Ebook Hướng dẫn kỹ thuật nuôi nhím - NXB Nông nghiệp

Chia sẻ: Kien Kien | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:52

0
45
lượt xem
15
download

Ebook Hướng dẫn kỹ thuật nuôi nhím - NXB Nông nghiệp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cùng nắm kiến thức trong ebook "Hướng dẫn kỹ thuật nuôi nhím" thông qua việc tìm hiểu các nội dung sau: nghề nuôi nhím, giá trị kinh tế của con nhím, các đặc điểm sinh học của nhím, kỹ thuật nuôi nhím. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ebook Hướng dẫn kỹ thuật nuôi nhím - NXB Nông nghiệp

  1. BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG QUỐC GIA NGUYỄN LÂN HÙNG HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT NUÔI NHÍM NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP HÀ NỘ I 2009 1
  2. 2
  3. 1. NGHỀ NUÔI NHÍM Nuôi nhím là một nghề rất mới, mới hơn cả nghề nuôi ba ba, nuôi ếch... Khi nghề nuôi nhím bắt đầu được giới thiệu qua các phương tiện thông tin đại chúng như các báo, đài phát thanh, đài truyền hình thì hàng trăm người đã đổ xô vào nuôi. Tới nay, số người nuôi đã lên tới cả nghìn và càng ngày càng lan mạnh. Ở thị xã Sơn La, người ta còn thành lập một hội nuôi nhím với một ban chấp hành, chủ tịch, phó chủ tịch, có con dấu và văn phòng làm việc đàng hoàng. Hội nuôi nhím này hoạt động sôi nổi và luôn kết nạp thêm hội viên mới. Trong cuốn “Danh mục các loài thú (Mammalia) Việt Nam” của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh học (Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam) có cho biết, nhím chỉ phân bố từ các tỉnh phía Bắc vào tới Khánh Hoà! (?) Nhưng thực tế, chúng tôi bắt gặp nhím ở cả các tỉnh Đắc Lắc, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước... và nhiều nơi khác ở phía Nam. Điều đó giúp 3
  4. chúng ta khẳng định, ở Việt Nam, chỗ nào cũng có thể tổ chức nuôi nhím. Hiện nay, rất nhiều tỉnh đã phát triển các hộ nuôi nhím. Để kịp thời phục vụ cho bà con, chúng tôi đã giới thiệu phần “Kỹ thuật nuôi nhím” (trong cuốn “Kỹ thuật nuôi nhím, cừu và bò thịt”) được Nhà xuất bản Nông nghiệp ấn hành năm 2005. Đây là tài liệu đầu tiên hướng dẫn cách nuôi nhím được xuất bản. Tới nay, việc thu thập tài liệu và kinh nghiệm của bà con về nuôi nhím đã phong phú hơn nhiều. Vì vậy, cần thiết phải có một tài liệu hướng dẫn kỹ hơn để giúp cho những người nuôi nhím có đầy đủ thông tin. Khi có tài liệu hướng dẫn nuôi và tham khảo kinh nghiệm của rất nhiều người nuôi nhím thành công thì việc nuôi nhím sẽ trở nên đơn giản hơn nhiều. Vì vậy, ở đâu có điều kiện và thị trường có nhu cầu thì bà con mình phải bắt tay ngay vào việc nuôi nhím. Cơ sở nuôi nhím có quy mô lớn đầu tiên ở Việt Nam là trại nhím tại Trung tâm nghiên cứu khoa học và sản xuất lâm nghiệp vùng Tây Bắc (thuộc Viện Khoa học kỹ thuật lâm nghiệp Việt Nam) đóng ở cây số 6 thị xã Sơn La. Giám đốc Trung tâm là kỹ sư Nguyễn 4
  5. Trung Vệ. Ông là con người đầy nhiệt huyết và rất say sưa với công việc, trong đó có việc nuôi các loài động vật quý hiếm. Chúng tôi đã phối hợp chặt chẽ với ông để đưa việc nuôi nhím thành một nghề ngay từ những năm 90 của thế kỷ trước. Rất tiếc khi mơ ước của chúng tôi đã thành sự thật thì ông đã vĩnh viễn ra đi. Chúng ta không quên công lao to lớn của ông trong việc đưa ra một nghề mới - nghề nuôi nhím. Hiện tại, riêng ở Sơn La cũng đã có cả trăm gia đình nuôi nhím. Chúng tôi đã tới thăm nhiều nhà. Có nhà chỉ nuôi chúng trong một diện tích rất hẹp của chỗ nuôi gà cũ. Ấy vậy mà mấy mét vuông ấy cũng có thể nuôi được 5-6 con nhím. Thậm chí có gia đình xếp các lồng nhím chồng lên nhau trên diện tích chỉ khoảng 2m2, nhưng nhím vẫn sống và sinh sôi thoải mái. Cũng có nhiều nhà nuôi với quy mô lớn, chuồng trại rộng rãi. Tuy nhiên, đầu tư để làm chuồng cũng không lớn vì chủ yếu là các ô được ngăn bằng lưới thép, nền xi măng và có mái che. Tôi tới thăm một gia đình chuyên bán hoa quả. Chị chủ cho biết: “Khi nhập hàng về, bọn em thường phải loại bỏ các quả bị giập nát. Ngày trước thì vứt đi, nay em kết hợp nuôi nhím nên 5
  6. số hoa quả phế phẩm đó cho nhím ăn rất tốt. Chúng dễ nuôi, cái gì cũng ăn. Quên cho chúng ăn mấy ngày cũng không thấy chúng quấy phá”. Một trong những trại nhím có quy mô lớn có lẽ phải kể tới trại nuôi của gia đình ông bà Tuân - Hoà ở Củ Chi (Tp. Hồ Chí Minh). Họ đều là những cựu chiến binh và còn mang cả thương tích trong người. Hai ông bà rất mê nuôi nhím. Ở trong thành phố, vị trí quá chật chội, ông bà quyết định ra Củ Chi mua đất và lập trại nuôi nhím. Lúc đầu, trại chỉ nuôi hơn một chục con. Dần dần số nhím tăng lên. Tới nay, trại nhím của họ đã có hơn 200 con. Khi trại mới có 80 con, ông đã khoe với tôi: “... Trung bình mỗi tháng, tôi xuất được 4 đôi nhím. Mỗi đôi giá hai triệu rưỡi. Vị chi mỗi tháng tôi thu được 10 triệu...”. Nhưng nay, trại của ông đã có tới hơn 200 con và giá nhím đã lên tới 5-6 triệu/đôi. Vì vậy, số tiền ông thu được hàng tháng sẽ tới vài chục triệu. Đây đâu còn là một bài toán viển vông. Đó là sự thật, một sự thật đáng để chúng ta quan tâm. Rõ ràng, nghề nuôi nhím không những giúp cho bà con ta vượt qua đói nghèo mà còn có thể vươn lên giàu có. 6
  7. Hiện ở Củ Chi đã có hàng chục gia đình nuôi nhím. Việc nuôi nhím còn lan ra nhiều tỉnh thành khác. Từ một loài hoang dã, nhím đã dần dần trở thành vật nuôi trong gia đình. Chắc rằng, nuôi nhím sẽ là một nghề bền vững trong các hộ gia đình. Trại nuôi nhím của ông Phạm Ngọc Tuân ở Củ Chi - Tp. Hồ Chí Minh (người mặc áo xanh là tác giả Nguyễn Lân Hùng) Đối với những nhà ở vùng đồi, nuôi nhím càng dễ. Nhím ăn lá cây, rễ cây, các loại củ, quả, măng rừng, v.v... Vì vậy, ở miền núi mà không nghĩ đến việc nuôi nhím thì thật là uổng phí. Tất nhiên, nuôi con nào 7
  8. cũng vậy, ngoài các điều kiện thuận lợi ra, ta phải có quyết tâm và chăm chỉ thì mới thành công. Thế nhưng, dễ như nuôi nhím mà còn không làm được thì... ta cũng phải xem lại ta. Có khi các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói lại chính vì bà con mình chưa dám mạnh dạn đi vào những nghề mới. Nuôi nhím cần trở thành một nghề được đưa vào danh mục chăn nuôi của dân mình ở khắp mọi nơi. 2. GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA CON NHÍM Hiện nay, nhím được xếp vào số các loại thú quý hiếm. Nó hiếm vì bị săn bắt ráo riết. Thịt nhím được ưa chuộng và bán với giá rất cao. Thịt nó nạc, ngọt thịt và được chế biến thành nhiều món ăn hấp dẫn. Khách sành ăn rất thích thịt nhím. Ngoài ra, các bộ phận khác của nhím cũng được sử dụng vào nhiều việc. Người ta cho biết, mật nhím được dùng để chữa đau mắt và xoa bóp cho các vết thương. Nó cũng có thể dùng để chữa đau lưng. Thịt, ruột già, gan và cả phân của nhím cũng được sử dụng để chữa bệnh phong nhiệt. Đặc biệt, dạ dày của nhím lại là vị thuốc rất độc đáo để chữa cho chính dạ dày của người. Vì vậy, người ta săn bắt nhím nhiều cũng 8
  9. là bởi muốn lấy được cái dạ dày của chúng. Người Trung Quốc rất mê vị thuốc này. Nó có hiệu quả tốt. Không biết tới lúc nào mới đủ nhím cho những người đau dạ dày? (!). Theo GS.TS. Đỗ Tất Lợi, dạ dày của nhím có thể chữa được nhiều bệnh. Trong công trình “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” (tái bản lần thứ 10 - NXB Y học, Hà Nội - 2001) của ông, có nói tới việc sử dụng dạ dày nhím. Người ta gọi dạ dày nhím là thích vị bì. Ta không dùng cả cái dạ dày mà chỉ bóc lấy lớp màng bao phủ dạ dày. Sau đó, đem sấy khô để dùng dần. Khi dùng, sao chúng bằng cát nóng, màng sẽ nở phồng lên. Sắc thuốc hoặc tán thành bột để uống. Dạ dày nhím có vị đắng, ngọt, tính bình. Nó tác động vào kinh vị và đại tràng và có tác dụng lương huyết (mát máu), giải độc, giảm đau, trị lậu ra huyết. Có thể dùng nó để chữa những trường hợp trĩ lòi dom chảy máu, di mộng tinh, nôn mửa, lỵ ra máu. Người ta vẫn thường dùng với liều lượng từ 6-16g dưới dạng thuốc bột hay sắc uống. Một số đơn thuốc có sử dụng dạ dày nhím mà GS. Đỗ Tất Lợi đã nêu ra như sau: 1. Chữa lòi dom chảy máu 9
  10. Dạ dày nhím sao phồng (với hoạt thạch rồi bỏ hoạt thạch). Dùng 10g hoa hoè sắc kỹ với 100ml nước. Sau đó, dùng 3-6g dạ dày nhím đã sao và tán thành bột hoà với nước hoa hoè đã sắc, chia làm 3 lần uống trong ngày. 2. Chữa thuỷ thũng, cổ trướng, hoàng đan Đốt tồn tính dạ dày nhím và tán mịn. Mỗi lần lấy 8g hoà với rượu và uống, bệnh sẽ thuyên giảm. Theo cuốn “Những động vật cho vị thuốc quý chữa bệnh” thì tác giả Nguyễn Hữu Đảng còn liệt kê một loạt bài thuốc có dùng đến nhím, gồm: 1. Thuốc chữa đau dạ dày a) Dạ dày nhím: 1 cái Dùng than củi sấy khô dạ dày nhím, sau đó rang cùng với cát tới khi từ vàng ngả sang màu đen là được. Đem tán bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 8g với nước nghệ loãng. Sau khi uống hết 1 đợt thuốc, cần nghỉ 2-3 ngày. Sau đó lại uống tiếp. b) - Dạ dày nhím 12g - Củ mài 30g 10
  11. - Đường trắng 30g Dạ dày nhím sấy khô vàng, cùng các vị thuốc tán bột mịn, mỗi lần uống 3g với nước sôi để nguội, ngày 2 lần sáng, tối. c) - Da nhím 30g - Tổ ong mật 15g Da nhím và tổ ong mật đều được sấy khô, tán bột, mỗi lần uống 3g với nước ấm, ngày uống 3 lần. 2. Thuốc chữa cấm khẩu - Lông nhím 30g - Quả bồ kết 30g - Giun đất 40g. Cho các vị thuốc vào nồi đất bịt kín và đốt bên ngoài. Khi các vị thuốc cháy hết thành than, tán bột cho uống, trẻ em mỗi lần dùng 4g, người lớn mỗi lần dùng 8g. Uống với nước nguội, ngày 2-3 lần. 3. Thuốc chữa liệt dương a) - Da nhím 80g - Tôm 100g 11
  12. Cả 2 sao vàng tán bột, ngày uống 2 lần, mỗi lần 6g với nước sôi có pha 50% rượu. b) - Da nhím 40g - Hạt hẹ 30g - Múi sầu riêng 100g Da nhím sao cát cho vàng, các vị thuốc còn lại sấy cho khô, tất cả tán bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 6g với nước sôi có pha 50% rượu vang. Cần uống liên tục 1 tháng, trong thời gian uống thuốc không gần phụ nữ. c) - Da nhím 30g - Nhộng tằm 100g - Tổ bọ ngựa ở cây dâu (tang phiêu tiêu) Các vị làm và uống theo hướng dẫn trên. 4. Thuốc chữa di tinh a) - Da nhím 20g - Ngó sen 100g - Lá đậu ván 150g Da nhím sao cát cho vàng, các vị thuốc khác sấy khô, tán bột mịn. Ngày uống 1 lần trước khi đi ngủ, lượng thuốc 10g với 30ml rượu vang hâm nóng b) - Da nhím 50g 12
  13. - Hạt sen 100g - Cam thảo 30g - Hoa mướp 50g Cách làm và uống như bài trên. c) - Da nhím 60g - Dây tơ hồng 60g (có thể dùng hạt) - Ngũ vị tử 30g - Phá cố chỉ 30g Các vị thuốc được bào chế và tán bột như bài trên. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 5g thuốc với 30ml rượu vang hâm nóng. 5. Thuốc chữa viêm tuyến tiền liệt - Da nhím 35g - Bột hoạt thạch 300g Da nhím tươi làm sạch cắt thành miếng dài 5cm rộng 3cm, cho vào bột hoạt thạch sao nhỏ lửa, khi da nhím khô vàng là được. Lấy da nhím tán bột. Ngày uống 2 lần sáng tối, mỗi lần 6g thuốc với nước cơm. 6. Thuốc thông sữa a) - Da nhím 25g 13
  14. - Da lợn 50g Cả 2 sao cát cho khô, tán bột, uống mỗi lần 10g với 10ml rượu vang hâm nóng, ngày 2 lần. b) - Thịt nhím 50g - Móng lợn 1 đôi (300g) - Vẩy tê tê 3 cái. Thịt nhím sao cát cho khô vàng, tán bột. Vẩy tê tê nướng trên than củi cho phồng đều, tán bột. Hai bột thuốc này trộn đều. Móng lợn lấy từ khuỷu đến bàn chân, làm sạch, chặt miếng đem ninh nhừ, trước khi ăn cho bột thuốc quấy đều, chia làm 2 lần ăn trong ngày. 7. Thuốc chữa chảy máu đường tiêu hoá a) - Da nhím 30g - Trắc bách diệp 60g - Ngó sen 240g Da nhím sao cát cho cháy đen; ngó sen, trắc bách diệp sao cháy. Tất cả tán bột mịn, mỗi lần uống 10g, ngày uống 3 lần với nước sôi để ấm,. b) - Da nhím 60g 14
  15. - Hà thủ ô 120g Da nhím sao như bài trên; hà thủ ô chia 2 phần, 1 phần sao cháy, 1 phần sấy khô. Tất cả tán bột mịn, uống như bài trên. c) - Da nhím 50g - Dây mướp 120g Da nhím làm như bài trên, dây mướp sấy khô, tán bột, trộn đều cả 2 thứ, uống như bài trên. 8. Thuốc chữa cam tích a) - Thịt nhím 100g - Củ mài 25g - Hạt sen 50g - Phục linh 20g - Củ súng 30g Thịt nhím sấy khô, cùng các vị thuốc tán bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 10g thuốc với nước sôi để ấm. b) - Thịt nhím 150g - Vỏ quả bưởi 100g Thịt nhím sấy khô, vỏ quả bưởi phơi khô, nướng đen, tất cả tán bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 6g với nước sôi để ấm. 15
  16. 9. Thuốc chữa bỏng a) - Lông nhím 50g - Nghệ vàng 50g Lông nhím đốt thành than, nghệ sấy khô, cả 2 tán bột mịn cho vào 50ml dầu vừng, trộn đều bôi chỗ đau. 10. Thuốc chữa sa tử cung - Đường quy 25g - Vỏ hàu 45g - Xích thược 15g - Hoàng cầm 30g - Da nhím 30g Vỏ hàu nung thành vôi, da nhím sao cát cho vàng cùng các vị thuốc tán bột mịn, ngày uống 3 lần, mỗi lần 6g với nước sôi để ấm, trước khi ăn. Kiêng các chất nóng, cay, chua và không sinh hoạt tình dục 150 ngày, trong và sau thời kỳ uống thuốc. Hiện nay, ta chỉ đôi khi gặp được những chú nhím nhỏ trong rừng. Chúng chỉ nặng 4 - 5kg. Những con to (10 - 15kg) thường đã bị người ta săn bắt hết. Lượng nhím càng ít đi thì giá nhím lại càng cao. Mặt khác, 16
  17. mức sống của dân ta, đặc biệt là người ở thành phố, ngày một nâng cao. Họ bắt đầu thích ăn của lạ, của ngon. Nhím được xếp vào hàng đặc sản hấp dẫn. Nhím ở rừng hay nhím nuôi ở nhà, đều được đánh giá như nhau. Bà con mình cần nắm được nguyện vọng đó của khách sành ăn. Họ thích ăn thứ gì thì ta sản xuất thứ ấy. Thế mới gọi là "kinh tế thị trường". Nhà nước đã cho phép chuyển đổi cơ cấu sản xuất thì ta phải mạnh dạn lên. Nuôi nhím chắc chắn đạt hiệu quả kinh tế cao. Nếu nhìn xa hơn, ta phải nghĩ tới thị trường Trung Quốc. Làm sao mà đủ nhím cung cấp cho người Trung Quốc được! Mức sống của nhân dân Trung Quốc lên rất nhanh. Họ rất thích các mặt hàng đặc sản của ta. Họ lại có tới 1,3 tỷ dân. Vì vậy, nuôi đặc sản là một hướng đi đầy triển vọng mà bà con ta nên nhanh chóng bắt tay vào. 17
  18. 3. CÁC ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA NHÍM a) Phân loại, phân bố và đặc điểm ngoại hình: Nhím đã xuất hiện cách đây 15 triệu năm và phân bố ở nhiều nơi trên thế giới. Ở Việt Nam, theo sách "Danh mục thú quý hiếm ở Việt Nam" thì ta có 3 loài nhím: nhím đuôi ngắn, nhím Klos và nhím bờm. Tuy nhiên, theo các chuyên gia động vật học, nhóm nhím chủ yếu ở Việt Nam là nhím bờm (Acanthion subcristatum). Người Thái gọi chúng là tô mển; người Dao gọi là điền dạy. Đặc điểm dễ nhận nhất là trên 18
  19. gáy của chúng có một đám lông mọc dài hơn và dựng lên như một cái bờm. Ngoài ra, người ta cho biết, trên thế giới còn 2 nhóm nhím khác nữa là nhím Nam Phi và nhím Bắc Mỹ. Nhím bờm của Việt Nam phân bố khá rộng, từ các tỉnh phía Bắc và vào tới tỉnh Khánh Hoà. Tuy nhiên, cũng có thể bắt gặp nhím ở Đắc Nông, Đắc Lắc, Đồng Nai. Như vậy có thể coi như nhím đã có mặt ở hầu khắp các tỉnh có đồi gò, núi non ở nước ta. Trong bộ Gặm nhấm, nhím bờm là loài to nhất. Nó nặng trung bình từ l5 - 20kg. Thậm chí có con nặng tới 26kg (ngang với 1 con chó béc - giê), chiều dài cơ thể từ đầu cho tới mút đuôi dài tới gần 1 mét. Mình nó tròn, đầu to, mõm ngắn và đi lại lặc lè, nặng nề. Tuy nhiên, khi có động, nó chạy rất nhanh. Giống với nhiều loài gặm nhấm khác, chúng có 4 chiếc răng cửa mọc nhô ra vừa dẹt, vừa sắc. Các răng này có thể giúp nhím gặm được cả xương động vật, 19
  20. cắn nát hạt các quả nang (như mơ, mai, mận), cắn nát cả các thân cây... Mắt nhím như mắt chuột và tai của chúng thì lại nhỏ xíu. Nhím có 2 đôi chân. Chân chúng ngắn, 2 chân sau ngắn hơn 2 chân trước. Bộ móng chân rất sắc và cứng, mọc dài ra và trở thành công cụ đào bới của nhím. Điểm đặc sắc nhất của nhím là bộ lông. Khi mới sinh ra, các lông của nhím trông như những sợi tơ bao lấy cơ thể còn mọng nước của chúng. Sau đó nước mất dần, da khô lại và các sợi lông dựng đứng lên. Dần dần, các sợi lông đó cứ dài ra và cứng hơn. Tới lúc, các lông đó sẽ biến thành những cái gai khổng lồ vừa cứng, vừa sắc nhọn. Có cái lông gai dài tới 30cm. Các lông ở phía sau thường dài hơn. Ở phần bụng, lông biến thành các sợi cứng, ngắn hơn và có màu đen. Phía sau gáy nhím là một dải lông trắng thường dựng ngược lên như một cái bờm khiến chúng trở nên hung dữ. Còn ở phần đuôi, có những cái lông lại phình to phần đầu mút như một cái cốc. Khi gặp kẻ thù hoặc muốn hăm doạ con khác, nhím sẽ rung đuôi. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản