Giá bán lẻ và ảnh hưởng của lm phát giá hàng hóa
Trong năm qua, nguyên tắc cơ bản nhất của marketing 4P – giá – tăng nhanh một cách đáng chú
ý.
Về cách thức, đó là một kết quả không thể tránh được từ việc truyền thông quá tập trung vào các nhân t
vĩ mô quyết định nền kinh tế cung cầu – lm phát, việc làm, thu nhập, và nhiều thứ khác nữa.
Không đáng ngạc nhiên, khi chsố giá tiêu dùng dùng liên tục trồi sụt, mọi con mắt đổ dồn vào giá
hàng hóa. Vậy, giá hàng hóa ảnh hưởng lên giá bán lvà chiến lược định giá của giám đốc sản phẩm
như thế nào?
Mặc dù trong ngn hạn, giá bán lẻ thay đổi sau những thay đổi của giá hàng hóa, nhưng trong dài hạn nó
có thể tác động trở lại những thay đổi trong giá hàng hóa.
Chẳng hạn, giá bán lẻ gas phản ứng lại những thay đổi ngắn hạn của giá dầu thô: Sự sụp đổ nguồn cung
cấp dầu tlàm giá dầu thô tăng, điều này dẫn đến các thành phầm từ dầu tcũng tăng. Tuy nhiên,
trong dài hạn, khi lạm phát và nền kinh tế giảm nhu cầu, giá hàng hóa có thể giảm đề điều chỉnh cho phù
hợp với mức nhu cầu thấp hơn.
những khía cạnh phức tạp n, giá hàng hóa bị tác động mạnh bởi những mong đợi ngắn hạn và
thông tin thtrường, và được quyết định bởi thị trường tài chính và thương mại; tuy nhiên, giá bán lít
phản ứng lại thông tin thị trường và được quyết định bởi nhu cầu của nền kinh tế.
The US Department of Agriculture (USDA BNông Nghiệp Mỹ) đã làm sáng tmột vài vấn đề trong
mi quan hgiữa chi phí đầu vào và giá bán lthực phẩm, điều đó đã giúp chúng tôi có những hiểu biết
tốt hơn vcách thức ghàng hóa tác động lên giá bán lẻ. Đặc biết đối với giá thực phẩm, USDA cho
rằng các nhân tố sau quyết định mối quan hệ này:
Phần chi phí đầu vào trong tổng chi phí sản xuất.
Sự sẵn có các sản phẩm thay thế trên thị trường, điều sẽ tạo ra khả năng thay thế trong nhu cầu, và mt
mi liến hệ yếu hơn giữa giá hàng hóa và giá bán lẻ.
Những thay đổi của giá hàng hóa trong ngn hạn so với dài hạn.
Yếu tố đầu tiên trong các yếu tố nêu trên là yếu tố có sức ảnh hưởng tức thời nhất, bời vì các sn phẩm
tlchi phí đầu vào lớn hơn trong cấu trúc giá bán lẻ sẽ phản ứng nhanh nhất đối với thay đổi trong
giá hàng hóa.
USDA ước lượng rằng chi phí đầu vào xấp x19% giá bán lẻ, họ cũng cung cấp các chỉ dẫn cho thấy
phần chi phí đầu vào t ngũ cốc ảnh hưng như thế nào đến giá bán lẻ.
Các sản phẩm từ ngũ cốc và bánh: 4%
Thịt : 48%
Thịt heo: 27%
Thịt gà (ớng):50%
Các sản phẩm từ sữa” 38%
Bơ và dầu: 15%
Khi ai đó nhìn vào tỷ lệ trên, mt khía cạnh hợp lý khác ngay lập tức trở nên hiển nhiên: Chi phí hàng hóa
tùy thuộc vào mức độ phức tạp của quy trình sn xuất. Vậy nên, nếu chỉ 19% bao gồm trong những
thay đổi của giá hàng hóa, thì có phải cứ 0,19% tương ứng với 1% giá bán lẻ.
Không nhất thiết: 19% giá bán lẻ không giống vi 19% giá hàng hóa được bán; và, điều này còn ph
thuộc vào lợi nhuận biên của sản phẩm, sức hút thương hiệu (tài sản thương hiệu) và việc nhà sản xuất
muốn bảo vệ lợi nhuận (100%) hay giảm lợi nhuận để bảo vệ thị phần (<100%).
Tìm hiểu mối liên hgiữa giá cả hàng hóa hàng tháng ca các loại hàng đa dạng như nhôm, năng
lượng, lúa mạch, cà phê hạt và đường hóa học với giá bán lẻ trung bình hàng tháng cho hơn 500 thương
hiệu về bia, café, và nưc giải khát cho thấy một vài điều thú vị:
Nhìn chung các thương hiệu bia thể hiện mối liên hchặt chẽ với những thay đổi vgiá hàng hóa. Điều
đó kết hợp với sự ưa chuộng dành cho các thương hiệu bia là rất phù hợp với khái niệm, tài sản thương
hiệu càng lớn thì khả năng đẩy phần chi phí gia tăng trong chi phí đầu vào cho người tiêu dùng càng cao.
Giá bán lẻ của các thương hiệu bia và nước giải khát có mối liên hệ mạnh mẽ với giá hàng hóa nông sản
khi được so sánh với giá hàng hóa từ nhôm.
Những ý kiến hợp lý, nhà sản xuất có thể khả năng tốt hơn trong việc hạn chế ảnh hưởng của những
thay đổi vgcho những hàng hóa được sản xuất ổn định, như nhôm chẳng hạn so với hàng nông sản
mang tính thi vụ và phụ thuộc khá nhiều vào thời tiết, hay năng lượng thiên về sản xuất và nhu cầu.
Tcách nhìn của các giám đốc sản phẩm, giá bán lẻ mà hđưa ra được quyết định bởi mục tiêu lợi
nhun của ban quản lý cấp cao và ngân sách quảng cáo họ có để sử dụng. Vậy nên, giá hàng hóa có xu
hướng ít ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của họ.
Như những gì nói ở trên, s là sáng suốt khi nhớ những điều sau đây:
Mục tiêu cao nhất của cổ đông công ty là lợi nhuận tt hơn, cho sự tăng tởng và thphần
đạt được thể là giai đoạn chuyển tiếp cho mục tiêu đó. Vậy nên, sự gia tăng áp lực từ chi phí
đầu vào biến thành sự định giá cho dài hạn và cắt giảm quảng cáo ít hơn.
Các giám đốc sản phẩm đủ khả năng để đoán trước một chỉ thị từ ban quản trị cấp cao và đánh
giá các lựa chọn thay thế nhằm đối phó với những ảnh hưởng không tốt từ một mức giá cao
hơn.
Phản ứng của người tiêu dùng đối sự thay đổi giá cả không hoàn toàn giống nhau. Những phân
tích vgiá nhằm xác định độ nhạy vgiá của danh mục sản phẩm, không nên ch được thực
hiện ở thị trưng chung mà còn phi được thực hiện ở mi phân khúc, vùng đa lý.
Trong môi trường làm phát, các giám đốc sản phẩm thể sử dụng các phân tích giá để triển
khai chiến lược giá cho một phân khúc. Hoạt động này bao gồm, xác định những khu vực trong
thị trường mục tiêu có thể tăng giá, trong khi vẫn giữ giá ổn định trong các khu vực dễ bị tổn hại.
Những phân tích cho thấy các thương hiệu nắm giữ phần thị trường lớn hơn tờng có mối tương quan
mạnh mẽ hơn giữa giá bán lẻ và giá hàng hóa. Các thương hiệu này thường sở hữu tài sản thương hiệu
lớn hơn và bởi vậy họ không phải lo lắng nhiều về việc bị mất thị trường khi đẩy phần giá hàng hóa tăng
thêm cho ngưi tiêu dùng.
Kết quả tất yếu, môi trường lạm phát gây ra nhiều khó khăn cho những thương hiệu nhỏ hơn trong cạnh
tranh giá, vì sự thu hẹp lợi nhuận biên. Chiến lược giá cho phân khúc trnên đặc biệt quan trọng đối với
những thương hiệu nhỏ trong môi trường như thế này.
Một điều cuối cùng: Nếu giá bán ltăng là điều không thể tránh được và kết quả của sự gia tăng giá
hàng hóa, hãy bù đắp sự suy giảm cầu sản phẩm với việc gia tăng marketing thương hiệu. Sự tác động
của quảng cáo lên tài sản thương hiệu và nhu cầu sánh ngang vi ảnh hưởng của việc định giá, nhưng
những nghiên cứu gần đây cho thấy: Tài sản thương hiệu càng mạnh thì sco giãn của giá trong dài
hạn càng thấp.
Nếu bạn hoạt động trong lãnh vực phụ thuộc đáng kể vào những hàng hóa dlạm phát, dựa vào gim
giá để duy trì thị phần không phải là một chiến lược tốt trong dài hạn, thay vào đó hãy tập trung xây dựng
tài sn chính của tơng hiệu thông qua đổi mới và xây dựng thương hiệu.