intTypePromotion=1

Giá trị kháng thể Desmoglein 1 và 3 trong chẩn đoán, theo dõi, tiên lượng bệnh Pemphigus

Chia sẻ: Nu Na | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
6
lượt xem
0
download

Giá trị kháng thể Desmoglein 1 và 3 trong chẩn đoán, theo dõi, tiên lượng bệnh Pemphigus

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Pemphigus là nhóm bệnh da bọng nước tự miễn mắc phải, đặc trưng bằng sự xuất hiện bọng nước ở trên da và niêm mạc, gây nên bởi hiện tượng ly gai. Desmoglein 1 và 3 là hai kháng nguyên chính trong cơ chế bệnh sinh của bệnh. Bài viết này nhằm xác định giá trị của hai kháng thể trong chẩn đoán, phân thể, theo dõi và tiên lượng bệnh Pemphigus.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giá trị kháng thể Desmoglein 1 và 3 trong chẩn đoán, theo dõi, tiên lượng bệnh Pemphigus

  1. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁ TRỊ KHÁNG THỂ DESMOGLEIN 1 VÀ 3 TRONG CHẨN ĐOÁN, THEO DÕI, TIÊN LƯỢNG BỆNH PEMPHIGUS Trần Thị Vân Anh*, Phạm Đăng Khoa* TÓM TẮT Đặt vấn đề: Pemphigus là nhóm bệnh da bọng nước tự miễn mắc phải, đặc trưng bằng sự xuất hiện bọng nước ở trên da và niêm mạc, gây nên bởi hiện tượng ly gai. Desmoglein 1 và 3 là hai kháng nguyên chính trong cơ chế bệnh sinh của bệnh. Nghiên cứu này nhằm xác định giá trị của hai kháng thể trong chẩn đoán, phân thể, theo dõi và tiên lượng bệnh Pemphigus. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Bốn mươi bệnh nhân Pemphigus điều trị nội trú tại bệnh viện Da liễu Trung ương, được chẩn đoán xác định bằng kết quả mô bệnh học và miễn dịch huỳnh quang trực tiếp, được lấy mẫu huyết thanh làm xét nghiệm ELISA trước và sau điều trị 1 tháng. Kết quả: Tỷ lệ dương tính của Dsg 1 ở nhóm Pemphigus da mỡ là 100%, ở nhóm Pemphigus thông thường là 83,3%. Tỷ lệ dương tính với Dsg3 ở nhóm Pemphigus thông thường là 80,6%. Ở nhóm Pemphigus da mỡ chỉ có Dsg1 dương tính. Ở nhóm Pemphigus thông thường khi chỉ có tổn thương niêm mạc thì chỉ có Dsg 3 dương tính, tổn thương cả da và niêm mạc thì cả Dsg 1 và 3 đều dương tính. Tỷ lệ dương tính của Dsg 1 tăng theo mức độ tổn thương da, Dsg 3 tăng theo mức độ tổn thương niêm mạc với p < 0,05. Kết luận: Kỹ thuật ELISA phát hiện kháng thể Desmoglein 1 và 3 trong bệnh Pemphigus có giá trị cao trong chẩn đoán, phân thể và theo dõi bệnh Pemphigus. Từ khóa: Pemphigus, Desmoglein 1, Desmoglein 3, ELISA. I. ĐẶT VẤN ĐỀ có cơ chế bệnh sinh tương đối phức tạp, liên quan Pemphigus là bệnh da bọng nước tự miễn đến nhiều yếu tố và có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mắc phải, đặc trưng bằng sự xuất hiện bọng nước rằng kháng thể chính trong cơ chế bệnh sinh của ở trên da và niêm mạc, gây nên bởi hiện tượng ly bệnh là kháng thể kháng lại phân tử Desmoglien gai (Acantholysis) [1], [2], [3], [4], [5]. Bệnh tương 1, 3. Desmoglein 3 (Dsg 3) là kháng nguyên chính đối hiếm gặp, phân bố khắp nơi trên thế giới, có sự trong bệnh Pemphigus thể thông thường và khác nhau rõ rệt về tỷ lệ mắc tùy theo từng vùng, Desmoglein (Dsg 1) là kháng nguyên chính trong từng thể trong nhóm Pemphigus [3], [1], [6]. Bệnh Pemphigus vảy lá (P.Foliaceus). Kỹ thuật ELISA (enzyme-linked immunosorbent assay) định * Bệnh viện Da liễu Trung ương lượng là một kỹ thuật mới có thể xác định nồng độ Phản biện khoa học: PGS.TS Đặng Văn Em của tự kháng thể kháng Desmoglein 1 và 3 trong Số 18 (Tháng 01/2015) DA LIỄU HỌC 41
  2. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC huyết thanh bệnh nhân Pemphigus nhằm chẩn - Bước 4: Rửa bằng dung dịch rửa 4 lần. đoán sớm cũng như phân thể, theo dõi điều trị và - Bước 5: Thêm 100 µl dung dịch chất màu tiên lượng bệnh. Trên thế giới có nhiều nghiên cứu (substrate) vào mỗi giếng, ủ ở nhiệt độ phòng đã cho thấy đây là kỹ thuật có độ nhạy và độ đặc trong 30 phút. hiệu cao và mối liên quan giữa nồng độ kháng thể - Bước 6: Thêm 100 µl dung dịch để dừng và mức độ hoạt động của bệnh cũng đã được xác phản ứng. định [7], [8], [9], [10], [11], [12],[13]. - Bước 7: đọc kết quả trong vòng 20 phút ở độ II. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU hấp phụ 450nm. 1. Đối tượng nghiên cứu Kết quả được xác định là dương tính khi Dsg 3 Các bệnh nhân được chẩn đoán Pemphigus ≥20, Dsg 1≥ 20, nghi ngờ khi Dsg 3 = 7 -20, Dsg 1 = dựa vào biểu hiện lâm sàng điển hình, dấu hiệu 14-20, và âm tính khi Dsg 3 ≤ 7, Dsg 1 ≤ 14. Nikolsky dương tính, xét nghiệm tế bào Tzanck 4. Phân tích số liệu: Số liệu được phân tích bằng có tế bào gai lệch hình, hình ảnh mô bệnh học có phần mềm SPSS 16.0, các tỷ lệ được so sánh bằng bọng nước trong thượng bì kèm theo hiện tượng T- test. ly gai và MDHQTT thấy lắng đọng IgG và C3 ở III. KẾT QUẢ khoảng gian bào. Bệnh nhân được điều trị nội trú tại bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 3/2013 1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu đến tháng 6/2014, có thời gian nằm viện từ 1 tháng Bảng 1. Một số đặc điểm nhóm bệnh nhân trở nên và chưa điều trị các thuốc ức chế miễn dịch làm xét nghiệm ELISA trước đó. Nghiên cứu được thông qua hội đồng đạo đức của Bệnh viện Da liễu Trung ương và được Thể bệnh n % Tuổi TB sự đồng ý của bệnh nhân. Mẫu huyết thanh được lấy tại bệnh viện và bảo quản ở tủ âm sâu (-700 P. thông thường 36 90 49,6 ± 12,7 C), kỹ thuật ELISA thực hiện tại bộ môn miễn dịch P. da mỡ 4 10 33,5 ± 14,8 sinh lý bệnh trường Đại Học Y Hà Nội. Nam 12 30 40,1 ± 9,0 2. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, tiến cứu. Nữ 28 70 51,3 ± 14,0 3. Các bước tiến hành kỹ thuật ELISA: Tổng 40 100 48,0 ± 13,6 - Bước 1: Hút 100 µl dung dịch chuẩn 1, dung Bảng 2. Phân bố kiểu hình tổn thương dịch chuẩn 2 và 100 µl mỗi mẫu huyết thanh pha loãng vào các giếng tương ứng. Đậy phiến kính và Kiểu hình n % ủ ở nhiệt độ phòng trong 60 phút. Da đơn thuần 14 35 - Bước 2: rửa bằng dung dịch rửa 4 lần. Niêm mạc đơn thuần 1 2,5 - Bước 3: Cho 100 µl dung dịch Conjugate vào Cả da và niêm mạc 25 62,5 mỗi giếng, đậy phiến kính và ủ ở nhiệt độ phòng Tổng 40 100 trong 60 phút. 42 DA LIỄU HỌC Số 18 (Tháng 01/2015)
  3. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Bảng 3. Phân bố mức độ nặng của tổn thương Mức độ TT Da (%) Niêm mạc (%) Không có 2,5 35 Nhẹ 12,5 32,5 Trung bình 57,5 32,5 Nặng 27,5 0 Tổng 100 100 2. Kỹ thuật ELISA xác định Dsg1, Dsg 3 có giá trị cao trong chẩn đoán bệnh Pemphigus Bảng 4. Tỷ lệ dương tính của các kháng thể trong từng thể bệnh Thể bệnh P. thông thường P. da mỡ Tỷ lệ chung n % n % n % Dương tính 30 83,3 4 100 34 85 Dsg 1 Âm tính 6 16.7 0 0 6 15 Dương tính 29 80,6 2 50 31 77.5 Dsg 3 Âm tính 7 19,4 2 50 9 22,5 Tổng 36 100 4 100 40 100 Bảng 5. Tỷ lệ phát hiện kháng thể theo từng kiểu hình Dsg1 Dương tính Dsg3 Dương tính Kiểu hình Tổng n % n % Da đơn thuần 13 92,1 7 50 14 Niêm mạc đơn thuần 0 0 1 100 1 Da và niêm mạc 21 84 23 92 25 3. Giá trị Dsg trong theo dõi bệnh Pemphigus Bảng 6. Tỷ lệ phát hiện kháng thể theo mức độ tổn thương da Dsg1 Dương tính Dsg3 Dương tính Tổng Mức độ tổn thương da n % n % n % Không có 0 0 1 100 1 100 Nhẹ 3 60 4 80 5 100 Trung Bình 20 87 16 69,6 23 100 Nặng 11 100 10 90,9 11 100 Số 18 (Tháng 01/2015) DA LIỄU HỌC 43
  4. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Bảng 7. Tỷ lệ Dsg theo mức độ tổn thương niêm mạc Dsg1 Dương tính Dsg3 Dương tính Tổng Mức độ tổn thương niêm mạc n % n % n % Không có 13 92.9 7 50 14 100 Nhẹ 11 84,6 11 84,6 13 100 Trung Bình 10 76,9 13 100 13 100 p p > 0,05 p < 0,05 IV. BÀN LUẬN thông thường là 80,6%, ở nhóm Pemphigus da mỡ là 50%. Hiện nay ở Việt Nam chưa có nghiên 1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu cứu nào dùng kỹ thuật ELISA để xác định nồng Theo bảng 1, 2 và 3, trong thời gian nghiên độ Dsg trong máu bệnh nhân Pemphigus vì thế cứu có tất cả 40 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn được chúng tôi chưa thể so sánh được. Nhưng kết quả làm xét nghiệm ELISA, trong đó số bệnh nhân của chúng tôi tương tự như kết quả nghiên cứu Pemphigus thông thường chiếm tỷ lệ cao hơn của các tác giả trên thế giới. Trong nghiên cứu của là 90% và chỉ có 4 bệnh nhân Pemphigus da mỡ Amagai và cộng sự (1999) sử dụng kỹ thuật ELISA chiếm 10%. Có 12 bệnh nhân nam chiếm tỷ lệ 30% cho kết quả 97,9% huyết thanh của bệnh nhân và 28 bệnh nhân nữ chiếm tỷ lệ 70%. Tuổi trung Pemphigus da mỡ dương tính với Dsg 1 và 97,5% bình của nhóm nghiên cứu là 48,0 ± 13,6 tuổi; tuổi huyết thanh của bệnh nhân Pemphigus thông thấp nhất là 15 tuổi, cao nhất là 80 tuổi. Tuổi trung thường dương tính với Dsg 3 [14]. Nghiên cứu của bình giữa nam và nữ khác biệt không có ý nghĩa Harman và cộng sự (2000) cho thấy độ nhạy của thống kê. Mức độ tổn thương phân bố khác nhau kỹ thuật ELISA trong chẩn đoán Pemphigus là trên ở da và niêm mạc, tổn thương da mức độ nhẹ là 98% và ở những bệnh nhân mới chưa điều trị thì 12,5%; mức độ trung bình là 57,5%; mức độ nặng độ nhạy là 100%; nghiên cứu của Daneshpazhooh là 27,5% và 2,5% bệnh nhân không có TT da. Số BN và cộng sự (2007) thấy tỷ lệ dương tính với Dsg1 là không có tổn thương niêm mạc là 35%; tổn thương 76,1%; với Dsg 3 là 94,5%; nghiên cứu của Kumar mức độ nhẹ và trung bình là 32,5% tương ứng. Về (2006) thấy dương tính với Dsg 1 trong Pemphigus kiểu hình tổn thương trong số 40 bệnh nhân, có da mỡ là 83,3%; trong Pemphigus thông thường là 14 bệnh nhân chỉ có tổn thương da chiếm 35%; 1 60,52%, của Dsg3 trong Pemphigus thông thường bệnh nhân chỉ có tổn thương niêm mạc đơn thuần là 81,57%; trong Pemphigus da mỡ là 16,6% [9], chiếm 2,5% và 62,5% bệnh nhân có biểu hiện cả ở [10, 12]. Trong nhiều nghiên cứu khác cũng cho da và niêm mạc. thấy tỷ lệ dương tính với Dsg thường cao hơn, từ 80 đến 100% tùy tác giả. Từ điều này có thể thấy 2. Giá trị Dsg trong chẩn đoán, phân thể bệnh kỹ thuật ELISA phát hiện Dsg là một kỹ thuật xét Pemphigus nghiệm đơn giản nhưng có giá trị cao trong chẩn Theo kết quả từ bảng 4 và bảng 5 cho thấy tỷ lệ đoán bệnh, đồng thời có thể rút ngắn được thời phát hiện thấy kháng thể Desmoglein trong huyết gian chẩn đoán và thực hiện được cùng một lúc thanh BN Pemphigus là khá cao. Tỷ lệ phát hiện với số lượng mẫu lớn. Ngoài ra như kết quả trên đã thấy kháng thể Dsg1 là 85% và tỷ lệ phát hiện thấy cho thấy với bệnh nhân chỉ có tổn thương niêm Dsg 3 là 77,5%. Tỷ lệ dương tính với Dsg 1 ở nhóm mạc thì chỉ có Dsg 3 dương tính, Dsg 1 âm tính, bệnh nhân Pemphigus da mỡ là 100%, ở nhóm còn bệnh nhân chỉ có tổn thương da đơn thuần thì Pemphigus thông thường là 83,3%; tỷ lệ dương chỉ có Dsg 1 dương tính.Vì thế nó có giá trị trong tính với Dsg 3 ở nhóm bệnh nhân Pemphigus chẩn đoán phân thể bệnh Pemphigus. Pemphigus 44 DA LIỄU HỌC Số 18 (Tháng 01/2015)
  5. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC da mỡ thường chỉ có tổn thương da nên chỉ có mức độ tổn thương niêm mạc với nồng độ Dsg 3 Dsg 1 dương tính, Dsg 3 âm tính; còn Pemphigus nhưng không liên quan với nồng độ Dsg 1 [15]. thông thường dương tính với Dsg3 khi tổn thương Nghiên cứu của Harman (2001), của Kumar (2006), ưu thế niêm mạc, nếu trong trường hợp nặng có của Bracke (2013) cũng cho kết luận là có mối liên tổn thương cả da và niêm mạc thì sẽ dương tính quan giữa Dsg 1 với mức độ tổn thương da và Dsg với cả hai loại kháng thể. 3 với mức độ tổn thương niêm mạc [10], [13], [16]. 3. Giá trị Dsg trong theo dõi bệnh Pemphigus Điều này càng thể hiện rõ nội dung của thuyết bù trừ về sự phân bố của Dsg trong bệnh Pemphigus. Theo bảng 3.6 cho thấy tỷ lệ dương tính với Vì Dsg 1 phân bố chủ yếu ở da nên khi có tổn Dsg 1 ở tăng dần theo mức độ tổn thương da ở thương da nặng thì nồng độ Dsg 1 cao hơn và tỷ nhóm không có tổn thương da là 0% tăng lên 60% lệ phát hiện là cao hơn, còn Dsg 3 phân bố chủ ở nhóm TT mức độ nhẹ, nhóm TT mức độ trung yếu ở niêm mạc nên khi có tổn thương niêm mạc bình là 87% và mức độ nặng là 100%, sự khác thì nồng độ Dsg 3 cao hơn. Bệnh nhân Pemphigus biệt là có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Còn tỷ lệ thông thường có tổn thương cả da và niêm mạc dương tính của Dsg 3 cũng thay đổi theo mức độ nên tỷ lệ phát hiện thấy cả hai kháng thể là 65% và tổn thương da nhưng sự khác biệt là không có ý tổn thương lâm sàng thường nặng. nghĩa thống kê với p > 0,05. Ở bảng 7 cho kết quả là tỷ lệ dương tính của Dsg 3 tăng dần theo mức 4. KẾT LUẬN độ tổn thương niêm mạc từ 50% ở nhóm không Qua nghiên cứu 40 bệnh nhân Pemphigus có tổn thương tới 84,6% ở nhóm tổn thương mức được làm xét nghiệm ELISA chúng tôi thu được độ nhẹ và 100% ở nhóm tổn thương nặng. Sự khác các kết quả sau: biệt là có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Tỷ lệ Dsg 1 - Về chẩn đoán: Tỷ lệ dương tính của Dsg ở cũng thay đổi theo mức độ tổn thương niêm mạc bệnh nhân Pemphigus là khá cao. Tỷ lệ dương tính nhưng sự khác biệt là không có ý nghĩa thống kê với Dsg 1 ở nhóm Pemphigus da mỡ là 100%, Tỷ với p > 0,05. Kết quả của chúng tôi cũng tương tự lệ dương tính với Dsg3 ở nhóm Pemphigus thông như các nghiên cứu trên thế giới tức là tỷ lệ dương thường là 80,6%. tính của Dsg 1 liên quan tới mức độ tổn thương da và tỷ lệ dương tính của Dsg 3 liên quan tới - Phân thể: Ở thể Pemphigus da mỡ chỉ có mức độ tổn thương niêm mạc. Trong nghiên cứu Dsg1 dương tính. Ở Pemphigusthông thường, của Mortazavi và cộng sự (2009) cho thấy nhóm khi chỉ có TT niêm mạc chỉ có Dsg 3 dương tính, không có tổn thương da tỷ lệ dương tính với Dsg tổn thương cả da và niêm mạc thì Dsg 1 và 3 đều 1 là 0% và ông cũng đưa ra kết luận là: mức độ tổn dương tính. thương da tăng một cách có ý nghĩa với nồng độ - Theo dõi và tiên lượng: Tỷ lệ dương tính của Dsg 1, nhưng không thấy mối liên quan giữa nồng Dsg 1 tăng theo mức độ tổn thương da, Dsg 3 tăng độ Dsg 3 với tổn thương da; có mối liên quan giữa theo mức độ tổn thương niêm mạc với p < 0,05. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Kanwar, A.J. and D. De, Pemphigus in India. 3. Stanley, J.R., Pemphigus. Fitzpatrick’s India Journal of Dermatology, Venereology and Dermatology in General Medicine, 7th Edition., Leprology, 2011. 77(4): p. 439-449. 2008(52): p. 459-468. 2. Schmidt, Brocker, and Zillikens, Pemphigus. 4. Lanza, A., et al., How does acantholysis occur Loss of desmosomal cell–cell contact. Zeitschrift in pemphigus vulgaris: a critical review. J Cutan Dermatol Venerologie verwandte Gebiete 2000. Pathol, 2006. 33(6): p. 401-12. 59: p. 309-318. 5. S.C.Huilgol and M.M.Black, Management Số 18 (Tháng 01/2015) DA LIỄU HỌC 45
  6. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC of the immunobullous disorder, part II Pemphigus. H.K. Dermatol. Venereol. Bull, 2005. 13. Clinical and Experimental Dermatology 1995. 20: 12. Daneshpazhooh, M., et al., Desmoglein p. 283-293. 1 and 3 enzyme-linked immunosorbent assay in 6. Schmidt, E. and D. Zillikens, The diagnosis Iranian patients with pemphigus vulgaris: correlation and treatment of autoimmune blisting skin disease. with phenotype, severity, and disease activity. Deutches Arzteblatt International, 2011. 108(23): Journal of the European Academy of Dermatology p. 399- 405. and Venereology, 2007. 21(10): p. 1319-1324. 7. Zone, J.J., The value of desmoglein 1 and 3 13. K.E.Harman, P.T.Seed, and M.M.Black, The antibody ELISA testing in patients with pemphigus. severity of cutaneous and oral pemphigus is related to Arch Dermatol, 2009. 145(5): p. 585-7. desmoglein 1 ang 3 antibody levels. British Association 8. Abasq, C., et al., ELISA testing of anti- of Dermatologist, 2001. 144: p. 775-780. desmoglein 1 and 3 antibodies in the management of 14. Amagai.M, Ishii.K, and Characterization pemphigus. Arch Dermatol, 2009. 145(5): p. 529-35. of autoantibodies in pemphigus using antigen 9. K.E.Harman and M.J. Gratian, Diagnosis of specipic enzym linked immunosorbent assays with pemphigus by ELISA: a critical evaluation of two baculovirus expressed recominant desmoglein. J ELISAs for the detection of antibodies to the major Immunol, 1997. 159: p. 2010-2017. pemphigus antigen, desmoglein1 and 3. Clinical and 15. Mortazavi, H., et al., Desmoglein ELISA in Experimental Dermatology, 2000. 25: p. 236-240. the diagnosis of pemphigus and its correlation with 10. Kumar, B., S. Arora, and M.s. Kumaran, Study the severity of pemphigus vulgaris. Iran J Allergy of desmoglein 1 and 3 antibody levels in relation to Asthma Immunol, 2009. 8(1): p. 53-6. disease severity in Indian patients with pemphigus. 16. Bracke, S., et al., Evaluation of commercially India Journal of Dermatology, Venereology and available ELISA assays as a tool for monitoring and Leprology, 2006. 72(3): p. 203-206. managing pemphigus patients: a prospective study. 11. Chan, W., The use of ELISA in pemphigus. Eur J Dermatol, 2013. 23(1): p. 33-9. SUMMARY Background: Pemphigus is a group of acquired autoimmune bullous skin diseases, characterized by the appearance of flaccid blisters on the skin and mucous membranes, caused by acantholysis phenomenom. Desmoglein 1(DSG1) and Desmoglein 3( DSG3) are two major antigens in the pathogenesis of the disease. This study aimed to assess the value of the two antibodies (DSG1and DSG3) in the diagnosis, classification, monitoring and prognosis of the disease. Subjects and Methods: Forty pemphigus patients at the National Hospital of Dermatology and Venereology were diagnosed by cliniclal features, Tzanck smear, histopathology and direct immunofluorescence. Their serum samples were taken before and 1 month after the treatment, enzyme- linked immunosorbent assays (ELISA test) were used to detect IgG autoantibodies reactive with the ectodomain of DSG1 and Dsg3. Results: Anti-DSG1 and anti-DSG3 were detected in 85% and 77.5% patients, respectively. 100% of anti-DSG1 in pemphigus folliaceus was possitive. This number in pemphigus vulgaris was 83.3%. Anti- DSG 3 positive in pemphigus vulgaris was 80.6% and no folliaceus pemphigus patients positive with DSG3. The ratio of positive anti-DSG1 increases with the severity of the skin lesions, the ratio of positive anti-DSG3 increases with the level of mucosal lesions with p
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2