đóng lại. Lần đầu tiên trong lịch sử, một dạng mới<br /> xuất hiện, cùng loại như Realschule [trường trung học ít dạy về lí<br /> thuyết dành cho những học sinh trình độ trung bình, khác với<br /> Gymnasium dành cho những học sinh xuất sắc, có dạy thêm ngữ<br /> văn cổ điển (Hi-La) - ND] của nước Đức và của các ngôi trường<br /> tương tự, đã trở nên rất quan trọng và có tầm ảnh hưởng trong suốt<br /> thế kỉ XIX và XX sau này: một chuyên gia kĩ thuật được xem là có<br /> giáo dục bởi lẽ anh ta đã tốt nghiệp những trường khó nhưng lại là<br /> người biết rất ít hoặc không biết gì về xã hội, về cuộc sống, sự phát<br /> triển, các vấn đề và các giá trị xã hộị, những thứ mà chỉ có những<br /> nghiên cứu về lịch sử, văn học và ngôn ngữ mới có thể mang lại cho<br /> anh ta.<br /> <br /> 172<br /> <br /> III<br /> Không chỉ ở bậc giáo dục trung học mà thậm chí ở cả những bậc<br /> giáo dục cao hơn, Công ước Cách mạng (Revolutionary Convention)<br /> đã tạo ra một loại trường viện mới, loại được thành lập có tính<br /> trường tồn và trở thành một khuôn mẫu được cả thế giới áp dụng:<br /> École Polytechnique. Các cuộc chiến tranh xảy ra trong Cuộc cách<br /> mạng và sự giúp đỡ của các nhà khoa học trong việc tạo ra những<br /> chất liệu quan trọng[110] đã khiến cho nhu cầu phải có những kĩ sư<br /> được đào tạo, và ban đầu là cho các mục đích quân sự, được đánh<br /> giá cao. Tuy nhiên, tiến bộ công nghiệp cũng đã tạo ra sự quan tâm<br /> mới đối với máy móc. Tiến bộ khoa học và công nghệ đã tạo ra một<br /> hứng thú rộng lớn đối với các nghiên cứu về công nghệ, sự hứng thú<br /> được thể hiện rõ trong việc thành lập các hội như Association<br /> philotechnique [Hội truyền bá nghệ thuật và khoa học] và Société<br /> polytechnique [Hiệp hội những nhà kĩ thuật]. Giáo dục kĩ thuật bậc<br /> cao hơn sau đó vẫn chỉ được dạy hạn chế trong các trường chuyên<br /> ngành như Ecole des Ponts et Chaussés [Trường Đại học Cầu<br /> đường] và nhiều trường quân sự. G.Monge, người khai sinh ra hình<br /> học họa pháp (descriptive geometry), tư lệnh hải quân trong Cuộc<br /> cách mạng, và sau này là bạn của Napoléon, đã từng giảng dạy<br /> trong một trường quân sự. Ông ta ủng hộ ý tưởng thành lập một<br /> ngôi trường lớn riêng biệt, tại đó tất cả các lớp kĩ sư sẽ được đào tạo<br /> những bộ môn chung mà họ đều cần[111]. Ông ta đã trao đổi ý tưởng<br /> đó với Lazare Carnot, “nhà tổ chức của chiến thắng”, học trò cũ của<br /> ông ta, người không phải là một nhà vật lí học hay một kĩ sư[112].<br /> 173<br /> <br /> Hai con người này đã “đào móng” xây dựng ngôi trường mới vào<br /> năm 1794. Đó là École Polytechnique mới (đi ngược lại với lời<br /> khuyên của Laplace), chủ yếu dành cho các ngành khoa học ứng<br /> dụng - trái với École Normale [Trường Đại học Tổng hợp], được<br /> thành lập cùng thời gian, chủ yếu giảng dạy lí thuyết - và tình<br /> trạng này vẫn giữ nguyên như vậy trong suốt 10 hay 20 năm đầu<br /> tồn tại của trường. Với một mức độ cao hơn các trường viện tương<br /> tự, việc giảng dạy tập trung xoay quanh bộ môn của Monge, hình<br /> học họa pháp, hay nghệ thuật thiết kế, cái tên mà chúng ta có thể<br /> dùng để thể hiện tầm quan trọng đặc biệt của nó đối với các kĩ<br /> sư[113]. Lúc đầu trường được tổ chức dựa trên những nguyên tắc<br /> dân sự cơ bản, nhưng sau đó đã trở thành một tổ chức quân sự<br /> hoàn toàn nằm dưới sự điều khiển của Napoléon, người mà mặc dù<br /> rất muốn điều ngược lại nhưng vẫn kiên quyết bác bỏ bất kì cố<br /> gắng nào nhằm tự do hóa chương trình học của nó và thậm chí chỉ<br /> miễn cưỡng chấp nhận việc đưa vào các khoá học vô hại như văn<br /> học.<br /> Tuy nhiên bất chấp những hạn chế về các bộ môn, và những hạn<br /> chế thậm chí còn nghiêm trọng hơn liên quan đến trình độ đầu vào<br /> của sinh viên trong những năm đầu mới thành lập, ngay từ đầu<br /> École Polytechnique đã có sẵn một đội ngũ giáo viên tiếng tăm hơn<br /> bất kì một tổ chức nào ở châu Âu có thể có trước đó. Lagrange từng<br /> là một trong những giảng viên đầu tiên của nó, và mặc dù Laplace<br /> không phải là giáo viên thường xuyên, ông đã có mối liên hệ với<br /> trường bằng rất nhiều cách, bao gồm với cả văn phòng của chủ tịch<br /> hội đồng. Monge, Fourier, Prony và Poinsot là những giáo viên toán<br /> học và vật lí học thuộc thế hệ đầu tiên; Berthollet, người đã viết<br /> tiếp tác phẩm của Lavoisier, và một số người không kém phần kiệt<br /> <br /> 174<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản