Ebook Thiền đạo: Phần 2 - NXB Thế giới

Chia sẻ: Nguyễn Thị Hiền Phúc | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:106

0
9
lượt xem
1
download

Ebook Thiền đạo: Phần 2 - NXB Thế giới

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Phần 2 ebook gồm các nội dung chính: Nguyên lý và hành trì (“Không mà diệu”, “Ngồi yên lặng, vô sự”, Tọa thiền và công án, Thiền trong nghệ thuật). Mời các bạn cùng tham khảo chi tiết nội dung tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ebook Thiền đạo: Phần 2 - NXB Thế giới

PHẦN 2<br /> NGUYÊN LÝ VÀ HÀNH TRÌ<br /> Chương 1<br /> “KHÔNG MÀ DIỆU”<br /> Bài thơ Thiền cổ nhất bắt đầu với những lời sau:<br /> Đạo lớn chẳng gì khó, <br /> Cốt đừng chọn lựa thôi.<br /> Quý hồ không thương ghét, <br /> Thì tự nhiên sáng ngời.<br /> Sai lạc nửa đường tơ, <br /> Đất trời liền phân cách!<br /> Chớ nghĩ chuyện ngược xuôi, <br /> Thời hiện liền trước mắt.<br /> Đem thuận nghịch chỏi nhau, <br /> Đó chính là tâm bệnh.(1)<br /> Mấu chốt không phải cố gắng đè nén cảm giác, nuôi dưỡng sự thờ ơ<br /> nhạt nhẽo, mà là nhìn thấu vọng tưởng phổ biến, tưởng có thể giành lấy<br /> cái vui thích hay tốt đẹp khỏi cái đau khổ hoặc xấu xa. Nguyên lý đầu<br /> tiên trong Đạo giáo là:<br /> Thiên hạ đều biết tốt là tốt, thì đã có xấu rồi.<br /> Đều biết lành là lành, thì đã có cái chẳng lành rồi.<br /> Bởi vậy, “có” với “không” cùng sinh, <br /> Khó và dễ cùng thành;<br /> Dài và ngắn cùng hình;<br /> <br /> Cao và thấp cùng chiều; ...<br /> Trước và sau cùng theo.(2)<br /> Thấy được điều này nghĩa là thấy rằng cái tốt mà không có cái xấu<br /> giống như lên mà không xuống, đưa ra lý tưởng theo đuổi cái tốt cũng<br /> giống như cố gắng bỏ bên trái bằng cách liên tục rẽ phải. Làm vậy,<br /> người ta buộc phải đi quanh theo vòng tròn.(3)<br /> Logic trong điều này đơn giản đến nỗi người ta bị thôi thúc cho rằng<br /> nó quá đơn giản. Thôi thúc ấy càng mạnh hơn bởi nó đánh đổ ảo tưởng<br /> được nâng niu nhất trong tâm trí con người, đó là, theo thời gian, mọi<br /> thứ sẽ được làm cho ngày càng tốt hơn. Bởi nhìn chung người ta cho<br /> rằng nếu không phải vậy, cuộc sống con người sẽ mất hết ý nghĩa và<br /> động lực. Nếu không phải một cuộc sống liên tục đi tới, thì chỉ còn<br /> phương cách duy nhất là sự tồn tại đơn thuần, tĩnh tại và chết chóc, quá<br /> buồn và quá vô nghĩa đến nỗi người ta có thể tự tử. Chính ý niệm<br /> “phương cách duy nhất” này cho thấy tâm bị bó chặt ra sao trong mô<br /> thức nhị nguyên, nó khó có thể nghĩ gì ra ngoài tốt hay xấu, hoặc một sự<br /> trộn lẫn cả tốt và xấu.<br /> Nhưng Thiền là sự giải thoát khỏi mô thức này, và điểm khởi đầu có<br /> vẻ u ám của nó là hiểu sự ngớ ngẩn của chọn lựa, của toàn bộ cảm giác<br /> rằng cuộc sống sẽ được cải thiện đáng kể nếu liên tục chọn cái “tốt”.<br /> Người ta phải bắt đầu bằng cách “cảm” được cái tương đối, biết rằng<br /> cuộc sống không phải một hoàn cảnh từ đó có gì để mà nắm bắt hay đạt<br /> được - như thể nó là thứ ta tiếp cận từ bên ngoài, giống một miếng bánh<br /> hay thùng bia. Thành công luôn là thất bại, nghĩa là càng thành công<br /> trong bất kỳ điều gì, càng có nhu cầu phải tiếp tục thành công. Ăn là để<br /> sống sót và đói lại.<br /> Ảo tưởng về sự cải thiện đáng kể nảy sinh trong những khoảnh khắc<br /> có sự đối lập, như khi người ta xoay từ trái qua phải trên một chiếc<br /> giường cứng. Tư thế nằm mới là “tốt hơn” chừng nào sự đối lập còn đó,<br /> nhưng chẳng bao lâu, tư thế thứ hai bắt đầu có cảm giác giống như lúc<br /> đầu. Vậy là họ mua một chiếc giường thoải mái hơn, và ngủ yên trong<br /> một thời gian. Nhưng cách giải quyết vấn đề như vậy để lại trong ý thức<br /> người đó một khoảng trống rỗng kỳ lạ, khoảng trống ấy chẳng mấy chốc<br /> <br /> bị lấp đầy bởi cảm giác về một sự đối lập không thể chịu nổi khác, cho<br /> đến giờ chưa được để ý, và cũng cấp thiết, cũng vô vọng y như vấn đề về<br /> chiếc giường cứng. Sở dĩ khoảng trống ấy xảy ra bởi vì chỉ có thể duy trì<br /> cảm giác dễ chịu khi so sánh với khó chịu, giống như mắt chỉ thấy một<br /> hình ảnh khi có bối cảnh đối lập với nó. Tốt và xấu, dễ chịu và đau khổ<br /> là không thể tách rời, là khác biệt mà lại hết sức đồng nhất - như thể hai<br /> mặt của một đồng xu - đến nỗi:<br /> Tốt là xấu, và xấu là tốt.(4)<br /> Hay như lời một bài thơ trong Thiền Lâm Cú Tập(5):<br /> Gặp rắc rối tức gặp vận may;<br /> Có đồng thuận tức có đối nghịch.(5)<br /> Một đoạn khác diễn tả sống động hơn:<br /> Trời còn tối, gà gáy báo sáng;<br /> Mặt trời rực rỡ lúc nửa đêm.(6)<br /> Bởi vậy, Thiền không phải quan điểm cho rằng đói mà ăn thì vô ích<br /> vì đằng nào cũng lại đói, Thiền cũng không phải phi nhân tính tới mức<br /> nói rằng ngứa thì không được gãi. Vỡ mộng với sự theo đuổi cái tốt<br /> không có nghĩa là phải có phương án thay thế cần thiết là rơi vào cái xấu<br /> của sự trì trệ, bởi hoàn cảnh của con người giống như “bọ chét trên vỉ<br /> nướng”. Chẳng phương án nào đưa ra được giải pháp, vì bọ chét rơi<br /> xuống phải nhảy lên, còn bọ chét nhảy lên phải rơi xuống. Chọn lựa là<br /> ngớ ngẩn, vì không có chỗ cho chọn lựa.<br /> Do vậy, lối tư duy nhị nguyên sẽ thấy dường như Thiền mang một<br /> lập trường theo thuyết định mệnh, đối lập với tự do chọn lựa. Khi một<br /> vị tăng hỏi thiền sư Mục Châu: “Suốt ngày mặc áo ăn cơm, làm sao khỏi<br /> <br /> mặc áo ăn cơm?” Sư đáp: “Mặc áo, ăn cơm.” Vị tăng trả lời không hiểu.<br /> Sư đáp: “Không hiểu thì mặc áo, ăn cơm.”(8) Khi được hỏi làm thế nào<br /> thoát khỏi cái “nóng”, một thiền sư khác hướng người hỏi đến nơi<br /> chẳng nóng chẳng lạnh. Được yêu cầu giải thích rõ hơn, sư đáp: “Mùa<br /> hè đổ mồ hôi; mùa đông run lẩy bẩy.” Hoặc như lời một bài thơ:<br /> Lạnh tìm lửa rực trong lò sưởi,<br /> Nóng ngồi bờ suối trong rừng trúc.(9)<br /> Cũng với nhãn quan này, người ta có thể:<br /> Thấy mặt trời trong cơn mưa;<br /> Múc nước sạch từ giữa lửa.(10)<br /> Nhưng đó không phải một nhãn quan theo thuyết định mệnh. Nó<br /> không đơn giản là buông xuôi do không thể tránh được đổ mồ hôi khi<br /> nóng, run khi lạnh, ăn khi đói, và ngủ khi mệt. Người buông xuôi trước<br /> số mệnh là người đầu hàng, người là con rối vô dụng của hoàn cảnh, và<br /> với Thiền không có người như vậy. Dù phân chia thành chủ thể và đối<br /> tượng, thành người biết và cái được biết, những cái ấy cũng được thấy<br /> là chỉ tương đối, đối đãi qua lại, không thể tách rời như mọi cái khác.<br /> Chúng ta không đổ mồ hôi vì nóng, mà đổ mồ hôi là cái nóng. Nói rằng<br /> do mắt nên mặt trời là ánh sáng cũng chỉ đúng như nói rằng do mặt trời<br /> nên mắt thấy ánh sáng. Chúng ta không quen với nhãn quan Thiền do có<br /> một quy ước cố định cho rằng cái nóng đến trước, và rồi do nhân quả,<br /> cơ thể đổ mồ hôi. Nếu ngược lại sẽ gây sửng sốt, giống như nói “bơ và<br /> bánh mì” thay vì “bánh mì và bơ”. Như lời một bài thơ trong Thiền Lâm<br /> Cú Tập:<br /> Lửa không đợi mặt trời mới nóng;<br /> Gió không đợi mặt trăng mới mát.<br /> <br /> Sự đảo ngược lẽ thường khiến gây sốc và dường như phi lý này có lẽ<br /> được làm sáng tỏ bằng hình ảnh hay được sử dụng trong Thiền là “trăng<br /> trong nước”. Hiện tượng “trăng trong nước” được ví như trải nghiệm<br /> của con người. Nước là chủ thể, trăng là đối tượng. Không có nước thì<br /> không có trăng-trong nước, không có trăng cũng vậy. Nhưng khi trăng<br /> mọc, nước không phải đợi mới có hình của nó, và ngay khi một giọt<br /> nước nhỏ xíu rớt ra, trăng cũng không phải đợi mới được phản chiếu.<br /> Bởi trăng không cố ý phản chiếu, nước không chủ định lưu hình. Sự việc<br /> được gây ra bởi nước cũng nhiều như bởi trăng, khi nước biểu thị sự<br /> sáng rỡ của trăng, trăng cũng biểu thị sự trong trẻo của nước. Một bài<br /> thơ khác trong Thiền Lâm Cú Tập:<br /> Cây hiện hình thể của gió;<br /> Sóng gửi tinh thần cho trăng.(11)<br /> Để diễn đạt bớt thi vị hơn, trải nghiệm của con người được quyết<br /> định bởi bản chất của tâm và cấu trúc của các giác quan cũng nhiều như<br /> bởi các đối tượng bên ngoài mà sự hiện diện của chúng được tâm ấy<br /> phát hiện. Sở dĩ người ta cảm thấy mình là nạn nhân hoặc con rối của<br /> những gì họ trải qua là bởi họ tách “ngã” khỏi tâm, nghĩ rằng bản chất<br /> của thân tâm là một thứ gì đó vô tình bị đẩy vào “họ”. Họ cho rằng mình<br /> đã không yêu cầu được sinh ra, không yêu cầu được “trao” một cơ thể<br /> nhạy cảm để mà thất vọng với sự qua lại giữa vui và khổ. Nhưng Thiền<br /> yêu cầu chúng ta tìm ra “ai” là người “có” cái tâm này, “ai” là người đã<br /> không yêu cầu được sinh ra trước khi cha mẹ hoài thai chúng ta. Để từ<br /> đó, toàn bộ ý nghĩa của sự phân chia chủ quan, của việc là người được<br /> “trao” một cái tâm, người mà trải nghiệm xảy đến, hóa ra là một ảo<br /> tưởng của ngữ nghĩa học tồi - sự ám thị thôi miên do tư duy sai nhiều<br /> lần. Bởi vì không có “ngã” nào riêng ngoài thân tâm này, cái sắp xếp các<br /> trải nghiệm này. Tương tự, thật khôi hài khi nói về thân tâm này như<br /> một thứ gì đó thụ động, vô tình bị “trao” cho một cấu trúc nhất định. Nó<br /> là cấu trúc ấy, và trước khi có cấu trúc ấy, không có thân tâm nào cả.<br /> Vấn đề của chúng ta là ở chỗ, năng lực tư duy cho phép chúng ta tạo<br /> dựng những biểu tượng của sự vật tách rời khỏi chính sự vật. Nó gồm<br /> cả năng lực tạo ra một biểu tượng, một ý tưởng về bản thân tách rời<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản