Ebook Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính: Phần 2

Chia sẻ: Bình Yên | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:20

0
29
lượt xem
15
download

Ebook Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính: Phần 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Phần 1 cuốn sách "Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính" cung cấp cho người học các kiến thức đại cương về ngân hàng bao gồm: Lược sử hoạt động ngân hàng, ngân hàng trung ương, ngân hàng thương mại. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Ebook Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính: Phần 2

P hần h a i<br /> <br /> ĐẠI CỨƠNG VỂ NGÂN HẰNG<br /> ■<br /> <br /> Hoạt động ngân hàng có cội rễ rất sâu trong lịch sử. Ngày nay không ai có thể<br /> biết chắc được việc kinh doanh ngân hàng đã bắt đầu từ lúc nào. Một số nhà nghiên<br /> cứu tìm thấy nguồn gốc của hoạt động này từ những người thợ vàng thời trung cổ, là<br /> những người nhận ký gửi vàng, bạc và cho vay. Một số học giả khác cho ràng những<br /> tiền thân trước đó là các thương nhân tiền tệ chuyên đổi các loại tiền kim loại trong<br /> các chợ lớn của th ế giới cổ xưa.<br /> Giả thuyết về nguồn gốc của hoạt động ngân hàng là các thợ vàng lập luận rằng,<br /> những ngươi thợ vàng này chấp nhận việc ký gửi tiền vàng và tài sản có giá khác,<br /> trong nhiều trường hợp các khoản ký gửi này được trả lại. Khi một khách hàng gửi<br /> vàng vào thì nhận được một biên nhận ghi rõ số lượng và loại kim loại được giữ trong<br /> kho của người thợ vàng. Không lâu sau đó, những người ký gửi vàng nhận ra rằng sử<br /> dụng biên nhận của thợ vàng, tức là lời hứa thanh toán của người thợ vàng để trả tiền<br /> về hàng hóa và dịch vụ thì thuận tiện hơn rất nhiều. Chỉ trong một thời gian ngắn các<br /> biên nhận của thợ vàng đã bắt đầu được lưu thông như tiền tệ và đó là tiền thân của<br /> séc ngày nay. Câu chuyện chưa chịu chấm dứt ở đây. Những người thợ vàng sớm khám<br /> phá ra rằng những gì ký gửi cho họ tương đối ổn định - trong khi một số khách hàng<br /> luôn luôn rút quỹ ra khỏi kho của người thợ vàng thì một số khác lại gửi vào. Từ đó<br /> một người thợ vàng có đầu cơ kinh doanh đã có thể nghĩ ra rằng với những khoản ký<br /> gửi ổn định ông ta có thể cho vay bằng cách phát hành nhiều biên nhận hơn là số<br /> lượng vàng dự trữ trong kho. Từ thời điểm này người thợ vàng đã trở thành nhà ngân<br /> hàng, bởi vì ông ta theo nghĩa bóng đang tạo ra tiền.<br /> Câu chuyện về những người thợ vàng mô tả nguồn gốc của hoạt động ngân hàng,<br /> th ế nhưng lịch sử của hoạt động ngân hàng thực sự phát nguồn sớm hơn rất nhiều, từ<br /> thời các thương nhân tiền tệ thường xuyên lui tới các chợ ở châu Á, châu Âu và Trung<br /> đông vào thời cổ. Thương nhân tiền tệ cung cấp một loại dịch vụ rất cần thiết: đổi một<br /> loại tiền này lấy loại khác trong thời đại đồng tiền gồm phần lớn là loại tiền kim loại<br /> và mỗi quốc gia và kinh đô tự phát hành đồng tiền cùa mình. Nếu một người nào đó<br /> muốn đi đến môt kinh đô lớn (như Alexandria, Jerusalem hoặc Rome) và muốn mua<br /> lương thực, vải vóc hoặc hàng hóa đòi hỏi phải chuyển đổi một loại tiền nước ngoài<br /> thành bản tệ. ở một số chợ trung tâm thì việc kinh doanh dổi tiền đã trở thảnh môt<br /> công việc chuyên nghiệp và một số thương nhân đã bắt đầu chuyên doanh các dich vu<br /> tài chính, họ chảng những đổi tiền kim loại mà còn chấp nhận ký gửi và chiết khấu<br /> <br /> 129<br /> <br /> những biên nhận do những thương nhân khác nắm giữ. Thông thường thì những người<br /> này kê một cái bàn dài bằng gỗ ở ngoài chợ và chờ khách hàng đến. Một số học giả<br /> cho rằng thuật ngữ “nhà băng” (ngân hàng) xuất xử từ một từ của Ý “banco” có nghía<br /> là cái bàn dài. Các định chế ngân hàng tương tự như loại hình chúng ta thấy ngày<br /> nay, lúc đầu đã xuất hiện ở Ý trong thời Trung cổ và sau đó lan tràn sang Tây Au. Nó<br /> đến Tây Âu bằng hình thức hiện đại nhất vào thời điểm các quốc gia châu Âu đang trở<br /> thành công nghiệp hóa mạnh mẽ với nhiều loại nhà máy và công cụ vốn mới. Dần dà<br /> hoạt động ngân hàng, đặc biệt là việc chấp nhận ký gửi và cho vay, đã lan tràn qua<br /> nhiều quốc gia. Hầu hết đều đồng ý rằng tổ tiên của hoạt động ngân hàng hiện đại là<br /> Ngân hàng Anh quốc, đã được cấp điều lệ vào năm 1694.<br /> Hệ thống ngân hàng và hoạt động của nó đã đi từ những bước hình thành cực kỳ<br /> thô sơ và chính nhu cầu phát triển của xã hội và nền kinh tế là những tác nhân thúc<br /> đẩy hoạt động và tổ chức ngân hàng không ngừng được cải thiện như ngày nay.<br /> Hoạt động ngân hàng là một trong những hoạt động kinh tế cổ xưa của loài người.<br /> Quá trình phát triển của hoạt động ngân hàng là quá trình phát triển liên tục theo<br /> điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. Ngân hàng ngày nay cơ bản khác với ngân hàng<br /> các thời kỳ trước đây. Đó là kết quả của tình hình kinh tế và tiền tệ của mổi thời kỳ.<br /> Thời điểm hiện nay cũng chưa phải ở lúc kết thúc các tiến triển này. Không thể dự<br /> đoán chắc chấn về tương lai, mọi cái sẽ tùy thuộc vào bối cảnh kinh tế, tiền tệ, tài<br /> chính.<br /> Mối quan tâm đối với hoạt động ngân hàng các thời xa xưa không phải là kết quả<br /> của nỗi luyến tiếc quá khứ, sự ưa thích đồ cổ, mà là các bài học của quá khứ vì tương<br /> laiề<br /> <br /> 130<br /> <br /> Chương 4<br /> <br /> LUỘC SỬ HOẠT ĐỘNG NGÁN HÀNG<br /> 4.1. KHÁI QUÁT LỊCH<br /> <br /> sử VỀ<br /> <br /> NGÂN HÀNG ở T R Ê N T H Ế GIỚI<br /> <br /> a) Trong thời kỳ tiền sử và thượng cổ.<br /> Các nghiệp vụ ngân hàng đơii giản đã xuất hiện, mặc dù chưa có tên gọi "ngân<br /> hàng". Vào thời điểm này, lãnh thổ, cương vực của các cộng đồng chưa được phân định,<br /> chiến tranh và cướp bóc giữa các quần cư với nhau xảy ra ở khắp nơi trên các vùng có<br /> dân cư. Những gia đình có của cải, sản vật dư thừa từ quá trình sản xuất và trao đổi<br /> trở thành mục tiêu của cướp bóc. Người ta chỉ tìm thấy sự an toàn cho các tài sản ky<br /> cóp được khi đem gởi nó vào nhà thờ, cho các nhà quyền quý và các thợ vàng, vì ở<br /> những nơi này có lâu đài và lực lượng bảo vệ do đó có thể đem lại sự đảm bảo cho tài<br /> sản của họ. Một cách rấ t tự phát, một số nhà thờ, người có quyền th ế và các thợ vàng<br /> trở thành những nơi giữ của cải và tài sản cho công chúng, được công chúng tin tưởng<br /> để ký gởi tài sản của mình mà không sợ mất. Như vậy, chữ tín và niềm tin là yếu tố<br /> căn bản quan trọng nhất của hoạt động ngân hàng.<br /> 3.500 năm trước công nguyên, có bằng chứng là Nhà thờ đã có những hoạt động<br /> "ngân hàng" dưới hình thức như những tiệm cầm đồ với bảng kết toán đơn giản:<br /> Tài s ả n nợ<br /> <br /> Tài sản có<br /> <br /> C ủ a cải, sả n vật do<br /> cô n g ch ú n g gửi<br /> I<br /> <br /> nọ<br /> <br /> 1.000<br /> <br /> Dự trữ cho đến cuối kỳ<br /> <br /> 1.000<br /> <br /> 1.000<br /> <br /> X có<br /> <br /> 1.000<br /> <br /> Công chúng gởi tài sản vào đầu kỳ, các đối tượng nói trên nhận lấy, vào sổ, xuất<br /> biên nhận và chỉ việc cất th ật kỹ cho đến cuối kỳ. Đến ngày hẹn, hoặc khi cần đột<br /> xuất, chủ nhân nó đến nhận tài sản, trả biên nhận cho nhà thờ, thợ vàng hoặc lãnh<br /> chúa kèm theo khoản thù lao tiền công cất giữ và bảo quản. Không có một nghiệp vụ<br /> hoạt động nào khác phát sinh.<br /> Các hoạt động 'ngân hàng sơ khai" ấy được thực hiện tại các nhà thờ vì 3 lý do:<br /> + Nhà thờ lả nơi an toàn nhất, có hầm, có tủ sắt, khó bị trộm cướp+ Nhà thờ là nơi thiêng liêng, được nhân dân kiêng nể, không dám xâm phạm+ Nhà thờ là trung tâm khu vực thương mại của thành phố.<br /> 131<br /> <br /> Dọc theo thời gian, tổ chức xã hội phát triển, phân công lao động, chuyên môn<br /> hóa bắt đầu xuất hiện ở một vài cộng đồng ven Địa trung hải. Các loại phương tiện<br /> trao đổi trung gian ra đời. Đã có một số vùng có tiền tệ băng vàng, bạc, đồng... Nhờ<br /> vậy thương mại đã được mở rộng giữa một vài cộng đồng. Tiền tệ ra đời, thương mại<br /> phát triển là cơ sở để hình thành nghề kinh doanh tiền tệ, tiền thân nghề ngân hàng.<br /> Theo đà phát triển của trao đổi hàng - tiền, các đơn vị sản xuất kinh doanh tích lũy<br /> ngày càng lớn số lượng tiền kim loại, phát sinh nhu cầu giữ tiền được an toàn. Nhu<br /> cầu này dẫn tới dịch vụ giữ và bảo đảm an toàn cho tài sản của những người có tiền<br /> vàng. Nghề ngân hàng ra đời từ dịch vụ giữ tiền cho khách hàng.<br /> Nghề kinh doanh tiền tệ ra đời từ sự phát triển quan hệ thương mại giữa các vùng<br /> lãnh địa, giữa các quốc gia. Trong từng lãnh địa, trong từng quốc gia lại lưu hành một<br /> loại đồng tiền riêng, đã gây trở ngại, khó khăn cho việc buôn bán, thanh toán và rất<br /> phức tạp trong việc chuyển đổi, bảo quản tiền tệ. Quá trình đó đã thúc đẩy sự ra đời<br /> của các tổ chức chuyên nghề kinh doanh tiền tệ để đảm nhận chức năng riêng biệt do<br /> lưu thông tiền tệ đòi hỏi như nhận đổi tiền của vùng này ra tiền vùng khác, đổi tiền<br /> của nước này ra tiền của nước khác, đổi tiền lấy vàng, bạc và ngược lại; nhận bảo quản<br /> vàng, bạc, giữ hộ tiền, nhận tiền gửi...<br /> Có ba sáng kiến quan trọng đã biến những tiệm cầm đồ và những người giữ hộ<br /> tiền, bảo quản quý kim trở thành các "ngân hàng sơ khai".<br /> Thứ nhất, dân chúng đem tiền hoặc quý kim gởi ở "tiệm cầm đồ", ở "tiệm vàng"...,<br /> những nơi này cấp cho họ giấy chứng nhận tài sản, đại diện cho lượng tiền hoặc quý<br /> kim mà các nơi này giữ hộ, bảo quản (gọi là chứng thư hay chứng phiếu). Những người<br /> ký gởi tiền bắt đầu dùng chứng thư như phương tiện thanh toán trong giao dịch và<br /> trao đổi. Chứng thư này đầu tiên được chấp nhận dè dặt. Nhưng dần dần nó được chấp<br /> nhận rộng rãi hơn, bởi vì người nhận thanh toán thấy rằng họ hoàn toàn có thể đến<br /> "ngân hàng" để đổi lại ra tiền. Hơn nữa, cất giữ và bảo quản chứng thư hoặc mang đi<br /> theo người vừa nhẹ nhàng, dễ dàng và an toàn hơn các loại tiền hoặc tài sản khác. Từ<br /> đó tạo điều kiện cho các "ngân hàng sơ khai" thực hiện một cách rộng rãi: việc phát<br /> hành chứng thư làm phương tiện thanh toán thay cho tiền. Ngân hàng phát triển<br /> thêm chức năng thanh toán giừa các khách hàng thông qua chứng thư gửi vàng trong<br /> tài khoản ngân hàng. Các thân chủ của "ngân hàng" dùng các chứng thư này mua bán,<br /> chuyển nhượng, trao đổi thay cho tiền. Khi cần, khách hàng có thể đem chứng thư đến<br /> nơi gởi để rút tiền ệ Càng về sau, các chứng thư này lại tách rời từng bước các tài sản<br /> mà khách hàng gởi ở các "ngân hàng sơ khai", do các nơi này phát hành số chứng thư<br /> vượt quá số tài sản họ giữ. Nghiệp vụ này đã làm cho các "ngân hàng’ có khoản dự trữ<br /> tăng lên rất phong phú và tạo điều kiện ban đầu để phát triển các nghiệp vụ cho vay.<br /> Thứ hai, các "ngân hảng" nhanh chóng nhận thấy rằng trong mỗi đơn vị thời<br /> gian, chẳng hạn một ngày, có nhiều người đến rút tiền, trả lại chứng thư, nhưng đồng<br /> thời cũng có rất nhiều người mới đến gởi tiền vào. Sự chênh lệch giữa tổng khoản ký<br /> gởi và tổng khoản được rút ra thường không lớn và về mặt dài hạn, thí dụ như một<br /> tuần hoặc một tháng, các khoản gởi vào và rút ra thường triệt tiêu nhau. Do vậy tiền<br /> dược cất giữ trong kho (vault cash) hầu như không đổi trong những khoảng thời gian<br /> 132<br /> <br /> /<br /> <br /> rấ t dài. Điều này trở nên phí phạm và vô lý, trong lúc có nhiều người rất cần vay tiền<br /> để kinh doanh, sản xuất hoặc tiêu dùng. Suy nghĩ đó dẫn các "chủ ngân hàng sơ khai"<br /> đến chổ bắt đầu dùng tiền của công chúng gởi (không phải tiền của họ) để cho vay.<br /> Nếu "chủ ngân hàng” có thể điều chỉnh khối lượng cho vay mỗi ngày không vượt quá<br /> một giới hạn nào đó nhằm đảm bảo rằng luôn iuón có những khoản tiền m ặt dự trữ tối<br /> thiểu trong kho nhằm đáp ứng cho việc rút tiền bất ngờ của người gởi, thì "ngân hàng"<br /> vẫn bảo vệ được uy tín của m ìnhề Công chúng gần như không biết đến và cũng không<br /> quan tâm đến việc tiền của họ đã được cho vay và "ngân l?àng” sẽ hoạt động bình<br /> thường.<br /> Thứ ba, lúc đầu người chủ bảo quản phải đảm bảo trả lại chính những đồng tiền<br /> vàng mà họ đứợc chuyển giao để bảo quản. Trong những điều kiện như vậy, người chủ<br /> bảo quản không thể cho vay những đồng tiền nhận bảo quản đó. Dần dần xã hội phát<br /> triển, người gởi tiền không yêu cầu phải trả lại chính những đồng tiền vàng mà họ<br /> gởi, mà chỉ yêu cầu trả lại tổng số tiền mà họ đã gởi. Thời hạn bảo quản cũng kéo dài<br /> thêm. Chỉ khi đó mới xuất hiện khả năng sử dụng số tiền khách hàng gởi để cho vay<br /> thu lợi tức.<br /> Các hoạt động ngân hàng nói trên được tiếp tục qua nhiều thế kỷ tại các nước ven<br /> biển Địa Trung Hải, tại Hy Lạp, La Mã, Trung Đông và tại các đô thị lớn rải rác trên<br /> con đường tơ lụa, nối liền Trung Đông và Trung Hoa.<br /> Đến thời kỳ nền văn minh Hy Lạp vào th ế kỷ thứ sáu trước công nguyên, hoạt<br /> động ngân hàng không còn hạn hẹp trong phạm vi các đền thờ mà đã được th ế tục<br /> hóa, khu vực hoạt động ngân hàng được mở rộng: ngoài Nhà thờ còn có tư nhân và<br /> khu vực công. Hoạt động ngân hàng của khu vực công lúc đó giống như hoạt động của<br /> kho bạc nhà nước là thu nhận tài nguyên của công quỹ và chi trả thay cho nhà nước.<br /> Trong thời kỳ này, hoạt động ngân hàng đã tiến thêm một bước: ngoài việc nhân ký<br /> thác và cho vay như những Nhà thờ khi xưa đã làm, còn có nghiệp vụ đổi tiền (hối<br /> đoái); việc cho vay có thời hạn dài hơn: trung hạn và dài hạn.<br /> Dưới thời đế quốc La Mã (thế kỷ thứ 5 trước công nguyên đến th ế kỷ thứ 5 sau<br /> công nguyên), hoạt động ngần hàng có những bước tiến về mặt ngân hàng so với thời<br /> kỳ trước:<br /> - Các ngân hàng áp dụng phương pháp bù trừ (compensation): chỉ có nhừng chủ nợ<br /> cùng một loại và nợ đáo hạn được bù trừ, kết số dư là nợ thu hồi.<br /> - Ngân hàng áp dụng việc ghi chép sổ sách và tài khoản, như sổ quỹ ghi nhận<br /> thu, chi. Sổ sách k ế toán được thông tư cho tòa án để làm bằng trong các cuộc tranh<br /> tụng.<br /> - Trong việc chuyển đổi tiền, ngân hàng đã áp dụng việc chuyển ngân, tức là<br /> chuyển tiền từ nơi này đi nơi khác: các tổ chức ngân hàng thô sơ đã được thiết lập<br /> nhiều nơi và người ta đã biết lấy tiền ra ở một nơi xa nơi ký thác bằng cách xuất trình<br /> các "hối phiếu"<br /> - Ngân hàng làm nghiệp vụ bảo lãnh, biểu hiện ban đầu của hình thức thuận<br /> nhận (acceptation) các thương phiếu trong nghiệp vụ ngân hàng ngày nay.<br /> Danh từ "ngân hàng" phát xuất từ chữ La tinh là bancus. Bancus là một chiếc bàn<br /> <br /> 133<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản