Ebook Lịch sử 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới: Phần 1 - PGS.TS. Cao Văn Liên

Chia sẻ: Na Na | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:513

1
235
lượt xem
160
download

Ebook Lịch sử 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới: Phần 1 - PGS.TS. Cao Văn Liên

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cuốn sách "Lịch sử 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới" tập hợp những tư liệu lịch sử quý giá trình bày một cách ngắn gọn, súc tích những nét cơ bản về lịch sử hình thành và phát triển cùng những nét văn hóa, phong tục tập quán đặc sắc của 200 quốc gia trên thế giới. Phần 1 của cuốn sách trình bày tổng quan về lịch sử thế giới, lịch sử của 48 quốc gia và cùng lãnh thổ châu Á, lịch sử 45 quốc gia châu Âu. Mời bạn đọc tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ebook Lịch sử 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới: Phần 1 - PGS.TS. Cao Văn Liên

  1. PGS, TS. CAO VÄN LIÊN LỊCH SỬ 2ỎO QUỐC GIA VÀ VỦNG LÃNH THỔ TRÊN THẾ GIỚI NHÀ XUẤT BẲN CHÍNH TRỊ Qưốc GIA Hà Nội - 2010
  2. LỜI NHÀ XƠẪT BẢN Btfêcvào thế kỷ XXI, lịch sử từng quốc gia, dân tộc đã và danf keàchung với dòng chảy của lịch sử nhân loại. Các quốc gia, din tộc dù lớn hay nhỏ là một bộ phận không thể tách rời lịch aầ t«ần thế giới. Cho nên lịch sử thế giới không chỉ là lịch sử củ» cá' nưdc lốn, các dân tộc lớn, các cưòng quốc mà còn là lịch sà của các quốc gia, dân tộc nhò khắp các châu lục, khắp các đảo, tuần đảo trên các đại dương. Ngày nay, toàn cầu hoá đẵ và đmg đòi hỏi 8ự hiểu biết toàn diện để tiếp xúc, hội nhẠp, dtphương hoá, đa dạng hoá với tất cả các quốc gia trên thế gỉới. Để giíp bạn đọc hiểu biết rõ hơn về lịch sử hình thành và ph&t triểi của các quốc gia đồng thòi kỷ niệm 65 năm ngày thành lậ| tô’ chức Liên hợp quốc (24-10-1945- 24-10-2010)- Tổ chức đoài kết hợp tốc hữu nghị của tất cả các quốc gia trên th í gH 'ì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xả H hộỉ« Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách LỊtầ ễềìo o quốc gia và vùng ỉănh thổ trên th ế giới của PG8, TB,Cao Vàn Liên. Cuốn sách tập hợp những tư liệu lịch sử quỷ gá trình bày một cách ngấn gọn, 8ÚC tích nhũng nét cơ bàn vi lịch sử hình thành và phát triển cùng những nét văn boé, phong tục tập quán đặc sắc của 200 quốc gia trên thế gỉdi. 5
  3. Cuốn sách sẽ cung cấp cho bạn đọc nhiều kiến thức bổ ícl đồng thời là tài liệu tham khảo có giá trị đối với các chuyêi gia, các nhà khoa học nghiên cứu về lịch sử thế giới. Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc. Tháng 10 năm 2010 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA 6
  4. TỔNG QUAN LỊCH sử THẾ GIỚI 7
  5. LỊCH SỞ VÀ KHOA HỌC LỊCH SỞ Lịch sử là những sự kiện xảy ra trong quá khứ. Quá khứ có thể cách ngày nay hàng triệu năm khi loài người bắt đầu xuất hiện trên trái đất, cũng có thể mới là ngày hôm qua. Những 8ự kiện lịch sử bao gồm hầu hết cốc lĩnh vực trong đời sống xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoố, nghệ thuật khoa học, quân sự. Những sự kiện trong các lĩnh vực đó đã bị phủ bụi thời gian,
  6. nghiệm lịch sử vẻ vang hay thất bại, dù là vinh quang hay bi thảm, tất cả đểu có bài học cho người đòi sau học tập suy ngẫm áp dụng. Khoa học lịch sử không chỉ nhằm thỏa mãn khát vọng hiểu biết sự thật của con ngưòi mà còn cung cấp những bài học kinh nghiệm có tính chất định hưống soi đường cho thế hệ sau hành động đúng đắn để thành công trong cuộc đấu tranh phục vụ cho chính nghĩa, cho giai cấp, cho dân tộc, xây dựng xã hội hiện tại và tương lai tốt đẹp hơn. Lịch sử cũng răn dạy, cảnh báo cho các triều đại, các chính phủ, các lực lượng chính trị không được hành động chủ quan để thoả mãn khát vọng cá nhân, sử dụng vô nguyên tắc quyển lực mà đi trái quy luật. Lịch sử có những bước đi và cách đi của nó. Đúng quy luật thì thành công, chiến thắng, trái quy luật thì thất bại, sụp đổ. Các Mác đã nói: Lịch sử là triết học cụ thể. Nó cũng như triết học, vấn đề không chỉ là giải thích thế giới mà còn phải cải tạo thế giới. Các Mác cũng nhấn mạnh sức mạnh của quy luật lịch sử, sẽ giải quyết được tất cả những vấn đề cấp thiết mà thời đại đang đặt ra. Lịch sử là một bộ môn khoa học xã hội, nó mang tính giai cấp một cách đậm nét và sâu sắc, nghĩa là các giai cấp và các dân tộc đểu sử dụng sử học như một công cụ phục vụ cho quyền lợi của giai cấp, của dân tộc mình trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc. Từ khi xã hội loài người phân chia thành giai cấp, tất cả các giai cấp cầm quyền từ chủ nô, phong kiến đến tư sản đều sử dụng sử học để phục vụ cho giai cấp, cho nhà nước của mình. Tất cả những quan điểm của các giai cấp, các tầng lốp đểu thể hiện đậm nét khi nhận định, đánh giá các sự kiện lịch sử. 10
  7. I Những sự kiện lịch sử là khách quan nhưng đánh giá của các học giả đại diện cho các giai cấp, tầng lớp là chủ quan, lại có thể bóp méo, xuyên tạc sự thật lịch sử cho phù hợp vói quan điểm, phục vụ cho mục đích chính trị của họ. Cho nên, trong khoa học lịch sử, tính khoa học (khách quan) đôi khi không đồng nhất với tính giai cấp (chủ quan). Điểu đó làm cho chúng ta nhận biết sự thật lịch sử một cách hết sức khó khăn, phiến diện. Những mưu đồ của các thế lực chính trị chỉ có thể tạm thời, còn không bao giò có thể che dấu được sự thật lịch sử. Thòi gian sẽ bộc lộ bản chất sự kiện. Sự thật sống mãi với thời gian, đó là chân lý vĩnh hằng như một bàn tay không che nổi ánh sáng mặt trời. Chỉ có các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin mdi khẳng định tính khoa học và tính giai cấp trong khoa học lịch sử là đồng nhất với nhau. Vì nghiên cứu các sự kiện trong tất cả các lĩnh vực của đòi sống xã hội nên sử học có liên quan đến tất cả các khoa học xã hội như khảo cổ học, dân tộc học, bảo tàng, thư tịch học, ngôn ngữ học, V.V.. Sự PHÂN KỲ LỊCH s ử • é Theo quan điểm mácxít lịch sử xã hội loài người trải qua 5 thời kỳ lớn: 1. Thời kỳ tiền sử Là thời kỳ xã hội cộng sản nguyên thuỷ kéo dài hàng triệu năm, là thời kỳ dài nhất trong lịch sử xã hội loài người. Đây là thòi kỳ mà tất cả các dân tộc đều phải trải 11
  8. qua, đặt nền tảng cho tính cách và truyền thống của từng dân tộc, là thòi “thơ ấu” của từng tộc người, từng dân tộc. Cách ngày nay khoảng ba đến bốn triệu năm. một loài vượn đặc biệt đã chuyển biến thành người. Đây là một quá trình lâu dài và trải qua nhiều giai đoạn. Đầu tiên từ loài vượn đặc biệt chuyển biến thành Vượn - Người, yếu tố vượn còn nhiều hơn. Từ Vượn * Người tiến hoá thành Người - Vượn, yếu tố người đã nhiểu hơn. Từ Người vượn tiến lên thành Người tinh khôn và cuốỉ cùng từ Người tinh khôn tiến lên thành Người hiện đại Hômôsapiên. Với Người Hômồ8apiên, quá trình vượn chuyển biến thành người đã hoàn thành. Người Hômôsapiên trở thành ông tổ của bốn chủng tộc lổn trên thế giới ngày nay đó là: chủng tộc Môngôlôít (ỏ châu Á, da vàng, tóc đen, mắt đen), chủng tộc ơrôpôít (ỏ châu Âu, da trắng, mắt, xanh tóc vàng hoặc bạch kim), chủng tộc Nêgrôít ở chầu Phi (da đen, tóc đen xoăn) và chủng tộc Ôxtralôít ở châu Đại Dương (da hơi xám, tóc đen, mắt đen). Từ đại chủng người ta lại chia loài người thành tiểu chủng và loại hình nhân chủng là những cộng đồng người có đặc điểm bên ngoài giống nhau hơn nữa. Cộng dồng đầu tiên của xã hội loài ngưòi là các bầy người, một bầy Đgười khoảng từ 10 đến vài chục ngưòi. Giữa các bầy người không có mốì quan hệ với nhau, đời sống hết sức thấp kém. Bầy chưa phải là xã hội loài người theo đúng nghĩa của nó, mới chỉ là giai đoạn manh nha những nhân tố của xã hội loài ngưòi. ò bầy người chưa có văn hoố, phong tục tập quán và tôn giáo. Hôn nhân được tiến hành trong bầy với nhau (tạp hôn). Công cụ chủ yếu thời kỳ này lá đồ đá nhưng chưa được chê tác (đá cũ). 12
  9. Trải qua hàng triệu năm phát triển, người nguyên thuỷ tiến lên một cộng đồng mới cao hôn là cộng đồng thị tộc. Cộng đồng là thị tộc người cố kết với nhau trên cơ B Ở cùng chung huyết thống, máu mủ ruột rà, là hạt nhân để sau này hình thành họ tộc. Vối thị tộc, xã hội loài ngưòi thực sự bắt đầu. Thị tộc đầu tiên là thị tộc mâu quyển, cồn gọi là thị tộc mẫu hệ. Trong thị tộc mẫu quyền người pỉiụ nữ nắm vai trò điều hành thị tộc. Hôn nhân thòi kỳ Bày bắt buộc phải ngoại tộc hôn, nên con chỉ biết có mẹ và theo dòng họ mẹ. Thồi kỳ này ngưòi nguyên thuỷ vẫn sồ dụng công cụ đá đã được chế tác nhưng chưa tinh xảo ỉím nên gọi là thòi đại đổ đá giữa. Trong giai đoạn thị tộc mẩu quyền dã xuất hiện văn hoá, tôn giáo, phong tục tập quán, có một nền dân chủ công bằng mang tính chất nguyên thuỷ. Giữa các thị tệc đả mỏ rộng liên kết địa bàn kiếm ăn, hôn nhân với nhau, giúp đỡ nhau, do đó hình tkành cộng đồng bộ lạc. Bộ ỉạc là sự ỉiên kết hai hay aỉaáều thị tộc vối nhau. Đứng đầu bộ lạc ỉà tù trưởng do các thành viên bộ lạc bầu lên một cách dân chủ, công khai Thị tậe mẫu quyền ỉà đỉnh cao nhất của xã hội nguyên thuỷ, trong đó không có tư hữu về tư Hậu sản xuất, không eó fiai cấp nhà nước, pháp ỉuật, không có chiến tranh. Cấc cuộc xung dột bộ lạc không phải là chiến tranh vì không nètằm mục đích chính trị mà chỉ vì lý do trả thù cho tààtth viên của mình bị hại mà thôi. Kết thúc thòi kỷ thị tộc mẫu quyền, xả hội nguyên íhuỷ bước sang thời kỷ thị tộc phụ quyển. Nguyên nhân sự thay đổi này là do sự phát triển của công cụ sản xuất, nguyên thuỷ trong khi lao động sản xuất không 13
  10. ngừng có tham vọng nâng cao năng suất lao động. Để đạt được mục đích này họ đã luôn luôn tìm cách cải tiến, đổi mối công cụ sản xuất. Họ đã phát minh ra cung tên. Sự kiện này được Ph.Ảngghen đánh giá có tầm quan trọng như phát minh ra súng thời kỳ cận đại. Người nguyên thuỷ đã sử dụng công cụ đồ đá mới, đồ đá được chế tác đẹp đẽ đúng với hình dáng, chức năng của công cụ, sử dụng có hiệu quả hơn. Kim loại đồng, sắt được người nguyên thuỷ tìm thấy khoảng 400 năm trước công nguyên. Công cụ sản xuất thay đổi làm xuất hiện nhiều ngành nghể mới như săn bắn. chăn nuôi, trồng trọt, đánh cá. Thủ công nghiệp ra đời sản xuất vải vóc, đồ gốm, công cụ sản xuất, VÜ khí, đồ trang sức, V.V.. Tất cả những ngành nghề mới đó đòi hỏi người đàn ông phải đóng vai trò chính trong sản xuất, phân công lao động. Trong xã hội phụ quyển xuất hiện những gia đình lớn nhiều vợ, nhiều chồng chung sống với nhau, con sinh ra phải mang dòng họ cha. Trong thị tộc phụ hệ, quyền uy gia trưởng của người đàn ông được xác lập. Ngoài cộng đồng thị tộc và bộ lạc, xã hội bấy giò có thêm cộng đồng Liên minh bộ lạc, kết quả hợp nhất giữa hai hay nhiểu bộ lạc với nhau. Đứng đầu Liên minh bộ lạc là Hội đồng Liên minh bộ lạc mà thành viên là các tù trưởng bộ lạc. Tôn giáo, văn hoá, phong tục tập quán phát triển cao hdn một bước so vdi thòi kỳ mẫu quyền. Song, xã hội vẫn chưa có chế độ tư hữu, giai cấp và nhà nước vầ pháp luật. Tuy nhiên, thời kỳ thị tộc phụ quyển xã hội nguyên thuỷ bước sang giai đoạn tan rã. Với công cụ đá mới tinh xảo và công cụ kim loại đã nâng cao năng suất lao động làm ra sản phẩm dư thừa, điều này dẫn đến 8ự 14
  11. phá võ tính cố kết của cộng đồng thị tộc vốn dĩ dựa trên cơ sở nông suất lao động thấp. Ngày xưa, khi đời sống thấp kém npiời ta phải cố kết với nhau để tồn tại, đến khi năng suốt lso động cao thì chỉ cần gia đình một vợ một chồng cũng tio được của cải dư thừa. Vậy là xã hội xuất hiện gia đình irột vỢ một chồng và kết quả của sự chuyển biến này đã ra ỉòi chế độ tư hữu vì các gia đình một vỢ một chồng chiếm đoạt ruộng đất, của cải của công xã làm của riêng đã đưe xã hội đến sự phân hoá giàu nghèo và xuất hiện giai câp. Đại đa sô" nông dân công xã chiếm được ít ruộng đất tr¿ thành dân nghèo. Các “quan chức” nguyên thuỷ như tộc trưởng, tù trưởng, thủ lĩnh liên minh bộ lạc, thủ lĩnh qiân sự do có quyển thế nên chiếm đoạt được nhiều ruộng đất trở nên giàu có. Sự giàu có càng được tăng cưòng khi họ tiến hành chiến tranh vối các bộ lạc khác cưóp (bạt của cải đất đai của các bộ lạc bại trận, biến cư dân cía bộ lạc bại trận thành giai cấp nô lệ. Công xã nguyêi thuỷ tan rã và loài người bước vào xã hội có chế độ tư hữv, có giai cấp và nhà nước. Loài ngưòi chấm dứt xã hội dã man theo cách nói của Ph.Ảngghen để bước sang xã hội vài minh. Trong xã hội có giai cấp, xuất hiện mâu thuẫn giai cấp, dẫn tới xung đột giai cấp và đấu tranh giai cấp. Đấu tranh của giai cấp nghèo chống lại giai cấp giàu có, điều này đã đe doạ đến quyển lợi của giai cấp chủ nô. Để đấ phó lại, chủ nô đã phát minh ra một công cụ “huyểi diệu” giúp chúng dù là thiểu số trong xã hội vẫn có thể thing trị, đàn áp, bóc lột được đại đa sô' dân cư. Công cụ đó ỉhính là bộ máy nhà nưốc. Vậy nhà nước là công cụ của gái cấp này để thống trị, áp bức giai cấp khác, cho 15
  12. nên nhà nước mang bản chất giai cấp, phục vụ cho một giai cấp nhất định. Trong xã hội có áp bức, bóc lột không thể có nhà nước toàn dân. Nhưng trong khi phục vụ cho giai cấp mình, nhà nước buộc phải phục vụ toàn xã hội như tổ chức phát triển kinh tế, văn hoá, Xây dựng các công trình công cộng, ban hành pháp luật để bảo đảm an ninh cho toàn xã hội, do đó nhà nước còn mang tính chất xã hội. Nhà nưdc bao giò cũng có hai đặc trưng cơ bản, thứ nhất là hình thành nhũng cd quan quyền lực công cộng baọ gổm bộ máy quan liêu hành chính, trí thức tăng lữ và cơ quan sức mạnh. Đặc trưng thứ hai là nhà nước cai trị lãnh thổ theo khu vực hành .chính. Trong thời kỳ cận hiện đại, ngoài cấu trúc lãnh thổ đơn nhất còn có thêm cấu trúc lãnh thổ liên bang. Nhà nước bao giờ cũng có hai chức năng đối nội và đối ngoại. Khi mà xã hội cộng sản nguyên thuỷ kết thúc thì xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử loài người ỉà xã hội chiếin hữu nô lệ. 2. Xã hội chiếm hữu nô lệ Xã hội chiếm hữu nô lệ xuất hiện ở phương Đông sớm nhất, khoảng 3000 nám trước công nguyên ồ các nước Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Quốc và nhiều quốc gia khác, ở châu Ẩu xã hội này xuất hiện muộn hơn. Xã hội chiếm hữu nô ỉệ Hy Lạp ra đời khoảng thê kỷ thú VIII trước công nguyên, ở La Má vào thế kỷ thứ VI trước công nguyên và kết thúc vào thế kỷ thứ V sau công nguyên khi đế quốc Tây La Mả sụp để. Xã hội chiếm hữu nô ỉệ chia thành ba giai cấp chính: Thứ nhất, giai cấp chủ nô quý tộc ỉà giai cấp thống trị áp bức bóc lột vì chúng chiếm 16
  13. gij® điợc tư liệu sản xuất. Thứ hai, giai cấp nông dân công >ã nông thôn và tầng lớp thị dân thành thị, ở Hy Lạp, la Mã tầng lốp này được gọi là bình dân. Nông dân và, thị dân có tài sản, có gia đình riêng nhưng bị nhà nước (hủ nô bóc lột, khi phá sản có thể rơi xuống địa vị nô, Jệ. Thứ ba, giai cấp nô lệ, nguồn chủ yếu từ các bộ lạc bại trin trong chiến tranh, không cùng huyết thống với giai áp chủ nô, bị kẻ chiến thắng tước đoạt tài sản, ruệngđất, còn bản thân bị biến thành Ĩ1Ô lệ. Theo pháp luật cia nhà nước chủ nô, nô lệ không phải là con người, chỉ là tài sản đặc biệt của chủ nô, tài sản biết nói. Chủ nô cổ thể giết, đánh đập đến tàn phê hoặc đem nô lệ ra chợ mua tán, đổi chác. Một cuốn sách cổ của Trung Quốc có ghi rằig, một nô lệ khoẻ mạnh đổi được hai con ngựa tốt. Nô lệ bị cưõng bức lao động khổ sai nặng nhọc không kể giô giíc, họ không được hưởng phần nào kết quả lao động của ninh. Njoài phân chia xã hội thành giai cấp, kẻ thống trị cốn plân chia xá hội thành các đẳng cấp. Giai cấp chủ nô thuộc đẳng cấp quý tộc cao quý, nông dân thị dân thuộc đầttg tấp dưới, nô lệ chỉ ỉà tài sản của chủ nô nên không kbôngđược xếp vào đẳng cấp nào. ở xã hội chiếm hữu nô lệ, kỉói niệm nhân dân không có nô ỉệ. Sự phân chia xã hệể tỉồnh đẳng cấp nặng nề nhất là Ân Độ. Sự phân chia xă ‘hội thành đảng cấp theo giải thích của giai cấp thống trị thì đó là theo ý muốn của thần thánh vĩnh viễn không th$ tỉay đổi được. Thực ra đẳng cấp được phân chia để nhằm củng cố hơn nữa địa vị của giai cấp thống trị, nó cững ỉắt nguồn như nguồn gốc giai cấp. 17
  14. Trong xã hội nô lệ, khi cộng đồng thị tộc dựa trên quan hệ huyết thống tan rã thì ở Hy Lạp, La Mã hình thành cộng đồng bộ tộc, vì nhà nước cai trị dân cư theo khu vực hành chính và thêm nhiểu yếu tố khác làm xáo trộn dân cư . Bộ tộc là cộng đồng người có sự thống nhất ban đầu vể kinh tế, văn hoá và lãnh thổ, một cộng đồng cao hơn cộng đồng thị tộc. Nhưng ỏ châu Á, khi công xã nguyên thuỷ tan rã, hình thành nhà nước đầu tiên thì dân tộc quốc gia cũng ra đời. Trong nhiểu tác phẩm kinh điển của mình, chính C.Mác và Ph.Ảngghen ngoài luận chứng về một dán tộc quốc gia tư sản ỏ châu Âu thì các ông cũng cho rằng, có một dân tộc tiển tư bản và thời điểm ra đời dân tộc này khi mà nhà nước đầu tiên ra đòi, khi mà công xã nguyên thuỷ tan rã. Đặc trưng chung của nhà nưốc là cai trị dân cư theo khu vực hành chính và hành thành nên bộ máy quyển lực công cộng, có hai chức năng chính là đốỉ nội và đối ngoại. Nhưng do hoàn cảnh lịch sử ra đời khác nhau mà hình thức nhà nước châu Á và Hy Lạp - La Mã khác nhau, ở các nưốc phương Đông, thiết chế chính trị của nhà nưổc chiếm hữu nô lệ là quân chủ chuyên chế tập quyền, trong khi đó Hy Lạp lại thiết lập nhà nưốc Cộng hoà dân chủ chủ nô, ỏ La Mả là nhà nước Cộng hoà quý tộc chủ nô. Trong thiết chế quản chủ chuyên chế tập quyển chỉ có nhà vua nắm quyền lực, ngai vàng là do kế vị và nắm quyền lực suốt đòi. Trong thiết chế cộng hoà, quyền lực trong tay một tập thể, do một tập thể rộng lớn hơn bầu ra và nắm quyển có nhiệm kỳ. Đó ỉà sự khác nhau căn bản giữa thiết chế cộng hoà và quân 18
  15. chủ. Dù thiết chê chính trị có khác nhau nhưng nhà nước nào cũng phải đầy đủ ba bộ phận cơ bản: bộ máy hành chính quan liêu đông đúc; đội ngũ trí thức, tăng lữ; những cơ quan sức mạnh gồm quân đội cảnh sát... Nhà nước chủ nô đã đóng vai trò đắc lực phục vụ giai cấp và phục vụ xã hội. Vì thế, trong xã hội chiếm hữu nô lệ lực lượng sản xuất phát triển, văn hoá vật chất và phi vật chất đạt được nhiều thành tựu rực rõ. Các quốc gia cổ đại Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Quốc, Hy Lạp. La Mã trỏ thành những trung tâm của nền văn minh thê giới cổ đại, những nền văn minh này đã đặt nền tảng cho nền ván hoá về sau của các dân tộc này và ảnh hưỏng lón đến các dân tộc khác. Khi xã hội có giai cấp và nhà nưốc thì chiến tranh bây giò mới đúng nghĩa là biện pháp vũ lực phục vụ cho công cuộc bành trướng quyển lực, mỏ rộng lãnh thổ, tức là chiến tranh đã phục vụ cho mục đích chính trị. Giai cấp thống trị chủ nô tham lam không chỉ bóc lột cư dân trong lãnh thổ của mình mà còn tiến hành các cuộc chiến tranh cướp đoạt đất đai xây dựng nên những đế quốc rộng lớn, thống trị, bóc lột các dân tộc khác. Đó là những cuộc chiến tranh của các Pharaông Ai Cập xâm chiếm Cận Đông, Bắc Phi, chiến tranh của vương quốc Babiỉon chinh phục Lưỡng Hà, chiến tranh; của đế quốc Ba Tư chinh phục Tiểu Á, Cận Đông; của đế quốc Maxêđônia xâm lược khu vực Địa Trung Hải và phương Đông; của Nhà nước La Mã để xây dựng nên một đế quốc rộng lón từ Tây Âu đến Bắc Phi. Xu hướng phân liệt và thống nhất trong một quốc gia củng 19
  16. dẫn tới nhũng cuộc chiến tranh tương tàn trong nội bộ. Nội chiến trong quốc gia cổ Ạn Độ giữa các tiểu vương quốc trong nhiều giai đoạn lịch sử, cục diện Xuân thu Chiến quốc ò Trung Quốc suốt gần 500 tròi để tranh giành quyền bá chủ gây nên Bối xương sông máu, nội chiến ồ Hy Lạp cổ đại giữa các thành bang đo Alten đứng đầụ vdi các thành bang do Xpác đúng đầu để tranh giành quyền lợi chính trị và kinh tế ở bán đảo. Các cuộc nội chiến đó có thể đưa đất nước tới thống nhất nhưng cũng có thể làm cho quốc gia suy yếu tạo điều kiện cho các thế lực bên ngoài nhòm ngó xâm lược. Mâu thuầB cơ bản trong xã hội chiếm hữu nô lệ là mâu thuẫn giữa chủ nô và nô ỉệ dẫn tới cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt, nô ỉệ khỏi nghĩa chống lại nhà nước và giại cấp» chủ nô. Khởi ngkĩa của Xpáctacút lãnh đạo vào thế kỷ thớ I trưổc công nguyên đế làm rung chuyển đế quốc La Mả, đẩy chế đậ đố tổi ebỗ không thể cai trị «h,ư cũ đượq uab của nô lệ chỐiagLclá* n& là, m ệt trottg nhữag đỘBg lực góp phầa giải ttbể chê độ đó để bước sang một, hìah tfeái fejök tế XÃ haội B9Ớ cm> bctet - binh tkái 1 kinh tế xã hộiphoag kiếfb HầBỈií t&áể kinà tế xã hội ciúếi® hữu RÔ ỉậ kkốag pbải t á i bk»ộ©
  17. «. Thời kỳ tn iag đại: xả hội phong kiến (496-1640) Chê độ phong kiến có nghĩa là một chế độ được hình thành nên bởi sự phân phóng ruộng đất. Quá trình phong kièn hoá diễn ra và được xác lập sớm nhất ở Trung Quốc. Ngay từ thời Chiến quốc khi sáu nước Hàn, sỏ, Ngụy, Yên, Tể vẫn duy trì xã hội nô lệ thì nước Tần vì muốn hùng mậììh đã đi theo luận thuyết cải cách của Thương Ưởng giẩi thể chế độ Ĩ1Ô lệ, thực hiện chế độ phong kiến tiến bộ hdn, đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm nền sức mạnh của nước Tần đánh bại sáu nước, thống nhất Trung Quốc vào năm 221 trước côr>g nguyên, kết thổc cục diện chiến quốe, lập ra nhà Tần thống trị trên toàn cõi Trung Quốc. Vổỉ nhà Tần, chế độ phong kiến Trung Qttổc bắt đầu. Trước và sau đầu công nguyên các nước chầu Á đểu lần lượt bước sang xã hội phong kiến. Ở Tây Ẳư, xă hội phong kiến được xác lập sau khi đế qưốc Tây ÌM Mã sụp đổ vào năm 476. Xã hội phong kiến cố một nển kỉnh tế nông nghiệp tự cấp tự túc do kết hợp với thả công nghiệp đóng kín trong các điển trang thái ấp, trong các lãnh địa, trong các làng xẳ công xã nông thồn. Quý tộc phong kiến khi được phân phong ruộng đất đẵ thành lập nên những điền traYig thái ấp (ỏ chồu Á) hoặc lãnh địa (ô Tầy Ằu), phốt Cành ruộng đất cho nông dân cư cày cấy và thu tô. Ngoài tồ cày cấy ruộng đất, ngudỉ nồng dân còn phải đi làm lao dịch (tồ lao địch) và nộp nhiểu khoản »ưu thuế khác cho quý tộc phong kiến và cho nhấ nưởc phong kiến. Bớc lột địà tô là đặc trưng của chế độ phong kiến, Cấc Mác gọi kiểu bóc lột nầy “cưỡng bức siêu kinh tể”. Nồng dân ià đối tượng bóc lột 21
  18. chính của quý tộc và của nhà nước phong kiến. Quý tộc phong kiến là giai cấp thống trị áp bức, bóc lột. Trong các lãnh địa của Tây Âu, người nông dân bị các lãnh chúa nông nô hoá để áp bức bóc lột. Trong các điển trang thái ấp ở châu Á, nông dân bị biến thành tá điền trở thành giai cấp bị áp bức, bóc lột. So với hình thái kinh tế xã hội chiếm hữu nô lệ thì hình thái kinh tế xã hội phong kiến tiến bộ hơn. Trước hết, người nông dân được pháp luật nhà nưốc thừa nhận là con người, họ có gia đình riêng, được tự do về thân thể, có một ít tài sản, ruộng đất. Sau khi đã nộp tô cho, chủ đất (50% hoặc nhiều hơn), phần sản phẩm còn lại họ được hưởng. Như vậy, về kinh tế ngưòi nông dân dược hưởng thành quả lao động của mình. Thiết chế chính trị nhà nước phong kiến châu Á cùng như Tây Âu đểu là quân chủ chuyên chế tập quyền, ở thiết chế này, vua là người nắm tất cả ba quyền lực cơ bản của nhà nước: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Vua còn là tổng chỉ huy quân đội. Vua cầm quyển suốt đòi từ khi lên ngôi cho đến lúc chết, ngai vàng có tính chất thế tập cha truyền con nối. Cũng như chế độ nô lệ phương Đông, vua của các nhà nước phong kiến quân chủ châu Á cũng được thần thánh hoá như là hiện thân, như là đại diện cho thần thánh hoặc là con tròi xuống cai trị thần dân. ở Tây Âu, vua dựa vào Thiên chúa giáo để làm công cụ nô dịch tinh thần đối với nhân dân. Nhà nưóc phong kiến quân chủ hoàn thiện hơn nhà nước quân chủ nô lệ, bộ máy nhà nước phức tạp hơn, pháp luật thành văn nhiều hơn, các quy phạm cụ thể hơn và điều chỉnh nhiều mối quan hệ xã hội phức tạp. Đặc biệt, pháp luật phong kiến Tây Âu thời hậu 22

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản