Ebook Đổi mới giáo dục và đào tạo - Xây dựng những người hạnh phúc: Phần 2 - Phan Dũng

Chia sẻ: Nguyễn Thị Thanh Triều | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:700

0
10
lượt xem
4
download

Ebook Đổi mới giáo dục và đào tạo - Xây dựng những người hạnh phúc: Phần 2 - Phan Dũng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiếp nối phần 1 của cuốn sách, phần 2 ebook trình bày kết quả ứng dụng lý thuyết vào thực tế xây dựng những người hạnh phúc ở Việt Nam. Những kết quả này thể hiện cụ thể trong ý kiến đánh giá khách quan của chuyên gia chuyên nghiên cứu khoa học sáng tạo, giáo dục sáng tạo trên thế giới và lịch sử phát triển Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới (TRIZ mở rộng) ở Việt Nam, trong các ý kiến thu hoạch của các cựu học viên môn học Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới (TRIZ mở rộng) thuộc hơn 500 khóa học, đa dạng về lứa tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp chuyên môn, thành phần và vị trí xã hội… Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ebook Đổi mới giáo dục và đào tạo - Xây dựng những người hạnh phúc: Phần 2 - Phan Dũng

Chương VII: Một số việc làm liên quan đến xây dựng những người hạnh<br /> phúc ở Việt Nam và một số kết quả<br /> <br /> 141<br /> <br /> Chương VII: Một số việc l{m liên quan đến xây dựng<br /> những người hạnh phúc ở Việt Nam và một số kết<br /> quả<br /> VII.1.<br /> <br /> Du nhập, phổ biến và phát triển PPLSTVĐM (TRIZ)<br /> ở Việt Nam<br /> <br /> Có s|u người Việt Nam tốt nghiệp Học viện công cộng sáng tạo sáng chế (Public<br /> Institute of Inventive Creativity), thành phố Baku, nước cộng hòa Azerbaigian, Liên<br /> Xô.<br /> Đấy là các anh Nguyễn Văn Ch}n, Nguyễn Văn Thông v{ tôi l{ người viết (khóa<br /> 1971-1973), Dương Xu}n Bảo, Thái Bá Cần và Nguyễn Văn Thọ (khóa 1973-1975).<br /> Nếu xét về nhiệm vụ chính trị được Đảng v{ Nh{ nước giao cho: anh Dương<br /> Xuân Bảo v{ tôi được phân công học vật lý, các anh Nguyễn Văn Ch}n, Nguyễn Văn<br /> Thông và Thái Bá Cần – học toán, anh Nguyễn Văn Thọ học địa chất tại Đại học tổng<br /> hợp quốc gia Azerbaigian chứ không phải học PPLSTVĐM. Việc học thêm Học viện<br /> công cộng sáng tạo sáng chế xuất phát từ ý thích, sự say mê cá nhân chứ không<br /> phải là nhiệm vụ bắt buộc. Do vậy, chúng tôi đ~ được nhắc nhở không xao nhãng<br /> nhiệm vụ chính trị. Rất may, chúng tôi đ~ ho{n th{nh tốt cả hai nhiệm vụ: nhiệm vụ<br /> chính trị và nhiệm vụ tự đề ra.<br /> Học viện tuyển sinh những người đ~ tốt nghiệp đại học (phần lớn là các kỹ sư),<br /> đ~ có những thành tích sáng tạo. Cùng học với chúng tôi có những người có trong<br /> tay cả chục patent. Chúng tôi lúc đó chỉ là những sinh viên, được nhận vào học như<br /> những trường hợp thử nghiệm, ngoại lệ. Còn khi vào học thì không có sự phân biệt<br /> đối xử nào.<br /> Học viện công cộng sáng tạo sáng chế không chỉ đ{o tạo các nhà sáng chế<br /> chuyên nghiệp, sáng tạo bằng các phương ph|p khoa học, m{ còn đ{o tạo các cán<br /> bộ giảng dạy, nghiên cứu PPLSTVĐM, c|c c|n bộ tổ chức các hoạt động sáng tạo,<br /> sáng chế.<br /> Ở Học viện công cộng sáng tạo sáng chế, chúng tôi được học lý thuyết giải các<br /> bài toán sáng chế (TRIZ), algôrit giải các bài toán sáng chế (ARIZ), hầu hết các<br /> phương ph|p s|ng tạo của phương T}y v{ nhiều môn học liên quan kh|c như<br /> patent học, lý thuyết thông tin, lý thuyết hệ thống, điều khiển học, lý thuyết ra<br /> quyết định, tâm lý học sáng tạo, môn học phát triển trí tưởng tượng sáng tạo…<br /> Triết học biện chứng được coi l{ đ~ học trong trường đại học nên không đưa v{o<br /> <br /> Giáo dục và đào tạo: xây dựng những người hạnh phúc<br /> <br /> 142<br /> nữa.<br /> <br /> Chúng tôi đ~ vô cùng may mắn được học trực tiếp thầy G.S. Altshuller. Sự may<br /> mắn thể hiện ở chỗ thầy G.S. Altshuller là tác giả TRIZ, có nghĩa, chúng tôi được học<br /> với người sáng lập ra một lý thuyết rất mạnh trong PPLSTVĐM. Nói c|ch kh|c,<br /> chúng tôi được học với sư tổ, học tận gốc. Dễ dầu gì có ai được học cơ học cổ điển<br /> với Newton, thuyết tương đối với Einstein, tin học với những người sáng lập ra<br /> ngành tin học… Một số trong chúng tôi sau khi học còn giữ liên lạc, được thầy<br /> Altshuller cung cấp các sách, tài liệu TRIZ mới nhất cho đến khi thầy Altshuller bị<br /> bệnh nặng, rồi qua đời năm 1998.<br /> Một may mắn nữa cần nhấn mạnh l{, khi chúng tôi đi học thêm ở Học viện công<br /> cộng sáng tạo sáng chế, Liên Xô l{ nước xã hội chủ nghĩa v{ học không phải đóng<br /> học phí. Nếu bây giờ tôi mới đi học PPLSTVĐM thì cũng phải bó tay vì giá trung<br /> bình trên thế giới l{ v{i trăm USD cho một người, một ngày học.<br /> Nếu xem du nhập một khoa học, một môn học vào một đất nước không đơn<br /> giản chỉ là nhập khẩu sách, tài liệu v{o đất nước đó m{ phải là du nhập kiến thức,<br /> kỹ năng của khoa học, môn học đó v{o đầu và trở th{nh h{nh động của người bản<br /> xứ, thì thời điểm du nhập PPLSTVĐM v{o Việt Nam được tính l{ năm 1973,<br /> khi nhóm ba người đầu tiên tốt nghiệp khóa một Học viện công cộng sáng tạo sáng<br /> chế.<br /> 1) Phổ biến và phát triển phương pháp luận sáng tạo và đổi mới<br /> (PPLSTVĐM) ở Việt Nam: các kịch bản<br /> Thông thường, sau giai đoạn du nhập một c|i gì đó từ nước ngoài về, người ta<br /> thực hiện c|c giai đoạn tiếp theo là nhân giống, truyền nghề, phổ biến và phát triển<br /> nó ở trong nước. Ví dụ, sau khi du nhập giống lúa mới, người ta tiến hành nhân<br /> giống, để khi có đủ số lượng thì phổ biến trồng đại tr{, đồng thời, người ta cải tiến,<br /> hoàn thiện việc gieo trồng, chăm sóc, cao hơn nữa, cải tiến chính giống lúa nhập về.<br /> Không ai nhập thóc giống về để ăn.<br /> Có thể có một số “kịch bản” liên quan đến việc phổ biến và phát triển<br /> PPLSTVĐM ở Việt Nam.<br /> Kịch bản 1<br /> PPLSTVĐM được du nhập thông qua s|u người Việt Nam đi học ở Liên Xô về.<br /> Giả sử, cả s|u người đều không có ý định phổ biến PPLSTVĐM ở Việt Nam mà chỉ<br /> dùng riêng cho mình. Điều này có thể hiểu được vì động cơ ban đầu đến với<br /> <br /> Chương VII: Một số việc làm liên quan đến xây dựng những người hạnh<br /> phúc ở Việt Nam và một số kết quả<br /> <br /> 143<br /> <br /> PPLSTVĐM l{ do sự ham thích, say mê của từng cá nhân.<br /> Thêm nữa, lúc này, không ai, kể cả các cán bộ quản lý, l~nh đạo khoa học, giáo<br /> dục Việt Nam đặt vấn đề và tạo điều kiện để s|u người phổ biến kiến thức, kỹ năng<br /> môn học PPLSTVĐM cho nhiều người biết.<br /> Nếu kịch bản này xảy ra thì có chuyện du nhập PPLSTVĐM nhưng không có<br /> chuyện nhân giống, truyền nghề, phổ biến, lại càng không có chuyện phát triển<br /> PPLSTVĐM ở Việt Nam.<br /> Thực tế cho thấy, có anh Dương Xu}n Bảo ở Hà Nội và người viết ở TP. Hồ Chí<br /> Minh có ý định phổ biến PPLSTVĐM v{ triển khai nó trong xã hội.<br /> Kịch bản 2<br /> Năm 1975, ba người tốt nghiệp khóa hai Học viện công cộng sáng tạo sáng chế<br /> về nước. Lúc này, tất cả s|u người đ~ học PPLSTVĐM đều có mặt ở Việt Nam.<br /> Một hôm, những người quản lý chúng tôi mời chúng tôi lên và nói:<br /> “Trong lý lịch các anh có viết, các anh học thêm Học viện công cộng sáng tạo<br /> sáng chế, ở đó dạy môn khoa học PPLSTVĐM. Vậy các anh có thể làm một hoặc vài<br /> seminar để chúng tôi biết nó (PPLSTVĐM) l{ c|i gì không?”.<br /> Được lời như cởi tấm lòng vì cả s|u người chúng tôi đều có ý định phổ biến,<br /> phát triển PPLSTVĐM ở Việt Nam. Chúng tôi tích cực chuẩn bị và các buổi seminar<br /> đ~ diễn ra một cách tốt đẹp.<br /> Sau các seminar một thời gian ngắn, chúng tôi được thông b|o, c|c cơ quan có<br /> trách nhiệm thấy đ}y l{ khoa học cho tương lai nên quyết định đầu tư ở cấp nhà<br /> nước cho việc phổ biến và phát triển PPLSTVĐM ở nước ta.<br /> Công việc được triển khai, trước hết là nhân giống: từ chúng tôi, đ{o tạo ra<br /> những người có khả năng giảng dạy và nghiên cứu PPLSTVĐM. Những người này sẽ<br /> là các thầy, cô giáo dạy môn PPLSTVĐM khi PPLSTVĐM được đưa v{o trường học<br /> các cấp.<br /> Môn PPLSTVĐM đầu tiên sẽ đưa v{o c|c trường đại học. Khi chuẩn bị đầy đủ<br /> người dạy, giáo trình phù hợp với kiến thức, độ tuổi, môn học PPLSTVĐM sẽ đưa<br /> xuống trung học phổ thông (cấp 3), trung học cơ sở (cấp 2), tiểu học (cấp 1), thậm<br /> chí đến mẫu giáo.<br /> Bạn đọc thử tưởng tượng, nếu mọi c|i đi theo kịch bản n{y, PPLSTVĐM được<br /> đầu tư ngay từ năm 1975 đến nay (2017) thì 42 năm vừa qua PPLSTVĐM đ~ được<br /> <br /> 144<br /> <br /> Giáo dục và đào tạo: xây dựng những người hạnh phúc<br /> <br /> phổ biến và phát triển đến đ}u?<br /> Nh}n đ}y, người viết nói về đầu tư cho PPLSTVĐM: chi phí đầu tư cho<br /> PPLSTVĐM chỉ tương đương với đầu tư cho môn Ngữ văn – tiếng Việt trong trường<br /> học các cấp. Nói c|ch kh|c, chi phí đầu tư rất ít. Bởi vì, PPLSTVĐM không cần trang<br /> thiết bị, máy móc, hóa chất, nguyên vật liệu, năng lượng, thậm chí, không cần mỗi<br /> người học phải có một máy tính. Chưa kể, PPLSTVĐM không có chất thải gây ô<br /> nhiễm môi trường. Người đi học mang máy tính (bộ óc) của mình đến lớp học. Dạy<br /> và học PPLSTVĐM l{ nạp phần mềm tiên tiến nhất về tư duy s|ng tạo vào máy tính<br /> (bộ óc) có sẵn, được cha mẹ cho không mất tiền mua.<br /> Còn ích lợi thì sao? Ích lợi vô cùng lớn. Người học, về nguyên tắc, chỉ học đầy<br /> đủ chương trình PPLSTVĐM một lần và dùng nó suốt cuộc đời để giải quyết tốt các<br /> vấn đề của mình và góp phần giải quyết tốt các vấn đề của cộng đồng, xã hội, hướng<br /> tới những người hạnh phúc, dân tộc hạnh phúc.<br /> Rất tiếc, kịch bản lý tưởng n{y đ~ không xảy ra.<br /> Kịch bản 3<br /> Một số trong chúng tôi có ý định phổ biến và phát triển PPLSTVĐM ở Việt Nam<br /> không chờ đợi hơn được nữa, quyết định tìm gặp các vị quản lý, l~nh đạo liên quan<br /> để chủ động trình b{y PPLSTVĐM l{ gì v{ đề nghị được giúp đỡ.<br /> Sau nhiều lần gặp, sau khi gặp được nhiều vị, cuối cùng, các vị quản lý, l~nh đạo<br /> có trách nhiệm bị thuyết phục và ra quyết định đầu tư nhân giống, truyền nghề,<br /> phổ biến và phát triển PPLSTVĐM ở cấp độ nh{ nước. Phần tiếp theo sẽ đi theo<br /> kịch bản 2, chỉ có khác, thời điểm ra quyết định ủng hộ không phải l{ năm 1975 m{<br /> muộn hơn.<br /> Rất tiếc kịch bản n{y đ~ không xảy ra, mặc dù tôi v{ anh Dương Xu}n Bảo đ~<br /> gặp nhiều vị quản lý, l~nh đạo chính quyền, khoa học-công nghệ, giáo dục-đ{o tạo ở<br /> địa phương cũng như ở trung ương.<br /> Kịch bản 4<br /> Nếu như chi phí đầu tư cho phổ biến, phát triển PPLSTVĐM ít thì tại sao chính<br /> chúng tôi không tự lực cánh sinh: tự đầu tư, tự trang trải về mặt tài chính mà không<br /> được nhận kinh phí của nh{ nước. Trong khi, là các viên chức nh{ nước, lương<br /> chúng tôi chỉ thuộc loại ba cọc ba đồng. Nếu l{m được như vậy thì bằng việc làm<br /> chứng minh được những điều sau:<br /> <br /> Chương VII: Một số việc làm liên quan đến xây dựng những người hạnh<br /> phúc ở Việt Nam và một số kết quả<br /> <br /> 145<br /> <br />  Quả thật chi phí đầu tư cho phổ biến, phát triển PPLSTVĐM rất ít.<br />  Nhiều người thuộc mọi thành phần kinh tế, xã hội đi học chứng tỏ môn học<br /> này cần cho xã hội, suy rộng ra, cho đất nước, cho dân tộc.<br />  PPLSTVĐM mang lại nhiều ích lợi cho người học, cho cộng đồng, xã hội thể<br /> hiện qua các thu hoạch mà các học viên phản ánh lại.<br /> Tất cả những kết quả nói trên được chúng tôi gởi tới các vị quản lý, l~nh đạo<br /> liên quan, làm các vị “động lòng” v{ ra quyết định đầu tư ở cấp nh{ nước cho<br /> PPLSTVĐM.<br /> Kịch bản n{y đ~ v{ đang tiếp tục xảy ra phần đầu nhưng chưa đến được phần<br /> sau: đến nay vẫn không có quan chức n{o động lòng.<br /> Kịch bản 5<br /> Kịch bản 5 tương tự kịch bản 4 ở phần đầu còn phần sau (các quan chức “động<br /> lòng”) không bao giờ xảy ra.<br /> Lúc này, những người thực hiện việc phổ biến, phát triển PPLSTVĐM đều đ~<br /> già, rồi lần lượt ra đi theo quy luật tự nhiên. PPLSTVĐM dần quên lãng ở Việt Nam<br /> và tự khai tử. Tuy nhiên, trên con đường phát triển, Việt Nam không thể bỏ qua<br /> PPLSTVĐM. Đến một lúc n{o đó, Việt Nam sẽ phải bắt đầu lại PPLSTVĐM. Đ}y sẽ là<br /> điều vô cùng đ|ng tiếc.<br /> Đ}y l{ kịch bản xấu nhất, nhưng tôi có cảm giác xác suất xảy ra kịch bản 5 này<br /> không nhỏ.<br /> Ngoài ra còn có những kịch bản kh|c m{ tôi không đưa v{o đ}y.<br /> Dưới đ}y l{ những gì đ~ xảy ra trong thực tế 44 năm qua (từ năm 1973 đến<br /> năm 2017) liên quan đến phổ biến và phát triển PPLSTVĐM ở Việt Nam theo cách<br /> tự lực cánh sinh.<br /> 2) Phổ biến và phát triển PPLSTVĐM ở Việt Nam trước và từ khi thành<br /> lập Trung tâm Sáng tạo Khoa học-kỹ thuật (TSK)<br /> Trong thời gian học ở Học viện công cộng sáng tạo sáng chế, thấy được ích lợi<br /> to lớn của PPLSTVĐM đem đến cho những người học, người viết bắt đầu nung nấu<br /> ý định phổ biến những kiến thức học được cho càng nhiều người Việt Nam biết<br /> càng tốt. Bởi vì người viết nhận ra rằng, PPLSTVĐM thực sự cần cho sự<br /> phát triển của đất nước, của dân tộc. Trước khi về nước, người viết đem ý kiến<br /> n{y trao đổi với thầy G.S. Altshuller v{ được thầy ủng hộ, khuyến khích việc thực<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản