intTypePromotion=3

Giá trị của các chỉ số khí máu tĩnh mạch (PH, HCO3- và SBE) trong đánh giá tình trạng thăng bằng kiềm – toan ở trẻ sơ sinh suy hô hấp tại khoa hồi sức sơ sinh

Chia sẻ: ViHani2711 ViHani2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

0
2
lượt xem
0
download

Giá trị của các chỉ số khí máu tĩnh mạch (PH, HCO3- và SBE) trong đánh giá tình trạng thăng bằng kiềm – toan ở trẻ sơ sinh suy hô hấp tại khoa hồi sức sơ sinh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Khí máu động mạch là xét nghiệm chuẩn vàng cung cấp thông tin về tình trạng thăng bằng kiềm - toan. Tuy nhiên, thủ thuật chích hay đặt catheter động mạch có thể gây ra nhiều biến chứng, nhất là khi thực hiện nhiều lần trên trẻ sơ sinh non tháng. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đánh giá tính giá trị của khí máu tĩnh mạch nhằm thay thế cho khí máu động mạch trong đánh giá tình trạng kiềm – toan ở trẻ sơ sinh suy hô hấp tại khoa hồi sức sơ sinh.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giá trị của các chỉ số khí máu tĩnh mạch (PH, HCO3- và SBE) trong đánh giá tình trạng thăng bằng kiềm – toan ở trẻ sơ sinh suy hô hấp tại khoa hồi sức sơ sinh

  1. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ bản Tập 21 * Số 2 * 2017 GIÁ TRỊ CỦA CÁC CHỈ SỐ KHÍ MÁU TĨNH MẠCH (PH, HCO3- VÀ SBE) TRONG ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG THĂNG BẰNG KIỀM – TOAN Ở TRẺ SƠ SINH SUY HÔ HẤP TẠI KHOA HỒI SỨC SƠ SINH. Nguyễn Thu Tịnh*, Phạm Lê An**, Phan Hữu Nguyệt Diễm*** TÓM TẮT Mở đầu: Khí máu động mạch là xét nghiệm chuẩn vàng cung cấp thông tin về tình trạng thăng bằng kiềm - toan. Tuy nhiên, thủ thuật chích hay đặt catheter động mạch có thể gây ra nhiều biến chứng, nhất là khi thực hiện nhiều lần trên trẻ sơ sinh non tháng. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đánh giá tính giá trị của khí máu tĩnh mạch nhằm thay thế cho khí máu động mạch trong đánh giá tình trạng kiềm – toan ở trẻ sơ sinh suy hô hấp tại khoa hồi sức sơ sinh. Đối tượng – phương pháp nghiên cứu: chúng tôi thực hiện lấy khí máu động mạch và tĩnh mạch cùng lúc trên 322 bệnh nhân suy hô hấp nhập khoa hồi sức sơ sinh. Chúng tôi so sánh các giá trị pH, HCO3 và SBE của mẫu máu tĩnh mạch với máu động mạch được lấy cách nhau < 5 phút. Dữ liệu được phân ích tương quan, hồi qui tuyến tính và biểu đồ Bland – Altman. Mô hình này được ngoại kiểm trên 40 trường hợp thu thập sau mẫu nghiên cứu 20 tháng. Kết quả: Qua thời gian 12 tháng thực hiện lấy mẫu, chúng tôi thu thập được 322 cặp khí máu động và tĩnh mạch. Tất các các chỉ số khí máu tương quan và tương đồng chặt chẽ. Trung bình khác biệt của các chỉ số khí máu động mạch và tĩnh mạch tương ứng: pH là -0,029 đơn vị, HCO3 là 0,7 mmol/L và SBE là 0,32 mmol/L. Tất cả giới hạn tương đồng 95% hẹp. Các ngưỡng phân cắt chẩn đoán kiềm toan cho độ nhạy, độ đặc hiệu và diện tích dưới đường cong tốt. Ngoại kiểm mô hình cho thấy có sự hiệu chỉnh và sự phân loại tốt các các chỉ số khí máu. Kết luận: các chỉ số khí máu tĩnh mạch có tương quan chặt và mức độ tương đồng cao giữa các chỉ số tương ứng của khí máu động mạch ở trẻ sơ sinh suy hô hấp tại khoa hồi sức sơ sinh. Kết quả đề xuất các chỉ số khí máu tĩnh mạch có thể thay thế tốt cho các chỉ số khí máu động mạch ở dân số này. Từ khoá: pH, HCO3, SBE, thăng bằng kiềm - toan, suy hô hấp, khí máu động mạch, khí máu tĩnh mạch. ABSTRACT THE VALIDITY OF VENOUS BLOOD VALUES (PH, HCO3- AND SBE) IN ASSESSMENT OF BASE – ACID BALANCE IN NEWBORNS WITH RESPIRATORY FAILURE. Nguyen Thu Tinh, Pham Le An, Phan Huu Nguyet Diem * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Supplement Vol. 21 - No 3 - 2017: 166 - 175 Background and objective: Arterial blood gas is the gold standard test in assessment of base – acid balance; however, arterial puncture or arterial cannulation can cause many complications, especially when they are performed in preterm infants or repeatedly in the same patient. We investigate the validity of venous blood values (pH, HCO3- and SBE) in assessment of acid – base balance in newborns with respiratory failure. Methods: We collected simultaneously venous blood and arterial blood samples from 322 neonates who had been admitted to NICU with respiratory distress. We compared pH, HCO3, and SBE on arterial and venous samples that were taken within 5 minutes of each other. Data was analysed by using correlation, linear regression, and Bland – Altman plots. *: Bộ môn Nhi, Đại Học Y Dược Tp. HCM ** Bộ môn BS gia đình, Đại Học Y Dược Tp. HCM Tác giả liên lạc: Ths.BS. Nguyễn Thu Tịnh ĐT: 0937911277 Email tinhnguyen@ump.edu.vn 166 Chuyên Đề Gây Mê Hồi Sức
  2. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ bản Tập 21 * Số 3 * 2017 Nghiên cứu Y học Results: A total of 322 paired samples were collected during 12 months. The mean differences between arterial and venous values for pH was -0.029 units, for HCO3 was 0.7 mmol/L, and for SBE was 0.32 mmol/L. All values showed narrow 95% limits of agreement. The cut-offs for metabolic acidosis or alkalosis showed very good sensitivity, specificity, and ROC-AUC. The models were externally validated from a separate group of 40 patients who were gathered 20 months later. External validation showed good calibration, and good discrimination. Conclusion: venous variables showed a very strong correlation and high level of agreement with arterial variables, respectively. These results suggest that venous values may replace arterial values respectively in assessment of base – acid balance in this clinical setting. Keywords: pH, HCO3, SBE, PCO2, acid – base balance, respiratory failure, ABG, VBG. MỞ ĐẦU quán. Tại Việt Nam, chúng tôi chưa ghi nhận có nghiên cứu liên quan dùng khí máu tĩnh mạch Suy hô hấp là hội chứng thường gặp nhất, là đánh giá thăng bằng kiềm - toan ở suy hô hấp sơ nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong thời sinh. Trong điều kiện hiện nay tại Việt Nam, hầu kỳ sơ sinh và chi phí điều trị rất tốn kém (2), (13), (16). hết các đơn vị chăm sóc trẻ sơ sinh ở các tỉnh và Khí máu động mạch là xét nghiệm chuẩn vàng thành phố đã có máy xét nghiệm khí máu nhưng cung cấp thông tin về thăng bằng kiềm toan (1), (9). tồn tại khó khăn trong việc lấy mẫu máu động Trong thực hành lâm sàng tại khoa Hồi sức sơ mạch để xét nghiệm, đặc biệt ở trẻ sơ sinh non sinh, xét nghiệm khí máu động mạch để cung tháng hay trẻ suy hô hấp nặng cần lấy mẫu máu cấp thông tin thăng bằng kiềm toan là xét động mạch nhiều lần. nghiệm phổ biến vì hầu hết bệnh nhân có suy hô Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu với hấp và cần được đánh giá thăng bằng kiềm - mục tiêu: xác định tính giá trị của khí máu tĩnh toan. Lấy mẫu máu động mạch để đánh giá mạch nhằm thay thế cho khí máu động mạch thăng bằng kiềm - toan thường được thực hiện trong đánh giá tình trạng kiềm – toan ở trẻ sơ nhiều lần trên một bệnh nhân trong suốt quá sinh suy hô hấp tại khoa hồi sức sơ sinh. trình điều trị. Để lấy mẫu cho phân tích toan – kiềm ở trẻ sơ sinh cần phải chích động mạch hay ĐỐITƯỢNG–PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU đặt ống thông động mạch, thủ thuật này có thể Thiết kế nghiên cứu gây ra những biến chứng như tụ máu tại chỗ, co Nghiên cứu cắt ngang mô tả và phân tích. thắt động mạch, huyết khối hay thuyên tắc động mạch gây thiếu máu phần xa của chi, viêm Dân số chọn mẫu xương - tuỷ xương, đặc biệt là khi lấy mẫu lặp lại Tất cả những trẻ sơ sinh nhập khoa hồi sức nhiều lần (3), (17). Hơn thế nữa, thủ thuật chích sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng I có xét nghiệm khí động mạch hay đặt ống thông động mạch càng máu động mạch từ tháng 5/2013 đến tháng khó khăn hơn ở trẻ sơ sinh, nhất là trẻ sơ sinh 4/2014. non tháng. Ước tính cỡ mẫu Một số Bệnh viện châu Âu và Bắc Mỹ dùng Ước tính cỡ mẫu cho hệ số tương quan: chọn khí máu tĩnh mạch thay thế cho khí máu động sai lầm loại I α= 0,05; sai lầm loại II  = 1-power = mạch để theo dõi tình trạng thăng bằng kiềm - 0,1 và r là hệ số tương quan Pearson, lấy từ các toan ở trẻ em suy hô hấp (11), (12), (8); người lớn bị nghiên cứu tham khảo tương ứng. Chúng tôi cơn cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hay ước tính cỡ mẫu cho hệ số tương quan dựa trên tại khoa săn sóc tăng cường (1), (7). Các nghiên cứu phần mềm Medcalc® v13.0.6 trên Windows trên đều được thực hiện trên những bệnh nhân là người lớn hay trẻ em và kết quả chưa nhất Chuyên Đề Gây Mê Hồi Sức 167
  3. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ bản Tập 21 * Số 2 * 2017 Bảng 1. Ước lượng cỡ mẫu theo hệ số tương quan Lấy mẫu cho kiểm chứng các mô hình Biến số r n Tham khảo Trong thời gian khoảng 1 tháng, từ 12/2015 (5) pH 0,83 10 Chu - (5) – 1/2016, chúng tôi thu thập mẫu dùng cho HCO3 0,91 8 Chu kiểm chứng mô hình theo cùng phương pháp. Ước tính cỡ mẫu cho kiểm định 2 giá trị Các mô hình qua nghiên cứu trên mẫu được trung bình: với sai lầm loại I là α= 0,05 và sai lầm đánh giá sự phân loại và sự hiệu chỉnh trên loại II là  = 0,1; tỷ số cỡ mẫu 2 nhóm 1/1. dân số cho kiểm chứng. Bảng 2. Cỡ mẫu ước tính cho kiểm định 2 giá trị Phương pháp đo lường trung bình theo các chỉ số khí máu. Thể tích máu thường lấy tại khoa hồi sức sơ Biến số µ1 µ2 1 2 n Tham khảo pH 7,400 7,437 0,053 0,060 50 Chu (5) sinh cho thử khí máu theo yêu cầu của phòng xét - HCO3 29,27 26,34 5,53 5,01 69 Chu (5) nghiệm khoảng 0,3 – 0,4 ml. Ghi nhận khoảng Chúng tôi ước tính cỡ mẫu cho kiểm định 2 cách thời gian giữa hai mẫu máu và SpO2, FiO2, giá trị trung bình dựa trên phần mềm Medcalc® MAP trên thở máy hay áp lực của CPAP. Cả hai v13.0.6 trên Windows. mẫu máu được thu thập bằng ống xi lanh 1 ml (của Freedom Eagle Co. LTD, Korea) được tráng Phương pháp chọn mẫu: thuận tiện dung dịch Heparin 5000IU/ml. Các mẫu máu (convenience) với cách chọn liên tiếp được dán nhãn và gởi ngay tới phòng xét (consecutive sample). nghiệm. Xét nghiệm được thực hiện trên máy Tiêu chí chọn vào nhóm nghiên cứu phân tích khí máu (của Roche COMPACT 3 Tất cả trẻ sơ sinh nhập khoa hồi sức sơ sinh, Blood Gas Analyzer). Bệnh viện Nhi Đồng I được hỗ trợ hô hấp bằng Xử lý dữ liệu thở áp lực dương liên tục, thở máy thông thường Dữ liệu thu thập bằng bảng câu hỏi sẽ được hay thở máy tần số cao, SpO2 trong khoảng 80% - kiểm tra tính hoàn tất và lỗi. Dữ liệu được mã 98%, có catheter động mạch, trong thời gian từ hóa, nhập liệu và quản lý bằng phần mềm Excel. tháng 5/2013 đến tháng 4/2014 và gia đình đồng Thống kê tần số của các biến để xem tính logic ý tham gia nghiên cứu. và lỗi. Sau đó, dữ liệu được xử lý bằng phần Tiêu chí loại khỏi nhóm nghiên cứu mềm Medcalc® v13.0.6 trên Windows và IBM® Trẻ không lấy được mẫu máu (tĩnh mạch và SPSS® 20 for Mac. động mạch) cùng lúc với đo SpO2 (khoảng cách > Phân tích dữ liệu 5 phút), hay bệnh nhân đang hạ huyết áp hay sốc, hay tim bẩm sinh tím. Được thực hiện theo một kế hoạch phân tích đã được xác định trước nhằm trả lời cho mục Kiểm soát sai lệch chọn lựa tiêu nghiên cứu. Thống kê mô tả: các biến số liên Tuân thủ tiêu chí chọn vào và loại ra khỏi tục được trình bày dưới dạng trung bình  độ nhóm nghiên cứu. lệch chuẩn (tối thiểu - tối đa) hay trung vị (25% Kiểm soát sai lệch thông tin ile; 75% ile); các biến số không liên tục được trình Thu thập thông tin theo phiếu thu thập dữ bày dưới tần số (tỷ lệ). liệu thống nhất; các mẫu xét nghiệm trong KẾTQUẢ nhóm nghiên cứu được lấy vào cùng một Qua thời gian 12 tháng lấy mẫu nghiên cứu dụng cụ và lượng giá bởi cùng một máy phân từ 5/2013 tới 4/2014, chúng tôi thu thập được 322 tích khí máu tại cùng một phòng xét nghiệm, trường hợp thỏa tiêu chí nhận vào nhóm nghiên ghi nhận lại những trường hợp loại khỏi lô cứu. Thời gian lấy mẫu cho kiểm chứng mô hình nghiên cứu (nếu có). trong thời gian 1 tháng từ 12/2015 tới 1/2016, 168 Chuyên Đề Gây Mê Hồi Sức
  4. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ bản Tập 21 * Số 3 * 2017 Nghiên cứu Y học chúng tôi thu thập được 40 trường hợp thỏa tiêu Bảng 4. Vị trí lấy mẫu máu động mạch và tĩnh chí nhận vào. mạch Bảng 3. Đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng dân số Vị trí n (%) Động mạch nghiên cứu Quay 312 (96,9) Đặc điểm Kết quả Chày sau 8 (2,5) Đặc điểm dịch tễ học (n=322) Khác 2 (0,6) Cân nặng lúc sanh (gam) 2367,3 ± 857,3 (700 – Tĩnh mạch 4800) Mu tay 262 (81,4) Tuổi thai (tuần) 34,9 ± 4,5 (25 – 40) Mu chân 57 (17,7) Địa dư Đầu 1 (0,3) Hồ Chí Minh 91 (28,3) Khác 2 (0,6) Tỉnh 230 (74,1) Nước ngoài 1(0,3) Bảng 5. Chẩn đoán lâm sàng của dân số nghiên Tuổi lúc nhập viện (ngày) 2 (1; 4) cứu Tuổi lúc lấy khí máu (ngày) 4 (2; 8) Chẩn đoán n (%) Giới Bệnh màng trong ở trẻ non tháng 147 (45,6) Nam 189 (41,3%) Viêm phổi 132 (41) Nữ 133 (58,7%) Nhiễm trùng huyết 124 (38,5) Đặc điểm lâm sàng (n=322) Teo ruột non 22 (6,8) Thân nhiệt lúc lấy khí máu Bệnh màng trong sinh mổ chủ động 20 (6,2) Hạ thân nhiệt 0 (0%) Cao áp phổi tồn tại 17 (5,3) Tăng thân nhiệt 0 (0%) Tim bẩm sinh không tím 17 (5,3) Bình thường 322 (100%) Thoát vị hoành bẩm sinh 15 (4,7) Phương tiện hỗ trợ hô hấp Ngạt 14 (4,3) Máy thở tần số cao 43 (13,4%) Viêm phổi hít ối phân su 13 (4,0) Thở máy thông thường 219 (68%) Teo thực quản 13 (4,0) CPAP 60 (18,6%) Hở thành bụng bẩm sinh 6 (1,8) Vỡ dạ dày 3 (1,25) Suy thận (0,06) Hầu hết các trường hợp có nhiều chẩn đoán trên một bệnh nhân ở thời điểm lấy mẫu nghiên cứu. Phương trình hồi quy pHa = 0,38 + 0,95 x Phương trình hồi quy aHCO3- = 1,90 + 0,88 x Phương trình hồi quy aSBE = - 0,69 + 0,91 pHv (R2 = 0,84; p < 0,0001) vHCO3- (R2 = 0,8; p < 0,0001) x vSBE (R2 = 0,86; p < 0,0001) Hình 1. Phân tích hồi quy tuyến tính giữa các chỉ số khí máu Chuyên Đề Gây Mê Hồi Sức 169
  5. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ bản Tập 21 * Số 2 * 2017 Trung bình khác biệt giữa vHCO3 và Trung bình khác biệt giữa vSBE và Trung bình khác biệt giữa pHv và aHCO3, giới hạn trên, giới hạn dưới aSBE, giới hạn trên, giới hạn dưới pHa, giới hạn trên, giới hạn dưới của của trung bình khác biệt. của trung bình khác biệt. trung bình khác biệt. Hình 2. Biểu đồ Bland-Altman của các chỉ số khí máu pHv trong chẩn đoán toan máu (pHa pHv trong chẩn đoán toan máu pHv trong chẩn đoán kiềm máu (pHa < 7,25): < 7,24 (độ nhạy = 93,3%; độ (pHa < 7,35): < 7,33 (độ nhạy = > 7,45): > 7,4 (độ nhạy = 73,9; độ đặc hiệu = 84,2%; AUC = 0,95). 92,2%; độ đặc hiệu = 83,8%; AUC đặc hiệu = 97,7; AUC = 0,93). = 0,94). vHCO3- trong chẩn đoán kiềm chuyển hóa vSBE trong chẩn đoán toan chuyển hóa (aSBE vHCO3- trong chẩn đoán toan chuyển hóa (< (> 24 mmHg): > 24,2 mmol/L (độ nhạy = < -4 mmol/L): < -4,7 mmol/L (độ nhạy = 76,33; 20 mmHg): < 20,2 (độ nhạy = 77,27; độ đặc 84,81; độ đặc hiệu = 88,89; AUC = 0,931) độ đặc hiệu = 93,46; AUC = 0,921) hiệu = 91,58; AUC = 0,899) vSBE trong chẩn đoán kiềm chuyển hóa (aSBE > 4 mmol/L): > 1,8 mmol/L cho độ nhạy = 100; độ đặc hiệu = 94,7; AUC = 0,992) Hình 3. Đường cong ROC cho các chỉ số khí máu 170 Chuyên Đề Gây Mê Hồi Sức
  6. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ bản Tập 21 * Số 3 * 2017 Nghiên cứu Y học Sự hiệu chỉnh: r = 0,91; p< 0,0001). Sự hiệu chỉnh: r=0,82; p < 0,0001. Sự hiệu chỉnh:(r = 0,85; p < 0,0001). Sự phân loại R2= 0,828; p < 0,0001 Sự phân loại R2= 0,679; p < 0,0001 Sự phân loại R2= 0,725; p < 0,0001) Hình 4. Kiểm chứng mô hình của các chỉ số khí máu BÀNLUẬN dưới đường cong AUC = 0,95; KTC 95% của AUC 0,91 – 0,97; tương ứng với ngưỡng pHa < Mối tương quan và mức độ tương đồng 7,35 là ngưỡng pHv < 7,33 với độ nhạy = 92,2%; của pHv với pHa trong đánh giá tình độ đặc hiệu = 83,8%; diện tích dưới đường cong trạng thăng bằng kiềm – toan AUC = 0,94; KTC 95% của AUC 0,92 – 0,97; Kết quả khảo sát mối tương quan giữa pHv tương ứng với ngưỡng pHa > 7,45 là ngưỡng và pHa cho thấy có mối tương quan rất mạnh pHv > 7,40 với độ nhạy = 73,9%; độ đặc hiệu = giữa pHv và pHa (r = 0,919; KTC 95% 0,891 - 97,7%; diện tích dưới đường cong AUC = 0,93; 0,940) và mối tương quan này có ý nghĩa thống KTC 95% của AUC 0,89 – 0,95. Ở các ngưỡng kê (p < 0,0001) (Hình 1A). Kết quả phân tích hồi phân cắt trên, cho thấy diện tích dưới đường quy tuyến tính xác nhận quan hệ tuyến tính và cong có độ phân biệt tốt. tỷ lệ thuận giữa pHv và pHa. Phương trình hồi Malatesha và cộng sự (11) nghiên cứu trên 95 quy pHa = 0,38 + 0,95 x pHv (R2 = 0,84; p < 0,0001) cặp khí máu động mạch và tĩnh mạch trên 95 cho thấy trung bình pHa tăng 0,95 đơn vị cho bệnh nhân là người trưởng thành tại khoa cấp mỗi đơn vị tăng của pHv. R2=0,84 cho thấy pHv cứu. Kết quả cho thấy giá trị trung bình pHa và giải thích được 84% sự biến thiên của pHa. Biểu pHv lần lượt là 7,384 ± 0,124 mmHg và 7,369 ± đồ Bland-Altman (Hình 2A) cho thấy sự khác 0,120 mmHg với giới hạn tương đồng 95% của biệt phân bố tương đối ngẫu nhiên, độc lập với chỉ số pH là 0,13 – (-0,1). thang đo pH. Đa số các trường hợp nằm trong Koul và cộng sự (10) nghiên cứu trên 100 cặp giới hạn trên và giới hạn dưới của trung bình khí máu động mạch và tĩnh mạch trên 100 bệnh khác biệt. Trung bình pHv có khuynh hướng nhân là người trưởng thành tại khoa hô hấp và thấp hơn pHa 0,0287 đơn vị (0,0239 – 0,0336). nội tổng quát ở Ấn Độ. Kết quả cho thấy giá trị Qua kết quả ngoại kiểm mô hình tiên đoán pHa trung bình pHa và pHv lần lượt là 7,46 ± 0,56 từ pHv (Hình 4A) cho thấy biểu đồ phân tán có mmHg và 7,43 ± 0,06 mmHg với giới hạn tương sự tương quan tuyến tính mạnh và có ý nghĩa đồng 95% và trung bình khác biệtcủa chỉ số pH thống kê giữa pHa quan sát và pHa dự đoán (r = hẹp, có thể chấp nhận trên lâm sàng là 0,03, giới 0,91; p < 0,0001) nên mô hình cho thấy có độ hiệu hạn thay đổi -0,028 tới 0,088. Có mối tương quan chỉnh tốt. R2=0,828 cho thấy pHa dự đoán giải cao (r = 0,88) giữa pHv và pHa, mối tương quan thích được 82,8% sự biến thiên của pHa quan sát, này có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). do đó mô hình cho thấy có sự phân loại tốt. Ak và cộng sự nghiên cứu trên 132 cặp khí Dùng pHv để thay thế cho pHa trong trong chẩn máu động mạch và tĩnh mạch trên bệnh nhân đoán toan hoá máu và kiềm hoá máu: tương ứng cơn cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (1). Kết với ngưỡng pHa < 7,25 là ngưỡng pHv < 7,24 với quả cho thấy giá trị trung bình pHa và pHv lần độ nhạy = 92,3%; độ đặc hiệu = 84,2%; diện tích Chuyên Đề Gây Mê Hồi Sức 171
  7. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ bản Tập 21 * Số 2 * 2017 lượt là 7,405 ± 0,08 mmHg và 7,37 ± 0,07 mmHg, aHCO3-. Đa số các trường hợp nằm trong giới với trung bình khác biệt là 0,031 ± 0,029. Có mối hạn trên và giới hạn dưới của trung bình khác tương quan cao (r = 0,934) giữa PaCO2 và PvCO2. biệt. Trung bình vHCO3- có khuynh hướng cao Phương trình hồi quy pHa= 1,004 x pHv, R2 = 1. hơn aHCO3- 0,7mmol/L (-3,9 tới 5,3). Qua kết quả Raoufy và cộng sự nghiên cứu trên 132 cặp ngoại kiểm mô hình tiên đoán aHCO3- từ vHCO3- khí máu động mạch và tĩnh mạch trên bệnh (Hình 4B.) cho thấy biểu đồ phân tán có sự nhân cơn cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tương quan tuyến tính mạnh và có ý nghĩa (15). Kết quả cho thấy giá trị trung bình pHa và thống kê giữa aHCO3- quan sát và aHCO3- dự pHv lần lượt là 7,37 ± 0,047đơn vị và 7,34 ± đoán (r = 0,82; p < 0,0001) nên mô hình cho thấy 0,04đơn vị, với trung bình khác biệt là 0,026 ± có độ hiệu chỉnh tốt. R2=0,68 cho thấy aHCO3- dự 0,045. Có mối tương quan cao (r = 0,839) giữa đoán giải thích được 68% sự biến thiên của pHa và pHv. Phương trình hồi quy pHa= 1,119 + aHCO3- quan sát, do đó mô hình cho thấy có sự 0,851 x pHv, R2 = 0,668 phân loại khá. Vì hệ số tương quan (r) và hệ số xác định (R2) trong mẫu kiểm chứng thấp hơn Brandenburg và cộng sự nghiên cứu trên 44 trong mẫu nghiên nghiên cứu, nên chúng tôi đề cặp khí máu động mạch và tĩnh mạch trên 38 xuất nghiên cứu khác với cỡ mẫu lớn hơn để bệnh nhân là người trưởng lớn, nghi bị nhiễm kiểm chứng thêm cho mô hình tiên đoán aHCO3- toan Ketoacid do đía tháo đường, nhập khoa cấp ở dân số suy hô hấp sơ sinh. Dùng vHCO3- để cứu (4). Kết quả cho thấy giá trị trung bìnhpHa và thay thế cho aHCO3- trong trong chẩn đoán toan pHv lần lượt là 7,20 ± 0,14 đơn vị và 7,17 ± 0,13 chuyển hoá và kiềm chuyển hoá: tương ứng với đơn vị. Có mối tương quan rất cao (r = 0,969) ngưỡng aHCO3- < 20 mmol/L là ngưỡng vHCO3- giữa pHa và pHv. Phương trình hồi quy pHa= - < 20,2 mmol/L với độ nhạy = 77,27%; độ đặc hiệu 0,37 + 1,06 x pHv, R2 = 0,94, p < 0,0001. = 91,58%; diện tích dưới đường cong AUC = 0,90; Như vậy pHv là chỉ số ít xâm lấn hơn pHa KTC 95% của AUC 0,86 – 0,93; tương ứng với và có thể thay thế tốt cho pHa trong đánh giá ngưỡng aHCO3- > 24 mmol/L là ngưỡng vHCO3- tình trạng kiềm – toan ở trẻ sơ sinh suy hô hấp > 24,2 mmol/L với độ nhạy = 84,81%; độ đặc hiệu tại khoa hồi sức sơ sinh. = 88,89%; diện tích dưới đường cong AUC = 0,93; Mối tương quan và mức độ tương đồng KTC 95% của AUC 0,90 – 0,96. Ở các ngưỡng của vHCO3- với aHCO3- trong đánh giá phân cắt trên, cho thấy diện tích dưới đường tình trạng thăng bằng kiềm – toan cong có độ phân biệt rất tốt. Kết quả khảo sát mối tương quan giữa Malatesha và cộng sự (11) nghiên cứu trến 95 aHCO3- và vHCO3- cho thấy có mối tương quan cặp khí máu động mạch và tĩnh mạch trên 95 rất mạnh giữa aHCO3- và vHCO3- (r = 0,893; KTC bệnh nhân là người trưởng thành tại khoa cấp 95% 0,865 - 0,916) và mối tương quan này có ý cứu. Kết quả cho thấy giá trị trung bình aHCO3- nghĩa thống kê (p < 0,0001). Kết quả phân tích và vHCO3- lần lượt là 23,58 ± 8,86 mmHg và 24,32 hồi quy tuyến tính xác nhận quan hệ tuyến tính ± 9,43 mmHg với giới hạn tương đồng 95% của và tỷ lệ thuận giữa aHCO3- và vHCO3- (Hình 1B). chỉ số pH là 4,3 – (-5,8). Phương trình hồi quy aHCO3- = 1,90 + 0,88 x Kelly và cộng sự (7) nghiên cứu trến 246 cặp vHCO3- (R2 = 0,8; p < 0,0001) cho thấy trung bình khí máu động mạch và tĩnh mạch trên 246 bệnh aHCO3- tăng 0,88 mmHg cho mỗi mmHg tăng nhân là người trưởng thành tại khoa cấp cứu. của vHCO3-. R2=0,8 cho thấy vHCO3- giải thích Kết quả cho thấy giá trị trung bình aHCO3- và được 80% sự biến thiên của aHCO3-. Biểu đồ vHCO3- lần lượt là 23,58 ± 8,86 mmol/L và 24,32 ± Bland-Altman (Hình 2B.) cho thấy sự khác biệt 9,43 mmol/L với giới hạn tương đồng 95% của phân bố ngẫu nhiên, độc lập với thang đo chỉ số HCO3- là 4,3 tới -5,8. 172 Chuyên Đề Gây Mê Hồi Sức
  8. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ bản Tập 21 * Số 3 * 2017 Nghiên cứu Y học Koul và cộng sự (10) nghiên cứu trên 100 cặp Mối tương quan và mức độ tương đồng khí máu động mạch và tĩnh mạch trên 100 bệnh của vSBE với aSBE trong đánh giá tình nhân là người trưởng thành tại khoa hô hấp và trạng thăng bằng kiềm – toan nội tổng quát ở Ấn Độ. Kết quả cho thấy giá trị SBE là chỉ số kiềm dư trong dịch ngoại bào, trung bình aHCO3- và vHCO3- lần lượt là 27,98 ± trong thực tế lâm sàng hay được dùng để giúp 6,23 mmol/L và 28,84 ± 6,68 mmHg với giới hạn chẩn đoán nhanh rối loạn toan kiềm chuyển hoá tương đồng 95% và trung bình khác biệt của chỉ và giúp tính toán lượng bicarbonate cần bù trong số HCO3- hẹp, có thể chấp nhận trên lâm sàng là các trường hợp toan chuyển hoá (7). Kết quả (-5,1) - 3,4 và (-0,9). Có mối tương quan kém (r = khảo sát mối tương quan giữa aSBE và vSBE cho 0,32) giữa aHCO3- và vHCO3-, mối tương quan thấy có mối tương quan rất mạnh giữa aSBE và này có ý nghĩa thống kê (p = 0,0012). vSBE (r = 0,927; KTC 95% 0,905 - 0,945) và mối Ak và cộng sự nghiên cứu trên 132 cặp khí tương quan này có ý nghĩa thống kê (p < 0,0001). máu động mạch và tĩnh mạch trên bệnh nhân Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính xác nhận cơn cấp của bệnh phổi tắc nghẽnmạn tính (1). Kết quan hệ tuyến tính và tỷ lệ thuận giữa aSBE và quả cho thấy giá trị trung bình aHCO3- và vSBE. Phương trình hồi quy aSBE = -0,686 + 0,905 vHCO3- lần lượt là 27,2 ± 4,7mmol/L và 28,6 ± 4,7 x vSBE (R2= 0,8601; p < 0,0001; r = 0,927; p < mmHg, với trung bình khác biệt là -1,39 ± 1,81. 0,0001) cho thấy trung bình aSBE tăng 0,9052 Có mối tương quan cao (r = 0,908) giữa aHCO3- mmol/L cho mỗi 1 mmol/L tăng của vSBE. và vHCO3-. Phương trình hồi quy aHCO3- = 0,951 R2=0,8601 cho thấy vSBE giải thích được 86,01% x vHCO3-, R2 = 0,996. sự biến thiên của aSBE (Hình 1C). Biểu đồ Bland- Raouty và cộng sự nghiên cứu trên 132 cặp Altman (Hình 2C) cho thấy sự khác biệt phân bố khí máu động mạch và tĩnh mạch trên bệnh ngẫu nhiên, độc lập với thang đo aSBE. Đa số các nhân cơn cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trường hợp nằm trong giới hạn trên và giới hạn (15). Kết quả cho thấy giá trị trung bình aHCO3- và dưới của trung bình khác biệt. Trung bình vSBE vHCO3- lần lượt là 30,41 ± 4,16 mmHg và 32,29 ± có khuynh hướng cao hơn aSBE 0,32 mmol/L 4,06 mmol/L, với trung bình khác biệt là -1,88 ± (0,11 tới 0,54). Qua kết quả ngoại kiểm mô hình 4,06. Có mối tương quan cao (r = 0,728) giữa tiên đoán aSBE từ vSBE (hình 4C.) cho thấy biểu aHCO3- và vHCO3-. Phương trình hồi quy đồ phân tán có sự tương quan tuyến tính mạnh aHCO3- = 6,892 + 0,725 x vHCO3-, R2 = 0,627 và có ý nghĩa thống kê giữa aSBE quan sát và Brandenburg và cộng sự nghiên cứu trên 44 aSBE dự đoán (r = 0,85 (0,74 – 0,92), p < 0,0001) cặp khí máu động mạch và tĩnh mạch trên 38 nên mô hình cho thấy có độ hiệu chỉnh tốt. bệnh nhân là người trưởng lớn, nghi bị nhiễm R2=0,725 cho thấy aSBE dự đoán giải thích được toan Ketoacid do đái tháo đường, nhập khoa cấp 72,5% sự biến thiên của aSBE quan sát, do đó mô cứu (4). Kết quả cho thấy giá trị trung bình hình cho thấy có sự phân loại tốt. Dùng vSBE để aHCO3- và vHCO3- lần lượt là 11,0 ± 6,0 mmol/L thay thế cho aSBE trong trong chẩn đoán toan và 12,8 ± 5,5 mmol/L. Có mối tương quan rất cao chuyển hoá và kiềm chuyển hoá: tương ứng với (r = 0,954) giữa aHCO3- và vHCO3-. Phương trình ngưỡng aSBE < -4 mmol/L là ngưỡng vSBE < -4,7 hồi quy aHCO3- = -2,38 + 1,04 x vHCO3-, R2 = 0,91; mmol/L với độ nhạy = 76,33%; độ đặc hiệu = p < 0,0001. 93,46%; diện tích dưới đường cong AUC = 0,921; KTC 95% của AUC 0,885 – 0,948; tương ứng với Như vậy vHCO3- là chỉ số ít xâm lấn hơn ngưỡng aSBE > 4 mmol/L là ngưỡng vSBE > 1,8 aHCO3- và có thể thay thế tốt cho pHa trong mmol/L với độ nhạy = 100%; độ đặc hiệu = đánh giá tình trạng kiềm – toan ở trẻ sơ sinh suy 94,7%; diện tích dưới đường cong AUC = 0,992; hô hấp tại khoa hồi sức sơ sinh. KTC 95% của AUC 0,975 – 0,999. Ở các ngưỡng Chuyên Đề Gây Mê Hồi Sức 173
  9. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ bản Tập 21 * Số 2 * 2017 phân cắt trên, cho thấy diện tích dưới đường (pHa, aHCO3- và aSBE). Do đó, các chỉ số khí cong có độ phân biệt rất tốt (Hình 3C). máu tĩnh mạch có thể thay thế tốt cho các chỉ số Như vậy vSBE là chỉ số ít xâm lấn hơn aSBE tương ứng của khí máu động mạch; đặc biệt và có thể thay thế tốt cho aSBE trong đánh giá trong trường hợp không lấy được khí máu động tình trạng kiềm – toan ở trẻ sơ sinh suy hô hấp mạch hay phải lấy khí máu nhiều lần trong quá tại khoa hồi sức sơ sinh. trình theo dõi. Những điểm mạnh của nghiên cứu chúng TÀI LIỆU THAM KHẢO tôi: (1) Khác với một số nghiên cứu khác trước 1. Ak A, Ogun CO, Bayir A, Kayis SA, Koylu R (2006). "Prediction of arterial blood gas values from venous blood gas đây dùng mẫu máu động mạch hóa hay mẫu values in patients with acute exacerbation of chronic máu tĩnh mạch trung ương (12), (14), nghiên cứu của obstructive pulmonary disease", Tohoku J Exp Med, 210 (4), pp. chúng tôi dùng mẫu máu tĩnh mạch ngoại biên 285-290. 2. Angus DC, Linde-Zwirble WT, Clermont G (2001). để đánh giá khí máu tĩnh mạch cho thấy tính "Epidemiology of neonatal respiratory failure in the United linh động cao hơn và dễ dàng áp dụng hơn tại States: projections from California and New York", Am J Respir các tuyến có kỹ thuật và tài nguyên còn hạn chế; Crit Care Med, 164 (7), pp. 1154-1160. 3. Bilan N, Behbahan AG, Khosroshahi AJ (2008). "Validity of (2) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ở trẻ sơ venous blood gas analysis for diagnosis of acid-base sinh suy hô hấp tại khoa hồi sức sơ sinh (là imbalance in children admitted to pediatric intensive care unit", World J Pediatr, 4 (2), pp. 114-117. nghiên cứu đầu tiên thực hiện ở trẻ sơ sinh) bổ 4. Brandenburg MA, Dire DJ (1998). "Comparison of arterial and sung thêm vào kết quả và củng cố cho kết luận venous blood gas values in the initial emergency department của các nghiên cứu trước đây ở trẻ em và người evaluation of patients with diabetic ketoacidosis", Ann Emerg Med, 31 (4), pp. 459-465. lớn là có thể dùng khí máu tĩnh mạch ngoại biên 5. Chu YC, Chen CZ, Lee C H, Chen CW, Chang HY, Hsiue TR ước tính tương đối chính xác cho kết quả khí (2003). "Prediction of arterial blood gas values from venous máu động mạch ở dân số sơ sinh suy hô hấp tại blood gas values in patients with acute respiratory failure receiving mechanical ventilation", J Formos Med Assoc, 102 (8), khoa hồi sức sơ sinh; (3) Phân tích cả về tương pp. 539-543. quan, hồi qui, độ tin cậy qua biểu đồ Bland- 6. Doherty EG, Simmon CF (2008), "Fluid and Electrolyte Management". In: Cloherty JP, Eichenwald EC, Stark AR Altman, và ngoại kiểm mô hình tiên đoán mô (eds). Manual of Neonatal Care, LWW, Philadelphia, pp. 107- hình tiên đoán. Tuy nhiên, kết quả các chỉ số khí 109. máu tĩnh mạch và các chỉ số bão hoà oxy máu 7. Kelly AM, McAlpine R, Kyle E (2001). "Venous pH can safely replace arterial pH in the initial evaluation of patients in the không thể thay thế hoàn toàn cho kết quả các chỉ emergency department", Emerg Med J, 18 (5), pp. 340-342. số khí máu động mạch. 8. Kirubakaran C, Gnananayagam JE, Sundaravalli EK (2003). "Comparison of blood gas values in arterial and venous Nghiên cứu của chúng tôi có một số hạn chế blood", Indian J Pediatr, 70 (10), pp. 781-785. đó là (1) lấy được phần lớn các mẫu khí máu tại 9. Kornhauser MS (2005), "Blood Gas Interpretation". In: Spitzer khoa hồi sức sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng I chứ AR (eds). Intensive Care of The Fetus & Neonate, Elsevier Mosby, pp. 523-537. không lấy được tất cả các mẫu ở tất cả các bệnh 10. Koul PA, Khan U H, Wani AA, Eachkoti R, Jan RA, Shah S, et nhân được chỉ định lấy khí máu động mạch, bởi al. (2011). "Comparison and agreement between venous and arterial gas analysis in cardiopulmonary patients in Kashmir vì bệnh nhân được lấy mẫu thuận tiện và chủ valley of the Indian subcontinent", Ann Thorac Med, 6 (1), pp. yếu trong giờ hành chính; (2) ngưỡng pH < 7 ít 33-37. bệnh nhân? và vì vậy không thể ước tính sự 11. Malatesha G, Singh NK, Bharija A, Rehani B, Goel A (2007). "Comparison of arterial and venous pH, bicarbonate, PCO2 tương đồng và độ tin cậy của pH ở giá trị and PO2 in initial emergency department assessment", Emerg ngưỡng thấp này. Med J, 24 (8), pp. 569-571. 12. Middleton P, Kelly AM, Brown J (2006). "Agreement between KẾT LUẬN arterial and central venous values for pH, bicarbonate, base excess, and lactate", Emerg Med J, 23, pp. 622–624. Các chỉ số khí máu tĩnh mạch (pHv, vHCO3- 13. No authors listed (1997). "Economic outcome for intensive care và vSBE) tương quan rất mạnh và tương đồng of infants of birthweight 500-999 g born in Victoria in the post surfactant era. The Victorian Infant Collaborative Study tốt với các chỉ số khí máu động mạch tương ứng Group", J Paediatr Child Health, 33 (3), pp. 202-208. 174 Chuyên Đề Gây Mê Hồi Sức
  10. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ bản Tập 21 * Số 3 * 2017 Nghiên cứu Y học 14. Phillips B., Peretz D. I. (1969). "A comparison of central venous 17. Walton DM (2002), "Arterial Puncture". In: Mhairi G. and arterial blood gas values in the critically ill", Ann Intern MacDonald, Jayashree Ramasethu (eds). Atlas of Procedures Med, 70 (4), pp. 745-749. in Neonatology Lippincott Williams & Wilkins. 15. Raoufy MR, Eftekhari P, Gharibzadeh S, Masjedi MR (2009). "Predicting Arterial Blood Gas Values from Venous Samples in Patients with Acute Exacerbation Chronic Obstructive Pulmonary Disease Using Artificial Neural Network", J Med Ngày nhận bài báo: 15/02/2017 Syst. Ngày phản biện đánh giá bài báo: 28/02/2017 16. Walsh MC, Bauer RE (1994). "Severe respiratory failure in neonates: mortality and morbidity rates and Ngày bài báo được đăng: 05/04/2017 neurodevelopmental outcomes", J Pediatr, 125 (1), pp. 104-110. Chuyên Đề Gây Mê Hồi Sức 175

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản